Top 6 # Bài Thơ Nổi Tiếng Của Xuân Diệu Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Bài Thơ Vội Vàng (Xuân Diệu) – Tiếng Nói Của Một Con Tim Say Mê

Bài thơ Vội vàng Xuân Diệu là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ của ông khi viết về mùa xuân, tuổi trẻ. Đó là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình và trân quý những phút giây mình được sống. Và bài thơ này cũng chính là tiếng nói trong con tim cảu một người đang say mê trong tình yêu.

Nội Dung

Bài thơ Vội vàng được in trong tập Thơ Thơ (1933 – 1938) và được xuất bản năm 1938. Đây là một trong những sáng tác lấy cảm hứng từ một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt. Và chất chứa đằng sau những vần thơ này là quan niệm về nhân sinh sâu sắc. Qa thơ ông ta có thể cảm nhận sâu sắc một sức sống mới, đầy mạnh mẽ như mùa xuân của tuổi trẻ.

Tặng Vũ Đình Liên

Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mất;Tôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi.

Của ong bướm này đây tuần trăng mật;Này đây hoa của đồng nội xanh rì;Này đây lá của cành tơ phơ phất;Của yến anh này đây khúc tình si.Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,Không cho dài thời trẻ của nhân gian,Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại.Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt…Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,Ta muốn ômCả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiềuVà non nước, và cây, và cỏ rạng,Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sángCho no nê thanh sắc của thời tươi;– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu chuyển tải tới người đọc một nguồn cảm hứng mạnh mẽ về một sức sống căng tràn. Và nó được thể hiện thông qua các đoạn thơ:

Xuân Diệu là một nhà thơ yêu cái đẹp đến mãnh liệt và cũng chính là tình yêu. Tuy nhiên tình yêu không phải bao giờ cũng là màu hồng và trong đó cũng sẽ chứa đựng những cảm xúc thiêng liêng , sự chênh vênh hụt hẫng. Nên có thể nói tình yêu không thể tồn tại vĩnh hằng được.

“Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mất;Tôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi.”

Với Vội vàng ta có thể cảm nhận được một thiên đường trên mặt đất. Đó là những hình ảnh được thể hiện vô cùng lãng mạn và độc đáo. Ở đây tác giả đã sử dụng những động từ mạnh như “tắt nắng”, “buộc gió” để thể hiện điều này. Tuy nhiên làm sao con người ta có thể cưỡng cầu được những quy luật của thiên nhiên. Nhưng chính cái phi lý ấy đã tạo nên một sức mạnh ấn tượng của bài thơ.

Chính tình yêu luôn tràn ngập trong cảm xúc của nhà thơ nên ông cảm nhận nơi mình đang sống như là một thiên đường. Đó là một bức tranh về mùa xuân tràn ngập ánh sáng mới mẻ và tinh khôi. Đó cũng chính là mùa của cỏ cây đâm chồi nảy lộc. Là mùa của sự sinh sôi và nảy nở. Với việc lặp lại điệp từ này đã giúp ta phần nào cảm nhận được điều đó. Đó cũng chính là nét đẹp trong thơ ông.

Là một nhà thơ nên ông rất nhạy cảm trước những sự dịch chuyển của thời gian. Đó chính là xuân sẽ qua. Nếu thơ ca cũ cho rằng xuân sẽ tuần hoàn thì với Xuân Diệu xuân sẽ mất đi. Bởi sự tuần hoàn chỉ là mùa xuân của thời gian của đất trời chứ tuổi trẻ, con người, thì sẽ vĩnh viễn qua đi.

“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương quaXuân còn non, nghĩa là xuân sẽ giàMà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”

Cũng chính vì điều này mà nó thôi thúc một cuộc sống mãnh liệt hơn, hãy sống làm sao cho có nghĩa nhất và làm sao để tích cực nhất. Bởi sống hết mình từng giây từng phút để cống hiến để yêu sẽ là một trong những điều hạnh phúc nhất của đời người.

Chính mạch cảm xúc này mà nhà thơ đã bắt đầu xưng “tôi”. Đó chính là sự gấp gáp và cuống quýt, vồ vập trong tình yêu. Và Xuân Diệu muốn ôm lấy những nét đẹp của cuộc sống: đó là sự sống, là mây đưa gió lượn…. Tuy nhiên thật khó để giữ được mọi thứ thật trọn vẹn. Và trái tim của ông như muốn rộng ra nhiều hơn để chứa được vũ trụ này.

“Ta muốn ômCả sự sống mới bắt đầu mơn mởnTa muốn riết mây đưa và gió lượnTa muốn say cánh bướm với tình yêuTa muốn thâu trong một cái hôn nhiều”

Mãn Giác Và Bài Thơ Thiền Nổi Tiếng Của Ông

Mãn Giác và bài thơ thiền nổi tiếng của ông

Thân phụ Mãn giác là Lý Hoài Tố, từng làm đến chức Trung thư ngoại lang dưới hai triều Lý Thánh Tông (1051-1072) và Lý Nhân Tông (1072-1128), và chắc là rất thông hiểu chữ nghĩa, vì đã được Triều đình cử làm Chánh sứ trong đoàn sứ bộ Việt Nam đi sang Trung Quốc vào năm 1073 để báo tin Lý Thánh Tông mất. Thế nhưng, mặc dù xuất thân trong một gia đình như vậy, và mặc dù cậu bé Lý Trường được vua Lý Nhân Tông rất mực sủng ái, cho vào cung học tập từ nhỏ, lại đặt tên cho là Hoài Tín, Lý Trường vẫn không đi theo con đường của cha. Ông không trở thành một người cận thần của nhà vua mà tự chọn lấy con đường mình thích: rèn luyện kiến thức Phật giáo và Nho giáo đến mức uyên bác, rồi kế thừa tâm ấn của Thiền sư Quảng Trí ở chùa quán Đính, núi Không Lộ, đi vân du khắp nơi, trở thành một vị Thiền sư tên tuổi, có rất đông học trò, được tôn là người tiêu biểu cho thế hệ thứ tám, dòng Thiền Quan bích.

Trong suốt cuộc đời tu hành của mình, Mãn Giác chỉ để lại một tác phẩm duy nhất, nhưng cũng là một tác phẩm độc đáo của nền văn học thời Lý còn lại đến nay. Đó là bài kệ có tính cách di chúc viết dặn lại học trò trước lúc mất, một bài thơ đã gây cho rất nhiều thế hệ bạn đọc trong gần chín thế kỷ qua những cảm xúc trái ngược, và cho đến nay, sự tranh luận vẫn chưa phải đã ngã ngũ.

Bài kệ như sau:

Xuân khứ bách hoa lạc,Xuân đáo bách hoa khai.Sự trục nhãn tiền quá,Lão tòng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,Đình tiền tạc dạ nhất chi mai!

Mỗi năm khi mùa xuân qua đi, trăm hoa đều rơi rụng,Nhưng mỗi năm mùa xuân lại tới và trăm hoa lại nở.Sự việc đuổi nhau qua trước mắt,Cái già sồng sộc tới trên đầu,Tuy nhiên, chớ bảo rằng xuân tàn hoa rụng hết,Đêm qua đây thôi, trước sân, một nhành mai lại nở.

Có thể nói, không ai là không có một ấn tượng mạnh mẽ, một sự xao xuyến với tất cả tâm linh, khi đọc bài thơ. Nhưng cắt nghĩa sự xao xuyến đó như thế nào thì mỗi người một khác. Bảo rằng người đọc bị bài thơ của Mãn Giác chinh phục là vì bằng tâm thức nghiệm sinh mà mỗi người vẫn có, chúng ta lĩnh hội được trong bài thơ đó những phát hiện tinh vi của tác giả về cái quy luật tiến hóa của sự sống vẫn diễn ra không ngừng, nghe cũng thật có lý. Nhưng bảo rằng người đọc rung động chỉ vì bị cấu trúc nghệ thuật của bài thơ đánh lừa, vì tác giả khéo hình tượng hóa thời gian và đời người bằng hai đại lượng rất giàu thi hứng là xuân và hoa, lại khéo đặt chúng trong mối quan hệ vừa thuận chiều, vừa có vẻ như tương phản, chứ bản thân cách lý giải sự tiến hóa của sự sống trong bài thơ chưa có gì vượt khỏi quan điểm tuần hoàn, hình như cũng không phải là sai.

Vậy thực chất bài thơ là như thế nào?

Chắc chắn chúng ta đều nhất trí với nhau: đây là một tác phẩm giải thích về cái sinh cái tử. Cái sinh cái tử là thông thường, đời người có sinh ra, có già đi, và có chết, cũng là chuyện thông thường. Bốn câu đầu rõ ràng nói lên ý đó, cũng tức là làm cho người đọc hiểu và cảm thông một cách thanh thản với tác giả, khi tác giả đang trên giường bệnh, đang ở điểm mút cuối của cái hiện kiếp của mình. Sự cảm thông này dĩ nhiên buộc phải dựa trên triết lý tuần hoàn của nhà Phật. Vũ trụ này là tuần hoàn, là vĩnh viễn sinh sinh hóa theo luật nhân quả, và người đời – sắc thân mà mỗi con người mang lấy, do nghiệp của kiếp trước chuyển hóa mà có, cũng chỉ là một trong những hình thức biểu hiện lẽ tuần hoàn của vũ trụ, nó là sự biến diệt không tránh khỏi và không trừ một vật gì ở trên đời này:

Xuân ruổi, trăm hoa rụng,Xuân tới, trăm hoa cười.Trước mắt, việc đi mãi,Trên đầu già đến rồi… (2)

Chấp nhận lẽ tuần hoàn, để đừng có những cuồng vọng về sự trường sinh bất tử của cá nhân, đừng bị lục tặc (sáu tính xấu trong con người) hành hạ, làm cho tâm trở nên rối loạn – âu đó cũng là một biện pháp khai phóng tâm lý rất hay của người theo đạo Thiền, nó giúp người ta dẹp bớt đi bao nhiêu tham, sân, si, ái, ố dục vô ích, không những làm khổ mình còn làm khổ lây rất nhiều đồng loại khác nữa. Chỉ xét ở bình diện đầu tiên ấy, bài thơ cũng đã có một tác dụng cảnh tỉnh không nhỏ.

Tuy nhiên, chủ ý của bài thơ có lẽ lại không phải chỉ có chừng đó. Vấn đề là nếu vũ trụ này chỉ là tuần hoàn, mọi hiện tượng, sự vật đều phải qua quá trình vận động luẩn quẩn, lặp đi lặp lại, thì liệu kiếp người có trở nên vô nghĩa, và không còn chỗ nào để ta bám lấy mà tin vào sự trường tồn và phát triển của sự sống nhân loại nữa chăng? Đó chính là một điều băn khoăn thường có của thế nhân, không thể phút chốc dùng lý trí mà dẹp đi được. Và nếu bài thơ chỉ giải đáp được những điều vừa nói ở trên thì chắc chắn nó cũng chỉ mới như một sự áp đặt, bắt người đọc phải trượt trên một đường rãnh đã mòn trong tư duy – một thứ giả thuyết tuần hoàn có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa – chứ không thể gây được một xúc động bất ngờ, hứng thú, một đột biến thẩm mỹ có giá trị bền vững lâu dài trong nhiều thế kỷ nay, như chúng ta đã biết qua lịch sử bài thơ.

May thay, bài thơ còn có hai câu cuối. Và hai câu cuối như một phản đề, đã lật ngược lại, làm cho vấn đề tưởng chừng đã trọn vẹn theo lô-gich từ đầu của nó, thì lại bỗng bật ra những tia sáng không ngờ. Người làm thơ khuyên giải đồ đệ chấp nhận lẽ tuần hoàn. Nhưng biết rằng trong tâm hồn ưa chuộng sự hiện hữu của người đời, và có lẽ ngay trong chiều sâu của tâm tưởng ông, sự giải thích tuần hoàn vẫn chưa đủ để hoàn toàn thuyết phục. Người ta ghi nhận nó bằng lý trí, bằng niềm tin ở Đạo, bằng tâm thế chịu đựng là cùng lắm, chứ không phải bằng tất cả bản năng và xúc cảm sống. Và chính là từ trong các mối mâu thuẫn giằng xé, không tự ý thức được ấy, một ánh sáng của trực giác đã đột ngột bật ra trong tâm linh của vị Thiền sư họ Lý khiến cho trong phút chốc ông như được đốn ngộ. Ông vụt nói to lên cái chân lý vừa lóe hiện rực rỡ trong lòng:

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua, sân trước, một nhành mai (2).

Không! Tuần hoàn không phải là quy luật chi phối thế giới hiện hữu này! Mà thế giới này thực chất là sinh sôi nẩy nở. Ngay khi mà rất nhiều hiện tượng tưởng chừng như đều châu tuần vào cái vòng quay của tuần hoàn thì cũng vẫn có những hiện tượng nào đấy chống lại nó. Và đó mới là thực chất của sự sống, cái đặc thù đôi khi lại là biểu hiện của một cấp độ cao hơn của cái phổ biến.

Nghiêm túc mà xét, điều Mãn Giác nói với ta không có gì vượt khỏi nguyên lý của cái Đạo mà ông đeo đuổi. Bởi vì theo Phật giáo thì vũ trụ này dù hiển hiện ra dưới những sắc tướng mong manh đến thế nào, bản thể của nó vẫn là như như, là cái tâm thường trụ. Sắc tướng thì vô thường, biến diệt trong chớp mắt, nhưng bản thể vĩnh hằng của vũ trụ không bao giờ thay đổi. Vậy, nếu như người tu hành ngộ được điều đó, biết đồng nhất tâm thức của mình với cái Tâm bản thể, cái chân như bất sinh bất diệt của vũ trụ, thì có cái gì nằm trong thế giới lục trần – những thanh, sắc, hương, vị, xúc, pháp – lại có thể làm xao xuyến được tâm thức anh ta, làm cho anh ta rơi vào vòng luẩn quẩn của chúng sinh, mê muội trong mọi nỗi khổ trần thế và bị sự tuần hoàn câu thúc? Anh ta sẽ đạt đến trạng thái tĩnh lặng của cái Tâm, sẽ hồn nhiên như cây cỏ, sẽ tự mình hòa làm một với cái Tâm của vũ trụ, và sẽ cùng với vũ trụ trường tồn…

Đối với Thiền, giác ngộ ra được chân lý về sự trường sinh bất tử đó không bắt buộc phải trải qua một quá trình dài tu hành, trì giới, mà chỉ cần có một bước nhảy vọt trong chiều sâu của tri giác, nhờ vào một hiện tượng bên ngoài (một động tác giơ tay, một tiếng quát v.v…) mà lý trí thông thường không sao hiểu nổi. Có thể nói đó là một cuộc đảo lộn về trực giác, ở đó yếu tố cảm hứng, trạng thái xuất thần, đóng vai trò quan trọng. Cho nên, con người thấm nhuần Thiền đến độ như Mãn Giác đã không dài dòng lý giải mà chỉ dùng hình ảnh một nhành mai đột ngột nở bung ra sau một đêm cuối xuân – khi trăm hoa đã hoàn toàn rơi rụng – để làm biểu tượng cho sự ngộ đạo kỳ diệu này. Và đó không còn là tuần hoàn nữa. Tuần hoàn dừng lại trước ngưỡng cửa của hiện tượng nở bừng đó. Người tu hành đã đạt đến chân lý – anh ta đã trở thành Phật, tức là trường tồn cùng với bản thể của vũ trụ, trong một tâm thế hân hoan, lâng lâng, xuất thần:

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua, sân trước, một nhành mai

Đó là đứng về góc độ triết lý Thiền mà tiếp cận bài thơ. Song lại còn phải tiếp cận bài thơ ở một góc độ khác: góc độ của cảm xúc thực tiễn. Phần lớn người đọc xưa nay đều đến với bài thơ từ góc độ này. Cành mai nở bung ra chỉ trong một đêm cuối xuân chứng tỏ điều gì – nếu không là chứng tỏ cái ý nghĩa tiến hóa sâu xa vượt lên khỏi phạm vi tuần hoàn của sự sống? Và điều Mãn Giác khuyên học trò của mình là gì – nếu không là một lời khuyên ý nhị và tinh tế: hãy phát hiện cho được sự sống ở cái khía cạnh tiến hóa sâu xa và quan trọng ấy, chứ không phải là ở những biểu hiện thông tục lặp đi lặp lại, của lẽ tuần hoàn?

Có lẽ có người cho chúng tôi đã gán cho Mãn giác những điều nằm ngoài phạm vi hiểu biết và suy tưởng của nhà thơ. Mãn Giác, như chúng ta biết, trong cuộc đời là một người rất thực tiễn. Đặc biệt con người thực tiễn ấy chịu ảnh hưởng của vua Lý Nhân Tông – một nhân vật tiêu biểu cho võ công văn trị của nhà Lý – từ thuở nhỏ. Mà Lý Nhân Tông thì từng khuyên vị Thiền sư dòng dõi hoàng tộc này một câu chí lý, được Thiền uyển tập anh trân trọng ghi lại, mà chính Mãn Giác cũng ghi nhớ như một phương châm hành động trong suốt cuộc đời mình: Bậc chí nhân hiện thân giữa cõi đời này tất phải tế độ chúng sinh. Không hạnh nào không đầy đủ, không việc gì không chăm lo. Chẳng những đắc lực về Thiền định mà cũng còn có công phò tá nước nhà nữa. Hãy nên kính cẩn gánh vác trách nhiệm đó (3).

Đủ thấy, con người Mãn Giác không hề xa lạ với hoạt động thực tiễn, cũng là người có con mắt tinh tường đáng kể, không bỏ qua dù chỉ là một hiện tượng nhỏ nhặt của cái đẹp của sự sống, vốn từ trong thực tiễn mà nẩy nở, kết tinh. Cho nên, hai câu cuối bài thơ không thể là cái gì khác, ngoài cái chân lý hiển nhiên về sức mạnh của sự sống, sự vận động biến hóa không ngừng của thế gian này, mà từ trong hoạt động thực tế của chính mình, Mãn Giác đã ngày càng hiểu dần ra và một lúc nào đó, chân lý sống kia đã hoàn toàn chiếm lĩnh cảm thức của ông, làm lay đảo quan điểm tuần hoàn của nhà thiền học trong ông, và làm cho ông đốn ngộ.

Để soi sáng thệm cho vấn đề mà chúng ta đang bàn luận, ta hãy nhìn sâu vào nhịp điệu, tiết tấu, vào thi pháp của bài thơ. Một điều rất lạ là bài thơ này không kết cấu một lèo theo thể thơ cùng kiểu câu 4 chữ, 5 chữ hay 7 chữ mà các bài kệ thời Lý – Trần thường dùng đến. Mà đây là sự kết hợp giữa thể thơ 5 chữ với thể thơ 7 chữ. Ở phần trên, phải diễn đạt sự tuần tự trôi chảy của thời gian, một chiều hướng tiến triển ngỡ như tuần hoàn, thì tác giả dùng thể thơ 5 chữ. Nhưng khi nhà thơ lật lại triết lý tuần hoàn, xác nhận sự sống không đều đều tiệm tiến như thường tục vẫn nghĩ, thì câu thơ 5 chữ đột nhiên kéo dài ra, chuyển sang thơ 7 chữ. Không phải chỉ có vậy. Nhịp điệu và tiết tấu của từng câu thơ còn đóng một vai trò quan trọng hơn. Bốn câu đầu, ngắt nhịp 2/3 đều đặn, phù hợp với nội dung nói đến lẽ tuần hoàn:

Xuân ruổi / trăm hoa rụng,Xuân tới / trăm hoa cười.Trước mắt / việc đi mãi,Trên đầu / già đến rồi.

Nhưng chuyển sang hai câu kết thúc thì khác. Đây là một mệnh đề đảo ngược, một mệnh đề cần có lượng thông báo mới, do đó tác giả đã cấu tạo hai cách ngắt nhịp khác nhau, khiến chúng biến hóa sinh động. Câu 7 thứ nhất là cả một mệnh đề y nguyên, không ngắt một nhịp nào cả, gây cho người ta cái cảm giác mạnh mẽ, lôi cuốn, về điều mà nhà thơ sắp thông báo:

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Bao nhiêu dấu hỏi tại sao sẽ gợi lên trong trí chúng ta trước một mệnh đề chuyển chiết sừng sững như vậy. Và đó sẽ là một dấu nối để chuyển xuống câu 7 thứ hai cũng là câu thơ cuối cùng, là một thông điệp mới mẻ, với một sự ngắt nhịp trang trọng: hai nhịp hai mở đầu để tạo cảm giác chậm rãi, giúp người đọc tiếp cận từ từ với chân lý. Và một nhịp ba kết thúc, là sự hé mở đột ngột của chân lý, có tác dụng nói với người ta rằng: sự sống là vĩnh cửu, quy luật tiến hóa của sự sống là vĩnh cửu:

Đêm qua / sân trước / một nhành mai

Tưởng không cần luận giải kỹ càng hơn nữa cũng đủ thấy, hình tượng cành mai nở trong đêm cuối cùng của mùa xuân trong bài kệ tuyệt bút của Mãn Giác là một hình tượng bất hủ của thơ ca Thiền đời Lý. Lượng thông báo của hình tượng này quả là phong phú, đa nghĩa. Và Mãn Giác, nhà Thiền học, người sùng đạo, cũng đồng thời là một nhà thơ biết phát hiện cái ý vị đẹp đẽ, cái ý nghĩa thẩm mý quý giá của sự sống dài lâu của con người trên trái đất này.

(2) Ngô Tất Tố dịch.

(3) Thiền uyển tập anh. Quyển thượng; Đệ bát thế lục nhân, Mãn Giác đại sư. Nguyên văn: Chí nhân thị hiện tất vụ tế sinh, vô hành bất cụ, vô sự bất tu; phi duy định tuệ chi lực, diệc hữu tán tương chi công, nghi kính nhậm chi.

 Nguồn: chúng tôi (15/11/07)

Soạn Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Đề bài: Soạn Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Bài làm

Câu 1.

Bài thơ Vội vàng có thể chia thành 3 đoạn như sau:

Đoạn 1: 13 câu đầu. Tình yêu cuộc sống nồng nàn tha thiết của tác giả. Và cảnh vật tràn trề sức sống của thiên nhiên.

Đoạn 2: Câu tiếp theo đến “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa”. Nhà thơ tiếc nuối và băn khoăn trước những sự hữu hạn của đời người, của tự nhiên.

Đoạn 3: Phần còn lại. Xuân Diệu vội vàng tận hưởng cuộc sống.

Câu 2.

Xuân Diệu cảm nhận về thời gian thông qua hình ảnh của mùa xuân:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”.

Xuân Diệu đã cảm nhận về thời gian một cách đầy triết lý nhưng rất thực tế. Vì xuân đến xuân đi là quy luật tự nhiên của đất trời, điều này ai cũng biết. Thời gian cứ thế trôi, hết xuân này đến xuân khác. Mùa xuân ở đây còn là hình ảnh ẩn dụ cho tuổi trẻ khi Xuân Diệu nói ” Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”.

Sự qua đi nhanh chóng của thời gian khiến nhà thơ vội vàng, cuống quýt. Ông có tâm trạng như vậy vì ông rất yêu cuộc sống, rất yêu thiên nhiên, muốn tận hưởng hết tất cả những hương vị của cuộc sống. Nhưng ông lại thấy bất lực trước sự qua đi nhanh chóng của thời gian: “Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn”. Xuân Diệu không thể làm gì được để ngăn thời gian lại, chỉ có cách là tận dụng mọi thời gian để sống, để tận hưởng.

Câu 3.

Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được tác giả cảm nhận qua tâm trạng bâng khuâng, tiếc nuối và vội vàng trong nhịp thơ cuống quýt:

” Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi sớm mai thần vui hằng gõ cửa

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Xuân Diệu đã dùng điệp từ “này đây” để liệt kê lần lượt những hương vị của cuộc sống. Ông day dứt, băn khoăn, ông vội vàng muốn tận hưởng hết tất cả những gì có trong tự nhiên, trong cuộc sống. Nhưng tận hưởng một cách tinh khiết chứ không phải mù quáng.

Mỗi một chi tiết, một hình ảnh lại được Xuân Diệu gắn với một đặc điểm giống như con người làm cho thiên nhiên càng thêm sinh động và gần gũi.

Những nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc thực ra không có gì cao sang hay khác thường cả, thực chất chỉ là những cảm nhận từ những điều giản dị nhất, đơn giản nhất trong cuộc sống. Nhưng chính những điều đơn giản ấy mọi người vẫn thường không để ý đến. Với Xuân Diệu, hạnh phúc thật đơn giản như ngắm một cánh bướm chao lượn, thả hồn mình trong gió mây…

Xuân Diệu còn tưởng như tuổi trẻ là một con người cụ thể để ông “no nê thanh sắc của thời tươi” rồi “cắn vào ngươi”.

Sự cảm nhận và diễn tả của Xuân Diệu thật đặc biệt, thật độc đáo chưa từng thấy trong thơ văn Việt Nam.

Câu 4.

Nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ và nhịp điệu trong đoạn thơ cuối của bài thơ:

Hình ảnh rất giản dị nhưng được so sánh, ẩn dụ độc đáo và tinh tế đến táo bạo với những ước muốn có phần ngông cuồng của tác giả:

Muốn riết mây đưa vào gió lượn,

Muốn say cánh bướm với tình yêu

Muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Chếnh choáng mùi thơm, đã đầy ánh sáng

No nê thanh sắc của thời tươi

Muốn cắn vào xuân hồng

Về ngôn từ, Xuân Diệu dùng một loạt những động từ mạnh, trong đó chủ là hành động chính là ông.

Nhịp thơ vội vàng, gấp gáp.

Tất cả những điều trên thể hiện một tình yêu cuồng nhiệt của tác giả vào cuộc sống, vào tuổi trẻ. Đồng thời cũng là sự tiếc nuối, day dứt khi không thể khống chế được thời gian và tuổi xuân.

Theo em, hình ảnh mới mẻ nhất, độc đáo nhất mà nhà thơ sáng tạo là: Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi. Đây là một hình ảnh rất mới lạ, rất táo bạo. Xuân Diệu dùng từ “cắn” như một cách tận hưởng cuống quýt, vội vàng đúng như cái tiêu đề ông đã đặt.

Những Bài Thơ Tình Của Xuân Diệu Hay Nhất

Nếu ví nền văn học việt Nam là một bầu trời đầy sao thì Xuân Diệu sẽ là ngôi sao sáng trên bầu trời sao ấy. Những bài thơ của Xuân Diệu luôn mang những sắc thái khác nhau, đưa người đọc tới nhiều cung bậc cảm xúc. Thơ Xuân Diệu chủ yếu viết về tình cảm nam nữ hay nói cách khác là thơ trữ tình. Hôm nay mình xin chia sẻ tới các bạn yêu thơ Những bài thơ tình của Xuân Diệu hay nhất mời các bạn cùng theo dõi.

Làm thi sĩ, nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây

Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây

Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến

Đây là quán tha hồ muôn khách đến

Đây là bình thu hợp trí muôn hương

Đây là vườn chim nhả hạt mười phương

Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc

Đôi giếng mắt đã chứa trời vạn hộc

Đôi bờ tai nào ngăn cản thanh âm

Của vu vơ nghe mãi tiếng kêu thầm

Của xanh thắm thấy luôn màu nói sẽ

Tay ấp ngực dò xem triều máu lệ

Nghìn trái tim mang trong một trái tim

Để hiểu vào giọng suối với lời chim

Tiếng mưa khóc, lời reo tia nắng động

Không có cánh nhưng vẫn thèm bay bổng

Đi trong sân mà nhớ chuyện trên trời

Trút ngàn năm trong một phút chơi vơi

Ngắm phong cảnh giữa hai bề lá cỏ

Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ

Mà vạn vật là muôn đá nam châm

Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm

Sao lại trách người thơ tình lơi lả ?

Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

Đem cho em kèm với một lá thư

Em không lấy là tình anh đã mất

Tình đã cho không lấy lại bao giờ .

Thư thì mỏng như suốt đời mộng ảo

Tình thì buồn như tất cả chia ly

Xếp khuôn giấy để hoài trong túi áo

Mãi trăm lần mới gấp lại đưa đi

Em xé như lòng non cùng giấy mới

Mây dần trôi hôm ấy phủ sơn khê

Cười trên cành sao được nữa em ơi!

Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

Đem cho em là đã mất đi rồi!

Phải nói

Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ ?

Anh tham lam, anh đòi hỏi quá nhiều,

Anh biết rồi , em đã nói em yêu;

Sao vẫn muốn nhắc một lời đã cũ ?

Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ,

Nếu em yêu mà chỉ để trong lòng;

Không tỏ hay, yêu mến cũng là không .

Và sắc đẹp chỉ làm bằng cẩm thạch .

Anh thèm muốn vô biên và tuyệt đích .

Em biết không ? Anh tìm kiếm em hoài .

Sự thật ngày nay, không thạt đến ngày mai …

Thì ân ái có bao giờ lại cũ ?

Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ ,

Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần ;

Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm xuân,

Đem chim bướm thả trong vườn tình ái .

Em phải nói, phải nói và phải nói

Bằng lời riêng nơi cuối mắt, đầu mày

Bằng nét vui, bằng vẻ thẹn, chiều say,

Bằng đầu ngả, bằng miệng cười, tay riết .

Bằng im lặng, bằng chi anh có biết!

Cốt nhất là em chớ lạnh như đông .

Chớ thản nhiên bên một kẻ cháy lòng ,

Chớ yên ổn như mặt hồ nước ngủ .

Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ .

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi .

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi .

Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần

Tôi sung sướng . Nhưng vội vàng một nửa;

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất .

Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt …

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng buồn vì nỗi phải bay đi ?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?

Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa …

Mau lên đi màu chưa ngả chiều hôm,

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Yêu là chết ở trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu

Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu;

Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết .

Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt .

Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!

– Yêu là chết ở trong lòng một ít .

Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt .

Những người si theo dõi dấu chân yêu ;

Và cảnh đời là sa mạc cô liêu

Và tình ái là sợi dây vấn vít .

Yêu, là chết ở trong lòng một ít .

Xa cách

Có một bận em ngồi xa anh quá ,

Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn .

Em xích gần thêm một chút , anh hờn ,

em ngoan ngoãn xích gần thêm chút nữa .

Anh sắp giận , em mỉm cười vội vã

đến kề anh và mơn trớn :” Em đây ! “

Anh vui liền, nhưng bỗng lại buồn ngay ,

vì anh nghĩ: thế vẫn còn xa lắm.

Đôi mắt của người yêu, ôi vực thẳm!

Ôi trời xa, vầng trán của người yêu!

Ta thấy gì đâu sau sắc yêu kiều

mà ta riết giữa đôi tay thất vọng.

Dầu tin tưởng chung một đời, một mộng,

em là em; anh vẫn cứ là anh.

Có thể nào qua Vạn lý trường thành

của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.

Thương nhớ cũ trôi theo ngày tháng mất,

quá khứ anh , anh không nhắc cùng em.

Linh hồn ta còn u ẩn hơn đêm,

ta chưa thấu , nữa là ai thấu rõ.

Kiếm mãi , nghi hoài , hay ghen bóng gió,

anh muốn vào dò xét giấc em mơ,

nhưng anh dấu em những mộng không ngờ,

cũng như em dấu những điều quá thực…

Hãy sát đôi đầu , hãy kề đôi ngực!

Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!

Những cánh tay ! Hãy quấn riết đôi vai!

Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!

Hãy khắng khít những cặp môi gắn chặt

cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng;

Trong say sưa, anh sẽ bảo em rằng:

” Gần thêm nữa! Thế vẫn còn xa lắm! “

Anh đã giết em

Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim anh

Từ đây anh không còn được yêu em ở trong sự thật

Một cái gì đã qua, một cái gì đã mất

Ta nhìn nhau bốn mắt biết làm sao

Ôi! Em mến yếu ! Em vẫn là người anh yêu mến nhất

Cho đến bây giờ ruột anh vẫn thắt

Tim anh vẫn đập như vấp thời gian

Nhớ bao nhiêu yêu mến nồng nàn

Nhớ đoạn đời hai ta rạng rỡ

Nhớ trời đất cho anh mở

Nhớ

Muôn thuở thần tiên

Ôi! Xa em, anh như rơi vào vực không cùng

Đời anh không em lạnh lùng tê buốt

Nhưng còn anh, còn em mà đôi ta đã khác

Ta :Hai người xa lạ- phải đâu ta

Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim anh

Đêm nào anh cũng đi quanh em mà khóc

Anh vẫn ước được em tah thứ

Anh vẫn yêu em như thuở ban đầu

Thế mà tại sao ta vẫn xa nhau?

Tại em cố chấp

Tại anh đã mất

Con đường đi tới trái tim em

Anh đã giết em rồi, anh vẫn ngày đêm yêu mến

Em đã giết anh rồi, em vứt xác anh đâu?

Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa

Vội vàng chi trăng sáng quá, khách ơi .

Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;

Khách không ở, lòng em cô độc quá .

Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả .

Tay em đây mời khách ngả đầu say;

Đây rượu nồng. Và hồn của em đây,

Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử .

Chớ đạp hồn em! Trăng từ viễn xứ

Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn .

Gió theo trăng từ biển thổi qua non;

Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn.

Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn

Chớ để riêng em phải gặp lòng em;

Tay ái ân du khách hãy làm rèm,

Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng.

Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng,

Trôi phiêu liêu không vọng bến hay gành;

Vì mình em không được quấn chân anh,

Tóc không phải những dây tình vướng víu,

Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo.

Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.

Người giai nhân bến đợi dưới cây già,

Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt.

Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt

Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi.

Người viễn du còn bận nhớ xa khơi,

Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.

Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt

Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi .

Du khách đi . Du khách đã đi rồi .

Áo em

Áo em để lại dáng hình

Treo trên mắc áo cho mình thấy thương

Đôi vai nho nhỏ bình thường

Khuỷu tay áo gợi hình xương tay gầy.

Sờn sờn đôi chỗ đâu đây.

Áo em nhuộm chắc, xanh tày biển xa,

Mấy khuy cúc áo thật thà.

Ngắn rồi – em để về nhà mặc thêm.

Áo nhìn anh thật thương em

Hiểu còn gian khổ cho nên tay gầy.

Áo em gần với anh thay!

Những khi khoai sắn là ngày cùng nhau.

Áo em thoang thoảng hoa câu

Áo em say đắm một màu trầm hương

Áo em ngày nhớ đêm thương

Áo em chín nắng mười sương anh chờ.

Hôm nay, trời nhẹ lên cao ,

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn .

Lá hồng rơi lặng ngõ thôn,

Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương

Phất phơ hồn của bông hường

Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng .

Nghe chừng gió nhớ qua sông,

Em bên lau lách thuyền không vắng bờ .

Không gian như có dây tơ

Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu .

Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều,

Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn …

Anh thương em ngủ

Anh thương em khi ngủ

Phong thái rất hồn nhiên.

Em ngủ như trẻ nhỏ

Ngon say một giấc liền.

Tay em thả xuôi xuôi

Như bơi vào cõi mộng

Mắt em khép dài dài

Dưới trán em lồng lộng.

Em nằm in trẻ nhỏ

Trong chiếc võng yêu thương

Anh dệt giăng khắp chỗ

Trong phòng, quanh quất giường.

Anh thức nhìn em ngủ,

Anh canh giấc cho em;

Anh lắng nghe nhịp thở

Ngực em điều xuống lên.

Trở mình, tay ấp má

Anh thương em dáng người

Tin cậy vào cuộc sống,

Tin ở anh trong đờị

Sau một ngày đầy việc

Chúc em tôi giấc lành!

Anh vô cùng sung sướng

Nếu em mơ thấy anh.

Nói chi nữa tiếng buồn ghê gớm ấy

Để lòng tôi sung sướng muốn tiêu tan ?

Tất cả tôi rung rẩy tựa dây đàn

Nghe thỏ thẻ chính điều tôi giấu kỹ,

Sợ đôi mắt điềm nhiên và diễm lệ

Vâng, nói chi để khiêu lại nguồn sầu

Toi ngỡ đà cạn hẳn trong bấy lâu,

Để lại nhóm cho cháy thêm ngọn lửa

Tưởng gần tàn.-Yêu ? yêu nhau ? làm chi nữa !

Tôi vẫn biết rằng tôi chẳng xứng người;

Mùa xuân tôi chưa hề có hoa tươi;

Tôi như chiếc thuyền hư, không bến đỗ;

Tôi là một con chim không tổ,

Lòng cô đơn hơn một đứa mồ côi,

Nhặt nụ cười của thiên hạ, than ôi,

Để tự nhủ : “ta được yêu đấy chứ”.

Tôi chỉ sống để hoài hoài tưởng nhớ

Mãi mãi yêu, nhưng giấu giếm luôn luôn;

Mà người thì,lơ đãng, dậm trên buồn,

Bân đi hái những cành vui xanh thắm.

Tôi biết lắm, trời ơi, tôi biết lắm !

Hỡi lòng dạ xâu xa như vực thẳm !

Tôi biết rằng người nói-vậy cười-chơi,

Tiếng đã làm tôi tê tái cả người,

Tim ngừng đập, để thu hồn nghe lắng,

Máu ngừng chạy, để cho lòng bớt nặng.

Tôi biết rằng, chỉ cách một ngày sau,

Cây bên đường sẽ trông thấy tôi sầu,

Đi thất thểu, đi lang thang, đi quạnh quẽ.

Vì vội đến kiếm tìm nhau, tôi sẽ

Chỉ thấy người thương nhưng chẳng thấy tình thương.

Và như màu theo nắng nhạt, như hương

Theo gió mất, tình người đành tản mác.

Tôi sẽ trốn, thẫn thờ, ngơ ngác,

Trái tim buồn như một bãi tha ma,

Gượng mỉm cười : “Người quên nghĩ rằng ta

Sẽ đau đớn bởi một lời nói vội”.

Vì khốn nỗi ! tôi vẫn còn tin mãi

Sự nhầm kia; tôi không thể không yêu

Dầu không tin, tôi càng cứ yêu nhiều :

Khi người nói, tiếng người êm ái quá …

Có lúc, tưởng chỉ để rơi tàn lửa,

Tay vô tình gây một đám cháy to :

Người tưởng buông chỉ một tiếng hẹn hò,

Tôi hưởng ứng bằng vạn lời say đắm

Đương rạo rực, thì thào, rối rắm

Ngập lòng tôi-Mà ai ngó tới đâu :

Tôi điên cuồng, tất nhiên phải khổ đau,

Tôi biết lắm, trời ơi, tôi biết lắm !

Vậy, trót lỡ, tôi sẽ đành lẳng lặng

Chịu mối tình gây lại bởi tay ai,

Không cần xin, không trách móc, vì-ôi !

Tôi chẳng biết làm cho lòng cứng cỏi

Cứ như thế cho đến giờ đen tối

Hoa ái tình chung phận đoá hồng khô,

Mà trái tim đã ghê dáng hững hờ

Đã chung phận của tro tàn bếp lạnh

Tôi giấu sẵn một linh hồn hiu quạnh,

Cho nên, liền chiều đó, tôi hết vui

Không thấy người bằng không thấy mặt trời,

Tôi ôm ngực thử tìm xem biên giới

Của sầu tủi. Nhưng, hỡi người yêu hỡi !

Nó mênh mông, vô ảnh, bủa vây tôi;

Yên ổn đi, thắc mắc đến đây rồi,

Mơ ước tới, mà chán chường cũng lại

Và mơn trớn cả một kho ân ái,

Tôi một mình đối diện với tình không

Để lắng nghe tiếng khóc mất trong lòng.

Một năm, thêm mấy tháng rồi

Thu đi, đông lại, bồi hồi sắp xuân

Gặp em, em gặp mấy lần

Tưởng quen mà lạ, tưởng gần mà xa

Ai làm cách trở đôi ta

Vì anh vụng ngượng, hay là vì em ?

Trăng còn đợi gió chưa lên,

Hay là trăng đã tròn trên mái rồi ?

Hằng ngày em nói bao lời

Với cha, với mẹ, với người xung quanh

Với đường phố, với cây xanh,

Sao em chưa nói với anh một lời ?

Tương tư ăn phải miếng mồi

Đứng đi trên lửa, nằm ngồi trong sương

Phải duyên, phải lứa thì thương,

Để chi đêm thẳm ngày trường em ơi !

Gửi hương cho gió

Biết bao hoa đẹp trong rừng thẳm

Đem gởi hương cho gió phụ phàng !

Mất một đời thơm trong kẽ núi,

Không người du tử đến nhằm hang.

Hoa ngỡ đem hương gởi gió kiều,

Là truyền tin thắm gọi tình yêu

Song le hoa đợi càng thêm tủi,

Gió mặc hồn hương nhạt với chiều

Tản mác phương ngàn lạc gió câm

Dưới rừng hương đẹp chẳng tri âm,

Trên rừng hoa đẹp rơi trên đá,

Lặng lẽ hoàng hôn phủ bước thầm.

Tình yêu muôn thuở vẫn là hương;

Biết mấy lòng thơm mở giữa đường

Đã mất tình yêu trong gió rủi,

Không người thấu rõ đến nguồn thương !

Thiên hạ vô tình nhận ước mơ

Nhận rồi không hiểu mộng và thợ..

Người si muôn kiếp là hoa núi

Uống nhụy lòng tươi tặng khách hờ.

Thơ tình mùa xuân

Mùa xuân về trong tiếng ca chim,

Trên nước xanh sông, trong liễu rèm.

Chưa hái được hoa mang tặng em

Nên một cành thơ em tạm đem.

Ánh xuân mỗi sớm hồng tươi mướt,

Những ống khói cao bèn nhận trước.

Ruộng xanh đã cấy đến chân trời

Lóng lánh mạ soi mình xuống nước.

Chưa hái được hoa mang tặng em

Nên một cành thơ anh tạm đem.

Cây trồng – ta chẳng trồng nêu tết –

Những lá đầu tiên vừa nhú biếc.

Người đi chợ búa tiếng chân ran,

Quần láng mới thâm còn sột soạt.

Chưa hái được hoa mang tặng em

Nên một cành thơ anh tạm đem.

Trên cảnh đồng quê thấy xếp hàng

Chạy dài như tận cuối không gian

Những dàn sắt dựng như ren sắt

Dẫn điện chuyền đi xây hạnh phúc…

Chưa hái được hoa mang tặng em

Nên một cành thơ anh tạm đem.

Anh muốn mời em bước xuống thuyền,

Thuyền của đôi ta vào hiện thực

Dựa thế đêm tan, ngày sáng rực,

Thuyền ta đi dựng lấy thần tiên…

Đây một cành thơ anh tạm đem

Như nước xanh sông, như liễu rèm…

Ngẫm cho kỹ anh là người bạc bẽo,

Em yêu rồi, anh đã vội quên ngay

Mới hôm kia tình tự đến mê say

Sang bữa nay anh làm như mất hết

Anh đòi mãi như một kẻ keo kiệt,

Trong hồn anh tình ái chẳng lâu sao?

Anh không chắt chiu dành dụm tí nào,

Là đất xấu hạt gieo không nảy nở

Nên anh mới luôn luôn nghèo khổ

Giận hờn như anh chẳng được em yêu

Mà thật ra em yêu dấu rất nhiều

Ngẫm cho kỹ anh là người bạc bẽo.

Nụ cười Xuân

Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui

Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời

Sao buổi đầu xuân êm ái thế !

Cánh hồng kết những nụ cười tươi.

Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao

Cây vàng rung nắng lá xôn xao

Gió thơm phơ phất bay vô ý

Đem đụng cành mai sát cành đào

Tóc liễu buông xanh quá mỹ miều

Bên màu hoa mới thắm như kêu

Nỗi gì âu yếm qua không khí

Như thoảng đưa mùi hương mến yêu

Này lượt đầu tiên thiếu nữ nghe

Nhạc thầm lên tiếng hát say mê

Mùa xuân chin ửng trên đôi má

Xui khiến lòng ai thấy nặng nề…

Thiếu nữ bâng khuâng đợi một người

Chưa từng hẹn đến – giữa xuân tươi

Cùng chàng trai trẻ xa xôi ấy

Thiếu nữ làm duyên, đứng mỉm cười.

Xuân Rụng

Sắc tàn, hương nhạt, mùa xuân rụng!

Những mặt hồng chia rẽ hết cười.

Đỡ lấy đài xiêu, nưng lấy nhị,

Hồn ơi, phong cảnh cũng là ngươi!

Duyên mỏng bay theo đỡ sắc buồn,

Cho mình hoa rụng cứ xinh luôn.

Phút giây hoá bướm lìa cây dạo,

Đến đất không nghe một tiếng hờn.

Gió tuy nhiu nhíu chỉ đưa hơi,

Sương dẫu chưa buông lệ ám trời;

Nhưng bóng chiều mau sa nặng lắm,

Mà hoa thì nhẹ: cánh rơi… rơi…

Trên đồng lỏng lẻo khói giờ cơm,

Ấy lúc sao êm hiện mấy chòm.

Thần chết thướt tha nương bóng héo,

Bắt đầu đi nhặt những hồn thơm.

Bữa trước giêng hai dưới nắng đào,

Nhìn tôi cô muốn hỏi “vì sao?”

Khi tôi đến kiếm trên môi đẹp

Một thoáng cười yêu thoả khát khao.

Vì sao giáp mặt buổi đầu tiên,

Tôi đã đày thân giữa xứ phiền,

Không thể vô tình qua trước cửa,

Biết rằng gặp gỡ đã vô duyên? –

Ai đem phân chất một mùi hương

Hay bản cầm ca! Tôi chỉ thương,

Chỉ lặng chuồi theo dòng xảm xúc

Như thuyền ngư phủ lạc trong sương

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!

Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…

Cô hãy là nơi mấy khóm dừa

Dầm chân trong nước, đứng say sưa,

Để tôi là kẻ qua sa mạc

Tạm lánh hè gay; – thế cũng vừa.

Rồi một ngày mai tôi sẽ đi.

Vì sao, ai nỡ bỏ làm chi!

Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá

Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì.

Hoa Cau

Đôi ta giàu lắm, bởi thêm nhau

Là cả nhân gian lại bắt đầu

Lại mới trời xanh, thanh nước biếc

Như vườn sáng sớm nở hoa cau

Hoa cau nứt mở tủa hoa ngà

Ánh sáng cùng hương lấp lánh hoa

Anh muốn tặng em hương thoảng ấy

Vô cùng dịu mát với sâu xa

Tình ta như thể nhánh hương cau

Cuốn cả vườn theo sức nhiệm mầu

Chim chóc ríu ran dan díu hót

Đôi ta giàu lắm, bởi thêm nhau