Top 16 # Bài Thơ Trở Về Với Mẹ Ta Thôi / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Trở Về Với Mẹ Ta Thôi – Đồng Đức Bốn – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng / 2023

Đồng Đức Bốn

Trở về với mẹ ta thôi

1

Cả đời ra bể vào ngòi Mẹ như cây lá giữa trời gió rung Cả đời buộc bụng thắt lưng Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng Đường đời còn rộng thênh thang Mà tóc mẹ đã bạc sang trắng trời Mẹ đau vẫn giữ tiếng cười Mẹ vui vẫn để một đời nhớ thương Bát cơm và nắng chan sương Đói no con mẹ xẻ nhường cho nhau Mẹ ra bới gió chân cầu Tìm câu hát đã từ lâu dập vùi.

2.

Chẳng ai biết đến mẹ tôi Bạc phơ mái tóc bên trời hoa mơ Còng lưng gánh chịu gió mưa Nát chân tìm cái chửa chưa có gì Cầm lòng bán cái vàng đi Để mua những cái nhiều khi không vàng.

3.

Mẹ mua lông vịt chè chai Trời trưa mưa nắng đôi vai lại gầy Xóm quê còn lắm bùn lầy Phố phường còn ít bóng cây che đường Lời rao chìm giữa gió sương Con nghe cách mấy thôi đường còn đau.

4.

Giữa khi cát bụi đầy trời Sao mẹ lại bỏ kiếp người lầm than Con vừa vượt núi băng ngàn Về nhà chỉ kịp đội tang ra đồng Trời hôm ấy chửa hết giông Đất hôm ấy chẳng còn bông lúa vàng Đưa mẹ lần cuối qua làng Ba hồn bảy vía con mang vào mồ Mẹ nằm như lúc còn thơ Mà con trước mẹ già nua thế này.

5.

Trở về với mẹ ta thôi Giữa bao la một khoảng trời đắng cay Mẹ không còn nữa để gầy Gió không còn nữa để say tóc buồn Người không còn dại để khôn Nhớ thương rồi cũng vùi chôn đất mềm Tôi còn nhớ hay đã quên Áo nâu mẹ vẫn bạc bên nắng chờ Nhuộm tôi hồng những câu thơ Tháng năm tạc giữa vết nhơ của trời Trở về với mẹ ta thôi Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.

Đồng Đức Bốn bắc cầu lục bát – Nguyễn Trọng tạo

Ngược lại, có người vẫn coi Đồng Đức Bốn là cây bút có tài, nhưng thơ Bốn thì họ chỉ coi là “thơ vàng mạ”, “thơ rỗng ruột”. Nguyễn Hòa nhận định: “Phải chăng sự dông dài của những câu thơ “rỗng ruột” là một trong những đặc điểm làm nên phong cách thơ Đồng Đức Bốn, và nếu trên đời có cái gọi là “y bát thơ lục bát” thì dường như nó đã bị trao nhầm chỗ” Còn thần đồng Trần Đăng Khoa trong một bài viết chưa/không công bố thì cho rằng: “Chỉ óng ánh trang kim, nhưng nhẹ tếch chẳng có gì. Gạt cái vỏ mạ vàng ra, bên trong chỉ luễnh loãng một chút sương khói”.

Vậy là thơ Đồng Đức Bốn được khen được chê rất khác nhau, thậm chí là hai thái cực, không cực nào chịu cực nào. Điều đó cũng làm khó cho Đồng Đức Bốn khi xin vào Hội Nhà Văn Việt Nam. Cả 3 lần bỏ phiếu cho Bốn ở Hội đồng Thơ chỉ đạt được tỉ lệ 4/9 phiếu. Tôi cũng ngồi trong Hội đồng Thơ mấy lần bỏ phiếu cho Bốn, phải an ủi anh qua điện thoại: Tại vì cái tên cậu là Bốn cho nên nó mới ám vào 4 phiếu, hay là đổi tên thành Đồng Đức Chín cho nó hên?

Là nói thế cho vui, chứ đọc thơ Đồng Đức Bốn thấy nhiều câu hay, mà chỉ hay ở lục bát. Lục bát là một thể thơ dân gian mà không học cũng làm được. Ai là người Việt Nam mà chả biết thơ lục bát nó thế, nó thế. Nó ngấm vào tâm hồn người Việt đến nỗi xuất khẩu cũng thành thơ lục bát. Ca dao hò vè diễn ca trường thiên hay hát dân ca và chèo đều sử dụng thể loại thế mạnh này. Và Đồng Đức Bốn thấm đẫm cái thể lục bát từ trong bụng mẹ, nên anh làm lục bát dễ như thò tay vào túi. Nhưng tại sao lục bát của Bốn có nhiều câu hay? Trước hết, anh có một khả năng thơ trời cho, nhưng không chỉ có vậy, Bốn cũng là người say thơ, mê thơ, và học tập được cái hay cái dở ở trong thơ người khác. Anh phân biệt được thơ dân gian với thơ bác học. Nghĩa là, anh có học (dù tự học), anh có tư duy thơ, mà tư duy thơ của anh cũng có cái sự độc đáo riêng. Đó là sự trống trải, dày vò, đau đớn của riêng anh. Đó là bi kịch của tinh thần lãng mạn trong tâm hồn anh. Đó là sự lắng lại sau ồn ào ảo tưởng của người thi sĩ trước miếng cơm manh áo, hiện thực hay phù phiếm trước cuộc đời. Và thơ đã cứu thoát anh vượt ra khỏi biển đắng cay và mộng mị. Nói là vượt ra, bởi anh đã đứng ra ngoài câu thơ để đọc lại đắng cay của đời mình:

Mải mê đuổi một con diều Củ khoai nướng để cả chiều thành than.

Câu lục bát này hay bởi nó chứa đựng triết lý “được-mất” một cách ngơ ngác và đau đớn. Tuy câu lục chỉ là tiền đề với một ngôn ngữ phẳng (đơn nghĩa) nhưng câu bát lại gợi lên được nhiều cảm giác của mất mát và tiếc nuối với những thi ảnh trùng điệp: củ khoai, nướng, (buổi) chiều, (tro) than… Nhưng cái hay của câu lục bát này càng có giá hơn khi nó được cộng hưởng với cái không gian đồng quê mùa đông có vẻ như bất an của câu luc bát mở ra bài thơ đầy gợi cảm: “Chăn trâu cắt cỏ trên đồng/ Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều”. Bài thơ lục bát này gieo được ấn tượng khó quên cho người đọc chính là nhờ cái tâm trạng bất an được mất đó. Tuy vậy, câu thơ Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều” khiến tôi nhớ đến một câu thơ của Hữu Thỉnh trước đó viết về người mẹ gánh rạ ngoài đồng. Cũng rạ, cũng gió đặt cạnh nhau mà câu thơ trở nên hay: Rạ chẳng nặng mà nặng nhiều vì gió. Nếu không biết câu thơ của Hữu Thỉnh thì chắc câu của Bốn sẽ là một bất ngờ thú vị nhờ một tiểu đối hơi bị chênh chao.

Tôi từng nghĩ, nghệ thuật khởi đầu từ bắt chước. Điều đó không sai. Trẻ em vẽ con ngựa là bắt chước con ngựa, nhưng vì nó thích quá cái móng thiếc dưới chân ngựa nên nó có thể vẽ cái móng thiếc to hơn bình thường. Khi nó vẽ cái sở thích độc đáo của nó, đó là nghệ thuật ấn tượng của riêng nó. Đồng Đức Bốn cũng như mọi người làm thơ lục bát, đều bắt chước thể lục bát. Không biết ai là người đầu tiên làm ra câu lục bát để cho Truyện Kiều làm nên đại thi hào Nguyễn Du? Ấy là Truyện Kiều đã nâng lục bát dân giã lên tầm bác học. Khi Nguyễn Bính viết: “Anh đi đấy, anh về đâu?/ Cánh buồm nâu/ cánh buồm nâu/ cánh buồm…” và Bùi Giáng viết: “Hỏi quê…rằng biển xanh dâu/ Hỏi tên…rằng mộng ban đầu đã xa” là họ đã tạo nên thi pháp mới cho lục bát. Đồng Đức Bốn cũng tiếp thu được cả tính dân giã và bác học của lục bát, nhưng tính dân giã trong anh thường lấn lướt tính bác học, bởi thế những bài thơ “tầm tầm” chiếm đa số. Cấu tứ bài thơ của anh lại thường bị cảm tính chi phối nên thường luễnh loãng (như Trần Đăng Khoa nhận xét), ít tạo nên những tứ thơ mạnh mẽ, cô đúc hay độc đáo. Điều này không thể so với Nguyễn Bính được, vì thơ Nguyễn Bính đậm hồn Việt nhưng cấu tứ lại hơi hướng phương Tây, rất chặt chẽ và bất ngờ. Chỉ với mấy con số chín trong Giấc mơ anh lái đò cũng đủ khiến ta sửng sốt khi tác giả buông ra câu lục bát: “Lang thang tôi dạm bán thuyền/ Có người trả chín quan tiền, lại thôi!”. Vì thế mà tôi khẳng định tài thơ của Bốn chính là nằm ở trong những câu lục bát tiêu biểu của anh, đó là những câu lục bát hay bất ngờ:

– Đời tôi mưa nắng ở đâu Bây giờ vuốt gió trên đầu tóc rơi.

– Đừng buông giọt mắt xuống sông Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm

– Câu thơ nấp ở sân đình Nhuộm trăng trăng sáng, nhuộm tình tình đau

– Không em ra ngõ kéo diều Nào ngờ được mảnh trăng chiều trên tay, Luồn kim vào nhớ để may Chỉ yêu cứ đứt trên tay mình cầm.

– Không em từ bấy đến giờ Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang.

– Cầm lòng bán cái vàng đi

Để mua những cái nhiều khi không vàng

– Xong rồi chả biết đi đâu Xích-lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương!

Từ những câu lục bát hay đó, có thể nhận ra một Đồng Đức Bốn đa cảm, giàu yêu thương và cũng lắm đau buồn. Có người trách thơ anh kém vui, nhưng tôi thấy nỗi buồn của anh dẫu cay đắng đến đâu cũng đều là nỗi buồn đẹp. Cái đẹp của thiên nhiên quê kiểng như ăn sâu vào anh, chìm đắm và anh không trôi đi được, không dứt ra được. Đối tượng thiên nhiên trong thơ anh quanh đi quẩn lại cũng chỉ có vầng trăng, cánh đồng, dòng sông, con đò, nhưng sao mà đẹp thế! Đẹp vì thiên nhiên ấy gắn với tình người. Hơn nữa, đó là tình người thi sĩ.

Tuy vậy, Đồng Đức Bốn cũng có những bài lục bát hay. Không nhiều, nhưng hay. Đó là bài Chăn trâu đốt lửa (tôi đã dẫn ở trên), bài Trở về với mẹ ta thôi và bài Vào chùa. Hầu như nhà thơ nào cũng làm thơ về mẹ, vì con ở trong mẹ từ khi còn là hạt bụi, một gắn bó đặc biệt hơn cả vô thức. Bài thơ của Đồng Đức Bốn viết về mẹ lại cũng trong một trạng huống đặc biệt, đó là khi mẹ bỗng trở về cát bụi. Nhưng sự gắn bó và tình yêu thương mẹ của Bốn thật là day dứt. Lời thơ viết về mẹ không thể làm dáng làm điệu mà chân thành mộc mạc đến tận cùng. Ba đoạn thơ đầu là viết về mẹ khi còn sống tảo tần cay đắng nuôi con, hai đoạn thơ sau là tâm trạng của con mất mẹ. Sự bùng nổ tình cảm của nhà thơ mất mẹ trong một cảnh ngộ thật đau lòng:

Con vừa vượt núi băng ngàn Về nhà chỉ kịp đội tang ra đồng Trời hôm ấy chửa hết giông Đất hôm ấy chẳng còn bông lúa vàng Đưa mẹ lần cuối qua làng Ba hồn bảy vía con mang vào mồ Mẹ nằm như lúc còn thơ Mà con trước mẹ già nua thế này.

Và tâm trạng nhà thơ lúc đó thật lạ lùng:

Mẹ không còn nữa để gầy Gió không còn nữa để say tóc buồn Người không còn dại để khôn Nhớ thương rồi cũng vùi chôn đất mềm

Đến câu kết thì thật bất ngờ và táo bạo:

Trở về với mẹ ta thôi Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.

Quan niệm “sống gửi chết về” bỗng dưng hiện lên trong câu thơ cuối như một cầu mong đươc về với mẹ, mãi làm lay động lòng người. Một bài thơ toàn bích.

Bài thơ Vào chùa chỉ bốn câu mà treo lên trước cuộc đời cả một câu hỏi lớn về tình thương đồng loại. Hai nhân vật sư và ăn mày, hai hướng đời và đạo. Nhưng cả hai đều sống bằng của bố thí. Vì thế mà cái cảnh diễn ra trước cửa chùa như báo trước một điều gì thật đáng lo ngại:

Đang trưa ăn mày vào chùa Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Sư không sẻ chia cơm áo mà lại cho ăn mày “một lá bùa” rồi bỏ đi. Sao mà dửng dưng, sao mà chua chát thế. Ngòi bút Đồng Đức Bốn ở đây thật lạnh, nhưng rồi anh bỗng hiểu ra:

Cái triết lý “con ông sãi chùa lại quét lá đa” như thấp thoáng hiện lên trong bài thơ như một bất lực, hay là một câu hỏi về tình đồng loại không dễ trả lời. Cái tưng tửng “chết người” của nhà thơ chính là ở chỗ đó. Đó là cách nói tài hoa của Đồng Đức Bốn.

Có người cho đó là một bài thơ thiền. Tôi nghĩ không phải. Đâu phải cứ có sư thì ở đó có thơ thiền. Đồng Đức Bốn càng không phải là một nhà thơ mang tư tưởng thiền, anh chính là một nhà thơ hiện thực mang bi kịch lãng mạn. Vì vậy mà nhiều khi anh ngơ ngác trước những nghịch lý trớ trêu của cuộc đời. Và anh đã làm thơ, đặc biệt là thơ lục bát, gây được ấn tượng trong lòng bạn đọc. Có thể nói, Đồng Đức Bốn đã “bắc cầu lục bát” để đến với cuộc đời này.

Hà Nội, 4.5.2011

Mẹ Ta Trả Nhớ Về Không * / 2023

Con gái anh học trường quốc tế, nó rành những điều này nhờ có các cô nhắc nhở thông qua các bài học hội họa thủ công vân vân.

Khoảng sáu tháng trước, cũng trong một lần về nhà mẹ, anh ghé siêu thị huyện mua một số đồ dùng, thực phẩm thường ngày như khăn giấy, xà bông, nước mắm, dầu ăn… Anh nghĩ là mẹ sẽ vui vì không phải mất công ra tạp hóa xách nặng hay là nhờ vả mấy đứa cháu nhỏ mua giùm. Khi anh lỉnh kỉnh xách đồ vào, mẹ đứng ngay bậc cửa nhìn anh hỏi: Xin lỗi chú đi giao hàng cho ai, tôi đâu có mua!

Câu hỏi của mẹ làm anh bất động. Trước đây anh hay cho mẹ tiền chứ chưa tự mình mua sắm kiểu này. Hay là mẹ đùa với anh, nhưng không phải. Nhìn ánh mắt mẹ ngạc nhiên, mơ hồ thì anh biết mẹ không nhận ra anh thật. Anh biết mẹ đã bắt đầu quên. Đầu tiên là mẹ quên tên mấy đứa cháu nhưng chỉ cần nhắc sơ thì bà nhớ ra liền. Có những thứ, bà cứ hỏi đi hỏi lại. Mới sáng mẹ hỏi lúc này công trình của con ở đâu, thì chiều bà lại hỏi tiếp cũng câu hỏi ấy. Mẹ quên mình đã ăn sáng, quên đã uống thuốc, quên đóng cửa rào theo lời con dâu út dặn khi nó đi ra khỏi nhà. Nhưng mà mẹ quên cả con trai mình thì anh chưa hề nghĩ tới. Sáu tháng trước, bỗng dưng anh thành một gã giao hàng ngớ ngẩn khi đứng trước mặt mẹ mình. Xin lỗi chú đi giao hàng cho ai, tôi đâu có mua! Câu nói lịch sự nhã nhặn đúng kiểu con người mẹ lại đau như một nhát chém. Câu nói làm anh đổ gục.

Bữa đó anh lẳng lặng vô nhà. Mẹ anh đứng nép qua một bên cửa nhường đường nhìn anh lạ lẫm. Anh thay ra cái áo thun và quần xà lỏn mỗi khi về mẹ anh hay mặc. Anh dắt tay mẹ vô giường ngồi, hai bàn tay nắm lấy nhau, đan cài, siết nhẹ. Anh sắp khóc. Và như có một cái công tắc bật mở, mẹ nhận ra anh. Ánh mắt mẹ hết băn khoăn và trở nên hồ hởi, hỏi anh đi xe mệt không, hỏi anh ăn cơm chưa và mẹ nhớm chân đi dọn. Lần này mẹ quên hỏi anh câu quen thuộc là vợ và mấy đứa nhỏ đâu. Phút giây ngắn ngủi Xin lỗi chú đi giao hàng cho ai, tôi đâu có mua! trôi qua không để lại một dấu vết. Như một dòng nước, một cánh chim bay ngang trời. Và lòng anh vết thương chợt sâu.

Vết thương ấy, mỗi ngày mỗi sâu thêm khi trí nhớ của mẹ cứ dần dần trở về vùng bảng lảng. Có lúc thì bà nhớ rõ, mà là kiểu nhớ đan cài những chuyện rất xa xưa. Chuyện nọ người này cứ lẫn lộn vào nhau. Gặp nhau, xưng tên thì bà sẽ nhớ, nhưng lần sau anh về thì lại xin lỗi chú tìm ai!

Và thật lạ lùng, mỗi khi mẹ ngơ ngác nhìn anh như thể một người lạ thì anh lại thấy thương mẹ tan nát, xốn xang. Đó luôn là phút giây anh phải đấu tranh giữa việc chạy tới ôm ghì lấy mẹ và cân nhắc là hành động ấy có làm mẹ bị kinh sợ không. Mẹ anh 80 tuổi, bác sĩ nói rằng không thể điều trị. Trí nhớ của bà sẽ cứ thế cứ thế, bảng lảng mơ hồ cho đến ngày mẹ thực sự thành một áng mây bay, một ý niệm ngọt ngào. Một thời gian ngắn nữa, anh là một người lạ hoàn toàn, không thể nhắc nhớ. Lúc đó, lời vợ anh nói sẽ đúng ở một phía nào đó, anh về hay không cũng vậy thôi, anh đã thành người lạ.

Anh nhớ 15 năm trước, khi xem xong phim 50 First Dates (50 lần hẹn đầu tiên), anh khoái chí nói với vợ, anh này coi vậy mà sướng nha, ngày nào cũng được vợ yêu như ngày đầu!

Đó cũng là một bộ phim về chuyện mất trí nhớ. Sau một tai nạn, trí nhớ của cô gái dừng lại ở ngày 13 tháng 10. Ngày nào cũng là ngày 13 tháng 10, dù cho cả chục năm sau đó, cô có chồng, có sinh con. Mỗi ngày khi thức dậy, chồng và con của cô lại trở thành người lạ. Người đàn ông trong phim, cứ để sẵn một cuộn băng video trong tầm mắt vợ mình. Khi nàng tỉnh giấc, nàng xem qua cuộc băng, sẽ hiểu mình đang là ai, sống ở thời điểm nào của dòng thời gian miên viễn và cả trái tim nàng, đang chứa bóng hình nào trong ấy. Bộ phim ghi lại những nỗ lực làm cho vợ mình luôn cảm thấy đang được yêu như ngày đầu của người đàn ông ấy.

Vui tươi, dí dỏm và ngọt ngào. Cho đến khi chứng kiến sự quên lãng của mẹ, anh thấm thía hiểu ra chuyện ấy chỉ ngọt ngào trong phim ảnh mà thôi.

Chuyện mẹ bị mất dần trí nhớ, bị lẫn lộn giữa bi thương và hòa ái số phận, thật khó chịu đựng. Nó không bắt anh ngay lập tức ẵm mẹ ra xe cứu thương nhưng vẫn khiến anh sợ cuống cuồng. Sợ cái điều tồi tệ nhất nhanh đến. Mất trí nhớ vì tai nạn, vì tuổi già, vì những cú sốc tinh thần… những ai chưa có người thân mắc phải thì sẽ khó cảm nhận, khó hiểu đủ những trạng thái cảm xúc của người… còn tỉnh.

Duy nhất một điều anh tin và thấy an ủi, là khi mẹ thật cố gắng cũng không nhận ra anh là ai, thì chỉ cần anh nắm bàn tay bà, gương mặt bà sẽ rạng ngời, dịu dàng trở lại. Anh biết có một luồng năng lượng yêu thương bất tử đang chảy qua hai bàn tay nắm ấy. Vậy là tình yêu của anh và mẹ, là thứ duy nhất không thể xóa đi, không thể quên lãng. Vì đó là mẹ và con trai của bà.

Vậy đó, cứ mỗi tuần một lần, có một người đàn ông cao to dềnh dành, tu tu khóc như một đứa trẻ khi có người mẹ già vỗ vỗ sau lưng để an ủi “chú đi giao hàng”.

Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa / 2023

Thơ viết về đề tài người mẹ của các thế hệ, các dân tộc từ xưa đến nay nhiều không kể xiết. Bài thơ “ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của Nguyễn Duy là chuỗi hồi tưởng cảm động của người con về mẹ.Bài thơ neo đậu theo dòng thời gian trong lòng bạn đọc những cảm xúc thơ mà ai đọc cũng cảm thấy “hình như giống mình”, “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” là một bài thơ như vậy. nguyên văn bài thơ như sau:

Khói nhang vẻ nẻo đường lên niết bàn Chân nhang lấm láp tro tàn Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào. Nón mê thay nón quai thao đội đầu Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa. Cái cò… sung chát… đào chua… Câu ca mẹ hát gió đưa về trời Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru. Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm Bao giờ cho tới tháng năm Mẹ ra trải chiếu ta nằm đến sao. Ngân hà chảy ngược lên cao Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm… Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi. Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn Liệu mai sau các con còn nhớ chăng. Lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương…

Sài Gòn, Mùa thu 1986

(Trích trong tập “Mẹ và em” – NXB Thanh Hóa 1987)

Thơ viết về đề tài người mẹ của các thế hệ, các dân tộc từ xưa đến nay nhiều không kể xiết. Bởi lẽ: Công cha “như núi Thái Sơn” nhưng còn định lượng, đo đếm được, còn “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” thì biết bao giờ cho cạn…

Cách đây hơn 3000 năm đã có thơnói về người mẹ được Khổng Tử (551 – 479 TCN) chép lại trong bộ “Kinh Thi” về “đức cù lao” – công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ đối với con gái.

Trong “Chín chữ cù lao” thì “sinh ngã” (sinh đẻ ra) và “cúc ngã” (cho bú mớm) là thiên chức của người mẹ.

Bà thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của Nguyễn Duy là nỗi nhớ cảm động của người con về mẹ trong quá trình sinh thành dưỡng dục.

Ký ức tuổi thơ của Nguyễn Duy đấy đắp hoài niệm về người mẹ mà nguyên mẫu là bà ngoại.

Nhà thơ bộc bạch: “Mẹ tôi mất sớm. Tôi và em gái tôi ở với bà ngoại. Hình ảnh về người mẹ trong bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” chính là hình ảnh bà ngoại tôi hồi đó… Những đêm hè trời trong, gió mát bà tôi thường trải manh chiếu cói trên mặt đê sông Mã. Cùng các cháu nằm ngắm trăng, kể chuyện “Hằng Nga”, chuyện “thằng cuội ngồi gốc cây đa/để trâu ăn lúa…”, chuyện ngụ ngôn nào đó, hoặc là đếm “một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng…”.

Mở đầu bài thơ khởi nguồn cho nỗi nhớ mẹ của tác giá từ một thời điểm gợi cảm (về đêm) và một không gian đậm đặc tâm linh (khói nhang, hương của loại hoa chuyên thờ cúng – hoa huệ).

Hình ảnh người mẹ hiện về cùng bao kỷ niệm thân thương. Đó là người mẹ nghèo, nơi đồng quê, rơm rạ với “nón mê”, “váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa” cùng với câu ca mẹ hát ru: “cái cò lặn lội bờ sông”…

Những kỷ niệm tuổi thơ biến thành nỗi nhớ ở mỗi con người đều gắn với những hình ảnh, việc làm cụ thể mang tính trực cảm.

Nhà thơ nhớ tới mẹ mình không chỉ là lời ru mà còn qua đồng quà tấm bánh, “trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm” – những món quà quê như nhà thơ tâm sự cùng bạn đọc: “đã trở thành những miếng ngon tột đỉnh trong đời”.

Sự hy sinh, đùm bọc đứa con của mẹ gắn với những hành động yêu thương rất đỗi bình thương, cụ thể: chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo phần con và “Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương”. Hình ảnh những đêm hè được mẹ trải chiếu ở sân, vườn, bờ đê trên những thảm cỏ mát rượi nằm ngắm bầu trời, đếm sao, nằm nghe kể chuyện chị Hằng, chú Cuội… là hình ảnh thân quen của bao người…

Bài thơ neo đậu theo dòng thời gian trong lòng bạn đọc những cảm xúc thơ mà ai đọc cũng cảm thấy “hình như giống mình”, “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” là một bài thơ như vậy.

Nguyễn Duy có giọng điệu thơ trữ tình đan xen triết luận. Đọc đoạn thơ “Mẹ ru cái lẽ ở đời/ sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn/ Bà ru mẹ… Mẹ ru con/ Liệu mai sau các con còn nhớ chăng” người đọc cảm nhận sâu sắc công dưỡng dục, đức cù lao của người mẹ đối với con cả phần xác lẫn phần hồn, cả miếng cơm, manh áo đến lẽ sống tốt đẹp ở đời. Theo dòng chảy của thời gian chân lý này tồn tại vĩnh hằng: “Bà ru mẹ… Mẹ ru con” như một quy luật tự nhiên. Tuy nhiên nhà thơ cũng không khỏi băn khoăn, lo lắng liệu những lời ru nuôi dưỡng tâm hồn ấy mai sau có bị mai một: “Liệu mai sau các con còn nhớ chăng”. Sự băn khoan, lo lắng ấy hẳn là không phải không có lý do.

“Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của Nguyễn Duy là những cảm xúc yêu thương cụ thể của người con đối với mẹ.

Những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ về người mẹ trong mỗi con người là nguồn sống cho những lý tưởng cao đẹp, những giá trị nhân văn giúp cho cái chân, cái thiện, cái mỹ vốn tiềm ẩn trong mỗi chúng ta phát triển.

Trần Văn Huy @ 21:02 25/03/2012 Số lượt xem: 686

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa” / 2023

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương.

Bài thơ được bắt đầu bằng sự sâu lắng hết sức thiêng liêng, mênh mông, gợi lên cho ta một khoảng không gian rộng lớn, làm lộ rõ nét cô đơn của đứa con mồ côi vừa mất mẹ:

Bần thần hương huệ thơm đêm Khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết Bàn Chân nhang lấm láp tro tàn Xăm xăm bóng mẹ trần gian thưở nào.

Tại sao lại là “khói nhang” mà không là ánh nến hay một phương tiện huyền ảo nào khác, mới có thể “vẻ nẻo đường lên Niết bàn”? Giữa khói nhang và Niết Bàn trong bài thơ đủ nói lên tập quán ngàn đời của dân tộc với chân lý Niết Bàn của Phật giáo, dù Niết Bàn trong Duy Thức Học, hiểu được nó không hề đơn giản. Theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm, thì Niết Bàn không xảy ra trong thế giới cửa nhận thức. Nhưng bằng con mắt tục đế, chúng ta dễ dàng hiểu được Niết Bàn trong thơ Nguyễn Duy. Có nghĩa là nơi đó là một vị trí – địa danh xứng đáng đới với những tấm lòng hiếu thảo của người con đặt để dành cho người mẹ mình. Chúng ta chấp nhận được. Và có lẽ, như biết được ý nghĩa trên nên Nguyễn Duy phải nói “vẻ nẻo đường lên Niết bàn”? Nhìn thấy “Chân nhang lấm láp tro tàn”là một hình tượng tất yếu về một kiếp đời thọ nghiệp; nó còn nói lên cái hình bóng, công ơn lao nhọc cà cuộc đời của người mẹ một cách cô đọng, thay vì tác giả phải kể lể bằng nhiều hình ảnh khác nhau như “Cánh còn lặn lôi…”.

Mẹ ta không có yếm đào Nón mê thay nón quai thao đội đầu Rối ren tay bí tay bầu Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa.

Từ trước đến nay, tuy tự nhận mình la một người ít khi tiếp xúc với thơ văn, nhưng trên cảm quan chung, tôi ít khi thấy một áng văn thơ nào ca ngợi- tả tỉ mỉ về một người mẹ giàu sang, chân tay cắt móng gọn gàng, mắt mủi đầy ắp chất silicon đặc sệt; chỉ là những bà mẹ nghèo tấn tảo, chai sạm làm da với đội quang gánh cơ hòn, đè nặng bờ vai lao nhọc. Ai đã từng thấy được dây bí dây bầu, dây mướp leo với vô số tay quăng bám chặt và rẻ ngọn trăm hướng để giữ cho thân mình đủ sức mang nặng những đứa con – những trái đậu lủng lẳng, lúc nào cũng ghì nặng thân dây… mới cảm nhận được câu thơ của Nguyễn Duy đến nao lòng, bà thầm thán phục sự ví von tài tình, tuyệt vời của nhà thơ. Không phải đất nước ta vốn có truyền thống của nền văn minh nông nghiệp, mà khi nói về “nhuộm bùn”-tức là làm ruộng-làm nông; đó chỉ là một cách nói tiêu biểu, hàm súc về tình mẹ Phương Đông, muốn tự mình nuôi dạy con cái, chịu đựng tất cả lao nhọc để cho con khôn lớn, không dựa dẫm vào bảo hiểm, nhà trẻ, cấp dưỡng hoặc phó mặc cho xã hội, nhà trường. Cái màu nâu còn còn là màu của đất. Mà đất thì được tắm mát bởi nhân duyên của bốn mùa miền nhiệt đới vốn hằng gian khổ. Người học Phật còn “đi sâu” vào lòng đất hơn bằng tư tưởng tuyệt vời của Tâm Địa Quán: nó sinh ra tất cả và nó ôm ấp tất cả (Chúng sanh chi tâm như đại địa, ngũ cốc – ngũ quả tùng đại địa sanh). Kể cả cái Tâm của Tam Giới cũng chính là ba cái tên của đất (Dĩ thử nhân duyên tam giới, duy tâm tam danh chi địa…) Phải chăng do các yếu tố chân lý đó nên chư Tổ Sư truyền thừa xứ ta xưa kia đã khéo chọn màu nâu cho y phục tăng lữ, như ẩn ý nhắc nhở về một duyên sanh, một ứng dụng tuỳ duyên cho đạo Phật Việt Nam chúng ta.

Cái cò – sung chát – đào chua Câu ca mẹ hát gió đưa về trời Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Những lời tiêu biểu trong các bài hát ru, nó còn là những kỷ niệm tuổi thơ dại, đưa vào miệng bất kể thứ gì nắm được trong tay, và còn mại tiếc nuối, nên thay vì “Cây cải về trời”, như thể lời ru rất thiêng liêng phải được bay về trời. cao vút, cao mãi. Vì thế mà bàn chân ta dong ruổi với gói hành trang mang theo là những lời mẹ ru; lỡ mai ta nằm xuống thì vẫn còn đó, có hoài với đạo lý thế nhân. Đó chính là những lời ru.

Bao giờ cho đến mùa thu Trái hồng, trái bưởi đánh đu giữa rằm.

Nhà thơ Nguyễn Duy chắc lúc tuổi thơ được thừa hưởng những kỷ niệm vui buồn dưới tàn cây ăn quả trong vườn nhà, mùa nào trái ấy, cho nên luôn nhìn được những trái quả trên cành mà mẹ dành chờ qua rằm cúng Phật, cúng ông bà Tổ tiên, hoặc hái đem đi bán đổi gạo. Riêng tôi, những “Trái hồng-trái bưởi đánh đu giữa rằm” ấy là kỷ niệm về một cách lễ nghĩa mẹ dãy “Để mẹ hái cúng Phật, cúng Ông bà, xong rồi mẹ cho ăn”, vì thế “đánh đu” của tôi có nghĩa là thèm thuồng bởi những trái cây cúng Phật, Ông bà thường được mẹ chọn lựa trái to nhất, ngon nhất.

Bao giờ cho đến tháng năm Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao Ngân hà chày ngược lên cao Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm Bớ ao đom đóm chập chờn Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi.

Những ý thơ này chắc rằng ai ai cũng đều có diễm phúc tận hưởng. Dưới ánh mắt và trí tưởng tượng của tuổi thơ, nhì vạn vật đều có thật một cách rất dễ dàng và gần gũi. Sao trên trời làm sao mà đếm được? Nhưng tuổi thơ đếm được (một ông sao sáng hai ông sáng sao…) dù đó chỉ là vòng tròn không có kết thúc, dễ đưa ta vảo… giấc ngủ! Để rồi các thế hệ nối thay nhau mà tiếp tục đếm; đếm hoài cho đến khi qua tuổi trưởng thành rồi nhường lại cho đàn con mà ta ngồi vào vị trí của người mẹ, cho nên:

Mẹ ru cái lẽ ở đời Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn

Dù trong nhận thức đã từng hiểu được giá trị đích thực của những chuẩn mực đạo đức cần thiết nơi mỗi con người, thế mà sao tôi vẫn phải giật mình khi đọc đến hai câu này! Quả thật, trong kho tàng hát ru của dân tộc, có câu nào mà không mang nặng một ý nghĩa nhân văn nào đó, kể cả những điều nhỏ nhất. Ở người mẹ Việt nam, sữa và hát có đủ đầy nuôi bao thế hệ khôn lớn, vỗ an bao nghĩa đậm tình sâu nặng và đúc kết nên bản thiên trường ca tình mẹ bất tử. Ngày nay có không ít em bé được lớn lên, được nuôi dưỡng từ sự ỷ lại và phó mặc; ru con bằng máy cassette mà trong đó vọng ra toàn là những giai điệu Pop – Rock – Disco – Hip hop…để rồi các em bé này lớn lên khi bập bẹ đã thốt ra những thanh âm ban đẩu thay vì Ba - Mẹ thì là “Bai” – “Ok”… Lớn lên chút nữa thì “Ta là Triển hộ vệ đây”. “Ta là Ninza đây”. Cho nên chính nhà thơ đã phải lo lắng:

Bà ru mẹ, Mẹ ru con Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?

Chỉ có những đứa con được lớn lên mang trong mình cà xác lẫn hồn mẹ cho, dù có phiêu bạt góc bể chân trời vẫn không quên được nơi nào quê mẹ và vị trí đặt nôi võng khi xưa ta nằm. Ấy vậy mà niềm thương yêu trọn vẹn đó vẫn luôn da diết, ai hoài:

Nhìn về quê mẹ xa xăm Lòng ta chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa

Để rồi nhà thơ chọn câu ca dao để kết thúc bài thơ như trả về cho đạo lý dân tộc một gia tài nguyên vẹn; lại nữa như muốn gợi ý với thế nhân rằng: dù thơ ca có hay đến thế nào đi nữa cũng không bằng chính lời ru mộc mạc khi nao, xem như sư kết thúc cũng là sự bắt đầu. Với tôi, đó còn là lời nhắn nhủ với những ai đã chóng quên cội nguồn, mà thiếu vắng nó không còn là một giá trị văn hoá – nhân bản của một dân tộc:

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương.

Nhà thơ Nguyễn Duy có lẽ đã đi từ ca dao được mẹ ru bên cánh võng ấu thơ, nên trong tâm khảm đã bật ra bao nỗi lòng bằng chính các lời ru, và đã lấy đó làm tựa đề cho bài thơ:Bài thơ được bắt đầu bằng sự sâu lắng hết sức thiêng liêng, mênh mông, gợi lên cho ta một khoảng không gian rộng lớn, làm lộ rõ nét cô đơn của đứa con mồ côi vừa mất mẹ:Tại sao lại là “khói nhang” mà không là ánh nến hay một phương tiện huyền ảo nào khác, mới có thể “vẻ nẻo đường lên Niết bàn”? Giữa khói nhang và Niết Bàn trong bài thơ đủ nói lên tập quán ngàn đời của dân tộc với chân lý Niết Bàn của Phật giáo, dù Niết Bàn trong Duy Thức Học, hiểu được nó không hề đơn giản. Theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm, thì Niết Bàn không xảy ra trong thế giới cửa nhận thức. Nhưng bằng con mắt tục đế, chúng ta dễ dàng hiểu được Niết Bàn trong thơ Nguyễn Duy. Có nghĩa là nơi đó là một vị trí – địa danh xứng đáng đới với những tấm lòng hiếu thảo của người con đặt để dành cho người mẹ mình. Chúng ta chấp nhận được. Và có lẽ, như biết được ý nghĩa trên nên Nguyễn Duy phải nói “vẻ nẻo đường lên Niết bàn”? Nhìn thấy “Chân nhang lấm láp tro tàn”là một hình tượng tất yếu về một kiếp đời thọ nghiệp; nó còn nói lên cái hình bóng, công ơn lao nhọc cà cuộc đời của người mẹ một cách cô đọng, thay vì tác giả phải kể lể bằng nhiều hình ảnh khác nhau như “Cánh còn lặn lôi…”.Từ trước đến nay, tuy tự nhận mình la một người ít khi tiếp xúc với thơ văn, nhưng trên cảm quan chung, tôi ít khi thấy một áng văn thơ nào ca ngợi- tả tỉ mỉ về một người mẹ giàu sang, chân tay cắt móng gọn gàng, mắt mủi đầy ắp chất silicon đặc sệt; chỉ là những bà mẹ nghèo tấn tảo, chai sạm làm da với đội quang gánh cơ hòn, đè nặng bờ vai lao nhọc.Ai đã từng thấy được dây bí dây bầu, dây mướp leo với vô số tay quăng bám chặt và rẻ ngọn trăm hướng để giữ cho thân mình đủ sức mang nặng những đứa con – những trái đậu lủng lẳng, lúc nào cũng ghì nặng thân dây… mới cảm nhận được câu thơ của Nguyễn Duy đến nao lòng, bà thầm thán phục sự ví von tài tình, tuyệt vời của nhà thơ.Không phải đất nước ta vốn có truyền thống của nền văn minh nông nghiệp, mà khi nói về “nhuộm bùn”-tức là làm ruộng-làm nông; đó chỉ là một cách nói tiêu biểu, hàm súc về tình mẹ Phương Đông, muốn tự mình nuôi dạy con cái, chịu đựng tất cả lao nhọc để cho con khôn lớn, không dựa dẫm vào bảo hiểm, nhà trẻ, cấp dưỡng hoặc phó mặc cho xã hội, nhà trường.Cái màu nâu còn còn là màu của đất. Mà đất thì được tắm mát bởi nhân duyên của bốn mùa miền nhiệt đới vốn hằng gian khổ. Người học Phật còn “đi sâu” vào lòng đất hơn bằng tư tưởng tuyệt vời của Tâm Địa Quán: nó sinh ra tất cả và nó ôm ấp tất cả (Chúng sanh chi tâm như đại địa, ngũ cốc – ngũ quả tùng đại địa sanh). Kể cả cái Tâm của Tam Giới cũng chính là ba cái tên của đất (Dĩ thử nhân duyên tam giới, duy tâm tam danh chi địa…) Phải chăng do các yếu tố chân lý đó nên chư Tổ Sư truyền thừa xứ ta xưa kia đã khéo chọn màu nâu cho y phục tăng lữ, như ẩn ý nhắc nhở về một duyên sanh, một ứng dụng tuỳ duyên cho đạo Phật Việt Nam chúng ta.Những lời tiêu biểu trong các bài hát ru, nó còn là những kỷ niệm tuổi thơ dại, đưa vào miệng bất kể thứ gì nắm được trong tay, và còn mại tiếc nuối, nên thay vì “Cây cải về trời”, như thể lời ru rất thiêng liêng phải được bay về trời. cao vút, cao mãi. Vì thế mà bàn chân ta dong ruổi với gói hành trang mang theo là những lời mẹ ru; lỡ mai ta nằm xuống thì vẫn còn đó, có hoài với đạo lý thế nhân. Đó chính là những lời ru.Nhà thơ Nguyễn Duy chắc lúc tuổi thơ được thừa hưởng những kỷ niệm vui buồn dưới tàn cây ăn quả trong vườn nhà, mùa nào trái ấy, cho nên luôn nhìn được những trái quả trên cành mà mẹ dành chờ qua rằm cúng Phật, cúng ông bà Tổ tiên, hoặc hái đem đi bán đổi gạo. Riêng tôi, những “Trái hồng-trái bưởi đánh đu giữa rằm” ấy là kỷ niệm về một cách lễ nghĩa mẹ dãy “Để mẹ hái cúng Phật, cúng Ông bà, xong rồi mẹ cho ăn”, vì thế “đánh đu” của tôi có nghĩa là thèm thuồng bởi những trái cây cúng Phật, Ông bà thường được mẹ chọn lựa trái to nhất, ngon nhất.Những ý thơ này chắc rằng ai ai cũng đều có diễm phúc tận hưởng. Dưới ánh mắt và trí tưởng tượng của tuổi thơ, nhì vạn vật đều có thật một cách rất dễ dàng và gần gũi. Sao trên trời làm sao mà đếm được? Nhưng tuổi thơ đếm được (một ông sao sáng hai ông sáng sao…) dù đó chỉ là vòng tròn không có kết thúc, dễ đưa ta vảo… giấc ngủ! Để rồi các thế hệ nối thay nhau mà tiếp tục đếm; đếm hoài cho đến khi qua tuổi trưởng thành rồi nhường lại cho đàn con mà ta ngồi vào vị trí của người mẹ, cho nên:Dù trong nhận thức đã từng hiểu được giá trị đích thực của những chuẩn mực đạo đức cần thiết nơi mỗi con người, thế mà sao tôi vẫn phải giật mình khi đọc đến hai câu này! Quả thật, trong kho tàng hát ru của dân tộc, có câu nào mà không mang nặng một ý nghĩa nhân văn nào đó, kể cả những điều nhỏ nhất.Ở người mẹ Việt nam, sữa và hát có đủ đầy nuôi bao thế hệ khôn lớn, vỗ an bao nghĩa đậm tình sâu nặng và đúc kết nên bản thiên trường ca tình mẹ bất tử. Ngày nay có không ít em bé được lớn lên, được nuôi dưỡng từ sự ỷ lại và phó mặc; ru con bằng máy cassette mà trong đó vọng ra toàn là những giai điệu Pop – Rock – Disco – Hip hop…để rồi các em bé này lớn lên khi bập bẹ đã thốt ra những thanh âm ban đẩu thay vì Ba -Mẹ thì là “Bai” – “Ok”… Lớn lên chút nữa thì “Ta là Triển hộ vệ đây”. “Ta là Ninza đây”. Cho nên chính nhà thơ đã phải lo lắng:Chỉ có những đứa con được lớn lên mang trong mình cà xác lẫn hồn mẹ cho, dù có phiêu bạt góc bể chân trời vẫn không quên được nơi nào quê mẹ và vị trí đặt nôi võng khi xưa ta nằm. Ấy vậy mà niềm thương yêu trọn vẹn đó vẫn luôn da diết, ai hoài:Để rồi nhà thơ chọn câu ca dao để kết thúc bài thơ như trả về cho đạo lý dân tộc một gia tài nguyên vẹn; lại nữa như muốn gợi ý với thế nhân rằng: dù thơ ca có hay đến thế nào đi nữa cũng không bằng chính lời ru mộc mạc khi nao, xem như sư kết thúc cũng là sự bắt đầu. Với tôi, đó còn là lời nhắn nhủ với những ai đã chóng quên cội nguồn, mà thiếu vắng nó không còn là một giá trị văn hoá – nhân bản của một dân tộc: