Top 13 # Bài Thơ Về Rào Trăng / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Ӽúƈ Độռɢ Bài Thơ “Gọi Tìm Đồng Đội” Ở Hiện Trường Thủy Điện Rào Trăng 3 / 2023

Chiều 14/10, trên mạn‌g xã hội xuấ‌t hiện bài thơ “Gọi đồng đội” viết về quá trình lực lượng vũ trang tìm kiế‌m 13 cán bộ, chiến sỹ trong đoàn cứu hộ vào tiếp cận hiện trường sạt lở tại thủy điện Rào Trăng 3 đang bị mất tích.

Xin trích nguyên bài thơ:

“Đồng đội ơi…

Tiếng gọi khàn đi giữa đồi núi lỡ

13 con người dễ bị vùi đâu đó

13 chiến sỹ vượt núi đi cứu người…

Có ai không?

Đồng đội ơi…

Hãy đáp lại 1 lời thôi cũng được

Một lời thôi…yếu ớt

Chúng tôi ở đây! đồng đội ơi…

Cả nước đang hướng về thấp thỏm, Huế ơi…

Khúc ruột Miền Trung vẫn chìm trong biển nước

Trên núi thẳm, rừng xanh kia vọng lên muôn điều ước

Vọng lên muôn điều, đáp lại “đồng đội ơi”

Mạ, con ở nhà khóc cạn nước mắt rồi

Đồng đội kiế‌m tìm cũng kêu gào khản tiếng

Nước mắt đau thương tuôn đầy như biển

Đồng đội ơi, nghe tiếng…tìm về

Đừng nằm dưới đất kia

Đừng trôi theo lũ ống

Đừng từ bỏ hi vọng mong manh về sự sống

Đồng đội ơi! Cả nước đang kiế‌m tìm.

Theo tìm hiểu, tác giả bài thơ là Nhà báo Bùi Tiến, trú tại tỉnh Hà Tĩnh. Nhà báo Bùi Tiến chia sẻ, bài thơ được anh sáng tác khi đang ngồi trên xe từ Hà Nội về Hà Tĩnh. Sau khi xem đoạn clip ghi lại cảnh lực lượng vũ trang tìm kiế‌m 13 cán bộ, chiến sỹ mất tích tại khu vực trạm Kiểm lâm 67 – điểm đoàn dừng chân trên đường vào cứu hộ tại thủy điện Rào Trăng 3, anh đã rất xúc động.

Cộng đồng mạn‌g bày tỏ niềm tiếc thương, cảm phúc và cầu nguyện phép màu đến với 13 cán bộ, chiến sỹ đang mất tích.

“Tiếng gọi đồng đội đến khàn đặc giữa bạt ngàn núi rừng, giữa ngổn ngang đất đá đã san phẳng cả trạm Kiểm lâm 67 khiến tôi vô cùng rung cảm. Tiếng gọi động đội cứ vọng lại giữa núi rừng như hi vọng có ai đó vẫn còn sống sót sẽ nghe thấy. Tiếng gọi đó đầy á‌m ản‌h”, Nhà báo Bùi Tiến chia sẻ.

Khu vực trạm Kiểm lâm 67 đã bị đất đá san phẳng; lực lượng lập bàn thờ vọng các nạn nhân trên đường vào.

Vụ Sạt Lở Ở Thủy Điện Rào Trăng 3: Bài Thơ ‘Gọi Tìm Đồng Đội’ Gây Xúc Động Mạnh / 2023

Theo nhà báo Bùi Tiến (quê Hà Tĩnh) chia sẻ, hoàn cảnh ra đời bài thơ là khi anh đang ngồi trên xe từ Hà Nội về Hà Tĩnh, xem đoạn clip ghi lại cảnh lực lượng vũ trang tìm kiếm 13 cán bộ, chiến sĩ mất tích tại khu vực trạm kiểm lâm 67 (đây là điểm dừng chân của 13 cán bộ, chiến sĩ trên đường tiếp cận thủy điện Rào Trăng 3 để thực hiện công tác cứu hộ).

Lực lượng chức năng đang huy động máy xúc đào bới đất đá, tìm người mất tích. Ảnh: CTV

Còn ai không?

Đồng đội ơi…

Tiếng gọi khàn đi giữa đồi núi lở

13 con người dễ bị vùi đâu đó

13 chiến sĩ vượt núi đi cứu người…

Còn ai không?

Đồng đội ơi…

Hãy đáp lại một lời thôi cũng được

Một lời thôi…yếu ớt

Chúng tôi ở đây! Đồng đội ơi…

Cả nước đang hướng về thấp thỏm Huế ơi…

Khúc ruột miền Trung vẫn chìm trong biển nước

Trên núi thẳm rừng xanh kia vọng lên muôn điều ước

Tấm bảng còn sót lại ở trạm kiểm lâm 67. Ảnh: TQ

Vọng lên muôn điều, đáp lại “đồng đội ơi”

Mạ, con ở nhà khóc cạn nước mắt rồi

Đồng đội kiếm tìm cũng kêu gào khản tiếng

Nước mắt đau thương tuôn đầy như biển

Đồng đội ơi, nghe tiếng… tìm về

Đừng nằm dưới đất kia

Đừng trôi theo lũ ống

Đừng từ bỏ hi vọng mong manh về sự sống

Đồng đội ơi! Cả nước đang kiếm tìm

Thơ: Bùi Đời

Trước đó, lực lượng công binh đã mở đường vào đến Trạm Quản lý bảo vệ rừng tiểu khu 67 (xã Phong Xuân, huyện Phong Điền) – nơi 13 người trong đoàn đi cứu hộ cứu nạn dừng chân nghỉ.

Lực lượng công binh triển khai tìm kiếm các nạn nhân ở trạm dừng chân 67. Ảnh: TQ

Khi đến đây, trạm đã bị đất đá vùi lấp hoàn toàn, không còn dấu vết. Lực lượng cứu hộ gọi vang “Còn ai không?” với hy vọng tìm được đoàn công tác, nhưng không hề nghe thấy tiếng hồi đáp. Xung quanh chỉ là một vùng đất trống, cây cối đổ ngổn ngang, không có một bóng người. Một bầu không khí yên lặng khiến bất cứ ai đều lo lắng, bất an.

Toàn bộ nhà hành điều hành thuỷ điện Rào Trăng 3 bị san bằng, hiện trường chỉ còn lại hàng nghìn khối đất, đá ngổn ngang cao nhiều mét.

Sáng ngày 15/10, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết, sẽ tiếp tục phối hợp với Quân khu 4 tổ chức việc cứu nạn, cứu hộ các nạn nhân bị sạt lở đất ở thuỷ điện Rào Trăng 3 (xã Phong Xuân, huyện Phong Điền) và nhà dừng chân 67 – Khu bảo tồn thiên nhiên sông Bồ, nơi đoàn cứu hộ gặp nạn.

Đất đá vùi lấp khu nhà điều hành thủy điện. Lực lượng cứu hộ đang sử dụng thiết bị bay flycam để tìm kiếm xung quanh khu vực nhà điều hành thuỷ điện Rào Trăng 3 với hy vọng tìm được người sống sót. Ảnh: CTV

Đây là ngày thứ 4 công tác cứu hộ được triển khai kể từ khi nhận được thông tin về vụ sạt lở vào ngày 12/10.

Suy Nghĩ Về Bài Thơ “Ánh Trăng” / 2023

Đề bài: Em hãy suy nghĩ về bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy

Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, những tác phẩm của ông gần gũi với người đọc bởi sự nhẹ nhàng, gần gũi mà chân thành. Và bài thơ “Ánh trăng” cũng vậy – bài thơ khiến cho tâm hồn con người ta phải trăn trở rất nhiều và có cách nhìn nhận chân thực, sâu sắc hơn với cuộc sống.

Không biết tự bao giờ trăng đã trở thành nàng thơ, thành người bạn tri âm tri kỉ của biết bao tâm hồn thi sĩ. Ánh trăng trong thơ Nguyễn Duy cũng vậy, cũng là cảm hứng để ông trút bầy tâm sự, biểu lộ nỗi lòng của mình. “Ánh trăng” của Nguyễn Duy có tâm trạng riêng, suy ngẫm riêng, nó như một lời tự sự chân thành.

Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian. Cảm nghĩ về những hồi ức của tác giả men theo dòng tự sự này để bộc lộ:

“Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

Vầng trăng thành tri kỉ”

Trước hết là hình ảnh vầng trăng thiên nhiên gắn bó với tuổi thơ, Nguyễn Duy nhớ về tuổi thơ êm đềm hạnh phúc nơi ruộng đồng, nhớ về những năm tháng chiến tranh gian khổ nơi núi rừng, những thăng trầm, những niềm vui, nỗi buồn của cuộc sống, sự trưởng thành lớn lên của một con người trải qua bao thăng trầm của cuộc đời phiêu bạc sương gió vì đất nước, nhưng ông không cảm thấy sầu não, mà cảm xúc trong ông hiện hữu là sự cảm động vì ở mọi nơi, mọi lúc đều có sự chia sẻ của Trăng – người bạn tri kỉ. Bằng cách gieo vần lưng và điệp từ “với” được nhắc đi nhắc lại gợi ra trước mắt người đọc một tuổi thơ đầy ắp những kỷ niệm thân thương. Trăng là hình ảnh của thiên nhiên hồn nhiên tươi mát, là trò chơi tuổi thơ, là ước mơ trong sáng, là ánh sáng, là niềm vui bầu bạn của người lính

Con người khi xưa ấy sống giản dị và hoà hợp với thiên nhiên trong lành và ngỡ rằng sẽ không bao giờ quên được cái vầng trăng tình nghĩa. Vậy mà, hoàn cảnh sống thay đổi, hết chiến tranh, con người trở về thành phố, quen với cửa gương và ánh điện của cuộc sống hiện đại lúc nào cũng rực rỡ tươi sáng, vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa của ngày xưa đã mau chóng trở thành quá khứ, dễ bị cho vào vùng lãng quên. Con người trước dòng đời đua chen xô đẩy, cái hào nhoáng trước mắt ánh điện cứa gương đã khiến họ quên đi những hạnh phúc bình dị thuở nào, quên đi những kỉ niệm một thời vất vả khó khăn và cũng vô tình lãng quên đi một người bạn tri kỉ ân tình:

“Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường”.

Vòng xoáy của cuộc sống và dòng đời đã khiến con người cứ luôn tất bật, hối hả. Nhưng cuộc đời mà, có rất nhiều chuyện không thể cứ quên mà chìm vào hồi ức vĩnh viễn được.

“Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn

Người lính đã quên những tình cảm chân thành, những tháng năm gian khổ nhưng chan chứa ân tình thuở trước. Mặc dù vậy trăng vẫn không quên, vẫn đến với bạn xưa bằng tình cảm tràn đầy không hề thay đổi. Việc mất điện như một tình huống không ngờ đến, điện mất, phòng tối om, con người cần ánh sáng mà mở tung cửa sổ, và khi đó lại nhìn thấy hình ảnh vầng trăng vẫn hiện diện trên bầu trời và toả sáng khắp căn phòng. Chính vầng trăng xuất hiện bất ngờ trong bối cảnh ấy đã thổi bùng nỗi nhớ về một thời quá khứ chưa xa.Trong cuộc gặp mặt không lời, người lính xưa xúc động, cảm xúc nghẹn ngào muốn trào nước mắt. Sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy trong tâm trí nhà thơ bao kỷ niệm xưa: những kỷ niệm thiếu thời, những tháng năm chinh chiến giữa thiên nhiên, đất nước bình dị, gần gũi. Tất cả hiện hình trong nỗi nhớ, trong cảm xúc thiết tha và cả trong tư thế lặng im thành kính của tác giả… Vào lúc đó ông đã nhận ra, trăng vẫn tròn đầy, tình nghĩa và vị tha,

Hình ảnh” vầng trăng tròn vành vạnh” không chỉ thể hiện vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của cuộc sống mà còn có ý nghĩa biểu tượng cho nghiã tình quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên, chẳng thể phai mờ. Trăng xuất hiện không một lời oán hờn trách cứ, nhưng đôi khi, im lặng lại là sự trừng phạt nghiêm khắc nhất. Không gian như chững lại,lặng yên trong cuộc gặp mặt không lời của hai người tri kỉ.

Trăng ở đây đã được nhân cách hóa với những suy nghĩ, tâm tư rất con người, rất đời thường vậy mà:

“Trăng vẫn tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình”.

Con người bây giờ đối diện với ánh trăng, nhưng trăng vẫn tròn đầy vệ sự tình nghĩa, và điều đó khiến con người thấy hổ thẹn

” Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng”

Một khoảng khắc im lặng trong hiện thực nhưng trong nội tâm con người nỗi xúc động trào dâng đến đỉnh điểm. Mọi ký ức của một thời xa xăm, một thời gian khó, gắn bó thuở nào bỗng dội về trước mặt:

Từ một câu chuyện riêng, tiếng thơ của Nguyễn Duy như một lời cảnh tỉnh, nhắc nhở thấm thía về thái độ sống ” uống nước nhớ nguồn “, “ân nghĩa thuỷ chung” cùng quá khứ. Với ngôn ngữ giản dị mà hàm súc, cô đọng, giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm được thể hiện qua thể thơ năm chữ kết hợp hài hòa giữa tự sự và trữ tình, cùng đạo lý làm người không bao giờ cũ, bài thơ như một lời tâm sự, nhắc nhớ người ta sống tình cảm với những quá khứ đã qua, trân trọng, biết ơn những thứ mình đã có và đang có.

Nguyễn Lưu

Từ khóa tìm kiếm

suy nghi cua em ve bai tho anh trang cua nguyen duy

dan y de 5 bai tho anh trang cua nguyen duy gơi cho em nhung suy nghi j

Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Hình Ảnh Vầng Trăng Trong Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy / 2023

Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy

Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ quân đội trưởng thành trước cuộc chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ ông có giàu chất triết lý, thiên về chiều sâu nội tâm với những trăn trở, day dứt, suy tư. Bài thơ Ánh trăng được viết năm 1978, ba năm khi chiến tranh kết thúc. Thông qua cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa vầng trăng và con người, bài thơ là lời nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước, bình dị, hiền hậu, từ đó, gợi nhắc người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thuỷ chung cùng quá khứ. Vầng trăng trong bài thơ là một biểu tượng đa nghĩa.

Trong thi ca trung đại, trăng là biểu tượng của cái đẹp, của thiên nhiên vô tư và thuần khiết. Trong thi ca kháng chiến, trăng là ánh sáng, là người bạn, người thân cùng con người sống và chiến đấu. Trăng canh gác cùng người chiến sĩ trong bài thơ Đồng chí; trăng rọi đường hành quân trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu; trăng tâm tình, sẻ chia trong thơ Hồ Chí Minh,… Có thể nói, vầng trăng luôn kề cận con người mọi lúc, mọi nơi với tấm lòng thủy chung, son sắt bền chặt nhất.

Trong bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, một lần nữa, vầng trăng hiện lên với đầy đủ ý nghĩa ấy. Vầng trăng là hình ảnh của thiên nhiên hồn nhiên, tươi mát, là người bạn suốt thòi nhỏ tuổi, rồi thời chiến tranh ở rừng. Vầng trăng là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, hơn thế trăng còn là vẻ đẹp bình dị, vĩnh hằng của đời sống.

Thuở bé thơ, cuộc sống nơi đồng quê tuy vất vả gian lao nhưng gần gũi với thiên nhiên, có vầng trăng và cây cỏ. Rồi đến khi đi kháng chiến ở rừng, vầng trăng cũng theo bước hành quân:

Trong dòng hồi tưởng, tác giả đã khái quát vẻ đẹp của cuộc sống bình dị, vô tư, hồn nhiên và khẳng định tình cảm gắn bó bền chặt của con người với vầng trăng là “tri kỷ”, “tình nghĩa”. Trăng là người ban chia sẻ mọi vui buồn, trăng đồng cam cộng khổ, xoa dịu những đau thương, nham nhở của chiến tranh bằng thứ ánh sáng mát dịu. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của ký ức chan hoà tình nghĩa. Hai từ “tri kỷ” là một sự khẳng định đinh ninh nghĩa tình đậm sâu và bền chặt đến nỗi, con người nghĩ rằng:

“ngỡ không bao giờ quêncái vầng trăng tình nghĩa”.

Với sự gắn bó tình nghĩa ấy nhà thơ đã từng tâm niệm “không bao giờ quên”. Giọng thơ hồi tưởng đều đặn nhưng từ “ngỡ” như báo hiệu trước sự xuất hiện của những biến chuyển trong câu chuyện của nhà thơ. Sau chiến tranh, người lính từ giã núi rừng nhưng không trở về miền quê mà lại lên thành phố – nơi đô thị hiện đại – một không gian xa lạ. Khi đó mọi chuyện bắt đầu đổi khác:

Sự thay đổi của hoàn cảnh sống – không gian khác biệt, thời gian cách biệt, điều kiện sống cách biệt đã khiến con người đổ thay chóng quánh. Từ hồi về thành phố, con người say mê trong cuộc sống tiện nghi với “ánh điện, cửa gương” rực rỡ sắc màu. Người lính bình dị năm xưa bắt đầu quen sống với những tiện nghi hiện đại như “ánh điện, cửa gương”. Cuộc sống công nghiệp hoá đã làm át đi sức sống của ánh trăng trong tâm hồn con người. Anh lính đã quên đi chính ánh trăng đã đồng cam cộng khổ cùng người lính, quên tình cảm chân thành, quá khứ cao đẹp nhưng đầy tình người.

Vầng trăng tri kỷ ngày nào bỗng dưng trở thành “người dưng”, người khách qua đường xa lạ, còn con người đâu còn son sắt thuỷ chung. Một sự thay đổi phũ phàng khiến người ta không khỏi nhói đau. Tình cảm xưa kia nay chia lìa. Hành động “vội bật tung cử sổ” và cảm giác đột ngột “nhận ra vầng trăng tròn’ cho thấy quan hệ giữa người và trăng không còn là tri kỷ, tình nghĩa như xưa, vì có người lúc này thấy trăng như một vật chiếu sáng thay thế cho điện sáng mà thôi.

Câu thơ dưng dưng, lạnh lùng, nhức nhối, xót xa miêu tả một điều gì bội bạc, nhẫn tâm vẫn thường xảy ra trong cuộc sống. Có lẽ nào sự biến đổi về kinh tế, về điều kiện sống, tiện nghi lại kéo theo sự thay dạ đổi lòng?. Bởi thế mà ca dao mới lên tiếng nói: “Thuyền về có nhớ bến chăng?”. Nhà thơ Tố hữu trong bài thơ Việt Bắc cũng đã diễn tả nỗi băn khoăn của nhân dân việt Bắc khi tiễn đưa cán bộ về xuôi:

Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn nhắc nhở: đừng để những giá trị vật chất điều khiển chúng ta. Niềm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng được giải bày trung thực ở hai khổ thơ cuối. Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ, không hẹn trước:

Sự đổi thay của con người không làm vầng trăng cau mặt. Vầng trăng xuất hiện vẫn một tình cảm tràn đầy, không mảy may sứt mẻ. “Trăng tròn” là một hình ảnh thơ khá hay, không chỉ là ánh trăng tròn mà còn là tình cảm bạn bè trong trăng vẫn trọn vẹn, vẫn chung thuỷ như năm xưa. Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn. Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỷ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc.

Từ cái đối mặt trực diện ấy, ánh trăng đã thức dậy những kỉ niệm quá khứ tốt đẹp, đánh thức lại tình cảm bạn bè năm xưa, đánh thức lại những gì con người đã lãng quên. Cảm xúc “rưng rưng” là biểu thị của một tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gọi nhớ gợi thương khi gặp lại bạn tri kỉ. Ngôn ngữ bây giờ là nước mắt rưng rức dưới hàng mi. Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao. “Ánh trăng” nghĩa tình hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào:

Trăng tượng trưng cho quá khứ vẹn nguyên chẳng thể phai mờ, là người bạn, là nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. Mặc cho con người vô tình, “trăng cứ tròn vành vạnh”, không thay đổi gì. Đó là vẻ đẹp tự nó và mãi mãi vĩnh hằng. Đó còn là hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp và những giá trị truyền thống.

Ở đây, có sự đối lập giữa “tròn vành vạnh” và “kẻ vô tình”, giữa cái im lặng của ánh trăng với sự “giật mình” thức tỉnh của con người. Trăng tròn vành vạnh, trăng im phăng phắc không giận hờn trách móc mà chỉ nhìn thôi, một cái nhìn thật sâu như soi tận đày tìm người lính đủ để giật mình nghĩ về cuộc sống hòa bình hóm nay. Họ đã quên mất đi chính mình, quên những gì đẹp đẽ, thiêng liêng nhất của quá khứ để chìm đắm trong một cuộc sống xô bổ, phồn hoa mà ít nhiều sẽ mất đi những gì tốt đẹp nhất của chính mình.

Trăng tròn vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể phai mờ. ánh trăng chính là người bạn nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta : con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.

Phép nhân hoá trong câu thơ “Ánh trăng im phăng phắc” khiến hình ảnh vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể, một người bạn, một nhân chứng, rất nghĩa tình, thủy chung nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc đang nhắc nhở con người. “Ánh trăng im phăng phắc” tuy tĩnh lặng nhưng đủ làm để làm con người “giật mình” tự thức bản thân, nhận ra sự vô tình lãng quên quá khứ tốt đẹp, tức là con người đang phản bội lại chính mình. Nó còn có ý nhắc nhở con người nên trân trọng, giữ gìn vẻ đẹp và những giá tri truyền thống.

Có thể thấy, hình ảnh vầng trăng trong bài thơ trước hết là vầng trăng của tự nhiên. Nhưng vầng trăng còn là biểu tượng của quá khứ đầy tình cảm, khi con người trần trụi giữa thiên nhiên, hồn nhiên, không so đo, tính toán. Khi đó, tâm hồn con người rộng mở, khoáng đạt như sông, như đồng, như bể như rừng. Đó hoàn toàn là những hình ảnh thiên nhiên rộng dãi, hùng vĩ. Nhưng khi kháng chiến thành công thì con người nhốt mình vào cửa kính, buyn – đinh, sống riêng cho mình, cho cái cá nhân nhỏ bé. Bởi thế mà không gần gũi, khổng mặn mà với vầng trăng. Lúc này, trăng tượng trưng cho quá khứ ân tình, thủy chung; cho những tình cảm lớn lao mộc mạc nhưng bất tử, sáng trong mãi mãi.

Con người có thể quên quá khứ, nhưng quá khứ không bao giờ quên. Trăng cứ tròn vành vạnh cũng như quá khứ cứ tươi đẹp, không bao giờ mờ phai, không bao giờ khuyết thiếu. Chỉ có những ai mê mải với cái riêng tư ích kỷ mới có thể dửng dưng vô tình đến vậy. Nhưng vầng trăng ấy bao dung, không “kể chi người vô tình”. Chính thái độ lặng im cao thượng ấy càng làm những ai sớm quên quá khứ nghĩa tình phải giật mình.

Bài thơ “Ánh trăng” là tâm sự của Nguyễn Duy, là suy ngẫm của nhà thơ trước sự đổi thay của hoàn cảnh sống, khi mà con người từ chiến tranh trở về cuộc sống hòa bình. Những sông, đồng, bể, rừng là hình ảnh tượng trưng, nhưng cũng là hình ảnh thật của những người kháng chiến. Thành phố là môi trường mới, là hình ảnh thật của những người kháng chiến không đặt chân tới. Môi trường mới, hoàn cảnh mới làm cho con người sống cách biệt với thiên nhiên cũng có nghĩa là xa dần quá khứ, lạnh nhạt dần với quá khứ. Ánh trăng nghiêm nghị vằng vặc soi sáng hay cũng chính là lời cảnh báo tình trạng suy thoái về tình cảm, sẽ dẫn đến suy thoái lối sống, suy thoái đạo đức. Nó nhắc nhở con người cần thuỷ chung với quá khứ, vói những điều tốt đẹp của quá khứ.

Vầng trăng và ánh trăng mang ý nghĩa biểu trưng, trở thành hình tượng xuyên suốt bài thơ, tạo thành dòng chảy liên hồi, là sợi dây kết nối con người trong hiện tại và quá khứ đã qua. Cuộc gặp gỡ tình cờ nhưng có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Từ câu chuyện tưởng như là thường tình nhưng đã thức tỉnh con người. Con người tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian khổ mà nghĩa tình đối với thiên nhiên, đất nước bình dị. Bài thơ có ý nghĩa nhắc nhở, củng cố người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thuỷ chung cùng quá khứ.