Gs. Lê Đình Thông – Mùa Thu Trong Thơ Đường

--- Bài mới hơn ---

  • Tinh Thu Trong Duong Thi
  • Đầu Năm Đọc Thơ Đường Về Mùa Xuân
  • Tinh Xuan Trong Duong Thi
  • Chùm Thơ Tình Yêu Hay 4 Câu Chế Độc Đáo Bá Đạo Nhất Mọi Thời Đại
  • 101+ Bài Thơ Nịnh Vợ Hay, Hài Hước Giúp Hâm Nóng Tình Cảm
  • Cách đây khoảng 1300 năm, các nhà thơ Trung Quốc cũng trải qua mấy chiều tàn nắng nhạt, trong tiết thu đìu hiu, làm phai tàn lá ngô đồng. Cảnh vật tương tự như mùa thu viễn xứ vào lúc này. Thời gian tuy có chia lìa, đông tây cách biệt thăm thẳm. Nhưng mùa thu vẫn muôn thuở với bấy nhiêu tâm sự mà các thi nhân gieo vần, nói hộ. 

    *

    Bộ Toàn Đường Thi tập hợp trên hai ngàn thi nhân, với gần năm chục ngàn bài thơ, là một công trình đồ sộ. Trong số báo này, mùa thu Trung Quốc được gom lại trong vài trang giấy qua ba thi hào thời Thịnh Đường (713-766): Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Như vậy là bỏ qua được ba thời: Sơ Đường (618-713), Trung Đường (766-835) và Vãn Đường (836-905). Thời Thịnh Đường tuy ngắn hơn ba thời Sơ, Trung, Mạt, nhưng lại dài hơn bất cứ thời kỳ nào trong văn học Trung Quốc, có chiều dài “vạn trượng”: vượt thời gian; vượt tới hai lần không gian. Vì ngoài không gian địa lý, thi ca Thịnh Đường lắng sâu tận cõi lòng.

    Tiếp tục công việc gạn lọc, chúng tôi giữ lại ba nhà thơ. Trong thi ca của mỗi thi nhân, xin bỏ qua hai khuynh hướng “biên tái” và “xã hội.” Chỉ còn lại khuynh hướng “điền viên.” Và trong “điền viên” xin giữ vầng trăng thu.

     

    I – Mùa thu trong thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị 

    Hàn Dũ có câu thơ :

    Lý, Đỗ văn chương tại,Quang diễm vạn trượng trường.

    (Văn chương Lý Bạch, Đỗ Phủ còn, Ánh sáng dài vạn trượng.)

    Thơ Lý Bạch tự nhiên, phóng khoáng. Thơ Đỗ Phủ điêu luyện, gần gũi với nhân sinh. Bạch Cư Dị tiếp nối khuynh hướng hiện thực, chủ trương:

    Văn chương hợp vi thời nhi trước,Thi ca hợp vi sự nhi tác.(Văn chương vì thời thế, Làm thơ vì hiện thực.)

    Các khuynh hướng vừa kể được thể hiện qua thơ thu của ba thi hào thời Thịnh Đường: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.

     

    1) Lý Bạch (701-762):

    Tiểu sử: Ông sinh đời Đường Trung Tông (hơn Đỗ Phủ một giáp), mất đời Đường Đại Tông. Năm 25 tuổi, chu du khắp chốn. 42 tuổi được tiến cử vào kinh đô (Trường An). 55 tuổi: giúp Lý Lân chống An Lộc Sơn. Nhưng Túc Tông sợ em là Lý Lân thắng sẽ cướp ngôi, sai đại quân tiêu diệt Lý Lân. Lý Lân bị giết. Lý Bạch bị đầy biệt xứ. Một năm trước khi chết, ông theo Lý Quang dẹp loạn An Lộc Sơn. Giữa đường bị bệnh, mất năm 62 tuổi. Theo Ngụy Hạo, ông chết trong đầm nước. Theo Vương Đĩnh Bảo, Lý Bạch bận áo gấm, nhẩy xuống sông Thái Thạch, ôm trăng mà chết.

    Lương phong độ thu hải,

    Xuy ngã hương tứ phi.

    Liên sơn khứ vô tế,

    Lưu thủy hà thời qui.

    Mục cực phù vân sắc,

    Tâm đoạn minh nguyệt huy.

    Phương thảo yết nhu diệm,

    Bạch lộ thôi hàn y.

    Mộng trường Ngân hán lạc,

    Giác bãi thiên tinh hi.

    Hàm bi tưởng cựu quốc,

    Khấp hạ thùy năng huy? 

     

    Thơ dịch của Tản Đà:

    Lạnh lùng gió vượt bể thu,

    Hồn quê theo gió như vù vù bay.

    Chạy dài dãy núi liền mây,

    Nước trôi trôi mãi có ngày về chăng?

    Đám mây vút mắt xa chừng,

    Đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi.

    Cỏ thơm đẹp mướt thôi rồi,

    Áo may mặc rét giục người móc sa!

    Giấy mơ rơi giải Ngân hà,

    Sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.

    Đoái thương nước cũ ngậm ngùi,

    Khóc thương giọt lệ lau chùi đố ai?

    *

    Bài thơ thứ hai của Lý Bạch tên là Thu phố ca, chỉ có bốn câu. Tôi mạo muội dịch thoát, nhưng vẫn giữ nguyên thể tứ tuyệt. Tuyệt là dứt. Lý Bạch chọn hình thức thi ca này, phải chăng vì cuối bài, nhà thơ vẽ ra mùa thu tuyệt lộ: Hà xứ đắc thu sương? (Còn chỗ nào để lọt sương thu): 

    Bạch phát tam thiên trượng,

    Duyên sầu tự cá trường.

    Bất tri minh kính lý,

    Hà xứ đắc thu sương?

    *

    Tóc trắng xõa ê chề,

    Sầu đời dài lê thê.

    Gương trong mà mù mịt,

    Sương thu che lối về? 

    Trong hai bài thơ thu của Lý Bạch, hai câu kết đều được đặt ở thể nghi vấn. Nghi vấn, với rất nhiều nghi ngại. Chúng ta mến cả hai, có lẽ vì mái tóc đã phủ đầy sương thu. Trong câu mở đầu bài Tương tiến tửu, Lý Bạch xót xa cho mùa thu nhân sinh:

    Biết chăng ai! Sông Hoàng Hà ngọn nước tại lưng trời, tuôn đến bể khôn vời lại được.Biết chăng nữa! Đài gương mái tóc bạc, sớm như tơ mà tối đã như gương. (Vô danh dịch)

    Trong bài Thu tịch lữ hoài, Lý Bạch nhớ nhà (lữ hoài). Như nỗi nhớ nhà của chúng ta. Trong câu kết, tác giả “ôm mối sầu khi chạnh nhớ đến cố quốc” (Hàm bi tưởng cựu quốc).

    Đó là cách nhìn mùa thu của trích tiên (tiên đầy xuống trần). Thơ thu của Lý Bạch là thơ huyền ngoại âm, vị ngoại vị (âm thanh ngoài dây tơ, mùi vị ngoài mùi vị). Thu cảnh chỉ là cái cớ để nói về thu tâm. Khuynh hướng này có gì khác biệt với Đỗ Phủ?

     

    2) Đỗ Phủ (712-770):

    Tiểu sử: Quê quán tỉnh Hà Nam, Đỗ Phủ xuất thân từ một gia đình quan lại nên nhiều dịp đi đây đó. Ông lận đận trên đường khoa bảng. Tới lúc được một chức quan nhỏ thì có loạn An Lộc Sơn. Ông có lần can gián vua nên bị thất sủng. Đỗ Phủ từ quan, dắt díu vợ con chạy loạn. Những năm cuối đời, ông trôi giạt quanh hồ Động Đình, nghèo đói và bệnh tật. Lý Bạch chết chìm dưới sông. Còn Đỗ Phủ qua đời trên chiếc thuyền nan, bồng bềnh trên sóng nước. Bên Pháp, vào năm 1190, vua Philippe Auguste đề tặng kinh thành Paris châm ngôn: Fluctuat nec mergitur (Sóng gió làm con tầu chòng chành nhưng không chìm). Sóng gió của thi nhân là “… tiếng sóng ở trong lòng.” Nên Lý Bạch, Đỗ Phủ chia nhau hai động từ của kinh thành Ánh sáng: L’un a été battu par les flots (fluctuat). L’autre a sombré dans l’eau (mergitur). Chỉ vì thi nhân “không” không (nec) chìm (phủ định tới hai lần) nên hình hài mới chung thân ngụp lặn. Nhờ vậy, văn học mới có thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ: Lý, Đỗ văn chương tại (Hàn Dũ).

    Thơ thu của Đỗ Phủ: Trong văn học nước nhà, Nguyễn Khuyến là tác giả ba bài Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh. (Trình tự rất hợp lý: thi nhân câu cá trước tiên, tiếp đó là tửu nhập, sau cùng mới gieo vần. Như vậy, làm thơ thường là chặng cuối đường tổng hợp, sau khi thi nhân đã thực hiện hai phân tích: 1) Đối cảnh (Thu điếu); 2) Đối tâm (Thu ẩm). Ở đây, Yên Đổ (Thu) điếu trước để có cá ngon màẩm, mà vịnh. Cộng lại vẫn là ba, giống như là Tam Nguyên).

    Đỗ Phủ làm tám bài Thu hứng (Thu hứng bát thủ). Từ kỳ nhất tới kỳ bát, theo thể thất ngôn bát cú. Nếu chép ra đây cả tám bài, vị chi là 8×8 = 64, e quá dài. Vì vậy, chỉ chọn hai kỳ (bát thủ tuyển nhị): tứ và thất.

    Kỳ tứ giống tình cảnh quê nhà: dinh thự có chủ mới, áo mũ người cai trị cũng khác trước. Vì vậy, tôi mạo muội “tái sinh” bài thơ. “Tái sinh,” vì bản tiếng Việt bỏ bớt địa danh Trung Quốc (Trường An). “Cuộc cờ” (dịch kỳ) trong nguyên bản đổi lại thành Bàn Cờ. Hai phần luận và kết cũng thay đổi cho thích hợp:

    Văn đạo Trường An tự dịch kỳ,

    Bách niên thế sự bất thăng bi.

    Công hầu đệ trạch giai tân chủ,

    Văn vũ y quan dị tích thì.

    Trực bắc quan san kim cổ chấn,

    Chinh tây xa mã vũ thư trì.

    Ngư long tịch mịch thu giang lãnh,

    Cố quốc bình cư hữu sở ti (tư).

    *

    Quê ta có phố Bàn Cờ,

    Từ lâu đổi chủ treo cờ Vàng Sao.

    Dinh cơ biệt thự ra vào,

    Toàn là cán bộ lao xao nửa mùa.

    Áo quần khác hẳn thời xưa,

    Tuy thôi chinh chiến mà chưa tòng thời.

    Lòng dân ly tán không ngơi,

    Mùa thu lại đến chơi vơi là sầu.

    Bờ sông vắng lặng đêm thâu,

    Chạnh lòng tiếc nuối hàng cau quê nhà.

     

    Trong Thu hứng bát thủ, kỳ thất là bức tranh tương phản: đối diện với trời thu bao la bát ngát là một ngư ông nhỏ bé, cô đơn:

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.(Nguyễn Khuyến)

    Thu + Tâm = Sầu.

    Côn minh trì thủy Hán thời công,

    Vũ đế tinh kỳ tại nhãn trung.

    Chức nữ cơ ti hư dạ nguyệt,

    Thạch kình lân giáp động thu phong.

    Ba phiêu cô mễ trầm vân hắc,

    Lộ lãnh liên phòng trụy phấn hồng.

    Quan tái cực thiên duy điều đạo,

    Giang hồ mãn địa nhất ngư ông.

    Kỳ thất không khác gì tâm sự của chúng ta. Vì vậy, tôi mạn phép “chuyển hóa” bài Đường thi qua thể lục bát:

    Ao tù làm nhớ biển Đông,

    Mắt sầu chạnh nhớ võ công một thời.

    Trăng khuya khung cửi chơi vơi,

    Trời thu lộng gió biển khơi lạnh lùng.

    Bờ lau mà tưởng ngàn trùng,

    Sương thu chùi sạch phấn hồng cánh sen.

    Lối xưa mờ mịt cài then,

    Sông hồ bát ngát thuyền men giữa dòng.

    Lúc sinh thời, có lần Đỗ Phủ nhủ lòng: Thơ chưa làm kinh động lòng người thì chết chưa yên (Ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu). Khi đọc bát thủ, Kim Thánh Thán có lời bình: Thương tâm thấu tới xương. Ngâm nga tám bài Thu hứng, lòng chợt là lau sậy lao xao. Từ lâu, cuộc sống đã hóa thân thành cây sậy Pascal. Nhưng sậy Pascal vẫn trôi dạt về phương Đông, cận kề với lau lách của Bạch Cư Dị:

    Tầm Dương giang đầu dạ tống khách,Phong diệp địch hoa thu sắt sắt. 

    Phan Huy Vịnh dịch là :

    Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.

    Hơi thu, với tiếng đàn tỳ bà buồn não nuột đã thấm vào thơ thu của Bạch Cư Dị.

    3) Bạch Cư Dị (772-846):

    Tiểu sử: Bảy mươi lăm năm nhân sinh của họ Bạch là ba phần tư thế kỷ giặc giã, từ giặc An Lộc Sơn tới giặc Sử Tư Minh. Ông là con vị quan nhỏ, thuở nhỏ túng thiếu. Năm 28 tuổi đậu tiến sĩ. Tính tình bộc trực, ông bị biếm làm tư mã Giang Châu, nơi có bến Tầm Dương. Bến Tầm Dương đã mở ra bến bờ mới trong thi ca Bạch Cư Dị. Ông để lại cho hậu thế gần ba ngàn bài thơ, trong đó có nhiều bài viết về mùa thu.

    Thơ thu của Bạch Cư Dị: Thơ thu của Bạch Cư Dị nhiều hơn Lý Bạch, Đỗ Phủ, tự nhiên, giản dị giống như tên ông (Cư Dị). Hơi thu trong thơ ông bay rất xa, đậu lại trong hồn thơ Tản Đà. Trong hai năm 1937-38, Tản Đà (1889-1939) dịch 75 bài thơ chữ Hán, đăng trên báo Ngày Nay. Nhưng chỉ có 58 bài là Đường thi. Trong số có 38 bài của Bạch Cư Dị, chứng tỏ có mối giao hòa, “đồng thanh tương ứng” giữa Bạch Cư Dị và Tản Đà. Tản Đà dịch nhiều thơ họ Bạch, nhất là những bài viết về mùa thu. Nào là Thu trùng, Tảo thu độc dạ, Thu mộ giao cư hoài, Thu giang tống khách, Thu san, Trung thu nguyệt v.v…

    Đó là chưa kể nhiều bài, tuy đầu đề không dính dáng gì đến mùa thu, nhưng chất liệu vẫn là thu sầu. Bài Văn dạ châm có câu:

    Thùy gia tư phụ thu đảo bạch.

    Tản Đà dịch là:

    Nhà ai cô gái nhớ chồng,Đêm thu đập lụa lạnh lùng gió trăng. 

    Bài Họa Đỗ lục sự đề hồng diệp có mấy chữ: đề hồng diệp (Khi mùa thu tới, lá cây phong sắc đỏ). Bài Trường hận ca có câu Thu vũ ngô đồng diệp lạc thì. Tản Đà dịch là: Thu khi mưa rụng lá ngô đồng. (Dị bản: Thu kia mưa rụng lá ngô đồng). Bài Tì bà hành có câu:Phong diệp địch hoa thu sắt sắt. Phan Huy Vịnh dịch là: Quạnh hơi lau lách đìu hiu v.v.

    Thiết thiết ám song hạ,Yêu yêu thâm thảo lý.Thu thiên tư phụ tâm,Vũ dạ sầu nhân nhĩ. 

    Bản dịch của Tản Đà:

    Tiếng đâu dưới vách kêu ran,Lại trong đám cỏ nghe càng nỉ non.Trời thu gái nhớ chồng son,Mưa dầm đêm vắng ai buồn lắng tai. 

    Thu sầu, vì người cô phụ tưởng nhớ hình ảnh kẻ chinh phu (LưuTrọng Lư). Xin chép thêm bài Thu mộ giao cư thư hoài (Cuối thu, ở miền quê viết tả lòng mình), tác giả tự sự mối sầu thu:

    Giao cư nhân sự thiểu,Trú ngọa đối lâm man.Cùng hạng yếm đa vũ,Bần gia sầu tảo hàn.Cát y thu vị hoán,Thư quyển bịnh nhưng khan.Nhược vấn sinh nhai kế,Tiền khê nhất điếu can. 

    Thơ dịch của Tản Đà:

    Ở quê, thưa việc ít người,Giữa trưa nằm khểnh ngắm coi núi đèo.Ngõ sâu ngán nỗi mưa nhiều,Lạnh lùng chi sớm cảnh nghèo thêm lo.Áo lương còn mặc mùa thu,Ốm đau sách vẫn đôi pho chẳng rời.Lấy chi qua sống ngày trời,Một cần câu để bên ngòi ngồi câu.

    Cả hai bài thơ thu của họ Bạch đều viết theo thể ngũ ngôn. Bài đầu: tứ tuyệt, bài sau: bát cú. Hai bài thơ thu của Lý Bạch (Thu tịch lữ hoài và Thu phố ca) cũng làm theo thể ngũ ngôn. Thu tịch lữ hoài làm theo lối thơ cổ phong (12 câu). Bài Thu phố ca: tứ tuyệt. Tiếng thu của Lưu Trọng Lư tuy là thơ mới, nhưng vẫn là năm chữ. Sự trùng hợp này sẽ được trình bầy trong phần II: Cảm nhận Đường thi. 

    II – Cảm nhận Đường thi

    Trong Hương Xưa, nhạc sĩ Cung Tiến có dòng nhạc nói về Đường thi. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh cho rằng: Thanh thế thơ Đường ở nước ta xưa nay bao giờ cũng lớn. Tôi xin thêm: nhất là thơ viết về mùa thu. Trong tâm hồn người Việt có dáng dấp mùa thu. Nhưng thu tâm được che dấu bằng nụ cười. Vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh mới viết: An Nam ta có một thói lạ là gì cũng cười. Theo ý chúng tôi, chân dung người Việt: bên ngoài hàm tiếu bên trong thu sầu. Nguyễn Văn Vĩnh chỉ nói hiện tượng (phénomène) mà bỏ quên ẩn tượng (noumène). Ta tiếp nhận thơ Đường viết về mùa thu chính vì mối ẩn tượng đó, được thể hiện qua Thu ca, Thu sắc và Thu học.

    1. Thu Ca

    Những bài vịnh thu hay đều viết theo thể ngũ ngôn. Bài thơ mới được coi là hay nhất viết về mùa thu của Lưu Trọng Lư cũng theo lối thơ năm chữ. Il pleut dans mon coeur của Verlaine là một trong những bài thơ giầu nhạc điệu trong thi ca Pháp là thơ sáu chân (hexamètre). Thể thơ ngũ ngôn đầy nhạc tính, có lẽ vì trùng hợp với cung điệu ngũ âm của quốc nhạc: Cung, Thương, Giốc, Trủy, Vũ.

    Cung thương làu bậc ngũ âm,Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.(Nguyễn Du, Kiều)

    Ta thử lập luận theo tam đoạn luận để thiết lập mối tương quan giữa mùa thu và thơ ngũ ngôn:

    – Tiền đề: Mùa thu là mùa đầy nhạc điệu.

    – Trung đề: Các bài thơ ngũ ngôn mùa thu giầu nhạc tính của Lý Bạch, Bạch Cư Dị thời xưa, bài thơ thu năm chữ của Lưu Trọng Lư chứng tỏ thơ ngũ ngôn có nhiều thanh âm.

    – Kết luận: Vì vậy, nhiều bài thơ thu được viết theo thể ngũ ngôn.

    Mặt khác, không thể tách thơ thu ra khỏi nhạc thu. Trong âm nhạc Việt Nam, nhiều bài thơ thu đã được phổ nhạc.

    1. Thu Sắc

    Một năm có hai mùa màu sắc phong phú: mùa xuân và mùa thu. Màu sắc mùa xuân là của đất trời nên tươi thắm: màu vàng của hoa mai, hoa cúc rộn ràng; màu hồng của hoa đào reo vui. Còn màu sắc mùa thu nhuốm màu nhân sinh: màu vàng (lá ngô đồng), màu đỏ (lá cây phong) mùa thu gợi sầu, ghi dấu năm tháng tàn phai hay gợi lại chân trời cũ mờ khuất:

    Màu thời gian không xanh,Màu thời gian tím ngắt.Đoàn Phú Tứ

    Một năm có bốn mùa. Hai kỳ xuân thu biểu hiện nhân sinh. Mùa xuân hướng tới tương lai. Mùa thu hồi tưởng quá khứ. Hiện tại chỉ là sự níu kéo vụng về giữa hiện tại và quá khứ. Vì vậy, ngôn ngữ thi ca mùa thu mới có cố hương, cố nhân, cố quận v.v.

    1. Thu Thủy

    Cảnh đẹp mùa thu là tấm gương soi vóc dáng giai nhân. Chân dung người đàn bà đẹp thuở xưa bao giờ cũng có làn sóng mùa thu (thu ba), nước mùa thu (thu thủy). Sóng nước mùa thu rung động nhẹ nhàng, vương sầu. Người đàn bà thuở xưa giống như chiếc lá mùa thu, không biết trôi giạt chốn nào. Sự bất định và nỗi sầu bao giờ cũng có chung định mệnh:

    Em chỉ là người em gái thôi,Người em sầu mộng của muôn đời.Tình em như tuyết giăng đầu núi,Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.Lưu Trọng Lư

    Yêu người, thi nhân càng thêm mến cảnh, nặng lòng với mùa thu. Trong Vang Bóng Một Thời, Nguyễn Tuân kể chuyện người xưa thắp bạch lạp, đọc Đường thi in thạch bản. Ngọn bạch lạp đó chỉ làm tăng lên nỗi cô đơn và hiu quạnh của Đường thi viết về mùa thu.

    1. Thu Học

    Tôi xin tạo từ mới (néologisme): Thu học, để nối cõi sau (aval) của dòng thơ thu về với nguồn cội, khởi đi từ Đường thi. Ngày xưa có thu, có học, nhưng chưa có thu học, vì niên học gắn liền với nông lịch. Từ khi có tân học, năm nào mùa thu cũng dẫn ta tới trường. Vì vậy, những người nặng nợ với đèn sách đều chung tình với mùa thu. Ai mà quên đuợc mấy dòng văn xuôi của Edmondo De Amicis (1846-1908), Hà Mai Anh dịch sang tiếng Việt, mở đầu cuốn Tâm Hồn Cao Thượng (Cuore: Grand Coeur, 1886): Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng hè đã thoáng qua như giấc mộng. Sáng nay, mẹ tôi đưa tôi vào trường Baretti để ghi tên lên lớp ba.

    Thanh Tịnh (1911, Huế-1988) có đoạn văn xuôi rất hay viết về ngày khai trường, thuở nhỏ học thuộc lòng nên nhớ mãi :

    “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

    Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nẩy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

    Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi trên giấy, vì hồi ấy tôi chưa biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

    Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại nhiều lần, nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.” (Thanh Tịnh, Quê Mẹ 1941).

    Vần thơ tựu trường xem ra ngây thơ, chất phác giống như sách vở học trò:

    Hôm nay ngày khai trường,Ngoài phố vui như hội.Tiếng guốc giầy inh ỏi,Rộn rã trên vỉa đường.

    Trong các thế hệ tân học, suốt từ năm lên sáu tới khoảng tam thập nhi lập, một phần tuổi đời là tuổi học đường. Vì vậy, thu học càng làm ta nặng tình với mùa thu, thơ thu và xa hơn nữa là thơ Đường.

    *

    Năm nay, vào mùa thu, khi lá ngô đồng rơi rụng khắp đường phố Paris, những câu thơ Đường dẫn ta quay về chân trời cũ. Chân trời đó có thể rất xa. Nhưng cũng thể rất gần, ở ngay trong tâm ta. Trái tim đó đang rung động khi nghe lại mấy vần thơ thu đông tây, kim cổ.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Bài Thơ Đường Tình Buồn Lay Động Hàng Triệu Trái Tim
  • 10 Bài Thơ Đường Hay Nhất Mọi Thời Đại Ai Cũng Phải Đọc Một Lần
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu: Stt, Cap, Tus Đủ Thể Loại Buồn Vui
  • Cao Bá Quát Khóc Con
  • Thư Viện Những Câu Thơ Thư Pháp Hay Về Quê Hương
  • Đọc Bài Thơ “mùa Thu Và Em” Của Khánh Vân

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Stt Hay Về Mùa Thu Và Tình Yêu Được Yêu Thích Nhất
  • Phân Tích Bài Thơ “câu Cá Mùa Thu” Của Nguyễn Khuyến
  • Phân Tích Bài Câu Cá Mùa Thu Rất Hay Và Đầy Đủ
  • Một Số Bài Thơ Của Chế Lan Viên
  • Chùm Thơ Mùa Thu Buồn Hay Viết Về Nỗi Cô Đơn Và Sầu Nhớ
  • Mùa chuyển mình của thiên nhiên,

    Mùa thay sắc lá

    Mùa chuyển giao của đất trời và tạo hoá,

    Mùa của những vòng quay trong luân hồi theo quy luật và những cung bậc cảm tác của con người.

    Mùa cho em ban phát tiếng cười, mùa em thu vào những tiếng lòng ,tiếng thở dài thâu suốt chặng thời gian như nắc nẻ…

    Mùa em chuyển giao cho tiếng cười tuổi trẻ và con trẻ.

    Nhận về mình xào xạc chúng tôi …ơi!

    Thu chảy vào rồi thu lại buông trôi

    Em cứ sống với thu đầy mãnh liệt.

    Em cứ sống với dìu dịu thu lân chuyển

    Em tạo nên mùa huyền thoại với niềm mơ…

    Ôi một khoảng loãng vàng chiều đến mộng mơ

    Em và sự chuyển giao đầy rung cảm

    Nhạc bật tiếng cầm bằng Vũ điệu của thời gian.

    Một mình em đang nhấn lên Cộng hưởng sắc thu vàng.

    (Tháng 9/2014)

    Có lẽ trong bốn mùa thì mùa thu là mùa gợi cho ta nhiều cảm xúc nhất. Đó không phải là niềm vui rạo rực tràn đầy sức sống của mùa xuân, cũng không phải náo nức, vồn vã như mùa hè và cũng không ảm đạm như mùa đông. Mà mùa thu mang tâm trạng, cảm xúc rất riêng mà khó có thể gọi thành lời. Đọc bài thơ “Mùa thu và em” của tác giả Khánh Vân ta mới có thể cảm nhận được một điều gì đó rất khác về mùa thu.

    Mở đầu bài thơ là sự giải thích mùa thu đó chính là:

    “Mùa chuyển mình của thiên nhiên,

    Mùa thay sắc lá

    Mùa chuyển giao của đất trời và tạo hoá,

    Mùa của những vòng quay trong luân hồi theo quy luật và những cung bậc cảm tác của con người.”

    Đó là mùa của tự nhiên của cỏ cây thay sắc lá, từ màu xanh chuyển sang màu vàng để chuẩn bị thay lá mới theo quy luật của tự nhiên. Đó là mùa chuyển giao giữa cái nắng chói chang cháy bỏng của mùa hạ sang mùa đông mưa dầm dề, trời ảm đạm mà tác giả gọi là ” chuyển giao giữa đất trời và tạo hóa”. Sự chuyển giao này thực sự rất nhẹ nhàng nhưng rõ rệt. Từ sắc lá, đến khí trời, đến thời tiết như nắng, gió, mưa sắc độ cũng giảm đi. ..Đó là quy luật của tự nhiên, của tạo hóa. Nhưng điều mà tác giả muốn nói ở đây đó chính là ” Mùa của nhưng vòng quay trong luân hồi theo quy luật và những cung bậc cảm tác của con người”. Một câu thơ trải dài như chính cảm xúc của con người trước sự thay đổi của đất trời, của mùa thu. Có lẽ vì thế mà có không ít những tác phẩm nghệ thuật thành công với mùa thu. Ta không thể quên sắc vàng trong tranh của họa sỹ Levitan, hay những ca khúc viết về mùa thu và rất rất nhiều những bài thơ về mùa thu… Có thể nói đó là mùa gợi nhiều cảm hứng sáng tác cho các nghệ sỹ. Nhưng đối với em- nhân vật trữ tình trong bài thơ thì sao:

    “Mùa cho em ban phát tiếng cười, mùa em thu vào những tiếng lòng ,tiếng thở dài thâu suốt chặng thời gian như nắc nẻ…”

    Câu thơ dài như chính cảm xúc, nỗi lòng của em với mùa thu. Đó là mùa mang cho em niềm vui nhưng đó là niềm vui chưa trọn vẹn mà chỉ là sự “ban phát” mà thôi. Và đó cũng là mùa gợi lên trong lòng em những nỗi buồn u uẩn, không thể gọi thành tên như “tiếng thở dài thâu suốt” cả thời gian. Có cái gì đó man mác chưa hẳn là buồn mà không hẳn là vui. Chính vì thế mà tất cả niềm vui em không còn dành cho mình nữa:

    “Mùa em chuyển giao cho tiếng cười tuổi trẻ và con trẻ.

    Nhận về mình xào xạc chúng tôi …ơi!”

    Phải chăng niềm vui của tuổi trẻ đã qua còn lại những kỉ niềm buồn. Bây giờ niềm vui ấy em dành riêng cho con trẻ để “Nhận về mình xào xạc” của mùa thu. Đó là cái xào xạc trong tâm hồn, trong những nuối tiếc, hay trong nỗi buồn mênh mang chẳng thể gọi thành tên. Đó là nỗi buồn của người đàn bà từng trải. Để rồi mùa thu cứ trở về và ra đi như là quy luật tất yếu của thời gian:

    “Thu chảy vào rồi thu lại buông trôi

    Em cứ sống với thu đầy mãnh liệt.

    Em cứ sống với dìu dịu thu luân chuyển

    Em tạo nên mùa huyền thoại với niềm mơ…”

    Dường như lúc này thu không còn là mùa của tự nhiên, của tạo hóa nữa. Mùa thu làm cho ta liên tưởng đến những kỉ niệm, tình yêu lúc đến và đi. Để rồi còn lại em vẫn “mãnh liệt” và tạo nên những “niềm mơ”. Có lúc em cảm nhận thu đến trào dâng mãnh liệt , rồi lại nhu mỳ đón nhận thu dịu dàng. Chính vì thế em và mùa thu là sự giao hòa giữa cái đẹp của tự nhiên với sự rung động của tâm hôn đa cảm chăng?

    “Ôi một khoảng loãng vàng chiều đến mộng mơ

    Em và sự chuyển giao đầy rung cảm

    Nhạc bật tiếng cầm bằng Vũ điệu của thời gian.

    Một mình em đang nhấn lên Cộng hưởng sắc thu vàng.”

    Em yêu mùa thu nhiều đến thế. Bởi cái “khoảng loãng vàng” ấy để lại trong em nhiều rung cảm để rồi “Một mình em nhân lên cộng hưởng sắc thu vàng”.

    Đây không phải là bài thơ duy nhất mà tác giả Khánh Vân viết về mùa thu. Nhưng ở bài thơ này tác giả đã mang đến cho bạn đọc một phong cách hoàn toàn khác. Với thể thơ tự do, có những câu thơ trải dài trên trang giấy bài thơ như chứa đựng dòng cảm xúc mãnh liệt của một người phụ nữ đang rung cảm trước mùa thu. Có lẽ bài thơ sẽ là sự ám ảnh đối với người đọc về mùa thu, về em- người đàn bà có tâm hồn nhạy cảm, có nỗi buồn mênh mang không thể gọi thành tên.

    Nguyễn Thị Minh Kiên @ 15:31 28/09/2014

    Số lượt xem: 361

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Hay Viết Về Cánh Đồng Lúa Quê Tôi
  • Chùm Thơ Hay Viết Về Cánh Đồng Lúa Quê Tôi
  • Giáo Án Âm Nhạc Tiết 31: Ôn Tập Bài Hát Dàn Đồng Ca Mùa Hạ, Nghe Nhạc
  • Giáo Án Âm Nhạc Tiết 30: Học Hát Bài Dàn Đồng Ca Mùa Hạ
  • Bài Thơ Mẹ Ốm Của Trần Đăng Khoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Mẹ Ốm Trần Đăng Khoa – Tình Cảm Mẹ Con Ở Tuổi Hồn Nhiên
  • Bài Thơ Đàn Gà Con
  • Bài Thơ Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) – Bài Thơ Ca Ngợi Niềm Vui Trong Cảnh Sống Thanh Nhàn
  • U Bài Ngăm Trăng Đi Đường (Hồ Chí M…
  • Con Cáo Và Tổ Ong – Bài Thơ Mang Ý Nghĩa Sâu Sắc Của Hồ Chí Minh
  • Chủ đề người mẹ đã và luôn là dòng chảy cảm hứng bất tận của thơ ca, nghệ thuật. Trong đó, tôi rất thích bài thơ “Mẹ ốm” của nhà thơ Trần Đăng Khoa bởi nhan đề và nội dung thật độc đáo.

    Mọi hôm mẹ thích vui chơi

    Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu

    Lá trầu khô giữa cơi trầu

    Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay

    Cánh màn khép lỏng cả ngày

    Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa

    Nắng mưa từ những ngày xưa

    Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan

    Khắp người đau buốt, nóng ran

    Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm

    Người cho trứng, người cho cam

    Và anh bác sĩ đã mang thuốc vào

    Sáng nay trời đổ mưa rào

    Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương

    Cả đời đi gió đi sương

    Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi

    Mẹ vui, con có quản gì

    Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca

    Rồi con diễn kịch giữa nhà

    Một mình con sắm cả ba vai chèo

    Vì con mẹ khổ đủ điều

    Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn

    Con mong mẹ khoẻ dần dần

    Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say

    Rồi ra đọc sách, cấy cày

    Mẹ là đất nước, tháng ngày của con…

                                                              Trần Đăng Khoa

    Chủ đề người mẹ đã và luôn là dòng chảy cảm hứng bất tận của thơ ca, nghệ thuật. Trong đó, tôi rất thích bài thơ “Mẹ ốm” của nhà thơ Trần Đăng Khoa bởi nhan đề và nội dung thật độc đáo, không giãi bày cảm xúc với mẹ nói chung như nhiều thi sỹ khác mà viết về mẹ bị ốm. Mặt khác bài thơ được sáng tác bởi một tác giả nhí, khi viết Trần Đăng Khoa mới 10 tuổi – toàn bộ cảm xúc, hình ảnh của bài thơ đều rất hồn nhiên.

    Bài thơ là lời kể của một em bé về mẹ rất ngây thơ: “Mọi hôm mẹ thích vui chơi/ Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”. Khác biệt giữa mọi hôm mẹ bình thường và hôm nay mẹ ốm mệt, đứa con đã cảm nhận bằng trực giác. Cách nói “mẹ thích vui chơi” đúng là cái nhìn của trẻ thơ khi thấy trước đó, hễ có thời gian ở nhà là mẹ vui đùa chơi cùng con – còn khi mẹ làm ngoài đồng con đâu thấy được?

    Những câu thơ tiếp tưởng như vẫn cảm nhận về mẹ qua những gì con thấy: “Lá trầu khô giữa cơi trầu/ Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay” nhưng thực chất, câu thơ đã nói rõ hơn những việc yêu thích của mẹ thường ngày. Mẹ ăn trầu cũng là thói quen duy trì một phong tục từ lâu đời của người Việt. Mẹ rất thích đọc Truyện Kiều bởi mẹ thuộc nằm lòng. Mẹ kể Kiều, ngâm Kiều cho các con nghe, dùng thơ Kiều hát ru con ngủ…

    Tuy nhỏ tuổi, tác giả đã biết nghĩ đến những vất vả của mẹ: “Nắng mưa từ những ngày xưa/ Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”. Hình ảnh ẩn dụ ở đây thật gợi cảm, nhấn mạnh tính cần cù ở mẹ. Mẹ ốm mệt có lẽ vì quá vất vả chăm lo cho gia đình: thường ngày mẹ vẫn “cày cuốc” làm ruộng, chăm vườn từ sớm tới trưa bất kể mưa nắng. Là thiếu nhi nhưng tác giả đã sớm ý thức được những hy sinh thầm lặng đó của mẹ khiến mẹ và tất cả những ai đã đọc bài thơ đều cảm động.

    Phần thơ tiếp cho thấy sự quan tâm thăm hỏi của cô bác qua những hình ảnh rất giản dị, mộc mạc: “…Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm/ Người cho trứng, người cho cam/ Và anh bác sĩ đã mang thuốc vào”. Điều này cho thấy thường ngày mẹ sống rất nghĩa tình, giờ mẹ được nhận lại tình cảm ấm áp và sự quan tâm của xóm làng là xứng đáng. Nhờ người thân chăm sóc và xóm làng sẻ chia mẹ lui dần bệnh tật. Sự gượng dậy của mẹ được đứa con tái hiện sinh động và hồn nhiên làm sao: “Cả đời đi gió đi sương/ Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”. Với mong ước mẹ vui và khoẻ lại, chủ thể trữ tình đã cố gắng hết mình, làm trò vui, diễn xuất đủ mọi hình thức: ngâm thơ, kể chuyện, múa ca, diễn chèo: “Mẹ vui, con có quản gì/ Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca/ Rồi con diễn kịch giữa nhà/ Một mình con sắm cả ba vai chèo”. Không chủ đích phản ánh nhưng các hoạt động cố gắng làm mẹ vui tỏ rõ người con có khả năng văn hóa, văn nghệ và bộc lộ rõ nhất tình yêu, lòng biết ơn đối với mẹ rất chân thành: “Vì con mẹ khổ đủ điều/ Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn/ Con mong mẹ khoẻ dần dần/ Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say”.

    Khép lại bài thơ là những câu từ dung dị nhưng có tầm khái quát lớn “Mẹ là đất nước, tháng ngày của con…”. Cho dù tác giả còn rất nhỏ nhưng với câu thơ này, tình yêu giành cho mẹ không chỉ hướng tới một cá nhân nữa mà đã mở ra không gian, thời gian cao xa, rộng lớn đã nâng giá trị bài thơ rất nhiều. Tình yêu mẹ cha gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước.

    NGUYỄN THỊ THIỆN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Bài Thơ Hay Về Mùa Đông Lạnh Lẽo Và Cô Đơn
  • Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Từ Con Mắt Của Người Đọc
  • Bài Thơ Mẹ (Trần Quốc Minh) – Có Ngọt Ngào Nào Hơn Tình Thương Của Mẹ?
  • “Khúc Thụy Du” – Không Ai Ngờ Bản Nhạc Tình Bất Hủ Được Phổ Nhạc Trên Lời Của Bài Thơ Bi Thương.
  • Bài Thơ Khóc Dương Khuê Của Cụ Nguyễn Khuyến
  • Bài Thơ “mẹ Ốm” Của Trần Đăng Khoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Mẹ Ốm Trần Đăng Khoa
  • Phân Tích Bài Thơ “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đạt 9 Điểm
  • Lời Bài Thơ Nhớ Rừng (Thế Lữ)
  • Phân Tích Nội Dung Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • Trần Đăng Khoa nổi tiếng là một thần đồng về thơ khi đang còn học lớp ba trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của Khoa trong sáng giản dị mà dạt dào cảm xúc, đầy tình yêu thương con người và thiết tha yêu quê hương đất nước. Biết bao em nhỏ Việt Nam yêu thích những bài thơ của Khoa viết và bài thơ “Mẹ ốm” cũng vậy.

    Mẹ ốm Cánh màn khép lỏng cả ngày Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan. Khắp người đau buốt, nóng ran Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào. Sáng nay trời đổ mưa rào Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương Cả đời đi gió đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi. Mẹ vui con có quản gì Ngâm thơ kể chuyện, rồi thì múa ca Rồi con diễn kịch giữa nhà Một mình con sắm cả ba vai chèo. Vì con, mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say. Rồi ra đọc sách, cấy cày Mẹ là đất nước, tháng ngày của con… Trần Đăng Khoa

    Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả cảnh mẹ ốm bằng hình ảnh so sánh:

    “Mọi hôm mẹ thích vui chơi. Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”

    Thường ngày mẹ hay ăn trầu, đôi má lúc nào cũng đỏ hồng lên. Thế mà hôm nay mọi cảnh vật trong nhà thật buồn bã. Lá trầu cũng như lặng đi và héo khô trong cơi trầu. Những lúc rỗi rãi mẹ thường ngâm nga Truyện Kiều, giờ mẹ bị ốm nên “Truyện Kiều gấp lại trên đầu…”.

    Mẹ vốn là người lam làm tần tảo. Khi mẹ ốm thì “Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa”. Cả cuộc đời mẹ vất vả gian nan nay bị ốm, tác giả đã cảm nhận được và thể hiện qua hình ảnh:

    “Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”.

    Tác giả – một em thiếu niên 10 tuổi đã liên tưởng từ hình ảnh “nắng mưa” mà thấy được sự vất vả, những thăng trầm của cuộc sống mà người mẹ đã phải trải qua. Vì vậy mà tác giả như hiểu được người mẹ đang phải chịu sự “đau buốt, nóng ran” khi bị ốm.

    Rồi tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm của mọi người tới mẹ cũng được nhà thơ thể hiện rất mộc mạc, giản dị mà thắm đượm tình người:

    “Mẹ ơi, cô bác xóm làng đến thăm. Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào”.

    Điều đó chứng tỏ rằng, hàng ngày mẹ sống tốt với mọi người nên khi mẹ ốm mọi người quý mến và thương cảm tới mẹ. Còn nhà thơ – em bé thiếu niên Trần Đăng Khoa bấy giờ đã thấu hiểu nỗi vất vả cực nhọc của mẹ trong cuộc sống lam lũ mà em đã từng chứng kiến và cảm nhận được:

    “Cả đời đi gió, đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”.

    “Cả đời đi gió đi sương” là hình ảnh ẩn dụ diễn tả sự vất vả, gian khổ của người mẹ.

    Trong cuộc sống lao động cực nhọc, mẹ đã từng trải qua và vượt lên tất cả để vì cuộc sống và vì tương lai tốt đẹp của các con. Khoa còn hiểu được qua thành ngữ “đi gió đi sương” là nói lên được sự vất vả gian khổ, lao động trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sớm tối lặn lội. Cảm nhận được như vậy, chứng tỏ tác giả rất yêu thương mẹ, muốn làm tất cả những gì để mẹ vui lòng mà chóng khỏi ốm:

    “Mẹ vui con có quản gì Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca”.

    Khoa còn làm được cả những việc vượt ngoài khả năng mà trước đây bản thân chưa làm được: “Một mình con sắm cả ba vai chèo” – một em thiếu niên thật là ngoan ngoãn, có thể lúc trước còn nhõng nhẽo, hay vòi vĩnh mẹ nhưng bây giờ mẹ ốm đã biết thể hiện sự hiếu thảo của mình qua sự chăm sóc mẹ. Nhìn những nếp nhăn hằn trên khuôn mặt của mẹ, Khoa rất cảm động và thấy vô cùng biết ơn mẹ:

    “Vì con mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn”.

    Vì vậy mà trong lòng của nhà thơ lúc nào cũng ước:

    “Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ say”.

    Thật cảm động biết bao trước tình cảm đẹp đẽ của một người con – một cậu bé chưa đầy 10 tuổi trước cảnh “Mẹ ốm”. Bài thơ còn hay ở câu kết mà tác giả đã nói hộ chúng ta về lòng biết ơn vô hạn của những đứa con với các bà mẹ:

    “Mẹ là đất nước, tháng ngày của con”.

    Phải chăng đó cũng là tình cảm của mỗi chúng ta khi nghĩ về mẹ: Con yêu mẹ nhất trên đời, con yêu mẹ như yêu đất nước và mẹ chính là Tổ quốc của riêng con!

    Theo báo Bắc Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1001 Bài Thơ Mưa Buồn, Tâm Trạng Buồn, Cô Đơn Trong Mưa
  • Những Bài Thơ Tình Hay Về Mùa Đông
  • Bài Thơ Mẹ (Trần Quốc Minh)
  • Tổng Hợp Những Bài Thơ Về Mẹ Hay Và Cảm Động Nhất
  • Chùm Thơ Lục Bát Quê Hương Hay Nhất
  • Bình Giảng Đoạn Thơ “mùa Thu Nay Khác Rồi …” Trong “đất Nước” Của Nguyễn Đình Thi

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Phân Tích: Mùa Thu Nay Khác Rồi
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Khúc Mùa Thu
  • Bài Văn Cảm Nghĩ Của Em Về Ngày Khai Trường
  • Thơ Về Mùa Thu Cách Mạng
  • Khúc Ca Mùa Thu Cách Mạng
  • Đoạn thơ trích nằm trong phần một của bài thơ, tiếp ngay sau những hoài niệm về mùa thu đẹp và buồn của Hà Nội xưa, một nỗi buồn man mác bâng khuâng trải dài theo các dãy phố “xao xác hơi may”; hay đọng lại trên những bậc “thềm nắng lá rơi đầy”.

    Nhưng rồi ngay sau đó, tác giả dường như chợt bừng tỉnh, để quay trở lại điểm như ban đầu là một buổi “sáng mát trong” thoang thoảng “hương cốm mới” giữa chiến khu Việt Bắc. Và từ đó mạch xúc cảm của tác giả lại chuyển từ mùa thu của thiên nhiễn về với mùa thu của đất nước để cất lên một tiếng reo vui:

    Mùa thu nay khác rồi.

    “Mùa thu nay” là mùa thu năm 1948, một thời điểm đáng ghi nhớ của cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau thắng lợi của chiến dịch Thu đông Việt Bắc 1947, căn cứ kháng chiến được củng cô vững chắc, khí thế của quân và dân ta đang đi lên, niềm tin cũng theo đó mà dâng đầy, con người có thể “đứng vui nghe” kiêu hãnh giữa đất trời cao rộng với một niềm tin vui hồ hởi, phấn chấn, khỏe khoắn. Và tất cả những gi nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy cũng đều cộng hưởng niềm vui ấy: trời như cao xanh hơn, nắng như trong trẻo vàng; tươi hơn, không khí như nhẹ hơn, dịu hơn, cây cỏ như sinh động hơn… Cả trời dường như đã được “thay áo mới”. Trong cái thanh, cái nhẹ, cái cao ấy thì các am thanh dường như cũng vang ngân hơn “trong biếc nói cười thiết tha”.

    Nhịp thơ đi là nhịp đập gấp gáp của con tim đang xúc động, năm chữ sáu chữ xen kẽ nhau. Nhạc thơ nhiều nốt bổng – những thanh sắc có âm cao liên tiếp, “phấp phới”, “áo mới”, “trong biếc”… “Một thứ nhịp điệu cua hình ảnh tình ý, nói chung là của tâm hồn” (Nguyễn Đình Thi), mà tâm hồn nhà thơ thì như đan xen hòa nhập vào niềm vui của cuộc đời, của đất nước đổi thay.

    Trời xanh đây là của chúng ta ,

    Núi rừng đây là của chúng ta.

    Cùng một cảm hứng như thế, ngày xưa Lý Thường Kiệt từng lên tiếng khẳng định chủ quyền của “Nam quốc sơn hà”, Nguyễn Trãi từng hào hứng tuyên bố địa giới của nước Đại Việt “Núi sông bờ cõi đã chia”, và đương thời Tố Hữu cũng viết:

    Của ta trời đất đêm ngày

    Núi kia đồi nọ sông này của ta,

    (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)

    Đó là tư thế của con người chiến thắng đã làm chủ non sông gấm vóc (khi thất bại, ông Nguyễn Khuyến đã phải than “Cúi trông bể đất, ngửa lên thẹn trời”). Khát vọng ngàn đời của dân tộc giờ đây đang là hiện thực. “Trời xanh” và “núi rừng” được kết hợp với một từ đây – xác định một cách cụ thể rõ ràng được nhắc lại hai lần – và cũng hai lần vang ngân điệp khúc “của chúng ta”. Tự hào biết mấy! Có cảm giác như nhà thơ đang muôn ôm ghì cả đất trời để cảm nhận cho hết nỗi hạnh phúc được làm chủ đất trời tự do của mình. Mà đất nước lại đẹp và giàu đến nhường nào:

    Những cánh đồng thơm mát

    Những ngả đường bát ngát

    Những dòng sông đỏ nặng phù sa

    Khổ thơ dày đặc những âm vang ngân nga và bay bổng, vẫn những diệp từ, vẫn những hình ảnh thân quen của đất mẹ theo nhau xuất hiện như không bao giờ hết, thêm vào đó lại là những tính từ và danh từ gợi tả “thơm mát”, “bát ngát”, “đỏ nặng phù sa”. Nó nhân lên gấp bội niềm tự hào và cũng nhân lên gấp bội tình yêu sâu nặng thiết tha của con người làm chủ đối với cái tài sản vô giá này.

    Rồi từ những cái hữu hình cụ thể ấy, cảm hứng suy tưởng của tác giả lại vươn tới cái vô hình, cái hồn của đất nước vọng về từ trong thẳm sâu lịch sử, mạch cảm hứng lại một lần nữa trỏ về quá khứ xa xăm:

    Nước chúng ta

    Nước những người chưa bao giờ khuất

    Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

    Những buổi ngày xưa vọng nói về.

    Bài thơ còn nhiều câu hay, nhưng theo ý tôi, đây là đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất và sâu lắng nhất. Nó đúng là “tiếng nói chuyện của tâm hồn với chính nó” như tác giả đã nói.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Lắng Đọng Cùng Bài Thơ Mùa Thu Không Trở Lại Phạm Trọng Cầu
  • Lắng Đọng Cùng Bài Thơ Mùa Thu Không Trở Lại Phạm Trọng Cầu
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Tình Viết Về Mùa Thu Hay Nhất
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 40 Bài Thơ Tình Mùa Thu Hà Nội, Buồn, Lãng Mạn Và Cô Đơn Nhất
  • Top 99+ Bài Thơ Hay Về Mùa Thu Làm Xao Xuyến Tâm Hồn Người Đọc
  • Mùa Thu Qua Ba Bài Thơ Thu Của Nguyễn Khuyến

    --- Bài mới hơn ---

  • Chùm Thơ Tạm Biệt Mùa Thu Hay, Thơ Tình Giao Mùa Thu
  • Chùm Thơ Cuối Tháng 9, Thơ Tình Tạm Biệt Tháng Chín Mùa Thu Hay
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Tạm Biệt Mùa Thu Hay, Thơ Tình Giao Mùa Thu
  • 1001 Bài Thơ Tình Cuối Hạ, Tạm Biệt Mùa Hè Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Hay Viết Về Biển Với Tình Yêu Đôi Lứa
  • Bài làm

    Viết về mùa thu, Nguyễn Khuyến đã gặp gỡ không chỉ thi ca truyền thống mà còn thi ca hiện đại, không chỉ thị ca Việt Nam mà cả thi ca nước ngoài. Không chỉ gặp gỡ hồn thơ Á Đông mà còn gặp gỡ hồn thơ phương Tây trước mùa thu. Dường như mùa thu trở thành nơi giao hoà, cộng hưởng, là điểm hẹn của tâm hồn thi sĩ muôn phương, ngàn đời.

    Vẫn là mùa thu làng cảnh Việt Nam bình dị nhưng dưới con mắt, tâm hồn cảm nhận tinh tế của Nguyễn Khuyến, mùa thu hiện lên mang những gương mặt, dáng điệu khác nhau. Nếu Thu điếu là bức tranh mùa thu xanh, sắc xanh trải ngàn, lênh láng. Thu vịnh là bức tranh mùa thu của gió nhẹ trời cao xanh trong, của tâm trạng hoài niềm thì Thu ẩm là bức tranh mùa thu đa vẻ đa diện được cảm nhận trong nhiều thời điểm, nhiều không gian.

    Vẫn là bầu trời thu xanh ngắt nhưng mỗi bài thơ là một sắc điệu riêng:

    Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao

    (Thu vịnh)

    Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?

    (Thu ẩm)

    Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

    (Thu điếu)

    Xanh ngắt là màu xanh như thế nào? Chỉ một từ nhưng Nguyễn Khuyến đã thu được và lấy hồn trời thu lên trang thơ. Một màu xanh đến quá quắt. Bầu trời mùa thu không chỉ xanh, đó còn là bầu trời cao vời vợi, xanh ngát, rộng mênh mông. Không gian mở ra khoảng đạt đến vô cùng. Xanh ngắt trở thành “nhãn tự” của câu thơ, trở thành linh hồn của trời thu. Bầu trời dưới con mắt Nguyễn Khuyến đẹp lạ, cao, xa, rộng đến ngút ngàn tầm mắt. Nó trở thành phông nền cho bức tranh thu.

    Vẫn là màu xanh ngắt ấy nhưng khi thì Nguyễn Khuyến nói lời cảm nhận, miêu tả: Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao là một nét vẽ cho màu xanh chảy tràn suốt mấy từng trời cao rộng, lúc khác lại là một băn khoăn, một thắc mắc: Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt? Hẳn tạo hóa nhiệm màu nhuộm sắc xanh ngắt cho da trời mùa thu. Trước sắc màu tươi sáng của trời thu, thi sĩ sao tránh khỏi thảng thốt giật mình vì vẻ đẹp mê say ấy. Câu hỏi không cần lời đáp. Hỏi chỉ để thể hiện sự ngạc nhiên, thảng thốt trước vẻ thu.

    Phải chăng từ câu từ, tổ chức ngôn từ khác nhau khiến sắc xanh ngắt kia sống mãi trong cả ba bài thơ thu? Ta giật mình gặp lại sắc màu nhưng ta còn giật mình, thú vị hơn khi được thay đổi góc độ cảm nhận sắc màu ấy theo lăng kính thi nhân. Nguyễn Khuyến quả đã đạt đến độ nhuần nhuyễn, điêu luyện của sự sáng tạo trong thi ca, Sắc xanh ngắt đã mới, đã là sự sáng tạo, cách thể hiện sắc xanh ngắt còn mới mẽ, độc đáo hơn. Ba câu thơ, ba hình ảnh thơ mà không rơi vào thế nhàm chán, đơn điệu. Ngược lại câu chữ cuốn người đọc vào hành trình bất tận khám phá vẻ đẹp mùa thu.

    Đối với thế giới mùa thu trong Thu điếu, ta cơ hồ nhận ra cái gì cũng nhỏ bé, cũng khẽ khàng:

    Một chiếc thuyền cậu bé tẻo teo

    Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

    Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

    Một chiếc thuyền bé lại còn bé tẻo teo. Tưởng chừng hình ảnh thu nhỏ hết cỡ. Trong không gian đầy ao đầm của làng quê Nguyễn Khuyến, con thuyền cũng nhỏ bé nhẹ nhàng trôi trên ao. Nếu không phải trong ao hồn con thuyền sẽ chẳng bé tẻo teo như thế. Và cũng vì trong ao nên sóng biếc cũng chỉ hơi gợn tí. Gợn vốn là sự chuyển động rất mỏng, rất nhỏ khó thấy…vậy mà câu thơ Nguyễn Khuyến lại dùng hơi gợn tí. Sự kết hợp từ ngữ độc đáo, mới lạ đã đưa hoạt động như có như không đạt đến độ vi mô, tinh tế nhất. Ngay cả lá vàng trước gió cũng chỉ khẽ đưa vào nhẹ nhàng, sẽ sàng. Câu thơ không tả gió, chỉ tả lá rơi mà vẻ nhẹ nhàng man mác của gió heo may vẫn được biểu hiện. Ba câu thơ, ba hình ảnh, ba nét vẽ mà hình ảnh nào cũng nhỏ bé, nhẹ nhàng, nét vẽ nào cũng thanh thoát. Chỉ “lẩy bút ti ti mà khí thu, hơi thu đã hiện lên, dù nhẹ. Đặc biệt Thu điếu, với việc gieo vần eo, đã tạo nên cảm giác cái gì cũng thu nhỏ lại. Hoạt động cũng ít ỏi thôi. Âm thanh cũng nhẹ nhàng thôi, không gian hầu như tĩnh lặng tuyệt đối. Phải gắn bó với làng quê Việt Nam, phải tinh tế trong cảm nhận lắm, Nguyễn Khuyến mới thu vào trong thơ mình nét dịu nhẹ, cơ hố như Có như không, như hữu hình mà cũng như vô hình của nét thu. Khí thu khác hẳn với cảm nhận của Đỗ Phủ trong thu húng Hơi thu hiu hắt, khí thu loà. Thu trong cảm quan nhà thơ mang linh hồn Việt Nam nhẹ nhàng và thanh sơ.

    Cũng thể hiện sự nhẹ nhàng, man mác của gió thu, tiết thu, Nguyễn Khuyển trong Thu vịnh viết:

    Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

    Nếu trong Thu điếu, Nguyễn Khuyến lấy cải động của sóng, của lá vàng để tả gió, nói gió thì ở đây trong Thu vịnh nhà thơ lại dùng hình ảnh cần trúc lợi phơ để thể hiện sự dịu dàng, man mác của gió heo may đầu thu. Cần trúc là một hình ảnh rất quen, rất điển hình của làng quê Việt Nam, nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Những đợt măng qua thời gian lớn lên, khẽ cong trước gió như cân trúc. Nhưng chỉ lơ phơ thôi, dịu nhẹ thôi dưới tác động của gió hắt hiu. Hai từ láy lơ pho, hắt hiu miêu tả sự nhẹ, sự mỏng cùng song hành trong một câu thơ đã lắng vào đấy, quyện vào đấy không gian đất trời mùa thu, quyện vào đấy hơi thu, khi thu, một nét thu rất Việt Nam nhẹ và êm..

    Hoà trong khí thu, tiết thu thanh cao, dịu nhẹ ấy, không gian khung cảnh mùa thu cũng mở ra nhiều chiều nên thơ và say mê lòng người. Tập trung nhất, cảm nhận nét thu dịu dàng, thơ mộng nhất có lẽ là ở bài thơ Thu điếu:

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

    Một chiếc thuyền cậu bé tẻo teo

    Sóng biếc theo làn hơi gợn tí.

    Lá vàng trước gió khẽ đưa vào

    Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

    Tựa gối buông cần lâu chẳng được

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

    Không gian bức tranh mở ra tại ao thu lạnh lẽo, cái lạnh không thấm vào da thịt, không buốt xương, nó chỉ nhẹ nhàng, mơn man. Một chiếc thuyền cậu bé tẻo teo lững lờ trên mặt nước ao thu ây. Nước trong veo, xanh và sáng đến vô ngần. Phải trong, phải xanh, nhất là phải rất sáng mới có được làn nước ao trong veo như thế. Đến sóng gợn cũng phải biếc, cũng chứa sắc xanh đến nao lòng người. Cùng hoà điệu với nước xanh, sóng xanh là bầu trời xanh ngắt. Sắc xanh như đổ tràn, kết nối mặt nước với bầu trời, Bầu trời xanh in bóng xuống mặt nước khiến mặt nước vốn trong lại xanh thêm. Mặt nước phải tĩnh lặng như tấm gương khổng lồ của tạo vật để bầu trời kia nghiêng mình soi bóng. Trời và nước giao hoà, kết nối. Trời cao vời vợi, nước sâu thăm thẳm, tất cả đều kéo giãn không gian, mở rộng khoảng cách. Tưởng không có gì hơn giữa cõi thăm thẳm của nước trời độ thu. Giữa không gian cao, rộng và sâu ấy, chiếc lá vàng vốn nhỏ càng nhỏ thêm, rợn ngợp thêm. Sắc vàng duy nhất như đâm xuyên giữa bao nhiêu là sắc xanh. Một chiếc lá, một sắc vàng nhỏ xíu khẽ đung đưa, trở thành tâm điểm, nổi bật lên trên nền không gian ấy. Bức tranh thiên nhiên cảnh vật rất thật và đẹp, sống động và xinh xắn. Nhìn sắc vàng của lá, ta nhớ đến câu thơ:

    Một lá ngô đồng rụng

    Thiên hạ biết thu sang.

    Chẳng cần nhiều sắc vàng cuả lá. Không gian mùa thu Việt Nam dưới cái nhìn của Nguyễn Khuyến ngợp sắc xanh, khác hẳn màu áo mơ phai trong thơ Xuân Diệu:

    Đây mùa thu tới – mùa thu tới

    Với ảo mơ phai dệt là vàng.

    Đâu cứ phải sắc vàng mới dệt nên mùa thu, đậu cứ phải chỉ bức tranh Mùa thu vàng của Levitan mới đẹp, mới đắm say lòng người. Nguyễn Khuyến bằng vốn ngôn ngữ giàu chất gợi, chất hoạ đã vẽ nên một màu thu xanh nên thơ rất Việt Nam làm say đắm lòng bất cứ một người nào đã từng sống với thu, với làng quê đất Việt trong tiết thu. Thậm chí những câu này của Nguyễn Khuyến đủ giúp ai chưa từng sống ở cảnh ấy, không gian ấy thêm yêu mến và khát khao tìm về hoà điệu cùng cảnh vật, lòng người hay chí ít, đủ tạo cảm giác ta đã sống, đã cảm nhận sâu sắc, cảm nhận đủ đầy mùa thu Việt Nam nơi chốn quê thanh bình, yên tĩnh.

    Khác với không gian Thu điếu, Thu vịnh, bài thơ Thu ẩm lại tạo nên một vẻ đẹp khác rất quen mà sao vẫn hấp dẫn, cuốn hút, mê say. Bài thơ mở ra không phải là không gian cao trong, rộng rãi, khoáng đạt đến vô cùng của Thu điều, Thu vịnh, không phải là trời mây, non nước, là thiên nhiên tạp vật đắm say. Bài thơ mở ra một không gian gần gũi, thân thuộc của quê nghèo Việt Nam buổi ấy:

    Năm gian nhà có thấp le te

    Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.

    Năm gian nhà có hiện lên đủ để tạo cảm nhận về sự nghèo đói của quê hương, của đời riêng Nguyễn Khuyển nhưng còn nghèo hơn, khổ hơn, tăm tối hơn với cụm từ thấp le te. Đã thấp lại cò: le te! Tưởng như năm gian nhà chạm đất được. Phải chăng đây là hình ảnh rất chân thực của làng quê ông, một vùng đồng bằng chiêm trũng chưa mưa đã úng, quanh năm đói nghèo? Cảnh vẫn đẹp, vẫn nên thơ say lòng người nhưng cuộc sống thì lấm lem, nghèo đói. Nhà thấp. Một sự tôi. Lại thêm ngõ tối, đêm sâu. Không gian càng tối đen, ngột ngạt hơn. Giữa đêm tối mịt mùng, sự lập loè của đom đóm không làm sáng lên không gian, không làm ấm lên. Ngược lại cảm giác tôi càng rợn ngợp hơn, đặc quánh lại, đầy ám ảnh. Phải nói rằng, Nguyễn Khuyến đã rời khỏi không gian tràn đầy ánh sáng, tràn đầy màu sắc đẹp đẽ của thu để trở thành về cảm thương trước cảnh sống, trước không gian sống quen thuộc quanh mình. Đọc những vần thơ ấy, ta có cảm giác Nguyễn Khuyến như nhói lòng trước cảnh ấy, trước hiện thực tăm tối ấy. Bài thơ vì thế như ngoặt sang hướng khác, không còn nữa sự thảnh thơi, thư thái trước đất trời tạo vật. Thế nhưng:

    Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt

    Làn áo lóng lánh bóng trăng loe.

    Câu thơ không tả trăng, chỉ gợi về trăng nhưng đủ để vẻ đẹp ấy ngời toả, lung linh. Ta đã gặp nhiều hình ảnh về trăng trong thơ nhất là thơ thu. Đây là trăng trong thơ Xuân Diệu: thỉnh thoảng nàng trắng tự ngẩn ngơ – một vầng trăng như người con gái đầy tâm trạng ngẩn ngơ. Và đây là trắng thu trong thơ Bác: Trung thu trăng sáng như gương. Nó khác hẳn trăng trong thơ Nguyễn Khuyển. Trăng không hiện hình, trăng ẩn mặt. Nhưng mặt ao vẫn soi được bóng trăng. Trăng dát bạc lên mặt ao khiến cho không gian lung linh, lóng lánh đầy ánh sáng. Sắc trắng, ánh trăng như loe dài, như lan toả trên mặt ao. Từ loe được Nguyễn Khuyến sử dụng rất đắt, tạo nên duyên riêng của trăng, của câu thơ, tạo nên vẻ đẹp riêng của bài thơ.

    Có thể nói, bức tranh cảnh thu ở mỗi bài thơ là một vẻ riêng, một nét đẹp riêng không hoà lẫn. Cùng với việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, điêu luyện, Nguyễn khuyên đã góp những tiếng thơ hay, những bài thơ hấp dẫn, độc đáp trong thơ thu. Có lẽ hiểm có một tác giả nào có thể để lại chùm thơ cùng đề tài sống mãi, cuốn hút, giành được sự yêu mến mãi như Nguyễn Khuyến với ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh.

    Đặc biệt không chỉ sáng tạo mới mẻ trong thể hiện cảnh thu, Nguyễn Khuyến còn đặt dấu ấn riêng trong hình ảnh nhân vật trữ tình. Tất cả đều mang nét buồn, nhưng mỗi bài thơ là một vẻ riêng không gian giống nhau, ở Thu điếu, nhân vật trữ tình dường như chìm khuất trong hình ảnh. Hiển hiện lên trang thơ là con người vui thú “an bần lạc đạo”, vui cùng điền viên nhưng kì thực đã thả hồn theo đất trời thu hay nỗi niềm gì lẩn khuất tự bao giờ. “Tựa gối buông cần” nhưng chẳng hề chú tâm đến việc câu. Thu điếu vậy mà điếu hậu như chẳng được mảy may bận tâm. Cái còn lại có chăng chỉ là con người mang nặng tâm trạng, tìm về với thiên nhiên đất trời để “thanh lọc tâm hồn”, để tìm chỗ nghỉ trên chặng đường đời. Ở Thu ẩm ấy lại là người uống rượu, say sưa với tâm sự u uẩn, gửi vào đó bao nhiêu nỗi niềm không thể nào giải toả. Con mắt đỏ hoe kia hẳn không phải là say rượu. Có lẽ đó là do khóc cho đời, cho kiếp người chăng? Đằng sau vẻ uống rượu đến say nhè, đằng sau hình ảnh mắt lão không vậy cũng đỏ hoe kia chứa đựng biết bao nhiêu tâm trạng, bao nhiêu nỗi niềm.

    Rồi nữa, ở Thu Vịnh lại là con người mang tâm trạng hoài niệm xa xăm:

    Mây chùm trước giậu hoa năm ngoái

    Một tiếng trên không ngỗng nước nào.

    Tâm trạng thảng thốt như đang gửi ở phương nào nay sực tỉnh: Thi hứng tràn về, vậy mà chẳng thể nào cất bút: Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Thẹn vì lẽ tài thơ chưa bằng hay thẹn vì mỗi không có khí phách, chí khí của Đào Tiềm? Có lẽ là cả hai, những căn cốt vẫn ở phần sau. Phải chăng đó cũng là nỗi lòng u uẩn trong hai bài thơ trên chưa thể nói ra. Cùng một tâm trạng, cùng một nỗi lòng nhưng mỗi lần mỗi khác, những nét vẽ riêng, những diện mạo riêng không hoà lẫn.

    Cái gì đã giúp cho chùm ba bài thơ thu này vượt qua sự băng hoại của thời gian, tổn tại mãi trên dòng thơ ở tầm cao, ở chiều sâu của nó, chiếm lĩnh, ăn sâu trong lòng bạn đọc? Phải chăng là bởi cả ba bài thơ đã được tinh luyện, chắt lọc từ hiện thực cuộc đời đẹp đẽ, nên thơ xen lẫn cả những vất vả, lấm lem bùn đất? Hiện thực vẻ đẹp quê hương qua lăng kính của nhà thơ đã khúc xạ, phát quang lên trang viết. Hiện thực mà không sao chép, không quy chụp. Ngược lại Nguyễn Khuyến đã hút lấy phần tinh tuý nhất, sâu sắc nhất của hồn thơ, của tình người để tạo nên trang thơ.

    Sống sâu sắc, nặng nghĩa nặng tình với quê hương, với con người Nguyễn Khuyển đã thấm vào máu thịt của mình tình quê, vẻ đẹp quê hương. Có bao nhiêu tinh hoa ông dồn cả lên ngọn bút để rồi viết nên những vần thơ thật tinh tế.Vẻ đẹp quê hương soi chiếu trong cái nhìn, cảm quan người nghệ sĩ trở lên lung linh, đa vẻ, đa màu. Ba bài thơ mùa thu được viết nên, nhào nặn nên từ những gì rất thực, rất đời, từ vẻ đẹp của quê hương nhưng hơn thế, cái để tác phẩm sống là phần tình mà nhà văn gửi gắm, trao trọn cho nó. Một trái tim yêu quê, một xúc cảm chân thành nồng nhiệt trước cuộc đời, trước cái đẹp đã thăng hoa, vút lên thành những vần thơ. Tình cảm cùng sự liên tưởng, chọn lựa của nhà thơ đã thổi phồng cùng cánh diều hiện thực của quê hương. Hồn thơ tung cảnh, câu thơ vút lên, ngân nga như câu hát. Để rồi xúc cảm chân thành của nhà thơ lay động tới miền sâu nhất của xúc cảm bạn đọc. Từ trái tim đến trái tim, tác phẩm thơ sống mãi, trường tồn, vượt qua mọi thử thách của thời gian, sự cách trở của không gian, tri âm với triệu triệu con người.

    Hơn nữa, cùng bắt nguồn từ hiện thực, vẻ đẹp mùa thu và tâm trạng trước thu, nhà thơ đã luôn đặt mình trong hành trình khám phá, chinh phục và sáng tạo cái mới? Cảm quan nghệ sĩ tạo nên sự khác biệt mới lạ trong cách cảm nhận, thể hiện so với các nhà thơ khác và mỗi người lại phải cố gắng không giẫm lên dấu chân người khác và không lặp lại chính mình. Nhờ thể ba bài thơ, ba vẻ đẹp riêng, ba sức hấp dẫn riêng sống mãi. Phải chăng như Nguyễn Tuân phát biểu: “Thơ là mở ra một cái gì mà trước câu thơ đó, trước nhà thơ đó như là vẫn phong kín”. Mới về nội dung, mới về cảm xúc và mới về nghệ thuật biểu hiện nữa. Bởi như L.Lêônộp đã nói: “Mỗi tác phẩm văn học phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”. Vẫn là cảnh ấy, tình ấy nhưng ở mỗi bài thơ, Nguyễn khuyến đã tìm cho mình hệ thống phương tiện ngôn ngữ riêng. Câu chữ thay đổi, nét nghĩa cơ hồ cũng khác trước. Bài thơ, câu thơ không lặp lại. Những lớp nghĩa, những tầng nghĩa khép mở, đổi thay trong hình thức ngôn từ. Có bao nhiêu tinh hoa của ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, biểu cảm, Nguyễn Khuyến đã dành trọn để thể hiện mùa thu làng quê. Câu chữ bình dị mà trong sáng, hình ảnh gần gũi mà giàu sức gợi, sức cảm. Nội dung, hình thức thống nhất, quyền hoà, bình và rượu thống nhất, hoà hợp, đan xen, tạo nên sức hấp dẫn thu hút người đọc vào hành trình bất tận.

    Có thể nói, Nguyễn Khuyến bằng tài năng và trái tim người nghệ sĩ, đã cảm nhận và thể hiện tinh tế mùa thu với sắc vẻ riêng nên thơ và hấp dẫn lạ kì. Nó đã đạt được những yêu cầu chung đối với bất kì tác phẩm văn học chân chính nào: “Thơ là hiện thực, là cuộc đời và còn là thơ nữa”. Cuộc đời cộng hưởng trong cái nhìn cảm quan người nghệ sĩ tạo nên vôn chất liệu làm thành tác phẩm. Chất hồ kết dính, nhào nặn nó chính là sức liên tưởng, tưởng tượng sự sáng tạo của riêng thi sĩ. Vì thế chăng mà ba bài thơ thu cùng tên tuổi Nguyễn Khuyến sống mãi? Thực tế văn học đặt ra yêu cầu bức thiết cho mỗi nhà văn khi bước chân vào làng văn là phải sống thực sự mà đón nhận tinh lọc cuộc đời, đãi cát tìm vàng giữa bể trời rộng lớn, tinh luyện nên chất muối cuộc đời từ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa khách quan hiện thực và chủ quan nhà thơ, kết hợp cuộc đời với trái tim giàu xúc cảm, dễ ngân rung của người sáng tác. Đó không chỉ là đòi hỏi với cá nhân nhà thơ mà cả với dòng thơ, nên thơ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Thơ Về Mùa Thu Buồn Lãng Mạn Đầy Cảm Xúc
  • Chùm Thơ Mùa Thu Buồn Hay Viết Về Nỗi Cô Đơn Và Sầu Nhớ
  • Một Số Bài Thơ Của Chế Lan Viên
  • Phân Tích Bài Câu Cá Mùa Thu Rất Hay Và Đầy Đủ
  • Phân Tích Bài Thơ “câu Cá Mùa Thu” Của Nguyễn Khuyến
  • Bình Thơ Bài Thơ Mẹ Ốm Của Trần Đăng Khoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Lqvh Dạy Trẻ Đọc Thơ: Mười Quả Trứng Tròn Của Phạm Hổ
  • Soạn Bài Nhàn Ngữ Văn Lớp 10
  • Top 10 Những Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9 Chọn Lọc
  • Top 9 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm Lớp 10 Chọn Lọc
  • Triết Lý Sâu Sắc Của Bài Thơ “nhàn”
  • Bình thơ: Bài thơ “Mẹ ốm” của Trần Đăng Khoa Cập nhật: 19/01/2007

    Trần Đăng Khoa nổi tiếng là một thần đồng về thơ khi đang còn học lớp ba trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của Khoa trong sáng giản dị mà dạt dào cảm xúc, đầy tình yêu thương con người và thiết tha yêu quê hương đất nước. Biết bao em nhỏ Việt Nam yêu thích những bài thơ của Khoa viết và bài thơ “Mẹ ốm” cũng vậy. Tác giả đã bộc lộ tình cảm của một người con với mẹ – một tình cảm rất hồn nhiên của tuổi niên thiếu.

    Mẹ ốm

    Cánh màn khép lỏng cả ngày Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan.

    Khắp người đau buốt, nóng ran Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào.

    Sáng nay trời đổ mưa rào Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương Cả đời đi gió đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi.

    Mẹ vui con có quản gì Ngâm thơ kể chuyện, rồi thì múa ca Rồi con diễn kịch giữa nhà Một mình con sắm cả ba vai chèo.

    Vì con, mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say.

    Rồi ra đọc sách, cấy cày Mẹ là đất nước, tháng ngày của con…

    Trần Đăng Khoa

    Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả cảnh mẹ ốm bằng hình ảnh so sánh: “Mọi hôm mẹ thích vui chơi. Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”

    Thường ngày mẹ hay ăn trầu, đôi má lúc nào cũng đỏ hồng lên. Thế mà hôm nay mọi cảnh vật trong nhà thật buồn bã. Lá trầu cũng như lặng đi và héo khô trong cơi trầu. Những lúc rỗi rãi mẹ thường ngâm nga Truyện Kiều, giờ mẹ bị ốm nên “Truyện Kiều gấp lại trên đầu…”.

    Mẹ vốn là người lam làm tần tảo. Khi mẹ ốm thì “Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa”. Cả cuộc đời mẹ vất vả gian nan nay bị ốm, tác giả đã cảm nhận được và thể hiện qua hình ảnh:

    “Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”.

    Tác giả – một em thiếu niên 10 tuổi đã liên tưởng từ hình ảnh “nắng mưa” mà thấy được sự vất vả, những thăng trầm của cuộc sống mà người mẹ đã phải trải qua. Vì vậy mà tác giả như hiểu được người mẹ đang phải chịu sự “đau buốt, nóng ran” khi bị ốm.

    Rồi tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm của mọi người tới mẹ cũng được nhà thơ thể hiện rất mộc mạc, giản dị mà thắm đượm tình người:

    “Mẹ ơi, cô bác xóm làng đến thăm. Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào”.

    Điều đó chứng tỏ rằng, hàng ngày mẹ sống tốt với mọi người nên khi mẹ ốm mọi người quý mến và thương cảm tới mẹ. Còn nhà thơ – em bé thiếu niên Trần Đăng Khoa bấy giờ đã thấu hiểu nỗi vất vả cực nhọc của mẹ trong cuộc sống lam lũ mà em đã từng chứng kiến và cảm nhận được:

    “Cả đời đi gió, đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”. “Cả đời đi gió đi sương” là hình ảnh ẩn dụ diễn tả sự vất vả, gian khổ của người mẹ.

    Trong cuộc sống lao động cực nhọc, mẹ đã từng trải qua và vượt lên tất cả để vì cuộc sống và vì tương lai tốt đẹp của các con. Khoa còn hiểu được qua thành ngữ “đi gió đi sương” là nói lên được sự vất vả gian khổ, lao động trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sớm tối lặn lội. Cảm nhận được như vậy, chứng tỏ tác giả rất yêu thương mẹ, muốn làm tất cả những gì để mẹ vui lòng mà chóng khỏi ốm:

    “Mẹ vui con có quản gì Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca”.

    Khoa còn làm được cả những việc vượt ngoài khả năng mà trước đây bản thân chưa làm được: “Một mình con sắm cả ba vai chèo” – một em thiếu niên thật là ngoan ngoãn, có thể lúc trước còn nhõng nhẽo, hay vòi vĩnh mẹ nhưng bây giờ mẹ ốm đã biết thể hiện sự hiếu thảo của mình qua sự chăm sóc mẹ. Nhìn những nếp nhăn hằn trên khuôn mặt của mẹ, Khoa rất cảm động và thấy vô cùng biết ơn mẹ:

    “Vì con mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn”.

    Vì vậy mà trong lòng của nhà thơ lúc nào cũng ước:

    “Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Và Cảm Thụ Bài Thơ “mẹ Ốm”
  • Giáo Án Tập Đọc 4: Mẹ Ốm
  • Bài Văn Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em Về Người Mẹ Thân Yêu.
  • Bài Văn Cảm Nghĩ Nụ Cười Của Mẹ
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Mẹ Của Em
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Tạm Biệt Mùa Thu Hay, Thơ Tình Giao Mùa Thu

    --- Bài mới hơn ---

  • 1001 Bài Thơ Tình Cuối Hạ, Tạm Biệt Mùa Hè Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Hay Viết Về Biển Với Tình Yêu Đôi Lứa
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ “tiếng Thu” Của Lưu Trọng Lư
  • Bài Thơ Tiếng Thu Của Lưu Trọng Lư
  • Bình Giảng Bài Thơ Tiếng Thu Của Lưu Trọng Lư.
  • Rồi cái mùa đẹp nhất cũng sắp sửa trôi qua. Những chiếc lá khô giòn cong mình cuốn theo làn gió. Mới ngày nào Thu còn e ấp, ngại ngùng đứng nép bên thềm chờ tiễn đưa mùa Hạ. Mà giờ đây Thu cũng đang thu xếp hành trang để nói tiếng tạ từ.

    Mấy đóa cúc buổi trước còn hàm tiếu, thẹn thùng hé nhụy ngậm sương mai mà phút chốc đã qua thời kỳ mãn khai, tàn úa. Từng cánh mỏng nhạt dần, nhạt dần trong hơi thở vội vàng của mùa đông đang từ từ kéo đến.

    Thảm nắng vàng mơ đã bắt đầu nhuốm hơi sương lạnh. Khoảng không trên kia thôi hết màu xanh khi mành Đông đang cố vây phủ khung trời bằng những mảng màu mây xam xám.

    GỬI VÀO THƠ – Thơ: Hoàng Lan

    MÙA THU CẠN – Thơ: Mạc Phương

    MÙA THU ĐI QUA – Thơ: Mạnh Chiến

    THƠ TÌNH CUỐI MÙA THU – Thơ: Sen Hồng

    VẾT BỎNG MÙA THU – Thơ: Mạc Phương

    PHÚT GIAO MÙA – Thơ: Sen Hồng

    THƠ TÌNH CUỐI MÙA THU – Thơ: Hồng Thùy

    QUA NƠI HẸN CŨ – Thơ: Mạc Phương

    DẤU CHẤM TÌNH THU – Thơ: Mạc Phương

    THU XA NHỚ – Thơ: Hoàng Lan

    CHIA XA – Thơ: Mạc Phương

    CẠN MÙA THƯƠNG NHỚ – Thơ: Mạc Phương

    Mùa thu cạn

    một mình em mong nhớ.

    Hít thật sâu hơi thở của mùa đông.

    Mưa tí tách gõ nhịp cõi mênh mông.

    Hồn khắc khoải trước cuộc đời lạnh lẽo.

    Quãng thời gian đã cách chia hai nẻo.

    Nẻo xôn xao ánh sáng của tình yêu.

    Nẻo lặng thầm làm bạn với cô liêu.

    Cảnh trầm mặc màn mưa giăng lặng lẽ

    Nỗi niềm riêng vẫn cồn lên nhè nhẹ.

    Lành lạnh sầu đang len khẽ trong tim.

    Khép cánh cửa ru kỉ niệm ngủ im.

    Ngọn gió bấc tràn về bao tê tái.

    Mùa nối mùa ngày đầu đông trống trải.

    Ngập hồn hoa một khoảng trống vô hình.

    Dòng lệ tuôn mặn đắng cả môi xinh.

    Bao năm rồi vườn yêu thương bỏ ngỏ

    Mưa đầu đông nỗi buồn về trước ngõ.

    Bước chênh chao mòn mỏi những vấn vương.

    Đã cùng anh đi gần hết đoạn trường.

    Nay lỗi hẹn yêu thương em cất giữ.

    Xin tạm biệt bóng hình người lữ thứ.

    Trả lại anh vườn thượng uyển vầng trăng.

    Những niềm vui vùng vẫy giữa cung hằng.

    Em xây đập ngăn suối nguồn tình ái.

    Đông lại về bắt đầu mùa gieo cải.

    Vườn yêu xưa lại nở thắm vàng hoa.

    Cải lên ngồng chẳng ngóng đợi người xa.

    Em mỉm cười cho tâm hồn thanh thản.

    Chúc nơi anh một cuộc tình viên mãn.

    Em sẽ mừng rót chén rượu chung vui.

    Dẫu đông lạnh cũng chẳng thấy ngậm ngùi.

    Tô môi hồng đón mừng mùa xuân tới.

    VU VƠ – Thơ: Mạc Phương

    NIỀM VUI BUỔI SÁNG – Thơ: Mạc Phương

    TÀN THU – Thơ: Mạc Phương

    PHỐ XƯA – Thơ: Mạc Phương

    HƯƠNG MÙA THU – Thơ: Lê Dũng

    THƠ TÌNH CUỐI MÙA THU – Thơ: Thu Trang

    CHIỀU CUỐI THU – Thơ: Dương Hoàng

    CUỐI THU – Thơ: Khánh Ngọc

    CHÙM THƠ TÌNH CUỐI THU TỪ CƯ DÂN MẠNG

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chùm Thơ Cuối Tháng 9, Thơ Tình Tạm Biệt Tháng Chín Mùa Thu Hay
  • Chùm Thơ Tạm Biệt Mùa Thu Hay, Thơ Tình Giao Mùa Thu
  • Mùa Thu Qua Ba Bài Thơ Thu Của Nguyễn Khuyến
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Thơ Về Mùa Thu Buồn Lãng Mạn Đầy Cảm Xúc
  • Chùm Thơ Mùa Thu Buồn Hay Viết Về Nỗi Cô Đơn Và Sầu Nhớ
  • Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Mẹ Và Quả (Nguyễn Khoa Điềm)

    --- Bài mới hơn ---

  • Thơ Về Bà, Mẹ, Chị Và Vợ
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Nhà Thơ Nguyễn Duy Và Tập Thơ Mẹ Và Em (1987) Phần 1
  • Tả Hình Ảnh Mẹ Lúc Em Bị Ốm
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Hai Chị Em
  • Chùm Thơ Viết Về Các Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng Hay Nhất
  • Những mùa quả mẹ tôi hái được

    Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Khi mặt trời khi như mặt trăng Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi Và chúng tôi thứ quả ngọt trên đời Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái

    Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi

    Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    Mình vẫn còn một thứ quả non xanh ? (Nguyễn Khoa Điềm) Câu hỏi:

    1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của bài thơ?
    2. Nêu nội dung chính của bài thơ?( trả lời trong khoảng 5-7 dòng)
    3. Hãy chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ ở hai câu thơ:

    “Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh ?”

      Viết một đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của em về hai câu thơ:

    ĐÁP ÁN

    1. Phương thức biểu cảm.
    2. Nội dung chính của bài thơ: Bằng sự trải nghiệm cuộc sống, với một tâm hồn giàu duy tư trăn trở trước lẽ đời, Nguyễn Khoa Điềm đã thức nhận được mẹ là hiện thân của sự vun trồng bồi đắp để con là một thứ quả ngọt ngào, giọt mồ hôi mẹ nhỏ xuống như một thứ suối nguồn bồi đắp để những mùa quả thêm ngọt thơm. Quả không còn là một thứ quả bình thường mà là “quả” của sự thành công, là kết quả của suối nguồn nuôi dưỡng. Những câu thơ trên không chỉ ngợi ca công lao to lớn của mẹ, của thế hệ đi trước với thế hệ sau này mà còn lay thức tâm hồn con người về ý thức trách nhiệm, sự đền đáp công ơn sinh thành của mỗi con người chúng ta với mẹ.
    3. – Nghệ thuật hoán dụ: Bàn tay mẹ mỏi: chỉ sự già nua và sự ra đi của mẹ.
    • Nghệ thuật ẩn dụ quả xanh non, chỉ sự dại dột hay chưa trưởng thành của người con, câu hỏi tu từ: Mình vẫn còn một thứ quả non xanh?
    • Tác dụng: Tạo điểm nhấn về lòng biết ơn và sự ân hận như một thứ “tự kiểm” về sự chậm trễ thành đạt của người con chưa làm thỏa được niềm vui của mẹ.
      Có thể nói đây là những câu thơ tài hoa nhất trong bài, khắc sâu sự hy sinh thầm lặng của mẹ và lòng biết ơn vô bờ của người con về công dưỡng dục sinh thành của mẹ hiền. Hình ảnh “chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn” là kiểu hình ảnh so sánh, ví von dáng bầu bí như giọt mồ hôi mặn của mẹ. Đó là hình tượng giọt mồ hôi nhọc nhằn, kết tụ những vất vả hi sinh của mẹ. Câu thơ “Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi” gợi lên dáng vẻ âm thầm trong vất vả nhọc nhằn của mẹ để vun xới những mùa quả tốt tươi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Bài Thơ Tình Mùa Xuân Yêu Thương
  • Soạn Bài: Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Ngữ Văn Có Đáp Án
  • Đọc Bài Thơ Mùa Xuân Xanh Và Trả Lời Các Câu Hỏi Sau
  • Cảm Xúc Về Mùa Xuân Của Học Sinh
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Khúc Mùa Thu

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Cảm Nghĩ Của Em Về Ngày Khai Trường
  • Thơ Về Mùa Thu Cách Mạng
  • Khúc Ca Mùa Thu Cách Mạng
  • Cái Nhìn Nghệ Thuật Mới Trong Bài Thơ Đây Mùa Thu Tới
  • Mùa Thu Thay “áo” Mới Cho Tường
  • – Hồng Thanh Quang tên thật là Đặng Hồng Quang, sinh năm 1962, tại Nguyên Hoà, Phù Cừ, Hưng Yên.

    – Anh tốt nghiệp kỹ sư vô tuyến điện tại Liên Xô cũ năm 1986, cử nhân báo chí và có 24 năm phục vụ trong lĩnh vực báo chí quân đội, là phóng viên tờ tin Binh đoàn Tây Nguyên từ 1987 đến 1988, báo Quân đội nhân dân từ 1988 đến 2002.

    – Từ năm 2000, bắt đầu cộng tác với báo An ninh thế giới. Năm 2003, chính thức là phóng viên báo này và báo Công an nhân dân. Hiện là Tổng thư ký toà soạn báo Công an nhân dân.

    + Tác phẩm:

    – Trữ tình. Thơ (thơ sáng tác, 1993)

    – Linh cảm người đang yêu (thơ dịch, 1995)

    – Không thể nào nguôi (thơ sáng tác, 1996)

    – Gửi người con gái xa xôi (thơ dịch, 1996)

    – Mùa dịu dàng (thơ sáng tác, 1999)

    – Một góc thơ Nga (thơ dịch, 2000)

    – Thời luận (tuyển tập báo chí, 2000)

    – Chỉ là mơ thấy (thơ sáng tác, 2003)

    + Giải thưởng:

    – Giải thưởng trong cuộc thi thơ do tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức năm 1998-2000

    – Bằng khen về các tác phẩm dịch thơ Nga Xô Viết do Trung tâm hợp tác quốc tế về khoa học và văn hoá trực thuộc chính phủ liên bang Nga trao năm 2001

    Tôi đã yêu như chết là hạnh phúc

    Tôi đã quên mình chỉ để nghĩ về em

    Người đàn bà giấu đêm vào trong tóc

    Có điều chi em mải miết đi tìm?

    Ngay cả nếu âm thầm em hoá đá

    Bầu lặng yên cũng đã vỡ rồi

    Mênh mông quá khoảng trống này ai lấp

    Khi thanh âm cũng bất lực như lời

    Sáng nay thật sớm, sương rất mỏng, rất mờ, tiếng chổi quét đường không còn vang buồn như mọi khi. Ngoài kia tất cả như đang mặc một chiếc áo khoác mỏng tìm hơi ấm giao mùa.

    Trời vừa hửng một cái nắng nhẹ trên vòm cây, tôi bèn lên cơn thèm một vòng đi dạo. Phải đi chứ! Đi như để trả đũa một sáng sớm đã mù mờ sương đục và lạnh rét.

    Thèm đi dạo như một kiếm tìm, gặp gỡ. Thèm nghe tiếng xôn xao sau một đêm dài thinh lặng…Thèm nhìn phố xá cợt đùa nhau, tung tăng trong bước chân của bọn trẻ đến trường. Thèm vu vơ tiếng hát của một ca sĩ nào đó… Hay là chợt nhớ đến một giọng cao vút, phiêu những câu hát chất chứa nỗi niềm, rồi người nhớ, rồi người thương.

    Có điều gì không ổn trong những ngăn kéo kỷ niệm mà mùa thay đã vội chao chác lòng người?

    Hình như vài nỗi nhớ nhung nào đó cứ như cánh chim bay…

    Và ở một góc quán bên đường đang văng vẳng tiếng guitar dạo đoạn điệp khúc, sợi giây số 1 đang nhảy múa, âm thanh của bản romance reo giây, tôi thả bước vào quán tìm một góc thật khuất nhìn đám cỏ đang ngậm sương.Khúc mùa thu của Phú Quang có điều gì mà ray rức, reo làm gì một sợi giây níu lòng người.

    Vâng ta giờ không trẻ nữa, nghe như tự vấn. Phải chăng ta lúc này không được ở cung Hằng? Câu hát lại đi vào một thổn thức khác…

    Nghe tiếng hát đang da diết thế, tôi lại nảy ra trong đầu câu nói của người dưng:

    Giấu làm gì? Khi bóng đêm vẫn mãi bao trùm, tóc rồi sẽ xác xơ rối nùi… hớ hênh khoe màu thời gian loang lỗ.

    Giọt cà phê bắt đầu nhỏ từng giọt từng giọt tí tách rơi xuống đáy cốc, tiếng giọt khẽ như đệm cho câu hát kế tiếp.

    ” Ngay cả nếu âm thầm em hóa đá

    Bầu trời lặng yên cũng đã vỡ rơi

    Mênh mông quá khoảng trống này ai lấp

    Khi thanh âm cũng bất lực như lời…”

    Nghe nói bản nhạc này Phú Quang phổ từ lời thơ của thi sĩ Hồng Thanh Quang, kệ là của ai tôi biết thế và cho là như thế, khi mà nỗi cô đơn, cơn hoài nghi nào cũng có phần hơi hơi giống nhau, có điều người ta sống và suy nghĩ như thế nào lại là một chuyện rất khác.

    Hết bài hát tôi trả tiền và rời quán. Bầu trời có lẽ đã xua được đám sương mỏng đầu ngày, bình minh mới tôi tìm cho mình những tình người quanh tôi, nếu có lỡ thất vọng về ai đó có lẽ… Tôi sẽ cố không nghĩ đến điều đó nữa, đời mà C’est la vie đi. Tình ở đâu đó lúc nào cũng đẹp, chỉ khi lòng ta hạn hẹp thì dù ở chốn đồng xanh ta vẫn thấy tim ta chật chội.

    Một buổi sớm như thế này, tôi chỉ thấy một ngày nên vui, nên nhớ và vì nhớ nên tôi muốn dành mười phút cho những linh hồn tôi yêu, tôi treo khúc mùa thu vào chỗ sáng sủa để chỉ cảm thấy âm nhạc rất mênh mang lòng người.

    Biết đâu Khúc mùa thu sẽ làm bạn và tôi thấy mình diễm phúc khi được yêu. Từ tình người… bạn và tôi sẽ biết cách phá vỡ đi một nỗi lặng thầm – Thế thôi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Phân Tích: Mùa Thu Nay Khác Rồi
  • Bình Giảng Đoạn Thơ “mùa Thu Nay Khác Rồi …” Trong “đất Nước” Của Nguyễn Đình Thi
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Lắng Đọng Cùng Bài Thơ Mùa Thu Không Trở Lại Phạm Trọng Cầu
  • Lắng Đọng Cùng Bài Thơ Mùa Thu Không Trở Lại Phạm Trọng Cầu
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Tình Viết Về Mùa Thu Hay Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100