Top #10 ❤️ Bài Thơ Mẹ Ốm Của Tác Giả Nguyễn Đình Kiên Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Bài Thơ Tết Của Mẹ Tôi Của Tác Giả Nguyễn Bính

Hình Ảnh Người Phụ Nữ Xưa Trong Bài Thơ “tết Của Mẹ Tôi” Của Nguyễn Bính

“tết Của Mẹ Tôi” Trong Thơ Nguyễn Bính

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Top 10 Bài Thơ Hay Viết Về Tiết Thanh Minh

Nguồn Gốc, Phong Tục Và Thơ Về Tết Thanh Minh

Bài Viết Về Lễ Hội Tết Trung Thu Bằng Tiếng Anh

Tác giả: Nguyễn Bính

Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều,

Mẹ tôi lo liệu đủ trăm điều.

Sân gạch tường hoa người quét lại,

Vẽ cung trừ quỷ, trồng cây nêu.

Nuôi hai con lợn tự ngày xưa,

Mẹ tôi đã tính “tết thì vừa.”

Trữ gạo nếp thơm, mo gói bó,

Dọn nhà, dọn cửa, rửa bàn thờ.

Nay là hăm tám tết rồi đây,

(Tháng thiếu cho nên hụt một ngày)

Sắm sửa đố lề về việc tết,

Mẹ tôi đi chợ buổi hôm nay.

Không như mọi bận người mua quà,

Chỉ mua pháo chuột và tranh gà,

Cho các em tôi đứa mỗi chiếc,

Dán lên khắp cột, đốt inh nhà.

Giết lợn, đồ xôi, lại giết gà,

Cỗ bàn xong cả từ hôm qua.

Suốt đêm giao thừa mẹ tôi thức,

Lẫm nhẫm cầu kinh Đức Chúa Bà.

Mẹ tôi gọi cả các em tôi,

D0ến bên mà dặn: “Sáng ngày mai

Các con phải dậy cho thật sớm,

Đầu năm năm mới phải lanh trai.

Mặc quần mặc áo lên trên nhà,

Thắp hương thắp nến lễ ông bà.

Chớ có cãi nhau, chớ có quấy,

Đánh đổ, đánh vỡ như người ta…”

Sáng ngày mồng một sớm tinh sương,

Mẹ tôi cấm chúng tôi ra đường.

Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi,

Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương.

Thầy tôi lấy một tờ hoa tiên,

BuÙt lông dầm mực viết lên trên.

Trên những gì gì tôi chẳng biết,

Giữa đề năm tháng, dưới đề tên.

Mẹ tôi thắt lại chiếc khăn sồi,

Rón rén lên bàn thờ ông tôi.

Đôi mắt người trông thành kính quá,

Ngước xem hương cháy đến đâu rồi.

Mẹ tôi uống hết một cốc rượu,

Mặt người đỏ tía vì hơi men,

Người rủ cô tôi đánh tam cúc,

Cười ầm tốt đỏ đè tốt đen.

Tôi mặc một chiếc quần mới may,

Áo lương, khăn lượt, chân đi giày.

Cho tôi đi lễ bên quê ngoại,

Người dặn con đừng uống rượu say.

Xong ba ngày tết mẹ tôi lại,

Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con.

Rồi một đôi khi người dậm gạo,

Chuyện trò kể lại tuổi chân son.

Xem tiếp:

Có thể bạn sẽ thích

Giáo Án Ptnn: Thơ : Tết Là Bạn Nhỏ

Giáo Án Thơ Thăm Nhà Bà

Kế Hoạch Bài Giảng Giáo Án Điện Tử :thơ Thăm Nhà Bà

Giáo Án Thơ: Thăm Nhà Bà

Giáo Án Văn Học Đề Tài: Thơ Thăm Nhà Bà

Nhà Thơ Phạm Ngà, Nguyễn Đình Kiên

Vẻ Đẹp Của Người Phụ Nữ Việt Nam Qua Bài Thơ “mẹ Của Anh” Của Nữ Sĩ Xuân Quỳnh

Thử Bình Bài Thơ ” Mẹ Của Anh” Của Nữ Thi Sĩ Xuân Quỳnh

Phân Tích Bài Thơ “mẹ” Của Nhà Thơ Đỗ Trung Quân

Đề Đọc Hiểu Tích Hợp Nghị Luận Xã Hội : Bài Thơ Mẹ

Chùm Thơ Tặng Mẹ Chồng Hay Nói Thay Tiếng Lòng Của Nàng Dâu Thảo

Ông vốn là gốc người Hà Nội, các cụ sinh ra ông lại về Hải Phòng lập nghiệp, từ những năm 1948 của thế kỷ trước, ông tốt nghiệp khoa Văn – Đại học Sư phạm Hà Nội 1965. Giảng dạy văn học nhiều năm là giáo viên giỏi. Sau đó về nhà xuất bản Hải Phòng kiêm phó chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng. Ông đã xuất bản 5 tập thơ “Hoa nắng” 1981. “Lời ru con của người yêu cũ” 1991 “Trầm tư” 1995, “Mảnh vỡ” 2001, “Đêm trở giấc” 2022. Hai trường ca “Đi dọc thời mình” 1986 và “Độc thoại mưa” 2010 và một tập lý luận phê bình có tựa đề “Một miền văn chương” 2008.

Phạm Ngà, ông là con người lịch lãm, chu đáo, cẩn trọng, nhường nhịn, chừng mực, trọng danh dự. Giữ gìn nhân cách của một nhà thơ. Chả thế mà khi ông làm giám đốc – tổng biên tập nhà xuất bản Hải Phòng. Chỉ vì cuốn sách “Làm người là khó” của ông Đoàn Duy Thành (cuốn sách của ông Thành để lưu hành nội bộ). Thế mà ông phải về hưu. Mọi người nể trọng ông. Vì ông bàn giao chức Giám đốc ngay tắp lự, không chần chừ đợi đủ thời gian mới rời gót ra đi. Có người bảo ông khôn, có người bảo ông dại. Có người khuyên nên gặp bề trên trình bày. Bởi cái lỗi ấy không phải ở nơi ông (vì có những đoạn, những chương Nhà xuất bản đã cắt sửa. Nhưng sách vẫn in. Có lẽ là bởi ông viết lời giới thiệu cho cuốn sách do đề nghị của tác giả. Ông ra về thanh thản. Cái dáng bề ngoài mảnh khảnh, chỉn chu, nhỏ nhẹ chỉ là dấu đi ngọn lửa trong ông. Những bài thơ được in vào tập thơ của những năm đầu đổi mới làm bạn đọc không khỏi giật mình. Thường là thơ ngày ấy người ta thi nhau ca ngợi chiến công, ca ngợi người tốt việc tốt. Một đề tài nhậy cảm thường hay né tránh. Vậy mà ông dám viết về hậu chiến tranh, nỗi đau tai ương trong bài “Hai tiếng khóc””

“Chị chờ anh suốt 14 năm ròng

14 mùa xuân héo nụ cười thiếu nữ

Đột nhiên anh trở về.

Người lính chiến trường bom đạn từng trải

Bỗng giật mình trước tiếng trẻ sơ sinh”

(Hai tiếng khóc)

Ngày ấy người ta tung hô phụ nữ 3 đảm đang, thanh niên 3 sẵn sàng. Vậy mà 14 năm người lính trở về, người lính dạn dầy bom đạn bàng hoàng trước tiếng khóc sơ sinh trong vòng tay người yêu cũ. Ông trăn trở dày vò tiếc cho tuổi trẻ cả tin, thơ ngây, mơ mộng, hồn nhiên trong sáng. Bài thơ đâu chỉ nói cho riêng ông.

… “Cả tuổi trẻ, ngày xưa thôi cũng chẳng cần

Những hăng hái lỗi thời, mộng mơ phù phiếm

Cuộc mưu sinh đâu chỉ bằng kỷ niệm

Ảo ảnh vật vờ, hành khất chẳng ai xin

Dần vơi đi bao tâm trạng nỗi niềm

Hết kỷ niệm, tôi sẽ thành trống rỗng

Chẳng trăn trở, chẳng buồn đau vui sướng

Cuộc đời chỉ còn chiếc bóng vu vơ”

Từ những năm 1989 bài thơ này mà in được, kể ra cũng may cho ông. Nhà ông có phúc lớn.

Nhớ lại năm 1998 ông là Giám đốc và là Tổng biên tập, cho xuất bản cuốn “Về một hiện tượng phê bình” gồm các bài tranh luận trao đổi đã in trên khắp các báo lớn của các giáo sư với Trần Mạnh Hảo. Suýt nữa ông gặp nạn. Sau cuộc họp và giải trình của ông ở Trung ương.

Cuộc họp kết luận thu hồi cuốn sách. Trong đó cũng có những ý kiến công tâm đúng mực như ông Trần Hoàn, ông Tô Ngọc Thanh, nhà thơ Hữu Thỉnh… đề nghị không làm xáo trộn công việc và tổ chức của nhà xuất bản Hải Phòng. Ngày ấy đã có công văn của ông đồng nghiệp với ông Ngà nhưng ở cương vị cầm đầu tư tưởng là phải kỷ luật thật nghiêm Giám đốc – Tổng biên tập. Ấy vậy mà cuối năm ấy kỷ niệm 15 năm thành lập NXB và đón Huân chương lao động, ông kia về dự bắt tay ông Ngà, phát biểu chúc mừng tự nhiên như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Ông ấy rất thân với nhà thơ ĐĐB và về dự lễ tang ông bạn của ông tận một làng quê hẻo lánh ở Hải Phòng.

Vì vậy chương 2 với tựa đề “Hai nửa sáng tối” trong trường ca “Độc thoại mưa” ông đã viết ở trang 25:

… “Lắm cái bất ngờ, sao cứ đành chấp nhận

Bất ngờ nhận ra người quen là kẻ xấu

Bất ngờ chân tướng kẻ vẫn hằng tôn vinh

Bất ngờ tình yêu không còn như cổ tích

Bất ngờ lối xưa cũng khác lạ khi nào”

(Độc thoại mưa)

Và ông phẫn nộ:

“Niềm hoan lạc chính chuyên cứ như thể phụ tình

Lời rao giảng có khi thành hàng nhái

Ướp lạnh tư duy đóng gói cả ngôn từ

Nhìn người đẹp nghi ngờ bước ra từ mỹ viện

Mỹ viện dung nhan, mỹ viện nhân cách

Gặp người bạn xưa cứ như là dị bản

Đánh bóng hư danh bằng cấp trá hình”

(Trang 28 chương 2)

Ông tỉnh táo nhìn bằng con mắt căm giận, tự thú và nuối tiếc tuổi trẻ cả tin khờ dại, đâu chỉ riêng ông:

“Ta thà thành thân với một cô gái điếm

Hơn phải sống chung kẻ sách nhiễu tôi đòi”

(Chương 3 Cõi thực và hư vô, trang 62)

“Cội nguồn” là chương cuối cùng trường ca của ông. Ông đã ngộ ra và tổng kết một đời khờ dại, cả tin:

… “Ngày nào ta chỉ quen dõi nhìn những hào quang lấp lánh, thì nay ta biết thêm mặt khuất phía cao xa.

Ta cứ ngờ nơi chín tầng mây chỉ có không khí trong lành và ánh sáng; thì nay ta biết thêm sự vấy bẩn khí quyển đe dọa cả nhân gian”.

Phạm Ngà, cái mảnh khảnh bên ngoài để dấu đi cái sục sôi và lửa cháy bên trong. Thơ ông chắt lọc, ngôn ngữ kỹ lưỡng, cẩn trọng như chính phong cách sống của ông. Tôi trân trọng ông.

NHÀ THƠ NGUYỄN ĐÌNH KIÊN

Nói đến Nguyễn Đình Kiên, lại chợt nhớ đến bài thơ “Lời mẹ dặn” của cố thi sỹ Phùng Quán. Xin trích đoạn kết:

“Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu

Tôi chỉ muốn là nhà văn chân thật

Chân thành trọn đời

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

Bút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao

Viết văn lên đá.”

Kiên là người hiền lành, tử tế, yêu ghét sòng phẳng, đen trắng rõ ràng. Cuộc đời của Kiên đã được nhà biên kịch Nguyễn Long Khánh viết kỹ càng trong tập phê bình và chân dung văn học “Sống giữa đời thường” NXB Hải Phòng 2022. Ở Kiên đâu chỉ có thơ tình, trữ tình và có cả thơ chính luận.

Đời Kiên cũng buồn nhiều hơn vui, rời cây súng trở về làm thợ tiện, phụ lái xe, rồi về một cục, số tiền hưu non ấy như lá vàng vèo bay qua ô cửa. Không lương hưu khác nào xe đạp không chân chống. Hai lần tai biến, rồi vợ chồng chia tay. May 2 đứa con ở Mỹ tháng tháng gửi tiền về nuôi bố. Kiên tồn tại đến hôm nay, nhưng thơ không làm được nữa. Nhưng những bài thơ anh sáng tác trước kia thì thuộc lòng và bây giờ vẫn đọc lại vanh vách. Ngoài tập thơ in chung vào năm 1995 (tôi không nhớ), Kiên đã xuất bản được 3 tập thơ: “Vầng trăng của mẹ” in năm 2004; “Quả vỡ” 2007; “Những trang thơ còn sót lại” 2022. Đặc biệt ở Kiên với Kiên coi thơ là cõi thiêng. Ai mà có ý xúc phạm đến thơ là Kiên tỏ thái độ ngay. Bởi vậy trong bài “Nghĩ về thơ” mở đầu Kiên đã viết:

“Khi nhìn đời bằng cảm xúc mỗi trang thơ

Niềm vui lớn và nỗi đau cũng thế

Đời trung thực nặng lòng như sóng bể

Câu thơ ơi! Đừng theo gió ngả nghiêng lòng”

và thấu tỏ tận đáy tâm hồn. Kiên nhìn ra:

“Hạnh phúc bên ngoài, đau khổ phía bên trong

Thơ nằm giữa để chia phần quả ngọt”

Đời đã dậy Kiên nhìn ra loài ăn bám, bất tài mà leo cao và Kiên ví von:

“Cây tầm gửi bò lên cao chót vót”

Còn sự chân thật thì thật đắng cay:

“Đời âm thầm chẳng biết nói năng chi”

Kiên nhận định và khái quát:

“Thơ là nỗi khổ đau và hạnh phúc của con người

Là cái ở vô cùng giữa bao điều quen thuộc”

Thơ là thánh địa, là ngôi đền linh thiêng thật sự. Không thể mang thơ làm đồ trang sức, thơ là máu thịt với Kiên:

… “Lật trang thơ soi khuôn mặt cuộc đời

Ta soi cả tâm hồn mình vào đó

Máu người đổ trên trang thơ viết dở

Ta mang nợ cuộc đời, đời nợ mỗi câu thơ”

Bài thơ này Kiên viết từ năm 1980 của thế kỷ trước.

Với lòng trắc ẩn và giằng xé trong tâm hồn. Kiên còn có một trái tim thơ ngây trong trẻo, trong trẻo đến sững sờ. Làm thơ về người lớn đã khó. Kiên còn hóa thân thành chú bé nhi đồng ngộ nghĩnh, tươi trẻ đến không ngờ. Đó là thơ trẻ con. Có thể nói thần đồng của tuổi 60, tập thơ “Vầng trăng của bé” 2004 với 46 bài (những bài Kiên viết khi chưa bị tai biến. Tập hợp lại mà in thành sách đã bị thất lạc nhiều). Tôi nghĩ thơ viết cho thiếu nhi đã khó, còn thơ viết cho tuổi mẫu giáo nhi đồng càng khó hơn. Cả Hải Phòng này duy nhất có Kiên. Kiên là số một. Không ai vượt qua Kiên cho đến hôm nay. Hãy đọc một vài bài trong tập “Vầng trăng của mẹ” để minh chứng cho điều tôi đã nói:

46 bài thơ đều mang đậm chất nhân văn, tính giáo dục cao, ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, dễ thuộc.

Kiên là như thế đấy! Người bạn thân thiết của tôi. Một tín đồ trung thành với thơ ca.

Chùm Thơ Viết Về Các Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng Hay Nhất

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Hai Chị Em

Tả Hình Ảnh Mẹ Lúc Em Bị Ốm

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Nhà Thơ Nguyễn Duy Và Tập Thơ Mẹ Và Em (1987) Phần 1

Thơ Về Bà, Mẹ, Chị Và Vợ

Bài Thơ Mưa Xuân Của Tác Giả Nguyễn Bính

Triết Lý Sâu Sắc Của Bài Thơ “Nhàn”

Danh Nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm Và Văn Bản Thơ Nôm – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Top 10 Bài Văn Cảm Nhận Bài Thơ “nhàn”

Đọc Hiểu Văn Bản: “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nghệ Thuật Thiền Qua Bài Thơ Cảnh Nhàn Của Nhà Nho Nguyễn Bỉnh Khiêm

Mưa xuân

 

Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già,

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng

Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

 

Bữa ấy, mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.

Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ,

Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”.

 

Lòng thấy giăng tơ một mối tình,

Em ngừng thoi lại giữa tay xinh.

Hình như hai má em bừng đỏ,

Có lẽ là em nghĩ đến anh.

 

Bốn bên hàng xóm đã lên đèn,

Em ngửa bàn tay trước mái hiên.

Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh.

Thế nào anh ấy chẳng sang xem!

 

Em xin phép mẹ, vội vàng đi,

Mẹ bảo: Xem về kể mẹ nghe.

Mưa bụi nên em không ướt áo,

Thôn Ðoài cách có một thôi đê.

 

Thôn Ðoài vào đám hát thâu đêm,

Em mải tìm anh chả thiết xem.

Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh,

Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.

 

Chờ mãi anh sang anh chả sang,

Thế mà hôm nọ hát bên làng,

Năm tao bảy tiết anh hò hẹn,

Ðể cả mùa xuân cũng bẽ bàng!

 

Mình em lầm lụi trên đường về,

Có ngắn gì đâu môt dải đê!

Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt,

Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.

 

Em giận hờn anh cho đến sáng

Hôm sau mẹ hỏi hát trò gì.

“- Thưa u họ hát…” – Rồi em thấy,

Nước mắt tràn ra, em ngoảnh đi.

 

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay,

Hoa xoan đã nát dưới chân giày.

Hội chèo làng Ðặng về ngang ngõ,

Mẹ bảo: “- Mùa xuân đã cạn ngày!”

 

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày!

Bao giờ em mới gặp anh đây?

Bao giờ hội Ðặng đi ngang ngõ,

Ðể mẹ em rằng: Hát tối nay?

Nguyễn Bính/Người Hà Nội

Bài Văn: Cảm Nhận Bài Thơ “Mưa Xuân”

Junbaby: Các Bài Hát Về Mưa Cho Trẻ Mầm Non

“Mưa Rừng”, Bài Thơ Ấn Tượng Của Nhà Thơ Hoàng Yến.

Về Nời Nhạc Phẩm “Cơn Mưa Phùn” Do Đức Huy Phổ Nhạc Bài Thơ Của Người Nàm Thơ Quá Cố La Thị Sinh

Nguyễn Bính Với Huế Qua Thơ

Bài Thơ “mẹ Ốm” Của Trần Đăng Khoa

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Mẹ Ốm Trần Đăng Khoa

Phân Tích Bài Thơ “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đạt 9 Điểm

Lời Bài Thơ Nhớ Rừng (Thế Lữ)

Phân Tích Nội Dung Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ

Trần Đăng Khoa nổi tiếng là một thần đồng về thơ khi đang còn học lớp ba trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của Khoa trong sáng giản dị mà dạt dào cảm xúc, đầy tình yêu thương con người và thiết tha yêu quê hương đất nước. Biết bao em nhỏ Việt Nam yêu thích những bài thơ của Khoa viết và bài thơ “Mẹ ốm” cũng vậy.

Mẹ ốm Cánh màn khép lỏng cả ngày Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan. Khắp người đau buốt, nóng ran Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào. Sáng nay trời đổ mưa rào Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương Cả đời đi gió đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi. Mẹ vui con có quản gì Ngâm thơ kể chuyện, rồi thì múa ca Rồi con diễn kịch giữa nhà Một mình con sắm cả ba vai chèo. Vì con, mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say. Rồi ra đọc sách, cấy cày Mẹ là đất nước, tháng ngày của con… Trần Đăng Khoa

Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả cảnh mẹ ốm bằng hình ảnh so sánh:

“Mọi hôm mẹ thích vui chơi. Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”

Thường ngày mẹ hay ăn trầu, đôi má lúc nào cũng đỏ hồng lên. Thế mà hôm nay mọi cảnh vật trong nhà thật buồn bã. Lá trầu cũng như lặng đi và héo khô trong cơi trầu. Những lúc rỗi rãi mẹ thường ngâm nga Truyện Kiều, giờ mẹ bị ốm nên “Truyện Kiều gấp lại trên đầu…”.

Mẹ vốn là người lam làm tần tảo. Khi mẹ ốm thì “Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa”. Cả cuộc đời mẹ vất vả gian nan nay bị ốm, tác giả đã cảm nhận được và thể hiện qua hình ảnh:

“Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”.

Tác giả – một em thiếu niên 10 tuổi đã liên tưởng từ hình ảnh “nắng mưa” mà thấy được sự vất vả, những thăng trầm của cuộc sống mà người mẹ đã phải trải qua. Vì vậy mà tác giả như hiểu được người mẹ đang phải chịu sự “đau buốt, nóng ran” khi bị ốm.

Rồi tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm của mọi người tới mẹ cũng được nhà thơ thể hiện rất mộc mạc, giản dị mà thắm đượm tình người:

“Mẹ ơi, cô bác xóm làng đến thăm. Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào”.

Điều đó chứng tỏ rằng, hàng ngày mẹ sống tốt với mọi người nên khi mẹ ốm mọi người quý mến và thương cảm tới mẹ. Còn nhà thơ – em bé thiếu niên Trần Đăng Khoa bấy giờ đã thấu hiểu nỗi vất vả cực nhọc của mẹ trong cuộc sống lam lũ mà em đã từng chứng kiến và cảm nhận được:

“Cả đời đi gió, đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”.

“Cả đời đi gió đi sương” là hình ảnh ẩn dụ diễn tả sự vất vả, gian khổ của người mẹ.

Trong cuộc sống lao động cực nhọc, mẹ đã từng trải qua và vượt lên tất cả để vì cuộc sống và vì tương lai tốt đẹp của các con. Khoa còn hiểu được qua thành ngữ “đi gió đi sương” là nói lên được sự vất vả gian khổ, lao động trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sớm tối lặn lội. Cảm nhận được như vậy, chứng tỏ tác giả rất yêu thương mẹ, muốn làm tất cả những gì để mẹ vui lòng mà chóng khỏi ốm:

“Mẹ vui con có quản gì Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca”.

Khoa còn làm được cả những việc vượt ngoài khả năng mà trước đây bản thân chưa làm được: “Một mình con sắm cả ba vai chèo” – một em thiếu niên thật là ngoan ngoãn, có thể lúc trước còn nhõng nhẽo, hay vòi vĩnh mẹ nhưng bây giờ mẹ ốm đã biết thể hiện sự hiếu thảo của mình qua sự chăm sóc mẹ. Nhìn những nếp nhăn hằn trên khuôn mặt của mẹ, Khoa rất cảm động và thấy vô cùng biết ơn mẹ:

“Vì con mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn”.

Vì vậy mà trong lòng của nhà thơ lúc nào cũng ước:

“Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ say”.

Thật cảm động biết bao trước tình cảm đẹp đẽ của một người con – một cậu bé chưa đầy 10 tuổi trước cảnh “Mẹ ốm”. Bài thơ còn hay ở câu kết mà tác giả đã nói hộ chúng ta về lòng biết ơn vô hạn của những đứa con với các bà mẹ:

“Mẹ là đất nước, tháng ngày của con”.

Phải chăng đó cũng là tình cảm của mỗi chúng ta khi nghĩ về mẹ: Con yêu mẹ nhất trên đời, con yêu mẹ như yêu đất nước và mẹ chính là Tổ quốc của riêng con!

Theo báo Bắc Giang

1001 Bài Thơ Mưa Buồn, Tâm Trạng Buồn, Cô Đơn Trong Mưa

Những Bài Thơ Tình Hay Về Mùa Đông

Bài Thơ Mẹ (Trần Quốc Minh)

Tổng Hợp Những Bài Thơ Về Mẹ Hay Và Cảm Động Nhất

Chùm Thơ Lục Bát Quê Hương Hay Nhất

Bài Thơ Mẹ Ốm Của Trần Đăng Khoa

Bài Thơ Mẹ Ốm Trần Đăng Khoa – Tình Cảm Mẹ Con Ở Tuổi Hồn Nhiên

Bài Thơ Đàn Gà Con

Bài Thơ Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) – Bài Thơ Ca Ngợi Niềm Vui Trong Cảnh Sống Thanh Nhàn

U Bài Ngăm Trăng Đi Đường (Hồ Chí M…

Con Cáo Và Tổ Ong – Bài Thơ Mang Ý Nghĩa Sâu Sắc Của Hồ Chí Minh

Chủ đề người mẹ đã và luôn là dòng chảy cảm hứng bất tận của thơ ca, nghệ thuật. Trong đó, tôi rất thích bài thơ “Mẹ ốm” của nhà thơ Trần Đăng Khoa bởi nhan đề và nội dung thật độc đáo.

Mọi hôm mẹ thích vui chơi

Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu

Lá trầu khô giữa cơi trầu

Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay

Cánh màn khép lỏng cả ngày

Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa

Nắng mưa từ những ngày xưa

Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan

Khắp người đau buốt, nóng ran

Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm

Người cho trứng, người cho cam

Và anh bác sĩ đã mang thuốc vào

Sáng nay trời đổ mưa rào

Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương

Cả đời đi gió đi sương

Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi

Mẹ vui, con có quản gì

Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca

Rồi con diễn kịch giữa nhà

Một mình con sắm cả ba vai chèo

Vì con mẹ khổ đủ điều

Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn

Con mong mẹ khoẻ dần dần

Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say

Rồi ra đọc sách, cấy cày

Mẹ là đất nước, tháng ngày của con…

                                                          Trần Đăng Khoa

Chủ đề người mẹ đã và luôn là dòng chảy cảm hứng bất tận của thơ ca, nghệ thuật. Trong đó, tôi rất thích bài thơ “Mẹ ốm” của nhà thơ Trần Đăng Khoa bởi nhan đề và nội dung thật độc đáo, không giãi bày cảm xúc với mẹ nói chung như nhiều thi sỹ khác mà viết về mẹ bị ốm. Mặt khác bài thơ được sáng tác bởi một tác giả nhí, khi viết Trần Đăng Khoa mới 10 tuổi – toàn bộ cảm xúc, hình ảnh của bài thơ đều rất hồn nhiên.

Bài thơ là lời kể của một em bé về mẹ rất ngây thơ: “Mọi hôm mẹ thích vui chơi/ Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”. Khác biệt giữa mọi hôm mẹ bình thường và hôm nay mẹ ốm mệt, đứa con đã cảm nhận bằng trực giác. Cách nói “mẹ thích vui chơi” đúng là cái nhìn của trẻ thơ khi thấy trước đó, hễ có thời gian ở nhà là mẹ vui đùa chơi cùng con – còn khi mẹ làm ngoài đồng con đâu thấy được?

Những câu thơ tiếp tưởng như vẫn cảm nhận về mẹ qua những gì con thấy: “Lá trầu khô giữa cơi trầu/ Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay” nhưng thực chất, câu thơ đã nói rõ hơn những việc yêu thích của mẹ thường ngày. Mẹ ăn trầu cũng là thói quen duy trì một phong tục từ lâu đời của người Việt. Mẹ rất thích đọc Truyện Kiều bởi mẹ thuộc nằm lòng. Mẹ kể Kiều, ngâm Kiều cho các con nghe, dùng thơ Kiều hát ru con ngủ…

Tuy nhỏ tuổi, tác giả đã biết nghĩ đến những vất vả của mẹ: “Nắng mưa từ những ngày xưa/ Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”. Hình ảnh ẩn dụ ở đây thật gợi cảm, nhấn mạnh tính cần cù ở mẹ. Mẹ ốm mệt có lẽ vì quá vất vả chăm lo cho gia đình: thường ngày mẹ vẫn “cày cuốc” làm ruộng, chăm vườn từ sớm tới trưa bất kể mưa nắng. Là thiếu nhi nhưng tác giả đã sớm ý thức được những hy sinh thầm lặng đó của mẹ khiến mẹ và tất cả những ai đã đọc bài thơ đều cảm động.

Phần thơ tiếp cho thấy sự quan tâm thăm hỏi của cô bác qua những hình ảnh rất giản dị, mộc mạc: “…Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm/ Người cho trứng, người cho cam/ Và anh bác sĩ đã mang thuốc vào”. Điều này cho thấy thường ngày mẹ sống rất nghĩa tình, giờ mẹ được nhận lại tình cảm ấm áp và sự quan tâm của xóm làng là xứng đáng. Nhờ người thân chăm sóc và xóm làng sẻ chia mẹ lui dần bệnh tật. Sự gượng dậy của mẹ được đứa con tái hiện sinh động và hồn nhiên làm sao: “Cả đời đi gió đi sương/ Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”. Với mong ước mẹ vui và khoẻ lại, chủ thể trữ tình đã cố gắng hết mình, làm trò vui, diễn xuất đủ mọi hình thức: ngâm thơ, kể chuyện, múa ca, diễn chèo: “Mẹ vui, con có quản gì/ Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca/ Rồi con diễn kịch giữa nhà/ Một mình con sắm cả ba vai chèo”. Không chủ đích phản ánh nhưng các hoạt động cố gắng làm mẹ vui tỏ rõ người con có khả năng văn hóa, văn nghệ và bộc lộ rõ nhất tình yêu, lòng biết ơn đối với mẹ rất chân thành: “Vì con mẹ khổ đủ điều/ Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn/ Con mong mẹ khoẻ dần dần/ Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say”.

Khép lại bài thơ là những câu từ dung dị nhưng có tầm khái quát lớn “Mẹ là đất nước, tháng ngày của con…”. Cho dù tác giả còn rất nhỏ nhưng với câu thơ này, tình yêu giành cho mẹ không chỉ hướng tới một cá nhân nữa mà đã mở ra không gian, thời gian cao xa, rộng lớn đã nâng giá trị bài thơ rất nhiều. Tình yêu mẹ cha gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước.

NGUYỄN THỊ THIỆN

Những Bài Thơ Hay Về Mùa Đông Lạnh Lẽo Và Cô Đơn

Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Từ Con Mắt Của Người Đọc

Bài Thơ Mẹ (Trần Quốc Minh) – Có Ngọt Ngào Nào Hơn Tình Thương Của Mẹ?

“Khúc Thụy Du” – Không Ai Ngờ Bản Nhạc Tình Bất Hủ Được Phổ Nhạc Trên Lời Của Bài Thơ Bi Thương.

Bài Thơ Khóc Dương Khuê Của Cụ Nguyễn Khuyến

Phân Tích Bài Thơ Ánh Trăng Của Tác Giả Nguyễn Duy

Cảm Nhận Về Bài Thơ Ánh Trăng Của Tác Giả Nguyễn Duy

Lối Sống Ân Tình Thủy Chung Qua Hai Bài Thơ “ánh Trăng”, “bếp Lửa”

Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Ánh Trăng

Bàn Về Thơ, Có Ý Kiến Cho Rằng: “thơ Hay Là Thơ Giản Dị, Xúc Động Và Ám Ảnh”. Chứng Minh Qua “ánh Trăng” Của Nguyễn Duy

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Bài làm

Nguyễn Duy từ lâu cũng được biết đến chính là nhà thơ trường thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Người đọc cũng thấy được chính những sáng tác của ông đi vào lòng người đọc biết bao nhiêu và nó cũng mang được sự nhẹ nhàng, gần gũi và bài thơ “Ánh trăng” là một trong những bài thơ có thể nhìn nhận chân thực và sâu sắc hơn về cuộc sống và hình ảnh được thể hiện ở đây đó chính là ánh trăng.

Thực sự có thể cảm nhận thấy được ánh trăng được biết đến là một hình ảnh xuyên suốt 4 khổ thơ. Hình ảnh nó như đã có một sự xâu chuỗi các dòng hoài niệm và suy nghĩ của một đời người, đó chính là những nghĩ suy về hiện tại và quá khứ. Không thể phủ nhận được nhà thơ Nguyễn Duy đã rất tinh tế để xây dựng thành công hình tượng ánh trăng “vô tri vô giác” nhưng có sức mạnh đánh thức và lay động trái tim mỗi người được.

Thật dễ dàng nhận thấy được rằng chính bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh ánh trăng thân thuộc và cũng gần gũi gắn với cả thời thơ ấu chiến tranh thật ác liệt:

Hồi nhỏ sống với đồng Với sông rồi với bể Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ.

Thông qua khổ thơ người đọc nhận thấy được hình ảnh “ánh trăng” dường như cũng chính là hình ảnh như đã trở thành một biểu tượng xuyên suốt tuổi thơ của tác giả. Ánh trăng gắn bó với những kỉ niệm khó quên của những ngày thơ ấu. Không thể phủ nhận được ánh trăng lúc này đây thật tinh khiết, dịu nhẹ lan tỏa từ cánh đồng mênh mông biết nhường nào. Ánh trăng gắn bó với kỷ niệm tuổi thơ rồi cho đến những năm tháng “hồi chiến tranh ở rừng” gian khổ và trăng cùng người như trở thành đôi bạn, đôi tri kỷ. Có thể thấy được với hai dấu mốc thờ gian “hồi nhỏ” và cả cái “hồi chiến tranh” thực sự cũng lại đã khiến cho ánh trăng trở nên gần gũi và nghĩa tình ở khổ thơ tiếp theo được bộc bạch thêm:

Trần trụi giữa thiên nhiên Hồn nhiên như cây cỏ Ngỡ không bao giờ quên Cái vầng trăng tình nghĩa

Cho dù là ở đâu đi chăng như thì hình ảnh “ánh trăng” vẫn vẹn nguyên, gần gũi, nó cũng vô cùng phóng khoáng khiến cho tác giả lúc này đây cũng lại có cảm giác “không bao giờ quên” được thế nhưng tất cả cũng chỉ dừng lại ở từ “ngỡ” mà thôi. Hình ảnh ánh trăng giống như một sự nhắc nhớ khiến cho tác giả không được phép quên đi sự khó khăn.

Từ hồi về thành phố Quen đèn điện của gương Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường

Khổ thơ như cũng mở rộng ra và cũng đã cho ta nhận thấy được lúc này đây thì cuộc sống đô thị phồn hoa với đèn điện tiện nghi thật đầy đủ, con người hiện đại hơn mà chính tác giả cũng đã quên đi những năm tháng khó khăn trước đây, và quan trọng hơn là cũng quên mất đi người bạn tri kỷ xưa kia. Không khó có thể nhận ra được đoạn thơ có giọng thơ lúc này nghẹn lại. Cách dùng từ cũng thật đắt của Nguyễn Duy là từ “người dưng” thực sự cũng đã gợi lên cảm giác xót xa đến tột độ biết bao nhiêu. Tiếp theo đó cũng chính là tình huống đặc biệt như khiến Nguyễn Duy nhận ra được:

Vầng trăng tròn vành vạnh Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật minh

Nguyễn Duy cũng đã sử dụng được một phép đối lập song song đủ khiến cho lương tâm của con người lúc này đây dường như cũng lại được thức tỉnh và ngộ ra nhiều điều. Thông qua hình ảnh ánh trăng nhà thơ muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng cho dù cuộc sống đổi thay thì mỗi người không thể quên đi tình nghĩa. Thực sự với khổ thơ cuối đã gieo vào lòng độc giả biết bao nhiêu cảm xúc khó tả và thức tỉnh những người đang dần lãng quên đi quá khứ nữa.

Thi phẩm “Ánh trăng” của nhà thơ Nguyễn Duy với tứ thơ lạ, vô cùng độc đáo và cách viết mới mẻ cực hấp dẫn đã thổi vào lòng người đọc biết bao nhiêu bài học thật sâu sắc và tình nghĩa.

Minh Tân

Soạn Bài: Ánh Trăng Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9

Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Cảm Nhận Về 6 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Khi Con Tu Hú Của Nhà Thơ Tố Hữu

Phân Tích 6 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu

Top Các Bài Soạn Tập Làm Thơ Bốn Chữ Lớp 6 Hay Nhất

Bài Thơ Trời Mưa Ở Huế Của Tác Giả Nguyễn Bính

Bài Thơ “giời Mưa Ở Huế” Của Nhà Thơ Nguyễn Bính

Soạn Bài: “mưa” Của (Trần Đăng Khoa)

Lời Bài Thơ Mưa Phùn (Trần Văn Lương)

Phân Tích Bài Ca Dao Ơn Trời Mưa Nắng Phải Thì…

“mưa Rừng”, Bài Thơ Ấn Tượng Của Nhà Thơ Hoàng Yến.

Tác giả: Nguyễn Bính

Trời mưa ở Huế sao buồn thế!

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày

Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói

Trời mờ ngao ngán một loài mây.

Trường Tiền vắng ngắt người qua lại

Đập Đá mênh mang bến nước đầy.

Đò vắng khách chơi nằm bát úp

Thu về lại giở gió heo may…

Chúng tôi hai đứa xa Hà Nội

Bốn tháng hình như kém mấy ngày

Lăn lóc có dư mười mấy tỉnh

Để rồi nằm mốc ở nơi đây

Thuốc lào hút mãi người ra khói

Thơ đọc suông tình hết cả hay

Túi rỗng nợ nần hơn Chúa Chổm

Áo quần trộm mướn, túng đồ thay.

Hàng xóm có người con gái lẻ

Ý chừng duyên nợ với nhau đây

Chao ơi! Ba bốn tao ân ái

Đã đủ tan tành một kiếp trai.

Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ!

Đành phụ nhau thôi, kẻo đến ngày

Khăn gói gió đưa sang xứ lạ

Ai cười cho được lúc chia tay?

Trời mưa ở Huế sao buồn thế!

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày

Xa xôi ai nhớ mà thương nhớ?

Mà nhớ mà thương đến thế này!

Cố nhân chẳng khóa buồng xuân lại

Vung vãi ân tình khắp đó đây.

Mưa chiều, nắng sớm, người ta bảo

Cả đến ông trời cũng đổi thay

Gia đình thiên cả lên thành thị

Buôn bán loanh quanh bỏ cấy cày

“Anh em cánh nhạn người Nam Bắc

Tâm sự hồn quyên lệ ngắn dài…”

Trời mưa ở Huế sao buồn thế!

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày

Hôm qua còn sót hơn đồng bạc

Hai đứa bàn nhau uống rượu say

Nón lá áo tơi ra quán chợ

Chơ vơ trên bến nước sông đầy

Sầu nghiêng mái quán mưa tong tả

Chén ứa men lành lạnh ngón tay.

Ôn lại những ngày mưa gió cũ

Những chiều quán trọ, những đêm say

Người quen nhắc lại từng tên một

Kể lại từng nơi đặt dấu giầy

Trôi dạt dám mong gì vấn vít

Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây

Tỉ tê gợi tới niềm tâm sự

Cúi mặt soi gương chén rượu đầy

Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ

Đôi lòng hòa một vị chua cay

Đứa thương cha yếu thằng thương mẹ

Cha mẹ chiều chiều… con nước mây

Không hiểu vì đâu hai đứa lại

Chung lưng làm một chuyến đi đầy?

Trời mưa ở Huế sao buồn thế!

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày…

Xem tiếp:

Có thể bạn sẽ thích

Tuyển Chọn 999 Bài Thơ Chế Thả Thính Chất Ngầu “thả Là Dính”

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Hay Viết Về Những Cơn Mưa Ngâu Tháng 7

Chùm Thơ Hay Viết Về Những Cơn Mưa Ngâu Tháng 7

Lời Bài Hát Mong Mưa Xóa Nhòa

Những Bài Thơ Hay Viết Về Miền Trung

Bình Giảng Bài Thơ Mưa Xuân Của Tác Giả Nguyễn Bính

Phân Tích Bài Thơ Mưa Xuân Của Tác Giả Nguyễn Bính ( Bài Làm Của Học Sinh Giỏi Văn Lớp 11)

Hình Tượng Sóng Trong Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Trọn Bộ 99 Thơ Nhớ Người Yêu Khi Trời Mưa Đặc Sắc Nhất Hiện Nay

Thơ Mưa Tháng 6 Hay, Loạt Thơ Ngắn Cơn Mưa Tháng Sáu Buồn & Lãng Mạn

Kể Lại Nội Dung Bài Thơ Mẹ Ốm Theo Lời Của Người Con

Cùng với Xuân Diệu, Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ tình nổi tiếng nhất của nền văn học Việt Nam. Mang đậm nét dân dã, mộc mạc, thơ của Nguyễn Bính thường gợi ra những gì thân thuộc, gần gũi mà cũng vô cùng xúc động với muôn vàn cung bậc cảm xúc. Từ mạch nguồn trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, anh chị hãy bình giảng bài thơ Mưa xuân. Bài làm

Nguyễn Bính là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của Việt Nam, Ông được coi là nhà thơ của làng quê Việt Nam bởi những sáng tác của ông mang sắc thái dân giã, mộc mạc. Tôi thường nhớ tới Nguyễn Bính mỗi độ xuân về, nhất là lúc mưa xuân. Những cơn mưa phùn như rắc bụi trên cỏ cây hoa lá, những cánh hoa bưởi rụng rơi bên thềm nhà… tất cả đều làm tôi nhớ đến Ông, nhớ đến những sáng tác vô cùng thân quen và mộc mạc, gần gũi với khung cảnh quê hương yên bình. Trong số các sáng tác của Nguyễn Bính, tôi thích nhất là bài thơ “Mưa xuân” nằm trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang” năm 1940.

“Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng

Mẹ già chưa bán chợ làng xa”

Mở đầu bài thơ là hình ảnh của một cô gái sống bằng nghề dệt lụa cùng với mẹ già, tấm lòng trong sáng thuần khiết được ví như cây lụa trắng đã cho ta thấy đây là một cô gái có lòng lương thiện, luôn nghe lời mẹ. Nhà thơ đã sử dụng lối viết tự sự chân thật và gần gũi để giới thiệu về cuộc sống hàng ngày của cô gái làm cho người đọc hiểu hơn về nhân vật trong chuyện.

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ

Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”

Hình ảnh mưa xuân hiện lên thật đẹp chẳng trách Nguyễn Bính đã lấy hình ảnh này để đặt tên cho bài thơ. Các hình ảnh như: mưa xuân, hoa xoan, hội chèo đều là những hình ảnh quen thuộc của mùa xuân và có lẽ đây chính là cơ hội để cô gái có thể gặp chàng trai trong lòng của mình. Tôi nhớ trong bài thơ Tương Tư, tác giả cũng đã sử dụng hình ảnh thôn Đoài trong câu thơ: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông – một người chín nhớ mười thương một người”. Hình ảnh thôn quê hiện lên thật gần gũi tượng trưng cho tình cảm lứa đôi thật đẹp, đây chính là điểm đặc sắc trong thơ của Nguyễn Bính mà chúng ta không thể tìm thấy ở các nhà thơ khác.

Những câu thơ tiếp theo từ “em ngừng thoi lại giữa tay xinh… cho đến thế nào anh ấy chả sang xem” đã diễn tả tâm trạng bồi hồi có chút e thẹn của cô gái khi nghĩ đến chàng. Nguyễn Bính đã sử dụng lối viết tự sự kết hợp với miêu tả đem đến cho người đọc cảm giác rất chân thật, rất gần gũi, dù không có mặt ở đó nhưng người đọc vẫn có thể hình dung ra mọi hành động của cô gái.

“Em xin phép mẹ vội vàng đi

Mẹ bảo em về kể mẹ nghe

Mưa bụi nên em không ướt áo

Thôn Đoài cách có một thôi đê”

Nguyễn Bính đã thực sự hóa thân vào nhân vật, kể lại từng chi tiết cũng như diễn biến tâm trạng của cô gái giúp cho người đọc cảm thấy rất chân thực. Từ “vội vàng” đã cho thấy tâm trạng háo hức của cô gái chỉ muốn mau chóng đến hội hàng để có thể gặp được chàng, trái tim và lý trí của cô đều hướng đến chàng.

“Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm

Em mải tìm anh chả thiết xem

Chắc hẳn đêm nay dường cửi lạnh

Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”

Những câu thơ vô cùng mộc mạc và giản dị, những câu nói rất đỗi đời thường, rất đỗi gần gũi với lối sống thôn quê bình dị đã được Nguyễn Bính sử dụng trong đoạn thơ trên. Cô gái lặn lội sang thôn Đoài nhưng không hề có ý xem hội mà tâm trí của cô chỉ hướng đến người thương trong lòng, cô mải miết đi tìm anh trong vô thức. Biện pháp nhân hóa được sử dụng khéo léo trong hai câu cuối chứng tỏ mọi khi cô luôn gắn bó với khung cửi và thoi ngà nhưng hôm nay cô đã bỏ mặc tất cả để đi tìm chàng, đi tìm hạnh phúc của đời mình.

Sự chờ đợi trong vô vọng của cô gái đã dập tắt niềm hi vọng của cô, tâm trạng chuyển từ hồi hộp nhớ mong đến trách móc:

“Chờ mãi anh sang anh chẳng sang

Thế mà hôm nọ hát bên làng

Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn

Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng”

Những lời trách móc của cô gái rất chân thực, mang nỗi niềm của người con gái khi yêu mong muốn được gặp chàng để thỏa nỗi nhớ mong nhưng chàng lại không đến. Những lời ấy làm tôi nhớ đến những lời trách móc của chàng trai trong bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính: “Hai thôn chung lại một làng – cớ sao bên ấy chẳng sang bên này”. Bên cạnh những lời trách móc giận hờn ấy chính là sự hi vọng, hi vọng có thể được gặp người mình thương dù chỉ là một lần.

“Mình em lầm lũi trên đường về

Có ngắn gì đâu một dải đê!

Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt

Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya”

Chờ hoài mà chàng không đến, cô gái “lầm lũi” đi về trong màn đêm đầy sương gió mang theo bao nhiêu tâm sự với tủi hờn. Tôi rất khâm phục Nguyễn Bính trong việc miêu tả diễn biến tâm lí của cô gái, có lẽ đây chính là yếu tố tạo nên sự thành công và tên tuổi của nhà thơ. Tâm trạng của cô gái trước khi đi xem hội là rất vui, rất háo hức vì tin rằng sẽ gặp được chàng, đường dù xa nhưng cô vẫn thấy rất gần điều này thể hiện rất rõ trong câu: “Thôn Đoài cách có một thôi đê”. Bởi vì cô háo hức muốn đi gặp chàng nên dù đường xa hay mưa gió cũng chẳng màng, đường dù xa nhưng cô vẫn thấy rất gần. Nhưng đến khi không gặp được chàng trai, suy nghĩ của cô gái đã thay đổi hẳn: “Có ngắn gì đâu một dải đê”. Một mình cô trở về trong sự nhớ nhung, tủi hờn, con đường về nhà trở nên dài hơn bao giờ hết.

“Em giận hờn anh cho đến sáng

Hôm sau mẹ hỏi hát trò gì

“- Thưa U họ hát …” rồi em thấy

Nước mắt tràn ra em ngoảnh đi”

Nỗi lòng của người con gái khi yêu là thế, cả đêm cô gái đã trằn trọc không ngủ được, giận hờn anh cho đến khi trời sáng. Tại sao anh lại lỡ hẹn thề để cho cô phải mong ngóng, hi vọng và rồi thất vọng, để rồi khi U hỏi đến thì cô chỉ biết ngoảnh mặt khóc.

“Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay

Hoa xoan đã nát dưới chân giày

Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ

Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày

Bao giờ em mới gặp anh đây?

Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ

Để mẹ em rằng: “Hát tối nay?”

Mùa xuân đang dần qua đi, những cơn mưa xuân đã ngại bay, những cánh hoa xoan đã bị nát dưới giày, hội làng cũng sắp hết, không biết đến bao giờ cô mới gặp được chàng trai, không biết đến khi nào mùa xuân kia lại tươi thắm trở lại.

Bài thơ “Mưa xuân” giống như một câu chuyện đã được Nguyễn Bính kể lại bằng chất thơ mộc mạc và giản dị của mình. Câu chuyện về người con gái thôn quê ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, tiếc thương cho cô gái vì mùa xuân đã nhỡ nhàng nhưng cũng cảm phục vì tình yêu mãnh liệt của cô. Bằng cách sử dụng các hình ảnh đối lập, vận dụng linh hoạt các biện pháp tu từ kết hợp với lối văn tự sự đi vào lòng người, bài thơ “Mưa xuân” của Nguyễn Bính đã để mang đến thật nhiều cảm xúc cho người đọc về tình yêu đôi lứa.

Những Bài Soạn Tiếng Việt Lớp 4

Chùm Thơ Mưa Mùa Thu Hay Với Nỗi Nhớ Người Yêu, Buồn, Lãng Mạn

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Tình Viết Về Những Cơn Mưa Mùa Thu Hay Nhất

“mưa Rừng”, Bài Thơ Ấn Tượng Của Nhà Thơ Hoàng Yến.

Phân Tích Bài Ca Dao Ơn Trời Mưa Nắng Phải Thì…

Tập Thơ “thu Muộn” Của Tác Giả Nguyễn Văn Hoan

Chùm Thơ Về Nước Nga

Chùm Thơ Về Mùa Thu Của Nhà Báo Nguyễn Hồng Vinh

Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Mùa Thu Paris”, “Chiều Đông”, “Bên Ni Bên Nớ”, “Tiễn Em” – Cung Trầm Tưởng & Phạm Duy

Đâu Phải Bởi Mùa Thu (Phú Quang – Giáng Vân)

“Mùa Lại Thu Rồi Em Có Hay…”

Thu muộn

 

Thoảng thốt!

Tiếng lá rơi ngoài sân.

Đêm se lạnh

Biết mùa thu đã muộn

 

Không gian chùng xuống.

Bùng nhùng vũng đêm

Mắc kẹt giữa hai bờ

Xanh và úa, trắng và đen

 

Kéo co với thời gian sấp, ngửa

Sáng mặt trời lên

Quả chín vàng trước cửa

Thu vẫn còn xôn xao!

 

Giá

 

Khi tôi tập làm nông dân

Tôi đã gieo hạt giống nhầm vào đất cằn sỏi đá

Cây cũng nẩy mầm nhưng ẻo lả

Đành thất thu sau một mùa màng

 

Khi tôi tập làm người lái đò ngang

Vụng về tay chèo đã cập nhầm bến

Đò không người lui tới

Đành buông chèo gác mái mặc dòng trôi

 

Tôi lang thang phiêu bạt nơi góc bể, chân trời

Đắng chát mồ hôi, nước mắt

Mới thấu hiểu mẹ cha một đời tất bật

Bầm dập với ruộng vườn chắt lót để nuôi con.

 

Nhớ lời mẹ xưa: “Nước chảy, đá mòn”,

                         đem công “mài sắt”

Trở lại người quê kỳ công lật đất

Đất không phụ người cho trái ngọt, hoa thơm

Và tôi hiểu ra cái giá mỗi việc làm!

 

Ký ức

 

Đã có một lần chạm vào tay nhau

                                             như chạm vào luồng điện

Đã có một lần khẽ chạm môi nhau

                                             như chạm vào ngọn nến

Đã có một lần em chờ và một lần anh không đến

Vì một lần lỡ hẹn để một người thương đau!

Nếu chiếc quần bị toạc gối có chỉ để khâu

Phút em hẹn chờ, anh đã tới.

 

Người của chiến trường, em phải đi rất vội.

Bốn năm – sau lần gặp cuối

Anh vào Bộ đội

Trên đường đi B, qua trạm nào cũng hỏi

Tin nhận cuối cùng: Em đã hy sinh

Thế là anh thành kẻ phụ tình!

 

             

  Lễ tri ân liệt sỹ – Ảnh: Đăng Ban

Đất nước hòa bình

Có hàng ngàn nghĩa trang liệt sỹ

Hàng chục vạn người có tên trên mộ chí

Chưa gặp dòng nào ghi tên em.

Em nằm ở đâu giữa đất trời bình yên?

Sao không cho anh được gặp.

 

Cầm nén hương trên tay mà chưa thể thắp

Quá nửa đời người rồi em ơi!

Bóng đã nghiêng ở mé cuối trời

Vẫn đau đáu với người trong ký ức!

Một ngọn gió chuyển mùa cũng làm anh giật thót

Nén hương cầm chưa đốt tạ lòng ai.

 

Thoảng thốt!Tiếng lá rơi ngoài sân.Đêm se lạnhBiết mùa thu đã muộnKhông gian chùng xuống.Bùng nhùng vũng đêmMắc kẹt giữa hai bờXanh và úa, trắng và đenKéo co với thời gian sấp, ngửaSáng mặt trời lênQuả chín vàng trước cửaThu vẫn còn xôn xao!Khi tôi tập làm nông dânTôi đã gieo hạt giống nhầm vào đất cằn sỏi đáCây cũng nẩy mầm nhưng ẻo lảĐành thất thu sau một mùa màngKhi tôi tập làm người lái đò ngangVụng về tay chèo đã cập nhầm bếnĐò không người lui tớiĐành buông chèo gác mái mặc dòng trôiTôi lang thang phiêu bạt nơi góc bể, chân trờiĐắng chát mồ hôi, nước mắtMới thấu hiểu mẹ cha một đời tất bậtBầm dập với ruộng vườn chắt lót để nuôi con.Nhớ lời mẹ xưa: “Nước chảy, đá mòn”,đem công “mài sắt”Trở lại người quê kỳ công lật đấtĐất không phụ người cho trái ngọt, hoa thơmVà tôi hiểu ra cái giá mỗi việc làm!Đã có một lần chạm vào tay nhaunhư chạm vào luồng điệnĐã có một lần khẽ chạm môi nhaunhư chạm vào ngọn nếnĐã có một lần em chờ và một lần anh không đếnVì một lần lỡ hẹn để một người thương đau!Nếu chiếc quần bị toạc gối có chỉ để khâuPhút em hẹn chờ, anh đã tới.Người của chiến trường, em phải đi rất vội.Bốn năm – sau lần gặp cuốiAnh vào Bộ độiTrên đường đi B, qua trạm nào cũng hỏiTin nhận cuối cùng: Em đã hy sinhThế là anh thành kẻ phụ tình!Đất nước hòa bìnhCó hàng ngàn nghĩa trang liệt sỹHàng chục vạn người có tên trên mộ chíChưa gặp dòng nào ghi tên chúng tôi nằm ở đâu giữa đất trời bình yên?Sao không cho anh được gặp.Cầm nén hương trên tay mà chưa thể thắpQuá nửa đời người rồi em ơi!Bóng đã nghiêng ở mé cuối trờiVẫn đau đáu với người trong ký ức!Một ngọn gió chuyển mùa cũng làm anh giật thótNén hương cầm chưa đốt tạ lòng ai.

Bài Thơ “mùa Lá Rụng” Của Nhà Thơ Olga Berggoltz

Nhớ Mùa Thu Cách Mạng Tháng Tám

Cách Mạng Tháng Tám Và Những Vần Thơ Đầy Kiêu Hãnh, Tự Hào

#40 Bài Thơ Tình Mùa Thu Hà Nội, Buồn, Lãng Mạn Và Cô Đơn Nhất

Cảm Nghĩ Về Mùa Thu Của Em

Phân Tích Bài Thơ Khóc Dương Khuê Của Tác Giả Nguyễn Khuyến

Phân Tích Bài Thơ Khóc Dương Khuê Của Nhà Thơ Nguyễn Khuyến

Soạn Bài Khóc Dương Khuê Của Nhà Thơ Nguyễn Khuyến

Cảm Nhận Về Bài Thơ Khóc Dương Khuê Của Nhà Thơ Nguyễn Khuyến

Top 50+ Lời Chúc Kỷ Niệm Ngày Cưới Ý Nghĩa Cho Mọi Đối Tượng

Quà Kỷ Niệm Cưới Độc Đáo, Ý Nghĩa Dành Tặng Mọi Đối Tượng, Bạn Biết Chưa

Khóc Dương Khuê mang những tình cảm chân thực và đẹp đẽ của tác giả Nguyễn Khuyến đối với người bạn tâm giao Dương Khuê. Em hãy phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê để thấy được những tình cảm chân thực này.

I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Nguyễn Khuyến và bài thơ “Khóc Dương Khuê”: Những bài thơ của ông mang những tình cảm chân thực đẹp đẽ của người Việt Nam

2. Thân bài

Giới thiệu về tình bạn của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê: Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ tiến sĩ và làm quan dưới triều Nguyễn

Nỗi đau buồn của Nguyễn Khuyến trước sự ra đi đột ngột của Dương Khuê: Cái chết đột ngột của Dương Khuê là một đau của Nguyễn Khuyến

Nhắc lại những kỉ niệm của đôi bạn tri kỉ: Đôi bạn tâm đầu ý hợp đã từng trải qua những ngày tháng vui vẻ, thú vị

Nỗi buồn mất bạn hòa chung với nỗi buồn mất nước: Cùng phụng sự dưới một triều đại, đôi bạn thân đã cùng chi sẻ nỗi đau mất nước

3. Kết bài

Ý nghĩa bài thơ “Khóc Dương Khuê”: Bài thơ Khóc Dương Khuê mang một nỗi niềm tiếc nuối sâu sắc về một tình bạn tri kỉ

II. Bài tham khảo

Trong nền thơ văn Việt Nam đã in dấu hơn một nghìn năm lịch sử của dân tộc, nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng đóng góp một phần vẻ vang trong đó. Những bài thơ của ông mang những tình cảm chân thực đẹp đẽ của người Việt Nam, được diễn đạt bằng ngôn ngữ Việt Nam gần gũi và giản dị. Trong số các bài thơ ấy tiêu biểu là bài “Khóc Dương Khuê”.

Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ tiến sĩ và làm quan dưới triều Nguyễn, tuy nhiên sau năm 1884, đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Khuyến cáo quan về làng nhưng Dương Khuê thì không có cái chí hướng đó, ông tiếp tục làm quan cho triều đình bấy giờ là tay sai cho thực dân, cho tới lúc ông qua đời ở tuổi 64. Cái chết đột ngột của Dương Khuê là một đau của Nguyễn Khuyến. Chẳng màng đến những chuyện khác, lúc đó Nguyễn Khuyến chỉ nghĩ rằng mình đã mất đi một người bạn thân, một tình cảm quý già không có gì có thể thay thế được. Tự ông hiểu được tình bạn ấy đến chính ông cũng không đo lường hết được chiều sâu, và rồi ông kêu lên những tiếng thảng thốt:

“Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.”

Chẳng còn sự trau chuốt văn chương chữ nghĩa, câu thơ chỉ còn là nỗi đau, một nỗi đau chân thành và trọn vẹn. Tiếng “thôi” nghe dân giã mà tự nhiên làm sao, bộc phát từ chính sự đau đớn trong cõi lòng tác giả, trong hoàn cảnh xã hội mà người ta luôn đề cao sự “cao nhã” trong văn chương thì ta thấy Nguyễn Khuyến đã coi trọng sự chân thực đời thường đến mức nào. Tuy là nói đến cái chết nhưng ông lại không dám nói hẳn từ “chết”, thay vào đó là “thôi đã…thôi rồi”, vậy là coi như hết, hết thật rồi, ông đã mất đi người bạn thân mãi mãi. Kẻ quyền quý có đánh rơi viên ngọc quý độc nhất vô nhị cũng chỉ kêu đến vậy mà thôi, nếu như không đau nỗi đau thật làm sao có thể khóc tiếng khóc thật đến thế. Chỉ có điều nỗi đau ấy của Nguyễn Khuyến không thể thét lên, ông khóc với chính mình, tự mình khóc mình nghe, tiếng khóc đi vào lòng chứ chẳng thấu đến ai. Lúc này ông muốn ngồi một mình, ngồ với người bạn đã mất để cùng nhớ lại những kỉ niệm đã có từ những ngày đã rất xa xôi:

“Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước…

Trong khi gặp gỡ biết đâu duyên trời.”

Tình bạn ấy được gắn bó từ khi hai người cùng đi thi Hương và đỗ cùng nhau, hai người vốn khác quê, xa lạ, chẳng quen biết gì nhưng cứ như duyên trời định sẵn, họ cứ thế gắn bó cùng nhau. Đọc câu từ của Nguyễn Khuyến ta cảm thấy thật bình dị mà gần gũi, thân mật “sớm hôm”, “tôi bác”, “cùng nhau”, chan chứa tình cảm gắn bó, sự “kính yêu từ trước đến sau”.

“Cũng có lúc chơi nơi dặm khách…

Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.”

Đôi bạn tâm đầu ý hợp đã từng trải qua những ngày tháng vui vẻ, thú vị, có tâm hồn biết thưởng thức và chia sẻ những niềm vui của kẻ cao nhân mặc khách. Tâm hồn nhà thơ như đang rung động trước những kỉ niệm, đang sống lại vói những cảm giác “từng gác cheo leo”, lắng nghe tiếng đàn tiếng hát “ả đào”. Là những người bạn đến với nhau như duyên số, thân vì lòng mến mộ nhau, nên tình bạn của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê như là chỗ tri âm tri kỉ, “Cũng có lúc rượu ngon cùng nhấp…Biết bao đông bích, điển phần trước sau.” Chỉ nhấp chén rượu để thưởng thức vị đậm và mùi thơm, vừa ngẫm nghĩ để cho bầu thơ thêm lai láng. Cùng phụng sự dưới một triều đại, đôi bạn thân đã cùng chi sẻ nỗi đau mất nước, ông cũng cảm thấy mình bất lực, cam chịu nặng nề. Không chỉ thương cho người bạn đã ra đi mà đây còn là sự thương mình, thương mình đã mất đi một người tri kỉ. Nguyễn Khuyến đã mang trong mình cả nỗi đau mất tri kỉ, cả nỗi đau thời thế:

“Ai chẳng biết chán đời là phải

Vội vàng chi đã mải lên tiên.”

Sự ra đi mãi mãi của người bạn tri kỉ là sự mất mát quá lớn đố với ông, sự thiếu vắng lẻ loi trong cuộc đời.

Bài thơ Khóc Dương Khuê mang một nỗi niềm tiếc nuối sâu sắc về một tình bạn tri kỉ, góp phần khẳng định về tình cảm giữa những con người với nhau. Bài thơ đã để lại cái nhìn cao đẹp về tình bạn cũng như nhân cách cao đẹp của Nguyễn Khuyến.

Phân Tích Bài Thơ Khóc Dương Khuê Của Nguyễn Khuyến

Lời Bài Hát Nhớ Em Không Ngủ Được

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Đêm Nay Bác Không Ngủ Của Minh Huệ

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Đêm Nay Bác Không Ngủ Của Minh Huệ.

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Thơ Không Ngủ

🌟 Home
🌟 Top