Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Hay Viết Về Quê Hương Đồng Tháp Mới Nhất

--- Bài mới hơn ---

  • 1001 Bài Thơ Chế Về Đôi Giày
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Bài: Trao Duyên ( Nguyễn Du )
  • Lập Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ “trao Duyên” Trong Truyện Kiều Lớp 10
  • Phân Tích Bài Thơ Trao Duyên Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du (Có Dàn Ý Chi Tiết)
  • Phân Tích Đoạn Trích “trao Duyên” Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • BÀI THƠ: ĐỒNG THÁP QUÊ TÔI

    Tác giả: Ngọc Chi

    Tháp Mười lừng lẫy khúc ca

    Bông sen đẹp nhất nay là Quốc hoa

    Xuôi về Cao Lãnh không xa

    Viếng thăm Lăng Mộ chan hòa tình thân

    Sông Tiền nước chảy trong ngần

    Đến thăm vườn quýt một lần thích ngay

    Trái vàng chín mộng trên cây

    Ngọt ngào thanh mát, ngất ngây lòng mình

    Nha Mân nổi tiếng câu hò

    Gái xinh, gái đẹp giỏi lo việc nhà

    Bạn ơi hãy đến đi nha

    Một lần nhớ mãi, thiết tha tình người.

    BÀI THƠ: GÁI QUÊ ĐỒNG THÁP

    Tác giả: Ngọc Chi

    Hò ơ ơ ơ ơ ơ ơ ơ…..

    Ai về Đồng Tháp quê em

    Mênh mông đồng ruộng để xem lúa vàng

    Ngắm cô thôn nữ dịu dàng

    Bên bờ lúa chín rộn ràng niềm vui

    BÀI THƠ: DUYÊN DÁNG ĐỒNG THÁP

    Tác giả: Hoàng Thanh Tâm

    Đồng Tháp bùn ngát hương sen

    Cửu Long đẹp nhất đầm sen Tháp Mười

    Tình em tình đất tình người

    Lai Vung duyên dáng nụ cười của em

    Đồng Tháp tuy xa mà gần

    Cao Lãnh gà chiến Nha Mân gái hiền.

    BÀI THƠ: VỀ THĂM ĐỒNG THÁP

    Tác giả: Trang Si

    Rừng tràm bạt ngạn mênh mông

    Đượm màu xanh thẳm dòng sông dịu hiền

    Đến đây sẽ xóa ưu phiền

    Ngỡ như đưa bạn về miền bồng lai

    Gió đâu về thổi phất phây

    Làm cho điệu nhạc ngất ngây dâng trào

    Dù là ở tận nơi nào

    Sài Gòn, Hà Nội cũng vào quê tôi

    Mặc cho đường đến xa xôi

    Bao người cũng quyết vào coi thế nào

    Nơi đây Đồng Tháp nhượm màu

    Tình quê ấm áp ngọt ngào làm sao

    Bạn rằng đang ở nơi nao

    Nhanh chân ghé đến với bao tuyệt vời..!

    BÀI THƠ: ĐẤT SEN HỒNG

    Tác giả: Yến Vân

    BÀI THƠ: THÁP MƯỜI THƯƠNG NHỚ

    Tác giả: Sông Mường

    Trái tim lụy theo em vùng kì dị

    Rực bầu trời thi vị một màu sen

    Lạc hướng bay đàn chim trắng lả chen

    Ôi lạc lỏng chiều song hành ao ước

    BÀI THƠ: ĐỒNG THÁP EM TÌM ANH

    Tác giả: Lê Ngọc Như Ý

    Bao nhiêu mệt mỏi tan nhanh

    Cùng anh đi ngắm đồng xanh bạt ngàn

    Đôi ta hạnh phúc ngập tràn

    Chuyến đi ý nghĩa của nàng thành công.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Bài Thơ Hay & Vui Viết Về Ma Quỷ, Gặp Ma
  • Bài Văn Khấn Cầu Duyên Đầy Đủ Nhất Giúp Tình Duyên Như Ý
  • Lời Bài Hát Đôi Ta Có Duyên Không Nợ
  • Tải Bài Hát Có Duyên Không Nợ
  • Duyên Cạn Rồi, Sao Còn Cố Chấp Yêu Nhau ?
  • Quê Hương Hoa Sen Đồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Cái Hay Cái Đẹp Trong Bài Thơ Duyên Của Xuân Diệu
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “Dòng Sông Mặc Áo ” Của Nguyễn Trọng Tạo
  • Bài Thơ Em Yêu Nhà Em (Đoàn Thị Lam Luyến) – “Chẳng Đâu Bằng Chính Nhà Em”
  • Phân Tích Bài Thơ Em Yêu Nhà Em
  • Tháp-Mười duyên thắng tuyệt vời

    Đầm lầy muỗi đỉa, lưng trời hạc bay

    Hoa Sen nào của riêng ai

    !

    Từ lâu, đất phương Nam từng được coi như là trung tâm của bồ lúa gạo của nước nhà, và cây trái quanh năm bốn mùa tiếp tục nở hoa tươi tốt, đó là do nhờ có những cánh đồng nông nghiệp mênh mông, vườn tược ngút ngàn, thủy lộ sông rạch giao thông thuận tiện. Tuy nhiên, về cảnh sắc ở từng địa phương thì lại cũng đã có những nét đan thanh chấm phá ngoại lệ đa dạng khác nhau. Và một trong những vùng địa lý có mang tính khác lạ hơn nơi nào hết, thì đó chính là vùng văn hóa đặc trưng miệt đầm lầy Đồng-Tháp-Mười ở lãnh thổ biên giới miền Tây Nam-bộ.Nói cách khác, ngày nay cái tên Đồng-Tháp-Mười là một địa danh không còn xa lạ gì đối với hầu hết nhân dân trong nước, mặc dù có người cả đời chưa bao giờ có dịp lãng du đến tận nơi nầy. Dẫu sao, qua các phương tiện truyền thông hiện đại thì người ta cũng từng đã biết rất nhiều về lịch sử của địa phương ở nơi đây nổi tiếng nhất là có nhiều hoa Sen, một loài hoa bình dị tầm thường nhưng lại có mang nhiều ý nghĩa thanh khiết nhất trong các muôn loài hoa dân dã.Vùng đồng lầy Đồng-Tháp-Mười là một khu lòng chảo ngập nước quanh năm có địa hình trũng sâu, về địa thế thì nằm ở đầu nguồn của sông Tiền chảy ngang qua từ nơi biên giới, và được trải rộng ra trên 3 tỉnh Long-An, Tiền-Giang và Đồng-Tháp. Còn cái tên Đồng-Tháp-Mười, thì người ta được biết tới từ hồi đầu thế kỷ 19 trong quá trình khẩn hoang và lưu trú của cư dân ở vào thời kỳ đó. Ngày trước, dưới thời Nam tiến của người Việt thì Đồng-Tháp-Mười được coi như là một vùng đầm lầy hoang dại, giang sơn của muôn loài thú dữ tung hoành trên rừng, dưới nước, và gây rất nhiều trở ngại khó khăn nhất cho công cuộc phát triển dinh điền, khẩn hoang lập ấp của các triều nhà Nguyễn vào lúc bấy giờ. Ở đây, bùn sình lầy bước chân không đi được, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh bềnh như bánh canh, dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua. Trăn, rắn rết bò dọc, bò ngang lổn ngổn, chuột đồng to béo nhởn nhơ, từng bầy khỉ vượn nhảy nhót hú vang chuyền cành. Tôm, rùa, cá…bơi lội thư thả dưới đồng lầy, lau lách tha hồ đua nhau vươn mọc um tùm trên gò sâu, gò cạn. Chim chóc tập họp thành từng đàn, cất cánh chao liệng trên toàn cả một cánh đồng thiên nhiên, bao la chứa đầy ngập nước. Cùng chen lẩn sống chung trong môi trường động thực vật đó, còn có sự sinh tồn của nhiều loài phiêu lưu thảo và các loài hoa hoang dã hằng ngày khoe sắc, đổi màu theo thời gian từ hằng thế kỷ đã trôi chúng tôi nhiên, ngày nay trước ý chí quyết tâm khắc phục và tinh thần khai phá của con người trong cuộc hành trình đi tìm mảnh đất cắm dùi, để mong đổi thay cuộc sống cho bằng được, thì hầu hết cuộc diện cảnh trí ở nơi đây, giờ nầy đã bị hoàn toàn khác lại.

    Quê hương chỉ một, không hai Tháp-Mười*Từ lâu, đất phương Nam từng được coi như là trung tâm của bồ lúa gạo của nước nhà, và cây trái quanh năm bốn mùa tiếp tục nở hoa tươi tốt, đó là do nhờ có những cánh đồng nông nghiệp mênh mông, vườn tược ngút ngàn, thủy lộ sông rạch giao thông thuận tiện. Tuy nhiên, về cảnh sắc ở từng địa phương thì lại cũng đã có những nét đan thanh chấm phá ngoại lệ đa dạng khác nhau. Và một trong những vùng địa lý có mang tính khác lạ hơn nơi nào hết, thì đó chính là vùng văn hóa đặc trưng miệt đầm lầy Đồng-Tháp-Mười ở lãnh thổ biên giới miền Tây Nam-bộ.Nói cách khác, ngày nay cái tên Đồng-Tháp-Mười là một địa danh không còn xa lạ gì đối với hầu hết nhân dân trong nước, mặc dù có người cả đời chưa bao giờ có dịp lãng du đến tận nơi nầy. Dẫu sao, qua các phương tiện truyền thông hiện đại thì người ta cũng từng đã biết rất nhiều về lịch sử của địa phương ở nơi đây nổi tiếng nhất là có nhiều hoa Sen, một loài hoa bình dị tầm thường nhưng lại có mang nhiều ý nghĩa thanh khiết nhất trong các muôn loài hoa dân dã.Vùng đồng lầy Đồng-Tháp-Mười là một khu lòng chảo ngập nước quanh năm có địa hình trũng sâu, về địa thế thì nằm ở đầu nguồn của sông Tiền chảy ngang qua từ nơi biên giới, và được trải rộng ra trên 3 tỉnh Long-An, Tiền-Giang và Đồng-Tháp. Còn cái tên Đồng-Tháp-Mười, thì người ta được biết tới từ hồi đầu thế kỷ 19 trong quá trình khẩn hoang và lưu trú của cư dân ở vào thời kỳ đó. Ngày trước, dưới thời Nam tiến của người Việt thì Đồng-Tháp-Mười được coi như là một vùng đầm lầy hoang dại, giang sơn của muôn loài thú dữ tung hoành trên rừng, dưới nước, và gây rất nhiều trở ngại khó khăn nhất cho công cuộc phát triển dinh điền, khẩn hoang lập ấp của các triều nhà Nguyễn vào lúc bấy giờ. Ở đây, bùn sình lầy bước chân không đi được, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh bềnh như bánh canh, dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua. Trăn, rắn rết bò dọc, bò ngang lổn ngổn, chuột đồng to béo nhởn nhơ, từng bầy khỉ vượn nhảy nhót hú vang chuyền cành. Tôm, rùa, cá…bơi lội thư thả dưới đồng lầy, lau lách tha hồ đua nhau vươn mọc um tùm trên gò sâu, gò cạn. Chim chóc tập họp thành từng đàn, cất cánh chao liệng trên toàn cả một cánh đồng thiên nhiên, bao la chứa đầy ngập nước. Cùng chen lẩn sống chung trong môi trường động thực vật đó, còn có sự sinh tồn của nhiều loài phiêu lưu thảo và các loài hoa hoang dã hằng ngày khoe sắc, đổi màu theo thời gian từ hằng thế kỷ đã trôi chúng tôi nhiên, ngày nay trước ý chí quyết tâm khắc phục và tinh thần khai phá của con người trong cuộc hành trình đi tìm mảnh đất cắm dùi, để mong đổi thay cuộc sống cho bằng được, thì hầu hết cuộc diện cảnh trí ở nơi đây, giờ nầy đã bị hoàn toàn khác lại.

    Đồng-Tháp-Mười ngày nay

    Các hình thức cấu trúc cơ sở hạ tầng, từ đường sá, cầu kỳ, chợ búa, công trình phúc lợi cho đến nhà cửa, tụ điểm văn hóa, tâm linh, ruộng đồng, vườn tược, đầm sen…nói chung là làng mạc, phố phường. Từ lâu, nó từng đã được lớp người tiền phong dồn hết mọi nỗ lực để đầu tư trí tuệ. Cũng như, cùng với mồ hôi từ bàn tay lao động khổ nhọc không ngừng nghỉ của con người địa phương trải qua bao thế hệ tiếp nối thay nhau dựng xây thành hình, thì nay đã đâu ra đó. Đó, cũng chính là hình ảnh của những ấp, xã, huyện, thành phố từ bao năm qua từng đã được quy hoạch, chỉnh trang, phát triển mở mang kiến thiết không ngừng. Và ngày nay, theo cuộc cải tổ về hành chính sau cùng vào ngày 14-10-2013, thì tỉnh Đồng-Tháp gồm có 2 thành phố là Cao-Lãnh và Sa-Đéc, 1 thị xã Hồng-Ngự. Và 9 huyện là: Châu-Thành, Cao-Lãnh, Hồng-Ngự, Lấp-Vò, Lai-Vung, Tam-Nông, Tân-Hồng, Thanh-Bình và Tháp-Mười. Thành phố Cao- Lãnh chính thức được chọn làm tỉnh lị cho tỉnh Đồng-Tháp thay thế cho thành phố Sa-Đéc kể từ năm 2007, và nay được coi như là điểm tựa và cơ sở hạ tầng cho sự phát triển kinh tế đặc khu vùng Đồng-Tháp-Mười.

    Với tổng diện tích tự nhiên là 3.238km2, trong đó có tới 2/3 diện tích tự nhiên thuộc khu vực Đồng-Tháp-Mười, điều nầy, là một chứng minh về địa thế cũng như về địa lý của tỉnh Đồng-Tháp được coi như là một vùng văn hóa đặc trưng của miền đầm lầy sông nước phương Nam. Hơn thế nữa, là một tỉnh có đường biên giới giáp ranh với lãnh thổ Campuchia dài khoảng chừng 50km, cho nên ngày xưa thì mọi sự giao lưu, tiếp cận của cư dân ở hai quốc gia thường chủ yếu dùng lộ trình giao thông đường thủy. Còn ngày nay, thì được thuận tiện hơn nhiều là nhờ do có 4 của khẩu đường bộ là Thông-Bình, Dinh-Bà, Mỹ-Cân và Thường-Phước, các địa điểm nầy nằm cách khoảng nhau từ huyện Tân-Hồng cho tới huyện Hồng-Ngự. Do vậy, mặc dù có địa lý nằm chung trong vùng đồng bằng sông Cửu-Long** nhưng Đồng-Tháp lại là một trong những tỉnh có nhiều dáng vẻ mang đậm chất thiên nhiên cá biệt nhất ở miền Tây.

    Bản đồ tỉnh Đồng-ThápChính vì vậy, mà thời gian qua trong định hướng phát triển về kinh tế, xã hội mới bây giờ thì người dân Đồng-Tháp đã tìm thấy được đâu là thế mạnh của quê hương mình. Và cũng không trễ hẹn, để sẵn sàng tiếp lửa cho những công trình thực hiện các dự án đầu tư mở mang kinh tế về ngành du lịch ở ngay tại địa phương nhà. Thực ra, tiềm năng khai thác phát triển du lịch ở Đồng-Tháp có đầy triển vọng thu hút khách du lịch sinh thái đến từ khắp bốn phương. Tuy nhiên, có thể vì còn có những lý do bị hạn chế trong hoàn cảnh thực tế. Cho nên, sự quảng bá duyên dáng Đồng-Tháp chưa được thể hiện ra cho hết đúng với ý nghĩa giá trị du lịch sinh thái. Và văn hóa cộng đồng của nó, là một thắng cảnh địa phương nên thơ trữ tình, hồn nhiên dân dã miệt đầm lầy, vô cùng thích hợp cho những con người từ lâu có ý muốn tìm đến để tham quan, khám phá.

    Vả lại, từ lâu hình như người ta cũng đã từng được nghe biết về câu ca dao nổi tiếng “Tháp-Mười đẹp nhất bông Sen”. Điều nầy, thật không quá đáng chút nào! Thực vậy, trong quá khứ cũng như hiện tại Đồng-Tháp-Mười lúc nào cũng vẫn thuần khiết như hồn sen do nhờ có cảnh quan bao la thiên nhiên, tự bao đời thủy chung hòa quyện hình ảnh của những đầm sen rực nở vào trong cuộc sống của tình người dân dã. Hơn thế nữa, nói cách khác thì từ lâu Đồng-Tháp-Mười cũng đã từng tự hào được mệnh danh chính là quê hương hoa sen, mà hoa Sen thì lại còn là một biểu tượng thanh cao về ý nghĩa tâm linh trong tín ngưỡng của con người. Vì thế, trong tương lai Đồng-Tháp-Mười sẽ có nhiều triển vọng để trở thành một điểm hẹn làm quen cho những thành phần du khách có vốn tâm hồn bình dị, thích trở về gần gũi với phong cảnh đồng quê, miệt vườn.

    Thuyền đưa du khách tham quan

    Trong tỉnh Đồng-Tháp, huyện Tháp-Mười là nơi nổi tiếng có rất nhiều đầm sen rộng lớn nhất trong cả nước, từ đầm nọ sang tiếp đầm kia, và chủ yếu được được tập trung tại xã Mỹ-Hòa cạnh khu di tích Gò-Tháp. Ở đây, vào mùa sen mãn khai nở rộ lên đồng loạt, hoa sen rực đỏ hồng, nhụy vàng lấm tấm khoe sắc, khoe màu, hương sen lan tỏa ra ngào ngạt khắp cả một vùng đầm lầy sông nước. Nhờ vậy, dù cho có nắng gắt tới đâu thì người ta cũng đều có cảm tưởng như là trời không có nóng, vì thế cho nên bao giờ họ cũng thấy tâm hồn dễ chịu, thoải mái, bình an. Còn toàn khu lòng chảo Đồng-Tháp-Mười thì lại là một vùng đất trũng mênh mông, rộng khoảng 700.000ha. Trong mùa nước nổi, thì nước sông Cửu-Long dâng cao tràn vào Biển-Hồ (Campuchia), rồi sau đó tiếp tục chảy xuống hạ lưu tràn vào Đồng-Tháp-Mười, khiến cho hai vùng địa lý nầy trở thành nơi chứa nước dự trữ thiên nhiên vô cùng ích lợi cho việc đánh bắt thủy sản và nhu cầu nông nghiệp. Riêng tại VN, mỗi khi đến mùa nước nổi (thường bắt đầu từ khoảng rằm tháng 8 ÂL) thì Đồng-Tháp-Mười được dịp khoác lên mình một hình ảnh xinh tươi mới, để hoà quyện sắc màu cảnh vật thiên nhiên bạt ngàn những rừng tràm, đồng lúa, đầm sen…Và thời gian đó cũng là lúc thích hợp nhất, để cho người dân đi săn chuột đồng, đặt lờ, giăng lưới, cắm câu.

    Thời còn chiến tranh Đông-Dương, thì toàn vùng Đồng-Tháp-Mười có cái tên là Plaine des Joncs (Đồng Cỏ Lác), trong đó có một hình ảnh chốn hoang sơ rùng rợn khác được người dân gọi là Bưng-Sấu-Hì, là nơi có rất nhiều cá sấu từng gieo tại họa cho người dân vào lúc bấy giờ. Còn bây giờ, thì cánh đồng cỏ ma, và cánh đồng lúa ma lớn lao nhất vùng ĐBSCL còn sót lại hiện chính là một cảnh quan bao la khác lạ, hiếm hoi tìm thấy trong bất cứ nơi nào khác ở đất phương Nam.

    Và dáng đứng của quê hương hoa sen khi xưa tuy từng được gọi là một địa danh cá biệt nổi tiếng ở miền Tây, nhưng trong thực tế vào lúc bấy giờ thì lại có rất ít người dân ở đất phương Nam lưu tâm về một vùng địa lý sâu xa, có đường giao thông trắc trở nầy.

    Cho dù là:

    Tháp-Mười duyên thắng tuyệt vời

    Đầm lầy muỗi đỉa, lưng trời hạc bay

    Hoa Sen nào của riêng ai!

    Quê hương chỉ một, không hai Tháp-Mười*

    Cảnh quan thanh bình ở Đồng-Tháp-Mười

    Đầm sen ở Tháp-Mười

    Giờ đây thì khác, cái tên Đồng-Tháp-Mười đã trở hành thân quen nghe qua rất êm tai. Nó có vẻ bình dị, mộc mạc, và gần gũi trong tâm hồn chơn chất của người dân tuy họ cũng không rõ xuất xứ chính xác từ thời gian nào, cho dù từ lâu cũng đã có nhiều giả thuyết nói về địa danh đó. Tuy nhiên, trong quá nhiều giả thuyết được đưa ra, thì có thể giả thuyết cho rằng Tháp-Mười là một cái tháp bằng đá có vị trí đứng hàng thứ 10 được xây cất lên dưới triều vua Chân-Lạp Jayavarman VII (1181-1218) là hợp lý. Sự kiện nầy cũng đã được nhà khảo cổ Henri Parmentier và Jean-Yves Claeys (người Pháp) phát hiện vào năm 1932, khi ông tìm thấy ở khu vực Tháp-Mười có một cái tháp đứng hàng thứ mười trên bia có ghi bằng tiếng Phạn (Sanskrit) là ngôi tháp thứ mười. Tuy nhiên, một giả thuyết khác cho đó là cái tháp canh có 10 tầng, hoặc tháp canh thứ mười (bắt đầu từ khu vực Ba-Sao đến Gò-Tháp) của nghĩa quân Thiên-Hộ-Dương cất lên để canh chừng giặc Pháp thì có lẽ là hợp lý nhất.

    Ở đất miền Tây, ai cũng biết đến Thiên-Hộ-Dương là một vị lãnh tụ lừng danh của phong trào khởi nghĩa chống giặc xâm lăng Pháp. Ông tên thật là Võ-Duy-Dương (1827-1866), sinh quán tại Bình-Định. Lớn lên vào Nam lập nghiệp, và sau đó gia nhập vào phong trào kháng chiến dân tộc giải phóng nô lệ ngoại bang, và ông được vua Tự-Đức phong cho chức Thiên-Hộ. Phó tướng của ông là Đốc-Binh-Kiều, tên thật là Nguyễn-Tấn-Kiều sinh ở miền Trung và khi lớn lên thì cũng vào Nam lập nghiệp. Cả hai ông đều là những người lãnh đạo đoàn nghĩa quân kháng chiến chống giặc Pháp ở tại địa bàn vùng Đồng-Tháp-Mười, sau khi đồn Kỳ-Hòa ở Gia-Định bị thất thủ. Vào lúc bấy giờ thì địa thế, địa hình Đồng-Tháp-Mười có đầy muỗi mòng, đỉa, rắn…được coi như là một vùng đầm lầy vô cùng hiểm trở vào bậc nhất ở miền Nam. Vì thế cho nên, các ông đã tận dụng ưu thế cứ địa dể áp dụng chiến thuật du kích làm cho tiêu hao lần mòn sức mạnh của quân thù. Trong bối cảnh lịch sử thành lập chiến khu đó, cho nên mọi công sự như dùng tháp canh dùng để canh chừng bóng dáng quân giặc là không thể không có.

    Và suốt trong thời kỳ gian khổ chống giặc, nghĩa quân dưới sự chỉ huy của hai ông đã kiên trì quyết tâm cố thủ cứ địa Đồng-Tháp-Mười, biến nơi đây trở thành một chiến khu huyền thoại, vì đây là ở chốn bưng biền, chớ không phải là vùng địa hình có địa thế núi cao, rừng sâu bí hiểm. Vậy mà lực lượng võ trang quân sự thô sơ của du kích quân vào lúc bấy giờ cũng đã làm cho giặc nhiều phen phải khiếp sợ, và bị tổn thất khá nặng nề.

    Đối với người dân Đồng-Tháp, thì ngày nay hình ảnh của hai ông chính là những vị anh hùng liêt sĩ tiêu biểu đã làm nên trang lịch sử vẻ vang, ngàn đời lưu lại tiếng thơm phảng phất, lan lẫn vào quê hương hoa sen mà hầu hết mọi người đều rất mực một lòng kính trọng, và tôn thờ không dứt khói hương. Và sau đây, là một bài thơ cảm động được lưu truyền của người dân đất phương Nam luôn luôn tưởng nhớ đến công đức của nhị vị tiền hiền. .

    Vì nước quên mình bởi chữ trung,

    Thương dân chi sá chốn sình bùn,

    Mấy năm Đồng-Tháp danh vang dội,

    Cọp rống ngoài truông, cáo hãi hùng,

    Hai thước im lìm nơi thạch động,

    Đồng bào tưởng nhớ đứng thờ chung,

    Nỗi lòng nghĩ đến nhiều năm trước,

    Hương lửa đều không cảnh lạnh lùng.

    Tượng Thiên-Hộ-Dương Tượng Đốc-Binh-Kiều

    trong Bảo-Tàng Đồng-Tháp (Cao-Lãnh)

    Đền thờ Thiên-Hộ-Dương

    và Đốc-Binh-Kiều tại huyện Tháp-Mười

    Giờ đây, lại nói về quê hương hoa sen thì từ lâu người dân địa phương cũng đã từng có sáng kiến phát triển kinh kế du lịch, cùng với mục đích phát huy tình yêu hoa sen trong văn hóa cộng đồng. Và họ đã tạo ra một khu du lịch sinh thái đầu tiên mang tên là Đồng-Sen ở tại tỉnh nhà, để nhằm đáp ứng nhu cầu cho khách tham quan có dịp tìm hiểu về nét độc đáo của vùng đầm lầy sông nước. Tuy nhiên, ngày nay thì lại có phong trào kinh doanh chạy theo lợi nhuận đã bắt đầu có chiều hướng bột phát đang nở rộ lên ở Đồng-Tháp, và cạnh tranh nhau ráo riết. Cho nên, khu du lịch Đồng-Sen trong thời điểm nầy đã phải tạm ngưng hoạt động để tổ chức lại được hoàn hảo hơn. Dẫu sao, bất cứ lúc nào khách viễn phương vừa mới lạc bước đến nơi đây thì cũng đều có cảm tưởng chung như là mình vừa trút bỏ được một cái thế giới thị thành ô nhiễm, náo nhiệt. Giữa những đầm nước sen hồng, gió thổi quyện mùi hương sen thơm ngát, xa xa thấp thoáng có bóng dáng chim trời bay lượn dưới chân mây làm cho du khách thường không bỏ lỡ cơ hội để lưu lại những kỷ niệm hình ảnh phút giây ấn tượng, lãng mạn và đầy chất thơ.

    Khu du lịch Đồng-SenVà thật cũng không phải chẳng có nguyên do mà hình ảnh hoa sen thường được dân gian nói nhiều về sự công dụng hữu hiệu của nó.Trong văn hóa và cốt cách tâm linh, thì hình ảnh sinh tồn của hoa Sen là thể hiện cho tinh thần vô nhiễm (cư trần bất nhiễm trần) của Phật-giáo. Vẻ đẹp thuần khiết và ý nghĩa thanh cao của nó từ ngàn xưa đã bám rễ, ăn sâu vào cá tính nhân văn của người dân Việt. Và nó cũng đã từng gợi nguồn cảm hứng cho biết bao nhiêu là đề tài về văn thơ, hội họa, điêu khắc, kiến trúc v.v cho hầu hết thế nhân không phân biệt biên cương chủng tộc, màu da. Nói cách khác, hình ảnh sinh tồn của hoa Sen chính là điển hình cho một tấm gương trong sáng, để cho người đời nhìn vào cảm nhận được thế nào là biểu tượng cho một cuộc sống phong thái, tao nhã, tự tin với một bản năng tinh thần tinh túy mạnh mẽ lạ kỳ, không hề vẩn đục. Hơn thế nữa, ngoài nét đẹp thanh cao là Vua của loài hoa thuần khiết gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, thì công dụng của toàn cả cây sen cũng đã có công đem lại rất nhiều về mọi sự ích lợi vào trong đời sống thực vật của con người.

    Theo khoa Đông-y từ xưa, thì Sen là một loài cây thuốc phổ thông gồm có bát dược tính được phân tích ra như sau: Ngó sen là vị liên ngẫu. Thân sen là vị liên chi. Lá sen là vị liên diệc. Hoa sen là vị liên hoa. Tua sen là vị liên tu. Đài sen là vị liên phòng. Hạt sen là vị liên nhục. Giữa hạt sen là vị liên tâm. Tất cả vị thuốc tên đây đều được bào chế ra từ cây sen dưới mọi hình thức, dùng để trị những chứng bệnh như nào là mất ngủ, dưỡng da, chống lão hóa, giảm cholestérol, giải nhiệt v.v. Còn trong đời sống văn hóa truyền thống dân gian với nếp sinh hoạt cố hữu, thì họ thường dùng hoa sen để chưng bày trang trí cúng lễ, lá sen thì để gói bánh mang lại mùi thơm. Riêng về ẩm thực, thì hột sen, củ sen, ngó sen, tim sen lại là những món ăn bổ dưỡng quen thuộc sau khi được biến chế thành mức, thành chè, thành gỏi hay ướp hương thành trà sen, ăn uống rất thơm ngon.

    Trà ướp senHiện nay trên thế giới có rất nhiều chủng loại hoa sen mang màu sắc khác nhau, tuy nhiên, chỉ có vài màu sắc hoa sen thường được người ta nói đến nhiều nhất là sen hồng, đỏ (hồng liên), sen trắng (bạch liên), sen vàng (kim liên), và sen xanh (thanh liên).

    Sen hồng (Nelumbo nucifera) xuất hiện nhiều nhất ở châu Á. Sen trắng (Nelumbo lutea) xuất hiện nhiều nhất ở tiểu bang Illinois (Hoa-Kỳ). Sen vàng Mỹ (American Lotus) xuất hiện từ tiểu bang Texas và Florida (Hoa-Kỳ). Sen đỏ (Nymphaea rubra) xuất hiện ở các nước như Afghanistan, Bangladesh, Inde, Indonesie, Myanmar, Népal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Thái-Lan và Nouvelle-Guinée). Và Sen xanh (Nymphaea Caerulea) xuất hiện ở Ai-Cập. Mỗi một loại sắc màu hoa sen đều có mang một ý nghĩa đặc trưng cá biệt, cũng như từng đã tạo ra bao nguồn cảm hứng để cho người đời ghi chép đi vào thế giới hồn thơ nhạc. Và cho dù là loại sen nào đi nữa, thì nó cũng được gắn liền vào hình ảnh trang hoàng sắc hương vào cuộc sống hoàn mỹ của con người.

    Sen hồng ở Đồng-Tháp-Mười

    Sen trắng

    Sen vàng

    Sen xanh

    Sen đỏ

    Đặc biệt nói về lá sen, thì ở tại chùa Phước-Kiển, Nha-Mân, Đồng-Tháp ngày nay lại cũng có trồng một loại cây sen đặc biệt là có màu sắc thay đổi tới bốn màu trong một ngày. Thường thì từ sáng sớm tinh sương hoa màu trắng tuyết, và kéo dài cho tới khi sang quá giờ ngọ thì lại đổi thành màu hồng, về càng xế chiều hoa chuyển thành màu tím, rồi đỏ khi trời vừa tắt nắng. Chu kỳ sinh tồn của hoa rất ngắn, chỉ nở trong đôi ba ngày thì tàn tạ, tuy nhiên, khi cánh hoa nầy tàn thì hoa khác lại bắt đầu mọc lên và hé nở. Loại hoa sen nầy có tên là Victoria Regia (gốc ở quanh vùng sông Amazone Nam-Mỹ). Hình dáng vô cùng đặc biệt của nó là có nhô lên những lá sen khổng lồ, mặt lá tròn, vành cong lên từa tựa như những cái nia đãi lúa hay nón quai thao, bên dưới đầy gai nhọn cứng, đường kính của nó lên tới gần 3m khi vào mùa nước nổi sen hút nước nhiều Và nó có thể chịu đựng, với sức nặng của một người khoảng 60kg đứng lên trên mà không bị gãy. Người địa phương gọi đó là sen Vua, còn cái ao sen đó thì là dấu tích xưa của các hố bom sau thời kỳ chiến tranh còn để lại. Riêng chùa Phước-Kiển ngày nay thì cũng còn được nhiều người quen gọi nhiều hơn, với cái tên là chùa Lá Sen.

    Lá sen khỏng lồ

    trong khuôn viên chùa Phước-KiểnĐồng-Tháp cách Hồ-Chí-Minh 143km theo quốc lộ chính, vào đến trung tâm tỉnh lị thành phố Cao-Lãnh thì 154km. Tại bến xe miền Tây hiện nay có rất nhiều hãng xe chạy thẳng về Đồng-Tháp theo lộ trình ngang qua vòng xoáy Trung-Lương ở Mỹ-Tho, tiếp tục theo quốc lộ về Vĩnh-Long, rồi một đoạn sau đó rẽ mặt chạy về địa phận Đồng-Tháp. Tình trạng dân số tỉnh Đồng-Tháp theo số liệu thống kê từ năm 2013 thì tổng cộng có được 1.680.300 người, trong đó có khoảng gần 300.000 người sống ở thành thị và số còn lại sống rải rác ở nông thôn. Các sắc dân thì gồm có cư dân Việt, Khmer, Hoa, Chăm, Thái, Mường, Tày và Ngái (một trong 54 sắc tộc có ít người nhất hiện nay ở trong nước) cùng một số ít là người nước ngoài. Là một tỉnh rất nghèo về tài nguyên khoáng sản, Đồng-Tháp chỉ trông cậy vào với tài nguyên nước dồi dào của nguồn sông Cửu-Long, cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt, để phát triển địa phương về nhiều lãnh vực phục vụ đáp ứng nhu cầu nông nghiệp, hoa màu. Ngành kinh tế du lịch địa phương thì đang trên đà khai thác mở mang, nhưng cũng có thể được coi như là hiện còn trong tình trạng phôi thai nếu đem so với nhiều địa phương khác đã đi trước hơn từ lâu. Lý do chính vì các cơ sở hạ tầng ở đây còn yếu kém, chưa phát triển đồng bộ, nhất là về mặt giao thông.

    Tuy nhiên, không phải vì thế mà Đồng-Tháp không phải là nơi lựa chọn không thích hợp, để cho những thành phần du khách sành điệu tìm đến tận nơi nầy tận hưởng những thú vị và có cảm giác riêng về sắc thái ở địa phương. Thực vậy, ngoài cảnh quan khác lạ quê hương có 1 không 2 Tháp-Mười, thì các đặc sản ẩm thực hấp dẫn miệt đầm lầy ở đây, chắc chắn cũng có thể đem lại cho thực khách những hương vị đậm đà, khoái khẩu. Như nào là cá lóc nướng trui cuốn lá sen non, rượu sen, hủ tiếu Sa-Đéc, bành xèo, vịt nướng Cao-Lãnh, nem Lai-Vung, gà đập đất, ốc nướng tiêu, lẫu mắm, bánh phồng tôm v.v.. Đặc biệt, là món ăn chuột đồng quay lu, chuột nướng mùi rất thơm ngon nhưng có nhiều du khách thấy sợ không bao giờ dám ăn, vì không quen.

    Cá lóc cuốn lá sen non

    Chuột quay lu và khô chuột đồng phơi nắngTrong thành phố Cao-Lãnh có ngôi chợ khang trang, có Bảo-Tàng trưng bày các di tích lịch sử, và còn có khu di tích Nguyễn-Sinh-Sắc được khánh thành từ năm 2010. Phó bảng Nguyễn-Sinh-Sắc (1862-1929) nguyên là một nho sĩ yêu nước sinh quán ở miền Trung và có đi làm quan lại vào lúc bấy giờ. Sau khi bị cách chức, ông vào Nam (tại Cao-Lãnh) hành nghề thầy thuốc và sống cuộc đời thanh bạch tại làng Hòa-An cho đến khi qua đời. Đây là một địa điểm hiện nay được các tour du lịch tổ chức đưa du khách đến viếng thăm, thư dãn do nhờ có cảnh quan được trùng tu khang trang, thoáng rộng hơn xưa.

    Chợ Cao-Lãnh

    Bảo tàng Đồng-Tháp

    Khu di tích Nguyễn-Sinh-Sắc

    Thành phố thứ nhì của tỉnh Đồng-Tháp là Sa-Đéc. Sa-Đéc nguyên là vùng đất của Thủy-Chân-Lạp, và có tên là Phsar-Dek. Ngày xưa Sa-Đéc từng là tỉnh lị của tỉnh Sa-Đéc, nay tuy không còn giữ vai trò trọng yếu tỉnh lị của tỉnh Đồng-Tháp nữa nhưng bề dày của lịch sử quá khứ hãy còn lưu giữ lại nhiều di tích, và ảnh hưởng xã hội rất nhiều ở tại địa phương. Ở đất phương Nam ngày trước, nếu như người ta thường được nghe nói đến cục đất Mỹ-Tho là nơi “phong hồi thủy tụ” (gió nước hợp hòa) thì Sa-Đéc vào lúc bấy giờ, cũng từng được người ta gọi là vùng “lưu thông quán khái”(sông sâu nước chảy), đất đai phì nhiêu, cỏ hoa tươi tốt, sinh hoạt dân gian diễn ra náo nhiệt hằng ngày. Chợ búa, phố phường in hình trên sóng nước ven sông, hàng hóa bán buôn bày la liệt trên khắp các vỉa hè, đường phố.

    Cầu Sa-Đéc ngày xưa

    Là một thành phố được thành hình lâu đời do nhờ có địa lý thuận tiện về mặt giao thông, vì thế cho nên nơi đây hiện còn có nhiều chứng tích văn hóa tâm linh chùa chiền cổ, nhất là chùa ông Quách, và các nhà cửa kiểu xưa thời Pháp để lại. Và bây giờ, trên con đường mở mang hiện đại hóa, thì Sa-Đéc cũng có thêm những khu công nghiệp, những trung tâm thương mại lớn, những trung tâm vui chơi giải trí như rạp chiếu phim 3D, quán bar, trò chơi điện tử, công viên thoáng rộng hữu tình.

    Chợ Sa-Đéc

    Kiến-An-Cung hay chùa ông Quách

    là một ngôi chùa cổ nổi tiếng của người Hoa (Phúc-Kiến)Và thông thường, mỗi khi du khách vừa đặt bước chân vào trung tâm thành phố Sa-Đéc, thì hướng dẫn viên du lịch cũng không bao giờ quên giới thiệu về các đặc sản địa phương như bánh phồng tôm Sa-Giang, nem, quýt Lai-Vung, xoài Cao -Lãnh v.v. Đặc biệt, là về món ẩm thực nổi tiếng ở địa phương từ lâu là hủ tiếu Sa-Đéc từ lâu được rất nhiều người từng có dịp thưởng thức.

    Tô hủ tiếu Sa-Đéc khổng lồ 

    Giỏ hoa tươi lớn nhất VN

    Tỉnh Đồng-Tháp xưa nay còn có một nơi nổi tiếng khác lạ nữa, đó là về hình ảnh của làng nghề trồng hoa ở Tân-Quy-Đông. Làng hoa Tân-Quy-Đông là một làng hoa lớn nhất ở trong nước, và từ lâu được coi như là trung tâm hoa giống của tỉnh Sa-Đéc. Tại đây, có tới gần 2.000 gia đình sinh sống chủ yếu vào nghề trồng hoa trong một diện tích canh tác trồng trọt khoảng 250ha. Từ lâu, làng hoa Tân-Quy-Đông cũng là một địa phương nổi tiếng là có trồng trọt rất nhiều loại hoa xinh đẹp, không những cung cấp cho thị trường tiêu thụ ở trong nước, mà còn xuất khẩu sang Cam-Bốt, và Lào. Tại đây, không khí hương thơm ngào ngạt tỏa ra từ các loại hoa mai chiếu thủy, thược dược, lan, cúc, hoa tử-dương (tú cấu), cau bình rượu, hoa dâm bụt, hoa nước ngoài như vạn thọ Pháp, tùng Nhật-Bản, hoa hồng v.v. Đặc biệt, vào những mùa Xuân về, Tết đến khách du Xuân tìm đến làng hoa Sa-Đéc rất đông để xem muôn loài hoa nở ngập tràn hương sắc, và cũng để mua về trang trí, chưng bày ở trong nhà.

    Làng hoa Tân-Quy-Đông

    Hoa nở rộ vàng ngập cánh đồngTại VN, sau ngày thống nhất nước nhà thì ở trên toàn cõi dải đất phương Nam, nói riêng, chỗ nào cũng không khỏi có ít nhiều di tích của chiến tranh còn để lại. Và nếu ở miền Đông Nam-bộ có khu di tích là địa đạo Củ-Chi, thì ở miền Tây Nam-bộ cũng có khu di tích mương hào Xẻo-Quít. Mương hào Xẻo-Quít là một công trình đào đắp tạo nên một hệ thống đường thủy nhỏ hẹp, nằm lõm trong vùng kênh rạch chằng chịt có địa thế, địa hình trắc trở. Và có tác dụng hữu hiệu dùng để chuyển quân cũng như vũ khí trong rừng tràm Đồng-Tháp-Mười ngày xưa, và nay được đưa vào khai thác du lịch. Tại đây, không khí trong lành, phong cảnh thiên nhiên thanh tịnh, sâu lắng, từng gây nhiều ấn tượng trong tâm hồn du khách khi có dịp viếng thăm, và được ngồi trên những chiếc xuồng lòn lách trôi qua những mương đào dưới rừng tràm xanh thẩm ngút ngàn.

    Khu di tích lịch sử Xẻo-Quít

    Đồng-Tháp hãy còn nhiều địa điểm du lịch vô cùng lý thú, và nếu khách viễn phương có thì giờ, thì hãy nên lợi dụng cơ hội để tham quan đầy đủ cho thỏa mãn tình yêu quê hương hoa sen hằng mong đợi bấy lâu. Và một trong những di tích xa xưa nhất ở miền Nam, thì đó chính là khu di tích Gò-Tháp.

    Nền tháp di tích văn hóa Óc-Eo

    Các tượng đá biểu trưng cho nền văn hóa Óc-Eo

    Khu di tích Gò-Tháp là một khu vực gồm có nhiều gò nhỏ, thấp nằm trên một vùng đất pha cát ở trong huyện Tháp-Mười, cách thành phố Cao-Lãnh 43km, và là một trong những dấu vết văn minh, văn hóa Óc-Eo của vương quốc Phù Nam còn sót lại ở trên dải đất miền Nam VN. Vào mùa nước nổi, toàn khu di tích ngập tràn đồng nước mênh mông, trên gò cao có nhiều cây cổ thụ hàng trăm tuổi sừng sững vươn mình trên cánh đồng bao la đan xen màu lục loài cây cỏ tạo thành một bức tranh thiên nhiên thơ mộng, hữu tình, khiến cho lòng du khách tự dưng cảm khái yên bình, thư thái.

    Gò-Tháp có chiều cao so với mặt đất ruộng chung quanh là 3m80, có một diện tích chừng 4.500m2. Và tuy không có vị trí quan trọng tầm cỡ cho bằng khu di tích Óc-Eo ở Ba-Thê, An-Giang (nơi từng được các nhà nghiên cứu khảo cổ cho rằng có thể đấy từng là một hải cảng sầm uất của vương quốc Phù-Nam từ thế kỷ I cho tới thế kỷ VII), nhưng di tích Gò-Tháp ở đây cũng hãy còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn về lịch sử.

    Năm 1944, một nhà khảo cổ học Pháp tên là Louis Malleret là người tiếp tục đã khám phá thêm ra khu di tích Gò-Tháp có những nền gạch được xây cất lên, cùng với hàng chục khối đá lớn có hình thể như cột, yoni…ghép nối kiến trúc giềng quanh. Và cùng với nhiều hiện vật gồm các mảnh vỡ gốm, đá, khuôn đúc, 2 tượng Vishnu…Tuy nhiên, trước đó vào những năm 1869-1878, thì nhà khảo cổ Silvestre cũng đã từng phát hiện ra được một bánh xe bằng đá và những dấu tích phần móng của một ngôi tháp trong khu vực Gò-Tháp. Tiếp theo đó, là nhà khảo cổ Lunet de Lajonquière cũng đã góp phần nghiên cứu giải mã thêm về các bản văn khắc trên bia đá. Hầu hết các di tích kiến trúc ở Gò-Tháp đều được các nhà khảo cổ nghiên cứu cho biết nghệ nhân có tay nghề trình độ cao, xây dựng công phu và khéo léo, biết làm tường thành bao bọc xung quanh vị trí để đề phòng mọi sự xâm thực bào mòn của gió nước. Nhờ vậy mà các hiện vật tìm thấy được sau hằng thế kỷ tuy bị vùi sâu dưới lòng đất như các tượng Siva, Vishnu bằng đá sa thạch, các phiến đá, cột đá có chạm khắc họa tiết hoa văn còn giữ được ít nhiều dấu vết cổ xưa.

    Hiện nay, phế tích lịch sử Gò-Tháp gồm có cả hàng ngàn di vật còn sót lại thuộc 3 loại hình di tích quan trọng là di tích cư trú với các di vật như cọc nhà sàn, bếp lửa, mảnh gốm nồi niêu. Di tích mộ táng, với đồ tùy táng chôn theo như đồ gốm, đá quý, mảnh vàng, nhẫn vàng có khắc hoa văn được tìm thấy trong 13 ngôi mộ được khai quật. Và di tích kiến trúc trên các gò cao như Gò Tháp-Mười, Gò Minh-Sư, Chùa Tháp-Linh, và Miếu Bà Chúa Xứ. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu khảo cổ đánh giá, thì hiện nay trong khu di tích Gò-Tháp có hai cổ vật được xem như là quan trọng nhất. Đó là pho tượng Phật bằng gỗ thể hiện ra được những đường nét điêu khắc đơn sơ, tính chất giản dị trong tinh thần sáng tạo phong phú về nghệ thuật của nghệ nhân vào hồi thế kỷ thứ V-VII. Và các bia văn bằng đá mang đậm nét tôn giáo Hindu, hệ phái Vishnu, chính các chứng tích nầy đã giúp cho người ta hiểu được tính cách chủ nhân bản địa của nó từng đã có một thời kỳ văn minh vàng son rực rỡ.

    Giếng nước cổ 

    Các hiện vật

    Bia đá cổ Phù-Nam

    Tượng Phật gỗ

    Sau năm 1975, các nhà khảo cổ trong nước tiếp tục công trình khai quật và cũng đề ra dự án khoanh vùng bảo vệ 4 khu chức năng chính là khu di tích bảo tồn, bảo tàng, khu rừng sinh thái, khu dịch vụ và khu nuôi thú hoang dã. Do vậy, trong tương lai khu di tích Gò-Tháp sẽ được mở mang phát triển nhiều hơn và sẽ được coi như là trung tâm du lịch của tỉnh Đồng-Tháp. Và mới đây nhất là vào đầu năm 2022, thì Ban Quản-Lý di tích Gò-Tháp cũng đã có cho công bố kết quả thăm dò ở 4 khu vực, với sự phát hiện thêm về kiến trúc Ao thần, Đèn thần Vishnu và nhiều hiện vật cổ khác.

    Trở lại với hình ảnh thiên nhiên, du khách trước khi đến với khu Ramsa Tràm Chim thứ 2000 nổi tiếng của VN, thì nên đừng quên ghé tham quan khu du lịch sinh thái Gáo-Giồng (cách thành phố Cao Lãnh 17km) một lần cho biết. Nơi đây, người dân địa phương quanh vùng hằng ngày thường được tín hiệu thiên nhiên báo thức đến hai lần. Lần đầu tiên, là tiếng gà canh khuya gáy sáng. Và lần thứ nhì, là dành cho những người dậy trễ do sự sinh hoạt nhộn nhịp kêu ríu rít của các loài chim, nhất là của đàn cò trắng khi chúng vừa thấy ánh bình minh vừa hé dạng ở chân trời. Tại đây, có nhiều nhất là hàng chục ngàn con cò trắng sinh sống suốt tháng quanh năm như là hình ảnh quen thuộc của xóm làng, và mỗi lần chúng bay lên thì che bóng mặt trời trong giây lát. Khu du lịch Gáo-Giồng đã được thành lập từ năm 2003, và do nhờ bảo quản tốt (có cả đài quan sát cao 18m) cho nên có rất nhiều loài chim nước chọn làm quê hương trú ẩn thường xuyên như điên-điển, le le, trích mồng đỏ, diệc v.v. Nhiều con tỏ ra rất dạn dĩ, không những chúng dám đến săn mồi gần bên du khách, mà còn nhảy múa hoặc cất lên những tiếng gáy nghe buồn man mát nhưng thơ mộng làm sao!

    Đàn cò trắng trong khu du lịch sinh thái Gáo-Giồng

    Du hành trên xuồng ba láCòn vườn cò Tháp-Mười thì nằm cách thành phố Cao-Lãnh 35km, tuy nhỏ nhưng cũng có nhiều loại cò chọn nơi đây làm tổ. Nhiều nhất ở đây, là loại cò ruồi lông trắng, giò đen, mỏ vàng. Còn lại, là các loại cò sen, cò ma, cò quắm, cò đúm, cò cá, cò xanh, cò ngà và nhỏ nhất là loại cò lép. Và cũng như ở tại Gáo-Giồng, vườn cò Tháp-Mười lúc nào cũng có sự sống của các loại chim khác như bìm bịp, cuốc, bạc má, điên điển, vạc…Thường thì mỗi hừng sáng chúng tung cánh bay đi khắp nơi để kiếm ăn, cho đến lúc chiều chạng vạng tối mới tiếp tục trở về. Và những nơi đi tìm kiếm mồi hằng ngày của chúng, là bất cứ chỗ đồng ruộng ao bèo nào có cá, cua, sò, ếch nhái, ốc, tép, lươn, rắn…thậm chí con diệc nó còn ăn thịt ngay cả các con chim loại nhỏ hơn.

    Vườn cò Đồng-Tháp

    Con diệc đang ăn thịt con chim nhỏ

    Và tiếp theo đây, là điểm hẹn của bạn đã đến. Hiện nay VN có tất là 6 khu Ramsar của thế giới, trong đó gồm có vườn quốc gia Xuân-Thủy (Nam-Định), vườn quốc gia Cát-Tiên (Đồng-Nai), hồ Ba-Bể (Bắc-Kạn), vườn quốc gia Mũi Cà-Mau (Cà-Mau), vườn quốc gia Côn-Đảo (Bà-Rịa&Vũng-Tàu), và đặc biệt nhất là vườn quốc gia Tràm-Chim ở trong tỉnh Đồng-Tháp.

    Vườn quốc gia Tràm-Chim có tổng diện tích là 7.313 ha nằm ở hạ lưu sông Cửu-Long, thuộc huyện Tam-Nông. cách th ành phố Cao-Lãnh 37km về hướng Bắc Nơi đây, có tất cả khoảng hơn 130 loài thực vật bậc cao, hơn 231 loài chim nước, hơn 100 loài động vật, và hơn 150 loài cá đã được tìm thấy có sự sinh sống của chúng. Chẳng hạn như nào là lúa trời, cỏ ma, sen, súng, rong tảo, lau sậy, loài chim vịt trời, cò trắng, bồ nông, diệc, cồng cộc, giang sen, loài bò sát rắn, trăn, rùa…Đặc biệt, nhất là loài chim hạc còn được gọi là sếu đầu đỏ (Grus antigone), thuộc loài chim di cư, di trú theo mùa bên cạnh khu bảo tồn động vật hoang dã Anlung-Pring (Campuchia), và hiện nay nó là một loài chim hiếm hoi còn sót lại trên thế giới. Do vậy, cho nên từ lâu Tràm-Chim Đồng-Tháp từng đã được tổ chức “BirdLife Inernational” *** bình chọn xếp vào vùng chim quan trọng (Important Bird Area) ở VN.

    Ramsar thế giới Tràm-Chim Đồng-ThápVà người ta cũng còn có thể nói thêm rằng, hệ sinh thái đất ngập nước (Ramsar) của khu vực Tràm-Chim (cạnh Láng-Sen ở địa phận Long-An) là một trong những chứng tích cuối cùng của vùng Đồng-Tháp-Mười từ bao thế kỷ trước, mà giờ đây đã bị thu hẹp do sức tiến của con người. Chính vì lẽ đó, mà từ lâu khách du ngoạn đến đây đã có dịp tìm thấy được những nét đẹp độc đáo không trùng lặp giống như với những cảnh quan nào khác của các vùng miền lân cận. Ngoài ý nghĩa đa dạng về mặt sinh thái, sinh học, nghiên cứu khoa học, văn hóa, và phát triển du lịch, Tràm-Chim còn chính là nơi còn phảng phất về hình ảnh nguyên thủy của vùng đất thiên nhiên, sơ khai của tiền nhân ta khổ công khai khẩn trải qua từ bao thế hệ. Vào mùa nước nổi, thì nước dâng cao lên tràn ngập mênh mông cả cánh đồng Tràm-Chim, hàng ngàn cánh cò xuất hiện chao liệng trên không tạo thành một bức tranh linh hoạt, ngoạn mục vô cùng. Từ trên chòi canh, du khách sẽ có dịp trải nghiệm qua được những phút giây cảm khái tâm hồn đầy kỳ thú trong một chuyến tham quan. Tuy nhiên, còn các loài chim quý thì chúng thường hay bay di chuyển qua lại tự nhiên từ quốc gia nầy sang qua địa phận của các quốc gia khác.

    Khu Ramsar Tràm-Chim

    Thắng cảnh thiên nhiên tuyệt vời

    Cách đây khoảng thập niên, nếu ở Tây-Ninh có một ông Hai Lúa nổi tiếng như cồn vì đã bỏ ra bao năm trời để sáng chế ra được một chiếc trực thăng không đạt mức độ an toàn, thì ngày hôm nay, tại Đồng-Tháp cũng có bốn ông Hai Lúa khác sáng chế ra được chiếc thuyền chạy bằng năng lượng mặt trời.không gây ra tiếng động. Và rất thích hợp, để được dùng vào làm phương tiện đón đưa khách du lịch có nhu cầu muốn được dịp tiếp cận mục kích thỏa mãn về cách sinh hoạt của các loài chim hoang dã ở Tràm-Chim.

    Hình ảnh vô cùng ấn tượng về sếu đầu đỏ ở Tràm-ChimTrên chiếc tắc ráng nhẹ nhàng rẽ sóng trên con kinh Mười-Nhẹ sẽ đưa du khách lướt ngang qua những cánh rừng tràm từng dãy tiếp dãy ngút ngàn một màu xanh thẩm để tham quan cánh đồng Tràm-Chim. Và mỗi khi nghe có tiếng động, thì trong cánh rừng có hàng loạt cánh chim vụt bay lên cao theo từng đàn, loại nào theo loại nấy nhưng nhiều nhất là loại cò trắng. Gặp nhằm lúc đúng mùa Xuân, thì du khách sẽ có dịp được ngắm nhìn lý thú hơn trước hình ảnh của những con sếu đầu đỏ (loài chim quý phái đang có nguy cơ tuyệt chủng) có chân dài lông xám chao liệng, nhảy múa tuyệt diệu chẳng khác gì loài chim công, trĩ. Người ta được biết, kể từ khi Tràm Chim (Tam-Nông, Đồng-Tháp) được công nhận là khu Ramsar thứ 2000 trên thế giới, thì dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng” cũng đã được Quỹ Quốc-Tế Bảo-Vệ Thiên-Nhiên (WWF)**** và công ty Coca-Cola phối hợp bảo trợ giữ gìn hữu hiệu một di sản bảo tồn đa dạng sinh học của con người. Chính nhờ vậy mà ngày nay khu Ramsar Tràm-Chim hãy còn giữ được tính hoang sơ với màu sắc thiên nhiên. Cho dù, trong những năm gần đây thì tình hình biến đổi khí hậu trên địa cầu diễn ra hết sức là phức tạp, có ảnh hưởng trực tiếp vào các môi trường tự nhiên của không khí, đất đai và ngay cả các hệ sinh thái cây rừng.

    Cảnh thiên nhiên Tràm Chim

    Đài vọng cảnh ở Ramsar Tràm Chim

    Chim Giang-Sen

    Chim Cồng-Cộc

    Chim Bồ-Nông

    Ngày xưa, Đồng-Tháp-Mười chỉ là một địa danh ở vùng sâu của đất phương Nam. Lúc bấy giờ, đường giao thông không thuận tiện nhưng nhờ vậy mà tính chất hoang dã thiên nhiên sở tại hãy còn giữ lại được rất nhiều từ hình thức cảnh quan đầm lầy, cá nước, chim trời cho đến màu lục nguyên sinh của muôn loài cây cỏ. Còn ngày nay, thì dân đi du lịch phượt bằng xe máy cũng có thể tìm đến đây một cách dễ dàng bằng nhiều lộ trình từ các hướng khác nhau, và sau khi tham quan tìm hiểu, thì ai cũng có thể hình dung ra được một sự biến đổi hình dáng địa phương theo cái mốc của thời gian quá khứ.

    Tuy nhiên, nếu nói đến những hình ảnh sinh hoạt kỷ niệm cảnh cũ người xưa ở quê làng thì ở bất cứ nơi nào cũng đều có cả, và đó cũng chính là trường hợp về hình ảnh đặc biệt của chợ chiếu Âm-Phủ ở Định-Yên, huyện Lấp-Vò, tỉnh Đồng-Tháp. Hồi trước, cư dân ngụ tại xã Định-Yên có truyền thống làm nghề dệt chiếu lâu đời và nổi tiếng đồn xa. Nghệ nhân dệt chiếu ở đây tay nghề khéo léo, có thể thêu lẫy được những hình rồng phượng làm tăng thêm giá trị của chiếc chiếu, và họ đã tạo được cho gia đình một đời sống tương đối khá sung túc, cất xây nhà tường cao ráo. Vì thế, ở miền Tây dạo ấy đã có lưu truyền câu thơ đi vào ca dao:

    Định-Yên có vựa chiếu to

    Có chồng xứ Định khỏi lo chiếu nằm

    Thực vậy, thời cực thịnh của nghề dệt chiếu bán buôn ở Định-Yên là số cung không chạy kịp theo số cầu. Vì vậy, các mối lái ghe thuyền mua bán chiếu ở các tỉnh miền Tây phải tranh nhau đến tận nơi để neo đậu nghẹt dưới sông bất kể giờ giấc ngày đêm, để chờ mua chiếu đem về bán lại, và đã có những ngày đêm giao dịch bán buôn diễn ra vô cùng tấp nập với con số lên gần tới cả ngàn người. Về sau, chợ chiếu quy tụ dời về ở sân chùa An-Phước và được xoay vòng từ ngày cho tới đêm. Chợ phiên mỗi đêm, thường diễn ra từ 4 khuya đến 8 giờ sáng. Đặc biệt, vào khung cảnh ban đêm, dưới những ánh đèn dầu hiu hắt, lặng lẽ, với cả một rừng người, mỗi người đứng ôm một bó chiếu đứng bán bên cạnh ánh sáng dật dờ, mờ ảo tỏa khói, cho nên người dân mới gọi đó là chợ Âm-Phủ. Còn thực tế bây giờ thì chợ Âm-Phủ về đêm cũng đã bị đi vào mai một, do nguyên nhân ngày nay người dân sử dụng máy dệt chiếu quá nhiều, và người mua thường đặt hàng trước khi tới nhận.

    Chợ chiếu Định-YênNhững ai chưa từng tham quan Đồng-Tháp-Mười thì hãy thử đến viếng thăm một lần cho biết, và đi vào lúc nào cũng được vì mùa nào Đồng-Tháp-Mười cũng có nét đẹp riêng, thú vị vô cùng. Chẳng hạn như trong mùa nước nổi dâng lên cao bao nhiêu, thì loài lúa ma ở đây cũng mọc dài thêm bấy nhiêu, để lúc nào nó cũng vươn mình cao lên khỏi mặt nước. Còn cánh đồng lúa bao la bình thường hằng ngày thì bị đắm chìm vào trong biển nước, và được thay vào bằng cánh đồng sen súng, rong tảo, năn, lác v.v, trong lúc trên trời có hàng ngàn con cò bay lượn theo từng đàn sà xuống săn mồi, lướt nhảy tung tăng trên những lá sen bềnh bồng theo sóng nước…

    Đồng lúa ma 

    Đàn cò săn mồi

    Và một khi du khách đã cảm nhận ra rằng, quả thật quê hương hoa sen là tuyệt diệu, thì không lý do nào họ lại không muốn tìm hiểu thêm ít nhiều về một vài hình ảnh của con người Đồng-Tháp. Và cũng nếu câu hỏi đó được đặt ra cho hướng dẫn viên địa phương, thì ý kiến của họ sẽ trưng ra là hình ảnh của Năm Sa-Đéc, một người nghệ sĩ tài năng từ lâu từng để lại nhiều dấu ấn cảm tình cho rất nhiều thành phần khán giả ở trong nước.

    Nghệ sĩ Năm Sa-Đéc tên thật là Nguyễn-kim-Chung (1907-1988), tác giả ghi đúng trên bia mộ, vì có nhiều tài liệu ghi khác là (1908-1988). Trước khi trở thành kịch sĩ và diễn viên điện ảnh, thì bà là một nghệ sĩ cải lương tuồng cổ. Năm Sa-Đéc là con của ông bầu Tam (Nguyễn-văn-Tam), người thành lập ra gánh hát bội “Thiện-Tiền-Ban” đầu tiên ở tại tỉnh Sa-Đéc. Suốt trong cuộc đời dấn thân vì nghệ thuật, bà đã lần lượt có dịp cộng tác và lưu diễn khắp nơi cùng với các đoàn hát cải lương nhỏ lớn như Phước-Tường, Vân-Hảo, Phụng -Hảo, Thanh-Minh&Thanh-Nga. Từ là nghệ sĩ hát bội chuyển sang nghệ sĩ cải lương, không dừng lại đó bà còn đi sâu vào sân khấu kịch nghệ trước khi trở thành diễn viên điện ảnh, và được rất nhiều người ái mộ. Do vậy, ngày nay mỗi khi nói đến bà Năm Sa-Đéc thì người dân Đồng-Tháp-Mười rất lấy làm vinh dự và hãnh diện về tài năng tỏa sáng của bà đã góp phần làm rạng danh cho mảnh đất quê hương hoa sen. Trong cuộc sống riêng tư, bà đã hạnh phúc làm lại cuộc đời bên cạnh học giả Vương-Hồng-Sển vào lúc bấy gìờ. Và sau đó mấy tháng, thì ông nhận chức Quyền quản thủ Viện Bảo-Tàng Quốc-Gia Việt-Nam tại Sài-Gòn. Sau năm 1975, tuy bà đã già nhưng vẫn còn phong độ nghệ sĩ, đóng tròn vai kịch nghệ cũng như về điện ảnh. Bà qua đời đột ngột, để lại tình cảm cho rất nhiều người sau khi hay biết được hung tin.

    Xót thương người bạn đường đã mất, cụ Vương-Hồng-Sển lúc bấy giờ đã có làm một bài thơ tiễn biệt vợ hiền, nghệ sĩ Năm Sa-Đéc thật là cảm động.

    Em sao vội phủi tay đứng dậy?

    Tắt đèn đời, tìm giấc ngủ thiên thu.

    Anh chỉ còn trơ mắt nhìn theo

    Qua giòng lệ viết trang tình nửa đoạn…

    Bà Năm Sa Đéc trong phim “Lệ Đá”

    Tuy nhiên, ngày trước đất Sa-Đéc cũng đã từng có một nhân vật trí thức được rất nhiều người biết đến. Đó là hình ảnh của nhà Bác-vật Lưu Văn Lang, một kỷ sư đầu tiên của nước VN và của cả Đông Dương. Là một trong những sĩ phu tiêu biểu hàng đầu ở Nam-bộ, ông từng tích cực dấn thân vào các phong trào quảng bá chữ quốc ngữ cũng như tham gia vào các phong trào yêu nước v.v. Trong ngày lễ tang học sinh Trần-Văn-Ơn tại Sài-Gòn, ông đứng ở trong hàng dẫn đầu đoàn người biểu tình lôi cuốn sự tham dự đông đảo của mọi từng lớp nhân dân.

    Ngoài ra, ông cũng còn là người đầu tiên sáng chế ra chiếc đống hồ đá duy nhất của VN, coi giờ bằng ánh sáng mặt trời. Và mặc dù nó không thể nào có thể so sánh được với giá trị của chiếc đồng hồ Thái-Dương khổng lồ lớn nhất trên thế giới ở trong khu Đài-Thiên-Văn Jaipur, Ấn-Độ. (Có nguyên tắc tính thời gian trong ngày, dựa vào sự di chuyển của mặt trời, từng được xây cất lên từ thế kỷ XVIÌI). Nhưng người dân địa phương Sa-Đéc lúc nào cũng biết tự hào rằng quê hương mình từng có nhân tài tạo đã ra báu vật, rất có ý nghĩa theo sự kiện của dòng thời gian lịch sử. Tuy rằng, giờ đây thì di tích còn tồn tại nầy hiện đang nằm trong địa bàn của trung tâm thành phố Bạc-Liêu.

    Đồng hồ Thái-Dương VN

    Tác giả lưu niệm tại đồng hồ Thái-Dương

    khổng lồ ở trong khu Đài-Thiên-Văn Jaipur, Ấn-Độ

    “Tôi quyết định bỏ tiền đầu tư xây dựng ký túc xá miễn phí cho sinh viên nghèo với tâm nguyện muốn góp phần đào tạo họ trở thành người giỏi trên nhiều mặt, đóng góp tích cực cho xã hội. Vun đắp, chăm lo cho những sinh viên nghèo có điều kiện học tập thành tài là việc làm thiện nguyện có hiệu quả lâu dài nhất, giống như mình cho họ cái cần câu để họ tự câu cá, nuôi sống bản thân”.

    Dự án ký túc xá sinh viên

    Trường Đại-Học Nông-Lâm trao tặng lại

    cho Ông Phạm-Văn-Bên bức tranh thêu có chữ “Tâm”

    Đây là tấm gương báu của một doanh nhân bản lĩnh, đạo đức có tâm, và có tầm nhìn thấy phúc lợi của sự đầu tư trí tuệ vào trong phương tiện lãnh vực văn hóa, để làm động lực phát triển khả năng tinh thần sáng tạo của con người trong xã hội. Öng tên là Phạm-Văn-Bên, người địa phương thân thương quen gọi ông là Út Bên (vừa mới qua đời), một vị đại gia có nhân cách lớn sở tại thành đạt sự nghiệp vẻ vang do nhờ có nhiều kinh nghiệm ở chốn thương trường. Và với di sản cơ ngơi đồ sộ thương hiệu “Cỏ May” dưới sự quản lý kinh doanh của ông đang trên đà phát triển mạnh mẽ tại Sa-Đéc. Cùng với, nghĩa cử cao đẹp của một con người có trái tim đức hạnh muốn tìm dịp trả ơn xã hội, biết đạo làm doanh nhân, cho nên giờ đây hình ảnh kỷ niệm thương tiếc về ông còn để lại, thì đã được nhiều người đánh giá, vinh danh xem ông như là hình ảnh của một người thầy không bục giảng.

    Ngoài ra, vì vùng đất Đồng-Tháp-Mười ngày xưa vốn từng là một chốn bưng biền, địa hình lầy lội có quá nhiều khó khăn trở ngại với đầy huyền thoại gian nan trong quá trình khẩn hoang tìm đất sinh tồn. Vì thế cho nên, người dân ở địa phương bao giờ cũng luôn luôn biết ý thức tự hào về tinh thần tương thân, tương trợ, để cùng nhau trân quý di sản truyền thống đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Do vậy, mà ngày nay người ta còn thấy thêm có rất nhiều về những hình ảnh cao đẹp khác tự nguyện đem lá lành đùm lá rách, và chia cơm sẻ áo cho nhau cần phải xứng đáng được vinh danh. Đó chính là hình ảnh của những mái nhà tình nghĩa đơn sơ được người dân quyên góp xây cất cấp cho người nghèo, hay được từng cá nhân hảo tâm có trái tim nhân ái bảo trợ hiến tặng. Và điển hình như là về trường hợp đặc biệt khả kính của bà Năm Thiền chăn nuôi vịt kiếm tiền, để dùng vào làm việc phúc thiện như tu bổ đường làng, xây cầu thôn xóm, cất lên những mái nhà tình nghĩa, để giúp đỡ những kẻ khốn cùng ở tại địa phương có được nơi yên ổn, nương náu qua ngày.

    Bà Võ-Thị-Thiền chăn nuôi bầy vịt từ thiện

     ở tại huyện Cao-Lãnh (Đồng-Tháp)Ở Đồng-Tháp, vì những ngày tổ chức về lễ hội không có được nhiều và đa dạng như ở các tỉnh khác. Vì thế cho nên, du khách đến thăm Đồng-Tháp-Mười chủ yếu là vì tình yêu hoa sen. Tuy nhiên, nếu du khách đến thăm nhằm lúc có xảy ra những ngày lễ hội lớn như lễ hội Gò-Tháp, lễ hội miếu Bà Chúa Xứ v.v, thì vẫn có thể thấy được những bầu không khí tưng bừng, náo nức không kém phần nghiêm trang và vui vẻ ở tại địa phương.

    Các đầm sen tư nhân

    Lễ hội Gò-Tháp

    Tự hào Đồng-Tháp Sen hồng

    Ngoài ra, ngay tại trung tâm thành phố Sa-Đéc cũng còn có di tích của một ngôi nhà cổ Huỳnh-Thủy-Lê nổi tiếng, do nhờ được xây cất hài hòa theo mẫu kiến trúc Đông-Tây vào năm 1895. Sau nhiều lần được gia chủ trùng tu, thì ngôi nhà gỗ ba gian kiểu miền Tây Nam-bộ đã phải tự biến thành một biệt thự kiểu phương Tây trộn pha với kiến trúc Việt, và Hoa, nếu nhìn từ bên ngoài. Tuy nhiên, phần kiến trúc bên trong thì hoàn toàn mang đậm đường nét, và màu sắc cố hữu của người Hoa. Ngày nay, du khách đến tham quan di tích nhà cổ sẽ còn có dịp được nghe qua về một câu chuyện tình đầy lý thú, và lãng mạn xảy ra trong ngôi nhà huyền thoại nầy từ hằng thập niên về trước.

    Nhà cổ Huỳnh-Thủy-Lê

    Bên trong ngôi nhà huyền thoại

    Khác với cuộc tình giữa Bạch-Công-Tử và quận chúa Olga xảy ra tại thành phố Paris được nhà báo Vương-Liêu viết ra từ hơn sáu thập niên về trước, và cho dù đó chỉ là một giai thoại có bài bản được lồng vào với sự trùng hợp của yếu tố thời gian nếu đã có xảy ra. Câu chuyện tình giữa cậu thiếu gia Huỳnh-Thủy-Lê 27 tuổi ở Sa-Đéc, và cô nữ sinh tóc vàng phương Tây Marguerite Duras 15 tuổi rưỡi (con gái của một bà Hiệu-Trưởng trường nữ sinh Sa-Đéc, nay là trường Trưng-Vương) xảy ra ở tại đất phương Nam khoảng thời gian bắt đầu vào một buổi trưa hè ngày 3 tháng 6 năm 1929 là hoàn toàn có thật 100/100, và chứa đầy kịch tính. Hơn thế nữa, nhân chứng sống cũng còn là người trong cuộc, và đó chính hình ảnh của nữ văn sĩ Pháp Marguerite Duras (1914-1996) về sau nầy. Bà là tác giả của quyển tiểu thuyết nổi tiếng “L’Amant”*****, mà trước khi chính thức được chuyển thể sang lĩnh vực điện ảnh, thì nó đã là một kiệt tác về văn học.

    Còn cuốn phim “L’Amant” thì dựa vào nội dung cốt truyện của quyển tiểu thuyết nói trên được quay tại Việt-Nam, và đã được hoàn thành trình chiếu chính thức vào ngày 22-01-1992 tại Pháp. Nhà đạo diễn Jean-Jacques-Annaud đã thực hiện thành công một cuốn phim nổi tiếng (độ dài 115 phút) nầy không những có giá trị về mặt nghệ thuật, mà còn về yếu tố tâm lý thu hút được rất nhiều thành phần khán giả ái mộ thưởng thức các thể loại phim tình cảm sống thực, kích thích rực nồng. Và từng đã được các nhà phê bình quốc tế coi như là vô cùng táo bạo trong lịch sử điện ảnh, về những cảnh nóng…thiệt.

    Chung cuộc, cho dù nếu không có đủ yếu tố thời gian để nhận ra mọi sự khác biệt về màu da, phong tục ngay từ phút đầu, thì cặp tình nhân đắm say cuồng nhiệt cũng phải đành đau khổ chấp nhận chào thua trước áp lực và định kiến của gia đình. Để rồi sau đó khi có dịp trùng phùng, hồi tưởng lại từng điệp khúc đam mê không muốn rời bên nhau, thì họ cũng đã thực tế nhận ra rằng ý nghĩa còn lại trong mảnh phần hồn của tình yêu chân thành là bất diệt…

    Marguerite Duras

    (ngày xưa)

    Jane March

    (quốc tịch Anh)

    Ngôi sao điện ảnh Jane March

    đóng vai Marguerite trong phim “L’Amant”Và cũng phải thành thật nói rằng là nhờ có tác phẩm sách báo, điện ảnh của cuốn phim thành công nổi tiếng “L’Amant” mà đã có nhiều người nước ngoài (nhất là người Pháp) mới có thêm dịp, để được nghe biết đến nhiều hơn về địa danh Sa-Đéc ở miền Tây.

    Miền Nam từ lâu có tiếng là vùng đất lành chim đậu. Nơi đây, cây trái bốn mùa, đồng lúa mênh mông, cỏ hoa tươi tốt, và riêng góc trời thì lại có một vùng đầm lầy sông nước mênh mông mang đậm nét đặc thù với tính nhân văn, phong cảnh địa hình không giống ở bất cứ nơi nào trong nước. Đồng-Tháp ở đây tuy có cảnh quan sông nước đầm lầy nhưng không có được những hình ảnh linh hoạt như chợ nổi như ở Tiền-Giang, Cần-Thơ…Đồng-Tháp ở đây tuy có di tích lịch sử Óc-Eo, nhưng không có được một hòn núi non huyền bí xinh đẹp nào như ở An-Giang. Và Đồng-Tháp ở đây tuy có những cánh rừng tràm, các đặc sản nổi tiếng địa phương, nhưng không có cảnh quan biển cả để nhìn thấy được mặt trời nhô lên từ đáy bể như ở Cà-Mau, Kiên-Giang…Đồng-Tháp còn lại ở đây, chỉ có hình ảnh của loài hoa sen là biểu tượng cho duyên dáng của địa phương mình. Nói cách khác, thì toàn bộ cảnh quan hoang dã của vùng Đồng-Tháp-Mười khi xưa, nay đã bị biến dạng rất nhiều để nhường chỗ lại cho hình ảnh của một địa phương duyên dáng, màu lục xinh tươi. Và chứa đầy sức sống linh hoạt, năng nổ của người dân lúc nào cũng có ý chí kiên trì mần việc ruộng dâu không quản công khó nhọc, với những ước vọng cải thiện cuộc đời và vững tin nhìn về phía trước.

    Nhưng tình người ở trên quê hương hoa sen, thì lúc nào cũng luôn luôn tỏ ra thân thiện, hân hoan đón chào từng lớp khách viễn phương.

    Hơn thế nữa, nếu du khách đến tham quan Đồng-Tháp-Mười tìm dịp trải nghiệm tâm hồn vào cái thú ngắm sen nở nhằm lúc mãn khai dưới cảnh quan thiên nhiên bao la, in hình hoa đồng, cỏ nội, mây ngàn. Lúc ấy, trong phút giây đầy ấn tượng tuyệt vời thưởng thức mùi thơm ngát hương sen, thì biết đâu có người sẽ ngộ ra được đôi điều lý thú về giá trị chân tướng đích thực của cuộc đời; để mà có dịp suy tư sâu lắng về ý nghĩa hình ảnh vạn vật trong kiếp phù sinh của dân gian trong xã hội.

    Trong thể xác định, thì hoa Sen lúc nào cũng vẫn hãy còn được người đời mãi mãi vinh danh, ca tụng coi như là biểu tượng cho sự thuần khiết và sinh hóa hồn nhiên.

    Tính chất nguyên thủy trong cuộc sống tâm linh của thế nhân cũng vậy, nó vốn là phần hồn vô nhiễm, trong sạch. Hãy có dũng chí gạn đục, lắng trong “tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”, và noi gương Sen để cố gắng tìm bằng mọi cách giữ cho tâm hồn còn được mãi sự thuần khiết, không dính tới mùi bùn…

    Đầm sen trước Đại-Tháp Hòa-Bình

    Lâm-Tỳ-Ni (Lumbini, Népal)Ngày nay, đường vào tham quan quê hương hoa sen đã được rút ngắn thời gian do nhờ có đường giao thông thuận tiện hơn xưa, cho nên du khách nước ngoài ngày càng đến với Đồng-Tháp-Mười nhiều hơn. Và chỉ trong một ngày, họ có thể thỏa mãn được tính hiếu kỳ để tìm hiểu thêm về một địa danh nổi tiếng có nhiều hoa sen. Cũng như, về huyền thoại ly kỳ của một câu chuyện tình éo le, cảm động, lãng mạn không biên giới của đôi uyên ương Âu-Á, mà chứng tích còn sót lại bây giờ chính là hình ảnh của ngôi nhà cổ Huỳnh-Thủy-Lê ở trong tỉnh Đồng-Tháp.

    Còn đối với khách du lịch nội địa, thì Đồng-Tháp-Mười bây giờ không chỉ là một địa danh của vùng văn hóa đặc trưng của miền đầm lầy sông nước phương Nam, mà nó còn là một dải đất quê hương mến yêu từng có công đóng góp phần quan trọng vào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ xóm làng, phát triển xã hội sau ngày quốc gia thống nhất, tái lập hòa bình.

    Riêng về hình ảnh của hoa Sen, thì nó chính là một biểu tượng độc đáo cho vùng đồng lầy Đồng-Tháp-Mười, mà từ lâu từng đã được hầu hết mọi người đương nhiên thừa nhận coi như là một vẻ đẹp thanh cao, mang đậm ý nghĩa tâm linh. Hơn thế nữa, vào năm 2011 thì hình ảnh của hoa sen hồng cũng vinh dự được người dân Việt-Nam trong toàn quốc nhất trí chính thức bình chọn là “quốc hoa”, do nhờ có vẻ đẹp cao sang, trang trọng, gần gũi dân gian, và mang tính dân tộc được đa số người yêu thích.

    Tuy nhiên, ngày nay nếu người ta muốn quảng bá về sự thể hiện tính thuần khiết cao đẹp của nó để áp dụng vào hình thức kinh doanh du lịch, thì cần phải có cái tâm cùng với cái tầm nhìn thông thoáng về tâm lý và nghệ thuật. Đây là một công việc không phải dễ dàng, vì nó luôn luôn đòi hỏi ý thức tinh thần trân trọng thừa hưởng của người dân lúc nào cũng phải biết cảnh giác trách nhiệm bằng mọi giá, đề giữ gìn mãi mãi nét đẹp phần hồn duyên dáng của quê hương…

    An-Tiêm MAI-LÝ-CANG

    (Paris)

    * – Thơ An-Tiêm MAI-LÝ-CANG.

    ** – ĐBSCL gồm có thành phố Cần-Thơ và 12 tỉnh là: An-Giang, Bến-Tre, Bạc-Liêu, Cà-Mau, Hậu-Giang, Kiên-Giang, Long-An, Sóc-Trăng, Tiền-Giang, Trà-Vinh, Vĩnh-Long và Đồng-Tháp.

    *** – Tổ chức quốc tế phi chính phủ hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, và môi trường sống của loài chim.

    **** -World Wide Fund For Nature

    ***** – Tiểu thuyết “L’Amant” (Người tình) xuất bản năm 1984, và đoạt giải thưởng văn học Goncourt.tại Pháp. Sau đó được dịch ra 43 thứ tiếng với khoảng 2,4 triệu bản in, và khi chuyển qua điện ảnh thì giành được giải thưởng ” Giải César cho nhạc phim hay nhất” vào năm 1993.

    Trong đầm gì đẹp bằng Sen

    Nguon: Chim Viet Canh Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích 12 Câu Thơ Đầu Trong Đoạn Trích “Trao Duyên”
  • Những Câu Nói Hay Về Duyên Phận, Duyên Nợ Đọc Để Ngẫm!
  • Bài Văn: Bình Luận Bài “Thơ Duyên”
  • Cười Ngả Nghiêng Trước 51 Stt Bê Tráp Hay
  • Ngữ Văn 10 Đoạn Trích: Trao Duyên (Trích Truyện Kiều
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Quê Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngắm Nhìn Vẻ Đẹp Dịu Dàng Thơ Mộng Của Đồi Chè Mộc Châu
  • Kể Về Những Đổi Mới Ở Quê Hương Em
  • Tả Cảnh Quê Hương Em Đang Đổi Mới
  • Chùm Thơ Hay Viết Về Nam Định, Thơ Ca Ngợi Nam Định Quê Hương Tôi
  • Một Số Bài Ca Dao Về Quê Hương Nam Định
  • Hai câu thơ mở bài như một lời giới thiệu của tác giả về làng quê miền biển của mình. Nó là một làng quê nằm ăn sát ra biển, bốn bề quanh năm sóng vỗ. Qua hai câu mở bài này, tác giả còn muốn giới thiệu với mọi người về nghề nghiệp chính ở quê mình, đó là nghề ngư nghiệp.

    Hai câu thơ tiếp theo như những dòng nhật kí tâm tình của Tế Hanh, nói về công việc thường nhật xảy ra ở ngôi làng ven biển này. Tiết trời ở đây thật trong lành: bầu trời trong xanh, gió biển nhẹ, bình minh rực rỡ sắc hồng. Lúc đó, những người thanh niên, trai tráng trong làng cùng nhau căng buồm, tiến ra biển cả.

    Trong hai câu thơ này, tác giả Tế Hanh đã sử dụng những động từ, tính từ mạnh: “hăng, phăng, vượt” và sử dụng nghệ thuật so sánh “chiếc thuyền nhẹ” với “con tuấn mã”, làm gợi lên vẻ đẹp, sự dũng mãnh của con thuyền.

    Ở hai câu tiếp theo này, nghệ thuật so sánh lại được sử dụng. “Cánh buồm” được so sánh với “mảnh hồn làng”, thể hiện tình yêu quê hương luôn tiềm tàng trong con người Tế Hanh. Được sử dụng một lần nữa, động từ, tính từ mạnh: “giương, rướn, bao la” đã cho ta thấy một vẻ đẹp kiêu hãnh, đầy tự hào của cánh buồm vi vu trong gió biển.

    Tám câu thơ tiếp theo này thể hiện hình ảnh làng chài khi những chiếc thuyền cá trở về sau những ngày chìm trong gió biển. Người dân làng chài vui sướng biết bao khi những người thân của họ đã mang về những thành quả tương xứng. Dân chài lưới mang một màu da thật riêng, có một mùi hương riêng biệt. Cái mùi này chỉ những người yêu quê hương tha thiết, nồng nàn như tác giả Tế Hanh mới có thể cảm nhận được. Chiếc thuyền cũng mệt mỏi sau những ngày đi biển, tựa như con người vậy. Cái chất muối thấm trong thớ vỏ cũng được tác giả cảm nhận bằng cách “nghe”, thật độc đáo!

    Khi viết bài thơ này, tác giả đang ở xa quê hương. Vậy mà, ông vẫn luôn nhớ về mảnh đất quê hương yêu dấu của mình. Nhớ màu nước biển xanh, nhớ những con cá bạc, nhớ cánh buồm trắng, nhớ con thuyền đang băng băng rẽ sóng ra khơi. Ông còn nhớ cả cái mùi muối mặn của biển quê nhà.

    Kết lại, với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân làng chài và sinh hoạt lao động làng chài. Bài thơ còn cho thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ.

    Nguồn Edufly

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Dòng Sông Quê Hương Em
  • Biểu Cảm Về Quê Hương Của Em
  • Bài Văn Kể Về Quê Hương Em Lớp 3
  • Người Con Ưu Tú Của Quê Hương Hà Nam
  • Tổng Hợp Những Bài Thơ 4 Chữ Về Quê Hương Hay Nhất
  • 3 Quê Hương Bài Thơ Quê Hương Là Mộ…

    --- Bài mới hơn ---

  • Đính Chính Của Tác Gỉa “Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt ” Đỗ Trung Quân
  • Bài Tập 4Y Phân Tích Bài Thơ 44 Quê…
  • ”Người Không Con Mà Có Triệu Con” : Ca Ngợi Công Ơn Bác Hồ
  • Những Bài Thơ Ca Ngợi Miền Quê Việt Nam Rất Đỗi Giản Dị Và Thanh Bình
  • Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Quê Hương” – Đỗ Trung Quân & Giáp Văn Thạch
  • Hai câu thơ mở bài như một lời giới thiệu của tác giả về làng quê miền biển của mình. Nó là một làng quê nằm ăn sát ra biển, bốn bề quanh năm sóng vỗ. Qua hai câu mở bài này, tác giả còn muốn giới thiệu với mọi người về nghề nghiệp chính ở quê mình, đó là nghề ngư nghiệp.

    Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng

    Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

    Hai câu thơ tiếp theo như những dòng nhật kí tâm tình của Tế Hanh, nói về công việc thường nhật xảy ra ở ngôi làng ven biển này. Tiết trời ở đây thật trong lành: bầu trời trong xanh, gió biển nhẹ, bình minh rực rỡ sắc hồng. Lúc đó, những người thanh niên, trai tráng trong làng cùng nhau căng buồm, tiến ra biển cả.

    Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

    Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang

    Trong hai câu thơ này, tác giả Tế Hanh đã sử dụng những động từ, tính từ mạnh: “hăng, phăng, vượt” và sử dụng nghệ thuật so sánh “chiếc thuyền nhẹ” với “con tuấn mã”, làm gợi lên vẻ đẹp, sự dũng mãnh của con thuyền.

    Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

    Rướn thân trắng bao la thâu góp gió

    Ở hai câu tiếp theo này, nghệ thuật so sánh lại được sử dụng. “Cánh buồm” được so sánh với “mảnh hồn làng”, thể hiện tình yêu quê hương luôn tiềm tàng trong con người Tế Hanh.

    Được sử dụng một lần nữa, động từ, tính từ mạnh: “giương, rướn, bao la” đã cho ta thấy một vẻ đẹp kiêu hãnh, đầy tự hào của cánh buồm vi vu trong gió biển.

    Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ,

    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.

    “Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe”

    Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

    Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

    Khắp thân mình nồng thở vị xa xăm.

    Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm,

    Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

    Tám câu thơ tiếp theo này thể hiện hình ảnh làng chài khi những chiếc thuyền cá trở về sau những ngày chìm trong gió biển. Người dân làng chài vui sướng biết bao khi những người thân của họ đã mang về những thành quả tương xứng. Dân chài lưới mang một màu da thật riêng, có một mùi hương riêng biệt. Cái mùi này chỉ những người yêu quê hương tha thiết, nồng nàn như tác giả Tế Hanh mới có thể cảm nhận được. Chiếc thuyền cũng mệt mỏi sau những ngày đi biển, tựa như con người vậy. Cái chất muối thấm trong thớ vỏ cũng được tác giả cảm nhận bằng cách “nghe”, thật độc đáo!

    Nay xa cách, lòng tôi luôn tưởng nhớ:

    Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,

    Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,

    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

    Khi viết bài thơ này, tác giả đang ở xa quê hương. Vậy mà, ông vẫn luôn nhớ về mảnh đất quê hương yêu dấu của mình. Nhớ màu nước biển xanh, nhớ những con cá bạc, nhớ cánh buồm trắng, nhớ con thuyền đang băng băng rẽ sóng ra khơi. Ông còn nhớ cả cái mùi muối mặn của biển quê nhà.

    Kết lại, với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân làng chài và sinh hoạt lao động làng chài. Bài thơ còn cho thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Quê Hương, Nơi Sinh Sống Bằng Tiếng Anh Siêu Đơn Giản
  • Bài Luan Ve Quê Huong Bang Tieng Anh Hay
  • Tình Đồng Đội Trong “Đồng Chí” Và “Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính”
  • Phân Tích Bài Thơ “Đồng Chí” Của Chính Hữu.
  • Ôn Tập Thơ Hiện Đại Bài 1: “Đồng Chí ”
  • Những Bài Thơ Hay Viết Về Cảnh Làng Quê, Quê Hương Tôi

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Lục Bát Quê Hương Hay Nhất
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Thơ Về Quê Hương, Đất Nước Hay Nhất Được Nhiều Độc Giả Yêu Thích
  • Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ
  • Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương
  • Hình Ảnh Người Dân Làng Chài Qua Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh
  • Tổng hợp những bài thơ hay viết về cảnh làng quê, nông thôn nghèo, quê hương của tôi.

    Những bài thơ miêu tả vẻ đẹp bức tranh làng quê, nông thôn Việt Nam. Dù đi đâu cũng không bao giờ quên được những hình ảnh thanh bình, êm đềm đó. Và làm sao quên được mối tình ngày xanh gắn liền với tình yêu quê hương..

    BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG TA GỌI VỀ

    Thơ: Hảo Trần

    Xa quê hương suốt mấy chục năm rồi

    Mãi trong ta nhớ miền quê yêu dấu

    Cánh diều tuổi thơ lưng trâu sáo đậu

    Nghe quê hương đất mẹ gọi ta về

    Chân ngập ngừng lội bước tới triền đê

    Đàn bướm nhỏ dập dìu hoa dại tím

    Nhớ một thời tuổi thơ nhiều kỷ niệm

    Gợi ta về với những giấc mơ xưa

    Đồng lúa xanh non ngút ngàn nắng mưa

    Đất bạc màu mẹ dày công chăm bón

    Khom lưng trên đồng cõng bầu trời trĩu nặng

    Úp mặt ruộng sâu góp nhặt hạt thóc rơi

    Con biết quê nhà vất vả lắm mẹ ơi

    Một nắng hai sương đất cằn đồng hạ

    Ướt đẫm giọt mồ hôi đong đầy khoai lúa

    Thấm một đời câu muối mặn gừng cay

    Quê hương mình bao nỗi nhớ đong đầy

    Chiếc áo tơi bốn mùa che mưa nắng

    Gió lào thổi cuộc đời thêm gánh nặng

    Hạt thóc vàng mẹ đánh đổi thanh xuân

    Yêu quê mình ta dạo bước bâng khuâng

    Bát nước chè xanh, câu hò ngọt lịm

    Giọng nói quê nghe nhọc nhằn thương mến

    Ta trở về nghe tiếng gọi quê hương..!

    BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG TUỔI THƠ TÔI

    Thơ: Bình Minh

    Tôi sinh ra nơi miền quê duyên hải

    Đất Hải Phòng mê mải cánh buồm nâu

    Biển quê tôi rất đẹp và rất giàu

    Hoàng hôn đến với một màu tím biếc

    Thời gian trôi theo dòng đời hối tiếc

    Bên mái trường ta học Viết ngày xưa

    Tháng 5 về mùa phượng đỏ đong đưa

    Còn nhớ mãi chiều tắm mưa xóm nhỏ

    Có nhiều hôm nắng chưa vờn ngọn cỏ

    Cùng bạn bè theo gió thả diều quê

    Bao năm rồi trong nức nở tái tê

    Tìm ký ức đam mê ngày xưa ấy

    Thời gian trôi như một dòng sông chẩy

    Xa mất rồi ai tìm thấy được chăng

    Nơi quê cũ ơi tình sâu nghĩa nặng

    Tuổi thơ nào say đắm của ngày xưa …

    BÀI THƠ: TÌNH QUÊ

    Thơ: Bình Minh

    Nhớ không em thuở ấu thơ ngày ấy

    Mình bên nhau khi diều giấy bay cao

    Tuổi thơ xưa bên nỗi nhớ cồn cào

    Còn mãi mãi đi vào trong kỷ niệm

    Thời gian trôi những tháng ngày màu nhiệm

    Vẩn vơ hoài còn ẩn hiện trong ta

    Dù đi đâu anh vẫn nhớ quê nhà

    Nhớ tuổi thơ những chiều tà bóng xế

    Quê hương ơi tuổi thơ là như thế

    Là chiều tà bóng xế thả diều quê

    Bên bạn bè và những nỗi đam mê

    Anh nhớ mãi câu thề thời thơ dại

    Em đùa anh bao giờ mùa hoa cải

    Nở hoa vàng ta phải chuyện trầu cau

    Tuổi thơ ơi bên kỷ niệm úa nhàu

    Còn nhớ mãi một màu tình quê cũ.

    CHIỀU QUÊ

    Thơ: Chử Văn Hòa

    Chiều quê hương lúa thơm nồng

    Hoàng hôn trải nắng trên sông ráng chiều

    Hồn nhiên thả những cánh diều tuổi thơ

    Từng đàn bò bước nhởn nhơ

    Đủng đà đủng đỉnh bên bờ tre xanh

    Môi trường cuộc sống trong lành

    Chiều quê là một bức tranh yên bình.

    BÀI THƠ: NHỚ LẮM QUÊ HƯƠNG

    Thơ: Huyền Thư

    Nhớ làm sao, tiếng võng giữa trưa Hè

    Tiếng kẽo kẹt, ôi nghe mà thương lắm

    Lời ru mãi, ngàn đời sau vẫn ấm

    Mái tranh nghèo, sâu đậm…nghĩa tình xưa

    Gió thổi về, theo giọt nắng đong đưa

    Mây lướt nhẹ, từng cơn mưa…vội vã

    Cau lại thắm, vườn trầu thêm xanh lá

    Đã đến mùa, ra cấy mạ….đi thôi ‼

    Chân lấm bùn, thân ướt đẫm mồ hôi

    Hồn thanh thản, cuộc đời…không lo nghĩ

    Đêm khuya vắng, tiếng côn trùng non nỉ

    Như dặn lòng, bền bỉ…với thời gian

    Những hoàng hôn, mờ nhạt khói sương tan

    Dừa soi bóng, trăng vàng….in đáy nước

    Quê hương đó, bao giờ ta tìm được

    Đến bao giờ, dừng chân bước….tha phương.

    BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG 1

    Thơ: Hoa Chu Van

    Đã lâu lắm hôm nay tôi trở lại

    Về thăm quê nhớ mãi tuổi ấu thơ

    Trên con đường xưa ngày nhỏ mộng mơ

    Mà đến nay bây giờ sao nhung nhớ

    Gió rung cây rì rào như hơi thở

    Nét đẹp quê hương giữ ở trong tim

    Bến nước cây đa hồi bé trốn tìm

    Tái hiện lại như cuộn phim quá khứ

    Nhớ bạn bè xưa cùng bao nét chữ

    Ngày ra trường lưu giữ ước mơ xanh

    Hè nắng chói chang lưu bút trao dành

    Cất giữ mãi giờ đã thành kỷ niệm

    Về thăm quê làm lòng ta xao xuyến

    Bao nhiêu năm lưu luyến bồi hồi

    Mà thời gian lặng lẽ thế cứ trôi

    Và tất cả trong tôi còn nhớ mãi

    Với quê hương tình yêu dành kết trái

    Cho con người mang lại những niềm vui

    Bao yêu thương và chia ngọt sẻ bùi

    Quê hương đó buồn vui ai cũng nhớ.

    BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG 2

    Thơ: Hoàng Minh Quân

    Ai trong đời không gợi nhớ quê hương?

    Bao vấn vương những niềm thương trăn trở

    Chốn hoang sơ ấu thơ thời lầm lỡ

    Vẫn quay đều trong nhịp thở bụi trần gian.

    Quê hương là gì trong cơ cảnh lầm than,

    Một bức tranh dệt thêu niềm hy vọng?

    Dẫu đi xa vẫn nhớ hoài cô đọng

    Dấu can qua cơn bĩ cực trăm bề.

    Quê hương nào nuôi lớn những đam mê,

    Những nhiêu khê những tái tê hoài niệm?

    Để hôm nay vững bài ca chiêm nghiệm..

    Nốt thăng trầm cho một phút thăng hoa!

    BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG 3

    Thơ: Sinh Hoàng

    Quê hương mưa nắng hai mùa

    Có dòng sông nhỏ hàng dừa xanh xanh

    Quê nghèo vách đất mái tranh

    Chiếc xuồng ba lá đêm trăng bến ngoài

    Ngọt bùi no đủ sắn khoai

    Dẽo thơm hạt gạo nuôi ai nên người

    Cây lành trái ngọt xanh tươi

    Má hồng môi thắm rạng ngời gái quê

    Lúa mùa duyên thắm, tình quê dạt dào

    Quê hương hai tiếng ngọt ngào

    Quê hương yêu dấu khắc vào trong tim.

    BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG NHỚ MÃI TIẾNG GÀ TRƯA

    Thơ: Giọt Buồn Không Tên

    Quê hương ơi tôi nhớ nguời da diết

    Bao năm rồi mãi biền biệt trời xa

    Vẩn trong tôi một nỗi nhớ quê nhà

    Nhớ lời Mẹ ru thiết tha cánh võng

    Tiếng gà trưa sao mãi còn lắng đọng

    Hàng cau xanh hoài vọng xoã tóc thề

    Cơn gió nào nghe dịu mát chiều quê

    Đàn trâu béo bên triền đê nhai cỏ

    Dưới bến sông rộn ràng bầy trẻ nhỏ

    Tiếng cười vui vang khắp ngõ quê làng

    Những mái đầu ngụp lặn dưới nắng chang

    Nghe xao động mơn man trên sóng nước

    Nhà Mẹ nghèo nép mình bên tán đước

    Vệt khói lam tỏa mượt mái tranh chiều

    Mẹ gầy gò trong dáng nhỏ liu xiu

    Ơ kho quẹt bửa cơm chiều ngon lạ

    Tôi lớn lên trong tháng ngày vất vã

    Nhớ lời ru nghe thương quá tiếng gà

    Nhưng vì nghèo đành phiêu bạt nơi xa

    Thân trôi nỗi bôn ba nơi xứ lạ

    Mãi trong tôi quê hương là tất cả

    Vẩn thiết tha một nổi nhớ quê nhà

    Nhớ Mẹ già mòn mõi đợi con xa

    Dù mắt mẹ giờ chỉ là đêm tối

    Quê hương ơi con nợ lời xin lỗi

    Con sẽ về đừng giận dỗi Mẹ ơi.!

    BÀI THƠ: LÀNG QUÊ TÔI

    Thơ: Nguyễn Quang Định

    Chiều nhạt nắng làng quê mát rượi

    Hàng cây xanh gió thổi rì rào

    Trên đồng có một chú trâu

    Đang mải cúi đầu… gặm ngọn cỏ xanh.

    Mái nhà tranh… bên bờ nương ruộng

    Hàng cây che bóng xuống quanh nhà

    Thu về muôn tiếng chim ca

    Câu hò điệu ví đậm đà tình quê.

    Đã lâu lắm chưa về thăm lại

    Nhớ xóm làng cùng mái nhà tranh

    Nhớ cha nhớ mẹ sinh thành

    Bà con bè bạn xung quanh xóm nghèo.

    Tôi cứ mãi chạy theo cuộc sống

    Lo đi tìm ước mộng tương lai

    Cũng mong sẽ tới một ngày

    Về quê gặp gỡ bắt tay mọi người.

    ĐỒNG DAO QUÊ HƯƠNG

    Thơ: Bằng Lăng Tím

    Ta tìm về nghe câu hát đồng dao

    Con đò nhỏ cắm sào nơi bến đợi

    Thu đã mãn thêm một mùa gặt mới

    Tình quê hương vời vợi nhớ trong lòng

    Cò gọi đàn nghiêng cánh vỗ triền sông

    Từng con sóng bềnh bồng xô nhè nhẹ

    Bao kỷ niệm môt thời ta thơ bé

    Tiếng mẹ yêu khe khẽ hát ru hời

    Lũ mục đồng ngày mải miết rong chơi

    Đêm đốt lửa sáng trời thi hát hội

    Nhạc rộn rã tưng bừng vui suốt tối

    Sáo ngân vang ai thổi lúc bổng trầm

    Ta tìm về nghe lại khúc thanh âm

    Trâu gõ mõ lặng thầm nhai cỏ mật

    Hương lúa thoảng thấm tình yêu của đất

    Bài đồng dao mãi hát đến bây giờ.

    THƠ LỤC BÁT: QUÊ NHÀ

    Thơ: Chung Mai

    Quê nhà biết mấy thân thương

    Bến sông thửa ruộng con đường đã qua

    Vui đùa cùng bạn trong ta trải dài…

    Đàn trâu lững thững bước ngoài bờ đê

    Cỏ non thích thú mải mê gặm hoài

    Đống rơm từng sợi vàng dai

    Mẹ gà lục cục trống choai bới mồi

    Nhiếp con ngơ ngác xem thôi

    Diều hâu liệng mãi thấy mồi sà ngay

    Trẻ con cũng thích nơi này

    Trốn tìm đuổi bắt mê say cả chiều

    Mẹ nhìn mấy đứa mắng yêu :

    Cởi trần rặm lắm ngứa nhiều đấy nghe

    Kẽo cà kẽo kẹt rặng tre gió lùa

    Góc vườn khóm mía lá khua xạc xào

    Đông về cái lạnh hanh hao

    Co ro buốt giá chạm vào ổ rơm

    Sắn khoai độn lẫn hạt cơm

    Vẫn ngon vẫn dẻo vẫn thơm đến giờ

    Ước gì là mãi dại khờ trẻ con

    Ước gì ta mãi mãi còn bé thôi .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quê Hương Nghĩa Nặng Tình Sâu
  • Chùm Thơ Nhớ Nhà, Nhớ Quê Của Người Tha Phương
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 1001 Bài Thơ Quê Hương, Tình Yêu Làng Quê & Nỗi Nhớ
  • Những Bài Thơ Viết Về Nỗi Nhớ Quê Hương Của Người Xa Xứ
  • Vài Lời Về Bài: Trao Đổi Về “quê Nghèo” Với Cô Nguyễn Bích Thủy
  • Viết Về Quê Hương Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Tình Quê Thiết Tha Trong Bài Thơ “quê Hương” Của Tế Hanh
  • Tổng Hợp Những Bài Thơ 4 Chữ Về Quê Hương Hay Nhất
  • Người Con Ưu Tú Của Quê Hương Hà Nam
  • Bài Văn Kể Về Quê Hương Em Lớp 3
  • Biểu Cảm Về Quê Hương Của Em
  • Hoà Bình là quê hương em. Đây là mảnh đất em đã sinh ra và lớn lên. Từ lúc rời quê lên Hà Nội học nhưng lúc nào em cũng nhớ về quê hương.Với nhưng dãy núi cao và những dải đồi xanh ngát,thửa ruộng bậc thang do thiên nhiên tự tạo,tô thêm vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc.Đó đây, những cụm nhà sàn khiêm nhường ẩn mình giữa rừng cây.Dốc Cun ngày xưa một thời hiểm hách, nay đã được san bằng và mở rộng cho những đoàn xe nối đuôi nhau lên Thủy Điên Hòa Bình, và đưa khách về tới khu du lịch sinh thái Kim Bôi. Mảnh đất cửa ngõ của miền Tây Bắc đang từng ngày thay da,đổi thịt.Nếu có dịp, xin mời các bạn một lần ghé qua quê hương tôi, chắc chắn sẽ làm các bạn hài lòng về con người và cảnh vặt nơi đây.

    Viết về quê hương em – Bài 2

    Em sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, một thành phố tuyệt đẹp. Hà Nội nổi tiếng với những khu phố cổ, những món ăn ngon. Thời tiết ở Hà Nội có bốn mùa rõ rệt: Mùa xuân, hạ, thu, đông. Khi mùa thu đến, thời tiết mát mẻ và hơi se lạnh. Còn mùa đông, có những hôm trời rét đậm. Đó là những nét đặc trưng nổi bật về thời tiết khiến Hà Nội không thể nhầm lẫn với thành phố khác. Ở Hà Nội có mội ngôi chùa có kiến trúc độc đáo, đó là chùa Một Cột. Ngoài ra , cũng có rất nhiều khách sạn thiết kế rất đẹp và lâu đời nằm tại Hà Nội. Những năm gần đây, em còn thấy rất nhiều tòa nhà cao tầng, trung tâm thương mại mới được xây dựng khiến Hà Nội trông hiện đại hơn nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp cổ kính trước đây của Hà Nội. Em đặc biệt thích Hà Nội bởi vì có rất nhiều của hàng sách thiếu nhi bán đủ các loại truyện. Có một lần em đi mua truyện, sau đó em vội đi việc khác ngay nên em để quên số truyện đó tại cửa hàng. Tuy nhiên, ngày hôm sau em quay lại thì người bán hàng vẫn cất số truyện đó rất cẩn thận và vui vẻ trả lại em đó là kỷ niệm không bao giờ quên và đó nói nên tính cách của người Hà Nội: văn minh, lịch sự và trung thực. Em rất yêu Hà Nội.

    Viết về quê hương em – Bài 3

    Mỗi người ai cũng có một quê hương, nơi in đậm những kỷ niệm tuổi thơ. Quê hương yêu dấu của tôi là Hà Nội. Hà Nội có những danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Hồ Hoàn Kiếm, Tháp Rùa, Văn Miếu Quốc Tử Giám,… Đường phố luôn tấp nập người qua lại. Những ngôi nhà cao tầng lung linh trong nắng sớm. Hà Nội còn có những trung tâm thương mại sầm uất, lúc nào cũng nhộn nhịp. Quê em có những công viên sạch đẹp để mọi người đến đây giải trí. Có những khu vui chơi cho các bạn và các em nhỏ. Kỷ niệm em nhớ nhất là lần em được bố cho ra sân vận động thả diều vào buổi chiều gió mát. Vào những đêm trăng sáng, em thường ngồi ngắm trăng, sao. Người Hà Nội rất văn minh, thanh lịch, … Ôi, quê hương của em mới đẹp làm sao! Em đã gắn bó với quê hương này bao năm rồi. Em sẽ luôn nhớ về quê hương dù em có đi đâu. Em yêu quê em lắm!

    Viết về quê hương em – Bài 4

    “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”

    Câu ca dao đó nói đến cảnh đẹp của xứ Nghệ và đó cũng chính là quê hương em. Quê em có dòng sông Lam hiền hòa, nước trôi lững lờ. Hai bên bờ sông là những xóm làng trù phú với những bãi ngô xanh mướt. Xa xa là núi Hồng Lĩnh như bức tường thành bảo vệ dân làng. Quê em không có những ngôi nhà khang trang mà chỉ có những ngôi nhà ngói đỏ nằm xem giữa những vườn cây tươi tốt. Tuy cuộc sống còn lam lũ và khó khăn nhưng người dân ở đây đều hiền lành, dễ mến. Vào ký nghỉ hè, em rất thích được mẹ đưa đến bờ đê chơi vào buổi chiều vì phong cảnh ở đây rất đẹp. Em yêu quê em và mong được về thăm quê vào mỗi mùa hè.

    Viết về quê hương em – Bài 5

    Mỗi người đều có một nơi để sinh ra, lớn lên, trưởng thành và đi xa thì luôn nhớ về. Nơi đó chính là quê hương. Em cũng có một nơi luôn ở trong trái tim, là mảnh đất này, có ba mẹ, có ông bà, có bạn bè và có cả tuổi thơ tràn đầy những kỉ niệm đáng nhớ nhất. Em yêu quê em, yêu những con người nơi đây đậm nghĩa đậm tình.

    Trong suy nghĩ của em thì mỗi một vùng quê đều có một nét riêng đặc trưng không thể lẫn lộn. Con người ở miền quê đó cũng vậy, có tính cách và tình cảm riêng. Quê hương em có cánh đồng lúa bao la, chạy dài bạt ngàn mà em chưa đi hết. Mẹ bảo đi hết cánh đồng lúa này còn xa lắm nên em chưa dám đi bao giờ. Vào mùa lúa chín màu vàng ươm của lúa khiến cho em có cảm giác như một tấm thảm màu vàng bất tận. Có những chú trâu cần mẫn gặm cỏ trên những triền đê cao và dài. Nơi đó chúng em có thể nằm im và ngắm bầu trời có mây trôi, ngắm mặt trời lặn mỗi khi mặt trời đổ xuống dãy núi cao cao kia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Cảm Nghĩ Về Dòng Sông
  • Soạn Bài Những Câu Ca Dao Về Tình Yêu Quê Hương Đất Nước
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Top 16 Bài Thơ Hay Viết Về Con Sông Quê Hương
  • Phân Tích Chùm Bài Ca Dao Nói Về Tình Cảm Quê Hương Đất Nước Con Người
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Bài Thơ Hay Về Dòng Sông Và Con Sông Quê Hương
  • Những Bài Thơ Hay Về Quê Hương, Đất Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu 14 Đọc Đoạn Thơ Sau Và Trả Lời …
  • Những Bài Thơ Lục Bát Về Biển Đảo, Quê Hương, Đất Nước, Con Người Việt Nam
  • Những Bài Thơ 8 Chữ Về Quê Hương, Làng Quê, Biển Đảo
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Ngữ Văn 8 Trường Gio Linh Tại Soanbai123.com
  • Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước Là Mạch Nguồn Của Dòng Thơ Mới. Hãy Làm Rõ Nhận Định Này Qua 2 Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh Và Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu
  • 1. QUÊ HƯƠNG (Tác giả: Đỗ Trung Quân)

    Quê hương là gì hở mẹ

    Mà cô giáo dạy phải yêu

    Quê hương là gì hở mẹ

    Ai đi xa cũng nhớ nhiều

    Quê hương là chùm khế ngọt

    Cho con trèo hái mỗi ngày

    Quê hương là đường đi học

    Con về rợp bướm vàng bay

    Quê hương là con diều biếc

    Tuổi thơ con thả trên đồng

    Quê hương là con đò nhỏ

    Êm đềm khua nước ven sông

    Quê hương là cầu tre nhỏ

    Mẹ về nón lá nghiêng che

    Là hương hoa đồng cỏ nội

    Bay trong giấc ngủ đêm hè

    Quê hương là vòng tay ấm

    Con nằm ngủ giữa mưa đêm

    Quê hương là đêm trăng tỏ

    Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

    Quê hương là vàng hoa bí

    Là hồng tím giậu mồng tơi

    Là đỏ đôi bờ dâm bụt

    Màu hoa sen trắng tinh khôi

    Quê hương mỗi người chỉ một

    Như là chỉ một mẹ thôi

    Quê hương có ai không nhớ …

     

    2. QUÊ HƯƠNG (Tác giả: Nguyễn Đình Huân)

    Quê hương là một tiếng ve

    Lời ru của mẹ trưa hè à ơi

    Dòng sông con nước đầy vơi

    Quê hương là một góc trời tuổi thơ

    Quê hương ngày ấy như mơ

    Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu

    Quê hương là tiếng sáo diều

    Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê

    Quê hương là phiên chợ quê

    Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa

    Quê hương là một tiếng gà

    Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng

    Quê hương là cánh đồng vàng

    Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều

    Quê hương là dáng mẹ yêu

    Áo nâu nón lá liêu siêu đi về

    Quê hương nhắc tới nhớ ghê

    Ai đi xa cũng mong về chốn xưa

    Quê hương là những cơn mưa

    Quê hương là những hàng dừa ven kinh

    Quê hương mang nặng nghĩa tình

    Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời

    Quê hương ta đó là nơi

    Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

     

    3. ĐƯỜNG VỀ QUÊ MẸ (Tác Giả: Đoàn Văn Cừ)

    U tôi ngày ấy mỗi mùa xuân,

    Dặm liễu mây bay sắc trắng ngần,

    Lại dẫn chúng tôi về nhận họ

    Bên miền quê ngoại của hai thân.

    Tôi nhớ đi qua những rặng đề,

    Những dòng sông trắng lượn ven đê.

    Cồn xanh, bãi tía kề liên tiếp,

    Người xới cà, ngô rộn bốn bề.

    Thúng cắp bên hông, nón đội đầu,

    Khuyên vàng, yếm thắm, áo the nâu

    Trông u chẳng khác thời con gái

    Mắt sáng, môi hồng, má đỏ au.

    Chiều mát, đường xa nắng nhạt vàng,

    Đoàn người về ấp gánh khoai lang,

    Trời xanh cò trắng bay từng lớp,

    Xóm chợ lều phơi xác lá bàng.

    Tà áo nâu in giữa cánh đồng,

    Gió chiều cuốn bụi bốc sau lưng.

    Bóng u hay bóng người thôn nữ

    Cúi nón mang đi cặp má hồng.

    Tới đường làng gặp những người quen.

    Ai cũng khen u nết thảo hiền,

    Dẫu phải theo chồng thân phận gái

    Đường về quê mẹ vẫn không quên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhớ Con Sông Quê Hương (Tế Hanh) – Hình Ảnh Con Sông Quê Mộc Mạc Và Trong Veo
  • Những Bài Thơ Hay Nhất Của Nhà Thơ Tế Hanh
  • Tuyển Chọn Bộ Đề Thi Học Sinh Giỏi Văn 9
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Đồng Chí – Chính Hữu
  • 2 Khi Nói Về Biểu Hien Của Tình Dồn…
  • Những Bài Thơ 8 Chữ Về Quê Hương, Làng Quê, Biển Đảo

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Ngữ Văn 8 Trường Gio Linh Tại Soanbai123.com
  • Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước Là Mạch Nguồn Của Dòng Thơ Mới. Hãy Làm Rõ Nhận Định Này Qua 2 Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh Và Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu
  • Việt Nam Đất Nước Ta Ơi (Nguyễn Đình Thi) – Tình Yêu Quê Hương Đất Nước Trường Tồn Mãi Mãi
  • Ket Thúc Bài Que Huomg Nhà Thơ Tế C…
  • Thơ 8 Chữ Về Ngày 20
  • Có những bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê, biển đảo nào hay nhỉ?

    Những bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê, biển đảo

    Top Những bài Thơ 8 chữ về biển đảo 1 :Tiếng biển

    Vợ yêu ơi em có nghe tiếng biển

    Lúc gầm vang lúc rì rào tha thiết

    Những ngày này trong mỗi người dân Việt

    Tiếng biển cuộn trào, tiếng biển sục sôi…

    Cuối tuần về quê cho anh nhắn đôi lời

    Thưa với cha và thắp hương khấn mẹ

    Anh vẫn vững vàng nơi biển đảo xa xôi…

    Em hãy đưa điện thoại kề gần nôi

    Để con chúng mình nghe tiếng của biển khơi

    Anh không thể ẵm bồng ru con ngủ

    Gửi tiếng biển về yên giấc con thôi…

    Em có nghe tiếng biển trong lòng người

    Tiếng của hòa bình tiếng hạnh phúc vui tươi

    Nhưng tàu giặc mà tấn công bờ cõi

    Tiếng biển hiền hòa sẽ hóa tiếng ngư lôi…

    Biển xanh yên lành đâu muốn máu đỏ rơi

    Đảo nhỏ yêu thương chỉ mong tiếng biển cười

    Đón bình minh mỗi ban mai ngày mới

    Tiếng biển đêm về như tiếng mẹ à ơi…

    Anh biết đất liền đang lo lắng khôn nguôi

    Đâu riêng vợ yêu mà hàng triệu triệu người

    Hướng về phía Đông lặng nghe tiếng biển

    Mong bình yên cho tàu cá ra khơi…

    Vợ yêu ơi…anh phải đi trực rồi

    Phút chào nhau nhau tiếng biển bỗng mặn môi

    Gọi để vợ nghe tiếng biển… tiếng yêu đời…

    Bài thơ với nỗi niềm anh lính biển xa quê gửi về nơi hậu phương của tổ quốc,vì nhiệm vụ mà phải quên thân mình để trấn giữ nơi đầu sóng ngọn gió của tổ quốc cùng tình yêu hi sinh cao cả to lớn mà gia đình đã dành cho anh để yên tâm công tác

    Thơ 8 chữ về biển đảo 2:Tổ quốc nơi đầu sóng

    Thêm một ngày trên quần đảo Trường Sa

    Biển tĩnh lặng mà lòng người rất động

    Sắp bão giông không còn cơn gió lộng

    Cơn bão lòng cuồn cuộn phía Trường Sa.

    Thêm một ngày trên vùng biển của ta

    Thềm lục địa lại oằn lên đau nhói

    Ngàn năm xưa ông cha đi mở cõi

    Phía chân trời, xương cốt gửi Hoàng Sa.

    Ngoài khơi xa vẫn lởn vởn bóng ma

    Loài lang sói đói mồi nên thèm khát

    Bao cơn sóng dập dồn xô Đá Lát

    Song Tử vững vàng, Nam Yết vẫy Sơn Ca.

    Có đất nước nào như Tổ Quốc ta

    Lịch sử cha ông bốn ngàn năm bất khuất

    Trong gian khó vẫn gồng lên giữ đất

    Đất nước loé lên hình tia chớp ngang trời.

    Các con mẹ vật lộn giữa biển khơi

    Ngăn sóng dữ đè lên thềm lục địa

    Con quái vật khổng lồ kia sắp sửa

    Hút máu người trên thân mẹ Việt Nam.

    Từ Cà Mau liền dải tới Nam Quan

    Mẹ Việt Nam vẫn chưa tròn giấc ngủ

    Đất cha ông không nguôi ngày đoàn tụ

    Đứa con Hoàng Sa lưu lạc trở về.

    Một ngày buồn sao thấy dài lê thê

    Biển tĩnh lặng mà lòng người rất động

    Đã bao lần khiến kẻ thù vỡ mộng

    Trong lòng người từng đợt sóng trào dâng.

    Khu vực biển đông các quần đảo đang là điểm nóng nhất hiện nay về tranh chấp lãnh thổ.Bài thơ là nỗi khó nhọc ,lo sợ và lòng dũng cảm của những người lính đang sống mỗi một ngày với ý chí thép và lòng cảnh giác cao độ

    Chọn lọc bài Thơ 8 chữ về biển đảo 3:Tổ quốc nhìn từ biển

    Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển

    Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa

    Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

    Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa

    Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc

    Các con nằm thao thức phía Trường Sơn

    Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả

    Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

    Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

    Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng

    Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa

    Trong hồn người có ngọn sóng nào không

    Minh họa: Văn Nguyễn

    Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo

    Lạc Long cha nay chưa thấy trở về

    Lời cha dặn phải giữ từng thước đất

    Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi

    Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể

    Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù

    Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ

    Thương Hòn Mê bão tố phía âm u

    Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích

    Những đau thương trận mạc đã qua rồi

    Bao dáng núi còn mang hình góa phụ

    Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi

    Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa

    Đã mười lần giặc đến tự biển Đông

    Những ngọn sóng hóa Bạch Đằng cảm tử

    Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng

    Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo

    Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn

    Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy

    Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân

    Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả

    Những chàng trai ra đảo đã quên mình

    Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước (*)

    Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh

    Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát

    Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời

    Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất

    Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi

    Bài thơ như một lời tuyên ngôn độc lập sống mãi với chủ quyền biển đảo của chúng ta,từ xưa đên nay mọi thế hệ cha ông dân tộc ta đã sống và bảo vệ mãnh đất này mang trên đó là dấu tích của con dân việt kẻ thù sẽ không bao giờ có thể khuất phục được

    Những bài Thơ biển đảo 4:Tổ quốc ở trường sa

    Các con đứng như tượng đài quyết tử

    Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra

    Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt

    Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa

    Khi hy sinh ở đảo đá Gạc Ma

    Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn

    Để một lần Tổ quốc được sinh ra

    Máu của họ thấm vào lòng biển thẳm

    Cờ Tổ quốc phất lên trong mưa đạn

    Phút cuối cùng đảo đá hóa biên cương

    Họ đã lấy thân mình làm cột mốc

    Chặn quân thù trên biển đảo quê hương

    Họ đã hóa cánh chim muôn dặm sóng

    Hướng về nơi đất mẹ vẫn mong chờ

    Nếu mẹ gặp cánh chim về từ biển

    Con đấy mà, mẹ đã nhận ra chưa!

    Có nơi nào như Đất nước chúng ta

    Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ

    Khi giặc đến vạn người con quyết tử

    Cho một lần Tổ quốc được sinh ra

    Biển mùa này sóng dữ phía Hoàng Sa

    Các con mẹ vẫn ngày đêm bám biển

    Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta

    Như máu ấm trong màu cờ nước Việt

    Biển Tổ quốc đang cần người giữ biển

    Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa

    Máu của họ ngân bài ca giữ nước

    Để một lần Tổ quốc được sinh ra

    Việt Nam ơi! dưới bão táp mưa sa

    Người thắp sáng một niềm tin bền bỉ

    Những giếng dầu trụ vững giữa khơi xa

    Dầu là máu thắp trên thềm lục địa

    Sớm mai này nắng ấm ở Trường Sa

    Tiếng gà gáy bình yên trên ngực đảo

    Tiếng trẻ nhỏ đến trường nơi sóng bão

    Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra

    Bài thơ truyền lửa mạnh mẽ đến mọi con dân nước Việt về truyền thống dựng nước và giữ nước của nhân dân ta ,chỉ cần có bóng giặc hay tổ quốc lâm nguy truyền thống ấy lại hừng hực khí thế

    Thơ 8 chữ hay nhất về biển đảo 5:Nếu em về thăm đảo tôi

    Ngàn trùng xa sóng vỗ về thủ thỉ

    Tiếng côn trùng rủ rỉ với sầu bi

    Nơi đảo xa cùng nỗi nhớ phân kỳ

    Ngày em đến những gì bên kỷ niệm

    Người lính đảo luôn sẵn lòng cần kiệm

    Ghi tạc lòng những hoài niệm dấu yêu

    Hải âu bay cảnh đảo lúc trời chiều

    Tuy buồn vắng nhưng thấy nhiều hứng khởi

    Ngày em đến chúng tôi mừng hấp hởi

    Đảo đón chào người lính cởi niềm riêng

    Em đến rồi với hòn đảo thiêng liêng

    Bờ cát trắng cũng nằm nghiêng nghênh đón

    Nơi đảo xa anh có đèn đom đóm

    Soi bước đường mừng em đến thăm anh

    Mong biển trời mai mãi ngát màu xanh

    Để ra về nhành San Hô anh tặng

    Tình anh lính đảo xa luôn thầm lặng

    Nhớ thương nhiều yên ắng những nặng thương

    Mong bình yên trên khắp mọi nẻo đường

    Thơ 8 chữ về tình yêu biển đảo 6:Thư tình người lính biển

    Nhớ không em những ngày anh xa vắng

    Em đợi chờ như đón nắng mùa đông

    Nơi hậu phương em chung thủy mặn nồng

    Muốn gửi tặng má hồng ra phương ấy

    Sóng vẫn đấy vẫn xô bờ cát vậy

    Nỗi nhớ người đưa đẩy bóng thời gian

    Nghe đâu đây những cơn gió đại ngàn

    Anh xin gửi những tiếng đàn ân ái

    Hải âu bay sóng bạc đầu hoang hoải

    Ở quê nhà em khắc khoải chờ mong

    Những ái ân vẫn thầm gọi bên lòng

    Dù tuyến đầu gian nan anh không ngại

    Dù trong lòng trống trải rất cô đơn

    Mong một mai để được thấy em hờn

    Niềm hạnh phúc như tiếng đờn anh tặng.

    Bài thơ tình yêu cao cả của chàng lính biển,như một bức thư tình lãng mạng dành tặng cho người yêu nơi hậu phương vẫn một lòng một dạ thủy chung son sắt chờ người yêu nơi tiền tuyến trở về

    Những bài Thơ 8 chữ về biển đảo hay ý nghĩa 7:Thư tình người lính biển

    Nghe em hát Biển của ta đẹp lắm

    Nặng nghĩa tình rất đằm thắm Trường Sa

    Có người bảo: chúng tôi lắm…anh à

    Nhưng tình em vẫn đậm đà với Biển

    Ở nơi ấy bão giông luôn hiện diện

    Thêm kẻ thù luôn gây biến cuồng phong

    Sẻ chia anh những khao khát đáy lòng

    Nhiều cảm xúc thật thanh trong dào dạt

    Sóng rì rào anh tưởng như lời hát

    Bởi trong anh chẳng phai nhạt tình em

    Nơi Biển xa bao nỗi nhớ khát thèm

    Về đất mẹ đã có em hậu thuẫn

    Biển ru anh biết bao ngày vương vấn

    Tiếng hát em xua hết giận để thương

    Hoàng Sa, Trường Sa Tổ quốc vượng trường

    Để Biển mãi hòa đời thường người lính

    Vẫn chung tình chứ không hề phỉnh nịnh

    Yêu Biển rồi em chẳng sợ bão giông

    Biển yêu nhiều, em trau chuốt má hồng

    Để đón nhận một khoảng không riêng biệt

    Biển xanh ơi! Hãy vẹn tròn danh tiết

    Giữ tình em ta cùng viết lời ca

    Không xa đâu… ơi biển, đảo Trường Sa

    Em vẫn mãi giữ mặn mà anh ạ

    Anh gói gọn một tình yêu sắt đá

    Của em trao chẳng nghiêng ngả phiêu du

    Biển của ta không bóng dáng quân thù

    Em sẽ hát trọn lời ru Biển lặng.

    Biển đảo nếu nghe qua lời ca câu hát vốn sẽ rất yên bình nhưng đối với những người lính phải sống và đối mặt hằng ngày nơi đó mới nhận ra hết mọi hiểm nguy.Chỉ có tình yêu đối với những người thân thương mới là động lực to lớn gửi đến các người lính nơi đảo xa

    Những bài Thơ hay 8 chữ về quê hương 8:Nơi tôi sinh ra

    Nơi tôi sinh tây ninh làng quê nhỏ

    Không ồn ào náo nhiệt quá ai ơi

    Những con đường mòn lối bước chân đi

    Người qua lại ngược xuôi lặng lẽ .

    Nơi tôi sinh tây ninh làng quê .nhỏ

    Từng con người đều thấy rất thân quen

    Phiên chợ thành ồn ã buổi chiều hoen

    Đêm đèn sáng thả hồn theo làn gió .

    Nơi tôi sinh con phố ngắn và hẹp

    Thường rộn rã những buổi sáng ,chiều hôm

    Hàng quán mọc lổn nhổn lấn ra đường

    Người lao động quen ngửi mùi khói bụi .

    Nơi tôi sinh con ngõ thật là nhỏ

    Chỉ dài chừng hai chục bước chân

    Ngõ thì thấp nhà lại phải cao lên.

    Để tránh bị lụt mỗi mùa mưa bão tới .

    Nơi tôi sinh con ngõ thật là nhỏ

    7,8 gia đình hoà thuận sống bên nhau

    Người lao động nghèo chủ yếu là chân tay .

    Sống giản dị giàu tình thương đồng loại .

    nhà tôi ở nơi bình dị đó đấy………..

    Ai cũng sẽ có quê hương ,nơi mà ta đã sinh ra và lớn lên nơi ấy sẽ là noi đẹp nhất thế giới này như chính những gì mà ta biết về những con người ở nơi ấy ,như những kỷ niệm đã theo ta suốt những năm tháng đầu đời

    Tổng hơp bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê 9:Trở lại quê hương

    Tôi trở về một chiều hanh hao nắng

    Dấu gót hài lấm tấm bụi đường xa

    Đem lòng yêu ngọn Ấn với sông Trà

    Nỗi xa quê vẫn mãi hoài thấp thỏm

    Quê hương tôi nép bên dòng sông nhỏ

    Mái nhà gianh khép bóng những hàng tre

    Khói chiều lam rải xuống lối đi về

    Gió nội đồng thơm lừng hương mái rạ

    Làng tôi ở ruộng vườn xanh bát ngát

    Nhà ông bà có mấy ngọn dừa cao

    Hoa ngũ hương xanh đỏ khắp bờ rào

    Đằng sau nhà hố bom bì bõm vịt

    Làng tôi ở mỗi chiều khi gió vít

    Sáo vi vu no gió những cánh diều

    Đám trai làng thủ thỉ chuyện tình yêu

    Làng bên kia có cô nàng xinh lắm

    Làng tôi ở cạnh bên bờ xóm biển

    Thuyền thúng chài trôi nổi khắp ven khơi

    Nghe thoáng qua đâu đó tiếng ru hời

    Giữa những hàng phi lao cần mẫn ấy

    Tôi nằm đây nơi bờ đê ngày cũ

    Mãi miết nhìn đàn chim mải miết bay

    Mùi mặn nồng lồng ngực khiến hồn say

    Đàn chiền chiện, cánh bướm vàng, tiếng nghé

    Tôi nằm đây nhớ về ngày xưa cũ

    Thời trẻ thơ bắt ốc với lội đồng

    Đến mai này liệu biết có còn không?

    Mai xa quê sẽ đau lòng lữ thứ…

    Bài thơ là hình ảnh những người con xa quê tìm trở về nơi chốn cũ sau bao năm trời xa cách bài thơ miêu tả hình ảnh quê hương chân chất mộc mạc mà bình dị hình ảnh quen thuộc có ấn tượng đặc biệt trong lòng con người .

    Thơ ý nghĩa 8 chữ về quê hương, làng quê 10:Quê hương tôi

    Quê hương tôi có con sông xanh biếc

    Nước gương trong soi tóc những hàng tre

    Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè

    Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng.

    Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng

    Giữ bao nhiêu kỉ niệm giữa dòng trôi?

    Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!

    Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ

    Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ

    Sông của miền Nam nước Việt thân yêu

    Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

    Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

    Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

    Bầy chim non bơi lội trên sông

    Tôi giơ tay ôm nước vào lòng

    Sông mở nước ôm tôi vào dạ

    Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả

    Kẻ sớm khuya chài lưới bên sông

    Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng

    Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

    Nhưng lòng tôi như mưa nguồn, gió biển

    Vẫn trở về lưu luyến bên sông

    Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc

    Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc

    Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng “miền Nam”

    Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng

    Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc

    Tôi nhớ cả những người không quen biết…

    Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây

    Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy

    Hình ảnh con sông quê mát rượi

    Lai láng chảy lòng tôi như suối tưới

    Quê hương ơi! Lòng tôi cũng như sông

    Tình Bắc Nam chung chảy một dòng

    Không ghành thác nào ngăn cản được

    Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mơ ước

    Tôi sẽ về sông nước của quê hương

    Tôi sẽ về sông nước của tình thương…

    Bài thơ thể hiện sâu sắc hình ảnh quê hương được hiện lên trong từng câu chữ của bài thơ thể hiện tình yêu sâu sắc với quê hương dù cho có khoảng cách về thời gian và khoảng cách địa lý xa xôi thế nào cũng sẽ không ngăn được tình cảm yêu quê hương

    Những bài Thơ chọn lọc 8 chữ về quê hương 11:Quê hương

    Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

    Nước bao vây cách biển nữa ngày sông

    Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng

    Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

    Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

    Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

    Mảnh thuyền to như mảnh hồn làng

    Rướn thân trằng bao la thâu góp gió.

    Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ

    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về

    Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe

    Những con cá tươi non thân bạc trắng

    Dân chài lưới làng da ngăm rám nắng

    Khắp thân người nồng thở vị xa xăm

    Chiếc thuyền im bến mõi trở về nằm

    Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

    Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

    Màu nước xanh, cá bạc chiếc buồm vôi

    Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi

    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá

    Những bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê hay nhất 12:Xa quê hương

    Xa quê hương suốt mấy chục năm rồi

    Mãi trong ta nhớ miền quê yêu dấu

    Cánh diều tuổi thơ lưng trâu sáo đậu

    Nghe quê hương đất mẹ gọi ta về

    Chân ngập ngừng lội bước tới triền đê

    Đàn bướm nhỏ dập dìu hoa dại tím

    Nhớ một thời tuổi thơ nhiều kỷ niệm

    Gợi ta về với những giấc mơ xưa

    Đồng lúa xanh non ngút ngàn nắng mưa

    Đất bạc màu mẹ dày công chăm bón

    Khom lưng trên đồng cõng bầu trời trĩu nặng

    Úp mặt ruộng sâu góp nhặt hạt thóc rơi

    Con biết quê nhà vất vả lắm mẹ ơi

    Một nắng hai sương đất cằn đồng hạ

    Ướt đẫm giọt mồ hôi đong đầy khoai lúa

    Thấm một đời câu muối mặn gừng cay

    Quê hương mình bao nỗi nhớ đong đầy

    Chiếc áo tơi bốn mùa che mưa nắng

    Gió lào thổi cuộc đời thêm gánh nặng

    Hạt thóc vàng mẹ đánh đổi thanh xuân

    Yêu quê mình ta dạo bước bâng khuâng

    Bát nước chè xanh, câu hò ngọt lịm

    Giọng nói quê nghe nhọc nhằn thương mến

    Ta trở về nghe tiếng gọi quê hương..!

    Thơ 8 chữ quê hương, làng quê 13:Quê hương tuổi thơ tôi

    Tôi sinh ra nơi miền quê duyên hải

    Đất Hải Phòng mê mải cánh buồm nâu

    Biển quê tôi rất đẹp và rất giàu

    Hoàng hôn đến với một màu tím biếc

    Thời gian trôi theo dòng đời hối tiếc

    Bên mái trường ta học Viết ngày xưa

    Tháng 5 về mùa phượng đỏ đong đưa

    Còn nhớ mãi chiều tắm mưa xóm nhỏ

    Có nhiều hôm nắng chưa vờn ngọn cỏ

    Cùng bạn bè theo gió thả diều quê

    Bao năm rồi trong nức nở tái tê

    Tìm ký ức đam mê ngày xưa ấy

    Thời gian trôi như một dòng sông chẩy

    Xa mất rồi ai tìm thấy được chăng

    Nơi quê cũ ơi tình sâu nghĩa nặng

    Tuổi thơ nào say đắm của ngày xưa …

    Những bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê cảm động 14 :Tình quê

    Nhớ không em thuở ấu thơ ngày ấy

    Mình bên nhau khi diều giấy bay cao

    Tuổi thơ xưa bên nỗi nhớ cồn cào

    Còn mãi mãi đi vào trong kỷ niệm

    Thời gian trôi những tháng ngày màu nhiệm

    Vẩn vơ hoài còn ẩn hiện trong ta

    Dù đi đâu anh vẫn nhớ quê nhà

    Nhớ tuổi thơ những chiều tà bóng xế

    Quê hương ơi tuổi thơ là như thế

    Là chiều tà bóng xế thả diều quê

    Bên bạn bè và những nỗi đam mê

    Anh nhớ mãi câu thề thời thơ dại

    Em đùa anh bao giờ mùa hoa cải

    Nở hoa vàng ta phải chuyện trầu cau

    Tuổi thơ ơi bên kỷ niệm úa nhàu

    Còn nhớ mãi một màu tình quê cũ.

    Thơ 8 chữ về nỗi nhớ quê hương, làng quê, 15:Nhớ lắm quê hương

    Nhớ làm sao, tiếng võng giữa trưa Hè

    Tiếng kẽo kẹt, ôi nghe mà thương lắm

    Lời ru mãi, ngàn đời sau vẫn ấm

    Mái tranh nghèo, sâu đậm…nghĩa tình xưa

    Gió thổi về, theo giọt nắng đong đưa

    Mây lướt nhẹ, từng cơn mưa…vội vã

    Cau lại thắm, vườn trầu thêm xanh lá

    Đã đến mùa, ra cấy mạ….đi thôi ‼

    Chân lấm bùn, thân ướt đẫm mồ hôi

    Hồn thanh thản, cuộc đời…không lo nghĩ

    Đêm khuya vắng, tiếng côn trùng non nỉ

    Như dặn lòng, bền bỉ…với thời gian

    Những hoàng hôn, mờ nhạt khói sương tan

    Dừa soi bóng, trăng vàng….in đáy nước

    Quê hương đó, bao giờ ta tìm được

    Đến bao giờ, dừng chân bước….tha phương.

    Nhớ làm sao, tiếng võng giữa trưa HèTiếng kẽo kẹt, ôi nghe mà thương lắmLời ru mãi, ngàn đời sau vẫn ấmMái tranh nghèo, sâu đậm…nghĩa tình xưaGió thổi về, theo giọt nắng đong đưaMây lướt nhẹ, từng cơn mưa…vội vãCau lại thắm, vườn trầu thêm xanh láĐã đến mùa, ra cấy mạ….đi thôi ‼Chân lấm bùn, thân ướt đẫm mồ hôiHồn thanh thản, cuộc đời…không lo nghĩĐêm khuya vắng, tiếng côn trùng non nỉNhư dặn lòng, bền bỉ…với thời gianNhững hoàng hôn, mờ nhạt khói sương tanDừa soi bóng, trăng vàng….in đáy nướcQuê hương đó, bao giờ ta tìm đượcĐến bao giờ, dừng chân bước….tha phương.

    Vforum đã sưu tầm cho bạn đọc Tổng hợp Những bài Thơ 8 chữ về quê hương, làng quê, biển đảo hay nhất mong rằng các tác phẩm sẽ giúp cho hình ảnh đất nước Viêt Nam ngày càng tươi đẹp hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Bài Thơ Lục Bát Về Biển Đảo, Quê Hương, Đất Nước, Con Người Việt Nam
  • Câu 14 Đọc Đoạn Thơ Sau Và Trả Lời …
  • Những Bài Thơ Hay Về Quê Hương, Đất Nước
  • Nhớ Con Sông Quê Hương (Tế Hanh) – Hình Ảnh Con Sông Quê Mộc Mạc Và Trong Veo
  • Những Bài Thơ Hay Nhất Của Nhà Thơ Tế Hanh
  • Viết Về Cây Nho Quê Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Đề: Gia Đình Thân Yêu Của Bé
  • Chùm Thơ Nhiều Người Viết 4: Sầu Riêng
  • Cô Bán Sầu Riêng – Tống Phước Hiệp Vĩnh Long
  • Chùm Thơ Chia Tay Buồn Khóc, In Hằn Vết Cắt Rỉ Máu Trong Tim
  • Đói Lòng Ăn Nửa Trái Sung…
  • Cây nho có nguồn gốc từ các nước Âu- Mỹ xa xôi đã bén rễ rồi duyên nợ với vùng đất Phan Rang hơn nửa thế kỷ qua. Những vườn nho trĩu quả, dòng sông Dinh tha thiết ân tình, bóng dáng Tháp Chàm cổ kính, vịnh Vĩnh Hy, biển Ninh Chử… là những hình tượng đặc trưng của Ninh Thuận được nhiều người cầm bút khai thác gởi gắm tình cảm về miền đất nắng gió tràn đầy yêu thương. Nho Phan Rang- vị ngọt quê nhà xuất hiện khá dày trong nhiều tác phẩm thi ca.

    Cây nho “bén rễ” cho những mùa trái ngọt trên vùng đất Ninh Thuận.

    Mỗi người có một cách nói rất riêng về sắc màu, hương vị độc đáo của cây nho nhưng đều quy về nỗi nhớ mong với khát vọng sống và viết hết lòng cho quê hương. Chuẩn bị chào đón Lễ hội Nho và Vang Quốc tế- Ninh Thuận 2014, tác giả Thái Sơn Ngọc đã viết:

    “Ơi, thành phố Phan Rang

    Nồng nàn hương nho vang.

    Ngất ngây hồn lữ khách

    Bờ biển xanh nắng vàng.”

    (Hội Nho vang)

    Tác giả Lương Sơn có cách so sánh rất duyên dáng, chùm nho chín đỏ như mặt trời nho nhỏ thắp lên niềm vui tươi đẹp cho cuộc sống:

    “Đong đưa đong đưa

    Chùm nho chín đỏ

    Mặt trời nho nhỏ

    Thắp lên niềm vui.”

    (Mặt trời chín đỏ)

    Tác giả Hữu Lợi có lời mời gọi bè bạn gần xa qua miền Trung nhớ ghé về thăm Ninh Thuận, mảnh đất thiếu mưa thừa nắng đã nuôi lớn loài cây cho hương thơm vị ngọt gởi nhớ khắp trăm miền:

    “Qua miền Trung, bạn ghé về Ninh Thuận

    Nơi có những vườn nho mọng ngọt

    Tình quê tôi gởi khắp mọi miền”

    (Ninh Thuận quê tôi)

    Tác giả Minh Châu có cách viết dung dị đã liên tưởng chùm nho chín mọng như môi thơm cô gái đang độ xuân thì, cách so sánh khá thi vị làm xao xuyến lòng người:

    ”Nhớ chùm nho quả mọng

    Như môi gái xuân thì

    Níu lòng bao du khách

    Đến rồi chẳng muốn đi”

    (Nhớ Phan Rang)

    Với Kiều Đình Minh, tuy vùng đất nắng gió quê mình không có mùa đông nhưng cái nắng và gió dư dã đã làm cho hoa trái Phan Rang trở nên ngọt ngào hơn. Để rồi đôi khi đi tận phương trời nào, ta vẫn da diết nhớ quê:

    “Không có mùa đông hoa trái ngọt ngào hơn

    Cây tỏi, cây hành cũng cay nồng sắc lửa

    Quả mận chín hồng, chùm nho mọng đỏ

    Cứ đong đưa mời mọc mắt ta nhìn”

    (Thị xã mình không có mùa đông)

    Lê Tấn Nghĩa có cái nhìn phơi phới về những vườn nho chín đỏ căng đầy nhịp sống mùa xuân tuổi hai mươi:

    “Em đã có mùa xuân hai mươi

    Vườn nho chín đỏ gió reo vui

    Em giấu tình ai trong mắt thắm

    Tròn căng nhựa sống nhịp xuân tươi”

    (Phan Rang chiều vào xuân)

    Tác giả Ánh Hồng cảm thông chia sẻ sâu sắc với những người nông dân lam lũ một nắng hai sương trên cánh đồng dâng cho đời mùa trái ngọt đưa hương:

    “Vườn nho chín mọng đưa hương

    Mồ hôi em lẫn giọt sương cuối mùa”

    (Quê em)

    Vi Thị Phan có cảm nhận trong trẻo ân tình khi viết về cánh đồng nho Phan Rang. Chị đã có những nét chấm phá khá duyên dáng tạo thành bức tranh quê tươi thắm sắc màu:

    “Hàng hàng nụ cười lung linh trong nắng

    Đỏ màu môi em chín mọng trĩu cành

    Đen màu mắt em rợp giàn sai quả

    Nho vào mùa, tít tắp một màu xanh”

    (Phan Rang)

    Một vài trích dẫn nêu trên của chúng tôi mang tính khơi gợi giữa rất nhiều bài thơ viết về nho Phan Rang. Nắng sớm tháng bảy lung linh trên những vườn nho căng đầy trái ngọt. Những người nông dân vẫn cần mẫn một nắng hai sương với ước vọng làm nên mùa vàng no ấm. Viết về nho Phan Rang là đề tài văn học luôn mới mẻ đầy sức hấp dẫn đối với những người cầm bút. Lễ hội Nho và Vang Quốc tế- Ninh Thuận 2014 đang đến rất gần tạo tâm lý phấn khởi cho văn nghệ sĩ có nhiều tác phẩm mới đặc sắc về cây nho quê hương.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 8 Bài Văn Tả Quả Măng Cụt Lớp 2
  • Văn Mẫu Lớp 2: Quả Măng Cụt
  • Đoàn Lưu Học Sinh Bulgari Khóa 1970
  • Hoa Thạch Lựu Và Hoa Phượng
  • Đói Lòng Ăn Trái Khổ Qua…
  • Viết Về Cây Nho Quê Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Tả Quả Xoài Lớp 5
  • Tả Quả Xoài Lớp 2, Bài Văn Miêu Tả Trái Xoài
  • Tả Cây Xoài Mà Em Biết Lớp 4
  • Tả Quả Xoài Lớp 5 Hay Nhất
  • Top 10 Bài Văn Mẫu Tả Quả Xoài Lớp 2 Chọn Lọc
  • Thứ ba, 01/07/2014 22:29

    Cây nho có nguồn gốc từ các nước Âu- Mỹ xa xôi đã bén rễ rồi duyên nợ với vùng đất Phan Rang hơn nửa thế kỷ qua. Những vườn nho trĩu quả, dòng sông Dinh tha thiết ân tình, bóng dáng Tháp Chàm cổ kính, vịnh Vĩnh Hy, biển Ninh Chử… là những hình tượng đặc trưng của Ninh Thuận được nhiều người cầm bút khai thác gởi gắm tình cảm về miền đất nắng gió tràn đầy yêu thương. Nho Phan Rang- vị ngọt quê nhà xuất hiện khá dày trong nhiều tác phẩm thi ca.

    Cây nho “bén rễ” cho những mùa trái ngọt trên vùng đất Ninh Thuận.

    Mỗi người có một cách nói rất riêng về sắc màu, hương vị độc đáo của cây nho nhưng đều quy về nỗi nhớ mong với khát vọng sống và viết hết lòng cho quê hương. Chuẩn bị chào đón Lễ hội Nho và Vang Quốc tế- Ninh Thuận 2014, tác giả Thái Sơn Ngọc đã viết:

    (Hội Nho vang)

    Tác giả Lương Sơn có cách so sánh rất duyên dáng, chùm nho chín đỏ như mặt trời nho nhỏ thắp lên niềm vui tươi đẹp cho cuộc sống:

    (Mặt trời chín đỏ)

    Tác giả Hữu Lợi có lời mời gọi bè bạn gần xa qua miền Trung nhớ ghé về thăm Ninh Thuận, mảnh đất thiếu mưa thừa nắng đã nuôi lớn loài cây cho hương thơm vị ngọt gởi nhớ khắp trăm miền:

    “Qua miền Trung, bạn ghé về Ninh Thuận

    Nơi có những vườn nho mọng ngọt

    Tình quê tôi gởi khắp mọi miền”

    (Ninh Thuận quê tôi)

    Tác giả Minh Châu có cách viết dung dị đã liên tưởng chùm nho chín mọng như môi thơm cô gái đang độ xuân thì, cách so sánh khá thi vị làm xao xuyến lòng người:

    (Nhớ Phan Rang)

    Với Kiều Đình Minh, tuy vùng đất nắng gió quê mình không có mùa đông nhưng cái nắng và gió dư dã đã làm cho hoa trái Phan Rang trở nên ngọt ngào hơn. Để rồi đôi khi đi tận phương trời nào, ta vẫn da diết nhớ quê:

    (Thị xã mình không có mùa đông)

    Lê Tấn Nghĩa có cái nhìn phơi phới về những vườn nho chín đỏ căng đầy nhịp sống mùa xuân tuổi hai mươi:

    (Phan Rang chiều vào xuân)

    Tác giả Ánh Hồng cảm thông chia sẻ sâu sắc với những người nông dân lam lũ một nắng hai sương trên cánh đồng dâng cho đời mùa trái ngọt đưa hương:

    “Vườn nho chín mọng đưa hương

    Mồ hôi em lẫn giọt sương cuối mùa”

    (Quê em)

    Vi Thị Phan có cảm nhận trong trẻo ân tình khi viết về cánh đồng nho Phan Rang. Chị đã có những nét chấm phá khá duyên dáng tạo thành bức tranh quê tươi thắm sắc màu:

    (Phan Rang)

    Một vài trích dẫn nêu trên của chúng tôi mang tính khơi gợi giữa rất nhiều bài thơ viết về nho Phan Rang. Nắng sớm tháng bảy lung linh trên những vườn nho căng đầy trái ngọt. Những người nông dân vẫn cần mẫn một nắng hai sương với ước vọng làm nên mùa vàng no ấm. Viết về nho Phan Rang là đề tài văn học luôn mới mẻ đầy sức hấp dẫn đối với những người cầm bút. Lễ hội Nho và Vang Quốc tế- Ninh Thuận 2014 đang đến rất gần tạo tâm lý phấn khởi cho văn nghệ sĩ có nhiều tác phẩm mới đặc sắc về cây nho quê hương.

    Phượng Vĩ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tả Cây Ổi Vườn Nhà Em
  • Bài Văn Tả Quả Vú Sữa, Tả Quả Sầu Riêng Lớp 5 Hay Ngắn Gọn
  • Top 5 Bài Văn Mẫu Tả Quả Vú Sữa Lớp 2 Chọn Lọc
  • Mẹo Chữa Bệnh Trĩ Bằng Quả Sung Đơn Giản Hiệu Nghiệm
  • Bài Thuốc Chữa Sỏi Thận Hiệu Quả Từ Quả Sung
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100