Top #10 ❤️ Bài Thơ Về Quê Hương Đồng Tháp Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Hay Viết Về Quê Hương Đồng Tháp Mới Nhất

1001 Bài Thơ Chế Về Đôi Giày

Hướng Dẫn Đọc Hiểu Bài: Trao Duyên ( Nguyễn Du )

Lập Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ “trao Duyên” Trong Truyện Kiều Lớp 10

Phân Tích Bài Thơ Trao Duyên Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du (Có Dàn Ý Chi Tiết)

Phân Tích Đoạn Trích “trao Duyên” Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du

BÀI THƠ: ĐỒNG THÁP QUÊ TÔI

Tác giả: Ngọc Chi

Tháp Mười lừng lẫy khúc ca

Bông sen đẹp nhất nay là Quốc hoa

Xuôi về Cao Lãnh không xa

Viếng thăm Lăng Mộ chan hòa tình thân

Sông Tiền nước chảy trong ngần

Đến thăm vườn quýt một lần thích ngay

Trái vàng chín mộng trên cây

Ngọt ngào thanh mát, ngất ngây lòng mình

Nha Mân nổi tiếng câu hò

Gái xinh, gái đẹp giỏi lo việc nhà

Bạn ơi hãy đến đi nha

Một lần nhớ mãi, thiết tha tình người.

BÀI THƠ: GÁI QUÊ ĐỒNG THÁP

Tác giả: Ngọc Chi

Hò ơ ơ ơ ơ ơ ơ ơ…..

Ai về Đồng Tháp quê em

Mênh mông đồng ruộng để xem lúa vàng

Ngắm cô thôn nữ dịu dàng

Bên bờ lúa chín rộn ràng niềm vui

BÀI THƠ: DUYÊN DÁNG ĐỒNG THÁP

Tác giả: Hoàng Thanh Tâm

Đồng Tháp bùn ngát hương sen

Cửu Long đẹp nhất đầm sen Tháp Mười

Tình em tình đất tình người

Lai Vung duyên dáng nụ cười của em

Đồng Tháp tuy xa mà gần

Cao Lãnh gà chiến Nha Mân gái hiền.

BÀI THƠ: VỀ THĂM ĐỒNG THÁP

Tác giả: Trang Si

Rừng tràm bạt ngạn mênh mông

Đượm màu xanh thẳm dòng sông dịu hiền

Đến đây sẽ xóa ưu phiền

Ngỡ như đưa bạn về miền bồng lai

Gió đâu về thổi phất phây

Làm cho điệu nhạc ngất ngây dâng trào

Dù là ở tận nơi nào

Sài Gòn, Hà Nội cũng vào quê tôi

Mặc cho đường đến xa xôi

Bao người cũng quyết vào coi thế nào

Nơi đây Đồng Tháp nhượm màu

Tình quê ấm áp ngọt ngào làm sao

Bạn rằng đang ở nơi nao

Nhanh chân ghé đến với bao tuyệt vời..!

BÀI THƠ: ĐẤT SEN HỒNG

Tác giả: Yến Vân

BÀI THƠ: THÁP MƯỜI THƯƠNG NHỚ

Tác giả: Sông Mường

Trái tim lụy theo em vùng kì dị

Rực bầu trời thi vị một màu sen

Lạc hướng bay đàn chim trắng lả chen

Ôi lạc lỏng chiều song hành ao ước

BÀI THƠ: ĐỒNG THÁP EM TÌM ANH

Tác giả: Lê Ngọc Như Ý

Bao nhiêu mệt mỏi tan nhanh

Cùng anh đi ngắm đồng xanh bạt ngàn

Đôi ta hạnh phúc ngập tràn

Chuyến đi ý nghĩa của nàng thành công.

Theo chúng tôi

Những Bài Thơ Hay & Vui Viết Về Ma Quỷ, Gặp Ma

Bài Văn Khấn Cầu Duyên Đầy Đủ Nhất Giúp Tình Duyên Như Ý

Lời Bài Hát Đôi Ta Có Duyên Không Nợ

Tải Bài Hát Có Duyên Không Nợ

Duyên Cạn Rồi, Sao Còn Cố Chấp Yêu Nhau ?

Quê Hương Hoa Sen Đồng

Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du

Cái Hay Cái Đẹp Trong Bài Thơ Duyên Của Xuân Diệu

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “Dòng Sông Mặc Áo ” Của Nguyễn Trọng Tạo

Bài Thơ Em Yêu Nhà Em (Đoàn Thị Lam Luyến) – “Chẳng Đâu Bằng Chính Nhà Em”

Phân Tích Bài Thơ Em Yêu Nhà Em

Tháp-Mười duyên thắng tuyệt vời

Đầm lầy muỗi đỉa, lưng trời hạc bay

Hoa Sen nào của riêng ai

!

Từ lâu, đất phương Nam từng được coi như là trung tâm của bồ lúa gạo của nước nhà, và cây trái quanh năm bốn mùa tiếp tục nở hoa tươi tốt, đó là do nhờ có những cánh đồng nông nghiệp mênh mông, vườn tược ngút ngàn, thủy lộ sông rạch giao thông thuận tiện. Tuy nhiên, về cảnh sắc ở từng địa phương thì lại cũng đã có những nét đan thanh chấm phá ngoại lệ đa dạng khác nhau. Và một trong những vùng địa lý có mang tính khác lạ hơn nơi nào hết, thì đó chính là vùng văn hóa đặc trưng miệt đầm lầy Đồng-Tháp-Mười ở lãnh thổ biên giới miền Tây Nam-bộ.Nói cách khác, ngày nay cái tên Đồng-Tháp-Mười là một địa danh không còn xa lạ gì đối với hầu hết nhân dân trong nước, mặc dù có người cả đời chưa bao giờ có dịp lãng du đến tận nơi nầy. Dẫu sao, qua các phương tiện truyền thông hiện đại thì người ta cũng từng đã biết rất nhiều về lịch sử của địa phương ở nơi đây nổi tiếng nhất là có nhiều hoa Sen, một loài hoa bình dị tầm thường nhưng lại có mang nhiều ý nghĩa thanh khiết nhất trong các muôn loài hoa dân dã.Vùng đồng lầy Đồng-Tháp-Mười là một khu lòng chảo ngập nước quanh năm có địa hình trũng sâu, về địa thế thì nằm ở đầu nguồn của sông Tiền chảy ngang qua từ nơi biên giới, và được trải rộng ra trên 3 tỉnh Long-An, Tiền-Giang và Đồng-Tháp. Còn cái tên Đồng-Tháp-Mười, thì người ta được biết tới từ hồi đầu thế kỷ 19 trong quá trình khẩn hoang và lưu trú của cư dân ở vào thời kỳ đó. Ngày trước, dưới thời Nam tiến của người Việt thì Đồng-Tháp-Mười được coi như là một vùng đầm lầy hoang dại, giang sơn của muôn loài thú dữ tung hoành trên rừng, dưới nước, và gây rất nhiều trở ngại khó khăn nhất cho công cuộc phát triển dinh điền, khẩn hoang lập ấp của các triều nhà Nguyễn vào lúc bấy giờ. Ở đây, bùn sình lầy bước chân không đi được, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh bềnh như bánh canh, dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua. Trăn, rắn rết bò dọc, bò ngang lổn ngổn, chuột đồng to béo nhởn nhơ, từng bầy khỉ vượn nhảy nhót hú vang chuyền cành. Tôm, rùa, cá…bơi lội thư thả dưới đồng lầy, lau lách tha hồ đua nhau vươn mọc um tùm trên gò sâu, gò cạn. Chim chóc tập họp thành từng đàn, cất cánh chao liệng trên toàn cả một cánh đồng thiên nhiên, bao la chứa đầy ngập nước. Cùng chen lẩn sống chung trong môi trường động thực vật đó, còn có sự sinh tồn của nhiều loài phiêu lưu thảo và các loài hoa hoang dã hằng ngày khoe sắc, đổi màu theo thời gian từ hằng thế kỷ đã trôi chúng tôi nhiên, ngày nay trước ý chí quyết tâm khắc phục và tinh thần khai phá của con người trong cuộc hành trình đi tìm mảnh đất cắm dùi, để mong đổi thay cuộc sống cho bằng được, thì hầu hết cuộc diện cảnh trí ở nơi đây, giờ nầy đã bị hoàn toàn khác lại.

Quê hương chỉ một, không hai Tháp-Mười*Từ lâu, đất phương Nam từng được coi như là trung tâm của bồ lúa gạo của nước nhà, và cây trái quanh năm bốn mùa tiếp tục nở hoa tươi tốt, đó là do nhờ có những cánh đồng nông nghiệp mênh mông, vườn tược ngút ngàn, thủy lộ sông rạch giao thông thuận tiện. Tuy nhiên, về cảnh sắc ở từng địa phương thì lại cũng đã có những nét đan thanh chấm phá ngoại lệ đa dạng khác nhau. Và một trong những vùng địa lý có mang tính khác lạ hơn nơi nào hết, thì đó chính là vùng văn hóa đặc trưng miệt đầm lầy Đồng-Tháp-Mười ở lãnh thổ biên giới miền Tây Nam-bộ.Nói cách khác, ngày nay cái tên Đồng-Tháp-Mười là một địa danh không còn xa lạ gì đối với hầu hết nhân dân trong nước, mặc dù có người cả đời chưa bao giờ có dịp lãng du đến tận nơi nầy. Dẫu sao, qua các phương tiện truyền thông hiện đại thì người ta cũng từng đã biết rất nhiều về lịch sử của địa phương ở nơi đây nổi tiếng nhất là có nhiều hoa Sen, một loài hoa bình dị tầm thường nhưng lại có mang nhiều ý nghĩa thanh khiết nhất trong các muôn loài hoa dân dã.Vùng đồng lầy Đồng-Tháp-Mười là một khu lòng chảo ngập nước quanh năm có địa hình trũng sâu, về địa thế thì nằm ở đầu nguồn của sông Tiền chảy ngang qua từ nơi biên giới, và được trải rộng ra trên 3 tỉnh Long-An, Tiền-Giang và Đồng-Tháp. Còn cái tên Đồng-Tháp-Mười, thì người ta được biết tới từ hồi đầu thế kỷ 19 trong quá trình khẩn hoang và lưu trú của cư dân ở vào thời kỳ đó. Ngày trước, dưới thời Nam tiến của người Việt thì Đồng-Tháp-Mười được coi như là một vùng đầm lầy hoang dại, giang sơn của muôn loài thú dữ tung hoành trên rừng, dưới nước, và gây rất nhiều trở ngại khó khăn nhất cho công cuộc phát triển dinh điền, khẩn hoang lập ấp của các triều nhà Nguyễn vào lúc bấy giờ. Ở đây, bùn sình lầy bước chân không đi được, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh bềnh như bánh canh, dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua. Trăn, rắn rết bò dọc, bò ngang lổn ngổn, chuột đồng to béo nhởn nhơ, từng bầy khỉ vượn nhảy nhót hú vang chuyền cành. Tôm, rùa, cá…bơi lội thư thả dưới đồng lầy, lau lách tha hồ đua nhau vươn mọc um tùm trên gò sâu, gò cạn. Chim chóc tập họp thành từng đàn, cất cánh chao liệng trên toàn cả một cánh đồng thiên nhiên, bao la chứa đầy ngập nước. Cùng chen lẩn sống chung trong môi trường động thực vật đó, còn có sự sinh tồn của nhiều loài phiêu lưu thảo và các loài hoa hoang dã hằng ngày khoe sắc, đổi màu theo thời gian từ hằng thế kỷ đã trôi chúng tôi nhiên, ngày nay trước ý chí quyết tâm khắc phục và tinh thần khai phá của con người trong cuộc hành trình đi tìm mảnh đất cắm dùi, để mong đổi thay cuộc sống cho bằng được, thì hầu hết cuộc diện cảnh trí ở nơi đây, giờ nầy đã bị hoàn toàn khác lại.

Đồng-Tháp-Mười ngày nay

Các hình thức cấu trúc cơ sở hạ tầng, từ đường sá, cầu kỳ, chợ búa, công trình phúc lợi cho đến nhà cửa, tụ điểm văn hóa, tâm linh, ruộng đồng, vườn tược, đầm sen…nói chung là làng mạc, phố phường. Từ lâu, nó từng đã được lớp người tiền phong dồn hết mọi nỗ lực để đầu tư trí tuệ. Cũng như, cùng với mồ hôi từ bàn tay lao động khổ nhọc không ngừng nghỉ của con người địa phương trải qua bao thế hệ tiếp nối thay nhau dựng xây thành hình, thì nay đã đâu ra đó. Đó, cũng chính là hình ảnh của những ấp, xã, huyện, thành phố từ bao năm qua từng đã được quy hoạch, chỉnh trang, phát triển mở mang kiến thiết không ngừng. Và ngày nay, theo cuộc cải tổ về hành chính sau cùng vào ngày 14-10-2013, thì tỉnh Đồng-Tháp gồm có 2 thành phố là Cao-Lãnh và Sa-Đéc, 1 thị xã Hồng-Ngự. Và 9 huyện là: Châu-Thành, Cao-Lãnh, Hồng-Ngự, Lấp-Vò, Lai-Vung, Tam-Nông, Tân-Hồng, Thanh-Bình và Tháp-Mười. Thành phố Cao- Lãnh chính thức được chọn làm tỉnh lị cho tỉnh Đồng-Tháp thay thế cho thành phố Sa-Đéc kể từ năm 2007, và nay được coi như là điểm tựa và cơ sở hạ tầng cho sự phát triển kinh tế đặc khu vùng Đồng-Tháp-Mười.

Với tổng diện tích tự nhiên là 3.238km2, trong đó có tới 2/3 diện tích tự nhiên thuộc khu vực Đồng-Tháp-Mười, điều nầy, là một chứng minh về địa thế cũng như về địa lý của tỉnh Đồng-Tháp được coi như là một vùng văn hóa đặc trưng của miền đầm lầy sông nước phương Nam. Hơn thế nữa, là một tỉnh có đường biên giới giáp ranh với lãnh thổ Campuchia dài khoảng chừng 50km, cho nên ngày xưa thì mọi sự giao lưu, tiếp cận của cư dân ở hai quốc gia thường chủ yếu dùng lộ trình giao thông đường thủy. Còn ngày nay, thì được thuận tiện hơn nhiều là nhờ do có 4 của khẩu đường bộ là Thông-Bình, Dinh-Bà, Mỹ-Cân và Thường-Phước, các địa điểm nầy nằm cách khoảng nhau từ huyện Tân-Hồng cho tới huyện Hồng-Ngự. Do vậy, mặc dù có địa lý nằm chung trong vùng đồng bằng sông Cửu-Long** nhưng Đồng-Tháp lại là một trong những tỉnh có nhiều dáng vẻ mang đậm chất thiên nhiên cá biệt nhất ở miền Tây.

Bản đồ tỉnh Đồng-ThápChính vì vậy, mà thời gian qua trong định hướng phát triển về kinh tế, xã hội mới bây giờ thì người dân Đồng-Tháp đã tìm thấy được đâu là thế mạnh của quê hương mình. Và cũng không trễ hẹn, để sẵn sàng tiếp lửa cho những công trình thực hiện các dự án đầu tư mở mang kinh tế về ngành du lịch ở ngay tại địa phương nhà. Thực ra, tiềm năng khai thác phát triển du lịch ở Đồng-Tháp có đầy triển vọng thu hút khách du lịch sinh thái đến từ khắp bốn phương. Tuy nhiên, có thể vì còn có những lý do bị hạn chế trong hoàn cảnh thực tế. Cho nên, sự quảng bá duyên dáng Đồng-Tháp chưa được thể hiện ra cho hết đúng với ý nghĩa giá trị du lịch sinh thái. Và văn hóa cộng đồng của nó, là một thắng cảnh địa phương nên thơ trữ tình, hồn nhiên dân dã miệt đầm lầy, vô cùng thích hợp cho những con người từ lâu có ý muốn tìm đến để tham quan, khám phá.

Vả lại, từ lâu hình như người ta cũng đã từng được nghe biết về câu ca dao nổi tiếng “Tháp-Mười đẹp nhất bông Sen”. Điều nầy, thật không quá đáng chút nào! Thực vậy, trong quá khứ cũng như hiện tại Đồng-Tháp-Mười lúc nào cũng vẫn thuần khiết như hồn sen do nhờ có cảnh quan bao la thiên nhiên, tự bao đời thủy chung hòa quyện hình ảnh của những đầm sen rực nở vào trong cuộc sống của tình người dân dã. Hơn thế nữa, nói cách khác thì từ lâu Đồng-Tháp-Mười cũng đã từng tự hào được mệnh danh chính là quê hương hoa sen, mà hoa Sen thì lại còn là một biểu tượng thanh cao về ý nghĩa tâm linh trong tín ngưỡng của con người. Vì thế, trong tương lai Đồng-Tháp-Mười sẽ có nhiều triển vọng để trở thành một điểm hẹn làm quen cho những thành phần du khách có vốn tâm hồn bình dị, thích trở về gần gũi với phong cảnh đồng quê, miệt vườn.

Thuyền đưa du khách tham quan

Trong tỉnh Đồng-Tháp, huyện Tháp-Mười là nơi nổi tiếng có rất nhiều đầm sen rộng lớn nhất trong cả nước, từ đầm nọ sang tiếp đầm kia, và chủ yếu được được tập trung tại xã Mỹ-Hòa cạnh khu di tích Gò-Tháp. Ở đây, vào mùa sen mãn khai nở rộ lên đồng loạt, hoa sen rực đỏ hồng, nhụy vàng lấm tấm khoe sắc, khoe màu, hương sen lan tỏa ra ngào ngạt khắp cả một vùng đầm lầy sông nước. Nhờ vậy, dù cho có nắng gắt tới đâu thì người ta cũng đều có cảm tưởng như là trời không có nóng, vì thế cho nên bao giờ họ cũng thấy tâm hồn dễ chịu, thoải mái, bình an. Còn toàn khu lòng chảo Đồng-Tháp-Mười thì lại là một vùng đất trũng mênh mông, rộng khoảng 700.000ha. Trong mùa nước nổi, thì nước sông Cửu-Long dâng cao tràn vào Biển-Hồ (Campuchia), rồi sau đó tiếp tục chảy xuống hạ lưu tràn vào Đồng-Tháp-Mười, khiến cho hai vùng địa lý nầy trở thành nơi chứa nước dự trữ thiên nhiên vô cùng ích lợi cho việc đánh bắt thủy sản và nhu cầu nông nghiệp. Riêng tại VN, mỗi khi đến mùa nước nổi (thường bắt đầu từ khoảng rằm tháng 8 ÂL) thì Đồng-Tháp-Mười được dịp khoác lên mình một hình ảnh xinh tươi mới, để hoà quyện sắc màu cảnh vật thiên nhiên bạt ngàn những rừng tràm, đồng lúa, đầm sen…Và thời gian đó cũng là lúc thích hợp nhất, để cho người dân đi săn chuột đồng, đặt lờ, giăng lưới, cắm câu.

Thời còn chiến tranh Đông-Dương, thì toàn vùng Đồng-Tháp-Mười có cái tên là Plaine des Joncs (Đồng Cỏ Lác), trong đó có một hình ảnh chốn hoang sơ rùng rợn khác được người dân gọi là Bưng-Sấu-Hì, là nơi có rất nhiều cá sấu từng gieo tại họa cho người dân vào lúc bấy giờ. Còn bây giờ, thì cánh đồng cỏ ma, và cánh đồng lúa ma lớn lao nhất vùng ĐBSCL còn sót lại hiện chính là một cảnh quan bao la khác lạ, hiếm hoi tìm thấy trong bất cứ nơi nào khác ở đất phương Nam.

Và dáng đứng của quê hương hoa sen khi xưa tuy từng được gọi là một địa danh cá biệt nổi tiếng ở miền Tây, nhưng trong thực tế vào lúc bấy giờ thì lại có rất ít người dân ở đất phương Nam lưu tâm về một vùng địa lý sâu xa, có đường giao thông trắc trở nầy.

Cho dù là:

Tháp-Mười duyên thắng tuyệt vời

Đầm lầy muỗi đỉa, lưng trời hạc bay

Hoa Sen nào của riêng ai!

Quê hương chỉ một, không hai Tháp-Mười*

Cảnh quan thanh bình ở Đồng-Tháp-Mười

Đầm sen ở Tháp-Mười

Giờ đây thì khác, cái tên Đồng-Tháp-Mười đã trở hành thân quen nghe qua rất êm tai. Nó có vẻ bình dị, mộc mạc, và gần gũi trong tâm hồn chơn chất của người dân tuy họ cũng không rõ xuất xứ chính xác từ thời gian nào, cho dù từ lâu cũng đã có nhiều giả thuyết nói về địa danh đó. Tuy nhiên, trong quá nhiều giả thuyết được đưa ra, thì có thể giả thuyết cho rằng Tháp-Mười là một cái tháp bằng đá có vị trí đứng hàng thứ 10 được xây cất lên dưới triều vua Chân-Lạp Jayavarman VII (1181-1218) là hợp lý. Sự kiện nầy cũng đã được nhà khảo cổ Henri Parmentier và Jean-Yves Claeys (người Pháp) phát hiện vào năm 1932, khi ông tìm thấy ở khu vực Tháp-Mười có một cái tháp đứng hàng thứ mười trên bia có ghi bằng tiếng Phạn (Sanskrit) là ngôi tháp thứ mười. Tuy nhiên, một giả thuyết khác cho đó là cái tháp canh có 10 tầng, hoặc tháp canh thứ mười (bắt đầu từ khu vực Ba-Sao đến Gò-Tháp) của nghĩa quân Thiên-Hộ-Dương cất lên để canh chừng giặc Pháp thì có lẽ là hợp lý nhất.

Ở đất miền Tây, ai cũng biết đến Thiên-Hộ-Dương là một vị lãnh tụ lừng danh của phong trào khởi nghĩa chống giặc xâm lăng Pháp. Ông tên thật là Võ-Duy-Dương (1827-1866), sinh quán tại Bình-Định. Lớn lên vào Nam lập nghiệp, và sau đó gia nhập vào phong trào kháng chiến dân tộc giải phóng nô lệ ngoại bang, và ông được vua Tự-Đức phong cho chức Thiên-Hộ. Phó tướng của ông là Đốc-Binh-Kiều, tên thật là Nguyễn-Tấn-Kiều sinh ở miền Trung và khi lớn lên thì cũng vào Nam lập nghiệp. Cả hai ông đều là những người lãnh đạo đoàn nghĩa quân kháng chiến chống giặc Pháp ở tại địa bàn vùng Đồng-Tháp-Mười, sau khi đồn Kỳ-Hòa ở Gia-Định bị thất thủ. Vào lúc bấy giờ thì địa thế, địa hình Đồng-Tháp-Mười có đầy muỗi mòng, đỉa, rắn…được coi như là một vùng đầm lầy vô cùng hiểm trở vào bậc nhất ở miền Nam. Vì thế cho nên, các ông đã tận dụng ưu thế cứ địa dể áp dụng chiến thuật du kích làm cho tiêu hao lần mòn sức mạnh của quân thù. Trong bối cảnh lịch sử thành lập chiến khu đó, cho nên mọi công sự như dùng tháp canh dùng để canh chừng bóng dáng quân giặc là không thể không có.

Và suốt trong thời kỳ gian khổ chống giặc, nghĩa quân dưới sự chỉ huy của hai ông đã kiên trì quyết tâm cố thủ cứ địa Đồng-Tháp-Mười, biến nơi đây trở thành một chiến khu huyền thoại, vì đây là ở chốn bưng biền, chớ không phải là vùng địa hình có địa thế núi cao, rừng sâu bí hiểm. Vậy mà lực lượng võ trang quân sự thô sơ của du kích quân vào lúc bấy giờ cũng đã làm cho giặc nhiều phen phải khiếp sợ, và bị tổn thất khá nặng nề.

Đối với người dân Đồng-Tháp, thì ngày nay hình ảnh của hai ông chính là những vị anh hùng liêt sĩ tiêu biểu đã làm nên trang lịch sử vẻ vang, ngàn đời lưu lại tiếng thơm phảng phất, lan lẫn vào quê hương hoa sen mà hầu hết mọi người đều rất mực một lòng kính trọng, và tôn thờ không dứt khói hương. Và sau đây, là một bài thơ cảm động được lưu truyền của người dân đất phương Nam luôn luôn tưởng nhớ đến công đức của nhị vị tiền hiền. .

Vì nước quên mình bởi chữ trung,

Thương dân chi sá chốn sình bùn,

Mấy năm Đồng-Tháp danh vang dội,

Cọp rống ngoài truông, cáo hãi hùng,

Hai thước im lìm nơi thạch động,

Đồng bào tưởng nhớ đứng thờ chung,

Nỗi lòng nghĩ đến nhiều năm trước,

Hương lửa đều không cảnh lạnh lùng.

Tượng Thiên-Hộ-Dương Tượng Đốc-Binh-Kiều

trong Bảo-Tàng Đồng-Tháp (Cao-Lãnh)

Đền thờ Thiên-Hộ-Dương

và Đốc-Binh-Kiều tại huyện Tháp-Mười

Giờ đây, lại nói về quê hương hoa sen thì từ lâu người dân địa phương cũng đã từng có sáng kiến phát triển kinh kế du lịch, cùng với mục đích phát huy tình yêu hoa sen trong văn hóa cộng đồng. Và họ đã tạo ra một khu du lịch sinh thái đầu tiên mang tên là Đồng-Sen ở tại tỉnh nhà, để nhằm đáp ứng nhu cầu cho khách tham quan có dịp tìm hiểu về nét độc đáo của vùng đầm lầy sông nước. Tuy nhiên, ngày nay thì lại có phong trào kinh doanh chạy theo lợi nhuận đã bắt đầu có chiều hướng bột phát đang nở rộ lên ở Đồng-Tháp, và cạnh tranh nhau ráo riết. Cho nên, khu du lịch Đồng-Sen trong thời điểm nầy đã phải tạm ngưng hoạt động để tổ chức lại được hoàn hảo hơn. Dẫu sao, bất cứ lúc nào khách viễn phương vừa mới lạc bước đến nơi đây thì cũng đều có cảm tưởng chung như là mình vừa trút bỏ được một cái thế giới thị thành ô nhiễm, náo nhiệt. Giữa những đầm nước sen hồng, gió thổi quyện mùi hương sen thơm ngát, xa xa thấp thoáng có bóng dáng chim trời bay lượn dưới chân mây làm cho du khách thường không bỏ lỡ cơ hội để lưu lại những kỷ niệm hình ảnh phút giây ấn tượng, lãng mạn và đầy chất thơ.

Khu du lịch Đồng-SenVà thật cũng không phải chẳng có nguyên do mà hình ảnh hoa sen thường được dân gian nói nhiều về sự công dụng hữu hiệu của nó.Trong văn hóa và cốt cách tâm linh, thì hình ảnh sinh tồn của hoa Sen là thể hiện cho tinh thần vô nhiễm (cư trần bất nhiễm trần) của Phật-giáo. Vẻ đẹp thuần khiết và ý nghĩa thanh cao của nó từ ngàn xưa đã bám rễ, ăn sâu vào cá tính nhân văn của người dân Việt. Và nó cũng đã từng gợi nguồn cảm hứng cho biết bao nhiêu là đề tài về văn thơ, hội họa, điêu khắc, kiến trúc v.v cho hầu hết thế nhân không phân biệt biên cương chủng tộc, màu da. Nói cách khác, hình ảnh sinh tồn của hoa Sen chính là điển hình cho một tấm gương trong sáng, để cho người đời nhìn vào cảm nhận được thế nào là biểu tượng cho một cuộc sống phong thái, tao nhã, tự tin với một bản năng tinh thần tinh túy mạnh mẽ lạ kỳ, không hề vẩn đục. Hơn thế nữa, ngoài nét đẹp thanh cao là Vua của loài hoa thuần khiết gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, thì công dụng của toàn cả cây sen cũng đã có công đem lại rất nhiều về mọi sự ích lợi vào trong đời sống thực vật của con người.

Theo khoa Đông-y từ xưa, thì Sen là một loài cây thuốc phổ thông gồm có bát dược tính được phân tích ra như sau: Ngó sen là vị liên ngẫu. Thân sen là vị liên chi. Lá sen là vị liên diệc. Hoa sen là vị liên hoa. Tua sen là vị liên tu. Đài sen là vị liên phòng. Hạt sen là vị liên nhục. Giữa hạt sen là vị liên tâm. Tất cả vị thuốc tên đây đều được bào chế ra từ cây sen dưới mọi hình thức, dùng để trị những chứng bệnh như nào là mất ngủ, dưỡng da, chống lão hóa, giảm cholestérol, giải nhiệt v.v. Còn trong đời sống văn hóa truyền thống dân gian với nếp sinh hoạt cố hữu, thì họ thường dùng hoa sen để chưng bày trang trí cúng lễ, lá sen thì để gói bánh mang lại mùi thơm. Riêng về ẩm thực, thì hột sen, củ sen, ngó sen, tim sen lại là những món ăn bổ dưỡng quen thuộc sau khi được biến chế thành mức, thành chè, thành gỏi hay ướp hương thành trà sen, ăn uống rất thơm ngon.

Trà ướp senHiện nay trên thế giới có rất nhiều chủng loại hoa sen mang màu sắc khác nhau, tuy nhiên, chỉ có vài màu sắc hoa sen thường được người ta nói đến nhiều nhất là sen hồng, đỏ (hồng liên), sen trắng (bạch liên), sen vàng (kim liên), và sen xanh (thanh liên).

Sen hồng (Nelumbo nucifera) xuất hiện nhiều nhất ở châu Á. Sen trắng (Nelumbo lutea) xuất hiện nhiều nhất ở tiểu bang Illinois (Hoa-Kỳ). Sen vàng Mỹ (American Lotus) xuất hiện từ tiểu bang Texas và Florida (Hoa-Kỳ). Sen đỏ (Nymphaea rubra) xuất hiện ở các nước như Afghanistan, Bangladesh, Inde, Indonesie, Myanmar, Népal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Thái-Lan và Nouvelle-Guinée). Và Sen xanh (Nymphaea Caerulea) xuất hiện ở Ai-Cập. Mỗi một loại sắc màu hoa sen đều có mang một ý nghĩa đặc trưng cá biệt, cũng như từng đã tạo ra bao nguồn cảm hứng để cho người đời ghi chép đi vào thế giới hồn thơ nhạc. Và cho dù là loại sen nào đi nữa, thì nó cũng được gắn liền vào hình ảnh trang hoàng sắc hương vào cuộc sống hoàn mỹ của con người.

Sen hồng ở Đồng-Tháp-Mười

Sen trắng

Sen vàng

Sen xanh

Sen đỏ

Đặc biệt nói về lá sen, thì ở tại chùa Phước-Kiển, Nha-Mân, Đồng-Tháp ngày nay lại cũng có trồng một loại cây sen đặc biệt là có màu sắc thay đổi tới bốn màu trong một ngày. Thường thì từ sáng sớm tinh sương hoa màu trắng tuyết, và kéo dài cho tới khi sang quá giờ ngọ thì lại đổi thành màu hồng, về càng xế chiều hoa chuyển thành màu tím, rồi đỏ khi trời vừa tắt nắng. Chu kỳ sinh tồn của hoa rất ngắn, chỉ nở trong đôi ba ngày thì tàn tạ, tuy nhiên, khi cánh hoa nầy tàn thì hoa khác lại bắt đầu mọc lên và hé nở. Loại hoa sen nầy có tên là Victoria Regia (gốc ở quanh vùng sông Amazone Nam-Mỹ). Hình dáng vô cùng đặc biệt của nó là có nhô lên những lá sen khổng lồ, mặt lá tròn, vành cong lên từa tựa như những cái nia đãi lúa hay nón quai thao, bên dưới đầy gai nhọn cứng, đường kính của nó lên tới gần 3m khi vào mùa nước nổi sen hút nước nhiều Và nó có thể chịu đựng, với sức nặng của một người khoảng 60kg đứng lên trên mà không bị gãy. Người địa phương gọi đó là sen Vua, còn cái ao sen đó thì là dấu tích xưa của các hố bom sau thời kỳ chiến tranh còn để lại. Riêng chùa Phước-Kiển ngày nay thì cũng còn được nhiều người quen gọi nhiều hơn, với cái tên là chùa Lá Sen.

Lá sen khỏng lồ

trong khuôn viên chùa Phước-KiểnĐồng-Tháp cách Hồ-Chí-Minh 143km theo quốc lộ chính, vào đến trung tâm tỉnh lị thành phố Cao-Lãnh thì 154km. Tại bến xe miền Tây hiện nay có rất nhiều hãng xe chạy thẳng về Đồng-Tháp theo lộ trình ngang qua vòng xoáy Trung-Lương ở Mỹ-Tho, tiếp tục theo quốc lộ về Vĩnh-Long, rồi một đoạn sau đó rẽ mặt chạy về địa phận Đồng-Tháp. Tình trạng dân số tỉnh Đồng-Tháp theo số liệu thống kê từ năm 2013 thì tổng cộng có được 1.680.300 người, trong đó có khoảng gần 300.000 người sống ở thành thị và số còn lại sống rải rác ở nông thôn. Các sắc dân thì gồm có cư dân Việt, Khmer, Hoa, Chăm, Thái, Mường, Tày và Ngái (một trong 54 sắc tộc có ít người nhất hiện nay ở trong nước) cùng một số ít là người nước ngoài. Là một tỉnh rất nghèo về tài nguyên khoáng sản, Đồng-Tháp chỉ trông cậy vào với tài nguyên nước dồi dào của nguồn sông Cửu-Long, cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt, để phát triển địa phương về nhiều lãnh vực phục vụ đáp ứng nhu cầu nông nghiệp, hoa màu. Ngành kinh tế du lịch địa phương thì đang trên đà khai thác mở mang, nhưng cũng có thể được coi như là hiện còn trong tình trạng phôi thai nếu đem so với nhiều địa phương khác đã đi trước hơn từ lâu. Lý do chính vì các cơ sở hạ tầng ở đây còn yếu kém, chưa phát triển đồng bộ, nhất là về mặt giao thông.

Tuy nhiên, không phải vì thế mà Đồng-Tháp không phải là nơi lựa chọn không thích hợp, để cho những thành phần du khách sành điệu tìm đến tận nơi nầy tận hưởng những thú vị và có cảm giác riêng về sắc thái ở địa phương. Thực vậy, ngoài cảnh quan khác lạ quê hương có 1 không 2 Tháp-Mười, thì các đặc sản ẩm thực hấp dẫn miệt đầm lầy ở đây, chắc chắn cũng có thể đem lại cho thực khách những hương vị đậm đà, khoái khẩu. Như nào là cá lóc nướng trui cuốn lá sen non, rượu sen, hủ tiếu Sa-Đéc, bành xèo, vịt nướng Cao-Lãnh, nem Lai-Vung, gà đập đất, ốc nướng tiêu, lẫu mắm, bánh phồng tôm v.v.. Đặc biệt, là món ăn chuột đồng quay lu, chuột nướng mùi rất thơm ngon nhưng có nhiều du khách thấy sợ không bao giờ dám ăn, vì không quen.

Cá lóc cuốn lá sen non

Chuột quay lu và khô chuột đồng phơi nắngTrong thành phố Cao-Lãnh có ngôi chợ khang trang, có Bảo-Tàng trưng bày các di tích lịch sử, và còn có khu di tích Nguyễn-Sinh-Sắc được khánh thành từ năm 2010. Phó bảng Nguyễn-Sinh-Sắc (1862-1929) nguyên là một nho sĩ yêu nước sinh quán ở miền Trung và có đi làm quan lại vào lúc bấy giờ. Sau khi bị cách chức, ông vào Nam (tại Cao-Lãnh) hành nghề thầy thuốc và sống cuộc đời thanh bạch tại làng Hòa-An cho đến khi qua đời. Đây là một địa điểm hiện nay được các tour du lịch tổ chức đưa du khách đến viếng thăm, thư dãn do nhờ có cảnh quan được trùng tu khang trang, thoáng rộng hơn xưa.

Chợ Cao-Lãnh

Bảo tàng Đồng-Tháp

Khu di tích Nguyễn-Sinh-Sắc

Thành phố thứ nhì của tỉnh Đồng-Tháp là Sa-Đéc. Sa-Đéc nguyên là vùng đất của Thủy-Chân-Lạp, và có tên là Phsar-Dek. Ngày xưa Sa-Đéc từng là tỉnh lị của tỉnh Sa-Đéc, nay tuy không còn giữ vai trò trọng yếu tỉnh lị của tỉnh Đồng-Tháp nữa nhưng bề dày của lịch sử quá khứ hãy còn lưu giữ lại nhiều di tích, và ảnh hưởng xã hội rất nhiều ở tại địa phương. Ở đất phương Nam ngày trước, nếu như người ta thường được nghe nói đến cục đất Mỹ-Tho là nơi “phong hồi thủy tụ” (gió nước hợp hòa) thì Sa-Đéc vào lúc bấy giờ, cũng từng được người ta gọi là vùng “lưu thông quán khái”(sông sâu nước chảy), đất đai phì nhiêu, cỏ hoa tươi tốt, sinh hoạt dân gian diễn ra náo nhiệt hằng ngày. Chợ búa, phố phường in hình trên sóng nước ven sông, hàng hóa bán buôn bày la liệt trên khắp các vỉa hè, đường phố.

Cầu Sa-Đéc ngày xưa

Là một thành phố được thành hình lâu đời do nhờ có địa lý thuận tiện về mặt giao thông, vì thế cho nên nơi đây hiện còn có nhiều chứng tích văn hóa tâm linh chùa chiền cổ, nhất là chùa ông Quách, và các nhà cửa kiểu xưa thời Pháp để lại. Và bây giờ, trên con đường mở mang hiện đại hóa, thì Sa-Đéc cũng có thêm những khu công nghiệp, những trung tâm thương mại lớn, những trung tâm vui chơi giải trí như rạp chiếu phim 3D, quán bar, trò chơi điện tử, công viên thoáng rộng hữu tình.

Chợ Sa-Đéc

Kiến-An-Cung hay chùa ông Quách

là một ngôi chùa cổ nổi tiếng của người Hoa (Phúc-Kiến)Và thông thường, mỗi khi du khách vừa đặt bước chân vào trung tâm thành phố Sa-Đéc, thì hướng dẫn viên du lịch cũng không bao giờ quên giới thiệu về các đặc sản địa phương như bánh phồng tôm Sa-Giang, nem, quýt Lai-Vung, xoài Cao -Lãnh v.v. Đặc biệt, là về món ẩm thực nổi tiếng ở địa phương từ lâu là hủ tiếu Sa-Đéc từ lâu được rất nhiều người từng có dịp thưởng thức.

Tô hủ tiếu Sa-Đéc khổng lồ 

Giỏ hoa tươi lớn nhất VN

Tỉnh Đồng-Tháp xưa nay còn có một nơi nổi tiếng khác lạ nữa, đó là về hình ảnh của làng nghề trồng hoa ở Tân-Quy-Đông. Làng hoa Tân-Quy-Đông là một làng hoa lớn nhất ở trong nước, và từ lâu được coi như là trung tâm hoa giống của tỉnh Sa-Đéc. Tại đây, có tới gần 2.000 gia đình sinh sống chủ yếu vào nghề trồng hoa trong một diện tích canh tác trồng trọt khoảng 250ha. Từ lâu, làng hoa Tân-Quy-Đông cũng là một địa phương nổi tiếng là có trồng trọt rất nhiều loại hoa xinh đẹp, không những cung cấp cho thị trường tiêu thụ ở trong nước, mà còn xuất khẩu sang Cam-Bốt, và Lào. Tại đây, không khí hương thơm ngào ngạt tỏa ra từ các loại hoa mai chiếu thủy, thược dược, lan, cúc, hoa tử-dương (tú cấu), cau bình rượu, hoa dâm bụt, hoa nước ngoài như vạn thọ Pháp, tùng Nhật-Bản, hoa hồng v.v. Đặc biệt, vào những mùa Xuân về, Tết đến khách du Xuân tìm đến làng hoa Sa-Đéc rất đông để xem muôn loài hoa nở ngập tràn hương sắc, và cũng để mua về trang trí, chưng bày ở trong nhà.

Làng hoa Tân-Quy-Đông

Hoa nở rộ vàng ngập cánh đồngTại VN, sau ngày thống nhất nước nhà thì ở trên toàn cõi dải đất phương Nam, nói riêng, chỗ nào cũng không khỏi có ít nhiều di tích của chiến tranh còn để lại. Và nếu ở miền Đông Nam-bộ có khu di tích là địa đạo Củ-Chi, thì ở miền Tây Nam-bộ cũng có khu di tích mương hào Xẻo-Quít. Mương hào Xẻo-Quít là một công trình đào đắp tạo nên một hệ thống đường thủy nhỏ hẹp, nằm lõm trong vùng kênh rạch chằng chịt có địa thế, địa hình trắc trở. Và có tác dụng hữu hiệu dùng để chuyển quân cũng như vũ khí trong rừng tràm Đồng-Tháp-Mười ngày xưa, và nay được đưa vào khai thác du lịch. Tại đây, không khí trong lành, phong cảnh thiên nhiên thanh tịnh, sâu lắng, từng gây nhiều ấn tượng trong tâm hồn du khách khi có dịp viếng thăm, và được ngồi trên những chiếc xuồng lòn lách trôi qua những mương đào dưới rừng tràm xanh thẩm ngút ngàn.

Khu di tích lịch sử Xẻo-Quít

Đồng-Tháp hãy còn nhiều địa điểm du lịch vô cùng lý thú, và nếu khách viễn phương có thì giờ, thì hãy nên lợi dụng cơ hội để tham quan đầy đủ cho thỏa mãn tình yêu quê hương hoa sen hằng mong đợi bấy lâu. Và một trong những di tích xa xưa nhất ở miền Nam, thì đó chính là khu di tích Gò-Tháp.

Nền tháp di tích văn hóa Óc-Eo

Các tượng đá biểu trưng cho nền văn hóa Óc-Eo

Khu di tích Gò-Tháp là một khu vực gồm có nhiều gò nhỏ, thấp nằm trên một vùng đất pha cát ở trong huyện Tháp-Mười, cách thành phố Cao-Lãnh 43km, và là một trong những dấu vết văn minh, văn hóa Óc-Eo của vương quốc Phù Nam còn sót lại ở trên dải đất miền Nam VN. Vào mùa nước nổi, toàn khu di tích ngập tràn đồng nước mênh mông, trên gò cao có nhiều cây cổ thụ hàng trăm tuổi sừng sững vươn mình trên cánh đồng bao la đan xen màu lục loài cây cỏ tạo thành một bức tranh thiên nhiên thơ mộng, hữu tình, khiến cho lòng du khách tự dưng cảm khái yên bình, thư thái.

Gò-Tháp có chiều cao so với mặt đất ruộng chung quanh là 3m80, có một diện tích chừng 4.500m2. Và tuy không có vị trí quan trọng tầm cỡ cho bằng khu di tích Óc-Eo ở Ba-Thê, An-Giang (nơi từng được các nhà nghiên cứu khảo cổ cho rằng có thể đấy từng là một hải cảng sầm uất của vương quốc Phù-Nam từ thế kỷ I cho tới thế kỷ VII), nhưng di tích Gò-Tháp ở đây cũng hãy còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn về lịch sử.

Năm 1944, một nhà khảo cổ học Pháp tên là Louis Malleret là người tiếp tục đã khám phá thêm ra khu di tích Gò-Tháp có những nền gạch được xây cất lên, cùng với hàng chục khối đá lớn có hình thể như cột, yoni…ghép nối kiến trúc giềng quanh. Và cùng với nhiều hiện vật gồm các mảnh vỡ gốm, đá, khuôn đúc, 2 tượng Vishnu…Tuy nhiên, trước đó vào những năm 1869-1878, thì nhà khảo cổ Silvestre cũng đã từng phát hiện ra được một bánh xe bằng đá và những dấu tích phần móng của một ngôi tháp trong khu vực Gò-Tháp. Tiếp theo đó, là nhà khảo cổ Lunet de Lajonquière cũng đã góp phần nghiên cứu giải mã thêm về các bản văn khắc trên bia đá. Hầu hết các di tích kiến trúc ở Gò-Tháp đều được các nhà khảo cổ nghiên cứu cho biết nghệ nhân có tay nghề trình độ cao, xây dựng công phu và khéo léo, biết làm tường thành bao bọc xung quanh vị trí để đề phòng mọi sự xâm thực bào mòn của gió nước. Nhờ vậy mà các hiện vật tìm thấy được sau hằng thế kỷ tuy bị vùi sâu dưới lòng đất như các tượng Siva, Vishnu bằng đá sa thạch, các phiến đá, cột đá có chạm khắc họa tiết hoa văn còn giữ được ít nhiều dấu vết cổ xưa.

Hiện nay, phế tích lịch sử Gò-Tháp gồm có cả hàng ngàn di vật còn sót lại thuộc 3 loại hình di tích quan trọng là di tích cư trú với các di vật như cọc nhà sàn, bếp lửa, mảnh gốm nồi niêu. Di tích mộ táng, với đồ tùy táng chôn theo như đồ gốm, đá quý, mảnh vàng, nhẫn vàng có khắc hoa văn được tìm thấy trong 13 ngôi mộ được khai quật. Và di tích kiến trúc trên các gò cao như Gò Tháp-Mười, Gò Minh-Sư, Chùa Tháp-Linh, và Miếu Bà Chúa Xứ. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu khảo cổ đánh giá, thì hiện nay trong khu di tích Gò-Tháp có hai cổ vật được xem như là quan trọng nhất. Đó là pho tượng Phật bằng gỗ thể hiện ra được những đường nét điêu khắc đơn sơ, tính chất giản dị trong tinh thần sáng tạo phong phú về nghệ thuật của nghệ nhân vào hồi thế kỷ thứ V-VII. Và các bia văn bằng đá mang đậm nét tôn giáo Hindu, hệ phái Vishnu, chính các chứng tích nầy đã giúp cho người ta hiểu được tính cách chủ nhân bản địa của nó từng đã có một thời kỳ văn minh vàng son rực rỡ.

Giếng nước cổ 

Các hiện vật

Bia đá cổ Phù-Nam

Tượng Phật gỗ

Sau năm 1975, các nhà khảo cổ trong nước tiếp tục công trình khai quật và cũng đề ra dự án khoanh vùng bảo vệ 4 khu chức năng chính là khu di tích bảo tồn, bảo tàng, khu rừng sinh thái, khu dịch vụ và khu nuôi thú hoang dã. Do vậy, trong tương lai khu di tích Gò-Tháp sẽ được mở mang phát triển nhiều hơn và sẽ được coi như là trung tâm du lịch của tỉnh Đồng-Tháp. Và mới đây nhất là vào đầu năm 2022, thì Ban Quản-Lý di tích Gò-Tháp cũng đã có cho công bố kết quả thăm dò ở 4 khu vực, với sự phát hiện thêm về kiến trúc Ao thần, Đèn thần Vishnu và nhiều hiện vật cổ khác.

Trở lại với hình ảnh thiên nhiên, du khách trước khi đến với khu Ramsa Tràm Chim thứ 2000 nổi tiếng của VN, thì nên đừng quên ghé tham quan khu du lịch sinh thái Gáo-Giồng (cách thành phố Cao Lãnh 17km) một lần cho biết. Nơi đây, người dân địa phương quanh vùng hằng ngày thường được tín hiệu thiên nhiên báo thức đến hai lần. Lần đầu tiên, là tiếng gà canh khuya gáy sáng. Và lần thứ nhì, là dành cho những người dậy trễ do sự sinh hoạt nhộn nhịp kêu ríu rít của các loài chim, nhất là của đàn cò trắng khi chúng vừa thấy ánh bình minh vừa hé dạng ở chân trời. Tại đây, có nhiều nhất là hàng chục ngàn con cò trắng sinh sống suốt tháng quanh năm như là hình ảnh quen thuộc của xóm làng, và mỗi lần chúng bay lên thì che bóng mặt trời trong giây lát. Khu du lịch Gáo-Giồng đã được thành lập từ năm 2003, và do nhờ bảo quản tốt (có cả đài quan sát cao 18m) cho nên có rất nhiều loài chim nước chọn làm quê hương trú ẩn thường xuyên như điên-điển, le le, trích mồng đỏ, diệc v.v. Nhiều con tỏ ra rất dạn dĩ, không những chúng dám đến săn mồi gần bên du khách, mà còn nhảy múa hoặc cất lên những tiếng gáy nghe buồn man mát nhưng thơ mộng làm sao!

Đàn cò trắng trong khu du lịch sinh thái Gáo-Giồng

Du hành trên xuồng ba láCòn vườn cò Tháp-Mười thì nằm cách thành phố Cao-Lãnh 35km, tuy nhỏ nhưng cũng có nhiều loại cò chọn nơi đây làm tổ. Nhiều nhất ở đây, là loại cò ruồi lông trắng, giò đen, mỏ vàng. Còn lại, là các loại cò sen, cò ma, cò quắm, cò đúm, cò cá, cò xanh, cò ngà và nhỏ nhất là loại cò lép. Và cũng như ở tại Gáo-Giồng, vườn cò Tháp-Mười lúc nào cũng có sự sống của các loại chim khác như bìm bịp, cuốc, bạc má, điên điển, vạc…Thường thì mỗi hừng sáng chúng tung cánh bay đi khắp nơi để kiếm ăn, cho đến lúc chiều chạng vạng tối mới tiếp tục trở về. Và những nơi đi tìm kiếm mồi hằng ngày của chúng, là bất cứ chỗ đồng ruộng ao bèo nào có cá, cua, sò, ếch nhái, ốc, tép, lươn, rắn…thậm chí con diệc nó còn ăn thịt ngay cả các con chim loại nhỏ hơn.

Vườn cò Đồng-Tháp

Con diệc đang ăn thịt con chim nhỏ

Và tiếp theo đây, là điểm hẹn của bạn đã đến. Hiện nay VN có tất là 6 khu Ramsar của thế giới, trong đó gồm có vườn quốc gia Xuân-Thủy (Nam-Định), vườn quốc gia Cát-Tiên (Đồng-Nai), hồ Ba-Bể (Bắc-Kạn), vườn quốc gia Mũi Cà-Mau (Cà-Mau), vườn quốc gia Côn-Đảo (Bà-Rịa&Vũng-Tàu), và đặc biệt nhất là vườn quốc gia Tràm-Chim ở trong tỉnh Đồng-Tháp.

Vườn quốc gia Tràm-Chim có tổng diện tích là 7.313 ha nằm ở hạ lưu sông Cửu-Long, thuộc huyện Tam-Nông. cách th ành phố Cao-Lãnh 37km về hướng Bắc Nơi đây, có tất cả khoảng hơn 130 loài thực vật bậc cao, hơn 231 loài chim nước, hơn 100 loài động vật, và hơn 150 loài cá đã được tìm thấy có sự sinh sống của chúng. Chẳng hạn như nào là lúa trời, cỏ ma, sen, súng, rong tảo, lau sậy, loài chim vịt trời, cò trắng, bồ nông, diệc, cồng cộc, giang sen, loài bò sát rắn, trăn, rùa…Đặc biệt, nhất là loài chim hạc còn được gọi là sếu đầu đỏ (Grus antigone), thuộc loài chim di cư, di trú theo mùa bên cạnh khu bảo tồn động vật hoang dã Anlung-Pring (Campuchia), và hiện nay nó là một loài chim hiếm hoi còn sót lại trên thế giới. Do vậy, cho nên từ lâu Tràm-Chim Đồng-Tháp từng đã được tổ chức “BirdLife Inernational” *** bình chọn xếp vào vùng chim quan trọng (Important Bird Area) ở VN.

Ramsar thế giới Tràm-Chim Đồng-ThápVà người ta cũng còn có thể nói thêm rằng, hệ sinh thái đất ngập nước (Ramsar) của khu vực Tràm-Chim (cạnh Láng-Sen ở địa phận Long-An) là một trong những chứng tích cuối cùng của vùng Đồng-Tháp-Mười từ bao thế kỷ trước, mà giờ đây đã bị thu hẹp do sức tiến của con người. Chính vì lẽ đó, mà từ lâu khách du ngoạn đến đây đã có dịp tìm thấy được những nét đẹp độc đáo không trùng lặp giống như với những cảnh quan nào khác của các vùng miền lân cận. Ngoài ý nghĩa đa dạng về mặt sinh thái, sinh học, nghiên cứu khoa học, văn hóa, và phát triển du lịch, Tràm-Chim còn chính là nơi còn phảng phất về hình ảnh nguyên thủy của vùng đất thiên nhiên, sơ khai của tiền nhân ta khổ công khai khẩn trải qua từ bao thế hệ. Vào mùa nước nổi, thì nước dâng cao lên tràn ngập mênh mông cả cánh đồng Tràm-Chim, hàng ngàn cánh cò xuất hiện chao liệng trên không tạo thành một bức tranh linh hoạt, ngoạn mục vô cùng. Từ trên chòi canh, du khách sẽ có dịp trải nghiệm qua được những phút giây cảm khái tâm hồn đầy kỳ thú trong một chuyến tham quan. Tuy nhiên, còn các loài chim quý thì chúng thường hay bay di chuyển qua lại tự nhiên từ quốc gia nầy sang qua địa phận của các quốc gia khác.

Khu Ramsar Tràm-Chim

Thắng cảnh thiên nhiên tuyệt vời

Cách đây khoảng thập niên, nếu ở Tây-Ninh có một ông Hai Lúa nổi tiếng như cồn vì đã bỏ ra bao năm trời để sáng chế ra được một chiếc trực thăng không đạt mức độ an toàn, thì ngày hôm nay, tại Đồng-Tháp cũng có bốn ông Hai Lúa khác sáng chế ra được chiếc thuyền chạy bằng năng lượng mặt trời.không gây ra tiếng động. Và rất thích hợp, để được dùng vào làm phương tiện đón đưa khách du lịch có nhu cầu muốn được dịp tiếp cận mục kích thỏa mãn về cách sinh hoạt của các loài chim hoang dã ở Tràm-Chim.

Hình ảnh vô cùng ấn tượng về sếu đầu đỏ ở Tràm-ChimTrên chiếc tắc ráng nhẹ nhàng rẽ sóng trên con kinh Mười-Nhẹ sẽ đưa du khách lướt ngang qua những cánh rừng tràm từng dãy tiếp dãy ngút ngàn một màu xanh thẩm để tham quan cánh đồng Tràm-Chim. Và mỗi khi nghe có tiếng động, thì trong cánh rừng có hàng loạt cánh chim vụt bay lên cao theo từng đàn, loại nào theo loại nấy nhưng nhiều nhất là loại cò trắng. Gặp nhằm lúc đúng mùa Xuân, thì du khách sẽ có dịp được ngắm nhìn lý thú hơn trước hình ảnh của những con sếu đầu đỏ (loài chim quý phái đang có nguy cơ tuyệt chủng) có chân dài lông xám chao liệng, nhảy múa tuyệt diệu chẳng khác gì loài chim công, trĩ. Người ta được biết, kể từ khi Tràm Chim (Tam-Nông, Đồng-Tháp) được công nhận là khu Ramsar thứ 2000 trên thế giới, thì dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng” cũng đã được Quỹ Quốc-Tế Bảo-Vệ Thiên-Nhiên (WWF)**** và công ty Coca-Cola phối hợp bảo trợ giữ gìn hữu hiệu một di sản bảo tồn đa dạng sinh học của con người. Chính nhờ vậy mà ngày nay khu Ramsar Tràm-Chim hãy còn giữ được tính hoang sơ với màu sắc thiên nhiên. Cho dù, trong những năm gần đây thì tình hình biến đổi khí hậu trên địa cầu diễn ra hết sức là phức tạp, có ảnh hưởng trực tiếp vào các môi trường tự nhiên của không khí, đất đai và ngay cả các hệ sinh thái cây rừng.

Cảnh thiên nhiên Tràm Chim

Đài vọng cảnh ở Ramsar Tràm Chim

Chim Giang-Sen

Chim Cồng-Cộc

Chim Bồ-Nông

Ngày xưa, Đồng-Tháp-Mười chỉ là một địa danh ở vùng sâu của đất phương Nam. Lúc bấy giờ, đường giao thông không thuận tiện nhưng nhờ vậy mà tính chất hoang dã thiên nhiên sở tại hãy còn giữ lại được rất nhiều từ hình thức cảnh quan đầm lầy, cá nước, chim trời cho đến màu lục nguyên sinh của muôn loài cây cỏ. Còn ngày nay, thì dân đi du lịch phượt bằng xe máy cũng có thể tìm đến đây một cách dễ dàng bằng nhiều lộ trình từ các hướng khác nhau, và sau khi tham quan tìm hiểu, thì ai cũng có thể hình dung ra được một sự biến đổi hình dáng địa phương theo cái mốc của thời gian quá khứ.

Tuy nhiên, nếu nói đến những hình ảnh sinh hoạt kỷ niệm cảnh cũ người xưa ở quê làng thì ở bất cứ nơi nào cũng đều có cả, và đó cũng chính là trường hợp về hình ảnh đặc biệt của chợ chiếu Âm-Phủ ở Định-Yên, huyện Lấp-Vò, tỉnh Đồng-Tháp. Hồi trước, cư dân ngụ tại xã Định-Yên có truyền thống làm nghề dệt chiếu lâu đời và nổi tiếng đồn xa. Nghệ nhân dệt chiếu ở đây tay nghề khéo léo, có thể thêu lẫy được những hình rồng phượng làm tăng thêm giá trị của chiếc chiếu, và họ đã tạo được cho gia đình một đời sống tương đối khá sung túc, cất xây nhà tường cao ráo. Vì thế, ở miền Tây dạo ấy đã có lưu truyền câu thơ đi vào ca dao:

Định-Yên có vựa chiếu to

Có chồng xứ Định khỏi lo chiếu nằm

Thực vậy, thời cực thịnh của nghề dệt chiếu bán buôn ở Định-Yên là số cung không chạy kịp theo số cầu. Vì vậy, các mối lái ghe thuyền mua bán chiếu ở các tỉnh miền Tây phải tranh nhau đến tận nơi để neo đậu nghẹt dưới sông bất kể giờ giấc ngày đêm, để chờ mua chiếu đem về bán lại, và đã có những ngày đêm giao dịch bán buôn diễn ra vô cùng tấp nập với con số lên gần tới cả ngàn người. Về sau, chợ chiếu quy tụ dời về ở sân chùa An-Phước và được xoay vòng từ ngày cho tới đêm. Chợ phiên mỗi đêm, thường diễn ra từ 4 khuya đến 8 giờ sáng. Đặc biệt, vào khung cảnh ban đêm, dưới những ánh đèn dầu hiu hắt, lặng lẽ, với cả một rừng người, mỗi người đứng ôm một bó chiếu đứng bán bên cạnh ánh sáng dật dờ, mờ ảo tỏa khói, cho nên người dân mới gọi đó là chợ Âm-Phủ. Còn thực tế bây giờ thì chợ Âm-Phủ về đêm cũng đã bị đi vào mai một, do nguyên nhân ngày nay người dân sử dụng máy dệt chiếu quá nhiều, và người mua thường đặt hàng trước khi tới nhận.

Chợ chiếu Định-YênNhững ai chưa từng tham quan Đồng-Tháp-Mười thì hãy thử đến viếng thăm một lần cho biết, và đi vào lúc nào cũng được vì mùa nào Đồng-Tháp-Mười cũng có nét đẹp riêng, thú vị vô cùng. Chẳng hạn như trong mùa nước nổi dâng lên cao bao nhiêu, thì loài lúa ma ở đây cũng mọc dài thêm bấy nhiêu, để lúc nào nó cũng vươn mình cao lên khỏi mặt nước. Còn cánh đồng lúa bao la bình thường hằng ngày thì bị đắm chìm vào trong biển nước, và được thay vào bằng cánh đồng sen súng, rong tảo, năn, lác v.v, trong lúc trên trời có hàng ngàn con cò bay lượn theo từng đàn sà xuống săn mồi, lướt nhảy tung tăng trên những lá sen bềnh bồng theo sóng nước…

Đồng lúa ma 

Đàn cò săn mồi

Và một khi du khách đã cảm nhận ra rằng, quả thật quê hương hoa sen là tuyệt diệu, thì không lý do nào họ lại không muốn tìm hiểu thêm ít nhiều về một vài hình ảnh của con người Đồng-Tháp. Và cũng nếu câu hỏi đó được đặt ra cho hướng dẫn viên địa phương, thì ý kiến của họ sẽ trưng ra là hình ảnh của Năm Sa-Đéc, một người nghệ sĩ tài năng từ lâu từng để lại nhiều dấu ấn cảm tình cho rất nhiều thành phần khán giả ở trong nước.

Nghệ sĩ Năm Sa-Đéc tên thật là Nguyễn-kim-Chung (1907-1988), tác giả ghi đúng trên bia mộ, vì có nhiều tài liệu ghi khác là (1908-1988). Trước khi trở thành kịch sĩ và diễn viên điện ảnh, thì bà là một nghệ sĩ cải lương tuồng cổ. Năm Sa-Đéc là con của ông bầu Tam (Nguyễn-văn-Tam), người thành lập ra gánh hát bội “Thiện-Tiền-Ban” đầu tiên ở tại tỉnh Sa-Đéc. Suốt trong cuộc đời dấn thân vì nghệ thuật, bà đã lần lượt có dịp cộng tác và lưu diễn khắp nơi cùng với các đoàn hát cải lương nhỏ lớn như Phước-Tường, Vân-Hảo, Phụng -Hảo, Thanh-Minh&Thanh-Nga. Từ là nghệ sĩ hát bội chuyển sang nghệ sĩ cải lương, không dừng lại đó bà còn đi sâu vào sân khấu kịch nghệ trước khi trở thành diễn viên điện ảnh, và được rất nhiều người ái mộ. Do vậy, ngày nay mỗi khi nói đến bà Năm Sa-Đéc thì người dân Đồng-Tháp-Mười rất lấy làm vinh dự và hãnh diện về tài năng tỏa sáng của bà đã góp phần làm rạng danh cho mảnh đất quê hương hoa sen. Trong cuộc sống riêng tư, bà đã hạnh phúc làm lại cuộc đời bên cạnh học giả Vương-Hồng-Sển vào lúc bấy gìờ. Và sau đó mấy tháng, thì ông nhận chức Quyền quản thủ Viện Bảo-Tàng Quốc-Gia Việt-Nam tại Sài-Gòn. Sau năm 1975, tuy bà đã già nhưng vẫn còn phong độ nghệ sĩ, đóng tròn vai kịch nghệ cũng như về điện ảnh. Bà qua đời đột ngột, để lại tình cảm cho rất nhiều người sau khi hay biết được hung tin.

Xót thương người bạn đường đã mất, cụ Vương-Hồng-Sển lúc bấy giờ đã có làm một bài thơ tiễn biệt vợ hiền, nghệ sĩ Năm Sa-Đéc thật là cảm động.

Em sao vội phủi tay đứng dậy?

Tắt đèn đời, tìm giấc ngủ thiên thu.

Anh chỉ còn trơ mắt nhìn theo

Qua giòng lệ viết trang tình nửa đoạn…

Bà Năm Sa Đéc trong phim “Lệ Đá”

Tuy nhiên, ngày trước đất Sa-Đéc cũng đã từng có một nhân vật trí thức được rất nhiều người biết đến. Đó là hình ảnh của nhà Bác-vật Lưu Văn Lang, một kỷ sư đầu tiên của nước VN và của cả Đông Dương. Là một trong những sĩ phu tiêu biểu hàng đầu ở Nam-bộ, ông từng tích cực dấn thân vào các phong trào quảng bá chữ quốc ngữ cũng như tham gia vào các phong trào yêu nước v.v. Trong ngày lễ tang học sinh Trần-Văn-Ơn tại Sài-Gòn, ông đứng ở trong hàng dẫn đầu đoàn người biểu tình lôi cuốn sự tham dự đông đảo của mọi từng lớp nhân dân.

Ngoài ra, ông cũng còn là người đầu tiên sáng chế ra chiếc đống hồ đá duy nhất của VN, coi giờ bằng ánh sáng mặt trời. Và mặc dù nó không thể nào có thể so sánh được với giá trị của chiếc đồng hồ Thái-Dương khổng lồ lớn nhất trên thế giới ở trong khu Đài-Thiên-Văn Jaipur, Ấn-Độ. (Có nguyên tắc tính thời gian trong ngày, dựa vào sự di chuyển của mặt trời, từng được xây cất lên từ thế kỷ XVIÌI). Nhưng người dân địa phương Sa-Đéc lúc nào cũng biết tự hào rằng quê hương mình từng có nhân tài tạo đã ra báu vật, rất có ý nghĩa theo sự kiện của dòng thời gian lịch sử. Tuy rằng, giờ đây thì di tích còn tồn tại nầy hiện đang nằm trong địa bàn của trung tâm thành phố Bạc-Liêu.

Đồng hồ Thái-Dương VN

Tác giả lưu niệm tại đồng hồ Thái-Dương

khổng lồ ở trong khu Đài-Thiên-Văn Jaipur, Ấn-Độ

“Tôi quyết định bỏ tiền đầu tư xây dựng ký túc xá miễn phí cho sinh viên nghèo với tâm nguyện muốn góp phần đào tạo họ trở thành người giỏi trên nhiều mặt, đóng góp tích cực cho xã hội. Vun đắp, chăm lo cho những sinh viên nghèo có điều kiện học tập thành tài là việc làm thiện nguyện có hiệu quả lâu dài nhất, giống như mình cho họ cái cần câu để họ tự câu cá, nuôi sống bản thân”.

Dự án ký túc xá sinh viên

Trường Đại-Học Nông-Lâm trao tặng lại

cho Ông Phạm-Văn-Bên bức tranh thêu có chữ “Tâm”

Đây là tấm gương báu của một doanh nhân bản lĩnh, đạo đức có tâm, và có tầm nhìn thấy phúc lợi của sự đầu tư trí tuệ vào trong phương tiện lãnh vực văn hóa, để làm động lực phát triển khả năng tinh thần sáng tạo của con người trong xã hội. Öng tên là Phạm-Văn-Bên, người địa phương thân thương quen gọi ông là Út Bên (vừa mới qua đời), một vị đại gia có nhân cách lớn sở tại thành đạt sự nghiệp vẻ vang do nhờ có nhiều kinh nghiệm ở chốn thương trường. Và với di sản cơ ngơi đồ sộ thương hiệu “Cỏ May” dưới sự quản lý kinh doanh của ông đang trên đà phát triển mạnh mẽ tại Sa-Đéc. Cùng với, nghĩa cử cao đẹp của một con người có trái tim đức hạnh muốn tìm dịp trả ơn xã hội, biết đạo làm doanh nhân, cho nên giờ đây hình ảnh kỷ niệm thương tiếc về ông còn để lại, thì đã được nhiều người đánh giá, vinh danh xem ông như là hình ảnh của một người thầy không bục giảng.

Ngoài ra, vì vùng đất Đồng-Tháp-Mười ngày xưa vốn từng là một chốn bưng biền, địa hình lầy lội có quá nhiều khó khăn trở ngại với đầy huyền thoại gian nan trong quá trình khẩn hoang tìm đất sinh tồn. Vì thế cho nên, người dân ở địa phương bao giờ cũng luôn luôn biết ý thức tự hào về tinh thần tương thân, tương trợ, để cùng nhau trân quý di sản truyền thống đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Do vậy, mà ngày nay người ta còn thấy thêm có rất nhiều về những hình ảnh cao đẹp khác tự nguyện đem lá lành đùm lá rách, và chia cơm sẻ áo cho nhau cần phải xứng đáng được vinh danh. Đó chính là hình ảnh của những mái nhà tình nghĩa đơn sơ được người dân quyên góp xây cất cấp cho người nghèo, hay được từng cá nhân hảo tâm có trái tim nhân ái bảo trợ hiến tặng. Và điển hình như là về trường hợp đặc biệt khả kính của bà Năm Thiền chăn nuôi vịt kiếm tiền, để dùng vào làm việc phúc thiện như tu bổ đường làng, xây cầu thôn xóm, cất lên những mái nhà tình nghĩa, để giúp đỡ những kẻ khốn cùng ở tại địa phương có được nơi yên ổn, nương náu qua ngày.

Bà Võ-Thị-Thiền chăn nuôi bầy vịt từ thiện

 ở tại huyện Cao-Lãnh (Đồng-Tháp)Ở Đồng-Tháp, vì những ngày tổ chức về lễ hội không có được nhiều và đa dạng như ở các tỉnh khác. Vì thế cho nên, du khách đến thăm Đồng-Tháp-Mười chủ yếu là vì tình yêu hoa sen. Tuy nhiên, nếu du khách đến thăm nhằm lúc có xảy ra những ngày lễ hội lớn như lễ hội Gò-Tháp, lễ hội miếu Bà Chúa Xứ v.v, thì vẫn có thể thấy được những bầu không khí tưng bừng, náo nức không kém phần nghiêm trang và vui vẻ ở tại địa phương.

Các đầm sen tư nhân

Lễ hội Gò-Tháp

Tự hào Đồng-Tháp Sen hồng

Ngoài ra, ngay tại trung tâm thành phố Sa-Đéc cũng còn có di tích của một ngôi nhà cổ Huỳnh-Thủy-Lê nổi tiếng, do nhờ được xây cất hài hòa theo mẫu kiến trúc Đông-Tây vào năm 1895. Sau nhiều lần được gia chủ trùng tu, thì ngôi nhà gỗ ba gian kiểu miền Tây Nam-bộ đã phải tự biến thành một biệt thự kiểu phương Tây trộn pha với kiến trúc Việt, và Hoa, nếu nhìn từ bên ngoài. Tuy nhiên, phần kiến trúc bên trong thì hoàn toàn mang đậm đường nét, và màu sắc cố hữu của người Hoa. Ngày nay, du khách đến tham quan di tích nhà cổ sẽ còn có dịp được nghe qua về một câu chuyện tình đầy lý thú, và lãng mạn xảy ra trong ngôi nhà huyền thoại nầy từ hằng thập niên về trước.

Nhà cổ Huỳnh-Thủy-Lê

Bên trong ngôi nhà huyền thoại

Khác với cuộc tình giữa Bạch-Công-Tử và quận chúa Olga xảy ra tại thành phố Paris được nhà báo Vương-Liêu viết ra từ hơn sáu thập niên về trước, và cho dù đó chỉ là một giai thoại có bài bản được lồng vào với sự trùng hợp của yếu tố thời gian nếu đã có xảy ra. Câu chuyện tình giữa cậu thiếu gia Huỳnh-Thủy-Lê 27 tuổi ở Sa-Đéc, và cô nữ sinh tóc vàng phương Tây Marguerite Duras 15 tuổi rưỡi (con gái của một bà Hiệu-Trưởng trường nữ sinh Sa-Đéc, nay là trường Trưng-Vương) xảy ra ở tại đất phương Nam khoảng thời gian bắt đầu vào một buổi trưa hè ngày 3 tháng 6 năm 1929 là hoàn toàn có thật 100/100, và chứa đầy kịch tính. Hơn thế nữa, nhân chứng sống cũng còn là người trong cuộc, và đó chính hình ảnh của nữ văn sĩ Pháp Marguerite Duras (1914-1996) về sau nầy. Bà là tác giả của quyển tiểu thuyết nổi tiếng “L’Amant”*****, mà trước khi chính thức được chuyển thể sang lĩnh vực điện ảnh, thì nó đã là một kiệt tác về văn học.

Còn cuốn phim “L’Amant” thì dựa vào nội dung cốt truyện của quyển tiểu thuyết nói trên được quay tại Việt-Nam, và đã được hoàn thành trình chiếu chính thức vào ngày 22-01-1992 tại Pháp. Nhà đạo diễn Jean-Jacques-Annaud đã thực hiện thành công một cuốn phim nổi tiếng (độ dài 115 phút) nầy không những có giá trị về mặt nghệ thuật, mà còn về yếu tố tâm lý thu hút được rất nhiều thành phần khán giả ái mộ thưởng thức các thể loại phim tình cảm sống thực, kích thích rực nồng. Và từng đã được các nhà phê bình quốc tế coi như là vô cùng táo bạo trong lịch sử điện ảnh, về những cảnh nóng…thiệt.

Chung cuộc, cho dù nếu không có đủ yếu tố thời gian để nhận ra mọi sự khác biệt về màu da, phong tục ngay từ phút đầu, thì cặp tình nhân đắm say cuồng nhiệt cũng phải đành đau khổ chấp nhận chào thua trước áp lực và định kiến của gia đình. Để rồi sau đó khi có dịp trùng phùng, hồi tưởng lại từng điệp khúc đam mê không muốn rời bên nhau, thì họ cũng đã thực tế nhận ra rằng ý nghĩa còn lại trong mảnh phần hồn của tình yêu chân thành là bất diệt…

Marguerite Duras

(ngày xưa)

Jane March

(quốc tịch Anh)

Ngôi sao điện ảnh Jane March

đóng vai Marguerite trong phim “L’Amant”Và cũng phải thành thật nói rằng là nhờ có tác phẩm sách báo, điện ảnh của cuốn phim thành công nổi tiếng “L’Amant” mà đã có nhiều người nước ngoài (nhất là người Pháp) mới có thêm dịp, để được nghe biết đến nhiều hơn về địa danh Sa-Đéc ở miền Tây.

Miền Nam từ lâu có tiếng là vùng đất lành chim đậu. Nơi đây, cây trái bốn mùa, đồng lúa mênh mông, cỏ hoa tươi tốt, và riêng góc trời thì lại có một vùng đầm lầy sông nước mênh mông mang đậm nét đặc thù với tính nhân văn, phong cảnh địa hình không giống ở bất cứ nơi nào trong nước. Đồng-Tháp ở đây tuy có cảnh quan sông nước đầm lầy nhưng không có được những hình ảnh linh hoạt như chợ nổi như ở Tiền-Giang, Cần-Thơ…Đồng-Tháp ở đây tuy có di tích lịch sử Óc-Eo, nhưng không có được một hòn núi non huyền bí xinh đẹp nào như ở An-Giang. Và Đồng-Tháp ở đây tuy có những cánh rừng tràm, các đặc sản nổi tiếng địa phương, nhưng không có cảnh quan biển cả để nhìn thấy được mặt trời nhô lên từ đáy bể như ở Cà-Mau, Kiên-Giang…Đồng-Tháp còn lại ở đây, chỉ có hình ảnh của loài hoa sen là biểu tượng cho duyên dáng của địa phương mình. Nói cách khác, thì toàn bộ cảnh quan hoang dã của vùng Đồng-Tháp-Mười khi xưa, nay đã bị biến dạng rất nhiều để nhường chỗ lại cho hình ảnh của một địa phương duyên dáng, màu lục xinh tươi. Và chứa đầy sức sống linh hoạt, năng nổ của người dân lúc nào cũng có ý chí kiên trì mần việc ruộng dâu không quản công khó nhọc, với những ước vọng cải thiện cuộc đời và vững tin nhìn về phía trước.

Nhưng tình người ở trên quê hương hoa sen, thì lúc nào cũng luôn luôn tỏ ra thân thiện, hân hoan đón chào từng lớp khách viễn phương.

Hơn thế nữa, nếu du khách đến tham quan Đồng-Tháp-Mười tìm dịp trải nghiệm tâm hồn vào cái thú ngắm sen nở nhằm lúc mãn khai dưới cảnh quan thiên nhiên bao la, in hình hoa đồng, cỏ nội, mây ngàn. Lúc ấy, trong phút giây đầy ấn tượng tuyệt vời thưởng thức mùi thơm ngát hương sen, thì biết đâu có người sẽ ngộ ra được đôi điều lý thú về giá trị chân tướng đích thực của cuộc đời; để mà có dịp suy tư sâu lắng về ý nghĩa hình ảnh vạn vật trong kiếp phù sinh của dân gian trong xã hội.

Trong thể xác định, thì hoa Sen lúc nào cũng vẫn hãy còn được người đời mãi mãi vinh danh, ca tụng coi như là biểu tượng cho sự thuần khiết và sinh hóa hồn nhiên.

Tính chất nguyên thủy trong cuộc sống tâm linh của thế nhân cũng vậy, nó vốn là phần hồn vô nhiễm, trong sạch. Hãy có dũng chí gạn đục, lắng trong “tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”, và noi gương Sen để cố gắng tìm bằng mọi cách giữ cho tâm hồn còn được mãi sự thuần khiết, không dính tới mùi bùn…

Đầm sen trước Đại-Tháp Hòa-Bình

Lâm-Tỳ-Ni (Lumbini, Népal)Ngày nay, đường vào tham quan quê hương hoa sen đã được rút ngắn thời gian do nhờ có đường giao thông thuận tiện hơn xưa, cho nên du khách nước ngoài ngày càng đến với Đồng-Tháp-Mười nhiều hơn. Và chỉ trong một ngày, họ có thể thỏa mãn được tính hiếu kỳ để tìm hiểu thêm về một địa danh nổi tiếng có nhiều hoa sen. Cũng như, về huyền thoại ly kỳ của một câu chuyện tình éo le, cảm động, lãng mạn không biên giới của đôi uyên ương Âu-Á, mà chứng tích còn sót lại bây giờ chính là hình ảnh của ngôi nhà cổ Huỳnh-Thủy-Lê ở trong tỉnh Đồng-Tháp.

Còn đối với khách du lịch nội địa, thì Đồng-Tháp-Mười bây giờ không chỉ là một địa danh của vùng văn hóa đặc trưng của miền đầm lầy sông nước phương Nam, mà nó còn là một dải đất quê hương mến yêu từng có công đóng góp phần quan trọng vào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ xóm làng, phát triển xã hội sau ngày quốc gia thống nhất, tái lập hòa bình.

Riêng về hình ảnh của hoa Sen, thì nó chính là một biểu tượng độc đáo cho vùng đồng lầy Đồng-Tháp-Mười, mà từ lâu từng đã được hầu hết mọi người đương nhiên thừa nhận coi như là một vẻ đẹp thanh cao, mang đậm ý nghĩa tâm linh. Hơn thế nữa, vào năm 2011 thì hình ảnh của hoa sen hồng cũng vinh dự được người dân Việt-Nam trong toàn quốc nhất trí chính thức bình chọn là “quốc hoa”, do nhờ có vẻ đẹp cao sang, trang trọng, gần gũi dân gian, và mang tính dân tộc được đa số người yêu thích.

Tuy nhiên, ngày nay nếu người ta muốn quảng bá về sự thể hiện tính thuần khiết cao đẹp của nó để áp dụng vào hình thức kinh doanh du lịch, thì cần phải có cái tâm cùng với cái tầm nhìn thông thoáng về tâm lý và nghệ thuật. Đây là một công việc không phải dễ dàng, vì nó luôn luôn đòi hỏi ý thức tinh thần trân trọng thừa hưởng của người dân lúc nào cũng phải biết cảnh giác trách nhiệm bằng mọi giá, đề giữ gìn mãi mãi nét đẹp phần hồn duyên dáng của quê hương…

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG

(Paris)

* – Thơ An-Tiêm MAI-LÝ-CANG.

** – ĐBSCL gồm có thành phố Cần-Thơ và 12 tỉnh là: An-Giang, Bến-Tre, Bạc-Liêu, Cà-Mau, Hậu-Giang, Kiên-Giang, Long-An, Sóc-Trăng, Tiền-Giang, Trà-Vinh, Vĩnh-Long và Đồng-Tháp.

*** – Tổ chức quốc tế phi chính phủ hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, và môi trường sống của loài chim.

**** -World Wide Fund For Nature

***** – Tiểu thuyết “L’Amant” (Người tình) xuất bản năm 1984, và đoạt giải thưởng văn học Goncourt.tại Pháp. Sau đó được dịch ra 43 thứ tiếng với khoảng 2,4 triệu bản in, và khi chuyển qua điện ảnh thì giành được giải thưởng ” Giải César cho nhạc phim hay nhất” vào năm 1993.

Trong đầm gì đẹp bằng Sen

Nguon: Chim Viet Canh Nam

Phân Tích 12 Câu Thơ Đầu Trong Đoạn Trích “Trao Duyên”

Những Câu Nói Hay Về Duyên Phận, Duyên Nợ Đọc Để Ngẫm!

Bài Văn: Bình Luận Bài “Thơ Duyên”

Cười Ngả Nghiêng Trước 51 Stt Bê Tráp Hay

Ngữ Văn 10 Đoạn Trích: Trao Duyên (Trích Truyện Kiều

Những Bài Thơ Hay Viết Về Cảnh Làng Quê, Quê Hương Tôi

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Lục Bát Quê Hương Hay Nhất

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Thơ Về Quê Hương, Đất Nước Hay Nhất Được Nhiều Độc Giả Yêu Thích

Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ

Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương

Hình Ảnh Người Dân Làng Chài Qua Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh

Tổng hợp những bài thơ hay viết về cảnh làng quê, nông thôn nghèo, quê hương của tôi.

Những bài thơ miêu tả vẻ đẹp bức tranh làng quê, nông thôn Việt Nam. Dù đi đâu cũng không bao giờ quên được những hình ảnh thanh bình, êm đềm đó. Và làm sao quên được mối tình ngày xanh gắn liền với tình yêu quê hương..

BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG TA GỌI VỀ

Thơ: Hảo Trần

Xa quê hương suốt mấy chục năm rồi

Mãi trong ta nhớ miền quê yêu dấu

Cánh diều tuổi thơ lưng trâu sáo đậu

Nghe quê hương đất mẹ gọi ta về

Chân ngập ngừng lội bước tới triền đê

Đàn bướm nhỏ dập dìu hoa dại tím

Nhớ một thời tuổi thơ nhiều kỷ niệm

Gợi ta về với những giấc mơ xưa

Đồng lúa xanh non ngút ngàn nắng mưa

Đất bạc màu mẹ dày công chăm bón

Khom lưng trên đồng cõng bầu trời trĩu nặng

Úp mặt ruộng sâu góp nhặt hạt thóc rơi

Con biết quê nhà vất vả lắm mẹ ơi

Một nắng hai sương đất cằn đồng hạ

Ướt đẫm giọt mồ hôi đong đầy khoai lúa

Thấm một đời câu muối mặn gừng cay

Quê hương mình bao nỗi nhớ đong đầy

Chiếc áo tơi bốn mùa che mưa nắng

Gió lào thổi cuộc đời thêm gánh nặng

Hạt thóc vàng mẹ đánh đổi thanh xuân

Yêu quê mình ta dạo bước bâng khuâng

Bát nước chè xanh, câu hò ngọt lịm

Giọng nói quê nghe nhọc nhằn thương mến

Ta trở về nghe tiếng gọi quê hương..!

BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG TUỔI THƠ TÔI

Thơ: Bình Minh

Tôi sinh ra nơi miền quê duyên hải

Đất Hải Phòng mê mải cánh buồm nâu

Biển quê tôi rất đẹp và rất giàu

Hoàng hôn đến với một màu tím biếc

Thời gian trôi theo dòng đời hối tiếc

Bên mái trường ta học Viết ngày xưa

Tháng 5 về mùa phượng đỏ đong đưa

Còn nhớ mãi chiều tắm mưa xóm nhỏ

Có nhiều hôm nắng chưa vờn ngọn cỏ

Cùng bạn bè theo gió thả diều quê

Bao năm rồi trong nức nở tái tê

Tìm ký ức đam mê ngày xưa ấy

Thời gian trôi như một dòng sông chẩy

Xa mất rồi ai tìm thấy được chăng

Nơi quê cũ ơi tình sâu nghĩa nặng

Tuổi thơ nào say đắm của ngày xưa …

BÀI THƠ: TÌNH QUÊ

Thơ: Bình Minh

Nhớ không em thuở ấu thơ ngày ấy

Mình bên nhau khi diều giấy bay cao

Tuổi thơ xưa bên nỗi nhớ cồn cào

Còn mãi mãi đi vào trong kỷ niệm

Thời gian trôi những tháng ngày màu nhiệm

Vẩn vơ hoài còn ẩn hiện trong ta

Dù đi đâu anh vẫn nhớ quê nhà

Nhớ tuổi thơ những chiều tà bóng xế

Quê hương ơi tuổi thơ là như thế

Là chiều tà bóng xế thả diều quê

Bên bạn bè và những nỗi đam mê

Anh nhớ mãi câu thề thời thơ dại

Em đùa anh bao giờ mùa hoa cải

Nở hoa vàng ta phải chuyện trầu cau

Tuổi thơ ơi bên kỷ niệm úa nhàu

Còn nhớ mãi một màu tình quê cũ.

CHIỀU QUÊ

Thơ: Chử Văn Hòa

Chiều quê hương lúa thơm nồng

Hoàng hôn trải nắng trên sông ráng chiều

Hồn nhiên thả những cánh diều tuổi thơ

Từng đàn bò bước nhởn nhơ

Đủng đà đủng đỉnh bên bờ tre xanh

Môi trường cuộc sống trong lành

Chiều quê là một bức tranh yên bình.

BÀI THƠ: NHỚ LẮM QUÊ HƯƠNG

Thơ: Huyền Thư

Nhớ làm sao, tiếng võng giữa trưa Hè

Tiếng kẽo kẹt, ôi nghe mà thương lắm

Lời ru mãi, ngàn đời sau vẫn ấm

Mái tranh nghèo, sâu đậm…nghĩa tình xưa

Gió thổi về, theo giọt nắng đong đưa

Mây lướt nhẹ, từng cơn mưa…vội vã

Cau lại thắm, vườn trầu thêm xanh lá

Đã đến mùa, ra cấy mạ….đi thôi ‼

Chân lấm bùn, thân ướt đẫm mồ hôi

Hồn thanh thản, cuộc đời…không lo nghĩ

Đêm khuya vắng, tiếng côn trùng non nỉ

Như dặn lòng, bền bỉ…với thời gian

Những hoàng hôn, mờ nhạt khói sương tan

Dừa soi bóng, trăng vàng….in đáy nước

Quê hương đó, bao giờ ta tìm được

Đến bao giờ, dừng chân bước….tha phương.

BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG 1

Thơ: Hoa Chu Van

Đã lâu lắm hôm nay tôi trở lại

Về thăm quê nhớ mãi tuổi ấu thơ

Trên con đường xưa ngày nhỏ mộng mơ

Mà đến nay bây giờ sao nhung nhớ

Gió rung cây rì rào như hơi thở

Nét đẹp quê hương giữ ở trong tim

Bến nước cây đa hồi bé trốn tìm

Tái hiện lại như cuộn phim quá khứ

Nhớ bạn bè xưa cùng bao nét chữ

Ngày ra trường lưu giữ ước mơ xanh

Hè nắng chói chang lưu bút trao dành

Cất giữ mãi giờ đã thành kỷ niệm

Về thăm quê làm lòng ta xao xuyến

Bao nhiêu năm lưu luyến bồi hồi

Mà thời gian lặng lẽ thế cứ trôi

Và tất cả trong tôi còn nhớ mãi

Với quê hương tình yêu dành kết trái

Cho con người mang lại những niềm vui

Bao yêu thương và chia ngọt sẻ bùi

Quê hương đó buồn vui ai cũng nhớ.

BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG 2

Thơ: Hoàng Minh Quân

Ai trong đời không gợi nhớ quê hương?

Bao vấn vương những niềm thương trăn trở

Chốn hoang sơ ấu thơ thời lầm lỡ

Vẫn quay đều trong nhịp thở bụi trần gian.

Quê hương là gì trong cơ cảnh lầm than,

Một bức tranh dệt thêu niềm hy vọng?

Dẫu đi xa vẫn nhớ hoài cô đọng

Dấu can qua cơn bĩ cực trăm bề.

Quê hương nào nuôi lớn những đam mê,

Những nhiêu khê những tái tê hoài niệm?

Để hôm nay vững bài ca chiêm nghiệm..

Nốt thăng trầm cho một phút thăng hoa!

BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG 3

Thơ: Sinh Hoàng

Quê hương mưa nắng hai mùa

Có dòng sông nhỏ hàng dừa xanh xanh

Quê nghèo vách đất mái tranh

Chiếc xuồng ba lá đêm trăng bến ngoài

Ngọt bùi no đủ sắn khoai

Dẽo thơm hạt gạo nuôi ai nên người

Cây lành trái ngọt xanh tươi

Má hồng môi thắm rạng ngời gái quê

Lúa mùa duyên thắm, tình quê dạt dào

Quê hương hai tiếng ngọt ngào

Quê hương yêu dấu khắc vào trong tim.

BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG NHỚ MÃI TIẾNG GÀ TRƯA

Thơ: Giọt Buồn Không Tên

Quê hương ơi tôi nhớ nguời da diết

Bao năm rồi mãi biền biệt trời xa

Vẩn trong tôi một nỗi nhớ quê nhà

Nhớ lời Mẹ ru thiết tha cánh võng

Tiếng gà trưa sao mãi còn lắng đọng

Hàng cau xanh hoài vọng xoã tóc thề

Cơn gió nào nghe dịu mát chiều quê

Đàn trâu béo bên triền đê nhai cỏ

Dưới bến sông rộn ràng bầy trẻ nhỏ

Tiếng cười vui vang khắp ngõ quê làng

Những mái đầu ngụp lặn dưới nắng chang

Nghe xao động mơn man trên sóng nước

Nhà Mẹ nghèo nép mình bên tán đước

Vệt khói lam tỏa mượt mái tranh chiều

Mẹ gầy gò trong dáng nhỏ liu xiu

Ơ kho quẹt bửa cơm chiều ngon lạ

Tôi lớn lên trong tháng ngày vất vã

Nhớ lời ru nghe thương quá tiếng gà

Nhưng vì nghèo đành phiêu bạt nơi xa

Thân trôi nỗi bôn ba nơi xứ lạ

Mãi trong tôi quê hương là tất cả

Vẩn thiết tha một nổi nhớ quê nhà

Nhớ Mẹ già mòn mõi đợi con xa

Dù mắt mẹ giờ chỉ là đêm tối

Quê hương ơi con nợ lời xin lỗi

Con sẽ về đừng giận dỗi Mẹ ơi.!

BÀI THƠ: LÀNG QUÊ TÔI

Thơ: Nguyễn Quang Định

Chiều nhạt nắng làng quê mát rượi

Hàng cây xanh gió thổi rì rào

Trên đồng có một chú trâu

Đang mải cúi đầu… gặm ngọn cỏ xanh.

Mái nhà tranh… bên bờ nương ruộng

Hàng cây che bóng xuống quanh nhà

Thu về muôn tiếng chim ca

Câu hò điệu ví đậm đà tình quê.

Đã lâu lắm chưa về thăm lại

Nhớ xóm làng cùng mái nhà tranh

Nhớ cha nhớ mẹ sinh thành

Bà con bè bạn xung quanh xóm nghèo.

Tôi cứ mãi chạy theo cuộc sống

Lo đi tìm ước mộng tương lai

Cũng mong sẽ tới một ngày

Về quê gặp gỡ bắt tay mọi người.

ĐỒNG DAO QUÊ HƯƠNG

Thơ: Bằng Lăng Tím

Ta tìm về nghe câu hát đồng dao

Con đò nhỏ cắm sào nơi bến đợi

Thu đã mãn thêm một mùa gặt mới

Tình quê hương vời vợi nhớ trong lòng

Cò gọi đàn nghiêng cánh vỗ triền sông

Từng con sóng bềnh bồng xô nhè nhẹ

Bao kỷ niệm môt thời ta thơ bé

Tiếng mẹ yêu khe khẽ hát ru hời

Lũ mục đồng ngày mải miết rong chơi

Đêm đốt lửa sáng trời thi hát hội

Nhạc rộn rã tưng bừng vui suốt tối

Sáo ngân vang ai thổi lúc bổng trầm

Ta tìm về nghe lại khúc thanh âm

Trâu gõ mõ lặng thầm nhai cỏ mật

Hương lúa thoảng thấm tình yêu của đất

Bài đồng dao mãi hát đến bây giờ.

THƠ LỤC BÁT: QUÊ NHÀ

Thơ: Chung Mai

Quê nhà biết mấy thân thương

Bến sông thửa ruộng con đường đã qua

Vui đùa cùng bạn trong ta trải dài…

Đàn trâu lững thững bước ngoài bờ đê

Cỏ non thích thú mải mê gặm hoài

Đống rơm từng sợi vàng dai

Mẹ gà lục cục trống choai bới mồi

Nhiếp con ngơ ngác xem thôi

Diều hâu liệng mãi thấy mồi sà ngay

Trẻ con cũng thích nơi này

Trốn tìm đuổi bắt mê say cả chiều

Mẹ nhìn mấy đứa mắng yêu :

Cởi trần rặm lắm ngứa nhiều đấy nghe

Kẽo cà kẽo kẹt rặng tre gió lùa

Góc vườn khóm mía lá khua xạc xào

Đông về cái lạnh hanh hao

Co ro buốt giá chạm vào ổ rơm

Sắn khoai độn lẫn hạt cơm

Vẫn ngon vẫn dẻo vẫn thơm đến giờ

Ước gì là mãi dại khờ trẻ con

Ước gì ta mãi mãi còn bé thôi .

Quê Hương Nghĩa Nặng Tình Sâu

Chùm Thơ Nhớ Nhà, Nhớ Quê Của Người Tha Phương

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 1001 Bài Thơ Quê Hương, Tình Yêu Làng Quê & Nỗi Nhớ

Những Bài Thơ Viết Về Nỗi Nhớ Quê Hương Của Người Xa Xứ

Vài Lời Về Bài: Trao Đổi Về “quê Nghèo” Với Cô Nguyễn Bích Thủy

Những Bài Thơ 8 Chữ Về Quê Hương, Làng Quê, Biển Đảo

Đề Thi Học Sinh Giỏi Ngữ Văn 8 Trường Gio Linh Tại Soanbai123.com

Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước Là Mạch Nguồn Của Dòng Thơ Mới. Hãy Làm Rõ Nhận Định Này Qua 2 Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh Và Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu

Việt Nam Đất Nước Ta Ơi (Nguyễn Đình Thi) – Tình Yêu Quê Hương Đất Nước Trường Tồn Mãi Mãi

Ket Thúc Bài Que Huomg Nhà Thơ Tế C…

Thơ 8 Chữ Về Ngày 20

Có những bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê, biển đảo nào hay nhỉ?

Những bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê, biển đảo

Top Những bài Thơ 8 chữ về biển đảo 1 :Tiếng biển

Vợ yêu ơi em có nghe tiếng biển

Lúc gầm vang lúc rì rào tha thiết

Những ngày này trong mỗi người dân Việt

Tiếng biển cuộn trào, tiếng biển sục sôi…

Cuối tuần về quê cho anh nhắn đôi lời

Thưa với cha và thắp hương khấn mẹ

Anh vẫn vững vàng nơi biển đảo xa xôi…

Em hãy đưa điện thoại kề gần nôi

Để con chúng mình nghe tiếng của biển khơi

Anh không thể ẵm bồng ru con ngủ

Gửi tiếng biển về yên giấc con thôi…

Em có nghe tiếng biển trong lòng người

Tiếng của hòa bình tiếng hạnh phúc vui tươi

Nhưng tàu giặc mà tấn công bờ cõi

Tiếng biển hiền hòa sẽ hóa tiếng ngư lôi…

Biển xanh yên lành đâu muốn máu đỏ rơi

Đảo nhỏ yêu thương chỉ mong tiếng biển cười

Đón bình minh mỗi ban mai ngày mới

Tiếng biển đêm về như tiếng mẹ à ơi…

Anh biết đất liền đang lo lắng khôn nguôi

Đâu riêng vợ yêu mà hàng triệu triệu người

Hướng về phía Đông lặng nghe tiếng biển

Mong bình yên cho tàu cá ra khơi…

Vợ yêu ơi…anh phải đi trực rồi

Phút chào nhau nhau tiếng biển bỗng mặn môi

Gọi để vợ nghe tiếng biển… tiếng yêu đời…

Bài thơ với nỗi niềm anh lính biển xa quê gửi về nơi hậu phương của tổ quốc,vì nhiệm vụ mà phải quên thân mình để trấn giữ nơi đầu sóng ngọn gió của tổ quốc cùng tình yêu hi sinh cao cả to lớn mà gia đình đã dành cho anh để yên tâm công tác

Thơ 8 chữ về biển đảo 2:Tổ quốc nơi đầu sóng

Thêm một ngày trên quần đảo Trường Sa

Biển tĩnh lặng mà lòng người rất động

Sắp bão giông không còn cơn gió lộng

Cơn bão lòng cuồn cuộn phía Trường Sa.

Thêm một ngày trên vùng biển của ta

Thềm lục địa lại oằn lên đau nhói

Ngàn năm xưa ông cha đi mở cõi

Phía chân trời, xương cốt gửi Hoàng Sa.

Ngoài khơi xa vẫn lởn vởn bóng ma

Loài lang sói đói mồi nên thèm khát

Bao cơn sóng dập dồn xô Đá Lát

Song Tử vững vàng, Nam Yết vẫy Sơn Ca.

Có đất nước nào như Tổ Quốc ta

Lịch sử cha ông bốn ngàn năm bất khuất

Trong gian khó vẫn gồng lên giữ đất

Đất nước loé lên hình tia chớp ngang trời.

Các con mẹ vật lộn giữa biển khơi

Ngăn sóng dữ đè lên thềm lục địa

Con quái vật khổng lồ kia sắp sửa

Hút máu người trên thân mẹ Việt Nam.

Từ Cà Mau liền dải tới Nam Quan

Mẹ Việt Nam vẫn chưa tròn giấc ngủ

Đất cha ông không nguôi ngày đoàn tụ

Đứa con Hoàng Sa lưu lạc trở về.

Một ngày buồn sao thấy dài lê thê

Biển tĩnh lặng mà lòng người rất động

Đã bao lần khiến kẻ thù vỡ mộng

Trong lòng người từng đợt sóng trào dâng.

Khu vực biển đông các quần đảo đang là điểm nóng nhất hiện nay về tranh chấp lãnh thổ.Bài thơ là nỗi khó nhọc ,lo sợ và lòng dũng cảm của những người lính đang sống mỗi một ngày với ý chí thép và lòng cảnh giác cao độ

Chọn lọc bài Thơ 8 chữ về biển đảo 3:Tổ quốc nhìn từ biển

Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển

Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa

Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa

Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc

Các con nằm thao thức phía Trường Sơn

Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả

Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng

Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa

Trong hồn người có ngọn sóng nào không

Minh họa: Văn Nguyễn

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo

Lạc Long cha nay chưa thấy trở về

Lời cha dặn phải giữ từng thước đất

Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi

Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể

Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù

Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ

Thương Hòn Mê bão tố phía âm u

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích

Những đau thương trận mạc đã qua rồi

Bao dáng núi còn mang hình góa phụ

Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa

Đã mười lần giặc đến tự biển Đông

Những ngọn sóng hóa Bạch Đằng cảm tử

Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng

Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo

Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn

Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy

Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân

Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả

Những chàng trai ra đảo đã quên mình

Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước (*)

Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát

Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời

Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất

Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi

Bài thơ như một lời tuyên ngôn độc lập sống mãi với chủ quyền biển đảo của chúng ta,từ xưa đên nay mọi thế hệ cha ông dân tộc ta đã sống và bảo vệ mãnh đất này mang trên đó là dấu tích của con dân việt kẻ thù sẽ không bao giờ có thể khuất phục được

Những bài Thơ biển đảo 4:Tổ quốc ở trường sa

Các con đứng như tượng đài quyết tử

Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra

Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt

Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa

Khi hy sinh ở đảo đá Gạc Ma

Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn

Để một lần Tổ quốc được sinh ra

Máu của họ thấm vào lòng biển thẳm

Cờ Tổ quốc phất lên trong mưa đạn

Phút cuối cùng đảo đá hóa biên cương

Họ đã lấy thân mình làm cột mốc

Chặn quân thù trên biển đảo quê hương

Họ đã hóa cánh chim muôn dặm sóng

Hướng về nơi đất mẹ vẫn mong chờ

Nếu mẹ gặp cánh chim về từ biển

Con đấy mà, mẹ đã nhận ra chưa!

Có nơi nào như Đất nước chúng ta

Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ

Khi giặc đến vạn người con quyết tử

Cho một lần Tổ quốc được sinh ra

Biển mùa này sóng dữ phía Hoàng Sa

Các con mẹ vẫn ngày đêm bám biển

Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta

Như máu ấm trong màu cờ nước Việt

Biển Tổ quốc đang cần người giữ biển

Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa

Máu của họ ngân bài ca giữ nước

Để một lần Tổ quốc được sinh ra

Việt Nam ơi! dưới bão táp mưa sa

Người thắp sáng một niềm tin bền bỉ

Những giếng dầu trụ vững giữa khơi xa

Dầu là máu thắp trên thềm lục địa

Sớm mai này nắng ấm ở Trường Sa

Tiếng gà gáy bình yên trên ngực đảo

Tiếng trẻ nhỏ đến trường nơi sóng bão

Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra

Bài thơ truyền lửa mạnh mẽ đến mọi con dân nước Việt về truyền thống dựng nước và giữ nước của nhân dân ta ,chỉ cần có bóng giặc hay tổ quốc lâm nguy truyền thống ấy lại hừng hực khí thế

Thơ 8 chữ hay nhất về biển đảo 5:Nếu em về thăm đảo tôi

Ngàn trùng xa sóng vỗ về thủ thỉ

Tiếng côn trùng rủ rỉ với sầu bi

Nơi đảo xa cùng nỗi nhớ phân kỳ

Ngày em đến những gì bên kỷ niệm

Người lính đảo luôn sẵn lòng cần kiệm

Ghi tạc lòng những hoài niệm dấu yêu

Hải âu bay cảnh đảo lúc trời chiều

Tuy buồn vắng nhưng thấy nhiều hứng khởi

Ngày em đến chúng tôi mừng hấp hởi

Đảo đón chào người lính cởi niềm riêng

Em đến rồi với hòn đảo thiêng liêng

Bờ cát trắng cũng nằm nghiêng nghênh đón

Nơi đảo xa anh có đèn đom đóm

Soi bước đường mừng em đến thăm anh

Mong biển trời mai mãi ngát màu xanh

Để ra về nhành San Hô anh tặng

Tình anh lính đảo xa luôn thầm lặng

Nhớ thương nhiều yên ắng những nặng thương

Mong bình yên trên khắp mọi nẻo đường

​Thơ 8 chữ về tình yêu biển đảo 6:Thư tình người lính biển

Nhớ không em những ngày anh xa vắng

Em đợi chờ như đón nắng mùa đông

Nơi hậu phương em chung thủy mặn nồng

Muốn gửi tặng má hồng ra phương ấy

Sóng vẫn đấy vẫn xô bờ cát vậy

Nỗi nhớ người đưa đẩy bóng thời gian

Nghe đâu đây những cơn gió đại ngàn

Anh xin gửi những tiếng đàn ân ái

Hải âu bay sóng bạc đầu hoang hoải

Ở quê nhà em khắc khoải chờ mong

Những ái ân vẫn thầm gọi bên lòng

Dù tuyến đầu gian nan anh không ngại

Dù trong lòng trống trải rất cô đơn

Mong một mai để được thấy em hờn

Niềm hạnh phúc như tiếng đờn anh tặng.

Bài thơ tình yêu cao cả của chàng lính biển,như một bức thư tình lãng mạng dành tặng cho người yêu nơi hậu phương vẫn một lòng một dạ thủy chung son sắt chờ người yêu nơi tiền tuyến trở về

Những bài Thơ 8 chữ về biển đảo hay ý nghĩa 7:Thư tình người lính biển

Nghe em hát Biển của ta đẹp lắm

Nặng nghĩa tình rất đằm thắm Trường Sa

Có người bảo: chúng tôi lắm…anh à

Nhưng tình em vẫn đậm đà với Biển

Ở nơi ấy bão giông luôn hiện diện

Thêm kẻ thù luôn gây biến cuồng phong

Sẻ chia anh những khao khát đáy lòng

Nhiều cảm xúc thật thanh trong dào dạt

Sóng rì rào anh tưởng như lời hát

Bởi trong anh chẳng phai nhạt tình em

Nơi Biển xa bao nỗi nhớ khát thèm

Về đất mẹ đã có em hậu thuẫn

Biển ru anh biết bao ngày vương vấn

Tiếng hát em xua hết giận để thương

Hoàng Sa, Trường Sa Tổ quốc vượng trường

Để Biển mãi hòa đời thường người lính

Vẫn chung tình chứ không hề phỉnh nịnh

Yêu Biển rồi em chẳng sợ bão giông

Biển yêu nhiều, em trau chuốt má hồng

Để đón nhận một khoảng không riêng biệt

Biển xanh ơi! Hãy vẹn tròn danh tiết

Giữ tình em ta cùng viết lời ca

Không xa đâu… ơi biển, đảo Trường Sa

Em vẫn mãi giữ mặn mà anh ạ

Anh gói gọn một tình yêu sắt đá

Của em trao chẳng nghiêng ngả phiêu du

Biển của ta không bóng dáng quân thù

Em sẽ hát trọn lời ru Biển lặng.

Biển đảo nếu nghe qua lời ca câu hát vốn sẽ rất yên bình nhưng đối với những người lính phải sống và đối mặt hằng ngày nơi đó mới nhận ra hết mọi hiểm nguy.Chỉ có tình yêu đối với những người thân thương mới là động lực to lớn gửi đến các người lính nơi đảo xa

Những bài Thơ hay 8 chữ về quê hương 8:Nơi tôi sinh ra

Nơi tôi sinh tây ninh làng quê nhỏ

Không ồn ào náo nhiệt quá ai ơi

Những con đường mòn lối bước chân đi

Người qua lại ngược xuôi lặng lẽ .

Nơi tôi sinh tây ninh làng quê .nhỏ

Từng con người đều thấy rất thân quen

Phiên chợ thành ồn ã buổi chiều hoen

Đêm đèn sáng thả hồn theo làn gió .

Nơi tôi sinh con phố ngắn và hẹp

Thường rộn rã những buổi sáng ,chiều hôm

Hàng quán mọc lổn nhổn lấn ra đường

Người lao động quen ngửi mùi khói bụi .

Nơi tôi sinh con ngõ thật là nhỏ

Chỉ dài chừng hai chục bước chân

Ngõ thì thấp nhà lại phải cao lên.

Để tránh bị lụt mỗi mùa mưa bão tới .

Nơi tôi sinh con ngõ thật là nhỏ

7,8 gia đình hoà thuận sống bên nhau

Người lao động nghèo chủ yếu là chân tay .

Sống giản dị giàu tình thương đồng loại .

nhà tôi ở nơi bình dị đó đấy………..

Ai cũng sẽ có quê hương ,nơi mà ta đã sinh ra và lớn lên nơi ấy sẽ là noi đẹp nhất thế giới này như chính những gì mà ta biết về những con người ở nơi ấy ,như những kỷ niệm đã theo ta suốt những năm tháng đầu đời

Tổng hơp bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê 9:Trở lại quê hương

Tôi trở về một chiều hanh hao nắng

Dấu gót hài lấm tấm bụi đường xa

Đem lòng yêu ngọn Ấn với sông Trà

Nỗi xa quê vẫn mãi hoài thấp thỏm

Quê hương tôi nép bên dòng sông nhỏ

Mái nhà gianh khép bóng những hàng tre

Khói chiều lam rải xuống lối đi về

Gió nội đồng thơm lừng hương mái rạ

Làng tôi ở ruộng vườn xanh bát ngát

Nhà ông bà có mấy ngọn dừa cao

Hoa ngũ hương xanh đỏ khắp bờ rào

Đằng sau nhà hố bom bì bõm vịt

Làng tôi ở mỗi chiều khi gió vít

Sáo vi vu no gió những cánh diều

Đám trai làng thủ thỉ chuyện tình yêu

Làng bên kia có cô nàng xinh lắm

Làng tôi ở cạnh bên bờ xóm biển

Thuyền thúng chài trôi nổi khắp ven khơi

Nghe thoáng qua đâu đó tiếng ru hời

Giữa những hàng phi lao cần mẫn ấy

Tôi nằm đây nơi bờ đê ngày cũ

Mãi miết nhìn đàn chim mải miết bay

Mùi mặn nồng lồng ngực khiến hồn say

Đàn chiền chiện, cánh bướm vàng, tiếng nghé

Tôi nằm đây nhớ về ngày xưa cũ

Thời trẻ thơ bắt ốc với lội đồng

Đến mai này liệu biết có còn không?

Mai xa quê sẽ đau lòng lữ thứ…

Bài thơ là hình ảnh những người con xa quê tìm trở về nơi chốn cũ sau bao năm trời xa cách bài thơ miêu tả hình ảnh quê hương chân chất mộc mạc mà bình dị hình ảnh quen thuộc có ấn tượng đặc biệt trong lòng con người .

Thơ ý nghĩa 8 chữ về quê hương, làng quê 10:Quê hương tôi

Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre

Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè

Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng.

Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng

Giữ bao nhiêu kỉ niệm giữa dòng trôi?

Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!

Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ

Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ

Sông của miền Nam nước Việt thân yêu

Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

Bầy chim non bơi lội trên sông

Tôi giơ tay ôm nước vào lòng

Sông mở nước ôm tôi vào dạ

Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả

Kẻ sớm khuya chài lưới bên sông

Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng

Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

Nhưng lòng tôi như mưa nguồn, gió biển

Vẫn trở về lưu luyến bên sông

Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc

Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc

Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng “miền Nam”

Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng

Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc

Tôi nhớ cả những người không quen biết…

Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây

Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy

Hình ảnh con sông quê mát rượi

Lai láng chảy lòng tôi như suối tưới

Quê hương ơi! Lòng tôi cũng như sông

Tình Bắc Nam chung chảy một dòng

Không ghành thác nào ngăn cản được

Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mơ ước

Tôi sẽ về sông nước của quê hương

Tôi sẽ về sông nước của tình thương…

Bài thơ thể hiện sâu sắc hình ảnh quê hương được hiện lên trong từng câu chữ của bài thơ thể hiện tình yêu sâu sắc với quê hương dù cho có khoảng cách về thời gian và khoảng cách địa lý xa xôi thế nào cũng sẽ không ngăn được tình cảm yêu quê hương

​Những bài Thơ chọn lọc 8 chữ về quê hương 11:Quê hương

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

Nước bao vây cách biển nữa ngày sông

Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng

Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

Mảnh thuyền to như mảnh hồn làng

Rướn thân trằng bao la thâu góp gió.

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ

Khắp dân làng tấp nập đón ghe về

Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe

Những con cá tươi non thân bạc trắng

Dân chài lưới làng da ngăm rám nắng

Khắp thân người nồng thở vị xa xăm

Chiếc thuyền im bến mõi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

Màu nước xanh, cá bạc chiếc buồm vôi

Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi

Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá

Những bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê hay nhất 12:Xa quê hương

Xa quê hương suốt mấy chục năm rồi

Mãi trong ta nhớ miền quê yêu dấu

Cánh diều tuổi thơ lưng trâu sáo đậu

Nghe quê hương đất mẹ gọi ta về

Chân ngập ngừng lội bước tới triền đê

Đàn bướm nhỏ dập dìu hoa dại tím

Nhớ một thời tuổi thơ nhiều kỷ niệm

Gợi ta về với những giấc mơ xưa

Đồng lúa xanh non ngút ngàn nắng mưa

Đất bạc màu mẹ dày công chăm bón

Khom lưng trên đồng cõng bầu trời trĩu nặng

Úp mặt ruộng sâu góp nhặt hạt thóc rơi

Con biết quê nhà vất vả lắm mẹ ơi

Một nắng hai sương đất cằn đồng hạ

Ướt đẫm giọt mồ hôi đong đầy khoai lúa

Thấm một đời câu muối mặn gừng cay

Quê hương mình bao nỗi nhớ đong đầy

Chiếc áo tơi bốn mùa che mưa nắng

Gió lào thổi cuộc đời thêm gánh nặng

Hạt thóc vàng mẹ đánh đổi thanh xuân

Yêu quê mình ta dạo bước bâng khuâng

Bát nước chè xanh, câu hò ngọt lịm

Giọng nói quê nghe nhọc nhằn thương mến

Ta trở về nghe tiếng gọi quê hương..!

Thơ 8 chữ quê hương, làng quê 13:Quê hương tuổi thơ tôi

Tôi sinh ra nơi miền quê duyên hải

Đất Hải Phòng mê mải cánh buồm nâu

Biển quê tôi rất đẹp và rất giàu

Hoàng hôn đến với một màu tím biếc

Thời gian trôi theo dòng đời hối tiếc

Bên mái trường ta học Viết ngày xưa

Tháng 5 về mùa phượng đỏ đong đưa

Còn nhớ mãi chiều tắm mưa xóm nhỏ

Có nhiều hôm nắng chưa vờn ngọn cỏ

Cùng bạn bè theo gió thả diều quê

Bao năm rồi trong nức nở tái tê

Tìm ký ức đam mê ngày xưa ấy

Thời gian trôi như một dòng sông chẩy

Xa mất rồi ai tìm thấy được chăng

Nơi quê cũ ơi tình sâu nghĩa nặng

Tuổi thơ nào say đắm của ngày xưa …

Những bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê cảm động 14 :Tình quê

Nhớ không em thuở ấu thơ ngày ấy

Mình bên nhau khi diều giấy bay cao

Tuổi thơ xưa bên nỗi nhớ cồn cào

Còn mãi mãi đi vào trong kỷ niệm

Thời gian trôi những tháng ngày màu nhiệm

Vẩn vơ hoài còn ẩn hiện trong ta

Dù đi đâu anh vẫn nhớ quê nhà

Nhớ tuổi thơ những chiều tà bóng xế

Quê hương ơi tuổi thơ là như thế

Là chiều tà bóng xế thả diều quê

Bên bạn bè và những nỗi đam mê

Anh nhớ mãi câu thề thời thơ dại

Em đùa anh bao giờ mùa hoa cải

Nở hoa vàng ta phải chuyện trầu cau

Tuổi thơ ơi bên kỷ niệm úa nhàu

Còn nhớ mãi một màu tình quê cũ.

Thơ 8 chữ về nỗi nhớ quê hương, làng quê, 15:Nhớ lắm quê hương

Nhớ làm sao, tiếng võng giữa trưa Hè

Tiếng kẽo kẹt, ôi nghe mà thương lắm

Lời ru mãi, ngàn đời sau vẫn ấm

Mái tranh nghèo, sâu đậm…nghĩa tình xưa

Gió thổi về, theo giọt nắng đong đưa

Mây lướt nhẹ, từng cơn mưa…vội vã

Cau lại thắm, vườn trầu thêm xanh lá

Đã đến mùa, ra cấy mạ….đi thôi ‼

Chân lấm bùn, thân ướt đẫm mồ hôi

Hồn thanh thản, cuộc đời…không lo nghĩ

Đêm khuya vắng, tiếng côn trùng non nỉ

Như dặn lòng, bền bỉ…với thời gian

Những hoàng hôn, mờ nhạt khói sương tan

Dừa soi bóng, trăng vàng….in đáy nước

Quê hương đó, bao giờ ta tìm được

Đến bao giờ, dừng chân bước….tha phương.

Nhớ làm sao, tiếng võng giữa trưa HèTiếng kẽo kẹt, ôi nghe mà thương lắmLời ru mãi, ngàn đời sau vẫn ấmMái tranh nghèo, sâu đậm…nghĩa tình xưaGió thổi về, theo giọt nắng đong đưaMây lướt nhẹ, từng cơn mưa…vội vãCau lại thắm, vườn trầu thêm xanh láĐã đến mùa, ra cấy mạ….đi thôi ‼Chân lấm bùn, thân ướt đẫm mồ hôiHồn thanh thản, cuộc đời…không lo nghĩĐêm khuya vắng, tiếng côn trùng non nỉNhư dặn lòng, bền bỉ…với thời gianNhững hoàng hôn, mờ nhạt khói sương tanDừa soi bóng, trăng vàng….in đáy nướcQuê hương đó, bao giờ ta tìm đượcĐến bao giờ, dừng chân bước….tha phương.

Vforum đã sưu tầm cho bạn đọc Tổng hợp Những bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê, biển đảo hay nhất mong rằng các tác phẩm sẽ giúp cho hình ảnh đất nước Viêt Nam ngày càng tươi đẹp hơn.

Những Bài Thơ Lục Bát Về Biển Đảo, Quê Hương, Đất Nước, Con Người Việt Nam

Câu 14 Đọc Đoạn Thơ Sau Và Trả Lời …

Những Bài Thơ Hay Về Quê Hương, Đất Nước

Nhớ Con Sông Quê Hương (Tế Hanh) – Hình Ảnh Con Sông Quê Mộc Mạc Và Trong Veo

Những Bài Thơ Hay Nhất Của Nhà Thơ Tế Hanh

🌟 Home
🌟 Top