Top 7 # Bài Thơ Thanh Niên Của Xuân Diệu Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Phân Tích Bài Thơ “Bài Ca Chúc Tết Thanh Niên” Của Phan Bội Châu

Phân tích bài thơ “Bài ca chúc Tết thanh niên” của Phan Bội Châu – Bài làm 1

Trong tâm hồn và thơ văn, Phan Bội Châu đã dành cho thế hệ trẻ Việt Nam nhiều mến yêu, trân trọng:

“Ôi! Đáng kính thay thanh niên! Đáng sợ thay thanh niên!

Nếu ai nói rằng: Thanh niên lay trời, trời phải rung

Thanh niên xoay đất, đất phải chuyển, cũng không phải là quá đáng vậy!”.

(Khóc thanh niên)

Trong số 800 bài thơ và mấy chục bài phú, bài văn tế của Phan Bội Châu để lại, người đọc tìm thấy biết bao lời tốt đẹp và cảm động của nhà chí sĩ nói với thanh niên. Tiêu biểu nhất là bài thơ “Bài ca chúc Tết thanh niên”. Đầu xuân 1927, học sinh trường Quốc học và trường Nhà dòng Huế đến mừng thọ Phan Bội Châu. Trong lời đáp từ của nhà chí sĩ, có bài thơ “Bài ca chúc Tết thanh niên”. Báo “Tân thế kỉ” số ra ngày 3-2-1927 đã giới thiệu toàn văn bài thơ. Viết theo thể hát nói đôi khổ, giọng thơ vừa bồi hồi tha thiết, vừa mạnh mẽ hùng hổn, bài ca đã động viên và khích lệ thanh niên lên đường cứu nước.

Mở đầu bài thơ, ba tiếng: “Dậy! Dậy! Dậy!” là lời lay gọi thức tỉnh một số đông thanh niên đang ngủ mê trong đêm trường nô lệ. Cách nói ấy, ta bắt gặp khá nhiều trong thơ văn yêu nước đầu thế kỉ XX:

“Than ôi! Bách Việt hà san,

Văn minh đã sẵn, khôn ngoan có thừa.

Hồn mê mẩn, tính chưa chưa tính

Anh em ta phải tính sao đây?”.

(“Đề tỉnh quốc dân ca”)

“Hãy tính dậy đi!

Hãy đứng lên đi, gương mày mở mặt để rửa nhục cho sông núi”.

(Tân Việt Nam’ – Phan Bội Châu)

“Một tiếng gà vừa gáy, một tiếng hót của chim báo sáng, mừng xuân về,… âm thanh ấy mang ý nghĩa tượng trưng dự báo một thời kì mới, một bình minh mới, một mùa xuân mới sắp đến với dân tộc. Giọng thơ xôn xao, chào mừng:

“Bên án một tiếng gà vừa gáy,

Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng”.

Gà vừa gáy “một tiếng”, đêm dày chưa tan. Nhà thơ thao thức sống trong tâm trạng: “thẹn, buồn, tủi”…, không chỉ là “chua xót” mà là đã “từng chua với xót”. Nỗi cay đắng và chua xót tích tụ trong lòng bấy lâu nay; không chỉ một hai ngày mà là kéo dài nhiều năm tháng, từ ngày xuất dương dấy lên phong trào Đông du (1905) đến ngày bị giặc bắt (1925) và cho đến Tết năm 1927, đúng là đã “hai mươi năm lẻ”:

“Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?

Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng,

Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót”.

Nhà chí sĩ tâm sự, đối thoại với “xuân”, với “sông”, với “núi”, với “trăng” – những đối tượng ấy, là hồn thiêng đất nước. Một giọng thơ tha thiết. Đó là những lời tâm huyết, là “cái đồ tàn của con đỗ quyên” khắc khoải suốt đêm ngày. Đó không chỉ là nỗi đau, nỗi tủi, nỗi thẹn, sự chua xót của một người, mà còn là tâm trạng chung của cả một thế hệ, của cả một dân tộc đã và đang phải làm ngựa trâu cho giặc, cho thực dân Pháp.

Hai câu tiếp theo cũng là tâm sự của một tấm lòng thao thức. Năm 1925, Phan Bội Châu bị giặc Pháp bắt cóc ở Thượng Hải, đưa về Hà Nội kết án tử hình. Nhân dân ta, đặc biệt là thanh niên, học sinh khắp toàn quốc đã sôi sục đấu tranh, làm thất bại âm mứu đen tối và tàn ác của thực dân Pháp. Không giết được Phan Bội Châu, giặc Pháp đã đưa Cụ về giam lỏng ở Huế và Cụ đã trở thành “Ông già Bến Ngự”. Vì thế, Phan Bội Châu mới nói:

“Trời đất may còn thân sống sót

Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh”.

Trong cảnh thân tù bị giam lỏng, nhà chí sĩ vẫn không hao giờ quên thanh niên, vẫn gửi gắm vào thế hệ trẻ Việt Nam nhiều tin tưởng và hi vọng.

Lời chúc Tết cũng là lời kêu gọi thanh niên. Thanh niên phải “đổi mới”. Hai chữ “đổi mới” trong bài thơ mang một nội dung yêu nước sâu sắc. Trước hết, thanh niên phải:

“Đời đã mới, người càng nên đổi mới

Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội

Xúm vui vào xốc vác cựu giang san

Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan,

Dây thành bại quyết ghe phen liên hiệp lại”.

Tân vận hội là vận hội mới. Lúc bấy giờ (1927) phong trào đấu tranh chống thực dân, đòi độc lập đang dâng lên sôi sục, mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, nhất là ở Ấn Độ, Miến Điện, Trung Quốc… Thanh niên phải biết nhìn xa, nhìn rộng, “mở mắt” đón lấy thời cơ, đón lấy tân vận hội, đứng lên đồng tâm nhất trí “liên hiệp lại”, để cứu nước, cứu nhà: “Xúm vai vào xốc vác cựu giang san”. Đất nước bị ngoại bang thống trị, thế là “non sông đã chết”, hồn nước bơ vơ sầu tủi: “Hồn ơi! về với giang sơn” (Ái quốc). Còn đâu nữa “Cựu giang san”, còn đâu nữa giang sơn cũ, Tổ quốc bao đời. Đổi mới cách nhìn, đổi mới tư tưởng, nâng cao lòng yêu nước. Có như thế, thanh niên mới có thể “xốc vác cựu giang san “, phục hưng đất nước – một đất nước giàu đẹp, một dân tộc có truyền thông anh hùng, bất khuất chống ngoại xâm. Thanh niên phải có sức mạnh, có khí chí kiên cường. Chí khí ấy, sức mạnh ấy, theo nhà chí sĩ là phải “đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan”, nghĩa là phải tự lực tự cường. Phan Bội Châu có một cách nói đầy ấn tượng và khích lệ làm bùng cháy lên ngọn lửa yêu nước trong tâm hồn thanh niên. Nói rằng văn thơ Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền cách mạng, là lời tâm huyết sục sôi lòng yêu nước…, đọc “Bài ca chúc Tết thanh niên”, chúng ta cảm nhận sáng tỏ nhận xét ấy.

Sự đổi mới của thanh niên phải thể hiện sâu sắc ở mặt tâm hồn, và bằng hành động rất cụ thể:

“Ai hữu chí từ nay xin gắng hỏi:

Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần,

Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn,

Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa

Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”.

Muốn làm được như thế, theo Phan Bội Châu, phải có hai điều kiện: Một là hữu chí, nghĩa là chí khí bất khuất, yêu nước; hai là phải gắng gỏi, phải quyết tâm phấn đấu. Nhà chí sĩ đã hướng vào bộ phận tiên tiến nhất, lỗi lạc nhất trong thanh niên thời bấy giờ. Cụ khuyên họ không nên, không được chìm đắm, đam mê vào con đường hưởng lạc. Chơi, mặc, ăn… là nhu cầu của thanh niên, nhưng không được đam mê, “đừng ham”, biến thành dục vọng tầm thường, quá đáng. Phải từ bỏ cách học tập cũ kĩ, lạc hậu, khoa cử hư đanh mà tu dưỡng lấy tinh thần yêu nước, tự cường. Biết nhục vì cả dân tộc đang phải làm nô lệ cho ngoại bang: “Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu” (Đề tính quốc dân ca). Biết đau đớn chua xót vì nước mất, nhân dân lầm than. Trong bài thơ “Xuất dương lưu biệt”, Phan Bội Châu đã phủ định lối học “cử tử” lỗi thời:

“Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”.

(Non sông đã chết, sống chỉ nhục

Hiền thánh đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi).

Đó là quan điểm rất tiến bộ, một lời dạy rất sâu sắc đối với thanh niên về mục đích học tập. Học vì hư danh, học để sống trong thân phận nô lệ thì học cũng vô nghĩa.

Lời tâm huyết của Phan Bội Châu trong bài thơ này là lời kêu gọi thanh niên đem tài trí (óc) và lòng quả cảm để đập tan xích xiềng nô lệ, ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp (đánh tan sắt lửa). Phải đem xương máu để giành lại độc lập, tự do. Một cách nói mạnh mẽ, hùng hồn. Hình tượng dữ dội, đầy ấn tượng có giá trị khích lệ lòng yêu nước và tinh thần cách mạng:

” Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa,

Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ!”

Một người, một số ít người không thể cứu nước được. Mà phải nhiều thế hệ thanh niên, triệu triệu người, cả dân tộc mới có thể “xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ” được! Có biết bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì tự do. Biết bao con người ưu tú của dân tộc đã gan góc hi sinh chiến đấu, đã “xối máu nóng” trong suốt 80 năm trời để đất nước nở hoa độc lập, kết quả tự do như ngày nay. Qua những vần thơ chúc Tết thanh niên này, ta càng thấy rõ “Phan Bội Châu lúc nào cũng chủ trương dùng bạo lực cách mạng để đấu tranh giành độc lập, tự do để giải phóng dân tộc”. Đó là chủ trương rất đúng đắn.

Thơ là tấm lòng. Là sự nung nấu tâm hồn, chí khí. Là khúc tráng ca giục giã lên đường. Nhà chí sĩ với khát vọng tự do đã động viên thanh niên, những con người “hữu chí” lên đường xả thân cho đất nước thân yêu. Câu cuối bài hát nói nhà chí sĩ nhắc lại câu cổ ngữ trong sách “Đại học”, rút ngắn lại thành: “Nhật nhật tân, hựu nhật tân” (ngày một mới, lại ngày một mới) để khẳng định một chân lí, một bài học, dấy lên trong lòng thanh niên một luồng sinh khí, một tinh thần dân tộc, chỉ ra một tân vận hội đang đến với thanh niên.

“Bài ca chúc Tết thanh niên” đưực viết thành thể thơ hát nói phá cách tạo nên màu sắc thời đại và lịch sử. Mở đầu bằng ba tiếng: “Dậy! Dậy! Dậy”. Câu kết ngoài 6 từ như luật quy định, tác giả đưa vào 2 tiếng: ”Chữ rằng…” âm hưởng; chủ đạo của bài thơ là hùng tráng, mạnh mẽ. Nó không chỉ là bài ca yêu nước chống xâm lăng mà còn mang tính dự báo thần tình. Năm 1927, nhà chí sĩ viết “Mở mắt thấy rõ rằng tân vận hội…” – và chỉ ba năm sau, Đảng Cộng sản Việt nam ra đời, liền giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. Bài thơ có tính giáo dục lòng yêu nước và động viên tinh thần cách mạng sục sôi đối với thanh niên Đương thời không ít thanh niên ưu tú của dân tộc đã ra đi cứu nước và sau đó trở thành nhà cách mạng lỗi lạc từ ảnh hưởng của bài ca này.

Có bài thơ một thời những cũng có bài thơ muôn đời. Phan Bội Châu viết bài thơ cho thế hệ mất nước trước đây, thế nhưng ngày nay, đất nước ta đã hoàn toàn độc lập, thế hệ thanh niên chúng ta vẫn tìm thấy trong bài ca bao tư tưởngtình cảm tốt đẹp. Nghĩa là biến sức mạnh của lòng yêu nước để “Xúm vai vào xốc vác cựu giang san” hướng về một ngày mai đẹp vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, vì một xã hội văn minh. Phan Bội Châu mãi là tấm gương chói lọi về lòng yêu nước, là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” (Nguyễn Ái Quốc). Thơ văn của Phan Bội Châu góp phần tạo nên sức mạnh thanh niên, sức mạnh Việt Nam:

“Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi…”

Phân tích bài thơ “Bài ca chúc Tết thanh niên” của Phan Bội Châu – Bài làm 2

Phan Bội Châu là một nhà thơ nổi tiếng của dân tộc Việt Nam, ông có rất nhiều những tác phẩm hay, và nổi tiếng trong đó bài thơ chúc tết thanh niên là một bài thơ như thế, nó đã mang đậm giá trị của việc thức tỉnh lòng yêu nước và đánh dấu tinh thần của những người thanh niên luôn luôn phấn đấu vì đất nước của mình.

Mở đầu bài thơ tác giả đã sử dụng từ dạy dạy dạy ở đây nó mang một ý nghĩa như thức tỉnh và đánh thức tâm can của những người thanh niên yêu nước, những người thanh niên cần có ý thức và trách nhiệm hơn với cuộc đời và sự nghiệp của chính mình, những điều đó đã mang lại những giá trị to lớn và ý nghĩa tốt đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi con người, khi những tiếng gà gáy đã hót lên để chào mừng những năm tháng bình minh đang nở rộ:

Dậy! Dậy! Dậy! Bên án một tiếng gà vừa gáy Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?

Mùa xuân đã làm sáng bừng lên niềm tin và những lời chúc mừng đối với lưa tuổi thanh niên của đất nước, giá trị của nó mang đậm màu sắc tin yêu và có nhiều những lời ngỏ ý thuần khiết trong tâm can của mỗi người, trong cuộc đời của mỗi chúng ta ai ai cũng đều phải trải qua những năm tháng thanh niên và phấn đấu được trong cuộc đời của mỗi chúng ta. Những giá trị đó đã mang lại những nét riêng biệt và có nhiều ấn tượng sâu sắc cho con người.

Mùa xuân đã đến người người đang chào đón một năm mới với những niềm tin mới, nó đậm giá trị của cuộc đời và mang màu sắc, những tiếng chim cũng biết hót để chào đón chào mừng một mùa xuân đã đến, một năm mới đang bắt đầu đến và nhà nhà người người đang chào đón những năm mới ấm áp và hạnh phúc. Những lưa tuổi thanh niên đang ngày càng phấn đấu để tạo nên những giây phút hạnh phúc và cảm xúc có giá trị và niềm tin mạnh mẽ đối với con người.

Thanh niên của dân tộc đã trải qua những năm tháng chiến đấu đã hẹn thề cùng với sông với núi, cùng đã trải qua những khoảnh khắc cô đơn khi phải xa gia đình, xa quê hương để đến với những vùng đất lạ, khi thân may còn có thể sống xót đấu tranh hết mình để nguyện thề cùng với dân với nước, những lúc đó những vị anh hùng này cần phải tạo dựng nên những giá trị của cuộc sống và hạnh phúc của tất cả con người:

Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng Hai mươi lẻ đã từng bao chua với xót Trời đất may còn thân sống sót Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh

Bao nhiêu năm tháng đã chiến đâu và hy sinh vì độc lập dân tộc của Việt Nam, những năm tháng chiến đâu hết mình khi phải chịu đựng những giây phút cô đơn và những mất mát đua thương không có gì có thể so sánh được, đó là những khoảnh khắc hạnh phúc và giá trị của con người. Đã cố gắng hy sinh và chiến đấu hết mình vì dân tộc của chúng ta, họ đã tạo nên những khoảnh khắc hạnh phúc, khi những giá trị đó tạo dựng nên cảm giác hạnh phúc và luôn luôn phải đấu tranh với lũ đầu xỏ, những tầng lớp thanh niên yêu nước, những người đầu xanh đã luôn phấn đấu vì một đất nước dân tộc. Những năm tháng họ đã hy sinh và chiến đâu để có thể vượt qua những năm tháng đau khổ và khó khăn nhất:

Thưa các cô, các cậu lại các anh Trời đã mới, người càng nên đổi mới Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội Ghé tay vào xốc vác cựu giang san

Những năm tháng chiến đấu vất vả sự hy sinh cao cả của họ đã để lại cho đất nước bao yêu thương và những giá trị đó để lại cho mỗi người những cảm giác hạnh phúc khi đất nước chúng ta đã đang đổi mới, giang sơn đang ngày một đẹp và hoàn thiện hơn, những điều đó làm nên bao nhiêu giá trị về một đất nước có nhiều truyền thống và giá trị sống cao cả, những hoàn cảnh đó đã làm nên những nhịp sống, và những lời thưa gửi của các anh đã tạo nên và thông báo khi đất nước đang ngày một đổi mới, những vận hội mới đang mở ra trước mắt những con người những khoảng khắc hạnh phúc và giá trị nhất dành cho mỗi con người, chúng ta cần phải làm nên những điều có ý nghĩa và mang màu sắc của sự lung linh trong cuộc đời này.

Những năm tháng luôn luôn phải đương đầu với những đua khổ và cuộc đời của họ cũng luôn phải đối mặt với cái chết, nhưng họ vẫn luôn kiên trì và vượt qua mọi thứ, đó là những năm tháng đã mang lại cuộc đời hạnh phúc cho tất cả con người, mặc dù khó khăn vất vả nhưng họ vẫn luôn đi cho êm và đứng vững trước những sóng gió của cuộc đời

Ði cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan Dây đoàn thể quyết phen thành nghiệp lại Ái hữu chí từ nay xin gắng gỏi Gởi lốt xưa mà tu dưỡng lấy tinh thần

Tất cả những niềm tin yêu và sự cố gắng của họ luôn để lại cho con người những hạnh phúc mạnh mẽ và làm dạy lên tinh thần sống của tất cả mọi người, chúng ta cần phải làm nên những giá trị về niềm tin và sự sống đó luôn lan tỏa trong cuộc đời của mỗi người. Nhưng người có ý chí cao luôn luôn nâng cao tinh thần và trách nhiệm của mình đối với đất nước, đó là một cuộc sống có ý nghĩa và giá trị nhất của mỗi con người, chúng ta cần phải làm nên những điều mang lại ý nghĩa cho chính cuộc đời của mỗi người:

Chẳng thèm chơi, chẳng thèm mặc, chẳng thèm ăn Ðúc gan sắt để dời non lấp bể Xôi máu nóng để rửa vết dơ nô lệ Mới thế này mới là mới hỡi chư quân Chữ rằng: nhật nhật tân, hựu nhật tân.

Họ hy sinh những nhu cầu cần thiết cho một cuộc sống sung sướng để tham gia vào những lợi ích có giá trị và ý nghĩa nhất của con người, điều đó làm sáng tỏ lên những lòng quyết tâm sự hy sinh về một đất nước tươi đẹp. Họ đúc lại ý chí gan sắt để lập nên một đất nước hòa bình, một cuộc sống hạnh phúc và ấm áp nhất, những ngọn lửa tinh thần vẫn luôn sáng rực trong những khoảnh khắc hạnh phúc và có giá trị cho cuộc sống của mỗi con người.

Mỗi người luôn luôn biết sống và có ý chí phục vụ cho đất nước, những dòng máu đang sục sôi tinh thần và niềm tin quyết chiến về một đất nước hòa bình, ý chí lòng quyết tâm luôn luôn tạo nên những giá trị và hạnh phúc nhất trong cuộc đời của mỗi người.

Bài thơ chúc tết thanh niên có ý nghĩa to lớn đối với tầng lớp thanh niên Việt Nam, họ là những tầng lớp sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam, những tầng lớp hạnh phúc và có ý chí quyết tâm mạnh mẽ.

Phân tích bài thơ “Bài ca chúc Tết thanh niên” của Phan Bội Châu – Bài làm 3

Trong ký ức của nhiều thế hệ người Việt Nam, Phan Bội Châu là một nhà yêu nước nồng cháy thiết tha, một nhân vật lịch sử kiệt xuất, tiêu biểu cho phong trào đấu tranh giành độc lập của dân tộc mấy chục năm đầu thế kỷ XX.

Phan Bội Châu có một tiểu sử oanh liệt. Ngay đến những năm cuối đời, khi bị giặc Pháp giam lỏng ở Huế, Phan Bội Châu vẫn được sự quan tâm đặc biệt của đồng bào, đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Ông rất có ý thức bồi dưỡng thế hệ trẻ và đặt vào họ những hy vọng lớn lao. Đầu năm 1927, học sinh trường Quốc học và trường Dòng ở Huế tổ chức chúc thọ ông tròn tuổi 60. Đáp lại tình cảm ấy, Phan Bội Châu đã ứng khẩu đọc bài Bài ca chúc Tết thanh niên, theo thể hát nói. Thông qua những lời bộc bạch chân thành, tác giả thiết tha kêu gọi thanh niên hãy từ bỏ lối sống tầm thường, quyết tâm tu dưỡng, vươn tới lý tưởng cách mạng cứu nước, bắt kịp thời đại mới. Đó chính là sự kỳ vọng và sự bàn giao trách nhiệm của thế hệ Phan Bội Châu cho thế hệ thanh niên kế tiếp.

Mở đầu Bài ca là tiếng gọi đột ngột, khẩn cấp, giục giã: “Dậy! Dậy! Dậy”. Đây là lời của ai? Hãy đọc kỹ những câu thơ tiếp theo:

Dậy! Dậy! Dậy!

Bên án một tiếng gà vừa gáy.

Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng.

Cách mở đầu thật độc đáo. Tác giả muốn lay tỉnh mạnh mẽ lớp hậu sinh hãy mở mắt nhìn ra một ngày mới bắt đầu: Trời đã sáng, chim chóc đã cất tiếng hót tưng bừng rộn rã. Điều đáng nói ở đây là tiếng gà, tiếng chim kia đều có sức thôi thúc, giục giã khác thường. Thì ra, những âm thanh đời thường vốn rất là quen thuộc ấy được “nghe” qua tâm trạng hy vọng, mong chờ một thời cơ mới và thế hệ mới của tác giả bỗng trở thành có tính biểu tượng đầy ý nghĩa của “vận hội mới”. Cảm động biết bao khi ta hiểu đây là tâm trạng của một người đang sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã, bị kẻ thù kìm kẹp hòng cắt lìa khỏi thực tế đấu tranh của dân tộc, nhưng vẫn gắn bó với cuộc sống, tin tưởng ở thế hệ tương lai của đất nước.

Xét đến cùng, tiếng thúc giục “Dậy! Dậy! Dậy” không chỉ là lời kêu gọi tâm huyết của Phan Bội Châu. Đó là tiếng gọi của Tổ Quốc, của non sông mà Phan Bội Châu là người đại diện. Tiếng gọi Phan Bội Châu – Tổ quốc ấy ta còn thấy vang ở nhiều tác phẩm khác của nhà cách mạng. Trong cuốn Trùng Quan tâm sử ông từng viết “Non sông như cũ, thành quách y nguyên! Chủ nhân là ai? Quốc dân ơi! Đồng bào ơi! Dậy! Dậy! Dậy!”

Đoạn thơ tiếp theo, Phan Bội Châu dành mấy dòng nói về bản thân mình. Lời thơ chân thành, tha thiết khiến cho người đọc vô cùng xúc động:

Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?

Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng,

Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót.

Trời đất may còn thân sống sót,

Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh.

Khác với giọng vui tươi, phấn khởi phần đầu, những câu thơ ở đây có nhịp điệu chậm rãi, nặng trĩu ưu tư, phiền muộn. Trước “tân vận hội”, Phan Bội Châu cảm thấy chạnh buồn khi tâm sự với mùa xuân của đất trời và cũng là tâm sự với thế hệ trẻ, những người tri âm, tri ki của nhà thơ. Ở đây có nhiều cách hiểu về mùa xuân; xuân vừa có nghĩa là đất nước quê hương vừa để chỉ những lớp người trẻ tuổi. Phan Bội Châu bộc bạch hết nỗi niềm tâm sự. Đấy trước hết là nỗi đau của một người đã từng phải làm “khách không nhà trong bốn biển”, suốt nai mươi năm bôn tẩu, nhưng rốt cuộc “trăm thất bại không một thành công”. Đúng là trong nỗi đau này không chỉ có “thẹn” mà còn có thêm nỗi “buồn” và nỗi “tủi” lẫn cả sự chua xót đắng cay. Đây là nỗi đau xót của một trượng phu, một anh hùng, một nhân vật lịch sử kiệt xuất. Đây còn là nỗi đau của cả một dân tộc, một đất nước. Câu thơ “Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng” được ngắt đều thành ba nhịp, ba vế đối nhau, mỗi trạng thái tình cảm đặt vào trong quan hệ của một hình ảnh biểu tượng của đất nước, thể hiện nỗi đau của tầm vóc núi sông, tầm vóc thời đại. Ta liên tưởng đến nỗi đau lớn của Đặng Dung thời trước trong bài thơ Cảm hoài đầy bi tráng: “Thù nước chưa xong, đầu đã bạc”. Đây là tâm sự của một con người đã từng trải qua mấy chục năm tung hoành, khi ở Nhật Bản, lúc ở Trung Quốc, lúc ở Xiêm La, nay phải sống trong vòng kiềm tỏa của quân thù và tuổi già đã đến, chỉ còn biết trông cậy vào “lũ đầu xanh” để khuây khỏa “tháng ngày”. Như vậy, Phan Bội Châu ý thức sâu sắc vai trò lịch sử của mình đã chấm dứt và cụ nghiêm khắc tự đánh giá bản thân mình. Điều này chứng tỏ sự sáng suốt nhân cách cao đẹp của nhà cách mạng. Riêng việc hiểu được bản thân mình, thấy được giới hạn của mình cũng đã thể hiện một phần tầm vóc lớn của tác giả, khiến người đọc vô cùng cảm phục.

Thất bại, nhưng không thất vọng; nhà thơ đặt hy vọng vào thế hệ thanh niên:

Thưa các cô, các cậu, lại các anh.

Một chữ thưa mà hàm chứa bao nhiêu niềm trân trọng và tin yêu. Đó vừa là đức khiêm nhường, vừa thể hiện tấm lòng thiết tha của nhà cách mạng lão thành đối với vận mệnh của đất nước. Thì ra, đối với Phan Sào Nam, dẫu ở tuổi 60, dẫu đã là một nhân vật lừng danh, nhưng bất kể già trẻ gái trai, ai có tinh thần cứu nước, biết thương xót giống nòi thì đều phải kính trọng. Ta còn nhớ có lần, Phan đã “ngàn vạn lạy” các chú lính tập để họ quay về với Tổ quốc (Việt Nam vong quốc xứ). Hơn nữa, cách xưng hô thích hợp để tác giả trình bày những vấn đề trọng đại tiếp theo. Bởi vậy, có thể nói, ở đây, cụ Phan đã chọn lựa được những lời lẽ và giọng điệu thích hợp nhất để phô diễn ý tưởng của mình.

Tâm sự với thanh niên, Phan Bội Châu khẳng định “đời đã mới, người càng nên đổi mới”. Câu thơ có cách diễn đạt tăng cấp: lúc nào cũng cần đổi mới, huống chi đời đã đổi mới, tức là có cơ hội mới, vận hội mới. Đến câu tiếp theo “Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn”, tác giả nói cụ thể hơn nhiệm vụ của thanh niên phải cùng nhau đoàn kết giành lại chủ quyền cho giang sơn mà cha ông từ ngàn xưa để lại. Công việc này thật khó khăn, nặng nề, vì thế không những phải dũng cảm, mà còn phải khôn khéo kiên trì, nhất là phải biết đoàn kết, biết “liên hiệp lại” thành một khối vững chắc:

Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan

Đây đoàn thể quyết ghe phen liên hiệp lại.

Lời khuyên nhủ có lúc chuyển sang giọng dịu dàng, nhỏ nhẹ, như vỗ về:

Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi

Xếp bút nghiêng mà tu dưỡng lấy tinh thần,

Đừng ham chơi, đừng ham mặc, ham ăn…

Có lúc lại sôi nổi, hào hùng và quyết liệt:

Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa

Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ

Nhưng đấy mới thực là giọng chủ đạo của thơ Phan Bội Châu – đúng như Tố Hữu nhận xét: “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng”. Qua giọng thơ và hình ảnh thơ, ta thấy hiện lên thật rõ nét một Phan Bội Châu tuy tuổi đã già, thân bị giam cầm nơi Bến Ngự, mà tinh thần vẫn hăm hở sục sôi, vẫn khao khát tung hoành và đặc biệt là vẫn muốn chuyển mình theo “tân vận hội”.

Khát vọng ấy ông muốn truyền tới lớp đầu xanh với tất cả niềm tin của mình:

Chữ rằng: Nhật nhật tân, hựu nhật tân.

Hoàn Cảnh Ra Đời Bài Thơ Nổi Tiếng Của Bác Hồ Dành Cho Thanh Niên

Trang chủ

Ngành Kiểm sát Hải Phòng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh

Hoàn cảnh ra đời Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ dành cho thanh niên

“Không có việc gì khó   Chỉ sợ lòng không bền   Đào núi và lấp biển   Quyết chí ắt làm nên”

Câu chuyện diễn ra trong một đêm lửa trại ở rừng Nà Tu (Bắc Cạn) vào tháng 3/1951, khi Bác Hồ đến thăm liên phân đội thanh niên xung phong 321. Đây là Đội thanh niên xung phong công tác trung ương đầu tiên thành lập ngày 15/7/1950 theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch. Sau khi phục vụ chiến dịch biên giới, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường quan trọng: Cao Bằng – Bắc Kạn – Thái Nguyên. Đội đã tổ chức thành nhiền Liên phân đội rải rác quân dọc tuyến đường và nhận nhiệm vụ bám trụ những nơi hiểm yếu. Liên phân đội TNXP 321 của chúng tôi được nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù (thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn), nằm trên tuyến đường từ thị xã Bắc Kạn đi Cao Bằng. Cầu Nà Cù lúc này không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi.

Theo lời kể của đồng chí Việt Thi, cán bộ phụ trách công tác tuyên truyền và văn hóa của Liên đội: vào đêm ngày 28/03/1951, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu để đón khách. Vừa trông thấy ánh đèn pin thấp thoáng từ ngoài cửa rừng đi vào, đoán là khách đã đến, tôi cho anh chị em vỗ tay hoan hô. Khách vào tới nơi, tất cả chúng tôi đều sững sờ trước niềm hạnh phúc thật bất ngờ: Bác Hồ đến thăm. Hàng ngũ của chúng tôi trở nên xáo động và reo khe khẽ: “Bác Hồ! Bác Hồ!”. Rõ ràng Bác đang ở trước mắt mà chúng tôi cứ ngỡ như một giấc chiêm bao! Bác vẫn giản dị với bộ quần áo bà ba màu nâu, chiếc khăn quàng cổ che kín cả chòm râu. Đi bên cạnh Bác là đồng chí Trần Đăng Ninh. Bác tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu:

– Các cháu ngồi cả xuống.

Chúng tôi đều răm rắp nghe theo lời Bác, im lặng ngồi xuống. Những câu đầu tiên Bác hỏi chúng tôi là những lời hỏi thăm ân cần về tình hình đời sống của đơn vị.

Bác hỏi:

– Các cháu ăn uống có đủ no không?

– Thưa Bác có ạ!

– Các cháu có đủ muối ăn không?

– Thưa Bác đủ ạ!

– Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không?

– Thưa Bác đủ ạ!

Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn thiếu thốn. Bác lại hỏi:

– Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không?

– Thưa Bác có ạ!

Sau đó Bác lại hỏi tiếp: – Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào?

Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng. Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở:

– Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt.

Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp: – Đào núi có khó không?

Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó, người sợ nói khó bị cho là tư tưởng ngại khó nên trả lời không khó. Trả lời xong mà cứ nơm nớp sợ Bác hỏi thêm.

Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi:

– Có ai dám đào núi không? Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa:

– Thưa Bác có ạ! thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ

Nghe xong, Bác cười:

– Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì?

Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao”, có người “cần kiên gan bền chí”, “cần vượt khó vượt khổ”, có người “cần xung phong dũng cảm”, toàn là những khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó. Bác động viên chúng tôi:

– Các cháu trả lời đều đúng cả: Tóm lại việc gì khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. Tục ngữ ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ:

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên.

Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào.

Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế đó. Rất mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc. Bài thơ đã là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong chúng tôi lao vào cuộc kháng chiến và kiến quốc. Sau này mỗi khi gặp khó khăn, hình ảnh của Bác Hồ và bốn câu thơ của Bác lại được tái hiện trong lòng chúng tôi, tiếp cho chúng tôi thêm sức mạnh để vượt qua.

Bài thơ ngắn gọn và súc tích không chỉ là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thanh niên mà còn là lời dạy đối với tất cả các tầng lớp cán bộ, chiến sĩ, nhân dân Việt Nam về vai trò và sức mạnh của ý chí con người trong mọi công việc, từ sự nghiệp cách mạng đến sự nghiệp xây dựng đất nước. Có sức mạnh cộng với ý chí và lòng quyết tâm, mỗi người sẽ vượt qua được những khó khăn tưởng chừng to lớn và nan giải để đi đến thắng lợi và thành công.

Bài thơ của Bác không phải là là một lời khuyên lý thuyết, mà đã được chứng minh qua thực tiễn thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam cũng như công cuộc xây dựng đất nước ngày nay.

Đối với người cán bộ Kiểm sát chúng ta, lời dạy của Bác cũng vẫn vẹn nguyên giá trị. Trong năm 2019 và những năm tiếp theo, trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp sẽ ngày càng gắn với nhiều trọng trách  nặng nề. Bởi vậy, người cán bộ Kiểm sát chúng ta nhất định phải phát huy được tinh thần quyết tâm và ý chí cách mạng,  để làm tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã giao phó cũng như xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Công minh – Chính trực – Khách quan – Thận trọng – Khiêm tốn”.

Nguyễn Thị Diệu Trang, Tổ tuyên truyền Đảng ủy cơ quan VKS TP

Nội dung sinh hoạt dưới Cờ kỳ 1 tháng 01/2019

Tweet

“Bác có phải là vua đâu”

Thuật dùng người và sức cảm hóa kỳ diệu *

Thanh niên phải gương mẫu trong đoàn kết và kỷ…

Chủ tịch Hồ Chí Minh và câu chuyện kỷ cương, phép…

Bác Hồ với Tết cổ truyền của dân tộc

1

 2 

Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Đêm Trăng” – Xuân Diệu &Amp; Hoàng Thanh Tâm

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Đêm Trăng” (“Trăng”) của Thi sĩ Xuân Diệu và Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm.

Thi sĩ Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, ông sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 – mất ngày 18 tháng 12 năm 1985. Ông là một trong những thi sĩ hàng đầu của Việt Nam. Sự nghiệp viết lách của ông có khoảng 450 bài, phần lớn vẫn còn nguyên bản thảo, đặc biệt là thơ tình, cùng với vài truyện ngắn, và một số bài phê bình văn học.

Ông sinh tại Gò Bồi, Tùng Giản, quận Tuy Phước, tỉnh Bình Định (quê ngoại của ông). Thân sinh của ông là cụ Ngô Xuân Thọ, thầy giáo, và bà Nguyễn Thị Hiệp. Ông học ở Qui Nhơn, Huế, và về sau ở Hà Nội (1938–1940). Ông tốt nghiệp bằng Kỹ sư Nông nghiệp năm 1943 và làm việc ở Mỹ Tho trước khi trở lại Hà Nội.

Mặc dù ông được mọi người biết đến là một thi sĩ thơ tình xuất sắc, nhưng cuộc hôn nhân của ông chỉ tồn tại có 6 tháng trước khi vợ chồng ông ly dị và ông sống độc thân cho đến cuối đời.

Có nguồn dư luận tin rằng ông là người đồng tình luyến ái cùng với nhà thơ Huy Cận (người bạn nối khố thời trung học của ông) cũng như đã được ông thể hiện qua những bài thơ tình đề tặng riêng cho những người đàn ông khác. Những bài thơ này gồm có: “Tình Trai” – viết về cuộc tình của hai thi sĩ người Pháp, Arthur Rimbaud & Paul Verlaine, và “Em Đi” – một bài thơ tình đầy xúc cảm viết tặng riêng cho thi sĩ Hoàng Cát, người cùng sống chung với ông hai năm, khi ông Hoàng Cát phải vào Nam.

Trong sự nghiệp của ông, Xuân Diệu được biết đến như là một thi sĩ thượng thặng trong phong trào Thơ Mới, với biệt hiệu “Ông Hoàng Thơ Tình”. Ông cũng chính là người đã tặng cho nữ sĩ Hồ Xuân Hương biệt danh: “Nữ Hoàng Thơ Nôm”.

Thi sĩ Xuân Diệu còn là thành viên của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, và là một trong những nhà thơ tiên phong hoạt động đẩy mạnh phong trào Thơ Mới. Những bài tiêu biểu ông viết trong thời gian này là: “Thơ Thơ” (1938), “Gửi Hương Cho Gió” (1945), và truyện ngắn “Phấn Thông Vàng” (1939).

Hai bài “Thơ Thơ” và “Gửi Hương Cho Gió” được quần chúng công nhận là hai bài thơ lớn trong Văn học Việt Nam vì trong đó “tình yêu”, “đời sống”, “hạnh phúc”, “yêu cuộc đời” được ông ca ngợi tôn vinh cùng lúc với “tuổi trẻ”, “mùa xuân”, “thiên nhiên bảo bọc tình yêu”. Ngoài ra thơ ông còn cho thấy nỗi “buồn thương cho thời gian đã mất”, tính chất “vô thường của đời sống”, và niềm “khao khát cho một đời sống vĩnh cửu”.

Hiện nay tên của ông được đặt cho một con đường trong thành phố Hà Nội.

Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm sinh ngày 14 tháng 4 năm 1960 tại Sài Gòn, anh là thứ nam của ông Hoàng Cao Tăng, cố giám đốc Đài Phát Thanh Pháp Á (Radio France Asie). Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm thuộc thế hệ nhạc sĩ trẻ sau 1975, có những ca khúc đi sâu vào lòng người, và được xếp loại chung với những sáng tác của các thế hệ đàn anh trước 1975.

Với hơn 60 tác phẩm sáng tác trong khoảng 3 thập niên từ 1980-2009, trong số đó có những nhạc phẩm nổi bật như: “Tháng Sáu Trời Mưa”, “Lời Tình Buồn”, “Trả Lại Thoáng Mây Bay”, “Ngập Ngừng”, “Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi” vv…, đã đem tên tuổi Hoàng Thanh Tâm đến với mọi tầng lớp khán thính giả khắp nơi, giúp anh có một chỗ đứng vững chãi trong làng âm nhạc Việt Nam.

Sau khi tốt nghiệp trung học tại trường Pétrus Ký, Hoàng Thanh Tâm vượt biên đến đảo Pulau Bidong, Mã Lai và được hội từ thiện Caritas bảo lãnh sang Bỉ năm 1979.

Anh đã theo học ngành Tin học (L’informatique) 3 năm tại trường Đại học Tự do Bruxelles và một lần nữa anh lại di cư sang Úc Đại Lợi vào năm 1982, và định cư luôn tại Úc cho đến bây giờ…

Trong 3 năm ở Bruxelles, Hoàng Thanh Tâm đã viết rất nhiều ca khúc về những nỗi nhớ thương quê nhà, cho những cuộc tình dang dở của anh, và nỗi cô đơn buồn tủi trên xứ người. Điển hình là những nhạc phẩm như: “Trả Lại Thoáng Mây Bay”, “Đêm Tha Hương”, “Dáng Xưa”, “Xuân Mơ”, “Đêm Hoàng Lan” (phổ thơ Trần Dạ Từ), “Lời Cho Người Tình Xa”, “Tìm Em” vv…

Nhạc phẩm đầu tay anh viết tại hải ngoại là nhạc phẩm “Trả Lại Thoáng Mây Bay” đã được ca sĩ Lệ Thu trình bày lần đầu tiên trong băng nhạc “Thu Hát Cho Người” do chính Lệ Thu thực hiện năm 1982.

Qua Úc năm 1982, nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm đã sống 6 năm đầu tại thủ đô Canberra. Trong thời gian này, anh có rất nhiều hứng khởi sáng tác, và đã tiếp tục viết rất nhiều tình khúc, cũng như phổ nhạc nhiều bài thơ nổi tiếng của các thi sĩ thời tiền chiến và cận đại như “Tháng Sáu Trời Mưa” & “Cần Thiết” của Nguyên Sa, “Áo Trắng” & “Buồn Đêm Mưa” và “Tự Tình” của Huy Cận, “Ngập Ngừng” (Em Cứ Hẹn) của Hồ Dzếnh, “Đây Thôn Vỹ Dạ” và “Giọt Lệ Tình” của Hàn Mặc Tử, “Một Mùa Đông” của Lưu Trọng Lư, “Đêm Trăng” của Xuân Diệu, “Một Tháng Giêng” (Đêm Hoàng Lan) và “Tình Tự Mưa” của Trần Dạ Từ, hoàn chỉnh thi phẩm “Cô Hái Mơ” của Nguyễn Bính vv…

Sau khi qua Mỹ năm 1986 để thực hiện album đầu tay “Lời Tình Buồn” và album thứ hai “Khúc Nhạc Sầu Cho Em” năm 1987 do trung tâm Giáng Ngọc của Lê Bá Chư phát hành, anh trở về Úc và chuyển về sinh sống ở Sydney năm 1988.

Thi phẩm “Trăng” (Thi sĩ Xuân Diệu)

Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá; Ánh sáng tuôn đầy các lối đi, Tôi với người yêu qua nhẹ nhẹ … Im lìm, không dám nói năng chi.

Bâng khuâng chân tiếc dậm lên vàng, Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang, Ngơ ngác hoa duyên còn núp lá. Và làm sai lỡ nhịp trăng đang.

Dịu dàng đàn những ánh tơ xanh, Cho gió du dương điệu múa cành; Cho gió đượm buồn, thôi náo động Linh hồn yểu điệu của đêm thanh.

Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ, Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ. Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá ! Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ. (1936)

Thi khúc “Đêm Trăng” (Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm)

Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá Ánh sáng tuôn đầy các lối đi Tôi với người yêu qua nhè nhẹ Im lìm không dám nói năng chi

Bâng khuâng chân tiếc dẫm lên vàng Tôi sợ đường trăng dậy tiếng vang Ngơ ngác hoa duyên còn núp lá Và làm sai lỡ nhịp trăng đang

Dịu dàng dàn những ánh tơ xanh Cho lá du dương điệu múa cành Cho gió đượm buồn thôi náo động Linh hồn yểu điệu của đêm thanh

Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ Trăng sáng trăng xa trăng rộng quá Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ…

– Nhà Thơ số Một của Thơ Mới

Cùng với link thi khúc “Đêm Trăng” do ca sĩ Mai Hương diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Nhà Thơ số Một của Thơ Mới

(Vương Trí Nhàn)

Đi tìm một cách nói hợp lý

Xuân Diệu thường nói ông mang trong mình quê hương thống nhất. Cha đàng ngoài má ở đàng trong, — cái lý của ông thật cụ thể.

Mượn cách nói ấy, khi xem xét sang lĩnh vực thơ, tôi cũng muốn nói rằng ông mang trong mình nền thơ thế kỷ Việt Nam thế kỷ XX.

Nửa đầu thế kỷ, thơ Việt có chuyển đổi về mặt cơ cấu, từ mô hình kiểu trung đại chuyển sang một mô hình hiện đại. Khi thơ như một cơ cấu đã ổn định, từ sau 1945, cái định hướng rõ nhất là chuyển đổi chức năng để phục vụ xã hội. Trong cả hai cuộc vận động, người ta đều thấy Xuân Diệu là một trong những tên tuổi được nhắc nhở nhiều nhất.

Trong phạm vi Thơ mới, ông không có những bài thơ coi là mở đầu như Phan Khôi. Ông không có vai trò người khai phá đầy tài năng như Thế Lữ, không có những tác phẩm chín như Huy Cận. Song nói đến thời đại này là phải nói đến ông. Qua ông, thấy cả sự vận động của Thơ mới.

Tuy cùng nằm trong khuôn khổ hiện đại hóa văn học, song những gì diễn ra trong thơ tiền chiến khác hẳn trong văn xuôi. Với văn xuôi các nhà văn của ta bằng lòng làm người học trò nhỏ của văn học Pháp. Thơ thì khác. Ban đầu người ta không chịu. Phạm Quỳnh từng kể, có những ông đồ tự hỏi: Bên tây cũng có thơ à?

Quan niệm như vậy, cho nên trong thực tế, đồ thị diễn tả vận động của mỗi thể loại cũng khác nhau. Ở văn xuôi mọi chuyện từ từ, không có đột biến. Thơ cũ, sau một hồi chống chọi, như là xảy ra tình trạng “vỡ trận”. Kết quả là có Thơ mới náo động một thời.

Có thể tìm thấy bóng dáng cuộc vận động này trong bước đi của Xuân Diệu. Ông đến trong tư thế ào ạt khẳng định. Ban đầu Thơ mới làm cho người ta ngỡ ngàng ư? Thì Xuân Diệu làm cho chúng ta ngỡ ngàng. Rồi cuối cùng chúng ta thấy Thơ mới gần với ta ư? Thì Xuân Diệu đã được cả một thời say đắm.

Xuân Diệu là tất cả cái hay cái dở của thơ mới. Là sự cởi mở và tham vọng của con người đương thời. Là hào hứng đi ra với thế giới. Nhưng cũng là nông nổi, cạn cợt, là nhanh chóng chán chường và bế tắc.

Nếu cần nói gọn một câu về vai trò của Xuân Diệu trong Thơ mới thì nên nói gì?

Hoài Thanh là người đầu tiên cho rằng “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới”. Ở Sài Gòn năm 1967, trong tập Bảng lược đồ của văn học Việt Nam (Ba thế hệ của nền văn học mới ), Thanh Lãng cũng viết một câu tương tự. Tôi vừa đọc lại hồ sơ cuộc hội thảo kỷ niệm 10 năm nhà thơ Xuân Diệu qua đời. Cho đến nay công thức đó vẫn được nhiều người nhắc lại.

Có lẽ ý kiến đó hình thành một phần là do từ trước, Hàn Mặc Tử còn ít được đọc và được nghiên cứu. Còn ngày nay với sự phổ biến của Hàn Mặc Tử, thì theo tôi, vai trò người mới nhất của Thơ mới phải thuộc về Hàn mới đúng.

Nhưng sao người ta vẫn thích trích dẫn cái câu của Hoài Thanh?

Tạm thời có thể diễn giải như thế này: Nếu từ góc độ khoa học của vấn đề, Hàn đã là người đi xa nhất, và do đó mới nhất. Còn nếu xem xét hiệu ứng của thơ trong đời sống thì những ấn tượng Xuân Diệu để lại trong lòng người không ai có thể bì kịp.

Thay cho công thức “gương mặt tiêu biểu” đã mòn, tôi muốn nói Xuân Diệu là hiện thân của Thơ mới. Là nhà thơ số một không phải với nghĩa hay nhất, giá trị nhất, đứng cao hơn hết …, mà là, nếu bây giờ chỉ cần gọi tên một nhà thơ trong thơ mới thôi, thì gần như tất cả sẽ gọi Xuân Diệu.

Giữa các phong cách của Thơ mới, Xuân Diệu là một cái gì vừa phải, hợp lý, ông vốn có cái dễ dàng để đến với đám đông trong văn chương cũng như trong cuộc đời. Thế Lữ hơi cổ. Trong thơ Thế Lữ người ta vẫn cảm thấy một cái gì hơi già, hơi cũ, mắt nhìn về cái mới chứ chân chưa đặt tới cái miền mới mẻ đó. Mong muốn kéo nhà thơ này đi tới nhưng con người ông không theo kịp. Lưu Trọng Lư cũng vậy, mà lại ngả sang mơ mộng xa xôi. Huy Cận chậm rải khoan thai đậm chất văn hóa, và Huy Cận như già trước tuổi nữa. Về độ chín của thơ, Xuân Diệu không bằng Huy Cận. Song sự trẻ trung làm cho Xuân Diệu có sự hấp dẫn hơn, phổ biến hơn nhiều.

Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên ăn nhiều ở sự hướng thượng, suy tư, độc đáo. Các ông có cái gì đó mà người bình thường khó với tới. Họ nhìn theo các ông mà ngại.

Xét về ảnh hưởng với các thế hệ sau, vai trò của Xuân Diệu cũng rất lớn. Như ở thế hệ những người sinh khoảng 40 của thế kỷ trước, những Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật. Nếu đặt ra một hàng những Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử thì trong sự khác nhau rất rõ, họ vẫn gần với Xuân Diệu hơn cả, số người nằm cùng một trục dọc với Xuân Diệu khá đông đảo.

Xuân Diệu như hoa hồng trong một vườn hoa loại nào cũng đẹp. Như một thứ cơm tẻ vừa với mọi người. Đi đến một tổng hợp khái quát nhất Hoài Thanh ở cuối bài tổng luận về thơ mới bảo Xuân Diệu là “nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại”.

Thêm một ít khía cạnh trong con người Âu hóa và mỹ cảm hiện đại

Ông là con người của ham muốn say đắm muốn sống hết mình. Chỉ cần đọc một câu thơ Anh nhớ tiếng anh nhớ hình anh nhớ ảnh — Anh nhớ em anh nhớ lắm em ơi, cảm nghe hết cái sự nồng nàn của nó …người ta đã biết ngay nó không thể có ở nhà thơ cổ điển, nó phải thuộc bề một nhà thơ hiện đại.

Mặc dù có những bài tuyệt bút, song Xuân Diệu thường vẫn để lại ấn tượng có chỗ sượng, chưa chín, chưa đều tay. Ông là người rất có ý thức mà cũng là rất nhạy cảm khi bênh vực cho cái dang dở. So sánh ca dao Nam Trung bộ và ca dao miền Bắc, ông nói rằng ca dao miền Bắc quá chau chuốt quá hoàn chỉnh, trong khi ca dao Nam Trung bộ trần trụi thô mộc nên dễ gần. Có lần, nhận xét về một bài thơ, Xuân Diệu bảo khi người ta cảm động quá, người ta có gì đó run rẩy lúng túng. Trong những trường hợp này, Xuân Diệu đã biện hộ cho mình. Chính ở cái vẻ vội vàng hấp tấp dở dang chưa thành này mà Xuân Diệu gần với con người đương thời.

Nhưng không chỉ có thế. Không chỉ có hồn nhiên tuổi trẻ, mà càng về sau, Xuân Diệu càng tỏ ra sống hết với cái đã đầy của cuộc sống. Bài Hy mã lạp sơn là một cách ướm thử sự vượt lên cái thông thường, tự làm khác mình đi và đẩy suy nghĩ của mình tới cùng, tới cái tuyệt đối. Nhưng một lần tới rồi thì lộ ngay ra là không bao giờ nên trở lại nữa. Biết điều tội nghiệp run rẩy thiết tha, Xuân Diệu là chính mình hơn trongLời kỹ nữ.

Sự khác nhau giữa Thơ cũ và Thơ mới bắt đầu từ sự đổi khác của tâm lý con người, của cách xúc động… và điều này đã được nhiều người như Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh diễn tả sâu sắc. Mối quan hệ giữa lý trí và cảm xúc là một vấn đề lớn của con người hiện đại. Hồi 1961, nhân tuyển thơ 15 năm sau Cách mạng, Chế Lan Viên nói như một câu buột miệng “Xuân Diệu cần hồn nhiên hơn và Tế Hanh phải bớt tự nhiên đi”. Tôi đọc và tưởng là về già Xuân Diệu mới vậy. Sau đọc lại, thấy cái cách sống và làm việc theo lý trí này có từ Xuân Diệu hồi Thơ mới. Xét trên toàn cục, Xuân Diệu đã là một con người nhất quán, những năm cuối đời chỉ tô đậm những nét cốn có của ông lúc trẻ. Và đó chính là dấu hiệu làm chứng cho sự có mặt của nền văn hóa mà ông tiếp nhận từ nhỏ.

Nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn gần đây nói rằng con người ông có cả văn hóa Việt Nam lẫn văn hóa Mỹ. Trong Xuân Diệu cái yếu tố Mỹ được thay bằng văn hóa Pháp. Cố nhiên là cách kết hợp những yếu tố khác nhau ở người này không bao giờ giống như ở người khác, nhưng họ đều là hiện tượng đa văn hóa.

Thơ tám chữ, thơ bảy chữ

Trên phương diện hình thức nghệ thuật thơ, so với các nhà Thơ mới khác, Xuân Diệu cũng để lại ấn tượng riêng, về một cái gì vừa miệng với số đông, nghĩa là rất phổ biến.

Sáng tạo của Thơ mới trên phương diện thể thơ gồm hai phần: một là đưa thể tám chữ lên mức hoàn chỉnh và thứ hai là có những cách tân mới đối với các thể cũ như thơ bảy chữ, thơ lục bát.

Sở dĩ đọc Thế Lữ ta cảm thấy một cái gì cũ cũ, bởi vì ngoài Nhớ rừng, các bài tám chữ khác của ông để lại ấn tượng nặng nề do sự xâm nhập của yếu tố văn xuôi còn thô. Ở các bài như Đi giữa đường thơm, Nhạc sầu của Huy Cận, Nhớ con sông quêhương của Tế Hanh, chúng ta thấy thơ tám chữ tự nhiên như một sản phẩm thuần Việt. Mà cái đó đến sớm với Xuân Diệu. Những bài như Tương tư chiều,Vội vàng, Hoa đêm của ông cùng với Lời kỹ nữ Hy mã lạp sơn vừa nói ở trên là những sáng tác hoàn thiện.

Hoài Thanh bảo thơ tám chữ của Xuân Diệu có nguồn gốc ở ca trù. Cảm giác gần gũi có được là do cái hồn thơ, một cái gì thanh thoát mà lại hơi lẳng lơ tinh nghịch. Mặt khác là hơi thơ, biểu hiện ở độ dài. Tính số câu của một bài thơ, trong khi Tiếng địch sông Ô của Huy Thông làm chúng ta ngợp, thì các bài tám chữ của Xuân Diệu và những bài vừa nhắc trên của Huy Cận, Tế Hanh…cũng gần gũi hơn hẳn.

Một đóng góp khác của Xuân Diệu trong thể thơ bảy chữ, những bài gồm ba –bốn khổ, nó là một hơi thơ mạnh đi như một lát dao sắc.

Tản Đà không có bài thơ nào sử dụng tứ tuyệt như vậy. Trong số 47 bài của Mấy vần thơ của Thế Lữ, tôi chỉ thấy có một bài mang tên Yêu là cũng gồm ba khổ như thế này. Nhưng đây là một bài thơ rất ít người nhớ.

Còn với Xuân Diệu chúng ta thấy hàng loạt trường hợp Nguyệt cầm, Nụ cười xuân,Trăng, Huyền Diệu, Gặp gỡ,Yêu, Tình trai, Đây mùa thu tới, Ý thu, Hẹn hò, Đơn sơ.

Tôi chợt nhớ tới thể sonnet (1) của Pháp, và muốn giả thiết rằng ở những bài thơ nói trên, Xuân Diệu đã làm một cuộc hôn phối giữa thơ Pháp và thơ dân tộc. Ông Việt hóasonnet từ nền văn hóa mà ông mới tiếp nhận và mang lại cho nó một âm hưởng phương Đông, bằng cách lai tạo nó với thất ngôn tứ tuyệt. Giờ đây loại thơ gồm ba hay bốn khổ tứ tuyệt — 12 hoặc 16 câu bẩy chữ — đã là một cấu trúc cổ điển. Thơ tình của Xuân Diệu sau 1945 thường trở lại với thể này Nguyện, Hoa nở sớm, Tình yêu san sẻ, Ngược dòng sông Đuống.Và đây, tạm kể một số bài thơ được nhiều người thuộc của các tác giả về sau:

Buồn, Xuân, Em về nhà, Vạn lý tình, Gánh xiếc… của Huy Cận

Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Cô hái mơ của Nguyễn Bính

Xuân ý của Hồ Dzếnh

Sầu chung, Chiều loạn (Chiều loạn mây rồi gió đã lên) của Trần Huyền Trân

Từ sau 1945 , tôi muốn nhắc Hoa cỏ may (Cát vắng sông đầy cây ngẩn ngơ) của Xuân Quỳnh, cũng như bài Thanh xuân (2) của Nhã Ca, giữa hai bài của hai thi sĩ có gì như là đồng vọng và cùng âm hưởng.

Cái mới đến từ hội nhập

Nhớ lại khi Xuân Diệu mới xuất hiện, Hoài Thanh thú nhận:

“Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng”

Cái tình đồng hương nói ở đây gồm hai yếu tố:

Một là những yếu tố thuần Việt. Đã nhiều người nói tới cái phần thi liệu Việt ở Xuân Diệu từ “Đã nghe rét mướt luồn trong gió / Đã vắng người sang những chuyến đò” tới “Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya” hoặc “Con cò trên ruộng cánh phân vân”

Hai là những yếu tố mượn từ đời sống và văn hóa Trung Hoa đã được Việt hóa. Cái yếu tố Tàu này vốn thấy ở nhiều nhà văn tiền chiến, từ những ông già thả thơ đánh thơ ở Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, tới chú khách bán mằn thắn và mấy người khách ở phố Cẩm Giàng của Thạch Lam…

Bấy lâu ta cứ ngỡ ở Xuân Diệu chỉ có Rimbaud với Verlaine, hóa ra ta nhầm.

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đọc lại báo Ngày nay 1938 còn dẫn ra cả một đoạn Xuân Diệu ca ngợi mùa thu “mặc dầu ở bên tây vẫn có mùa thu, thiên hạ vẫn cứ thấy mùa thu là ở bên Tàu. Mùa thu cũng đồng một quê quán với Tây Thi, với nàng Tây Thi quá xa nên quá đẹp “

Trong cả Thơ thơ lẫn Gửi hương cho gió, cái chất Trung Hoa này xuất hiện ở nhiều dạng.Trong vốn từ ngữ. Trong cái nhịp thơ tứ tuyệt nói ở trên. Và trong thi liệu : Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi /Tôi yêu Ly Cơ hình mơ màng / Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng / Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi. Có cả một bài mang tên Mơ xưa, nhắc lại nhữngGió liễu chiều còn nhớ kẻ dương quan. Yếu tố Trung hoa cố điển ở đây là một bộ phận của yếu tố Việt Nam. Nước Việt trong thời gian. Nước Việt với chiều dài lịch sử, với cái vẻ quý tộc tinh thần… Tất cả lại hiện diện.

Xin nói tiếp về Nguyệt cầm. Trăng ở đây được gọi là nguyệt, đàn gọi là cầm. Nguyệt và trăng, đàn và cầm cùng tồn tại song song. Cái hồn hiện đại nhập vào cảnh cũ Linh lung ánh sáng bỗng rùng mình. Nhưng trăng và đàn lại là những motip của thơ cổ phương Đông. Còn chữ linh lung với nghĩa ánh sáng chấp chới thì không biết có phải lấy từ bài Ngọc giai oán của Lý Bạch (khước há thủy tinh liêm — linh lung vọng thu nguyệt),(3) chỉ biết sau Xuân Diệu, không ai dùng nó nữa, và các từ điển tiếng Việt mới in nửa sau thế kỷ XX chỉ ghi lung linh chứ không còn ghi linh lung.

Với bài viết kinh điển Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã sớm cảm thấy cái mới ở Xuân Diệu nói riêng và Thơ mới nói chung là là đến từ hội nhập.Gần đây nhà thơ Hoàng Hưng (bài Thơ mới và thơ hôm nay) phát hiện thêm. Ông bảo: “thơ Pháp thế kỷ XIX đã thúc đẩy Huy Cận Xuân Diệu tìm ra những ý vị lãng mạn của thơ Đường mà suốt một thế kỷ trước đó, các vị túc nho đã không cảm nhận nổi mà chỉ nhai cái bã niêm luật”. Tức là nhờ hội nhập hôm nay mà ta phát hiện lại thành tựu của hội nhập hôm qua. Ta được làm giàu lên nhiều lần hơn là ta tưởng.

Hơn thế nữa, hội nhập không phải chỉ có một chiều là hướng ngoại, hội nhập còn là quay trở về phát hiện lại bản thân và nhận diện lại những yếu tố nội sinh. Nói cách khác, nhờ hội nhập mà cốt cách của dân tộc được phát hiện.

Xuân Diệu đã làm công việc này một cách có ý thức. Ồng có riêng một bài viết mang tên Tính cách An Nam trong văn chương (báo Ngày nay 28-1-1939 ), ở đó ông nói rằng “Trong lòng An Nam của chúng ta vẫn có những phần những ý những cảm giác mà người Tây có. Xưa kia ta không nói là vì ta không ngờ; bây giờ cái não khoa học của Âu Tây đã cho biết rằng ta có, vẫn có đã lâu những của cải chôn giấu trong lòng thì sao ta không nói” (4)

Lịch sử không lặp lại

Không phải là thơ Việt Nam sau 1945 không có những đổi mới về hình thức, song một sự thay đổi có tính chất bước ngoặt như hồi 1932-41 không còn nữa. Nhu cầu của xã hội lúc này là tận dụng sự phát triển đã có từ Thơ mới để hướng thơ vào các hoạt động tuyên truyền giáo dục quần chúng. Ngay ở Sài gòn trước 1975 nơi sự hội nhập với thế giới còn được làm trong lặng lẽ, thì thơ vẫn không tạo được những bước nhảy đáng kể. Tuy xuất phát từ những tình thế khác nhau, song giữa sự tìm tòi của Thanh Tâm Tuyền, Nhã Ca …với tìm tòi của Nguyễn Đình Thi, Trần Mai Ninh, Trần Dần, Hữu Loan ở miền Bắc suy cho cùng có sự tương tự. Nhìn chung là thưa vắng lót đót và không sao tạo được cao trào hoặc trở thành xu thế bao trùm.

Nổi lên trên bề mặt thơ sau 1945 vẫn là sáng tác của các nhà thơ mới: Huy Cận, Chế Lan Viên Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, ấy là không kể một lớp nhà thơ trẻ mới hình thành, tất cả mang lại cho thơ mới một sự hồi sinh, một đỉnh cao thứ hai.

Trên hướng phát triển này, Xuân Diệu tiếp tục vị trí hàng đầu của mình. Năng lực của ông không còn hướng vào việc tìm tòi cái mới; có cảm tưởng với ông tất cả đã đủ, vấn đề bây giờ chỉ là tìm cách khai thác tận dụng cái đã có. Mà về việc này thì từ bản tính “tay hay làm lụng mắt hay kiếm tìm” ông có cả, từ sự thành thạo, tức thói quen lao động siêng năng tới sự nhạy cảm biết tìm ra những phương án tối ưu trong lao động.

Thơ Xuân Diệu những năm cuối đời gợi cho ta cảm giác một trái cây không còn được tiếp nhựa sống từ toàn thân mà chỉ tự chín, thời gian chín lại kéo quá dài, nên — nói như dân gian vẫn nói — chín rụ chín rị, tức có cả cái phần đã đầy, nát, vỡ, lữa ra , là cái phần “suy đồi” xảy ra ở mọi quá trình lão hóa. Nhưng ở chỗ này nữa lại càng thấy tính chất “đại diện toàn quyền” của Xuân Diệu với Thơ mới.

Người ta không thể đòi hỏi quá nhiều ở một người. Đặt trên cái nền chung của lịch sử thì vẫn thấy ông đứng sừng sững ở giai đoạn chuyển đổi của nền thơ Việt Nam, như một thách thức và một điểm đối chiếu.

(1)Xin tạm coi đây mới là một giả thiết, bởi chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu vào bản chất của sonnet và tác động của nó tới các nhà thơ Việt Nam. Chỉ xin lưu ý thêm, sonnet hiện đại thường có 14 câu trong khi tứ tuyệt ba khổ là 12 câu, bốn khổ là 16 câu.

(2) Nguyên văn toàn bài:

Thanh xuân

Chợt tiếng buồn xưa động bóng cây Người đi chưa dạt dấu chân bày Bàn tay nằm đó không ngày tháng Tình ái xin về với cỏ may

Rồi lá mùa xanh cũng đỏ dần Còn đây niềm hối tiếc thanh xuân Giấc mơ choàng dậy tan hình bóng Và nỗi tàn phai gõ một lần

Kỷ niệm sầu như tiếng thở dài Khuya chìm trong tiếng khóc tương lai Tầm xa hạnh phúc bằng đêm tối Tôi mất thời gian lỡ nụ cười

Đời sống ôi buồn như cỏ khô Này anh em cũng tợ sương mù Khi về tay nhỏ che trời đất Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ

Trong Thơ Nhã Ca (S. Nxb Ngôn ngữ, 1965 ). Lưu ý là bài này như vậy viết ở Sài Gòn những năm sáu mươi thế kỷ XX, còn bài Hoa cỏ may của Xuân Quỳnh viết ở Hà Nội, 1985. Khi thơ Nhã Ca tái bản (S. 1972 ) bài Thanh xuân này xếp vào phần I, mang tên thơ viết thời con gái. Nhã Ca còn nhiều bài khác, có cấu tứ tương tự: Ngày tháng trôi đi, Bước tàn phai, Bàn tay chàng, Vết cắt xuân

(3) Đây cũng là điều Phan Cự Đệ dẫn trong cuốn Phong trào thơ mới , in lần đầu 1966. Nhà nghiên cứu chỉ không nói rõ do ông tìm ra hay do sự mách bảo của chính Xuân Diệu .

(4)Tìm đọc bài viết của chúng tôi Xuân Diệu và một quan niệm cởi mở về íính dân tộc trong đó có dẫn lại đầy đủ Tính cách An Nam trong văn chương. Có trong nhiều tập “hồ sơ” về Xuân Diệu đã xuất bản.

Trích từ: http://www.viet-studies.info/vtnhan/

oOo

Đêm Trăng – Ca sĩ Mai Hương

Share this:

Facebook

Email

Thêm

In

Twitter

Reddit

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Phân Tích Bài Thơ Thơ Duyên Của Xuân Diệu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích bài thơ “Thơ duyên” của Xuân Diệu (Bài văn phân tích của bạn Trần Thị Tuyết lớp 11A1 trường THPT chuyên Bắc Ninh).

Trong “lời đưa duyên” đầu tập thơ “Thơ thơ” của Xuân Diệu, ông viết: “Đây là lòng tôi đương thời sôi nổi, đây là hồn tôi vừa lúc vang ngân và đây là tuổi xuân của tôi nữa… Tôi gửi hồn tôi cho những người trẻ tuổi và nhất là trẻ lòng”. Câu dẫn khiến tôi nghĩ tới bài thơ “Thơ duyên” – một trong những bài thơ hay nhất trong tập thơ của Xuân Diệu.

Xuân Diệu được người đời gọi bằng cái tên trìu mến “ông Hoàng thơ tình”. Tình yêu trong thơ Xuân Diệu đâu chỉ đơn thuần là tình yêu đôi lứa, nó còn biểu hiện phong phú và tinh tế hơn. Trong bài “Thơ duyên” cũng vậy, thi phẩm nhắc đến “duyên”, song không phải lương duyên, nhân duyên hay duyên phận. Nó là sự gắn bó hòa hợp tự nhiên lòng người với thiên nhiên, vũ trụ nên mới tạo ra một mối “duyên” đẹp như “thơ”.

Trước hết, Xuân Diệu bắt đầu bài thơ bằng bức tranh thiên nhiên đầy sức sống:

“Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên,

Cây me ríu rít cặp chim chuyền.

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền”

Trong không gian chiều, khoảng thời gian gợi buồn, là lúc một ngày sắp kết thúc, con người thèm được nghỉ ngơi thì Xuân Diệu lại vẽ một bức tranh thiên nhiên không ngơi nghỉ. Tiếng chim vẫn tiếp tục véo von, cây hoa vẫn xanh mướt, mọi vật khi thu sang cựa quậy sinh động. Những câu thơ Tây quá! Xuân Diệu thoát ra khỏi hoàn toàn ý niệm chung về không gian và thời gian, chỉ để trái tim sống động này được tươi trẻ. Thế nên mới có một buổi chiều là “chiều mộng” chứ không phải chiều thực chăng?

Tiếp tới, thi sĩ thu hẹp không gian hơn, mọi thứ như gần gũi và chân thực hơn:

“Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu,

Lả lả cành hoang nắng trở chiều.

Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn,

Lần đầu rung động nỗi thương yêu.”

Ấy vậy thôi, chứ những câu thơ vẫn “mộng” lắm. Cái nét “nhỏ nhỏ”, “xiêu xiêu”, “lả lả” kia làm không gian như đang tan ra theo lời thơ. Chẳng thế mà Hoài Thanh nhận xét “Nó chỉ mất một ít rõ ràng để được thêm rất nhiều thơ mộng”. Hơn nữa, nội tâm còn như đang hóa thành ngoại giới khi mà mới chỉ nghe “ý bạn” thôi mà cũng thấy được “nỗi thương yêu” rồi. Thật vậy, Xuân Diệu luôn nhìn đời bằng cặp mắt “xanh non biếc rờn”.

Đến hai khổ thơ tiếp, ta không còn thấy sự hòa hợp giữa lòng người và cảnh vật nữa mà là sợi dây giao cảm giữa lòng người với lòng người:

“Em bước điềm nhiên không vướng chân,

Anh đi lững đững chẳng theo gần.

Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu,

Anh với em như một cặp vần.

Mây biếc về đâu bay gấp gấp,

Con cò trên ruộng cánh phân vân.

Chim nghe trời rộng giang thêm cánh,

Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần.”

Bề ngoài, hai nhân vật xuất hiện trong khổ thơ như là xa lạ lắm “em bước điềm nhiên”, “anh đi lững đững” thế nhưng lòng người thì lại như “một cặp vần” hòa hợp với nhau. Thiên nhiên cũng như rơi vào cảm xúc chung ấy. “Gấp gấp” là từ láy chỉ sự khẩn trương, sôi nổi, say đắm tiến tới tình yêu. Còn “phân vân” chỉ sự e dè, dùng dằng, chẳng dứt. Hơn nữa, con người lại có đôi chút lo sợ và dự cảm. Thế nên chim không bay, nó “nghe” ra được là trời rộng. Một chút “lạnh” chiều sương giăng thể hiện nỗi băng giá trong lòng người. Như vậy, Xuân Diệu đã thực hiện nội tâm hóa cảnh giới, thổi hồn mình và hồn tạo vật.

“Ai hay tuy lặng bước thu êm,

Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm.

Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy,

Lòng anh thôi đã cưới lòng em.”

Cuối cùng, khổ thơ cuối kết thúc với niềm bộc bạch trực tiếp của nhân vật. Sự gắn bó hòa hợp lên cao tới mức không còn là “rung động”, yêu đương nữa mà đã như là “cưới” rồi. Cái cưới này là cưới của “lòng anh” và “lòng em”, là cái cưới trong tâm tưởng. Cái khát khao được giao cảm bộc lộ thật chân thật và trần thế. Chẳng phải một Xuân Diệu “mới nhất trong các nhà thơ Mới” ở đây chứ đâu nữa?

Tóm lại, bài “Thơ duyên” của Xuân Diệu đã chứng minh một phong cách rất Tây, rất Mới thông qua hình ảnh, ngôn từ, diễn đạt, nhịp điệu… mới mẻ và tinh tế. Có lẽ, “Thơ duyên” chính là cách riêng của Xuân Diệu làm đẹp cho đời và thể hiện tâm hồn riêng của mình. Thế nên, có ai đó đã bình “Với bài “Thơ duyên”, Xuân Diệu thực sự đã làm duyên với cuộc đời và sự làm duyên ấy chính là duyên thơ”.