Top 7 # Bài Thơ Sóng Sgk Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Soạn Bài Lượm Trang 72 Sgk Văn 6

Câu 1: Bài thơ Lượm của Tố Hữu kể và tả về Lượm qua những sự việc nào, bằng lời của ai? Dựa theo trình tự kể ấy em hãy tìm bố cục của bài thơ.

Câu 1: Bài thơ Lượm của Tố Hữu kể và tả về Lượm qua những sự việc nào, bằng lời của ai? Dựa theo trình tự kể ấy em hãy tìm bố cục của bài thơ.

Trả lời:

Bài thơ kể và tả về Lượm qua hồi tưởng, tưởng tượng của tác giả. Trong không khí tang thương và chết chóc của những ngày đổ máu ở Huế, người chú tình cờ gặp cháu – chú bé Lượm nhỏ tuổi, dễ thương, lạc quan trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp.

-   Lượm đã vượt bao khó khăn, nguy hiểm để làm nhiệm vụ và đã hi sinh trên cánh đồng lúa quê hương.

*  Bố cục của bài thơ: ba đoạn:

Câu 2: Hình ảnh Lượm trong trong đoạn thơ từ khổ thứ hai đến khổ thứ năm dã được miêu tả như thế nào qua cái nhìn của người kể (trang phục, hình dáng, cử chỉ, lời nói)? Sự miêu tả đã làm nổi bật ở hình ảnh Lượm những nét gì đáng yêu, đáng mến?

Các yếu tố nghệ thuật như từ láy, vần, nhịp, so sánh trong đoạn thơ đã có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện hình ảnh Lượm?

Trả lời:                                                                                

Hình ảnh Lượm được thể hiện từ khổ hai đến khổ năm được miêu tả sinh động và rõ nét qua các chi tiết nghệ thuật:       

-   Hình dáng: Cái sắc xinh xinh, Ca lô đội lệch. Trang phục của Lượm giống như trang phục của các chiến sĩ vệ quốc thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhưng Lượm còn rất bé nên cái sắc bên mình chỉ “ xinh xinh Còn chiếc mũ ca lô thì đội lệch thể hiện một dáng vẻ hiên ngang và hiếu động của tuổi trẻ.

-    Dáng điệu: loắt choắt nhỏ bé nhưng nhanh nhẹn và tinh nghịch (Cái chân thoăn thoắt, Cái đầu nghênh nghênh).

-   Cử chỉ: rất nhanh nhẹn (Như con chim chích), hồn nhiên, yêu đời (huýt sáo, cười híp mí).

-   Lời nói: tự nhiên, chân thật (Cháu đi liên lạc, Vui lắm chú à, ở đồn Mang cá thích hơn ở nhà!).

*   Các yếu tố nghệ thuật như từ láy (loắt choắt, thoăn thoắt, nghênh nghênh… vần gieo (choắt – thoắt, nghênh – lệch, vang – vàng…), nhịp thơ nhanh cùng hình ảnh so sánh (Như con chim chích…) góp phần thể hiện hình ảnh Lượm – một em bé liên lạc hồn nhiên, vui tươi, say mê tham gia công tác kháng chiến thật đáng mến, đáng yêu. Câu 3: Nhà thơ đã hình dung miêu tả chuyến đi liên lạc cuối cùng và sự hi sinh Lượm như thế nào? Hình ảnh Lượm gợi cho em cảm xúc gì?

Trong đoạn thơ này có những câu thơ và khổ thơ được cấu tạo đặc biệt. Em tìm những câu thơ và khổ thơ ấy, nêu tác dụng của nó trong việc biểu hiện cảm của tác giả.

Trả lời:

Nhà thơ đã hình dung ra sự hi sinh của Lượm trong chuyến đi liên lạc cuối cùng cũng như bao lần làm nhiệm vụ, Lượm dũng cảm và nhanh nhẹn, hăng hái quyết hoàn thành nhiệm vụ không nề nguy hiểm:

Vụt qua mặt trận

Đạn bay vèo vèo

Thư đề ‘Thượng khẩn”

Sợ chi hiểm nghèo?

Nhưng rồi:

Bỗng loè chớp đỏ

Thôi rồi, Lượm ơi!

Chú bé đã hi sinh dũng cảm giữa tuổi thiếu niên hồn nhiên, đầy hứa hẹn của một cuộc đời đã được chắp cánh cùng cách mạng. Nhưng nhà thơ không dừng lâu ở nỗi đau xót, ông cảm nhận được sự hi sinh của Lượm có một vẻ thiêng liêng cao cả như một thiên thần bé nhỏ yên nghi giữa cánh đồng quê hương với hương thơm lúa non thanh khiết bao phủ quanh em và linh hồn nhỏ bé ấy đã hoá thân vào với thiên nhiên đất nước (Cháu nằm trên lúa, Tay nắm chặt bông, Lúa thơm mùi sữa, Hồn bay giữa đồng).

Những câu thơ, khổ thơ có cấu tạo đặc biệt:

Ra thế Lượm ơi …

Biểu hiện sự đau đớn, sửng sốt đến lặng người.

-  Thôi rồi, Lượtn ơi!

Hình dung lại sự việc mà tác giả tưởng như phải chứng kiến cái giây phút đau đớn ấy nên không kìm lòng được, lại thốt lên lời đau đớn.

-  Lượm ơi, còn không?

Câu thơ được tách ra thành một khổ thể hiện tiếng gọi vừa thân thương vừa thống thiết kết hợp với câu hỏi tu từ như muốn nhấn mạnh, hướng người đọc suy nghĩ về sự còn hay mất của Lượm.

Câu 4: Trong bài thơ, người kể chuyện đã gọi Lượm bằng nhiều từ xưng hô khác nhau. Em hãy tìm những từ ấy và phân tích tác dụng của sự thay đổi cách gọi này đối với việc biểu hiện thái độ, quan hệ tình cảm của tác giả với Lượm.

Trả lời:

Trong bài thơ, người kể đã gọi Lượm bằng nhiểu đại từ xưng hô khác nhau:

-   Chú bé: cách gọi của một người lớn tuổi với một em trai nhỏ, thể hiện sự thân mật nhưng chưa phải là gần gũi, thân thiết.

-   Cháu: cách gọi biểu lộ tình cảm gần gũi, thân thiết như quan hệ ruột thịt của người lớn với một em nhỏ.

-   Chú đồng chí nhỏ: cách gọi vừa thân thiết, trìu mến vừa trang trọng đối với một chiến sĩ nhỏ tuổi.

-   Lượm ơi: dùng khi tình cảm, cảm xúc của người kể lên đến cao độ, thể hiện ra trong cách gọi tên kèm theo những từ cảm thán: Thôi rồi, Lượm ơi và Lượm ơi, còn không?

Câu 5: “Lượm à, còn không?”, câu thơ đặt cuối bài như một câu hỏi đầy đau xót sau sự hi sinh của Lượm. Vì sao sau câu thơ ấy tác giả lặp lại hai khổ thơ ở đoạn đầu với hình ảnh Lượm hồn nhiên, vui tươi?

Trả lời:

Sau câu thơ: Lượm ơi, còn không? nhà thơ lặp lại hai khổ thơ ở đoạn đầu với hình ảnh Lượm hồn nhiên vui tươi là để trả lời cho câu hỏi tu từ này. Nhà thơ khẳng định Lượm sẽ và vẫn sống mãi cùng thời gian, trong lòng nhà thơ, trong tình thương nhớ, cảm phục của đồng bào Huế, trong chúng ta và các thế hệ mai sau.

Bài 12: Treo Biển (Trang 77 Sgk Ngữ Văn 6 Vnen)

1. Kể tên một số truyện cười mà em đã đươc nghe, được học. Kể lại một trong số các truyện cười đó.

Trả lời:

– Một số truyện cười em biết: Thầy bói xem voi, Thừa một miếng, Tết quan, Thách cưới, Lợn cưới áo mới, …

– Truyện Thừa một miếng:

Có bốn ông cùng đi ăn cỗ cưới. Cỗ nhà người ta có giò, nem, ninh, mọc. Trời tối rồi mà không có thêm khách. Nhà chủ đành phải châm đèn ba giây rồi mời bốn ông vào ngồi mâm, mặc dù cỗ đã đóng năm…

Những món ăn khác thì không kể đến, nhưng giò lụa thì chia năm nên chắc chắn thừa một miếng

Một ông nghĩ thầm trong bụng:

– Giá như trời nổi gió tắt đèn, mình sẽ chén một miếng, như thế vẫn còn bốn miếng vừa bốn người.

Cầu sao được ước thấy. Một cơn gió lộng làm đèn tắt thật. Quanh mâm cỗ, ai nấy đều im như tờ không thấy ai giục nhà chủ mau châm đèn. Đến khi nhà chủ châm được đèn lên thì cả bốn ông nhìn thấy đĩa giò chỉ còn một miếng khiến ai cũng bàng hoàng.

2. Theo em mục đích của truyện cười là gì? Tại sao truyện cười lại khiến mọi người thấy thích thú.

Trả lời:

– Mục đích của truyện cười là:

+ Tạo ra tiếng cười

+ Nhằm đả kích, phê phán những thói hư tậ xấu trong xã hội.

– Truyện cười làm cho mọi người cảm thấy thích thú là vì mục đích gây tiếng cười của nó, nó phản ánh các thói xấu và truyền đạt cho con người bài học ý nghĩa.

B. Hoạt động hình thành kiến thức

2. Tìm hiểu văn bản.

(1) Trong truyện Treo biển, nhân vật nào khiến người khác chê cười?

(2) Nhân vật bị chê cười vì lý do gì?

(3) Trong truyện, chi tiết nào gây cười rõ nét nhất?

(4) Qua truyện cười treo biển, tác giả dân gian muốn khuyên nhủ chúng ta điều gì?

Trả lời:

(1) Nhân vật bị chê cười là người chủ cửa hàng bán cá.

(2) Nhân vật bị chê cười vì không có chính kiến, vòng vo và có một kết quả nực cười.

(3) Chi tiết gây cười rõ rệt nhất đó chính là chủ cửa hàng nghe thấy ai nói cũng có lý và cuối cùng cất luôn cái biển hiệu.

(4) Tác giả dân gian muốn khuyên nhủ chúng ta cần phải có chủ kiến và biết suy xét mọi vấn đề dưới cái nhìn tổng quát chứ không nên vội vàng tin người khác.

b. Qua việc tìm hiểu truyện Treo biển, em hãy cho biết: Thế nào là truyện cười (Mục đích, đối tượng, nghệ thuật gây cười,.. )?

Trả lời:

Truyện cười là truyện kể về các hiện tượng đáng cười trong cuộc sống thường ngày, có mục đích tạo ra tiếng cười mua vui hoặc phê phán các thói hư, tật xấu trong xã hội.

3. Tìm hiểu về số từ và lượng từ

a1. […] Chợt thấy một anh, tính cũng hay khoe khoang, đang tất tưởi chạy đến…

a2. Hai chàng tâu đồ hỏi sính lễ cần chuẩn bị những gì, nhà vua đáp: ” Một trăm ván cơm nếp, một trăm tệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.

a3. Tục truyền dưới thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng gióng có hai vợ chồng ông lão rất chịu khó làm ăn và có tiếng phúc đức.

(1). Viết vào ô trống các số từ dùng để chỉ từ chỉ số lượng hay thứ tự trong các câu trên:

Trả lời:

(2). Điền từ ngữ phù hợp vào chỗ trống để nắm vững các đặc điểm (về ý nghĩa và vị trí) của số từ:

– Về ý nghĩa: Số từ là các từ chỉ………………

– Về vị trí trong cụm từ: Số từ chỉ số lượng thường hay đứng……… danh từ; số từ chỉ thứ tự thường đứng………… danh từ.

Trả lời:

– Về ý nghĩa: Số từ là các từ chỉ số lượng hay thứ tự của sự vật.

– Về vị trí trong cụm từ: Số từ chỉ số lượng thường đứng trước danh từ; số từ chỉ thứ tự thường đứng sau danh từ.

b. Đọc câu và đoạn trích sau đây, chú ý các từ được in đậm:

– Vài hôm sau, người hàng xóm sang chơi, nhìn thấy cái biển, nói: …

– Các hoàng tử phải cởi giáp xin đầu hàng. Thạch Sanh sai quân dọn một bữa cơm để thiết đãi những kẻ thua trận. Cả mấy vạn tướng lĩnh, quân sĩ thấy Thạch Sanh chỉ cho mang ra vẻn vẹn một cái niêu cơm tí xíu, nên bĩu môi không muốn cầm đũa.

– vài, mấy, dăm, những, các, mươi,….

– nghìn, trăm, triệu,…

– đống, tá, khối, chục,…

Trả lời:

Tập hợp trên đều là lượng từ vì đều để chỉ lượng nhiều hay ít của sự vật.

4. Tìm hiểu về các cách thức, đặc điểm kể chuyện tưởng tượng.

a. Xem lại truyện: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng (hoạt động tìm tòi mở rộng, bài 11) và cho biết: Trong truyện, những chi tiết nào dựa trên việc có thật, những chi tiết nào là tưởng tượng ra?

Trả lời:

– Chi tiết tưởng tượng: Các bộ phận Tai, Mắt, Chân, Miệng, Tay có tên riêng, có nhà riêng, biết suy nghĩ, biết nói chuyện, có hành động và có cảm xúc giống con người: so bì, tỵ nạnh, phản đối, biết nhận lỗi.

– Chi tiết có thật:

+ Tất cả đều là các bộ phận trên thân thể con người. Mỗi một bộ phận đều có chức năng riêng, vai trò riêng và đều quan trọng như nhau.

+ Nếu các bộ phận ko làm các công việc của mình thì miệng ko có cái để ăn dẫn đến việc tất cả mệt mỏi rã rời.

b. Cho biết các tình huống sau đây, tình huống nào dựa vào việc có thật, tình huống nào cần được kể lại theo cách thức kể chuyện tưởng tượng?

– Một đêm nằm mộng, em vươn vai bỗng nhiên trở thành Thánh Gióng.

– Tưởng tượng cuộc đọ sức giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh trong điều kiện ngày nay.

– Chuyện cô Tấm luôn được ông Bụt hiện lên để giúp đỡ.

– Một người bạn tốt không may bị bà phù thủy hô biến thành cá.

Trả lời:

Đánh số các tình huống theo thứ tự là (1), (2), (3), (4), ta thấy:

– Tình huống dựa vào sự thật là: (2)

– Chi tiết nào cần được kể lại theo cách thức kể của chuyện tưởng tượng: (1), (3), (4)

c. Xem lại các truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh, Thánh Gióng, Chân, Tay, tai, Mắt, Miệng,... và cho biết: Muốn kể một câu chuyện tưởng tượng hấp dẫn, em cần phải làm gì?

Trả lời:

Điều kiện để có thể kể một câu chuyện tưởng tượng hấp dẫn hơn:

– Trí tưởng tượng phong phú phù hợp với mức độ phong phú của câu chuyện.

– Câu chuyện cần có tính sáng tạo dựa trên các chi tiết có thật, hợp lý, thú vị.

C. Hoạt động luyện tập

1. Thi kể chuyện cười.

… Mặt trời lại rọi lên ngày thứ sáu của tôi….. là nhịp cánh…

Trả lời:

3. Luyện tập kể chuyện tưởng tượng.

Dựa vào những tình huống kể chuyện tưởng tượng vừa được nêu ra ở Hoạt động hình thành kiến thức câu 4, mục b, em hãy tự ra đề văn kể chuyện tưởng tượng, sau đó lập dàn ý cho đề văn đó.

Trả lời:

Lập dàn ý cho đề văn: Một đêm nằm mộng em vươn vai bỗng trở thành Thánh Gióng.

Mở bài: Em giật mình tỉnh giấc và thấy mình vẫn là một đứa trẻ, nỗi bàng hoàng ùa về trong tâm trí em.

Thân bài:

– Em nhớ lại buổi tối hôm trước em đã làm gì trước khi đi ngủ.

– Bối cảnh khi em đang trong giấc mơ: Em là một tráng sĩ có thân hình cao lớn, mặc giáp sắt, cưỡi trên lưng con ngựa sắt, cầm roi sắt. Trong em cảm nhận như có một sức mạnh vô biên, có thể thúc được con ngựa sắt lao vào chiến trận.

– Em nhận ra rằng mình đã biến thành Thánh Gióng, trước mặt em là cả một đội quân hùng hậu, đó là những tên giặc Ân đang muốn cướp nước.

– Lòng yêu nước dâng lên trong em mãnh liệt, em lao vào chiến trận, cầm roi sắt quật vào quân giặc, quân giặc cứ ngả dần ngả dần. Bỗng nhiên roi sắt gãy, em nhìn thấy cụm tre bên đường, em nhổ tre và quật tới tấp vào giặc, quân giặc tan tác chạy về.

– Bỗng đâu có tiếng gọi văng vẳng bên tai: “Mạnh ơi dậy đi con! “. Em bừng mở mắt, thì ra đó là chỉ là một giấc mơ.

Kết bài: Dù chỉ là giấc mơ nhưng em đã được hóa thân vào nhân vật Thánh Gióng, người anh hùng trong truyền thuyết của dân tộc, đó cũng là điều khiến em cảm thấy hào hứng vô cùng.

4. Luyện tập viết bài văn kể về chuyện đời thường.

Chọn và thực hiện các một trong các đề văn sau:

a. Hằng ngày em được chứng kiến hoặc được kể cho nghe rất nhiều chuyện người thật việc thật. hãy kể lại một trong số các câu chuyện mà em được nghe hoặc biết.

b. Kể về một kỉ niệm đáng nhớ. (gặp may, gặp rủi, được khen, bị chê, bị hiểu nhầm,… )

c. Kể về một cuộc gặp gỡ (gặp một người thân, đến thăm các chú bộ đội, gặp một bạn học sinh nhà nghèo vượt khó,… )

Trả lời:

Chọn đề c: Kể về cuộc gặp gỡ một người thân.

Tết sắp đến, gia đình em cũng như những gia đình khác đang tấp nập chuẩn bị dọn dẹp nhà cửa, mua lá dong làm bánh chưng… chuẩn bị đón năm mới. Nghe bố em nói năm nay chú Hới đang sống trong Nam sẽ về quê ăn tết. Hai năm chú Hới mới về quê một lần, ai cũng mong chú về. Ngày Tết Ông Táo 23 tháng Chạp, cả nhà đang chuẩn bị làm lễ cúng thì chú đứng ngoài cổng gọi vào.

Nhìn thấy chú với những túi đồ cồng kềnh trên tay ai cũng ngạc nhiên vì chú về sớm hơn so dự kiến. Bà nội nghe thấy tiếng chú gọi thì rất vui mừng, bà em chạy thật nhanh ra đón chú với niềm xúc động, bà cười trong sự mừng rỡ. Bố mẹ em cũng thấy rất bất ngờ, và cả em cũng vậy. Cả nhà đang dở việc nhưng ai cũng dừng tay để đón chú vào nhà. Chú ở xa đã lâu, lần nào chú về em cũng rất xúc động. Chú rất thương và quan tâm em, cứ mỗi lần về là chú lại tặng em một phong bao lì xì, chú cũng dẫn em đi mua quà và đồ chơi. Em reo lên và chạy ra ôm chú, chú thấy em liền cười và nói: “Chà, con bé đã lớn thế này rồi đấy! “. Em mừng lắm, chú vẫn hiền hậu và vui tính như ngày nào.

Cả nhà cùng đi vào trong, bố em xách bớt đồ cho chú, hỏi han tình hình sức khỏe và công việc. Bà nội em thì vui mừng vì năm nay cả nhà đoàn tụ đông đủ để cùng đón tết. Bà vội đi chuẩn bị các thứ để đón con về. Chú đi đường xa cũng khá mệt, xếp đồ vào nhà gọn rồi chú ngồi nghỉ ngơi. Sau khi bà và bố mẹ làm lễ cúng xong thì cả nhà cùng quây quần bên mâm cơm ấm cúng.

Cuộc gặp gỡ, chào đón chú Hới về nhà thật là xúc động và bất ngờ khiến em vẫn rất ấn tượng và nhớ mãi.

D. Hoạt động vận dụng

Trả lời:

2*. Cho đề văn sau: Hãy tưởng tượng và kể lại một câu chuyện mười năm sau em quay trở về thăm ngôi trường Tiểu học hay trường Trung học cơ sở của mình.

Viết một đoạn văn tưởng tượng theo đề văn cho trên, trong đó có dùng số từ và lượng từ. Gạch chân dưới lượng từ và số từ trong bài.

Trả lời:

Sau bao biến cố thăng trầm trong cuộc sống, tôi đã trở thành một nhà biên kịch, tuy chưa nổi danh nhưng được làm công việc mình yêu thích và có thu nhập đủ trang trải cho cuộc sống với tôi như vậy là hạnh phúc rồi. Nay có dịp trở về ngôi trường cũ. Hôm đó là ngày chủ nhật nên ngôi trường cũng yên ắng hơn ngày thường. Nhìn cây xà cừ, cây bàng, cây phượng vĩ không thấy chúng lớn thêm bao nhiêu, chúng vẫn cứ đứng lặng im một chỗ như trước đây. Bao nhiêu kỷ niệm thời học trò lại ùa về, tâm trí tôi tràn ngập những tiếng cười nói rộn ràng của những người bạn ngày xưa, những bài giảng bổ ích của thầy cô… Sân trường ngày chủ nhật thật là vắng, nhìn xung quanh tôi thấy một người đàn ông. Đó là bác bảo vệ, bác đã làm ở đây từ khi tôi còn cắp sách đến trường. Sau nhiều năm, dáng người bác vẫn gầy gầy như thế, làn da ngăm đen và tiếng nói vẫn nhẹ nhàng. Nhưng giờ đây, trên gương mặt bác đã hằn những nếp nhăn, mái tóc cũng đã lấm tấm bạc. Ôi mái trường thân yêu của tôi, bao ngày tôi mới được trở về nơi đây, thật xúc động quá.

– Số từ: một, mười

– Lượng từ: Những, các

E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

1. Hỏi người thân: Chủ kiến là gì? Tại sao cần giữ chủ kiến của bản thân khi nghe người khác góp ý?

Trả lời:

– Chủ kiến là ý kiến của bản thân.

– Cần giữ chủ kiến của bản thân khi nghe người khác góp ý là vì đó là ý kiến độc lập của mình, đó là lập trường của mình và thể hiện bản thân mình là khác biệt với người khác.

– Đẽo cày giữa đường

– Lợn cưới, áo mớiBài trước: Bài 11: Cụm danh từ (trang 72 sgk Ngữ văn 6 VNEN)Bài tiếp: Bài 13: Ôn tập truyện dân gian (trang 83 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN)

Ôn Tập Bài Chiều Tối ( Mộ) Sgk Ngữ Văn 11

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới. Người không chỉ là một nhà cách mạng kiệt xuất mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn. Người để lại một khối lượng sáng tác lớn với nhiều tác phẩm có giá trị. Một trong số đó là bài thơ “Chiều tối”. (Nêu vấn đề theo đề bài)

Bài thơ thuộc tập thơ “Nhật kí trong tù” – viết trong khoảng thời gian người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp các nhà lao ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). “Chiều tối” là bài thứ 31 trong 134 bài của tập thơ, được gợi cảm hứng trong lần Người bị giải đi từ nhà lao Tĩnh Tây sang nhà lao Thiên Bảo. Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.

Hai câu đầu: khung cảnh thiên nhiên núi rừng Quảng Tây buổi chiều tối.“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. (“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ, Cô vân mạn mạn độ thiên không”.) Bằng bút pháp chấm phá trong thơ cổ, chỉ với vài nét vẽ “chim” và “mây”, Bác đã vẽ ra bức tranh núi rừng Quảng Tây buổi chiều tối. Trong thơ ca cổ, hình ảnh cánh “chim” thường tượng trưng cho thời gian chiều tối: “Chim bay về núi tối rồi” (Ca dao) “Chim hôm thoi thót về rừng” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du) Thế nên, ngay đầu bài thơ, dù không có một từ chỉ thời gian nhưng người đọc vẫn cảm nhận được không gian sắp về tối. Tuy nhiên, thi liệu cổ ấy (“chim”) đã được Bác vận dụng sáng tạo. Trong thơ xưa, hình ảnh cánh chim thường được miêu tả qua trạng thái bên ngoài của nó (bay). Còn trong thơ Bác, Người cảm nhận sâu sắc trạng thái bên trong của nó : “chim mỏi” sau một ngày kiếm ăn vất vả. Tấm lòng thương yêu vô bờ bến của con người “chỉ biết quên mình cho hết thảy” đã đồng cảm với cánh chim mỏi mệt ấy. Bức tranh núi rừng buổi chiều muộn còn có “mây”. Đây cũng là thi liệu quen thuộc trong thơ ca cổ điển: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” ( Thu điếu – Nguyễn Khuyến) “Cô vân độc khứ nhàn” (Lưng trời thơ thẩn đám mây một mình – Thơ Lí Bạch) Nếu như hình ảnh đám mây trong thơ ca xưa thường gợi ra sự nhàn tản, thoát tục của một nhà nho tìm về với chốn làng quê ẩn dật thì trong thơ Bác, nó là hình ảnh của hiện thực. Trên đường chuyển lao, ánh mắt Bá hướng lên cao và bắt gặp đám mây trôi chầm chậm, lơ lửng (“mạn mạn”) trên bầu trời. Đám mây ấy gợi ra không gian tĩnh lặng nhưng cũng thanh bình, thơ mộng của vùng rừng núi buổi chiều muộn. Những cụm từ “quyện điểu” (chim mỏi) và “cô vân” (đám mây lẻ) vừa gợi tả cảnh, vừa gợi lên tâm trạng của con người. Sau một ngày bị giải đi bộ vất vả trên đường rừng núi gập ghềnh, chân tay lại bị xiềng xích, chờ đợi phía trước lại là một nhà lao khác chật chội, bẩn thỉu; lại đang ở nơi đất khách quê người nên Bác cũng cảm thấy mệt mỏi, cô đơn. Tuy vậy, ánh mắt Bác vẫn hướng lên bầu trời, đồng cảm với cánh chim “mỏi”, thả hồn theo đám mây lẻ trôi lững lờ. Phải có một tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết và một phong thái ung dung, tự tại, vượt lên trên hoàn cảnh thì mới có thể chan hòa cùng với thiên nhiên như thế. Hai câu đầu vừa đậm màu sắc cổ điển với bút pháp chấm phá và những hình ảnh thơ cổ; vừa đậm tính hiện đại với vẻ đẹp tâm hồn của người tù – chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là “chất tình” dào dạt và chất “thép” cứng cỏi thường gặp trong thơ Người.Hai câu sau: Bức tranh cuộc sống con người miền sơn cước:“Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết lò than đã rực hồng”. (“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”.) Trên con đường chuyển lao, ánh mắt người tù cộng sản nhận ra người lao động trong công việc: cô gái xóm núi xay ngô. Cũng như các nhà thơ, nhà văn xưa, tấm lòng nhân đạo của họ hướng về những con người yếu đuối: người phụ nữ có số phận bất hạnh (Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; nàng Vũ Nương trong truyện “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ; nàng chinh phụ lẻ loi chờ chồng trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn…); Bác cũng hướng tới người phụ nữ, nhưng trong thơ Bác, đó lại là một người phụ nữ lao động bình thường, giản dị trong lao động. Đó chính là tình yêu thương của một chiến sĩ cộng sản đối với con người thuộc giai cấp vô sản, nhân dân lao động – đối tượng mà người dành cả cuộc đời mình đấu tranh vì họ. Điệp ngữ “ma bao túc” ở cuối câu ba được lặp lại ở đầu câu bốn, gợi tả những vòng xoay liên tục, liên tục của cái cối xay ngô. Những vòng xoay liên tục ấy gợi ra không khí làm việc miệt mài, chăm chỉ và vẻ đẹp khỏe khoắn trong lao động của cô gái xóm núi. Cuối bài thơ là chữ “hồng”, được xem là “nhãn tự” của bài thơ. Một chữ “hồng” gợi không gian sáng rực, gợi không khí ấm áp, tươi vui. Thế đấy, dù đang mệt mỏi, cô đơn là thế, chỉ cần nhìn thấy người lao động cần cù, chăm chỉ trong cuộc sống đời thường, tâm hồn Bác đã rực lên niềm vui, ấm áp trở lại. Không như quy luật thông thường, chiều rồi chuyển dần về tối, cuối bài thơ lại là không gian sáng rực. Cái tài tình của Bác cũng là ở chỗ này. Cả bài thơ không có một chữ “tối”, thế mà người đọc vẫn thấy thời gian đã về tối rồi. Chính cái ánh lửa đỏ rực của lò than khiến người ta nhận ra điều đó, bởi trời có tối thì nhìn từ xa mới thấy được ánh lửa đỏ rực lên. Cùng với sự vận động của thời gian là sự vận động trong tư tưởng của Người: từ buồn sang vui, từ lạnh lẽo cô đơn sang ấm nóng tình người. Bác là thế đấy: dạt dào tình yêu – yêu con người, yêu cuộc sống mà vẫn luôn cứng cỏi, kiên cường, luôn lạc quan, yêu đời, luôn hướng về ánh sáng, tương lai. Hình ảnh con người trở thành trung tâm của bức tranh thiên nhiên và mạch thơ vận động hướng về sự sống, về ánh sáng ấy khiến hai câu sau đậm tính hiện đại. Cả bài thơ chỉ với hai mươi tám chữ mà chứa đựng biết bao nhiêu cảm xúc, ý nghĩa. Người đọc không thể nào quên được một tâm hồn thi sĩ chan chứa tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người, yêu cuộc sống và cũng không thể nào quên được bản lĩnh “thép” của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh – dù trong hoàn cảnh nào vẫn luôn ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, vượt lên trên tất cả để vui với niềm vui của người lao động, để hướng về phía ánh sáng, tương lai. Tóm lại, “Chiều tối” là một trong những bài thơ tiêu biểu của tập “Nhật kí trong tù”. Sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển và tinh thần hiện đại làm bài thơ vừa có dáng dấp của một bài thơ tứ tuyệt cổ kính vừa mang đậm tinh thần thời đại. Bài thơ vẽ ra bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người miền sơn cước mà Bác thấy trên đường chuyển lao, từ đó người đọc thấy được tình yêu thiên nhiên, cuộc sống; tinh thần lạc quan yêu đời, luôn hướng về ánh sáng, tin tưởng vào tương lai của thi sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh. Bài thơ là minh chứng tiêu biểu cho “những vần thơ thép” mà vẫn “mênh mông bát ngát tình” của Bác. Nghệ thuật cả bài thơ: Với hệ thống từ ngữ cô đọng, hàm súc, thủ pháp đối lập, điệp liên hoàn…bài thơ bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh.

Vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh: yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống; kiên cường vượt lên trên hoàn cảnh, luôn ung dung, tự tại và lạc quan trong mọi cảnh ngộ đời sống.

LUYỆN TẬP BÀI CHIỀU TỐI

Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau: Đề 1: Phân tích bài thơ “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh. Đề 2: Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh.

Bài viết sưu tầm.

Cảm Nhận Hình Tượng Sóng Và Em Trong Bài Thơ Sóng

Xuân Quỳnh là một nữ sĩ đa tài, là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ những nhà thơ trẻ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xuân Quỳnh mang trong mình một hồn thơ vừa trong sáng, hồn nhiên, vừa trực cảm, giàu suy tư mà lại không kém phần mãnh liệt, táo bạo. Bài thơ “Sóng” của nữ sĩ được mệnh danh là “một bài thơ tình vượt thời đại”, điển hình cho hồn thơ của Xuân Quỳnh. Sức sống của thi phẩm một phần là nhờ vào sự sáng tạo thành công hai hình tượng “sóng” và “em”, vừa song hành, vừa tách biệt cất lên tiếng nói mãnh liệt của tình yêu.

Xuân Quỳnh không phải là người đầu tiên, cũng chẳng phải người duy nhất lấy hình tượng “sóng” để nói về tình yêu, song “sóng” của Xuân Quỳnh lại mang một tiếng nói rất riêng, tiếng nói của tâm hồn một cô gái trẻ, nhiệt huyết và khao khát tình yêu đích thực.

“Sóng” và “em” đều gắn liền những quy luật. Mượn quy luật của sóng trong tự nhiên, nhà thơ đã khái quát lên những quy luật tình yêu của người con gái:

Các tính từ chỉ những trạng thái đối lập “dữ dội, ồn ào” với “dịu êm, lặng lẽ” dường như đã phản ánh những quy luật của tự nhiên, của sóng biển, lúc mạnh mẽ cuộn trào trong giống tố, khi lại yên bình, đằm thắm xô bờ. Sóng là một hiện tượng tự nhiên chứa đựng nhiều đối cực, cũng giống như tâm tư của người con gái trong tình yêu đầy biến động, đa cung, nhiều bậc, lúc dỗi hờn giận dữ vô cớ, khi lại dịu dàng, ngọt ngào ấm áp đến lạ lùng. Và tình yêu cũng như vậy, không phải là một trạng thái cảm xúc thống nhất, mà nó cũng mang những sắc thái khác nhau, luôn đổi thay, chuyển hoá phức tạp như những nốt thăng trầm trong bản tình ca đôi lứa muôn đời.

“Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

Hình ảnh sóng tồn tại trong nhiều không gian và chiều kích khác nhau “sông” với “bể”. Câu thơ như phản ánh một xu thế chung của tự nhiên: mọi dòng sông đều đổ ra biển lớn, như sóng, muốn thoát khỏi không gian chật hẹp để tiến đến không gian rộng lớn bao la. Đây là một trong những nét tiêu biểu của tiếng thơ Xuân Quỳnh – mãnh liệt và táo bạo. Trong tình yêu, “em” – người con gái cũng thế, hành trình sóng ra biển lớn cũng như hành trình người con gái dấn thân, thoát ra khỏi giới hạn cá nhân hạn hẹp để kiếm tìm sự đồng điệu và sẻ chia.

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

Nếu trong những câu thơ trước, sóng hiện lên trong những trạng thái và không gian đối lập, thì đến đây, nhà thơ đặt sóng trong những chiều không gian khác nhau “ngày xưa”, “ngày sau”. Đây cũng là một quy luật tự nhiên: sóng chẳng bao giờ có thể ngừng vỗ, cũng như trái tim người con gái trong tình yêu chẳng bao giờ thôi vang lên những nhịp đập bồi hồi, những rung động mãnh liệt. Tình yêu chính là sự vĩnh hằng, tồn tại song hành cùng với sức sống muôn đời.

Mượn những quy luật của sóng trong tự nhiên, nhà thơ đã khái quát lên những quy luật trong tình yêu. Từ con sóng của tự nhiên, nó bỗng biến thành con sóng tình, đại diện cho tâm hồn người con gái, tâm hồn “em” – một người con gái cá tính, tinh tế, chủ động với một trái tìm chân thành và giàu trực cảm.

Không những thế, “sóng” và “em” còn song hành với nhau, cất lên những băn khoăn, trăn trở trong tình yêu. Trước hết là nỗi băn khoăn, khao khát đi tìm nguồn cội của tình yêu:

“Từ khi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?”

Khao khát kiếm tìm và lý giải nguồn gốc của tình yêu, có lẽ là khao khát muôn đời của đôi lứa yêu nhau, bởi mong muốn tìm hiểu cũng là mong muốn được chiếm hữu, được nắm giữ. Rõ ràng, “em” không chỉ muốn cảm nhận tình yêu, mà còn suy tư về nó, từng bước đi tìm đến nguồn cội của thứ cảm xúc ấy. Thế nhưng, câu trả lời lại vừa là lời thú nhận chân thật, cũng vừa là sự thức nhận của nữ sĩ

“Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau?”

Bởi lẽ, tình yêu là sự huyền diệu của cuộc sống, mà ta phải tự cảm nhận nó, chứ không thể định nghĩa, hay lí giải được. “Khi nào ta yêu nhau?”, khi nào em yêu anh, từ ánh mắt, từ nụ cười hay là từ những phút giây và đôi tim cùng vang lên những nhịp sẻ chia, đồng điệu?. Vì sao mà yêu, yêu tự bao giờ, liệu rằng có còn quan trọng hay không khi ta biết rằng ta yêu nhau và chỉ cần có thế. Muốn hiểu được tình yêu cũng chính là muốn nắm giữ tình yêu đó trong tay, bởi vậy, cất lên từ lời trăn trở ấy, là cả một trái tim mê say, nồng thắm.

Đã yêu, ai mà chẳng nhớ, người con gái khi xưa lấy khăn mà nói nhớ “Khăn thương nhớ ai/Khăn rơi xuống đất/ Khăn thương nhớ ai/ Khăn vắt lên vai/ Khăn thương nhớ ai/ Khăn chùi nước mắt”. Còn Xuân Quỳnh mượn những nhịp sóng nhớ thương để nói lên tiếng lòng của chính mình:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được”

Con sóng hiện lên trong những không gian và thời gian đối lập “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”; “ngày” và “đêm”. Điệp từ “con sóng” và điệp cấu trúc câu thơ kết hợp với biện pháp nhân hoá khiến sóng như một chủ thể trữ tình “nhớ bờ” đến “không ngủ được”. Nỗi nhớ luôn dâng trào, hiện hữu dù là ở nơi đâu, hay bất cứ khi nào. Nhịp điệu miên man sôi trào khiến nỗi nhớ như những đợt sóng cứ thế trào lên, lớp này chồng lên lớp kia, rạo rực, ắp đầy, dạt dào, tha thiết, bao trùm lên thời gian, chiếm lĩnh các tầng không gian. Nỗi nhớ của người con gái dù là ở đâu, khi nào cũng luôn thắm nồng, rạo rực. Trái tim của người con gái khi yêu chính là như thế, như một đại dương mênh mông chẳng khi nào ngủ yên bởi những con sóng của nhớ nhung.

“Lòng em nghĩ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

Dung lượng của đoạn thơ kéo dài từ 4 câu đến 6 câu. Nỗi nhớ tuôn trào, “em” chẳng còn mượn hình ảnh sóng để nói hộ lòng mình nữa mà trực tiếp xuất hiện để bộc lộc cảm xúc. Nỗi nhớ mãnh liệt quá, như con sóng tràn bờ, dẫn bạn đọc phá vỡ giới hạn để đến với những miền vô biên của cảm xúc. Hồn thơ Xuân Quỳnh quả thực vừa nồng nhiệt lại vừa táo bạo, vừa truyền thống trong nỗi thương nhớ, mà lại vừa hiện đại trong cách thể hiện.

Không những nhớ, Xuân Quỳnh còn thể hiện một trái tim thủy chung, sắt son:

“Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”

Vẫn là những yếu tố mang tính đối lập “phương Bắc”-“phương Năm”, “xuôi”-“ngược”. Hành trình đi đến với tình yêu, vốn dĩ là một hành trình đầy gian truân của cuộc sống bộn bề. Còn Xuân Quỳnh là một con người vô cùng đa cảm, đã trải qua bao thăng trầm, đắng cay và ngọt bùi của tình yêu. Cuộc sống rộng lớn có 4 phương 8 hướng, vậy mà Xuân Quỳnh lại đặt “phương ảnh” cùng với “phương Bắc”, “phương Nam”, đủ để thấy, dù đi đâu, dù cuộc sống có vần xoay đến thế nào thì “anh”, thì tình yêu vẫn cứ mãi là kim chỉ nam cho trái tim, trở thành điểm tựa vững vàng để người con gái vượt qua những gian nan trắc trở của cuộc sống.

Bên cạnh những nỗi nhớ của một con tim thủy chung, “em” còn mang trong mình những nỗi lo âu, những dự cảm về giới hạn của cuộc sống. Biển rộng bao la cũng không vượt qua bờ, cuộc đời dù dài rộng nhưng cũng vẫn sẽ có điểm kết thúc, và tình yêu dù say đắm cũng có lúc nhạt phai. Xuân Quỳnh là một tâm hồn giàu trắc ẩn và đa sầu đa cảm. Nhưng nói ra những nỗi lo ấy, không phải là để đánh mất niềm tin vào tình yêu mà là để càng khẳng định thêm, tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu.

“Ở ngoài kia đại dương

Trăm nghìn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở”

Niềm tin ấy không hề là sự bồng bột, ảo tưởng mà là những thức nhận đầu sâu sắc về chân lí của cuộc sống.

Và hai hình tượng “sóng”, “em” còn song hành cất lên khúc ca khát vọng về một tình yêu vĩnh viễn.

“Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

Tan ra, khát vọng được hoá thành sóng biển để sống mãi với cái vô tận của biển cả, muốn nối dài cuộc sống hữu hạn của con người. Đó cũng chính là khát vọng về một tình yêu vĩnh hằng. Tan ra còn là hoà mình vào tình yêu, sống trọn với tình yêu, còn là dâng hiến, hi sinh, muốn được dành trọn cho tình yêu để ngàn năm còn rạo rực nhịp đập của một con tim thiết tha, mãnh liệt.

Hình tượng “sóng” và “em” như song hành và chuyển hoá. Sóng như phân thân của chủ thể trữ tình, khi tách riêng, khi lại hoà hợp để cất lên những tiếng lòng sâu thẳm của thi sĩ. Chính điều đặc sắc ấy đã làm nên thành công cho tác phẩm, giúp cho bài thơ mãi tươi xanh trong dòng chảy văn học, mãi trẻ trung, thổn thức trong trái tim bao thế hệ đôi lứa muôn đời.