Top #10 ❤️ Bài Thơ Về Chủ Đề Uống Nước Nhớ Nguồn Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Nghị Luận Xã Hội Về Uống Nước Nhớ Nguồn

Phân Tích Bài Thơ “viếng Lăng Bác” Của Viễn Phương

Tổng Hợp Những Bài Thơ Hay Viết Về Bác Hồ Kính Yêu

Đặt Tour Du Thuyền 3 Sao Bài Thơ Junk Tại Quận Ba Đình

Hạ Long Trên Tàu Bài Thơ ( 2,3 Ngày)

100+ Bài Thơ Hay Về Tiền Bạc Chất Như Nước Cất

Bài làm

Uống nước nhớ nguồn là truyền thống có từ lâu đời của cha ông ta truyền lại cho thế hệ trẻ mai sau. Đây là truyền thống được gìn giữ, bảo tồn và phát huy từ đời này sang đời khác. Nó hình thành nên nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Từ xưa đến nay, trong tâm linh của người Việt Nam thì lòng biết ơn, hướng về cội nguồn là điều mà mỗi người cần phải ghi nhớ. Hiểu một cách nôm na thì uống nước nhớ nguồn chính là sống luôn hướng về tổ tiên, về quê hương, đất nước, về những người đã có công ơn nuôi dưỡng và sinh thành chúng ta.

Đó là một trong những biểu hiện của lòng biết ơn, lối sống uống nước nhớ nguồn đối với những người có công với cách mạng.

Chúng ta không phải kể đến những việc xa xôi, uống nước nhớ nguồn còn là thái độ, lòng biết ơn đối với bố mẹ, ông bà. Họ là những người có công lao sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục chúng ta từ khi còn bé đến lúc trưởng thành. Người xưa vẫn có câu:

Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Công lao tròi biển ấy dù con cái có báo đáp cũng không thể báo đáp được, nhưng tấm lòng của con cái dành cho cha mẹ mới là điều quan trọng nhất. Dù mai này lớn lên, dù có đi đâu, làm gì thì ba mẹ vẫn luôn là nơi để chúng ta trở về. Họ mãi là người sẵn sàng chấp nhận và tha thứ cho những lỗi lầm bạn gây ra.

Truyền thống uống nước nhớ nguồn đã tạo nên một nét đẹp truyền thống đối với dân tộc Việt Nam. Truyền thống này giúp cho mối quan hệ giữa người với người trở nên tốt đẹp hơn. Nó sẽ hình thành nên hệ tư tưởng tốt đẹp được truyền từ đời này sang đời khác.

Bên cạnh những người có tinh thần biết ơn, uống nước nhớ nguồn thì còn có những kẻ đi ngược lại với đạo lý ấy. Đó là những người phản bội đất nước, bán nước, ích kỷ, không chịu cống hiến. Trong những năm qua tình trạng con cái bỏ rơi cha mẹ khi về già đang diễn ra ngày càng căng thẳng. Họ đang chà đạp lên những người đã có công ơn nuôi dưỡng, sinh thành. Thật đáng buồn cho những người như vậy.

Uống nước nhớ nguồn là truyền thống đạo đức tốt đẹp của nhân dân ta. Mỗi người cần phải giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp này để có thể xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh và văn minh hơn.

Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ: Uống Nước Nhớ Nguồn

Phân Tích Đạo Lý Uống Nước Nhớ Nguồn Qua Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

17 Tác Dụng Của Cà Phê Đen Người Uống Cafe Nên Biết

Bạn Sẽ Thay Đổi Thói Quen Uống Cà Phê Sáng Khi Đọc Bài Này

13 Lợi Ích Của Việc Uống Cà Phê Mỗi Ngày

Bài Văn Mẫu Về Uống Nước Nhớ Nguồn Suy Nghĩ Về Đạo Lí

Trà Ngấm Vào Thơ, Thơ Đậm Trong Trà

Những Bài Văn Mẫu Upu Bài Mẫu Viết Thư Upu Năm 2022

Giáo Án Dạy Thơ:ước Mơ Của Bé

Chọn Lọc Bài Thơ Hay Về Mẹ Ý Nghĩa, Xúc Động Triệu Trái Tim

Chùm 7 Bài Thơ Về Thầy Cô Giáo Hay Nhất Ý Nghĩa Nhất

Chuyển đến Văn mẫu Nghị luận xã hội về câu tục ngữ ” Uống nước nhớ … – Bài viết gồm có dàn ý bài nghị luận và tổng hợp 12 mẫu bài …

Xếp hạng: 3 · ‎112 phiếu bầu

Chuyển đến Chứng minh câu tục ngữ: Uống nước nhớ nguồn mẫu 7 – Bên cạnh đó, ta thấy ” Uống nước nhớ nguồn” còn là … ý và 7 bài văn mẫu cho đề bài: Chứng minh câu tục ngữ … học sinh hiểu hơn về ý nghĩa của câu tục ngữ này, …

Xếp hạng: 3 · ‎1.427 phiếu bầu

Dàn ý chi tiết số 3. I. Mở bài. – Dẫn dắt: đạo lí nhớ về cội nguồn, nhớ ơn những người đã giúp đỡ chúng ta là một truyền …

Xếp hạng: 4,3 · ‎126 phiếu bầu

tech12h.com › bai-hoc › bai-van-nghi-luan-lop-9-voi-c…

Sự hưởng thụ ở đây được ví như “ăn quả”, ” uống nước“. .” Nguồn” có thể được hiểu chính là những người đã tạo ra thành quả về vật chất, tinh thần cho xã hội

4 thg 9, 2022 – Nghị luận xã hội về truyền thống uống nước nhớ nguồn. September 4, 2022 Văn mẫu lớp 9, Văn Mẫu THCS 10,172 Views. Loading …

Chứng minh câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn – văn mẫu. 2 72,064 182 … Các từ khóa trọng tâm ” cần nhớ ” của bài viết trên hoặc ” cách đặt đề bài ” khác của bài viết trên: * chứng … Nghị luận xã hội về câu tục ngữ uống nước nhớ nguồn.

Em hãy giải thích câu tục ngữ: ” Uống nước nhớ nguồn” – Văn mẫu – Nghị luận xã hội về câu tục ngữ ” Uống nước nhớ nguồn” – Tìm đáp án, giải bài tập, để học …

Phân tích khổ 3 bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng cực hay – Văn mẫu tổng hợp. Chiến tranh đi qua để lại trong ta bao nhiêu đau thương, mất mát về cả …

Viết đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ về đạo lí uống nước nhớ nguồn

Viết đoạn văn nghị luận về đạo lý uống nước nhớ nguồn

Suy nghĩ về đạo lí uống nước nhớ nguồn văn 9

Nghị luận Uống nước nhớ nguồn lớp 7

Dàn ý suy nghĩ về đạo lí Uống nước nhớ nguồn

Suy nghĩ của em về đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta

Dàn ý giải thích câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn

Biểu hiện của uống nước nhớ nguồn

Dịch Thơ Cao Bá Quát. Uống Rượu Tiêu Sầu

Chùm Thơ Về Rượu Hay Nhất, Cảm Xúc, Tâm Trạng

Tổng Hợp Những Bài Thơ Uống Rượu Tâm Trạng Nhất

Chùm Thơ Ngồi Uống Rượu Một Mình Với Tâm Trạng Buồn

Cảm Nhận Về Bài Thơ Thương Vợ Của Tú Xương

Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ: Uống Nước Nhớ Nguồn

Nghị Luận Xã Hội Về Uống Nước Nhớ Nguồn

Phân Tích Bài Thơ “viếng Lăng Bác” Của Viễn Phương

Tổng Hợp Những Bài Thơ Hay Viết Về Bác Hồ Kính Yêu

Đặt Tour Du Thuyền 3 Sao Bài Thơ Junk Tại Quận Ba Đình

Hạ Long Trên Tàu Bài Thơ ( 2,3 Ngày)

Giải thích câu tục ngữ: “Uống nước nhớ nguồn”

Ca dao tục ngữ là kho tàng trí tuệ của con người. Thông qua những câu nói ngắn gọn, cha ông ta muốn gửi đến con cháu dời sau một kinh nghiệm hay một lời khuyên dạy nào đó. Câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” là kết tinh truyền thống biết ơn và tinh thần tương thân tương ái của dan tộc ta từ bao đời nay.

Thế nào là “Uống nước nhớ nguồn”?

* Nước:

+ Nghĩa đen: là vật chất dùng để uống.

+ Nghĩa bóng: là thành quả lao động của con người.

* Nguồn:

+ Nghĩa đen: là nơi xuất phát của dòng nước.

+ Nghĩa bóng: là những người làm ra thành quả lao động.

Ý nghĩa của cả câu tục ngữ:

Câu tục ngữ là một triết lí sống: Khi hưởng thụ mọt thành quả lao động nào đó, phải nhớ ơn và đền ơn xứng đáng những người đem lại thành quả mà ta đang hưởng.

Biểu hiện đạo lí Uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta:

+ Biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã dày công vun đắp hạnh phúc gia đình, dưỡng nuôi con cháu.

+ Biết ơn các vị anh hừng, thương binh, liệt sĩ đã xả thân vì sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc.

+ Biết ơn thầy cô giáo đã có công dạy dỗ chúng ta nên người.

Tại sao “uống nước” cần phải “nhớ nguồn”?

Trong thiên nhiên và xã hội, không có hiện tượng nào là không có nguồn gốc. Trong cuộc sống, không có thành quả nào mà không có công của một ai đó tạo nên.

Lòng biết ơn đó giúp ta gắn bó với cha mẹ, ông bà, anh em, tập thể… tạo ra một xã hội nhân ái, đoàn kết. Thiếu lòng biết ơn và hành động để đền ơn con người sẽ trở nên ích kỉ, xấu xa và độc ác. Vì vậy, Uống nước nhớ nguồn là đạo lí mà con người phải có, và nó trở thành một truyền thống tốt đẹp của nhân dân.

Nhớ nguồn phải thể hiện như thế nào?

+ Giữ gìn và bảo vệ thành quả của người đi trước đã tạo ra.

+ Sử dụng thành quả lao động đúng đắn, tiết kiệm.

+ Bản thân phải góp phần tạo nên thành quả chung, làm phong phú thêm thành quả của dân tộc, của nhân loại.

+ Có ý thức và có hành động thiết thực để biết đền ơn đáp nghĩa cho những người có công với bản thân, với Tổ quốc.

Không một ai có thể một mình mà tạo ra cả thế giới. Không có một thành quả lao động nò tự nó tạo ra. tất cả đều do kết tinh sức lao động của con người. Những gì ta đang có và được thụ hưởng hôm nay đều do lớp lớp cha ông từ ngàn xưa để lại. Bởi thế, ta phải có lòng biết ơn, biết trân trọng, gìn giữ và phát huy những giá trị ấy đồng thời tiếp tục để lại cho thế hệ mai sau kế thừa. Uống nước nhớ nguồn mãi mãi là một bài học, một đạo lý sâu sắc cần được giữ gìn.

Suy nghĩ về ý nghĩa câu tục ngữ: “Uống nước nhớ nguồn”

Trong kho tàng ca dao tục ngữ của người Việt Nam ta có rất nhiều những câu nói về truyền thống đạo lý ân nghĩa thuỷ chung. Một trong số đó là câu: “Uống nước nhớ nguồn “.

“Uống nước ” chính là sự hưởng thụ những thành quả vật chất và tinh thần. “Nhớ nguồn ” là sự tri ân, giữ gìn phát huy những thành quả của người làm ra chúng. Như vậy cả câu tục ngữ là lời khuyên, lời dạy bảo chúng ta phải biết ơn thế hệ cha anh và phát huy những thành quả của họ.

Từ cách giải thích ở trên ta thấy câu tục ngữ thể hiện phẩm chất cao quý của con người có nhiều ý nghĩa cao đẹp.

Thành quả tốt đẹp không tự nhiên mà có. Đất nước hoà bình mà chúng ta sống hôm nay được đổi bằng sinh mạng của biết bao người ngã xuống. Bởi vậy ta không được phép quên tổ tiên, nòi giống và những người đã chiến đấu, hy sinh bảo vệ quê hương. Cha mẹ, ông bà người thân đã sinh ra ta, nuôi dưỡng ta khôn lớn, thầy cô dạy dỗ ta học hành trở nên người có ích cho xã hội… Tất cả đều là “nguồn” để ta phải nhớ, phải tri ân.

Lòng biết ơn là cở sở của đạo làm người. Một xã hội chỉ thực sự tốt đẹp khi được xây dựng vững vàng trên nền tảng đạo lý. Trên khắp đất nước Việt Nam lòng biết ơn thể hiện ở việc xây dựng các đền, miếu, chùa chiền phụng thờ, tôn vinh các bậc anh hùng có công với nước. Trong mỗi gia đình, bàn thờ tổ tiên được đặt ở nơi trang trọng. Nhiều năm nay, cả nước dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với những thương binh, liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng và những gia đình có công với cách mạng… Đến bất kỳ nơi nào cũng có thể tìm thấy những biểu hiện sinh động phong phú của đạo lý “uống nước nhớ nguồn ” trên đất nước ta .

“Nhớ nguồn” không chỉ là biết ơn, giữ gìn, bảo vệ thành quả đã có mà bản thân mỗi người cần cố gắng cống hiến, bổ sung thêm những thành quả mới cho “nguồn nước” dân tộc luôn tràn đầy và bất diệt. Có như vậy mới phát huy được tinh hoa truyền thống tốt đẹp của tổ tiên, làm cho xã hội ngày một phát triển. Đó mới là nhớ nguồn một cách thiết thực.

Trong cuoc sống, vẫn còn biết bao kẻ “uống nước” những không “nhớ nguồn”. Đó là những kẻ vô ơn, “khỏi vòng cong đuôi”, “qua cầu rút ván”, những kẻ vong ân bội nghĩa, ăn cháo đá bát, lừa thầy phản bạn, thờ ơ với quá khứ, quên nguồn cội, chà đạp lên giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc.

Thấm nhuần ý nghĩa của câu tục ngữ, ta thấy: “Uống nước nhớ nguồn” là phẩm chất cần có của con người. Mỗi chúng ta cần có trách nhiệm gìn giữ, vun đắp, phát huy truyền thống đạo lí tốt đẹp đó.

Ở lứa tuổi học sinh, chúng ta chưa làm ra của cải vất chất, tinh thần cho xã hội, do đó hãy bày tỏ lòng biết ơn chân thành với cha mẹ, thầy cô bằng lời nói, việc làm cụ thể của mình: phấn đấu học tập, rèn luyện và tu dưỡng thành con ngoan, trò giỏi để trở thành những công dân có ích cho xã hội sau này.

Lòng biết ơn thực sự là một nét truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc song nó không tự nhiên mà có. Nó là kết quả của quá trình rèn luyện, tu dưỡng lâu dài của con người.

Phân Tích Đạo Lý Uống Nước Nhớ Nguồn Qua Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

17 Tác Dụng Của Cà Phê Đen Người Uống Cafe Nên Biết

Bạn Sẽ Thay Đổi Thói Quen Uống Cà Phê Sáng Khi Đọc Bài Này

13 Lợi Ích Của Việc Uống Cà Phê Mỗi Ngày

Những Bài Thơ Tình Buồn Bên Ly Cà Phê Đắng Hay Nhất

Đạo Lí Uống Nước Nhớ Nguồn Trong Bài “Ánh Trăng” Của Nguyễn Duy

Đọc Hiểu Văn Bản: Ánh Trăng (Nguyễn Duy)

Top 6 Bài Văn Cảm Nhận Về Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Ánh Trăng Lớp 9

Tổng Ôn Kiến Thức Về Bài Thơ Ánh Trăng Của Nhà Thơ Nguyễn Duy

Hình Ảnh Ánh Trăng Cùng Với Mạch Cảm Xúc Trong Bai Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Ôn Tập, Củng Cố Kiến Thức Bài Thơ “Ánh Trăng” Của Nguyễn Duy

Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thế hệ này từng trải qua bao thử thách, gian khổ, từng chứng kiến bao hy sinh lớn lao của dân tộc trong một thời mưa bom bão đạn, từng sống chết gắn bó cùng thiên nhiên, cùng đồng đội tình nghĩa. Rồi khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống hòa bình luôn mang lại cho con người cảm giác thoải mái, yên bình, nhưng cũng thay đổi nhiều thói quen, cách sống mà không phải ai cũng ghi nhớ những gian nan, những nghĩa tình của thời đã qua. Bài thơ Ánh trăng là một lời tâm sự chân thành, là một lời nhắc nhở về ý nghĩa cuộc sống, là một lần “giật mình” trước cái điều vô tình ấy.

Ánh trăng luôn là nguồn cảm hứng của thi ca. Chúng ta có một “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” trong Thu ẩm – Nguyễn Khuyến, có một “bến sông trăng” lãng mạn của Hàn Mặc Tử, có một vầng trăng tri kỉ của thi nhân “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ / Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ “ (Hồ Chí Minh )… Nhưng với Nguyễn Duy, ánh trăng mang một hàm nghĩa mới. Đó là hình ảnh của quá khứ, là nhân dân, là người lính, là lý tưởng chiến đấu… Bài thơ gây ấn tượng bởi lối sáng tạo đặc biệt. Chữ đầu mỗi câu thơ không viết hoa. Phải chăng nhà thơ muốn cảm xúc được dạt dào trôi theo dòng chảy của kỉ niệm?

Ánh trăng trước hết là tiếng lòng, là suy ngẫm của riêng Nguyễn Duy nên nó mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian. Dòng cảm nghĩ trữ tình của nhà thơ cũng men theo dòng tự sự này mà bộc lộ. Ở quãng thời gian quá khứ đã có một biến đổi, một sự thực đáng chú ý: hồi nhỏ rồi thời chiến tranh sống hồn nhiên, gần gũi với thiên nhiên đến tưởng không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa. Ấy thế mà từ hồi về thành phố, quen sống với những tiện nghi hiện đại, vầng trăng tình nghĩa như người dưng qua đường nhưng sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ để tác phẩm.

Mở đầu bài thơ là câu chuyện xảy ra trong quá khứ – lúc người lính còn nhỏ và hồi chiến tranh ở rừng:

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với biển

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỷ.”

          Chỉ với bốn câu thơ ngắn của khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã tái hiện lại những khoảnh khắc đáng nhớ trong cuộc đời người lính. Trong kỷ niệm, trong câu chuyện có đồng, sông, bể, rừng nghĩa là có tất cả những không gian sự vật quen thuộc của đất nước, có mọi thứ của thiên nhiên có thể gắn bó với con người, che chở cho con người, nuôi sống con người. Chữ “hồi” ở câu thứ nhất và câu thứ ba làm cho khổ thơ như có một chỗ dừng chân giữa ranh giới giữa tuổi thơ và lúc trưởng thành, và người chỉ đường dẫn lối chính là ánh trăng. Không phải là vầng trăng bình thường mà là “vầng trăng thành tri kỉ”. “Tri kỉ” nghĩa là vầng trăng và người trở thành đôi bạn tri âm tri kỉ, biết bạn, hiểu bạn như hiểu mình. Hình ảnh đôi bạn tâm giao trăng – người chiến sĩ đã từng xuất hiện rất nhiều trong thơ ca. Đó có thể là hình ảnh người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng trong thơ Bác: “Việc quân, việc nước bàn xong/ Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm.” (Đối nguyệt); cũng có thể giữa rừng khuya sương muối, trăng làm bạn với người chiến sĩ đứng chờ giặc tới: “Đêm nay rừng hoang sương muối / Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới / Đầu súng trăng treo.” (Đồng chí – Chính Hữu). Vầng trăng tri kỷ cũng là vầng trăng bạn bè, thủy chung cùng nhau chia sẻ tâm sự.

Không gian bài thơ rộng mở như trải rộng mênh mông “đồng – sông – biển – rừng” theo những thước phim của ký ức “hồi nhỏ – hồi chiến tranh” nhẹ nhàng sâu lắng để khơi gợi những kỷ niệm dạt dào in dấu ấn sâu đậm thành nỡi nhớ. Đến khổ thơ thứ hai là một lời giải vì sao trong quá khứ, trăng và người là tri âm tri kỉ. Bởi vì lúc đó, con người sống hòa mình với thiên nhiên, gắn bó gần gũi với thiên nhiên, hồn nhiên như cành cây ngọn cỏ…

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa.”

Những từ “trần trụi”, “hồn nhiên” thật dung dị, gần gũi như tâm hồn của người lính Chính bởi vậy người lính đã có lúc “ngỡ không bao giờ quên – cái vầng trăng tình nghĩa”. Từ vầng trăng tri kỷ giờ đây nó trở thành vầng trăng tình nghĩa. Tuy nhiên, từ “ngỡ” đặt ở đầu câu thứ ba giúp người đọc dự cảm về một điều chẳng lành sẽ xảy ra. Bởi vì “ngỡ” là nghĩ vậy thôi, một lúc nào đó con người sẽ lãng quên.

Quy luật vận động không ngừng nghỉ, sự đời vẫn có những éo le, những điều xảy ra mà người ta không thể nghĩ trước được. Thoắt một cái, mọi sự việc đều đã thay đổi:

“Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường.”

          Mọi sự bất đầu chỉ vì mấy tiếng thật đơn giản “Từ hồi về thành phố”. Lại một lần nữa ta bắt gặp từ “hồi”. Hồi ở đây vừa chỉ thời gian (quãng thời gian khi về thành phố) vừa chỉ sự trở về. Về thành phố là về với cuộc sống hiện đại với đầy đủ tiện nghi, là về với cuộc sống hòa bình không bom rơi đạn lạc. Không gian cũng có sự thay đổi. Nếu như hai khổ đầu mở ra một không gian khoáng đạt, mênh mông, tràn ngập thiên nhiên với đồng ruộng, núi rừng. Giữa không gian bao la ấy, trăng và người hồn nhiên, vô tư bầu bạn quấn quít, dễ nhìn thấy nhau và cũng dễ tìm thấy nhau. Nhưng ở đây khi về với thành phố, không gian sống bỗng như bị bó hẹp lại: đâu thấy rừng thấy biển, đâu thấy đồng thấy sông, mà vây quanh người ta là đường phố, nhà cửa san sát, là ánh điện cửa gương, là những tòa nhà cao tầng, những cái ngõ chật hẹp, là căn phòng buyn-đinh ngột ngạt… Con người như bị nhốt lại, bị bó hẹp trong những cái hộp khổng lồ…

Sống trong không gian bé nhỏ ấy, con người không còn “trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ”. Người ta cũng chẳng nhớ đến trăng, chẳng cần trăng. Bởi đêm nào thành phố chẳng rực rỡ ánh đèn. Bởi vậy mà “vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”. Giọng điệu thơ có gì đó hờ hững, có gì đó lạnh lùng. Hình như tình cảm “tri kỷ – nghĩa tình” đã bị đẩy vào góc xa thẳm của ký ức, con người đã vội quên đi để hòa nhập trong nhịp điệu cuộc sống mới nơi thành thị. Hình ảnh so sánh là một sự đối lập với tình cảm chân thành của một thời quá khứ “ngỡ không bao giờ quên”. Nếu hồi nhỏ, hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ, vầng trăng là tình nghĩa thì giờ đây nó chỉ là người dưng qua đường. Quan hệ giữa người và trăng đã hoàn toàn thay đổi. Có gì đó phũ phàng, có gì đó nghẹn đắng. Bây giờ giữa vầng trăng và người hoàn toàn xa lạ với nhau, hầu như không quen biết gì nhau. Lời thơ pha chút mỉa mai nhưng chân thành. Câu thơ của Nguyễn Duy chẳng khuyên gì ai, chẳng trách gì ai nhưng hình như đằng sau là hồi chuông, là vị đắng đọng lại trong lòng người về một hiện thực xã hội, về thái độ vô tình của con người trước quá khứ.  

Tuy nhiên như người ta vẫn nói mọi chuyện trong cuộc đời đều không thể lường trước được. Cuộc đời nhiều khi vẫn có những bất thường xảy ra và chuyện bất thường đó đã được nhà thơ kể lại ở khổ thơ tiếp theo:

“Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn-đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn.”

          Hai tiếng “thình lình” mở đầu cho khổ thơ thật đúng lúc. Nhờ có sự thình lình bất thường đó ta mới biết rằng hóa ra cái ánh đèn kia không phải là vĩnh cửu, cái ánh sáng của phòng buyn – đinh kia không là muôn đời. Và hóa ra con người ta cũng có lúc “vội bật tung cửa sổ” để tìm ánh sáng cho mình. Câu thơ này thật có ý nghĩa, bởi đây đâu chỉ là cánh cửa sổ bằng sắt hay bằng gỗ của căn phòng mà đây còn là cánh cửa của tâm hồn, của tình cảm, chính cánh cửa này đang được bật tung. Phải đồng thời bật tung hai cánh cửa số ấy thì mới có được chuyện “đột ngột vầng trăng tròn”. Thực ra đột ngột là dành để chỉ tâm trạng con người chứ không phải trăng chờ người bật tung cửa sổ mới bất ngờ đột ngột xuất hiện. Con người có mở cửa hay không mở cửa thì vầng trăng vẫn cứ chiếu sáng, vẫn luôn tràn đầy như thế. Từ “tròn” ở đây không chỉ là một khái niệm hình học, nó còn là sự tròn đầy trọn vẹn của nghĩa tình.

Chính cái vẻ tròn đầy bất diệt của vầng trăng đã đưa đến cho người lính cảm xúc dâng trào:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng

          “Mặt nhìn mặt”, ấy là mặt người với mặt trăng, nhưng ở đây không phải là cái nhìn “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng / Cúi đầu nhớ cố hương” của Lí Bạch mà là sự đối diện với người tri kỉ, đối diện với chính mình, nhìn lại mặt mình. Một cái nhìn đầy áy náy, xót xa. Nếu như với Lí Bạch, vầng trăng khiến thi sĩ nhớ “cố hương” da diết thì ở đây nhờ nhìn thấy vầng trăng, người lính đã trở về chính mình, nhận ra gốc gác, tìm lại được chính mình. Khi nhìn thấy người bạn tri âm tri kỷ ngày nào, người lính bỗng dâng trào một niềm xúc động ngỡ ngàng. Hai tiếng “rưng rưng” gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm. “rưng rưng” là chưa khóc nhưng nước mắt đang chực trào ra. Nó như cảm xúc mơ hồ của kẻ xa quê lâu ngày đang trên đường trở về làng cũ bỗng thoáng thầy gốc đa đầu làng. Nó như nỗi lòng của đôi bạn thân sau nhiều năm chinh chiến lạc mất tin nhau, nay bỗng gặp nhau đúng trong ngày chiến thắng. Trong phút chốc, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy ở tâm tư nhà thơ bao kỷ niệm của những năm tháng gian lao, bao hình ảnh thiên nhiên đất nước bình dị hiền hậu. Điệp ngữ “như là” có tác dụng nhấn mạnh, biểu hiện cảm xúc đến thật dồn dập. Cùng một lúc, cả quá khứ như hiện về, mọi kỷ niệm như được đánh thức. Kỷ niệm thời ấu thơ chơi đùa trên cánh đồng quê, bơi lội trên dòng sông quê,… kỷ niệm lúc trưởng thành ở rừng cùng đồng đội chia sẻ những niềm vui nỗi buồn, chia sẻ những mất mát đau thương… Đoạn thơ hay nhất ở chất thơ bộc bạch chân thành, hàm súc và biểu cảm, giàu hình tượng dễ đi vào lòng người. Chính sự lan tỏa của ánh trăng đã gợi lại nhưng gì đã qua, đánh thức tình cảm tốt đẹp trong mỗi con người. Người lính vui sướng vì gặp lại vầng trăng nhưng cũng thấy ăn năn vì thái độ vô tình lãng quên quá khứ.

          Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa. Khổ cuối của bài thơ thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm:

“Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình.”      

Bốn câu thơ chia thành hai cặp có nhiều hình ảnh đối lập nhau. Cặp câu thứ nhất đối lập giữa cái tròn vành vạnh của trăng – nghĩa là cái vẹn nguyên, cái tròn đầy bất diệt với sự vô tình vô cảm của con người. Cặp câu thứ hai đối lập giữa cái “im phăng phắc” của vầng trăng với cái “giật mình” của nhà thơ, của người lính. “Giật mình” vì điều gì? Có lẽ là vì ân hận, giật mình để tự nhắc nhở mình đừng làm kẻ phản bội, đừng làm kẻ vô ơn vô tình. Phải nói hai tiếng giật mình cuối cùng của bài thơ như một tiếng chuông rất khẽ nhưng ngân vang rất xa và đọng lại rất lâu. Như vậy khổ thơ cuối đúng là khổ thơ tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triệt lí trong âm điệu trầm lắng suy tư của tác phẩm. “Trăng cứ tròn vành vạnh” tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. “Ánh trăng im phăng phắc” chính là người bạn, nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta. Đôi khi im lặng lại chính là sự trừng phạt nặng nề nhất. Cũng qua hình ảnh “tròn vành vạnh” và “im phăng phắc” của vầng trăng, tác giả khẳng định một điều, con người có thể vô tình có thể lãng quên nhưng thiên nhiên quá khứ nghĩa tình thì luôn tròn dầy bất diệt.

Từ một câu chuyện riêng, bài thơ cất lên lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Còn nhớ năm xưa, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Genève được kí kết, trong buổi chia tay đầy lưu luyến giữa cán bộ về xuôi với đồng bào miền núi nhà thơ Tố Hữu cũng đã tự nhắc nhở mình, khi về với cuộc sống bình yên ở miền xuôi cũng không bao giờ được quên những năm tháng gắn bó cùng đồng bào nơi đây, được đồng bào yêu thương “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, cùng kề vai sát cánh chống giặc:

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

Và Ánh trăng cũng là một lời tự nhắc nhở như thế. Ánh trăng không chỉ là chuyện riêng của nhà thơ, chuyện của một người mà có ý nghĩa với cả một thế hệ bởi nó đặt ra vấn đề, thái độ “Uống nước nhớ nguồn” đối với quá khứ, với những người đã khuất và cả đối với chính mình. Trong cuộc sống hiện đại hối hả, con người càng dễ bị cuốn vào vòng xoáy tấp nập của cuộc sống, quay cuồng với danh lợi, tiền tài mà vô tình quên đi những thứ bình dị. Sự lãng quên ấy, sự quay lưng lại với kí ức, với những kỉ niệm là những hành động thật đáng trách, thật đáng lên án. Thiếu tình cảm biết ơn, sống phụ nghĩa quên công, con người trở nên ích kỉ, vô trách nhiệm, những kẻ ấy sẽ bị ngưòi đời chê trách, mỉa mai, bị gạt ra ngoài lề xã hội và lương tâm của chính họ sẽ kết tội.

Bài thơ là hồi chuông cảnh tỉnh đối với ai đã đối xử một cách vô ơn bạc nghĩa với những người đã tạo ra thành quả cho mình hưởng thụ. Bài thơ nhắc nhở một lẽ sống tốt đẹp của con người cũng là đạo lí của dân tộc, là lẽ sống tốt đẹp từ bao đời nay cho nên thế hệ đi sau cần kế thừa và phát huy. Bởi là con người thì trước hết phải biết sống có đạo đức nhân nghĩa, thủy chung.

Tóm lại, bài thơ Ánh trăng với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị hiền hậu. Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Đọc bài thơ của Nguyễn Duy hẳn mỗi chúng ta cũng “giật mình” như thế.

Thạc sỹ Nguyễn Huyền Nga

(Giáo viên Trường Quốc tế Á Châu)

Giáo Án Ngữ Văn 9 Tiết 59: Văn Bản: Ánh Trăng (Nguyễn Duy)

Qua Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy, Em Có Suy Nghĩ Gì Về Trách Nhiệm Của Bản Thân Đối Với Đất Nước

Nghệ Thuật “Không Cần” Và “Không Nên Là Ánh Trăng Lừa Dối

Đóng Vai Người Lính Trong Bài Thơ Ánh Trăng Kể Lại Lần Gặp Gỡ Vầng Trăng Nơi Thành Phố

Phân Tích Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Ánh Trăng

Phân Tích Đạo Lý Uống Nước Nhớ Nguồn Qua Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ: Uống Nước Nhớ Nguồn

Nghị Luận Xã Hội Về Uống Nước Nhớ Nguồn

Phân Tích Bài Thơ “viếng Lăng Bác” Của Viễn Phương

Tổng Hợp Những Bài Thơ Hay Viết Về Bác Hồ Kính Yêu

Đặt Tour Du Thuyền 3 Sao Bài Thơ Junk Tại Quận Ba Đình

Phân tích đạo lý uống nước nhớ nguồn qua bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy

-Trăng đã từ lâu đi vào trong lòng người qua rất nhiều tác phẩm văn học. Trăng không rực rỡ chói chang như mặt trời, nhưng trăng lại là nguồn cảm xúc để cho ta gợi lên những nỗi niềm sâu lắng.

-Nguyễn Duy, nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đã góp vào kho tàng văn học Việt Nam bài thơ Ánh trăng thật đặc sắc. Ba khổ cuối của đoạn thơ gợi nhắc chúng ta về truyền thống uống nước nhớ nguồn, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

b.Triển khai:

-Ở những khổ thơ đầu, tác giả kể về thuở nhỏ, lúc chiến tranh, trăng và con người chung sống thân thương, tri kỉ. Khi cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện cửa gương, với những vật dụng ngày càng hiện đại thì con người quên đi ánh sáng của vầng trăng. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng nghĩa tình trong quá khứ với vầng trăng xa lạ như người dưng qua đường.

-Cũng như dòng sông có thác ghềnh, có quanh co uốn khúc. Cuộc sống hiện đại luôn có những biến động bất trắc. Và chính trong những bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc người ta nhận thấy giá trị cùa quá khứ gian lao mà nghĩa tình:

thình lình đèn điện tắt

phòng buynh đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn.

-Nhà thơ chỉ sử dụng bốn câu, hai mươi từ, các từ thình lình, vội, đột ngột diễn tả tình thái đầy biểu cảm thể hiện sự bất ngờ, ngẫu nhiên của cuộc tri ngộ. Hoàn cảnh gặp gỡ đó khiến nhà thơ bàng hoàng. Không chỉ là sự thay thế đúng lúc ánh trăng cho ánh điện. Ở đây còn là sự thức tỉnh và gợi nhớ cho ý nghĩa của những ngày tháng đã qua, của những cái bình dị trong cuộc sổng. Hành động bật tung diên tả trạng thái cảm xúc thật mạnh mẽ, bất ngờ, có cái gì đó như là thảng thốt, lo âu trong hình ảnh vội bật tung cứa số.

-Vâng trăng tròn đâu phải khi đèn điện tắt mới có. Cũng như nhũng năm tháng của quá khứ, vẻ đẹp cùa đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi. Nhưng đột ngột vầng trăng tròn lạ là một biên cố. Chính biến cố này đã cánh tinh tâm hồn nhà thơ.

-Trong dòng diễn biến theo thời gian, sự việc bất thường trong khổ thơ thứ tư chính là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chú đề tác phẩm. Chính vì sự xuất hiện đột ngộ trong đặc biệt trong bối cảnh đặc biệt ấy, vầng trăng xuât hiện bât ngờ mà tự nhiên đã gọi lại bao nghĩa tình. Một sự việc xay ra, kéo con người về quá khứ. Noi thành phố hiện đại lắm ánh điện, cửa gương, người ta chăng mấy lúc cần, ít khi chú ý đến ánh trăng. Sự xua hiện đột ngột của vầng trăng ờ tình huống đặc biệt mới tự nhiên gây ấn tượng mạnh. Chính sự xuất hiện đột ngột trong bối cảnh ấy, vầng trăng bất ngờ mà tự nhiên gợi lại bao kỉ niệm nghĩa tình:

ngứa mặt lên nhìn mặt có cái gì nmg rung như là đông Ici bê như Ici sông là rùng.

-Trở lại với tâm trạng người lính trong bài thơ này, như có một cái nhìn đầy áy náy, xót xa: ngừa mặt lèn nhìn mặt. Hai chừ mặt trong vần thơ mặt trăng và mặt người cùng đôi diện đàm tủm. Nhà thơ đối diện với vầng trăng cũng là đối diện cũng chính là đối diện với lương tâm cùa mình. Đây là sự đối diện với quá khứ và hiện tại, giữa sự thủy chung và bội bạc, giữa lòng vị tha và thói ích kỉ.

-Trăng chẳng nói, chẳng trách, thế mà người lính như cảm thấy có cái gì đó rung rưng. Rung rung nghĩa là vì xúc động, nước mắt đang ứa ra và sắp khóc. Quá khứ ùa vè bao kỉ niệm đẹp của một đòi ngưòi ùa về, tâm hồn gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với done, với sông, với bể, với rừng.

-Cấu trúc câu thơ song hành, nghệ thuật so sánh với điệp tù’ là cho ta thấy ngòi bút của tác giả thật tài hoa. Sự gặp gỡ bất ngờ giữa người và trăng là sự gặp gỡ những người bạn, những tâm hồn tri âm tri ki. Nhà thơ xúc động nghẹn ngào vì gặp lại cố nhân, gặp lại một gương mặt thân yêu và cũng chính là gương mặt cùa chính tâm hồn mình. Trong phút chốc, sự xuất hiện đột ngột cùa vầng trăng làm ùa dậy trong tâm trí của nhà thơ về hình ảnh thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hòa hiện hình trong nỗi nhớ, trong cảm xúc rưng rưng cùa một con người đang sống giữa phố phường hiện đại. Nguyễn Duy gặp lại ánh trăng như gặp lại một không gian tình nghĩa: đồng bể, sông, rừng. Ánh trăng soi rọi tâm hồn, khiến nhà thơ bừng tỉnh:

-Trăng – hay quá khứ nghĩa tình vẫn tràn đầv, viên mãn, thuỷ chung. Trăng vẫn đẹp, quá khứ vẫn toả sáng đầy ắp yêu thương dẫu con người đã lãng quên. Trăng im phăng phắc, một cái lặng lẽ đến đáng sợ. Trăng không hề trách móc con người quá vô tâm như một sự khoan dung, độ lượng, vầng trăng dửng dưng không có một tiếng động nhưng lương tâm con người lại đang bộn bề trăm mối. Ánh trăng hay cũng chính là quan toà lương tâm đang đánh thức một hồn người. Chỉ im lặng thôi vầng trăng đã thức tỉnh, đánh thức con người sau một cơn mê dài đây u tôi. Ánh trăng là cội nguồn quê hương, là nghĩa tình bè bạn, là hiện thân của lòng bao dung trắc ẩn. Trăng vẫn đẹp, quá khứ vẫn còn và con người vẫn còn cơ hội sửa chữa sai lầm.

-Thành công của Nguyễn Duy chính là đã mượn cái giật mình của nhân vật trữ tình trong bài thơ để qua đó rung lên một hồi chuông cảnh tỉnh, nhắc nhở mọi người, nhất là thế hệ của ông, không được phép lãng quên quá khứ, cần sống có trách nhiệm với quá khứ, coi quá khứ là điểm tựa cho hiện tại, lay quá khứ đê soi vào hiện tại. Thủy chung với vầng trăng cũng chính là thủy chung với quá khứ của mồi con người. Đó là tiếng lòng của một người cũng là tiếng lòng của bao người, bởi dù cho lời thơ cuối cùng khép lại thì dư âm cùa nó vẫn còn ngân lên, tạo một sức am ảnh thật lớn đối với người đọc. Đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch, chân thành, ở tính biểu cảm, ở tính hình tượng độc đáo và hàm súc của ngôn ngữ, hình ảnh đi vào lòng người, khắc sâu điều nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta một cách nhẹ nhàng mà thấm thìa.

-Đoạn thơ với thể thơ năm chữ cùng với nhịp thơ trôi chảy, tự nhiên và nhịp nhàng theo lời kể đã thể hiện được tâm trạng suy tư của tác giả. Cùng với phép nhân hóa và so sánh, vầng trăng hiện lên như một con người có tri giác, một người bạn tri âm tri kỉ.

-Dù xã hội ngày càng văn minh, hiện đại nhưng ánh trăng trên trời cao và cả ánh trăng của Nguyễn Duy vẫn thật sự cần thiết với mỗi con người bởi nó là tấm gương sáng nhất giúp chúng ta soi vào để nhận ra những gì trong lành tinh khôi nhất của cuộc đời. Đoạn thơ không chỉ là lời tự nhắc nhờ bản thân của Nguyễn Duy mà còn là thông điệp của tác giả muốn gửi gắm đến mọi người về thái độ sống ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

Nguồn: Vietvanhoctro.com

17 Tác Dụng Của Cà Phê Đen Người Uống Cafe Nên Biết

Bạn Sẽ Thay Đổi Thói Quen Uống Cà Phê Sáng Khi Đọc Bài Này

13 Lợi Ích Của Việc Uống Cà Phê Mỗi Ngày

Những Bài Thơ Tình Buồn Bên Ly Cà Phê Đắng Hay Nhất

Chùm Thơ Tâm Trạng Bên Ly Cà Phê Buồn 1 Mình

Từ Ý Nghĩa Bài Thơ “ánh Trăng” Của Nguyễn Duy, Suy Nghĩ Về Đạo Lí “uống Nước Nhớ Nguồn” Của Dân Tộc

Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Hình Ảnh Vầng Trăng Trong Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Giáo Án Làm Quen Với Tác Phẩm Văn Học

Trung Thu Trăng Sáng Như Gương

Lập Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác Ngữ Văn Lớp 9

Soạn Bài: Viếng Lăng Bác Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9

Từ ý nghĩa bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy, suy nghĩ về đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc

Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thế hệ này từng trải qua bao thử thách, gian khổ, từng chứng kiến bao hy sinh lớn lao của dân tộc trong một thời mưa bom bão đạn, từng sống chết gắn bó cùng thiên nhiên, cùng đồng đội tình nghĩa. Rồi khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống hòa bình luôn mang lại cho con người cảm giác thoải mái, yên bình, nhưng cũng thay đổi nhiều thói quen, cách sống mà không phải ai cũng ghi nhớ những gian nan, những nghĩa tình của thời đã qua. Bài thơ Ánh trăng là một lời tâm sự chân thành, là một lời nhắc nhở về ý nghĩa cuộc sống, là một lần “giật mình” trước cái điều vô tình ấy.

Ánh trăng luôn là nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Chúng ta có một “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” trong Thu ẩm – Nguyễn Khuyến, có một “bến sông trăng” lãng mạn của Hàn Mặc Tử, có một vầng trăng tri kỉ của thi nhân:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ(Hồ Chí Minh)

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

Nhưng với Nguyễn Duy, ánh trăng mang một hàm nghĩa mới. Đó là hình ảnh của quá khứ, là nhân dân, là người lính, là lý tưởng chiến đấu… Bài thơ gây ấn tượng bởi lối sáng tạo đặc biệt. Chữ đầu mỗi câu thơ không viết hoa. Phải chăng nhà thơ muốn cảm xúc được dạt dào trôi theo dòng chảy của kỉ niệm?

“Việc quân, việc nước bàn xong(Đối nguyệt)

(Đồng chí – Chính Hữu)

Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm”

Ánh trăng trước hết là tiếng lòng, là suy ngẫm của riêng Nguyễn Duy nên nó mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian. Dòng cảm nghĩ trữ tình của nhà thơ cũng men theo dòng tự sự này mà bộc lộ. Ở quãng thời gian quá khứ đã có một biến đổi, một sự thực đáng chú ý: hồi nhỏ rồi thời chiến tranh sống hồn nhiên, gần gũi với thiên nhiên đến tưởng không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa. Ấy thế mà từ hồi về thành phố, quen sống với những tiện nghi hiện đại, vầng trăng tình nghĩa như người dưng qua đường nhưng sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ để tác phẩm.

Mở đầu bài thơ là câu chuyện xảy ra trong quá khứ – lúc người lính còn nhỏ và hồi chiến tranh ở rừng:

Chỉ với bốn câu thơ ngắn của khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã tái hiện lại những khoảnh khắc đáng nhớ trong cuộc đời người lính. Trong kỷ niệm, trong câu chuyện có đồng, sông, bể, rừng nghĩa là có tất cả những không gian sự vật quen thuộc của đất nước, có mọi thứ của thiên nhiên có thể gắn bó với con người, che chở cho con người, nuôi sống con người. Chữ “hồi” ở câu thứ nhất và câu thứ ba làm cho khổ thơ như có một chỗ dừng chân giữa ranh giới giữa tuổi thơ và lúc trưởng thành, và người chỉ đường dẫn lối chính là ánh trăng. Không phải là vầng trăng bình thường mà là “vầng trăng thành tri kỉ”. “Tri kỉ” nghĩa là vầng trăng và người trở thành đôi bạn tri âm tri kỉ, biết bạn, hiểu bạn như hiểu mình. Hình ảnh đôi bạn tâm giao trăng – người chiến sĩ đã từng xuất hiện rất nhiều trong thơ ca. Đó có thể là hình ảnh người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng trong thơ Bác:

Cũng có thể giữa rừng khuya sương muối, trăng làm bạn với người chiến sĩ đứng chờ giặc tới:

Vầng trăng tri kỷ cũng là vầng trăng bạn bè, thủy chung cùng nhau chia sẻ tâm sự. Không gian bài thơ rộng mở như trải rộng mênh mông “đồng – sông – biển – rừng” theo những thước phim của ký ức “hồi nhỏ – hồi chiến tranh” nhẹ nhàng sâu lắng để khơi gợi những kỷ niệm dạt dào in dấu ấn sâu đậm thành nỡi nhớ. Đến khổ thơ thứ hai là một lời giải vì sao trong quá khứ, trăng và người là tri âm tri kỉ. Bởi vì lúc đó, con người sống hòa mình với thiên nhiên, gắn bó gần gũi với thiên nhiên, hồn nhiên như cành cây ngọn cỏ…

Những từ “trần trụi”, “hồn nhiên” thật dung dị, gần gũi như tâm hồn của người lính Chính bởi vậy người lính đã có lúc “ngỡ không bao giờ quên – cái vầng trăng tình nghĩa”. Từ vầng trăng tri kỷ giờ đây nó trở thành vầng trăng tình nghĩa. Tuy nhiên, từ “ngỡ” đặt ở đầu câu thứ ba giúp người đọc dự cảm về một điều chẳng lành sẽ xảy ra. Bởi vì “ngỡ” là nghĩ vậy thôi, một lúc nào đó con người sẽ lãng quên.

Quy luật vận động không ngừng nghỉ, sự đời vẫn có những éo le, những điều xảy ra mà người ta không thể nghĩ trước được. Thoắt một cái, mọi sự việc đều đã thay đổi:

Mọi sự bất đầu chỉ vì mấy tiếng thật đơn giản “Từ hồi về thành phố”. Lại một lần nữa ta bắt gặp từ “hồi”. Hồi ở đây vừa chỉ thời gian (quãng thời gian khi về thành phố) vừa chỉ sự trở về. Về thành phố là về với cuộc sống hiện đại với đầy đủ tiện nghi, là về với cuộc sống hòa bình không bom rơi đạn lạc. Không gian cũng có sự thay đổi. Nếu như hai khổ đầu mở ra một không gian khoáng đạt, mênh mông, tràn ngập thiên nhiên với đồng ruộng, núi rừng. Giữa không gian bao la ấy, trăng và người hồn nhiên, vô tư bầu bạn quấn quít, dễ nhìn thấy nhau và cũng dễ tìm thấy nhau. Nhưng ở đây khi về với thành phố, không gian sống bỗng như bị bó hẹp lại: đâu thấy rừng thấy biển, đâu thấy đồng thấy sông, mà vây quanh người ta là đường phố, nhà cửa san sát, là ánh điện cửa gương, là những tòa nhà cao tầng, những cái ngõ chật hẹp, là căn phòng buyn-đinh ngột ngạt… Con người như bị nhốt lại, bị bó hẹp trong những cái hộp khổng lồ…

Sống trong không gian bé nhỏ ấy, con người không còn “trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ”. Người ta cũng chẳng nhớ đến trăng, chẳng cần trăng. Bởi đêm nào thành phố chẳng rực rỡ ánh đèn. Bởi vậy mà “vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”. Giọng điệu thơ có gì đó hờ hững, có gì đó lạnh lùng. Hình như tình cảm “tri kỷ – nghĩa tình” đã bị đẩy vào góc xa thẳm của ký ức, con người đã vội quên đi để hòa nhập trong nhịp điệu cuộc sống mới nơi thành thị. Hình ảnh so sánh là một sự đối lập với tình cảm chân thành của một thời quá khứ “ngỡ không bao giờ quên”.

Nếu hồi nhỏ, hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ, vầng trăng là tình nghĩa thì giờ đây nó chỉ là người dưng qua đường. Quan hệ giữa người và trăng đã hoàn toàn thay đổi. Có gì đó phũ phàng, có gì đó nghẹn đắng. Bây giờ giữa vầng trăng và người hoàn toàn xa lạ với nhau, hầu như không quen biết gì nhau. Lời thơ pha chút mỉa mai nhưng chân thành. Câu thơ của Nguyễn Duy chẳng khuyên gì ai, chẳng trách gì ai nhưng hình như đằng sau là hồi chuông, là vị đắng đọng lại trong lòng người về một hiện thực xã hội, về thái độ vô tình của con người trước quá khứ.

Tuy nhiên như người ta vẫn nói mọi chuyện trong cuộc đời đều không thể lường trước được. Cuộc đời nhiều khi vẫn có những bất thường xảy ra và chuyện bất thường đó đã được nhà thơ kể lại ở khổ thơ tiếp theo:

Hai tiếng “thình lình” mở đầu cho khổ thơ thật đúng lúc. Nhờ có sự thình lình bất thường đó ta mới biết rằng hóa ra cái ánh đèn kia không phải là vĩnh cửu, cái ánh sáng của phòng buyn – đinh kia không là muôn đời. Và hóa ra con người ta cũng có lúc “vội bật tung cửa sổ” để tìm ánh sáng cho mình. Câu thơ này thật có ý nghĩa, bởi đây đâu chỉ là cánh cửa sổ bằng sắt hay bằng gỗ của căn phòng mà đây còn là cánh cửa của tâm hồn, của tình cảm, chính cánh cửa này đang được bật tung. Phải đồng thời bật tung hai cánh cửa số ấy thì mới có được chuyện “đột ngột vầng trăng tròn”. Thực ra đột ngột là dành để chỉ tâm trạng con người chứ không phải trăng chờ người bật tung cửa sổ mới bất ngờ đột ngột xuất hiện. Con người có mở cửa hay không mở cửa thì vầng trăng vẫn cứ chiếu sáng, vẫn luôn tràn đầy như thế. Từ “tròn” ở đây không chỉ là một khái niệm hình học, nó còn là sự tròn đầy trọn vẹn của nghĩa tình.

Chính cái vẻ tròn đầy bất diệt của vầng trăng đã đưa đến cho người lính cảm xúc dâng trào:

“Mặt nhìn mặt”, ấy là mặt người với mặt trăng, nhưng ở đây không phải là cái nhìn “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng / Cúi đầu nhớ cố hương” của Lí Bạch mà là sự đối diện với người tri kỉ, đối diện với chính mình, nhìn lại mặt mình. Một cái nhìn đầy áy náy, xót xa. Nếu như với Lí Bạch, vầng trăng khiến thi sĩ nhớ ” cố hương ” da diết thì ở đây nhờ nhìn thấy vầng trăng, người lính đã trở về chính mình, nhận ra gốc gác, tìm lại được chính mình. Khi nhìn thấy người bạn tri âm tri kỷ ngày nào, người lính bỗng dâng trào một niềm xúc động ngỡ ngàng.

Hai tiếng “rưng rưng” gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm. “rưng rưng” là chưa khóc nhưng nước mắt đang chực trào ra. Nó như cảm xúc mơ hồ của kẻ xa quê lâu ngày đang trên đường trở về làng cũ bỗng thoáng thầy gốc đa đầu làng. Nó như nỗi lòng của đôi bạn thân sau nhiều năm chinh chiến lạc mất tin nhau, nay bỗng gặp nhau đúng trong ngày chiến thắng. Trong phút chốc, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy ở tâm tư nhà thơ bao kỷ niệm của những năm tháng gian lao, bao hình ảnh thiên nhiên đất nước bình dị hiền hậu. Điệp ngữ “như là” có tác dụng nhấn mạnh, biểu hiện cảm xúc đến thật dồn dập. Cùng một lúc, cả quá khứ như hiện về, mọi kỷ niệm như được đánh thức. Kỷ niệm thời ấu thơ chơi đùa trên cánh đồng quê, bơi lội trên dòng sông quê,… kỷ niệm lúc trưởng thành ở rừng cùng đồng đội chia sẻ những niềm vui nỗi buồn, chia sẻ những mất mát đau thương…

Đoạn thơ hay nhất ở chất thơ bộc bạch chân thành, hàm súc và biểu cảm, giàu hình tượng dễ đi vào lòng người. Chính sự lan tỏa của ánh trăng đã gợi lại nhưng gì đã qua, đánh thức tình cảm tốt đẹp trong mỗi con người. Người lính vui sướng vì gặp lại vầng trăng nhưng cũng thấy ăn năn vì thái độ vô tình lãng quên quá khứ.

Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa. Khổ cuối của bài thơ thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm:

Bốn câu thơ chia thành hai cặp có nhiều hình ảnh đối lập nhau. Cặp câu thứ nhất đối lập giữa cái tròn vành vạnh của trăng – nghĩa là cái vẹn nguyên, cái tròn đầy bất diệt với sự vô tình vô cảm của con người. Cặp câu thứ hai đối lập giữa cái “im phăng phắc” của vầng trăng với cái “giật mình” của nhà thơ, của người lính. “Giật mình” vì điều gì? Có lẽ là vì ân hận, giật mình để tự nhắc nhở mình đừng làm kẻ phản bội, đừng làm kẻ vô ơn vô tình. Phải nói hai tiếng giật mình cuối cùng của bài thơ như một tiếng chuông rất khẽ nhưng ngân vang rất xa và đọng lại rất lâu.

Như vậy khổ thơ cuối đúng là khổ thơ tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triệt lí trong âm điệu trầm lắng suy tư của tác phẩm. “Trăng cứ tròn vành vạnh” tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. “Ánh trăng im phăng phắc” chính là người bạn, nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta. Đôi khi im lặng lại chính là sự trừng phạt nặng nề nhất. Cũng qua hình ảnh “tròn vành vạnh” và “im phăng phắc” của vầng trăng, tác giả khẳng định một điều, con người có thể vô tình có thể lãng quên nhưng thiên nhiên quá khứ nghĩa tình thì luôn tròn đầy bất diệt.

Theo chúng tôi

Từ một câu chuyện riêng, bài thơ cất lên lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói lòa của ánh điện cửa gương, với những vật dụng ngày càng hiện đại dường như đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã từng băn khoăn, trăn trở về sự thay đổi của lòng người như thế trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:

Sự thật, người lính sau khi rời vùng “núi đồi” về với “thành thị”, từ biệt “bản làng” về với “phố cao”, “sáng đèn” đã không còn nhớ đến “ánh trăng giữa rừng” nữa. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng nghĩa tình trong quá khứ với vầng trăng xa lạ như người dưng qua đường bây giờ. Là ánh trăng đã khác ánh trăng của ngày xưa, là người bạn, người đồng chí những năm tháng ấy. Ánh trăng vẫn thế vẫn gần gũi thân thương dịu dàng, chỉ có hoàn cảnh sống của con người đã thay đổi khiến họ không nhận ra vẻ đẹp của vầng trăng tri kỉ ngày xưa hay chính họ đã thờ ơ, họ quên đi. Thật xót xa cho vầng trăng tuổi thơ vầng trăng đi bên nhau một thời chinh chiến như tri kỉ, vậy mà khi người ta sống giữa phồn hoa đô thị thì nó lại bị lãng quên.

Ánh trăng không chỉ là chuyện riêng của nhà thơ, chuyện của một người mà có ý nghĩa với cả một thế hệ bởi nó đặt ra vấn đề, thái độ “Uống nước nhớ nguồn” đối với quá khứ, với những người đã khuất và cả đối với chính mình. Trong cuộc sống hiện đại hối hả, con người càng dễ bị cuốn vào vòng xoáy tấp nập của cuộc sống, quay cuồng với danh lợi, tiền tài mà vô tình quên đi những thứ bình dị. Sự lãng quên ấy, sự quay lưng lại với kí ức, với những kỉ niệm là những hành động thật đáng trách, thật đáng lên án. Thiếu tình cảm biết ơn, sống phụ nghĩa quên công, con người trở nên ích kỉ, vô trách nhiệm, những kẻ ấy sẽ bị người đời chê trách, mỉa mai, bị gạt ra ngoài lề xã hội và lương tâm của chính họ sẽ kết tội.

Bài thơ là hồi chuông cảnh tỉnh đối với ai đã đối xử một cách vô ơn bạc nghĩa với những người đã tạo ra thành quả cho mình hưởng thụ. Bài thơ nhắc nhở một lẽ sống tốt đẹp của con người cũng là đạo lí của dân tộc, là lẽ sống tốt đẹp từ bao đời nay cho nên thế hệ đi sau cần kế thừa và phát huy. Bởi là con người thì trước hết phải biết sống có đạo đức nhân nghĩa, thủy chung.

Với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm, bài thơ như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị hiền hậu. Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Đọc bài thơ của Nguyễn Duy hẳn mỗi chúng ta cũng “giật mình” như thế.

Chủ đề và ngữ liệu liên hệ, so sánh trong bài văn nghị luận văn bản lớp 9 – Luyện thi tuyển sinh 10 – Thế Kỉ

Phát Triển Ngôn Ngữ: Thơ: Trăng Sáng

Làm Quen Với Văn Học Thơ Trăng Sáng

Nghị Luận Văn Học: Tràng Giang Của Huy Cận Là Bài Thơ Mang Vẻ Đẹp Vừa Cổ Điển Vừa Hiện Đại. Anh/ Chị Hãy Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Để Làm Sáng Tỏ Nhận Xét Trên

Nghị Luận Văn Học: Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận

Nghị Luận Xã Hội Về Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận

Các Bài Thơ Về Chủ Đề Quê Hương Đất Nước Bắc Hồ

Soạn Bài: Quê Hương – Ngữ Văn 8 Tập 2

Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một ?

“Bài Thơ Quê Hương”, Một Bài Thơ Ít Biết Của Nguyễn Bính – Nguyễn Đình Minh – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Phân Tích Bài Thơ Quê Hương ( Tế Hanh )

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Quê Hương”

1.Thơ: “ về quê”

“ Nghỉ hè bé lại thăm quê

Được đi lên rẫy, được về tắm sông

Thăm bà rồi lại thăm ông

Thả diều câu cá sướng không chi bằng

Đêm về bé ngắm ông trăng

Nghe ông kể chuyện chị Hằng ngày xưa

Bà rang đậu lạc thơm chưa

Mời ông bà, bé say sưa chuyện trò”

( Nguyễn Thắng)

2.Thơ: “ Ảnh Bác”

Nhà em treo ảnh Bác Hồ

Bên trên là một lá cờ

Ngày ngày Bác mỉm miệng cười

Bác nhìn chúng cháu vui chơi trong nhà

Ngoài sân có mấy con gà

Ngoài vườn có mấy quả na chín rồi

Em nghe như Bác dạy lời

Cháu ơi đừng có chơi bời đâu xa

Trồng rau, quét bếp, đuổi gà

Thấy tàu bay Mĩ nhớ ra hầm ngồi

*

Bác lo bao việc trên đời

Ngày ngày Bác vẫn mỉm cười với em…

Trần Đăng Khoa

3.Thơ: “ bác Hồ của em”

Khi em ra đời

Đã không còn Bác

Chỉ còn tiếng hát

Chỉ còn lời ca

Chỉ còn câu chuyện

Chỉ còn bài thơ

Mà em vẫn thấy Bác sao rất gần

Năm điều Bác dạy mãi còn vang ngân

4. Dậy sớm

Ai dậy sớm

Bước ra nhà

Cau ra hoa

Đang chờ đón

Ai dạy sớm

Đi ra đồng

Có vầng đông

Đang chờ đón

Ai dậy sớm

Chạy lên đồi

Cả đất trời

Đang chờ đón

(Võ Quảng)

5.Hồ Sen

Hoa sen đã nở

Rực rỡ đầy hồ

Thoang thoảng gió đưa

Mùi hương thơm ngát

Lá sen xanh mát

Đọng hạt sương đêm

Gió rung êm đềm

Sương long lanh chạy.

(Nhược Thủy)

6. Bác thăm nhà cháu

Hôm nao Bác đấn thăm nhà

Cháu vui vui cả là hoa ngoài vườn

Bác ôm đầu cháu Bác hôn

Bác thương em cháu xúc cơm vụng về

Bác ngồi ngay ở bên hè

Bón cho em cháu những thìa cơm ngon

Nhìn em mắt sáng xoe tròn…

7. BÔNG SEN DÂNG BÁC

Bông sen đầu mùa

Hương thơm đất nước

Cháu dâng lên Bác

Bác Hồ kính yêu

Nhớ lại một chiều,Mừng sinh nhật

BácTrắm con chim hót

Trăm đóa hoa thơm

Chúng cháu là chim

Là hoa quanh Bác

Ôi gương mặt Bác

Hống hào vui tươi

Bác nói Bác cười

Bác hôn từng đứa

Kẹo thơm mùi sữa

Bác trao đầy tay

Bác ơi từng ngày

Cháu vẫn còn thấy

Bàn tay bác vẫy

Mắt hiền nhìn theo.

Sưu Tầm Một Số Bài Thơ Hay Về Chủ Đề “quê Hương

Bài Thơ Viết Thay Một Nỗi Lòng

Sơn La Ký Sự

Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Quê Hương” – Đỗ Trung Quân & Giáp Văn Thạch

Những Bài Thơ Ca Ngợi Miền Quê Việt Nam Rất Đỗi Giản Dị Và Thanh Bình

Bài Thơ, Câu Chuyện Về Chủ Đề ‘tết

Tuyển Tập Thơ, Truyện Chủ Đề “thực Vật

Trong Bài Tiếng Nói Của Văn Nghệ, Nguyễn Đình Thi Có Viết: “một… Đọc…”. Em Có Suy Nghĩ Gì Về Ý Kiến Trên? Từ Đó Hãy Trình Bày Cảm Nhận Về Một Bài Thơ Theo Em Là Hay Trong Chương Trình Ngữ Văn Lớp 8 Hoặc Lớp 9, Phần Văn Học Việt Nam

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Sáng Tháng Năm

Bi Hài Việc Xuất Bản Thơ

Chân Ngắn Sao Phải Xoắn

Thơ : Sao không nhiều Tết hơn

Mẹ ơi mẹ, sao chỉ ba ngày Tết?

Mà không nhiều hơn?

Tết, bố không đi vắng

Cơm quá chừng món ngon

Tết, con mèo cũng sướng

Chỉ khẽ “Meo” thôi là có ăn

Cái đồng hồ trên bàn

Được bố thay pin, reo “Thích! Thích!”

Con là út

Con được nhiều Tết nhất

Ai cũng mừng tuổi, tặng quà

Chẳng cần “Meo” vẫn chật nhà

Quần áo mới, đồ chơi mới…

Mẹ ơi mẹ, ai làm ra Tết vậy?

Sao không nhiều Tết hơn?

Chuyện : Sự tích Hoa Mai Vàng

Ngày xửa… Ngày xưa… Có một cô bé rất giàu lòng yêu thương. Cô yêu bố mẹ mình, chị mình đã đành, cô còn yêu cả bà con quanh xóm, yêu cả ba ông Táo bằng đá núi đêm ngày chịu khói lửa để nấu cơm, hầm ngô, nướng thịt cho mọi người ăn. Một lần, thương ba ông Táo, trời đã nóng lại chịu lửa suốt ngày đêm, cô bé mới lên năm ấy đã lấy một gáo nước to dội luôn lên đầu ba ông. Tro khói bốc lên mù mịt. ông Táo già nhất vụt hiện ra nói:

– Cháu thương ta nhưng chưa hiểu ta. Lửa càng nóng, ta càng vui. Cháu mà dội nước thì có ngày ta bị cảm mất.

Từ đấy, cô bé không dội nước lên đầu ba ông Táo nữa. Nhưng ông Táo già thì thỉnh thoảng lại hiện lên trò chuyện với hai chị em cô bé trong chốc lát. Một hôm thương ông, cô em hỏi:

– Ông thích lửa thôi à? Ông còn thích gì nữa không?

-Có chứ! Năm sắp hết. ông phải về trời! Cháu bắt cho ông con cá chép ông cưỡi về Trời thì ông thích nhất. Cô bé liền rủ chị đi bắt cho bằng được một con cá chép về. Cô bỏ ngay vào bếp lửa rồi nói:

– Ông Táo ơi! Chúng cháu biếu ông con chép này đây!

Con cá chép vụt biến mất. Tối hăm ba Tết, quả nhiên hai chị em thấy ông hiện ra, sau đó cưỡi con cá chép như cưỡi ngựa, bay ra khỏi nhà và bay cao mãi lên trời… Bố cô bé là một người đi săn thú rất tài giỏi. Ông thường chỉ thích đi săn thú dữ. Ông bảo:

– Còn thú ác thì tôi còn đi săn cho kỳ hết!

Ông không muốn truyền nghề cho con mình, vì cả hai đều là gái. Nhưng cô em lại rất thích nghề của cha. Lên năm cô đã xin cha dạy cho mình đủ cả côn, quyền và đao kiếm. Cô tuy bé người nhưng nhanh nhẹn vô cùng, và về sức mạnh của đôi tay cô, người cha cũng phải kinh ngạc. Lên chín, cô đã hăm hở xin theo cha đi săn thú. Người mẹ và người chị lo lắng, nhưng cô bé đã thưa ngay:

– Con không giết được con mồi bằng một nhát như cha thì con đâm ba nhát, năm nhát, mẹ và chị cứ yên tâm.

Nói sao làm vậy, cô bé lần đầu theo cha đi săn đã giết ngay được một con lợn lòi rất hung dữ… Trong vùng bỗng xuất hiện một con quái đầu người mình báo. Bà con ai cũng lo lắng, khiếp sợ. Vì con quái vật chỉ thích ăn thịt người, nhất là thịt trẻ con. Người cha liền dẫn cô gái nhỏ đi tìm quái vật để giết. Người mẹ và chị can ngăn nhưng không được. Người cha bảo:

– Tôi chỉ cho nó đi theo để xem, còn diệt quái ác là việc của tôi, hai mẹ con đừng lo.

Hai cha con đi được mấy ngày thì có tin con quái đã bị người cha giết chết thật. Bữa hai cha con trở về, bà con trong vùng mang rượu, gà vịt đến làm cỗ ăn mừng. Cô gái nhỏ không quên đặt vào bếp lửa một con cá chép và khấn với ông Táo già:

– Chúng cháu xin gửi biếu ông con chép để thỉnh thoảng ông cưỡi đi chơi.

Ông Táo già lại hiện lên cám ơn cô bé và hỏi:

– Cháu thấy con quái có sợ không?

– Cháu chỉ thích được cha cháu cho cháu được cùng đánh với nó, nhưng cha cháu không chịu.

Người cha sau đó bỗng bị ốm nặng. Người mẹ và hai cô gái hết lòng chăm sóc. Bệnh người cha có đỡ, nhưng sức khỏe thì không còn được như trước nữa. Vài năm sau, ở vùng trong xa, bỗng xuất hiện một con quái cũng đầu người nhưng mình trăn. Con quái này có sức khỏe ghê gớm. Nó có thể quấn chết một con bò mộng chỉ trong chớp mắt. Nó lại cũng thích ăn thịt trẻ con và có thể ăn một lúc đến mấy đứa. Bà con vùng đó liền cử người ra mời cha con người đã giết con quái đầu người mình báo vào diệt quái giúp bà con. Người cha nhìn cô gái nhỏ của mình hỏi:

– Liệu con có nhận lời đi giúp bà con không?

Cô gái nhỏ liền đáp:

– Con xin cha mẹ và chị để cho con đi!

Người cha nói:

– Cha sẽ cùng đi với con, nhưng cha chỉ giúp con thôi. Lần này chính con phải lo diệt quái đấy. Người mẹ và chị càng lo lắng gấp bội.

– Ông ơi! Đường từ đây vào đó xa xôi cách trở. Quái thì dữ ác mà con bé thì mới mười bốn tuổi, tôi sợ lắm.

– Cha ơi! Cha và em nhận lời, rủi có chuyện gì thì mẹ và con làm sao sống nổi.

Cô gái nhỏ liền thưa:

– Mẹ và chị à, con tuy còn nhỏ nhưng con có đủ sức để diệt quái. Bà con đã ra nhờ lẽ nào mình lại từ chối. Mẹ và chị cứ yên lòng. Cha và con diệt xong quái sẽ trở về ngay.

Thấy không can ngăn được, người mẹ và chị đành lo chuẩn bị mọi thứ cho hai cha con lên đường. Trước đó người mẹ đã may áo mới cho hai con ăn tết, bây giờ bà liền hỏi cô gái nhỏ:

– Con muốn mẹ nhuộm áo cho con màu gì?

Cô bé nhìn ra ngoài đồi núi, rồi đáp:

– Con rất thích màu vàng!

Người mẹ liền giã nghệ nhuộm cho con một màu vàng thật tươi. Ngày lên đường, cô bé mặc chiếc áo vàng, nhìn càng khỏe, càng đẹp. Cô nói với mẹ và chị:

– Diệt xong con quái lúc về con sẽ mặc áo này cho mẹ và chị nhận ra được con ngay từ xa…

Trước khi đi cô gái cũng không quên khấn chào ông Táo đá núi và hứa:

– Cháu sẽ trở về kể chuyện diệt quái cho ông nghe.

Ông Táo liền hiện ra nói:

– Chúc hai cha con mau trừ được quái. ông sẽ chờ ngày trở về…

Hai cha con đi ròng rã hơn một tháng trời mới vào đến nơi có con quái đầu người mình rắn. Nghỉ ngơi được dăm ba ngày, hai người liền đi tìm quái để diệt. Hai cha con đánh nhau với nó hai ngày liền mà không diệt nổi. Sức của người cha thì cứ yếu dần. Cô bé liền thưa với cha:

– Cha ơi! Ngày mai cha cứ để cho con bám sát nó. Con sẽ đâm một con dao găm chặt đuôi nó vào thân cây này, đâm một con dao cắm chặt mình nó vào thân cây khác. Nó không quăng mình đi được thì ta sẽ lựa thế mà chặt đầu nó đi. Người cha biết cách đánh đó hay nhưng rất nguy hiểm.

Tin vào tài nghệ của con, ông gật đầu:

– Được! Nhưng con phải đề phòng cẩn thận nếu nó dứt được đuôi ra.

– Cha cứ yên tâm.

Ngày hôm sau theo cách đánh ấy, hai cha con quả đã diệt được quái. Nhưng trước khi chết nó đã quẫy mạnh một cái, dứt được cái đuôi ra khỏi mũi dao. Sau đó nó liền cuốn ngay lấy người cô bé. Cô bé vừa chặt được cái đầu con quái thì cũng bị con quái quấn gẫy cả xương mềm nhũn cả người. Thấy con gái yêu của mình chết, người cha buông rơi cả thanh kiếm, chạy đến đỡ lấy xác con. Bà con trong vùng cũng vừa chạy đến. Họ đem xác cô gái về chôn cất rồi lập đền thờ. Nhưng cô gái đâu chịu chết như vậy. Vì cô biết rằng cha mẹ chị mình cùng bà con vùng trong, vùng ngoài đều yêu quý mình, mà cô cũng yêu quý và muốn sống với họ. Cô xin thần Đất giúp cô biến thành một con chim lông vàng rực rỡ, một con chim chưa ai thấy bao giờ rồi bay về quê nhà xin gặp ông Táo đá núi:

– Ông ơi! Cháu bị con quái quấn chết. Nhưng cháu mà chết thì mẹ cháu, chị cháu làm sao sống nổi. Vậy đêm nay hăm ba Tết, ông có về trời ông hãy tâu với trời cho cháu sống lại…

Ông Táo đá núi liền hứa:

– Được, ông sẽ tâu giúp cho cháu…

Con chim lông vàng rực rỡ liền bay xuống chỗ mẹ và chị đang ngồi, kêu lên mấy tiếng rồi bay đi. Cũng vừa lúc đó người mẹ và chị biết tin là cô gái nhỏ đã không còn nữa. Bà mẹ ngã ra chết giấc bên bếp lửa. ông Táo đá núi liền đưa hai bàn tay ấm nóng áp vào trán cho bà tỉnh lại và nói ngay:

– Bà cứ yên tâm. Đêm nay về trời, tôi sẽ xin trời cho cháu sống lại.

Hai mẹ con nghe nói mừng quá liền sụp xuống lạy tạ ơn. Ông Táo đi tối hăm ba thì tối hăm tám ông trở về hạ giới. ông nói với hai mẹ con:

– Trời rất thương cô bé nhưng cháu chết đã quá ngày, xin sống lại quá chậm. Vì vậy trời chỉ có thể cứu cho cháu mỗi năm sống lại được chín ngày.

Hai mẹ con nghe nói vừa buồn nhưng cũng vừa mừng. Thôi cứ được trông thấy con, thấy em trong giây lát cũng đã đỡ khổ rồi. Huống gì lại được thấy đến chín ngày. Bà mẹ liền hỏi:

– Ông ơi! Bao giờ thì cháu sống lại được?

– Tùy hai mẹ con cứ cầu trời sống từ ngày nào, trời sẽ cho ngày ấy.

– Vậy nhờ ông xin cho cháu sống lại ngay đêm nay!

– Đêm nay thì chưa được, sớm nhất là phải từ đêm mai!

– Vâng, ông xin cho cháu sống lại từ đêm mai vậy!

Hai mẹ con suốt đêm hôm ấy cứ thức mãi. Cả ngày hôm sau, hai mẹ con đều chẳng muốn làm gì. Chỉ mong cho trời chóng tối. Chờ mãi rồi trời cũng tối thật. Hai mẹ con hồi hộp đợi, không biết con mình, em mình sẽ sống lại trở về như thế nào. Định khấn gọi ông Táo thì bỗng nghe ngoài cổng có tiếng gọi:

– Mẹ ơi! Chị ơi!

Hai mẹ con vụt chạy ra và thấy đúng là cô gái nhỏ đã trở về. Trong chiếc áo vàng vẫn sáng lên nhìn rất rõ. Ba mẹ con ôm nhau khóc như mưa. Ngày hôm sau người cha cũng từ vùng trong trở về. Dọc đường thương con, thương vợ ông chưa biết sẽ nói gì cho vợ và con ở nhà đỡ khổ. Không ngờ khi về đến nhà đã thấy cô gái nhỏ đang nằm ngủ bên cạnh mẹ và chị. Ông dụi mắt tưởng là con bé nhà ai đến chơi. Khi biết cô gái nhỏ đã được sống lại, trở về ông liền ôm chầm lấy con và cứ để cho nước mắt chảy dài trên má.

Cô gái nhỏ ăn Tết với cha mẹ và chị đúng chín ngày. Trong chín ngày đó, cô gái nhỏ dành làm hết mọi công việc để giúp cha mẹ, giúp chị. Nhưng cả nhà lại không muốn cô gái làm việc gì. Trong chín ngày, họ sống bù cho cả một năm sắp phải xa nhau. Đến đêm thứ chín trời vừa tối, cô bé vừa kịp ôm lấy cha, mẹ và chị để chào ra đi thì người cô bỗng cứ mờ dần như sương khói rồi biến mất. Cả nhà buồn rầu, thương nhớ cô gái nhỏ vô cùng. Nhưng nghĩ đến chuyện Tết năm sau, cô sẽ về, mọi người lại ôn ủi nhau, lại kiên nhẫn chờ đợi…

Và năm sau, cũng vào chiều hai chín Tết, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về ăn Tết với gia đình rồi đến tối mồng Bảy lại ra đi… Năm nào cũng thế. Nghe chuyện lạ, người vùng trong liền cử người ra mời cả gia đình vào sinh sống trong đó để bà con được trả ơn và gặp lại cô gái nhỏ đã giúp bà con diệt được con quái đầu người mình trăn. Thấy sức người cha đã suy yếu, cả nhà bàn với nhau và nhận lời.

Hoa màu vàng tươi như màu áo của cô gái nhỏ ngày trước.

Từ đấy, hàng năm, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về sống chín ngày cuối năm, đầu Xuân với cha mẹ, với bà con vùng trong. Khi cha mẹ và chị đều mất cả, cô gái không về nữa. Cô hóa thành một cây hoa ngay ở ngôi đền bà con đã dựng lên để thờ cô. Cây ấy hầu như cả năm chỉ có lá, nhưng cứ vào khoảng gần Tết, hoa lại nở đầy. Hoa màu vàng tươi như màu áo của cô gái nhỏ ngày trước.

Hoa vui Tết với bà con khoảng chín mười ngày rồi rụng xuống đất, biến mất để năm sau lại trở về. Cây hoa ấy ngày nay ta gọi là cây Mai Vàng. Ngày Tết ở miền Trung và ở Nam Bộ, bà con thường mua một cành mai vàng về cắm trên bàn thờ ông bà. Họ tin rằng, có cành mai vàng vừa đẹp nhà vừa vui Tết lại vừa có thể xua đuổi được hết các loài ma quái trong suốt cả năm.

Sưu tầm

Bài Giảng Luyện Từ Và Câu Nhân Hóa. Ôn Cách Đặt Và Trả Lời Câu Hỏi ” Vì Sao?”_ Nguyễn Hoàng Thanh

Sao La Hầu Có Phải Xấu Nhất? Cách Cúng Giải Hạn Sao La Hầu Tại Nhà

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Thơ Màu Hoa Tím

Vườn Hoa Sao Nhái Vsip Bắc Ninh

Hoa Sao Nhái: Ý Nghĩa Và Bài Thơ Hay Về Loài Hoa Này

Hiểu Về Chủ Đề Hạnh Phúc

Đề Đọc Hiểu Văn Nghị Luận Xã Hội Bàn Về Hạnh Phúc

Đề Thi Thử Kì Thi Thpt Quốc Gia Môn Văn Theo Cấu Trúc Mới, Đề Số 46

Phân Tích Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia

Hạnh Phúc Người Công Giáo

Những Lời Thơ Chúc Đám Cưới Hay Và Ý Nghĩa Nhất Dành Tặng Cô Dâu Chú Rể

Chủ đề hạnh phúc

I. Đoc – Hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi :

“…Một  người hạnh phúc  không  nhất  thiết  phải  là người  có  mọi  thứ  tốt nhất,  mà là người biết tận hưởng và chuyển biến những gì đang xảy đến với mình trong cuộc sống một cách tốt nhất. (1)

Hạnh phúc chỉ đến với những ai biết rơi lệ khi tổn thương, biết đau đớn khi mất mát, biết khao khát và nuôi dưỡng những giấc mơ, biết cố gắng làm lại khi thất bại, bởi vì chỉ có như vậy, mọi người mới biết trân trọng những gì đã và đang đến trong cuộc đời mình.” (2)

(Theo Hạt giống tâm hồn, tập 3, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2013)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích?

Câu 2. Theo tác giả, một người hạnh phúc là người như thế nào ?

Câu 3. Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn (2): “ Hạnh phúc chỉ đến với những ai biết rơi lệ khi tổn thương, biết đau đớn khi mất mát, biết khao khát và nuôi dưỡng những giấc mơ, biết cố gắng làm lại khi thất bại, bởi vì chỉ có như vậy, mọi người mới biết trân trọng những gì đã và đang đến trong cuộc đời mình.”

Câu 4: Trình bày suy nghĩ của bản thân về hạnh phúc đối với mỗi con người được nêu ra trong văn bản ?

* Gợi ý trả lời:

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (0,5)

Câu 2: Theo tác giả, một người hạnh phúc là người: biết tận hưởng và chuyển biến những gì đang xảy đến với mình trong cuộc sống một cách tốt nhất. (0,5)

Câu 3: (1,0)

– Biện pháp: điệp từ, lặp cấu trúc

– Hiệu quả:

+ Nhấn mạnh: ý nghĩa, giá trị của hạnh phúc trong cuộc sống của mỗi con người.

+ Tạo âm hưởng và nhịp điệu riêng cho câu văn.

Câu 4: (1.0)

– Hạnh phúc không tự nhiên đến trong cuộc sống của mỗi con người.

– Hạnh phúc chỉ đến với những ai biết cố gắng và nỗ lực vươn lên trong cuộc sống.

– Biết trân trọng những gì mình đang có.

Đề bài 2:

I. Đoc – Hiểu (3.0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

“ …Trồng cây hạnh phúc cũng giống như trồng một cái cây xanh. Bạn sẽ phải vất vả chăm bón, tỉa tót, tưới tắm lúc nó còn nhỏ, và tận hưởng cái cảm giác sung sướng khi nó lớn lên, đơm hoa kết trái. Còn gì hạnh phúc hơn khi được ngồi dưới bóng mát của cái cây do chính tay mình vun trồng và tận hưởng vị ngọt thơm mát từ hoa trái của nó?

Một cây hạnh phúc có thể lớn mạnh phải cần đến một vùng đất tốt, hay nói cách khác là môi trường sống tốt. Với sự tấn công ngày càng mạnh mẽ của các loài “sâu bọ”, hay đất đai ngày càng trở nên “cằn cỗi”, việc tìm cho cái cây của bạn một môi trường sống xung quanh tốt là một điều hết sức quan trọng. Đó là việc mà bạn phải tự tay bạn làm mới được.

Đôi khi bạn dành quá nhiều thời gian cho cái cây bạn bè, cây công việc, cây mua sắm, cây truyền hình… mà bạn quên mất rằng cái cây hạnh phúc của bạn đang ngày càng khô héo vì thiếu sự chăm sóc. Thường thì chúng ta chẳng để ý cho đến khi sự cố xảy ra hay “khi cây hạnh phúc chợt ngưng lá xôn xao” như Lê Uyên Phương từng viết: Chỉ khi yếu đau chúng ta mới nhận ra rằng những ngày tháng khoẻ mạnh thật đáng quý biết bao, chỉ khi tình đã đi xa ta mới thấy mình cần tình biết bao nhiêu…

Vậy ta phải làm gì để trả lại cho cái cây hạnh phúc sự xanh tươi vốn có của nó? Không khó lắm đâu, hãy làm những việc tốt, hãy làm cho người khác hạnh phúc, hãy sống vị tha… Có rất nhiều người nhầm tưởng rằng hạnh phúc có thể mua được. Họ đâu biết rằng hạnh phúc chính là sự cho đi, là sự hy sinh vì tha nhân, là tình yêu đồng loại… Đó chính là những “gầu nước mát” giúp cho cây hạnh phúc mãi xanh tươi, đơm hoa kết trái và mang lại hoa thơm quả ngọt.”

(Trích “Trồng cây hạnh phúc”- Phạm Thị Hồng Hạnh)

Câu 1: Theo tác giả, ta cần phải làm gì để trả lại cho “cái cây hạnh phúc sự xanh tươi vốn có của nó”?

Câu 2: Vì sao trong văn bản trên, tác giả lại cho rằng “Trồng cây hạnh phúc cũng giống như trồng một cái cây xanh”?

Câu 3: Theo anh (chị) hạnh phúc có thể mua được không? Vì sao?

Câu 4: Anh (chị) sẽ làm gì để trồng cây hạnh phúc cho mình?

* Gợi ý trả lời:

Câu 1: Theo tác giả, để trả lại cho “cái cây hạnh phúc sự xanh tươi vốn có của nó”, ta cần: làm những việc tốt, làm cho người khác hạnh phúc, sống vị tha…

Câu 2: Tác giả cho rằng “Trồng cây hạnh phúc cũng giống như trồng một cái cây xanh” vì: Bạn sẽ phải vất vả chăm bón, tỉa tót, tưới tắm lúc nó còn nhỏ, và tận hưởng cái cảm giác sung sướng khi nó lớn lên, đơm hoa kết trái.

Câu 3: HS có thể trả lời với những cách khác nhau nhưng cần nêu được hạnh phúc cần được vun trồng, chăm sóc.

Câu 1: HS trình bày quan niệm của riêng mình, có thể có những ý sau:

– Sống biết yêu thương, đồng cảm, chia sẻ, quan tâm đến người khác.

– Biết cho biết nhận, vị tha, khoan dung, nhân hậu.

– Biết trân trọng, giữ gìn những gì đang có…

Đề bài 2:

I. Đoc – Hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

(1) Có thể lâu nay chúng ta vẫn nghĩ về từ “hạnh phúc” như một từ sáo rỗng, bởi không thể xác định được một cách cụ thể nó bao hàm điều gì. Là thành đạt, giàu có? Là được tôn vinh? Là được hưởng thụ bất kỳ điều gì ta muốn? Là chia sẻ và được chia sẻ? Là đem đến niềm vui cho người khác? Hay chính là sự hài lòng của riêng bản thân mình?

(2) Có thể, chúng ta vẫn nghĩ hạnh phúc là vấn đề “riêng tư” và “cá nhân”. Nhưng không phải vậy. Nếu bạn lo buồn hay gặp bất trắc thì ít nhất, thầy cô, cha mẹ, bạn bè đều cảm thấy xót xa, lo lắng cho bạn. Còn nếu bạn vui tươi, hạnh phúc thì ít nhất cũng làm cho chừng đó người cảm thấy yên lòng, lạc quan và vui vẻ khi nghĩ về bạn.

(3) Mỗi con người là một mắt xích, dù rất nhỏ nhưng đều gắn kết và ảnh hưởng nhất định đến người khác. Và người khác ấy lại có ảnh hưởng đến những người khác nữa. Tôi thích nghĩ về mối quan hệ giữa con người với nhau trong cuộc đời như mạng tinh thể kim cương. Mỗi người là một nguyên tử cacbon trong cấu trúc đó, có vai trò như nhau và ảnh hưởng lẫn nhau trong một mối liên kết chặt chẽ. Một nguyên tử bị tổn thương sẽ ảnh hưởng đến bốn nguyên tử khác, và cứ thế mà nhân rộng ra. Chúng ta cũng có thể vô tình tác động đến cuộc đời một người hoàn toàn xa lạ theo kiểu như vậy.

(Trích Đơn giản chỉ là hạnh phúc, Sách Nếu biết trăm năm là hữu hạn…, Phạm Lữ Ân, NXB Hội Nhà văn, 2022, trang 40-41)

Câu 1. Xác định các thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn văn (3) (0,5 điểm)

Câu 2. Vấn đề chính được trình bày trong đoạn trích trên là gì?(0,5 điểm)

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn (1) (1.0 điểm)

Câu 4. Thông điệp nào trong đoạn trích trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? Vì sao? (1,0 điểm)

* Gợi ý trả lời:

Câu 2: Vấn đề được trình bày trong đoạn trích: hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân, riêng tư mà còn ảnh hưởng, tác động đến nhiều người khác, từ cha mẹ, thầy cô, bạn bè tới cả những người xa lạ.

Câu 3: Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn (1):

+ Câu hỏi tu từ (học sinh chỉ ra 6 câu hỏi tu từ).

+ Lặp cấu trúc cú pháp 6 lần (cấu trúc “ Là” + một tiêu chí – biểu hiện của hạnh phúc)

– Tác dụng:

+ Mỗi câu hỏi nêu ra, khẳng định một điều đem lại hạnh phúc cho con người. Biện pháp lặp cấu trúc: khẳng định có rất nhiều điều khác nhau đem lại hạnh phúc.

+ Qua đó, tác giả khắc họa nỗi băn khoăn trong suy nghĩ của mỗi người và ngầm bày tỏ suy nghĩ của bản thân: quan niệm nào về hạnh phúc được nhắc đến cũng đúng, nhưng tách riêng từng tiêu chí là chưa đủ, mà phải kết hợp hài hòa tất cả mới đem lại hạnh phúc trọn vẹn của mỗi cá nhân và cho mọi người.

Câu 4: Đây là câu hỏi mở, cho phép học sinh tự chọn lựa thông điệp có ý nghĩa nhất đối với bản thân. Câu trả lời của học sinh cần đạt các yêu cầu:

– Thông điệp được gợi ra từ đoạn trích, có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp đối với nhận thức, quan niệm, lối sống của thí sinh nói riêng và mỗi người nói chung.

– Lí giải lí do lựa chọn và ý nghĩa của thông điệp một cách ngắn gọn, thuyết phục.

De Kiem Tra Hoc Ki Ii – Ngu Van 11

Tưởng Nhớ Xuân Quý Thân Yêu: Bài Thơ Về Hạnh Phúc

Hạnh Phúc Khắp Quanh Ta

Hạnh Phúc Là Gì Hả Mẹ?

Bà Già Lưng Còng – Tác Giả Đôi Mắt

Đề Bài: Đọc – Hiểu Về Chủ Đề Vẻ Đẹp Người Lính

Nhân Vật Trong Thơ: Dáng Đứng Việt Nam

Vợ Của Nhà Thơ (Nhà Khoa Học, Nhà Dân Chủ, Nhà Dấn Thân, Nhà Nhà…)

Nguyen Huy Thiep: Tuoi Hai Muoi Yeu Dau

Phân Tích Bài Thơ “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Câu Thơ: Cảm Ơn Đời Mỗi Sớm Mai Thức Dậy/ta Có Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương Của Ai?

Hướng dẫn

Chủ đề vẻ đẹp người lính

Đọc bài thơ và thực hiện các yêu cầu:

Dáng đứng Việt Nam

“Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất

Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy Anh giặc hốt hoảng xin hàng

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công.

Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

Như đôi dép dưới chân Anh dẫm lên bao xác Mỹ

Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để gì lại cho riêng Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.

Tên Anh đã thành tên đất nước

Ơi Anh Giải phóng quân

Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”

(Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính trong bài thơ.

Câu 2. Xác định hình tượng nhân vật trung tâm trong bài thơ.

Câu 3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ “Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng”. Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.

Câu 4. Nêu cảm nghĩ của anh (chị ) về hai câu thơ:

Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

Gợi ý trả lời:

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính trong bài thơ: Biểu cảm.

Câu 2. Hình tượng nhân vật trung: người lính, Anh Giải phóng quân.

Câu 3. – Biện pháp tu từ: so sánh

– Hiệu quả nghệ thuật: Khắc họa vẻ đẹp của người lính uy nghi, lẫm liệt trước lúc đi xa.

Câu 4. Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, miễn là hợp lý, sau đây là gợi ý:

– Bài thơ khép lại bằng hình ảnh “Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất,Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” đã mở ra một chân trời mới tràn ngập niềm lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi đẹp của dân tộc Việt Nam

Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh

Nhân Vật Trong Thơ : Dáng Đứng Việt Nam

Thơ Chọn Lời Bình: Dung Dăng Dung Dẻ

Viết Đoạn Văn Nghị Luận 200 Chữ Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Bài Thơ “Dặn Con” Của Trần Nhuận Minh

Bài Thơ Dặn Con – Chất Chứa Nỗi Lòng Của Bậc Sinh Thành

🌟 Home
🌟 Top