Top 8 # Bài Thơ Uống Nước Của Tiểu Yến Tử Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Hậu Trường Không Như Mơ Sau Cảnh Ăn Uống Ngon Lành Trong Phim Hoa Ngữ: Tiểu Yến Tử Vớt Đồ Dưới Nước Để Ăn

Hoàn Châu Cách cách gắn liền với tuổi thơ của rất nhiều người, đặc biệt là nhân vật Tiểu Yến Tử – Triệu Vy. Vốn tính thẳng thắn, và nghịch ngợm, không sợ trời, không sợ đất đến cả Dung ma ma mà cô nàng còn không sợ, thế nhưng phân đoạn Tiểu Yến Tử “xa cơ lỡ vận” gặp phải vợ chồng chủ quán ăn làm khán giả không khỏi thương tâm.

Tại đây, Tiểu Yến Tử không chỉ bị đánh đập mà còn phải vớt đồ bị rơi xuống nước để ăn. Và phân đoạn này cô cô phải ăn thật. Diễn xuất sống động của Triệu Vy đã khiến khán giả khâm phục và để lại ấn tượng sâu đậm trong suốt nhiều năm qua.

Khi quay Cung tỏa tâm ngọc, vì nhân vật này đang thật sự rất đói, và để hiện tính thần của nhân vật, Dương Mịch đã phải ăn liền mấy bát cơm. Thậm chí cô nàng còn phải cố gắng tạo ra sự dễ thương và chân thật nhất.

Thế nhưng đằng sau đó là nỗi lòng ai hiểu cho Dương Mịch, khi cô nàng là một người ám ảnh về cân nặng. Tuy không đến nỗi “cực hình” nhưng để tròn vai sự hi sinh và cố gắng của Dương Mịch là vô cùng đáng khen ngợi.

Tiêu Chiến

Hình ảnh soái ca Ngụy Vô Tiện do Tiêu Chiến trong Trần tình lệnh vừa tiêu sái vừa ung dung ăn món cá nướng hẳn là không khiến ít fan đổ gục, đặc biệt là nụ cười không ngừng nở trên môi. Vậy nhưng thực tế lại vô cùng “đau thương” bởi món cá nướng mà Tiêu Chiến “thưởng thức chính là cá sống.

Quả thực không thể không nể phục tính chuyên nghiệp của dàn viễn viên Hoa Ngữ.

Nhìn cảnh tượng nam diễn viên ăn một cách “ngon lành” như vậy ai có thể hiểu thực chất là khó ăn đến thế nào.

Không chỉ các nhân sĩ giang hồ mà trong Chân Hoàn truyện, Trần Kiến Bân (đóng vai hoàng đế) từng phải cố nuốt một miếng đồ ăn có mùi vị kỳ lạ do Thái Thiếu Phân (thủ vai Hoàng hậu Nghi Tu) gắp cho.

Bên cạnh đó, các nhà làm phim còn sử dụng đồ ăn bằng nhựa để có thể tái sử dụng nhiều lần. Cũng trong Chân Hoàn truyện Trần Kiến Bân từng suýt “mẻ răng” khi đưa lên miệng cắn miếng tôm bằng nhựa.

Khi quay bộ phim Chung Quỳ tróc yêu ký Dương Dung cũng từng rất cực khổ khi phải diễn cảnh ăn vịt quay. Và đây chắc chắn là cảnh quay để đời của nữ diễn viên. Để hoàn thành xuất sắc vai diễn có tính ‘ham ăn’ khiến khán giả khi xem cũng ‘nuốt nước miếng’ thì Dương Dung đã phải ăn đến 20 con vịt quay trong một ngày diễn.

Tổng hợp: MoChan – thongtinngaynay

Đại Náo Phủ Đại Tướng Quân Chương 80: Ngoại Truyện 1: Món Quà Của Tiểu Yến Tử,

Thế Ninh: Nghỉ giải lao giữa hiệp nha chư vị. Hôm nay đặc biệt mời quý các cô nương, công tử gần xa thỉnh câu chuyện ngày lễ Thất Tịch năm nào của phu thê nhà họ Lưu.

Lúc này trời sắp chuyển đông, tiết trời se lạnh, đốm lửa lách tách từ mọi nẻo đường khuấy lên chút ấm áp đầu đông.

Lưu Dĩ ngồi trên xe ngựa, chiếc xe trang nhã lộng lẫy vừa rời hoàng cung chưa lâu đã xâm nhập vào đường lớn, hai bên chỉ có Lam Thất cùng hai thị vệ đi theo hộ tống. Lưu Dĩ đang muốn đi thị sát, vì vậy mà giảm bớt cấm vệ quân cùng thị vệ đi cùng.

Kinh thành giờ này là là giờ tấp nập người đông, quanh khu chợ buôn bán, nhiều lái thương qua lại, khách qua đường dừng chân, mùi bánh bao lan tỏa trong không khí. Cảnh tượng ồn ã xa hoa này chứng minh cho một Sở Quốc hưng thịnh. Người đặt bàn tay lên thiên hạ đại Sở đang ngồi trong xe ngựa, lặng nhìn đời thường qua khung cửa nhỏ. Ánh mắt trầm u chăm chú đánh giá cuộc sống chúng bách tính.

Bỗng nhiên từ đằng xa, ở trong một tiệm trang sức không lớn không nhỏ, chỉ đủ cho các gia chủ trung trung dừng chân vang lên giọng nói quen thuộc.

“Ta chốt giá lần cuối, năm mươi lượng bạc.”

Giọng một người đàn ông trung niên khẽ bật lên đầy tức tối: “Sao có thể, ngươi đi đâu tìm ra một chiếc vòng tay quý giá chỉ có năm mươi lượng bạc như vậy chứ?”

Lưu Dĩ phất tay ra hiệu dừng xe ngay trước tiệm trang sức đó, hắn đảo mắt nhìn vào bên trong. Quả nhiên bắt gặp tiểu tử đang chống nạnh cầm trên tay chiếc vòng ngọc bích không ngừng ép giá. Đằng sau là Sa Thủy, Sa Hỏa bất lực ngồi nhìn.

Tiểu Tử lại muốn mua trang sức?

Lưu Dĩ không xuống ngựa, chỉ yên lặng ngồi trong xe, chờ đợi xem Tiểu Tử đang muốn làm gì.

“Chưởng quầy, nói không ngoa chứ bổn đại gia ta cũng có quen Hoắc đại nhân bộ hộ thị lang. Nếu như ta mang chuyện này nói với ngài ấy. Ông nói xem, có phải tiệm trang sức này sẽ bị dẹp trong chưa đầy một tuần hương hay không?” Tiểu Yến Tử mặt dày lấy uy danh Hoắc Thiện ra ép giá.

Sa Hỏa, Sa Thủy không đỡ được ca này đành cúi mặt. Sao bọn họ lại có chủ nhân mặt dày như vậy chứ.

“Hừ, ngươi tưởng ta sợ chắc. Hoắc đại nhân ở phủ đại tướng quân, ngươi nghĩ muốn gặp liền gặp được? Thứ nhà quê như ngươi, làm gì có cỡ quen biết ngài.” Chưởng quầy hừ mũi khinh bỉ.

“Không tin ta đúng không?” Yến Tử nhếch miệng lấy ra một miếng ngọc bội khắc tín của Hoắc gia ra giả bộ ngắm nghía: “Hoắc đại nhân đối với ta thâm tình như núi, đến độ tặng luôn ấn tính của Hoắc gia cho ta, ấy vậy mà có kẻ ngang tang không tin được ta và ngài là chỗ bằng hữu. Nếu để đến tai ngài, ai nha, thật không dám nghĩ.”

Chưởng quầy nhìn vẻ mặt ngưng trọng của hai người sau lưng Yến Tử, dè dặt cầm lấy ngọc bội soi soi. Bỗng nhiên đôi mắt chuyển bạc, lập tức sáng rực như đèn pha.

“Ai nha, đúng là có mắt mà không nhìn thấy Thái Sơn, tội lỗi!” Chưởng quầy thu liễm vẻ mặt khinh khỉnh, bày ra bộ dáng su nịnh, khẽ hỏi: “Không biết quý tính đại danh của vị đại nhân này là…?”

Tiểu Yến Tử phất tay: “Ta chỉ là bằng hữu của Hoắc đại nhân, không tiện lộ danh phận. Giờ ta chốt giá lần cuối. Năm mươi lạng!”Mặt lão chưởng quầy đen như đít nồi, lại nhìn miếng ngọc bội dọa người, đành bất mãn gật đầu: “Năm mươi thì năm mươi.” Lại bày ra vẻ mặt nịnh nọt: “Chỉ hi vọng vị khách quan đây chiếu cố nói vài lời tốt đẹp đến Hoắc đại nhân.”

“Chuyện đó thì có gì khó!” Yến tử vênh mặt kênh kiệu đáp: “Chỉ cần ta ra mặt, Hoắc đại nhân nhất định sẽ chú ý đến việc làm ăn của gia môn lão, yên tâm.”

Chưởng quầy nghe vậy mừng như bắt được vàng, vội vàng lấy bọc gói lại chiếc vòng tay dúi vào tay Yến Tử:

“Được vậy thì tốt quá, vị khách quan này ắt hẳn là người tốt, sẽ được ông trời phù hộ, làm ăn tấn tới.”

“Được rồi, được rồi. Ta còn có việc, đi trước!” Tiểu Yến Tử cầm lấy vòng tay, đặt lại năm mươi lượng bạc rồi quay lưng bỏ đi.

“Đại quan đi thong thả.”

Sa Hỏa, Sa Thủy cúi đầu che mặt theo sát Yến Tử, sao cứ cảm giác ngượng ngùng thế nào ấy nhỉ.

Còn chưa kịp để Sa Hỏa, Sa Thủy nghi hoặc, Yến Tử lập tức lao đến một quầy y phục gần đó ngắm nghĩa.

Sa Hỏa, Sa Thủy thấy đống y phục sặc sỡ nhức mắt của nữ nhân, không khỏi bạc mặt nhìn nhau, lại nhìn Yến Tử phấn khích chọn đồ.

“Tiên sinh, ngài là nam nhân, sao lại muốn mua y phục nữ nhân?”

Tiểu Yến Tử mân mê từng đợt vải, bình thản đáp:

“Đương nhiên là mua để tặng nữ nhân rồi!”

Lời này vừa nói ra, Sa Hỏa, Sa Thủy, Tiểu Yến Tử nhất thời cảm nhận được làn gió lạnh phương Bắc rét run nào đó đập ngay ót. Mồ hôi thi nhau chạy dọc sống lưng, lạnh buốt đáng sợ.

Tiểu Yến Tử đưa mắt nhìn quanh, dè dặt trốn đằng sau tấm bình phong. Lại nhìn bầu trời trong xanh đầy nắng nghi hoặc.

“Rõ ràng trời đang nắng, tại sao ta lại thấy lạnh như vậy.” Nàng lại đưa tay sờ trán: “Không lẽ ta cảm mạo?”

Sa Hỏa, Sa Thủy cũng nhất thời đưa tay sờ trán. Thấy thân thể hoàn toàn khỏe mạnh, lại ngu mặt nhìn nhau.

Cái khí lạnh lúc nãy sao cứ thấy quen quen.

“Vị tiểu ca này có mua hay không?” Chủ quán y phục thấy ba người ngưng trọng đứng trước cửa khó chịu quát.

“Ai nói ta không mua.” Tiểu Yến Tử thu về bộ dạng ngày thường, nghênh mặt nói: “Chọn cho ta y phục mà các cô nương thích nhất ra đây!”

Chủ quán nghe khẩu khí cao ngạo vậy, không khỏi mừng rỡ, vội vàng trưng ra một loạt y phục sặc sỡ, lục lam hắc hồng đầy đủ, mỏng có dày có, kính có hở có, vô cùng bắt mắt.

Tiểu Yến Tử ngắm nghía một hồi mới chọn bộ y phục khá kính đáo nhất.

Sa Thủy nhịn không được, lại dè dặt hỏi:

“Không lẽ lần này tiên sinh lại định tặng cho Tiểu muội, tiểu muội của tiên sinh cũng thật có phúc, có được đại ca yêu thương như vậy.”

“Cái đó còn phải nói. Nhưng mà….”Tiểu Yến Tử cầm y phục lên ngắm nghía: “Ta không tặng cho tiểu muội, mà cho nữ nhân khác.”

“Là ai?” Sa Hỏa, Sa Thủy đồng thanh.

Tiểu Yến Tử đưa một ngón tay đặt trên miệng giả bộ huyền bí:

“Suỵt!”Nói rồi khẽ dãn ra một nụ cười vui vẻ, đôi mắt lấp lánh tinh quang chăm chú vào đám y phục nữ nhân kia.

Nàng không biết, không hề hay biết bên kia đường, trong xe ngựa, có một quả cầu lửa sắp nổ tung.

“Hắt xì!!!”

Tiếng hắt hơi của chúng nhân vệ binh làm kinh động đến cả tướng phủ. Ai nấy mặt mũi vàng như nghệ, nước mắt nước mũi chảy thòng lòng, mặt thâm trầm ảo não.

Chúng binh lính từ bên ngoài trở về không khỏi nghi hoặc xoa cằm:

“Dạo này tướng phủ đang dịch bệnh sao? Tại sao ai cũng cảm mạo hết vậy?”

Quản công tướng phủ từ xa đi tới, cầm khăn tay lau lau mũi đến ửng đỏ, thoạt nhiên đáp.

“Là vì khí lạnh từ vị nào đó mang về…Hắt xì…”

“Khí lạnh? Ai có thể mang khí lạnh đến nỗi khiến cho huynh đệ cảm mạo như vậy, thật quá khoa trương rồi!” Binh lính khẽ kêu lên.

“Ngươi thì biết cái gì.” Quản công khó chịu nói: “Nguyên do là vì người mang khí lạnh không phải là người tầm thường.”

“Là ai vậy?”

Quản công cùng chúng vệ binh gần đó giật thót một cái, vội vàng tụm nhau lại, che miệng nhỏ giọng.

“Là Quốc Công đó!”

Chúng binh lính Ồ lên một tiếng.

“Chẳng trách!” Lại nheo mi nghi hoặc: “Nhưng mà bình thời thiên tuế đâu có bất ổn như vậy. Đã có chuyện gì khiến ngài không vui sao?”

“Ai mà biết được chứ.” Chúng vệ binh mệt mỏi đáp: “Tâm tư của thánh thần, chúng ta chỉ là tiện dân, nào có đọc được.”

Chúng binh lính gật gù, vỗ vỗ vai chia buồn.

“Mà các ngươi có thấy dạo này hễ Triệu tiên sinh nói gì, khí lạnh lại tăng lên không?” Một tên vệ binh chen miệng vào.

“Đúng đúng, ta cũng thấy vậy!” Quản công vội vàng khẳng định.

“Có chuyện đó sao, Triệu tiên sinh đã nói những gì?” Chúng binh lính không khỏi tò mò.

“Hôm trước Triệu tiên sinh hỏi đại thẩm gánh nước nữ nhân kinh thành thích phấn hương loại gì. Đúng lúc đó Quốc Công tìm tiên sinh để chỉnh lại kiếm tuệ thì nghe thấy. Ôn gia chẳng phải vì bị vẻ mặt của thiên tuế dọa cho ngã đập đầu sao?”

Quản công gật gù: “Phải, vẻ mặt của thiên tuế lúc đó rất rất đáng sợ, khiến cho Ôn gia đáng thương phải cáo bệnh mấy ngày.”

“Lại còn hôm qua, Triệu tiên sinh nói cái gì đó mà làm thơ tặng cho cô nương nào đó, suốt đêm thao thức không ngủ. Mơ màng nhìn trăng viết thơ, để đến lúc đánh đàn cho Quốc Công lại ngủ gật. Nghe bảo Quốc Công nhặt được lá thư, đã dùng nội công đánh tan tành. Cả đêm hôm đó, Triệu tiên sinh phải đánh đàn xuyên đêm đến tận sáng. A, thật đáng thương.” Vệ binh không khỏi đồng cảm.

“Đấy, vừa nhắc là xuất hiện liền.” Chúng binh lính quay đầu nhìn về phía cổng phủ.

Bóng nhỏ gầy đầy tinh quang, chân thoạt đi mà như chạy, nhanh nhẹn hệt như đám cao thủ võ lâm ngoài kia, khiến cho hai ảnh vệ thân cận cũng đặt phòng ngự lên cao nhất, buộc thi triển khinh công đuổi theo.

“Triệu tiên sinh! Hôm nay không đánh bạc sao?” Quản công gọi với theo.

Tiểu Yến Tử nghe tiếng gọi cũng bất chợt quay đầu, lại tất tưởi chạy đến bên chúng nhân đang xôm tụ.

“Mấy người làm gì ở đây? Tụ họp đông vui như vậy mà không có ta là không được đâu.”

“Ai nha, tiên sinh. Chúng ta đây là đều bị cảm mạo, tiên sinh đến gần coi chừng lây bệnh đấy.” Quản công thấy nàng chun vào kiếm chuyện, nhanh miệng nhắc nhở.

Tiểu Yến Tử lập tức thi triển khinh công lùi số, dè dặt nhảy về sau bịt mũi:

“Vậy chứ, xin mời quý vị tiếp tục bàn luận. Ta còn có công chuyện…”

Không đợi Tiểu Yến Tử lùi thành công, vệ binh canh cổng vội vã túm nàng lại gấp giọng:

“Triệu tiên sinh, làm gì vội vàng quá vậy. Bộ đi hỏi cưới sao?”

Tiểu Yến Tử vỗ lên vai vệ binh đét một tiếng: “Tiểu tử, sao ngươi biết ta đi hỏi cưới?”

Lời này vừa nói ra, nhất thời chúng nhân hít một ngụm khí lạnh. Sa Hỏa, Sa Thủy hai mắt sắp rớt khỏi tròng, tai chỉ chực chảy máu.

Cái gì??? Hỏi cưới? Cưới ai?

Trong khi hai bạn ảnh vệ đang đực mặt ra như ngỗng thì chúng vệ binh nhất thời mồ hôi lạnh toát. Cái khi lạnh này không phải ôm đồn âm tào địa phủ, không quét sạch giang san, mà nửa lạnh nửa nóng, như chốn phồn hoa quét qua cái rét.

Người thứ hai trong tướng phủ có thể làm được điều này chỉ có thể là một người.

“Tiểu tử! Ngươi nói cái gì???” Bóng đỏ từ bên trại doanh lù lù tiến tới, hệt như một bóng ma.

Khuôn mặt tuấn lãng phủ một lớp sát khí, mắt đào híp lại tạo thành lưỡi kiếm. Mái tóc đen mượt phất phơ bay lên. Tà áo không gió mà quất phần phật dọa người.

Tiểu Yến Tử đơ mặt nhìn Hoắc Sinh.

Tám phần, không! Mười phần là tên họ Hoắc kia đang tức giận. Nhưng tại sao? Dạo này nàng tuyệt đối ngoan ngoãn, không gây hấn với hắn à nha.

“Ngươi nói lại cho ta nghe, ngươi muốn đi đâu???” Giọng Hoắc Sinh đặc biệt trầm thấp, nhấn nhá gầm gừ, hệt như muốn nuốt chửng Yến Tử vào bụng. Mắt đào phát khí, rất đáng sợ.

“Hôm nay là lễ Thất Tịch…Ta đi…bày tỏ….” Tiểu Yến Tử nói đoạn, lại chợt thấy tóc mai dựng đứng.

Đôi tai thính bẩm sinh của nàng nghe thấy tiếng bước chân trầm ổn nhịp nhàng bên ngoài cổng phủ. Vội tắt lời thi triển công phu điền kinh đâm đầu chạy về phía cổng phụ.

Chúng nhân mặt nghệt ra như ngỗng. Không khỏi vỗ tay tán thưởng cái người vừa nãy còn đứng đây đã biến mất chưa tới ba nốt nhạc kia.

Đúng là hảo công phu.

Hoắc Sinh không nói một lời, chỉ thấy gân xanh nổi đầy tay, mắt đào đỏ âu. Hắn hằm hằm bực bội đi về phía trại doanh.

Vừa lúc này bóng dáng Lưu Dĩ từ từ xuất hiện từ phía cổng hệt như một bóng ma. Chúng nhân vội vàng quỳ rạp xuống nhất nhất thi lễ.

Vẫn là khí thế cường đại khiến cho kẻ khác không dám nhìn thẳng, Lưu Dĩ rảo bước về phía chúng nhân, mắt phượng khép hờ, đảo một vòng, tựa như đang tìm kiếm gì đó.

Lam Thất như hiểu được ý chủ nhân, tiến lên trước mặt đám vệ binh dò hỏi:

“Triệu tiên sinh đâu? Vừa nãy ta còn nghe giọng ngài ấy.”

“Bẩm, tiên sinh vừa mới rời đi.” Vệ binh nhanh nhẹn đáp.

Lam Thất thấy Lưu Dĩ vẫn im lặng, lại tiếp tục dò hỏi vệ binh.

“Có nói là đi đâu không?”Vệ binh ngây thơ đáp: “Tiên sinh nói hôm nay là lễ Thất Tịch, phải đi bày tỏ.”

Gió lạnh từ đâu đập vào mặt chúng nhân, mây đen vần vũ che đi nắng gắt, cơn lạnh cắt da cắt thịt xuyên buốt thân thể, khiến ai nấy kinh hãi run lên từng cơn rồi chầm chậm đưa mắt nhìn Lưu Dĩ hệt như quỷ Diêm La bên kia.

Mái nhà vang lên tiếng ngói đá lạch cạch dọa người, cây cối thi nhau nhảy múa điên cuồng.

Cái cảnh tượng mây mù đen kịt lạnh lẽo này sao mà…Đáng sợ quá.

Bỗng nhiên Lưu Dĩ xoay gót, không nói một lời, lặng lẽ rời đi, mang theo gió lạnh và mây mù.

Không ai biết lòng hắn đã lạnh đi mấy phân.

Một đêm gió mát, trăng thanh hạ phàm.

Cành liễu đung đưa, ước hẹn cùng nhau.

Lưu Dĩ ngồi trên đình viện bên trong tướng phủ, lặng yên nhìn ánh nguyệt đổ xuống mặt hồ yên ả. Trên tay cầm chén rượu sóng sánh. Mắt phượng xa xăm trầm tư, sầu ưu vẽ thành khuôn mặt tròn nhỏ tinh nghịch trong tâm can hắn.

Bên cạnh hắn là bóng đỏ buồn bã lãnh đạm, tay cầm chén rượu uống hết lượt này đến lượt khác không ngơi nghỉ. Mặc kệ Lưu Dĩ trầm tư, Hoắc Sinh mải mê chìm trong nữ nhi hồng không chút hơi men dành riêng cho hắn. Ai bảo hắn cứ uống rượu vào sẽ biến thể, đành ra không ai cho phép hắn uống. Nhưng hôm nay ruột gan bứt rứt, hắn cho dù có muốn cũng không dám.

Bạch Mộ Ninh không đơn giản chỉ là hận Hoắc Sinh, thế sự thật tâm không giản đơn. Không nên làm bừa.

Hạ Chí đứng ở giữa Hoắc Sinh cùng Lưu Dĩ, chỉ có một công việc duy nhất là rót rượu bồi hai vị kia nửa đêm tâm tư tản mạn hứng gió kéo nhau ra đây ngồi mà không nói nửa lời đàm đạo.

Thật tình….

Khóe môi Hạ Chí giật giật khó coi, không biết là hai vị này rốt cuộc là bị làm sao.

Bỗng nhiên từ xa vang lên tiếng chân lịch bịch quen thuộc của người chuyên phá làng phá xóm nào đó. Người vẫn chưa thấy nhưng từ xa đã vang lên tiếng gọi dài.

Thân thể Lưu Dĩ cùng Hoắc Sinh đồng thời khẽ run.

Bàn tay giữ chén rượu của Lưu Dĩ thít chặt, vô thức tạo ra một vết rạn nhỏ.

Hoắc Sinh đặt chén rượu xuống bàn ‘cạch’ một tiếng, vẻ mặt sa sầm nghiêm trọng.

Tiểu Yến Tử nhìn thấy bóng dáng Lưu Dĩ lặng yên quay lưng về phía nàng. Nàng từ tốn quỳ xuống thi lễ.

Chỉ là quỳ nửa ngày, không thấy hắn có chút phản ứng, cũng chẳng buồn miễn lễ cho nàng.

Sao vậy…Nàng vẫn về kịp giờ đánh đàn cơ mà.

“Triệu tiên sinh, không lẽ…” Hạ Chí đặt vò rượu xuống, gấp gáp đến trước mặt Yến Tử chờ đợi.

“Đúng vậy, ta chọn thời khắc thực tốt. Hoa cô nương rất cảm động.” Tiểu Yến Tử tự hào khoe khoang.

Chén trà trên tay Lưu Dĩ nứt toác một đường lớn.

Bàn gỗ dưới đôi bàn tay Hoắc Sinh chầm chậm vang lên tiếng gỗ mụn vữa ra.

“Vậy không lẽ lời hỏi cưới….” Hạ Chí mở banh mắt thấp thỏm chờ đợi.

Tiểu Yến Tử vui vẻ gật đầu: “Hoa cô nương đã chịu rồi!”

“Chén trà trên tay Lưu Dĩ ‘roạt’ một tiếng vỡ vụn thành từng mảnh.

Tiểu Yến Tử nghe tiếng động lạ, vội vàng đưa mắt nhìn bàn tay to lớn của Lưu Dĩ vương chút máu trong lòng bàn tay.

Tim nàng đánh thịch một tiếng, vội vã chụp lấy bàn tay hắn gấp giọng:

“Quốc Công, người bị thương rồi!”

Lưu Dĩ rút tay ra khỏi bàn tay nhỏ của nàng, lạnh lùng đứng dậy, dương đôi mắt thanh u nhìn nàng như muốn thâu tóm nàng.

“Ngươi muốn thành thân?”

Tiểu Yến Tử chớp chớp mắt hai cái, lại đưa mắt nhìn Hạ Chí đang đực ra như ngỗng. Hoàn hồn một lát mới ngơ ngác phất tay.

“Không có, thần nào đâu có muốn thành thân. Thần đây là làm mai cho Hạ Chí đại nhân.”

Đôi mắt phượng khẽ chớp, tia u lạnh như mây khói vỡ tan, bàn tay siết lấy mảnh vụn từ chén trà buông lỏng. Đôi con ngươi dán vào mặt Yến Tử.

Hoắc Sinh giật mình đứng dậy, đi đến trước mặt Yến Tử, gấp giọng: “Ngươi có thật là chỉ làm mai cho Hạ Chí?”

Tiểu Yến Tử không dám có chút manh động, vội vàng gật đầu như một cái máy.

Hạ Chí xem hai vị kia quan tâm chuyện này như vậy cũng bồi thêm: “Sự thực là thần đã nhờ Triệu đại nhân làm mai với Hoa cô nương, chuyện thành như vậy quả là nằm ngoài dự đoán của Hạ Chí…”

Mắt Hoắc Sinh lập tức phát sáng, trả lại vẻ mặt ôn nhu như ngọc ngày thường. Hoắc Sinh đập vai Hạ Chí khấp khởi chúc mừng.

“Cung hỉ, cung hỉ. Hạ Chí cuối cùng cũng chịu lập gia thất rồi.”

“Đa tạ Hoắc đại nhân. Cũng nên đến lượt ngài rồi.”

“Ta hả. Ha ha…” Hoắc Sinh nghe nhắc đến chuyện lập gia thất vội vàng đánh trống lảng: “Nhân đây ta và huynh đến thanh lâu làm vài chén đi…”

Hạ Chí biết thừa Hoắc Sinh muốn trốn tránh, đành miễn cưỡng gật đầu. Lại quay sang Lưu Dĩ đang tĩnh lặng không chút xúc cảm nhìn Yến Tử bên kia thi lễ.

Hoắc Sinh không nói một lời, ngập ngừng muốn nói gì đó rồi lại thôi. Hắn nhìn Yến Tử một cái, lại bất chợt cụp mắt rời đi.

Lúc này đình viện chỉ còn Yến Tử cùng Lưu Dĩ và một bầu không khí kì quặc.

Hắn nhìn nàng bằng ánh mắt phức tạp, nàng thì đăm đăm nhìn vết thương trên tay hắn. Trong lòng thấp thỏm không yên.

“Quốc Công! Người có thể cho thần xem qua vết thương được không?” Yến Tử dè dặt dò hỏi.

Lưu Dĩ không còn lạnh lùng gạt ra như lúc nãy, hắn điềm nhiên đưa bàn tay về phía nàng, để nàng nhận lấy chăm sóc.

Bàn tay nhỏ của Yến Tử trượt trên tay Lưu Dĩ, chầm chậm lau đi vết máu, nhẹ nhàng bôi lên từng đoạn dược.

“Ngươi sẽ không làm việc không công cho kẻ khác.” Lưu Dĩ bỗng nhiên cất giọng.

Tiểu Yến Tử rời mắt khỏi tay hắn, ngẩng đầu nhìn vào đôi mắt đầy tinh tú kia.

“Thần ngu muội, không hiểu ý thiên tuế!”

Lưu Dĩ đưa tay nâng cằm Yến Tử, nghi hoặc:

“Hạ Chí trả cho ngươi bao nhiêu tiền mai mối, ngươi cần tiền đến mức đó sao?”

Tiểu Yến Tử trợn tròn mắt.Lưu Dĩ không phải người, hắn tuyệt đối là thần thánh phương nào. Làm sao hắn có thể biết nàng cần tiền nên mới mất công mai mối cho Hạ Chí chứ.

“Thần…chỉ là…”

Tiểu Yến Tử ngậm một hồi, cuối cùng nhịn không được mới rút vội trong ngực ra một túi thơm nhỏ thêu hình rồng vàng uy mãnh trưng ra trước mặt Lưu Dĩ đầy trịnh trọng.

“Cái này…Là tự tay thần tự làm. Trầm hương Lan Điệp được đặt từ Tây cống, rất…đắt…”

Mày lưỡi mác khẽ nhướn, hắn nhìn túi thơm trên tay nàng như thể một thứ kì lạ lần đầu nhìn thấy. Trong mắt nghi hoặc vơi đầy.

“Ngươi…làm cho ta?”

“Vâng!” Tiểu Yến Tử gật gù như một con rối: “Nghe nói hương Lan Điệp rất tốt cho giấc ngủ. Bình thời người ngủ không ngon giấc…” Tiểu Yến Tử lại như sực nhớ ra điều gì, vội vàng phủi phủi trên bọc túi hương nghiêm túc nói: “Thiên tuế yên tâm, vải này thần đã giặt rất nhiều lần, hình thêu cũng là thần tự làm. Tuyệt đối sạch sẽ.”

Lưu Dĩ bất động một hồi, như là kinh ngạc.

Tiểu Tử vì hắn mà mất công mai mối kiếm tiền để mua trầm hương, tận tâm làm túi hương…Là vì hắn?

Máu huyết dâng lên trong lòng ngực. Mắt phượng tràn ngập nhu tình.

Hắn nhận lấy túi hương kia áp vào mũi.

Túi hương này có mùi thật dễ chịu, vì trên đó vương mùi hoa đỗ quyên của ai đó.

Lưu Dĩ đặt lại túi hương vào lòng bàn tay Yến Tử, khẽ trầm giọng:

“Đeo cho ta!”

Tiểu Yến Tử sững người một lúc mới từ tốn nhận lấy túi hương tiến sát đến thân thể Lưu Dĩ, vòng tay nới đai lưng hắn chậm rãi đeo túi hương vào.

Khoảng cách này quá gần, khiến nàng dễ dàng ngửi được mùi cổ hương nam tính mê hoặc toát ra từ người hắn, rất mụ mị dụ người.

Lưu Dĩ cúi đầu nhìn Yến Tử chăm chú đeo túi hương cho hắn, tay vô thức đặt lên đầu nàng xoa nhẹ.

Tiểu Yến Tử vì hành động này mà đột nhiên ngẩng đầu, bắt gặp khuôn mặt tuấn lãng đang nhiễu một tầng đỏ mê người, đôi mắt dấu hàng ngàn thứ ánh sáng lấp lánh, con ngươi phản chiếu rõ bóng hình nàng. Cả khuôn mặt tràn ngập ý cười sâu sắc.

Tiểu Yến Tử bỗng nhiên thấy lòng nhộn nhạo không yên, máu huyết cuộn trào, tim gan nhảy múa.

Bất giác, khóe môi nàng khẽ cong lên, đáp lại vẻ mặt ngời sáng của Lưu Dĩ.

Trên đình viện nhỏ, chỉ có mùi hương của tình ý. Hai thân ảnh một lớn một nhỏ, một động một tĩnh nhìn nhau.

Hạ nguyệt soi tỏ.

Vạn kiếp tình nồng.

Tâm này nguyện thề.

Khắc cốt ghi tâm.

Kể từ đó về sau, người đời luôn truyền miệng nhau, trên người Quốc Công thiên tuế đại Sở có một túi hương tuyệt đỉnh. Là vật bất ly thân của người. Là ấn vật duy nhất được người yêu thích đeo bên người chưa từng rời xa.

Không kẻ nào được phép đụng đến, cũng không có lá gan hỏi dò, rốt cuộc là túi hương đó đến từ đâu, lại được thiên tuế để tâm như vậy.

Theo các vị thẩm đinh đồ quý đánh giá. Là vật quý ngàn vạng khó đổi, đừng mong cầu được. Ngay cả Quốc Công thiên tuế cũng đặc biệt yêu quý gìn giữ đã đủ cho thấy giá trị của nó.

Và chẳng ai biết, vì túi hương của người nào đó tặng Lưu Dĩ bỗng chốc trở nên nổi tiếng và đắt giá, mà người nào đó đã nhanh chóng trở mặt, ngày ngày ngồi thêu túi thơm bán ra thị trường.

“Hờ hờ, ta sắp giàu rồi, sắp giàu rồi!!!”

Chỉ là người tính không bằng trời tính. Người cao một thước, ma cao một trượng.

Muốn bán ra thị trường cũng không có dễ. Cứ hễ bạn nào đó ngồi thêu túi thì…

“Triệu Phạm Hoa!! Còn không mau ra rèn kiếm!”

“Triệu tiên sinh! Mau đi đánh đàn”

“Tiên sinh, pha trà…”

“Tiên sinh! Quốc Công cho gọi.”

“Triệu Phạm Hoa….”

Và rồi cũng chẳng ai biết, người nào đó bị bàn tay thiên la địa võng của vị Quốc Công nào đó chặn hết con đường làm ăn, khiến cho trên đời này chỉ có một túi thơm được nàng tự tay làm ra…

“Mưa Rừng”, Bài Thơ Ấn Tượng Của Nhà Thơ Hoàng Yến.

Nhà thơ Ngô Thế Oanh nói với tôi rằng nhà thơ Hoàng Yến rất thiêng. Đúng ngày ông mất ( 23/2/2012), Ngô Thế Oanh ra hiệu sách mua tập ” Mắt người Sơn Tây”. Và ông rất ngạc nhiên thấy bài thơ ” Mưa rừng” của nhà thơ Hoàng Yến in nhầm trong tập thơ của thi sỹ lừng danh Quang Dũng. Vài hôm sau, Ngô Thế Oanh nhận được bài viết của Nhất Lãm: ” Về tác giả bài thơ Mưa rừng”. Và ông vội cho in ngay trên Tạp chí Thơ số 3/2012.

Nhà thơ Hoàng yến xuất hiện trên thi đàn bằng tập thơ trình làng : “Tình Người soi dặm đường”- Nhà xuất bản Hội nhà văn -1957. Tập thơ mỏng, 44 trang, khổ 11×16 cm, do họa sỹ Vũ Lập vẽ bìa, chỉ tròn mười bài, ghi dấu 10 năm sáng tác- từ 1947 đến 1957. ( Đường đi mặt trận – 1947; Bạn cũ – 1948; Mưa rừng -1948; Nghe tin anh tử trận -1952; Bứt lá bỏ dòng suối – 1952; Về xuôi – 1953; Bài hát cái thuyền – 1955; Một lời nguyên vẹn – 1956; Tiếng hát chiều chiều – 1956; Một giọng đàn, một dòng sông -1957).

Mười năm mà thi nhân chỉ sáng tác được có mười bài vậy sao? Không phải. Có những bài nhà thơ sáng tác trong thời kỳ này, nhưng ông không đưa vào tập ( mãi 50 năm sau, năm 2007, gia đình mới chọn đưa vào ” Hoàng Yến tuyển tập”( tập 1), như ” 19 tháng 12″- 1950; “Hắn” – 1957; ” Em có biết”- 1952; ” Những ngọn đèn” ( in chung với Yến Lan); ” Cây xoan trên mồ mẹ” – 1956 -Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1956, NXB Văn Nghệ,1956…) Vậy là Hoàng Yến rất có chủ đích với con số toptel: 10 năm và 10 bài thơ kháng chiến.

Lần đầu “ra trận” với tập thơ trình làng”Tình Người soi dặm đường”, nhưng cũng ngay sau đó nhà thơ thọ nạn nghề nghiệp. Nhà văn Huy Phương đã viết về tai nạn này:

Với hiểu biết có hạn, người viết không dám tham vọng phân tích, đánh giá tập thơ “”Tình Người soi dặm đường” của nhà thơ Hoàng Yến, mà chỉ muốn nói đôi chút về bài thơ ” Mưa rừng”, một bài thơ ấn tượng trong tập vừa được Tạp chí Thơ nhắc đến trong số 3 -2012:

Mưa lầm rầm trong rừngMưa xoay tròn không trungHai bờ mưa mờ mịtCon đường vòng mông lung

Rặng núi về đầu mâyXa khuất những dặm câyTừng sóng xanh tre trúcCơn gió đi trút đầyCơn gió đi mất hútNgười và đường còn đây

Mưa lầm rầm trong rừngMưa xoay tròn không trungHai bờ mưa mờ mịtCon đường vòng mông lung

Mờ mờ hoa gạo đỏLợp lầu giữa núi xanhLay bay dầm mái cỏHạt lại hạt – chuyền cànhHạt mưa gần nhắc nhủHạt xa lời nối lờiĐêm nay chưa nhà ngủMà mưa rừng cứ rơi

Mưa lầm rầm trong rừngMưa xoay tròn không trungHai bờ mưa mờ mịtCon đường vòng mông lung

Chiều càng đi bước dồnNgười càng đi chân chồnĐường dài bóng hoàng hôn…Mưa xa dầm quê hươngƯớt áo bao người thươngChùa chuông hay giọng suối?Tình người soi dặm đường

Mưa lầm rầm trong rừngMưa xoay tròn không trung.

Thời điểm sáng tác của bài “Mưa rừng” đã ghi rõ: Trên đường rừng Hòa Bình, 1948. Nếu chúng ta biết nhà thơ Hoàng Yến, quê Hòa Tiến ,Hòa Vang, Đà Nẵng, cháu ruột Xứ ủy Trung kỳ, cựu tù ĐắcPlây, Huỳnh Ngọc Huệ; từng học trường Esepic Phan Thiết, giỏi võ karate; từng hoạt động cách mạng trong tổ ba người với Võ Quảng, Tố Hữu từ năm 1942, gia nhập Đảng CSVN, giữ chức Chủ sự phòng tư pháp Công an Trung bộ, tham gia cướp chính quyền tại Huế CM tháng 8 năm 1945, sau đó, năm 1946 mang vợ con và gia đình ra Thanh Hóa, làm báo Cứu quốc Khu 4, thư ký cho đồng chí Nguyễn Chí Thanh, sau đó tham gia bộ đội, đại đoàn 304. Thời điểm nhà thơ sáng tác bài “Mưa rừng” chính là thời kỳ ông tham gia quân đội, với cương vị một cán bộ nòng cốt, đi chiến dịch Hòa Bình và chiến dịch Thu đông 1951 – 1952.

Bài thơ mở đầu và lặp lại với ba lần điệp khúc: “Mưa lầm rầm trong rừng/ Mưa xoay tròn không trung/ Hai bờ mưa mờ mịt/Con đường vòng mông lung.” Một không gian, thời gian đầy tâm trạng. Nó gợi cho người chiến sỹ – thi sỹ Hoàng Yến, vốn xuất thân từ trí thức tiểu tư sản, có trình độ học vấn ( Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hoàng Yến được trưng tập đi phiên dịch, khai thác tù binh. Rồi sau này ông lại dịch thơ Puskin, bài thơ dài “Đoàn người Tsigan” từ tiếng Pháp ra tiếng Việt), liên tưởng tới quê nhà, vợ con, người thân : Hai bờ mưa mờ mịt/ Con đường vòng mông lung… Cơn gió đi mất hút/ Người và đường còn đây… Đêm nay chưa nhà ngủ /Mà mưa rừng cứ rơi… Đường dài bóng hoàng hôn/ Mưa xa dầm quê hương… Hình tượng Trời mưa và Con đường luôn trở đi trở lại, tạo thành một tứ thơ xuyên suốt toàn bài, mật mã của bài thơ. Mưa xóa mờ đi con đường thực phía trước, làm cho phương hướng nhạt nhòa, mung lung, nhưng Mưa lại làm hiện hữu con đường quá vãng, con đường tâm thức: ” Hạt mưa gần nhắc nhủ/ Hạt xa lời nối lời”, “Mưa xa dầm quê hương/ Ướt áo bao người thương/ Chùa chuông hay giọng suối?/ Tình người soi dặm đường…”

Không phải ngẫu nhiên câu cuối của bài “Mưa rừng”: ” Tình người soi dặm đường” được lấy làm tiêu đề cho cả tập thơ. Cuộc ra đi này, người vệ quốc đi được hết con đường – khắp các nẻo đường – đến cuối con đường, là nhờ có Tình Người soi rọi. Ấy là quê hương, người vợ, bạn bè, người thân…: ” Đường đi mặt trận/ Đi qua ngõ nhà/ Ríu chân dồn bước/ Trăng sáng nõn nà/ Bóng trăng người vợ/ Gửi người đi xa” – ( Đường đi mặt trận) ; “Khói thuốc bốc thành mây/ Mây làng xa vời vợi…- ( Bứt lá bỏ dòng suối); ” Nhớ Trường Sơn xanh ngút/ Cây lá bó chân trời”- ( Về xuôi); ” Sông Thu Bồn có còn nắng chói chang/ Nương dâu xanh có còn mượt lá…”,” Mẹ ơi, sao có thể/ Con đi đông đi tây/ Đi về như đi chợ / Mà mẹ đó con đây/ Chưa một lần gặp gỡ” ( Tiếng hát chiều chiều) ” Tôi giơ tay đẩy cửa/ Bỗng thấy sông Hương/ Con sông tuổi nhỏ/ Vôi trắng cổng trường… Con đường Kim Long/ Tung tăng như con suối nhỏ/ Giữa hai bờ cỏ dâng hương…” ( Một giọng đàn một dòng sông) vv…

Nếu bài ” Mưa rừng” chỉ là một thi phẩm bình thường, có lẽ đã không có sự lầm lẫn. Trong tập ” Mắt người Sơn Tây” – thơ văn tinh tuyển – của nhà thơ tài danh, tác giả bài thơ ” Tây Tiến” bất tử: Quang Dũng, vừa do NXB Hội Nhà văn và Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam ấn hành quí I/ 2012, không hiểu sao cũng có bài ” Mưa rừng” (Ghi chú năm 1956, tư liệu gia đình)?

Như tác giả Nhất Lãm trong bài ” Về tác giả bài thơ Mưa rừng” đăng trên Tạp chí Thơ, số 3/2012 đã chỉ ra sự khác biệt của hai bài ” Mưa rừng” – bản 1,( trong tập “Hoàng Yến tuyển tập) ” và bản 2, (trong tập ” Mắt người Sơn Tây”). Chi tiết hơn, bản 2, ngoài việc bớt 6 câu phần điệp khúc, còn có 12 chữ trong 9 câu khác biệt so với bản 1 ( chữ in nghiêng, trong ngoặc):

– Xa khuất ( cách) những dặm ( rặng) cây– Cơn gió đi ( đã) trút đầy– Người và ( về) đường còn đây– Lợp lầu ( Lấp dần) giữa núi xanh– Lay bay ( Lang bang) dầm mái cỏ– Hạt xa lời ( theo) lối lời– Chiều càng đi bước dồn( rền)– Ướt áo bao ( những) người thương– Tình người ( yêu) soi dặm đường.

Được biết, sinh thời, khi nhà thơ Quang Dũng còn minh mẫn, ông đã kiên quyết không cho in bài” Dặm về” vào thi phẩm của mình ( mãi gần đây nhà thơ Vân Long mới tìm ra tác giả của “Dặm về” là đại tá, nhà văn Nguyễn Đình Tiên ). Và tất nhiên nhà thơ Quang Dũng cũng chưa bao giờ in bài ” Mưa rừng” trong thơ của mình.

Phải chăng khi biên soạn ” Mắt người Sơn Tây”, một biên tập viên nào đó có sự nhầm lẫn trong việc đưa ” Mưa rừng” vào tuyển tập? Rất có thể, Quang Dũng và Hoàng Yến vốn là bạn của nhau ( Quang Dũng sinh 1921, hơn Hoàng Yến một tuổi), đồng cảnh ngộ và trọng tài nhau, nên nhà thơ đã chép thơ bạn tặng và ( cũng rất có thể) muốn sửa một vài từ theo ý mình?

Rất mong NXB Hội Nhà văn và ban biên soạn ” Mắt người Sơn Tây” lưu ý trường hợp bài thơ ” Mưa rừng”, nếu có thể, có đôi lời với độc giả, và lưu ý cho những lần tái bản sau.

Từ Ý Nghĩa Bài Thơ “Ánh Trăng” Của Nguyễn Duy, Suy Nghĩ Về Đạo Lí “Uống Nước Nhớ Nguồn” Của Dân Tộc

Từ ý nghĩa bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy, suy nghĩ về đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc

Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thế hệ này từng trải qua bao thử thách, gian khổ, từng chứng kiến bao hy sinh lớn lao của dân tộc trong một thời mưa bom bão đạn, từng sống chết gắn bó cùng thiên nhiên, cùng đồng đội tình nghĩa. Rồi khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống hòa bình luôn mang lại cho con người cảm giác thoải mái, yên bình, nhưng cũng thay đổi nhiều thói quen, cách sống mà không phải ai cũng ghi nhớ những gian nan, những nghĩa tình của thời đã qua. Bài thơ Ánh trăng là một lời tâm sự chân thành, là một lời nhắc nhở về ý nghĩa cuộc sống, là một lần “giật mình” trước cái điều vô tình ấy.

Ánh trăng luôn là nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Chúng ta có một “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” trong Thu ẩm – Nguyễn Khuyến, có một “bến sông trăng” lãng mạn của Hàn Mặc Tử, có một vầng trăng tri kỉ của thi nhân:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ(Hồ Chí Minh)

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

Nhưng với Nguyễn Duy, ánh trăng mang một hàm nghĩa mới. Đó là hình ảnh của quá khứ, là nhân dân, là người lính, là lý tưởng chiến đấu… Bài thơ gây ấn tượng bởi lối sáng tạo đặc biệt. Chữ đầu mỗi câu thơ không viết hoa. Phải chăng nhà thơ muốn cảm xúc được dạt dào trôi theo dòng chảy của kỉ niệm?

“Việc quân, việc nước bàn xong(Đối nguyệt) (Đồng chí – Chính Hữu) Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm”

Ánh trăng trước hết là tiếng lòng, là suy ngẫm của riêng Nguyễn Duy nên nó mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian. Dòng cảm nghĩ trữ tình của nhà thơ cũng men theo dòng tự sự này mà bộc lộ. Ở quãng thời gian quá khứ đã có một biến đổi, một sự thực đáng chú ý: hồi nhỏ rồi thời chiến tranh sống hồn nhiên, gần gũi với thiên nhiên đến tưởng không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa. Ấy thế mà từ hồi về thành phố, quen sống với những tiện nghi hiện đại, vầng trăng tình nghĩa như người dưng qua đường nhưng sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ để tác phẩm.

Mở đầu bài thơ là câu chuyện xảy ra trong quá khứ – lúc người lính còn nhỏ và hồi chiến tranh ở rừng:

Chỉ với bốn câu thơ ngắn của khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã tái hiện lại những khoảnh khắc đáng nhớ trong cuộc đời người lính. Trong kỷ niệm, trong câu chuyện có đồng, sông, bể, rừng nghĩa là có tất cả những không gian sự vật quen thuộc của đất nước, có mọi thứ của thiên nhiên có thể gắn bó với con người, che chở cho con người, nuôi sống con người. Chữ “hồi” ở câu thứ nhất và câu thứ ba làm cho khổ thơ như có một chỗ dừng chân giữa ranh giới giữa tuổi thơ và lúc trưởng thành, và người chỉ đường dẫn lối chính là ánh trăng. Không phải là vầng trăng bình thường mà là “vầng trăng thành tri kỉ”. “Tri kỉ” nghĩa là vầng trăng và người trở thành đôi bạn tri âm tri kỉ, biết bạn, hiểu bạn như hiểu mình. Hình ảnh đôi bạn tâm giao trăng – người chiến sĩ đã từng xuất hiện rất nhiều trong thơ ca. Đó có thể là hình ảnh người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng trong thơ Bác:

Cũng có thể giữa rừng khuya sương muối, trăng làm bạn với người chiến sĩ đứng chờ giặc tới:

Vầng trăng tri kỷ cũng là vầng trăng bạn bè, thủy chung cùng nhau chia sẻ tâm sự. Không gian bài thơ rộng mở như trải rộng mênh mông “đồng – sông – biển – rừng” theo những thước phim của ký ức “hồi nhỏ – hồi chiến tranh” nhẹ nhàng sâu lắng để khơi gợi những kỷ niệm dạt dào in dấu ấn sâu đậm thành nỡi nhớ. Đến khổ thơ thứ hai là một lời giải vì sao trong quá khứ, trăng và người là tri âm tri kỉ. Bởi vì lúc đó, con người sống hòa mình với thiên nhiên, gắn bó gần gũi với thiên nhiên, hồn nhiên như cành cây ngọn cỏ…

Những từ “trần trụi”, “hồn nhiên” thật dung dị, gần gũi như tâm hồn của người lính Chính bởi vậy người lính đã có lúc “ngỡ không bao giờ quên – cái vầng trăng tình nghĩa”. Từ vầng trăng tri kỷ giờ đây nó trở thành vầng trăng tình nghĩa. Tuy nhiên, từ “ngỡ” đặt ở đầu câu thứ ba giúp người đọc dự cảm về một điều chẳng lành sẽ xảy ra. Bởi vì “ngỡ” là nghĩ vậy thôi, một lúc nào đó con người sẽ lãng quên.

Quy luật vận động không ngừng nghỉ, sự đời vẫn có những éo le, những điều xảy ra mà người ta không thể nghĩ trước được. Thoắt một cái, mọi sự việc đều đã thay đổi:

Mọi sự bất đầu chỉ vì mấy tiếng thật đơn giản “Từ hồi về thành phố”. Lại một lần nữa ta bắt gặp từ “hồi”. Hồi ở đây vừa chỉ thời gian (quãng thời gian khi về thành phố) vừa chỉ sự trở về. Về thành phố là về với cuộc sống hiện đại với đầy đủ tiện nghi, là về với cuộc sống hòa bình không bom rơi đạn lạc. Không gian cũng có sự thay đổi. Nếu như hai khổ đầu mở ra một không gian khoáng đạt, mênh mông, tràn ngập thiên nhiên với đồng ruộng, núi rừng. Giữa không gian bao la ấy, trăng và người hồn nhiên, vô tư bầu bạn quấn quít, dễ nhìn thấy nhau và cũng dễ tìm thấy nhau. Nhưng ở đây khi về với thành phố, không gian sống bỗng như bị bó hẹp lại: đâu thấy rừng thấy biển, đâu thấy đồng thấy sông, mà vây quanh người ta là đường phố, nhà cửa san sát, là ánh điện cửa gương, là những tòa nhà cao tầng, những cái ngõ chật hẹp, là căn phòng buyn-đinh ngột ngạt… Con người như bị nhốt lại, bị bó hẹp trong những cái hộp khổng lồ…

Sống trong không gian bé nhỏ ấy, con người không còn “trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ”. Người ta cũng chẳng nhớ đến trăng, chẳng cần trăng. Bởi đêm nào thành phố chẳng rực rỡ ánh đèn. Bởi vậy mà “vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”. Giọng điệu thơ có gì đó hờ hững, có gì đó lạnh lùng. Hình như tình cảm “tri kỷ – nghĩa tình” đã bị đẩy vào góc xa thẳm của ký ức, con người đã vội quên đi để hòa nhập trong nhịp điệu cuộc sống mới nơi thành thị. Hình ảnh so sánh là một sự đối lập với tình cảm chân thành của một thời quá khứ “ngỡ không bao giờ quên”.

Nếu hồi nhỏ, hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ, vầng trăng là tình nghĩa thì giờ đây nó chỉ là người dưng qua đường. Quan hệ giữa người và trăng đã hoàn toàn thay đổi. Có gì đó phũ phàng, có gì đó nghẹn đắng. Bây giờ giữa vầng trăng và người hoàn toàn xa lạ với nhau, hầu như không quen biết gì nhau. Lời thơ pha chút mỉa mai nhưng chân thành. Câu thơ của Nguyễn Duy chẳng khuyên gì ai, chẳng trách gì ai nhưng hình như đằng sau là hồi chuông, là vị đắng đọng lại trong lòng người về một hiện thực xã hội, về thái độ vô tình của con người trước quá khứ.

Tuy nhiên như người ta vẫn nói mọi chuyện trong cuộc đời đều không thể lường trước được. Cuộc đời nhiều khi vẫn có những bất thường xảy ra và chuyện bất thường đó đã được nhà thơ kể lại ở khổ thơ tiếp theo:

Hai tiếng “thình lình” mở đầu cho khổ thơ thật đúng lúc. Nhờ có sự thình lình bất thường đó ta mới biết rằng hóa ra cái ánh đèn kia không phải là vĩnh cửu, cái ánh sáng của phòng buyn – đinh kia không là muôn đời. Và hóa ra con người ta cũng có lúc “vội bật tung cửa sổ” để tìm ánh sáng cho mình. Câu thơ này thật có ý nghĩa, bởi đây đâu chỉ là cánh cửa sổ bằng sắt hay bằng gỗ của căn phòng mà đây còn là cánh cửa của tâm hồn, của tình cảm, chính cánh cửa này đang được bật tung. Phải đồng thời bật tung hai cánh cửa số ấy thì mới có được chuyện “đột ngột vầng trăng tròn”. Thực ra đột ngột là dành để chỉ tâm trạng con người chứ không phải trăng chờ người bật tung cửa sổ mới bất ngờ đột ngột xuất hiện. Con người có mở cửa hay không mở cửa thì vầng trăng vẫn cứ chiếu sáng, vẫn luôn tràn đầy như thế. Từ “tròn” ở đây không chỉ là một khái niệm hình học, nó còn là sự tròn đầy trọn vẹn của nghĩa tình.

Chính cái vẻ tròn đầy bất diệt của vầng trăng đã đưa đến cho người lính cảm xúc dâng trào:

“Mặt nhìn mặt”, ấy là mặt người với mặt trăng, nhưng ở đây không phải là cái nhìn “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng / Cúi đầu nhớ cố hương” của Lí Bạch mà là sự đối diện với người tri kỉ, đối diện với chính mình, nhìn lại mặt mình. Một cái nhìn đầy áy náy, xót xa. Nếu như với Lí Bạch, vầng trăng khiến thi sĩ nhớ ” cố hương ” da diết thì ở đây nhờ nhìn thấy vầng trăng, người lính đã trở về chính mình, nhận ra gốc gác, tìm lại được chính mình. Khi nhìn thấy người bạn tri âm tri kỷ ngày nào, người lính bỗng dâng trào một niềm xúc động ngỡ ngàng.

Hai tiếng “rưng rưng” gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm. “rưng rưng” là chưa khóc nhưng nước mắt đang chực trào ra. Nó như cảm xúc mơ hồ của kẻ xa quê lâu ngày đang trên đường trở về làng cũ bỗng thoáng thầy gốc đa đầu làng. Nó như nỗi lòng của đôi bạn thân sau nhiều năm chinh chiến lạc mất tin nhau, nay bỗng gặp nhau đúng trong ngày chiến thắng. Trong phút chốc, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy ở tâm tư nhà thơ bao kỷ niệm của những năm tháng gian lao, bao hình ảnh thiên nhiên đất nước bình dị hiền hậu. Điệp ngữ “như là” có tác dụng nhấn mạnh, biểu hiện cảm xúc đến thật dồn dập. Cùng một lúc, cả quá khứ như hiện về, mọi kỷ niệm như được đánh thức. Kỷ niệm thời ấu thơ chơi đùa trên cánh đồng quê, bơi lội trên dòng sông quê,… kỷ niệm lúc trưởng thành ở rừng cùng đồng đội chia sẻ những niềm vui nỗi buồn, chia sẻ những mất mát đau thương…

Đoạn thơ hay nhất ở chất thơ bộc bạch chân thành, hàm súc và biểu cảm, giàu hình tượng dễ đi vào lòng người. Chính sự lan tỏa của ánh trăng đã gợi lại nhưng gì đã qua, đánh thức tình cảm tốt đẹp trong mỗi con người. Người lính vui sướng vì gặp lại vầng trăng nhưng cũng thấy ăn năn vì thái độ vô tình lãng quên quá khứ.

Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa. Khổ cuối của bài thơ thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm:

Bốn câu thơ chia thành hai cặp có nhiều hình ảnh đối lập nhau. Cặp câu thứ nhất đối lập giữa cái tròn vành vạnh của trăng – nghĩa là cái vẹn nguyên, cái tròn đầy bất diệt với sự vô tình vô cảm của con người. Cặp câu thứ hai đối lập giữa cái “im phăng phắc” của vầng trăng với cái “giật mình” của nhà thơ, của người lính. “Giật mình” vì điều gì? Có lẽ là vì ân hận, giật mình để tự nhắc nhở mình đừng làm kẻ phản bội, đừng làm kẻ vô ơn vô tình. Phải nói hai tiếng giật mình cuối cùng của bài thơ như một tiếng chuông rất khẽ nhưng ngân vang rất xa và đọng lại rất lâu.

Như vậy khổ thơ cuối đúng là khổ thơ tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triệt lí trong âm điệu trầm lắng suy tư của tác phẩm. “Trăng cứ tròn vành vạnh” tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. “Ánh trăng im phăng phắc” chính là người bạn, nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta. Đôi khi im lặng lại chính là sự trừng phạt nặng nề nhất. Cũng qua hình ảnh “tròn vành vạnh” và “im phăng phắc” của vầng trăng, tác giả khẳng định một điều, con người có thể vô tình có thể lãng quên nhưng thiên nhiên quá khứ nghĩa tình thì luôn tròn đầy bất diệt.

Theo chúng tôi

Từ một câu chuyện riêng, bài thơ cất lên lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói lòa của ánh điện cửa gương, với những vật dụng ngày càng hiện đại dường như đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã từng băn khoăn, trăn trở về sự thay đổi của lòng người như thế trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:

Sự thật, người lính sau khi rời vùng “núi đồi” về với “thành thị”, từ biệt “bản làng” về với “phố cao”, “sáng đèn” đã không còn nhớ đến “ánh trăng giữa rừng” nữa. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng nghĩa tình trong quá khứ với vầng trăng xa lạ như người dưng qua đường bây giờ. Là ánh trăng đã khác ánh trăng của ngày xưa, là người bạn, người đồng chí những năm tháng ấy. Ánh trăng vẫn thế vẫn gần gũi thân thương dịu dàng, chỉ có hoàn cảnh sống của con người đã thay đổi khiến họ không nhận ra vẻ đẹp của vầng trăng tri kỉ ngày xưa hay chính họ đã thờ ơ, họ quên đi. Thật xót xa cho vầng trăng tuổi thơ vầng trăng đi bên nhau một thời chinh chiến như tri kỉ, vậy mà khi người ta sống giữa phồn hoa đô thị thì nó lại bị lãng quên.

Ánh trăng không chỉ là chuyện riêng của nhà thơ, chuyện của một người mà có ý nghĩa với cả một thế hệ bởi nó đặt ra vấn đề, thái độ “Uống nước nhớ nguồn” đối với quá khứ, với những người đã khuất và cả đối với chính mình. Trong cuộc sống hiện đại hối hả, con người càng dễ bị cuốn vào vòng xoáy tấp nập của cuộc sống, quay cuồng với danh lợi, tiền tài mà vô tình quên đi những thứ bình dị. Sự lãng quên ấy, sự quay lưng lại với kí ức, với những kỉ niệm là những hành động thật đáng trách, thật đáng lên án. Thiếu tình cảm biết ơn, sống phụ nghĩa quên công, con người trở nên ích kỉ, vô trách nhiệm, những kẻ ấy sẽ bị người đời chê trách, mỉa mai, bị gạt ra ngoài lề xã hội và lương tâm của chính họ sẽ kết tội.

Bài thơ là hồi chuông cảnh tỉnh đối với ai đã đối xử một cách vô ơn bạc nghĩa với những người đã tạo ra thành quả cho mình hưởng thụ. Bài thơ nhắc nhở một lẽ sống tốt đẹp của con người cũng là đạo lí của dân tộc, là lẽ sống tốt đẹp từ bao đời nay cho nên thế hệ đi sau cần kế thừa và phát huy. Bởi là con người thì trước hết phải biết sống có đạo đức nhân nghĩa, thủy chung.

Với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm, bài thơ như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị hiền hậu. Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Đọc bài thơ của Nguyễn Duy hẳn mỗi chúng ta cũng “giật mình” như thế.

Chủ đề và ngữ liệu liên hệ, so sánh trong bài văn nghị luận văn bản lớp 9 – Luyện thi tuyển sinh 10 – Thế Kỉ