Top 12 # Bài Thơ Mẹ Ốm Của Tác Giả Nguyễn Đình Kiên / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Bài Thơ Tết Của Mẹ Tôi Của Tác Giả Nguyễn Bính / 2023

Tác giả: Nguyễn Bính

Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều, Mẹ tôi lo liệu đủ trăm điều. Sân gạch tường hoa người quét lại, Vẽ cung trừ quỷ, trồng cây nêu.

Nuôi hai con lợn tự ngày xưa, Mẹ tôi đã tính “tết thì vừa.” Trữ gạo nếp thơm, mo gói bó, Dọn nhà, dọn cửa, rửa bàn thờ.

Nay là hăm tám tết rồi đây, (Tháng thiếu cho nên hụt một ngày) Sắm sửa đố lề về việc tết, Mẹ tôi đi chợ buổi hôm nay.

Không như mọi bận người mua quà, Chỉ mua pháo chuột và tranh gà, Cho các em tôi đứa mỗi chiếc, Dán lên khắp cột, đốt inh nhà.

Giết lợn, đồ xôi, lại giết gà, Cỗ bàn xong cả từ hôm qua. Suốt đêm giao thừa mẹ tôi thức, Lẫm nhẫm cầu kinh Đức Chúa Bà.

Mẹ tôi gọi cả các em tôi, D0ến bên mà dặn: “Sáng ngày mai Các con phải dậy cho thật sớm, Đầu năm năm mới phải lanh trai.

Mặc quần mặc áo lên trên nhà, Thắp hương thắp nến lễ ông bà. Chớ có cãi nhau, chớ có quấy, Đánh đổ, đánh vỡ như người ta…”

Sáng ngày mồng một sớm tinh sương, Mẹ tôi cấm chúng tôi ra đường. Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi, Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương.

Thầy tôi lấy một tờ hoa tiên, BuÙt lông dầm mực viết lên trên. Trên những gì gì tôi chẳng biết, Giữa đề năm tháng, dưới đề tên.

Mẹ tôi thắt lại chiếc khăn sồi, Rón rén lên bàn thờ ông tôi. Đôi mắt người trông thành kính quá, Ngước xem hương cháy đến đâu rồi.

Mẹ tôi uống hết một cốc rượu, Mặt người đỏ tía vì hơi men, Người rủ cô tôi đánh tam cúc, Cười ầm tốt đỏ đè tốt đen.

Tôi mặc một chiếc quần mới may, Áo lương, khăn lượt, chân đi giày. Cho tôi đi lễ bên quê ngoại, Người dặn con đừng uống rượu say.

Xong ba ngày tết mẹ tôi lại, Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con. Rồi một đôi khi người dậm gạo, Chuyện trò kể lại tuổi chân son.

Xem tiếp:

Có thể bạn sẽ thích

Nhà Thơ Phạm Ngà, Nguyễn Đình Kiên / 2023

Ông vốn là gốc người Hà Nội, các cụ sinh ra ông lại về Hải Phòng lập nghiệp, từ những năm 1948 của thế kỷ trước, ông tốt nghiệp khoa Văn – Đại học Sư phạm Hà Nội 1965. Giảng dạy văn học nhiều năm là giáo viên giỏi. Sau đó về nhà xuất bản Hải Phòng kiêm phó chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng. Ông đã xuất bản 5 tập thơ “Hoa nắng” 1981. “Lời ru con của người yêu cũ” 1991 “Trầm tư” 1995, “Mảnh vỡ” 2001, “Đêm trở giấc” 2018. Hai trường ca “Đi dọc thời mình” 1986 và “Độc thoại mưa” 2010 và một tập lý luận phê bình có tựa đề “Một miền văn chương” 2008.

Phạm Ngà, ông là con người lịch lãm, chu đáo, cẩn trọng, nhường nhịn, chừng mực, trọng danh dự. Giữ gìn nhân cách của một nhà thơ. Chả thế mà khi ông làm giám đốc – tổng biên tập nhà xuất bản Hải Phòng. Chỉ vì cuốn sách “Làm người là khó” của ông Đoàn Duy Thành (cuốn sách của ông Thành để lưu hành nội bộ). Thế mà ông phải về hưu. Mọi người nể trọng ông. Vì ông bàn giao chức Giám đốc ngay tắp lự, không chần chừ đợi đủ thời gian mới rời gót ra đi. Có người bảo ông khôn, có người bảo ông dại. Có người khuyên nên gặp bề trên trình bày. Bởi cái lỗi ấy không phải ở nơi ông (vì có những đoạn, những chương Nhà xuất bản đã cắt sửa. Nhưng sách vẫn in. Có lẽ là bởi ông viết lời giới thiệu cho cuốn sách do đề nghị của tác giả. Ông ra về thanh thản. Cái dáng bề ngoài mảnh khảnh, chỉn chu, nhỏ nhẹ chỉ là dấu đi ngọn lửa trong ông. Những bài thơ được in vào tập thơ của những năm đầu đổi mới làm bạn đọc không khỏi giật mình. Thường là thơ ngày ấy người ta thi nhau ca ngợi chiến công, ca ngợi người tốt việc tốt. Một đề tài nhậy cảm thường hay né tránh. Vậy mà ông dám viết về hậu chiến tranh, nỗi đau tai ương trong bài “Hai tiếng khóc””

“Chị chờ anh suốt 14 năm ròng

14 mùa xuân héo nụ cười thiếu nữ

Đột nhiên anh trở về.

Người lính chiến trường bom đạn từng trải

Bỗng giật mình trước tiếng trẻ sơ sinh”

(Hai tiếng khóc)

Ngày ấy người ta tung hô phụ nữ 3 đảm đang, thanh niên 3 sẵn sàng. Vậy mà 14 năm người lính trở về, người lính dạn dầy bom đạn bàng hoàng trước tiếng khóc sơ sinh trong vòng tay người yêu cũ. Ông trăn trở dày vò tiếc cho tuổi trẻ cả tin, thơ ngây, mơ mộng, hồn nhiên trong sáng. Bài thơ đâu chỉ nói cho riêng ông.

… “Cả tuổi trẻ, ngày xưa thôi cũng chẳng cần

Những hăng hái lỗi thời, mộng mơ phù phiếm

Cuộc mưu sinh đâu chỉ bằng kỷ niệm

Ảo ảnh vật vờ, hành khất chẳng ai xin

Dần vơi đi bao tâm trạng nỗi niềm

Hết kỷ niệm, tôi sẽ thành trống rỗng

Chẳng trăn trở, chẳng buồn đau vui sướng

Cuộc đời chỉ còn chiếc bóng vu vơ”

Từ những năm 1989 bài thơ này mà in được, kể ra cũng may cho ông. Nhà ông có phúc lớn.

Nhớ lại năm 1998 ông là Giám đốc và là Tổng biên tập, cho xuất bản cuốn “Về một hiện tượng phê bình” gồm các bài tranh luận trao đổi đã in trên khắp các báo lớn của các giáo sư với Trần Mạnh Hảo. Suýt nữa ông gặp nạn. Sau cuộc họp và giải trình của ông ở Trung ương.

Cuộc họp kết luận thu hồi cuốn sách. Trong đó cũng có những ý kiến công tâm đúng mực như ông Trần Hoàn, ông Tô Ngọc Thanh, nhà thơ Hữu Thỉnh… đề nghị không làm xáo trộn công việc và tổ chức của nhà xuất bản Hải Phòng. Ngày ấy đã có công văn của ông đồng nghiệp với ông Ngà nhưng ở cương vị cầm đầu tư tưởng là phải kỷ luật thật nghiêm Giám đốc – Tổng biên tập. Ấy vậy mà cuối năm ấy kỷ niệm 15 năm thành lập NXB và đón Huân chương lao động, ông kia về dự bắt tay ông Ngà, phát biểu chúc mừng tự nhiên như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Ông ấy rất thân với nhà thơ ĐĐB và về dự lễ tang ông bạn của ông tận một làng quê hẻo lánh ở Hải Phòng.

Vì vậy chương 2 với tựa đề “Hai nửa sáng tối” trong trường ca “Độc thoại mưa” ông đã viết ở trang 25:

… “Lắm cái bất ngờ, sao cứ đành chấp nhận

Bất ngờ nhận ra người quen là kẻ xấu

Bất ngờ chân tướng kẻ vẫn hằng tôn vinh

Bất ngờ tình yêu không còn như cổ tích

Bất ngờ lối xưa cũng khác lạ khi nào”

(Độc thoại mưa)

Và ông phẫn nộ:

“Niềm hoan lạc chính chuyên cứ như thể phụ tình

Lời rao giảng có khi thành hàng nhái

Ướp lạnh tư duy đóng gói cả ngôn từ

Nhìn người đẹp nghi ngờ bước ra từ mỹ viện

Mỹ viện dung nhan, mỹ viện nhân cách

Gặp người bạn xưa cứ như là dị bản

Đánh bóng hư danh bằng cấp trá hình”

(Trang 28 chương 2)

Ông tỉnh táo nhìn bằng con mắt căm giận, tự thú và nuối tiếc tuổi trẻ cả tin khờ dại, đâu chỉ riêng ông:

“Ta thà thành thân với một cô gái điếm

Hơn phải sống chung kẻ sách nhiễu tôi đòi”

(Chương 3 Cõi thực và hư vô, trang 62)

“Cội nguồn” là chương cuối cùng trường ca của ông. Ông đã ngộ ra và tổng kết một đời khờ dại, cả tin:

… “Ngày nào ta chỉ quen dõi nhìn những hào quang lấp lánh, thì nay ta biết thêm mặt khuất phía cao xa.

Ta cứ ngờ nơi chín tầng mây chỉ có không khí trong lành và ánh sáng; thì nay ta biết thêm sự vấy bẩn khí quyển đe dọa cả nhân gian”.

Phạm Ngà, cái mảnh khảnh bên ngoài để dấu đi cái sục sôi và lửa cháy bên trong. Thơ ông chắt lọc, ngôn ngữ kỹ lưỡng, cẩn trọng như chính phong cách sống của ông. Tôi trân trọng ông.

NHÀ THƠ NGUYỄN ĐÌNH KIÊN

Nói đến Nguyễn Đình Kiên, lại chợt nhớ đến bài thơ “Lời mẹ dặn” của cố thi sỹ Phùng Quán. Xin trích đoạn kết:

“Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu

Tôi chỉ muốn là nhà văn chân thật

Chân thành trọn đời

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

Bút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao

Viết văn lên đá.”

Kiên là người hiền lành, tử tế, yêu ghét sòng phẳng, đen trắng rõ ràng. Cuộc đời của Kiên đã được nhà biên kịch Nguyễn Long Khánh viết kỹ càng trong tập phê bình và chân dung văn học “Sống giữa đời thường” NXB Hải Phòng 2017. Ở Kiên đâu chỉ có thơ tình, trữ tình và có cả thơ chính luận.

Đời Kiên cũng buồn nhiều hơn vui, rời cây súng trở về làm thợ tiện, phụ lái xe, rồi về một cục, số tiền hưu non ấy như lá vàng vèo bay qua ô cửa. Không lương hưu khác nào xe đạp không chân chống. Hai lần tai biến, rồi vợ chồng chia tay. May 2 đứa con ở Mỹ tháng tháng gửi tiền về nuôi bố. Kiên tồn tại đến hôm nay, nhưng thơ không làm được nữa. Nhưng những bài thơ anh sáng tác trước kia thì thuộc lòng và bây giờ vẫn đọc lại vanh vách. Ngoài tập thơ in chung vào năm 1995 (tôi không nhớ), Kiên đã xuất bản được 3 tập thơ: “Vầng trăng của mẹ” in năm 2004; “Quả vỡ” 2007; “Những trang thơ còn sót lại” 2015. Đặc biệt ở Kiên với Kiên coi thơ là cõi thiêng. Ai mà có ý xúc phạm đến thơ là Kiên tỏ thái độ ngay. Bởi vậy trong bài “Nghĩ về thơ” mở đầu Kiên đã viết:

“Khi nhìn đời bằng cảm xúc mỗi trang thơ

Niềm vui lớn và nỗi đau cũng thế

Đời trung thực nặng lòng như sóng bể

Câu thơ ơi! Đừng theo gió ngả nghiêng lòng”

và thấu tỏ tận đáy tâm hồn. Kiên nhìn ra:

“Hạnh phúc bên ngoài, đau khổ phía bên trong

Thơ nằm giữa để chia phần quả ngọt”

Đời đã dậy Kiên nhìn ra loài ăn bám, bất tài mà leo cao và Kiên ví von:

“Cây tầm gửi bò lên cao chót vót”

Còn sự chân thật thì thật đắng cay:

“Đời âm thầm chẳng biết nói năng chi”

Kiên nhận định và khái quát:

“Thơ là nỗi khổ đau và hạnh phúc của con người

Là cái ở vô cùng giữa bao điều quen thuộc”

Thơ là thánh địa, là ngôi đền linh thiêng thật sự. Không thể mang thơ làm đồ trang sức, thơ là máu thịt với Kiên:

… “Lật trang thơ soi khuôn mặt cuộc đời

Ta soi cả tâm hồn mình vào đó

Máu người đổ trên trang thơ viết dở

Ta mang nợ cuộc đời, đời nợ mỗi câu thơ”

Bài thơ này Kiên viết từ năm 1980 của thế kỷ trước.

Với lòng trắc ẩn và giằng xé trong tâm hồn. Kiên còn có một trái tim thơ ngây trong trẻo, trong trẻo đến sững sờ. Làm thơ về người lớn đã khó. Kiên còn hóa thân thành chú bé nhi đồng ngộ nghĩnh, tươi trẻ đến không ngờ. Đó là thơ trẻ con. Có thể nói thần đồng của tuổi 60, tập thơ “Vầng trăng của bé” 2004 với 46 bài (những bài Kiên viết khi chưa bị tai biến. Tập hợp lại mà in thành sách đã bị thất lạc nhiều). Tôi nghĩ thơ viết cho thiếu nhi đã khó, còn thơ viết cho tuổi mẫu giáo nhi đồng càng khó hơn. Cả Hải Phòng này duy nhất có Kiên. Kiên là số một. Không ai vượt qua Kiên cho đến hôm nay. Hãy đọc một vài bài trong tập “Vầng trăng của mẹ” để minh chứng cho điều tôi đã nói:

46 bài thơ đều mang đậm chất nhân văn, tính giáo dục cao, ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, dễ thuộc.

Kiên là như thế đấy! Người bạn thân thiết của tôi. Một tín đồ trung thành với thơ ca.

Bài Thơ Mẹ Ốm Của Trần Đăng Khoa / 2023

Chủ đề người mẹ đã và luôn là dòng chảy cảm hứng bất tận của thơ ca, nghệ thuật. Trong đó, tôi rất thích bài thơ “Mẹ ốm” của nhà thơ Trần Đăng Khoa bởi nhan đề và nội dung thật độc đáo.

Mọi hôm mẹ thích vui chơiHôm nay mẹ chẳng nói cười được đâuLá trầu khô giữa cơi trầuTruyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay

Cánh màn khép lỏng cả ngàyRuộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưaNắng mưa từ những ngày xưaLặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan

Khắp người đau buốt, nóng ranMẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thămNgười cho trứng, người cho camVà anh bác sĩ đã mang thuốc vào

Sáng nay trời đổ mưa ràoNắng trong trái chín ngọt ngào bay hươngCả đời đi gió đi sươngBây giờ mẹ lại lần giường tập đi

Mẹ vui, con có quản gìNgâm thơ, kể chuyện rồi thì múa caRồi con diễn kịch giữa nhàMột mình con sắm cả ba vai chèo

Vì con mẹ khổ đủ điềuQuanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhănCon mong mẹ khoẻ dần dầnNgày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say

Rồi ra đọc sách, cấy càyMẹ là đất nước, tháng ngày của con…                                                           Trần Đăng Khoa

Chủ đề người mẹ đã và luôn là dòng chảy cảm hứng bất tận của thơ ca, nghệ thuật. Trong đó, tôi rất thích bài thơ “Mẹ ốm” của nhà thơ Trần Đăng Khoa bởi nhan đề và nội dung thật độc đáo, không giãi bày cảm xúc với mẹ nói chung như nhiều thi sỹ khác mà viết về mẹ bị ốm. Mặt khác bài thơ được sáng tác bởi một tác giả nhí, khi viết Trần Đăng Khoa mới 10 tuổi – toàn bộ cảm xúc, hình ảnh của bài thơ đều rất hồn nhiên.

Bài thơ là lời kể của một em bé về mẹ rất ngây thơ: “Mọi hôm mẹ thích vui chơi/ Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”. Khác biệt giữa mọi hôm mẹ bình thường và hôm nay mẹ ốm mệt, đứa con đã cảm nhận bằng trực giác. Cách nói “mẹ thích vui chơi” đúng là cái nhìn của trẻ thơ khi thấy trước đó, hễ có thời gian ở nhà là mẹ vui đùa chơi cùng con – còn khi mẹ làm ngoài đồng con đâu thấy được?

Những câu thơ tiếp tưởng như vẫn cảm nhận về mẹ qua những gì con thấy: “Lá trầu khô giữa cơi trầu/ Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay” nhưng thực chất, câu thơ đã nói rõ hơn những việc yêu thích của mẹ thường ngày. Mẹ ăn trầu cũng là thói quen duy trì một phong tục từ lâu đời của người Việt. Mẹ rất thích đọc Truyện Kiều bởi mẹ thuộc nằm lòng. Mẹ kể Kiều, ngâm Kiều cho các con nghe, dùng thơ Kiều hát ru con ngủ…

Tuy nhỏ tuổi, tác giả đã biết nghĩ đến những vất vả của mẹ: “Nắng mưa từ những ngày xưa/ Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”. Hình ảnh ẩn dụ ở đây thật gợi cảm, nhấn mạnh tính cần cù ở mẹ. Mẹ ốm mệt có lẽ vì quá vất vả chăm lo cho gia đình: thường ngày mẹ vẫn “cày cuốc” làm ruộng, chăm vườn từ sớm tới trưa bất kể mưa nắng. Là thiếu nhi nhưng tác giả đã sớm ý thức được những hy sinh thầm lặng đó của mẹ khiến mẹ và tất cả những ai đã đọc bài thơ đều cảm động.

Phần thơ tiếp cho thấy sự quan tâm thăm hỏi của cô bác qua những hình ảnh rất giản dị, mộc mạc: “…Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm/ Người cho trứng, người cho cam/ Và anh bác sĩ đã mang thuốc vào”. Điều này cho thấy thường ngày mẹ sống rất nghĩa tình, giờ mẹ được nhận lại tình cảm ấm áp và sự quan tâm của xóm làng là xứng đáng. Nhờ người thân chăm sóc và xóm làng sẻ chia mẹ lui dần bệnh tật. Sự gượng dậy của mẹ được đứa con tái hiện sinh động và hồn nhiên làm sao: “Cả đời đi gió đi sương/ Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”. Với mong ước mẹ vui và khoẻ lại, chủ thể trữ tình đã cố gắng hết mình, làm trò vui, diễn xuất đủ mọi hình thức: ngâm thơ, kể chuyện, múa ca, diễn chèo: “Mẹ vui, con có quản gì/ Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca/ Rồi con diễn kịch giữa nhà/ Một mình con sắm cả ba vai chèo”. Không chủ đích phản ánh nhưng các hoạt động cố gắng làm mẹ vui tỏ rõ người con có khả năng văn hóa, văn nghệ và bộc lộ rõ nhất tình yêu, lòng biết ơn đối với mẹ rất chân thành: “Vì con mẹ khổ đủ điều/ Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn/ Con mong mẹ khoẻ dần dần/ Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say”.

Khép lại bài thơ là những câu từ dung dị nhưng có tầm khái quát lớn “Mẹ là đất nước, tháng ngày của con…”. Cho dù tác giả còn rất nhỏ nhưng với câu thơ này, tình yêu giành cho mẹ không chỉ hướng tới một cá nhân nữa mà đã mở ra không gian, thời gian cao xa, rộng lớn đã nâng giá trị bài thơ rất nhiều. Tình yêu mẹ cha gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước.

NGUYỄN THỊ THIỆN

Bình Giảng Bài Thơ Mưa Xuân Của Tác Giả Nguyễn Bính / 2023

Cùng với Xuân Diệu, Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ tình nổi tiếng nhất của nền văn học Việt Nam. Mang đậm nét dân dã, mộc mạc, thơ của Nguyễn Bính thường gợi ra những gì thân thuộc, gần gũi mà cũng vô cùng xúc động với muôn vàn cung bậc cảm xúc. Từ mạch nguồn trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, anh chị hãy bình giảng bài thơ Mưa xuân. Bài làm

Nguyễn Bính là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của Việt Nam, Ông được coi là nhà thơ của làng quê Việt Nam bởi những sáng tác của ông mang sắc thái dân giã, mộc mạc. Tôi thường nhớ tới Nguyễn Bính mỗi độ xuân về, nhất là lúc mưa xuân. Những cơn mưa phùn như rắc bụi trên cỏ cây hoa lá, những cánh hoa bưởi rụng rơi bên thềm nhà… tất cả đều làm tôi nhớ đến Ông, nhớ đến những sáng tác vô cùng thân quen và mộc mạc, gần gũi với khung cảnh quê hương yên bình. Trong số các sáng tác của Nguyễn Bính, tôi thích nhất là bài thơ “Mưa xuân” nằm trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang” năm 1940.

“Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng

Mẹ già chưa bán chợ làng xa”

Mở đầu bài thơ là hình ảnh của một cô gái sống bằng nghề dệt lụa cùng với mẹ già, tấm lòng trong sáng thuần khiết được ví như cây lụa trắng đã cho ta thấy đây là một cô gái có lòng lương thiện, luôn nghe lời mẹ. Nhà thơ đã sử dụng lối viết tự sự chân thật và gần gũi để giới thiệu về cuộc sống hàng ngày của cô gái làm cho người đọc hiểu hơn về nhân vật trong chuyện.

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ

Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”

Hình ảnh mưa xuân hiện lên thật đẹp chẳng trách Nguyễn Bính đã lấy hình ảnh này để đặt tên cho bài thơ. Các hình ảnh như: mưa xuân, hoa xoan, hội chèo đều là những hình ảnh quen thuộc của mùa xuân và có lẽ đây chính là cơ hội để cô gái có thể gặp chàng trai trong lòng của mình. Tôi nhớ trong bài thơ Tương Tư, tác giả cũng đã sử dụng hình ảnh thôn Đoài trong câu thơ: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông – một người chín nhớ mười thương một người”. Hình ảnh thôn quê hiện lên thật gần gũi tượng trưng cho tình cảm lứa đôi thật đẹp, đây chính là điểm đặc sắc trong thơ của Nguyễn Bính mà chúng ta không thể tìm thấy ở các nhà thơ khác.

Những câu thơ tiếp theo từ “em ngừng thoi lại giữa tay xinh… cho đến thế nào anh ấy chả sang xem” đã diễn tả tâm trạng bồi hồi có chút e thẹn của cô gái khi nghĩ đến chàng. Nguyễn Bính đã sử dụng lối viết tự sự kết hợp với miêu tả đem đến cho người đọc cảm giác rất chân thật, rất gần gũi, dù không có mặt ở đó nhưng người đọc vẫn có thể hình dung ra mọi hành động của cô gái.

“Em xin phép mẹ vội vàng đi

Mẹ bảo em về kể mẹ nghe

Mưa bụi nên em không ướt áo

Thôn Đoài cách có một thôi đê”

Nguyễn Bính đã thực sự hóa thân vào nhân vật, kể lại từng chi tiết cũng như diễn biến tâm trạng của cô gái giúp cho người đọc cảm thấy rất chân thực. Từ “vội vàng” đã cho thấy tâm trạng háo hức của cô gái chỉ muốn mau chóng đến hội hàng để có thể gặp được chàng, trái tim và lý trí của cô đều hướng đến chàng.

“Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm

Em mải tìm anh chả thiết xem

Chắc hẳn đêm nay dường cửi lạnh

Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”

Những câu thơ vô cùng mộc mạc và giản dị, những câu nói rất đỗi đời thường, rất đỗi gần gũi với lối sống thôn quê bình dị đã được Nguyễn Bính sử dụng trong đoạn thơ trên. Cô gái lặn lội sang thôn Đoài nhưng không hề có ý xem hội mà tâm trí của cô chỉ hướng đến người thương trong lòng, cô mải miết đi tìm anh trong vô thức. Biện pháp nhân hóa được sử dụng khéo léo trong hai câu cuối chứng tỏ mọi khi cô luôn gắn bó với khung cửi và thoi ngà nhưng hôm nay cô đã bỏ mặc tất cả để đi tìm chàng, đi tìm hạnh phúc của đời mình.

Sự chờ đợi trong vô vọng của cô gái đã dập tắt niềm hi vọng của cô, tâm trạng chuyển từ hồi hộp nhớ mong đến trách móc:

“Chờ mãi anh sang anh chẳng sang

Thế mà hôm nọ hát bên làng

Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn

Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng”

Những lời trách móc của cô gái rất chân thực, mang nỗi niềm của người con gái khi yêu mong muốn được gặp chàng để thỏa nỗi nhớ mong nhưng chàng lại không đến. Những lời ấy làm tôi nhớ đến những lời trách móc của chàng trai trong bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính: “Hai thôn chung lại một làng – cớ sao bên ấy chẳng sang bên này”. Bên cạnh những lời trách móc giận hờn ấy chính là sự hi vọng, hi vọng có thể được gặp người mình thương dù chỉ là một lần.

“Mình em lầm lũi trên đường về

Có ngắn gì đâu một dải đê!

Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt

Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya”

Chờ hoài mà chàng không đến, cô gái “lầm lũi” đi về trong màn đêm đầy sương gió mang theo bao nhiêu tâm sự với tủi hờn. Tôi rất khâm phục Nguyễn Bính trong việc miêu tả diễn biến tâm lí của cô gái, có lẽ đây chính là yếu tố tạo nên sự thành công và tên tuổi của nhà thơ. Tâm trạng của cô gái trước khi đi xem hội là rất vui, rất háo hức vì tin rằng sẽ gặp được chàng, đường dù xa nhưng cô vẫn thấy rất gần điều này thể hiện rất rõ trong câu: “Thôn Đoài cách có một thôi đê”. Bởi vì cô háo hức muốn đi gặp chàng nên dù đường xa hay mưa gió cũng chẳng màng, đường dù xa nhưng cô vẫn thấy rất gần. Nhưng đến khi không gặp được chàng trai, suy nghĩ của cô gái đã thay đổi hẳn: “Có ngắn gì đâu một dải đê”. Một mình cô trở về trong sự nhớ nhung, tủi hờn, con đường về nhà trở nên dài hơn bao giờ hết.

“Em giận hờn anh cho đến sáng

Hôm sau mẹ hỏi hát trò gì

“- Thưa U họ hát …” rồi em thấy

Nước mắt tràn ra em ngoảnh đi”

Nỗi lòng của người con gái khi yêu là thế, cả đêm cô gái đã trằn trọc không ngủ được, giận hờn anh cho đến khi trời sáng. Tại sao anh lại lỡ hẹn thề để cho cô phải mong ngóng, hi vọng và rồi thất vọng, để rồi khi U hỏi đến thì cô chỉ biết ngoảnh mặt khóc.

“Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay

Hoa xoan đã nát dưới chân giày

Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ

Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày

Bao giờ em mới gặp anh đây?

Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ

Để mẹ em rằng: “Hát tối nay?”

Mùa xuân đang dần qua đi, những cơn mưa xuân đã ngại bay, những cánh hoa xoan đã bị nát dưới giày, hội làng cũng sắp hết, không biết đến bao giờ cô mới gặp được chàng trai, không biết đến khi nào mùa xuân kia lại tươi thắm trở lại.

Bài thơ “Mưa xuân” giống như một câu chuyện đã được Nguyễn Bính kể lại bằng chất thơ mộc mạc và giản dị của mình. Câu chuyện về người con gái thôn quê ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, tiếc thương cho cô gái vì mùa xuân đã nhỡ nhàng nhưng cũng cảm phục vì tình yêu mãnh liệt của cô. Bằng cách sử dụng các hình ảnh đối lập, vận dụng linh hoạt các biện pháp tu từ kết hợp với lối văn tự sự đi vào lòng người, bài thơ “Mưa xuân” của Nguyễn Bính đã để mang đến thật nhiều cảm xúc cho người đọc về tình yêu đôi lứa.