Về Thăm Quê Bác

--- Bài mới hơn ---

  • Chùm Thơ Về Bác Hồ Của Nguyễn Hưng Hải
  • “quê Chồng” – Cảm Nhận Về Miền Quê Xứ Nghệ Của Cô Gái Hà Thành
  • Thæ¡ Gá»­i Vá»� Qu㪠Cå©
  • Cảm Nhận Khi Đọc Bài Thơ Em Là Gái Quê. Nguyễn Chính
  • Bài Thơ “Quê Nghèo” Của Đặng Xuân Xuyến Và Những Cảm Nhận
  • admin100

    Nguyễn Duy Xuân

    Thứ sáu – 24/05/2019 19:19

    •  
    •  
    •  

    Lang Sen

    Làng Sen quê Bác đây rồi

    Lòng con xao xuyến, bồi hồi,nôn nao.

    Từ Bình Dương, tận miền Nam

    Ra thăm quê Bác muôn vàn niềm vui

    Khoai lang xứ Nghệ ngọt bùi

    Câu hò “ví dặm”gọi mời, người ơi!

     

    Chắt từ bùi, ngọt ngàn đời

    Nơi sinh ra Bác …ngợi ngời chữ Nhân

    Trọn đời Bác sống vì dân

    Ka ki, dép lốp nào cần gấm, hoa

     

    Gấm hoa Bác tặng trẻ, già

    Tấm lòng của Bác bao la tình Người

    Làng Sen quê Bác đây rồi

    Lòng con xao xuyến, bồi hồi,nôn nao.

     

    Ngỡ là Bác biết con vào…

    Ra vườn hái ổi, Bác trao cháu quà

    Như về gặp lại mẹ cha

    Rưng rưng con đứng khóc òa, Bác ơi!

     

    Nguyễn Quang Huỳnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bằng Ý Chí Và Niềm Tin, “Từ Thành Phố Này Người Đã Ra Đi”…
  • Bác Hồ Với Các Cháu Thiếu Nhi Trong Thơ Trần Đăng Khoa
  • Top 10 Bài Thơ Hay Nhất Về Bác Hồ Kính Yêu Của Dân Tộc Ta 2022
  • Tố Hữu Viết Về Bác Hồ (*)
  • 50 Trước, Tôi Viết Bài Thơ “Lời Di Chúc Của Bác Hồ”
  • Những Bài Thơ Về Quê, Thăm Quê Nhà Sau Bao Ngày Xa Cách

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Thuyền Bài Thơ Junk Chuẩn 3 Sao
  • Những Bài Thơ Chế “”Bất Hủ”” Về Tiền
  • Thơ Vui :định Nghĩa Chồng Là Gì ??
  • Tu Là Cội Phúc, Tình Là Dây Oan
  • Hạnh Phúc Là Gì Anh Có Biết Không ?
  • BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG

    Thơ: Bình Minh

    Ta lại về nơi ấy tìm tuổi thơ

    Tìm câu hát ầu ơ chiều võng mẹ

    Quê hương ơi kỷ niệm ngày thơ bé

    Được vui đùa theo nhẹ cánh diều bay

    Thời gian trôi theo ta đếm từng ngày

    Còn đâu nữa vui vầy bên quê lúa

    Những con đường trải dài rơm như lụa

    Giờ chỉ còn toàn đường nhựa bê tông

    Tuổi thơ ơi những chiều tắt nắng hồng

    Ta và bạn bên cánh đồng chạy nhẩy

    Sao thời gian như con diều đưa đẩy

    Muốn quay về quá khứ đấy mà xem

    Tìm tuổi thơ khi chân đất lấm lem

    Chỉ còn lại khi đem về cõi nhớ

    Con sông ấy cánh đồng quê một thuở

    Kỷ niệm nào nhắc nhở một làng quê.

    BÀI THƠ: MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

    Thơ: Nguyễn Đình Huân

    Về thăm quê vào một dịp cuối năm

    Chiều mùa đông lạnh căm căm gió bấc

    Cây rụng lá cành khẳng khiu gầy guộc

    Lạnh run người cơn gió ngược tái tê

    Chân thấp chân cao bước dọc chân đê

    Con đò nhỏ dẫn ta về quá khứ

    Mùa đông xưa áo ta không có đủ

    Đi chăn trâu đội mũ khoác áo tơi

    Đốt lửa đồng sưởi ấm bạn bè tôi

    Thằng vơ rạ thằng lấy mồi châm lửa

    Bới trộm khoai vùi tro không cần rửa

    Khoai chín rồi ta bẻ nửa chia nhau

    Bạn bè tôi giờ đang ở nơi đâu

    Lũ bạn khờ trẻ chăn trâu ngày đó

    Tớ về đây giữa bốn bề lộng gió

    Không thấy trâu chỉ thấy cỏ mà thôi

    Cỏ may níu chân bạn cũ đâu rồi

    Thời gian qua như mây trôi nước chảy

    Bao năm rồi sao không quên ngày ấy

    Ta một thời cùng bay nhẩy chăn trâu.

    THƠ VỀ QUÊ THĂM GIA ĐÌNH

    Thơ: Thanh Trần

    Hôm nay con lại về quê

    Trên con đường nhỏ …triền đê bãi bồi

    Chân đi nhưng dạ bồi hồi

    Nhớ ngày còn bé…nhớ nồi canh cua

    Nhớ cả những lúc ban trưa

    Những ngày thơ dại năm xưa ùa về

    Nhớ sao những nắng mùa hè

    Nhớ cành phượng đỏ…tiếng ve năm nào

    Nhớ hoa dâm bụt bờ ao

    Nghiêng mình đón nắng lao xao gió lùa

    Nhớ cả những lúc trời mưa

    Mẹ ra đồng cấy đến trưa mới về

    Chói chang cái nắng trưa hè

    Như thiêu như đốt…mẹ ơi cháy lòng

    Con nhỏ chỉ biết chờ mong

    Làm mây che mẹ…cấy xong thửa cày

    Mẹ ơi….con đã về đây

    Giờ hình bóng mẹ..ngày ngày trong con.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điểm) Doạn Thô Trên Câu 2 (5 Điểm) …
  • Bài Thơ Quê Hương : “Uống Nước Mưa Chừa Cặn” Của Nhạc Sĩ Mai Châu
  • Soạn Bài Tràng Giang
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Từ Ấy
  • Hình Tượng Bác Hồ Trong “Sáng Tháng Năm” Của Tố Hữu
  • Hãy Kể Một Chuyến Về Thăm Quê Của Em Và Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Bài Thơ Quê Nghèo
  • Thơ Ca Trung Đại Việt Nam: Văn Hóa “quy Ẩn” Của Các Nhà Nho
  • Suy Tư Chuyện Bỏ Phố Về Quê
  • Bỏ Phố Về Quê Lập Nghiệp
  • Mô Hình Trồng Rau Sạch: Hay Mình Cứ Về Quê Nuôi Cá Và Trồng Thêm Rau
  • Đề bài: Hãy kể một chuyến về thăm quê của em và gia đình.

    Quê tôi ở Thanh Hoá, nằm ven con sông Mã anh hùng. Vừa rồi, nhân dịp nghỉ hè, tôi được bố mẹ cho về quê chơi.

    Đã lâu rồi tôi không được về quê nên lần này tôi háo hức lắm. Tôi cùng mẹ chuẩn bị thật kĩ lưỡng, từ gói bánh, gói kẹo, thuốc lá đến mảnh vải, áo quần,… cho mọi người ở quê. Quê tôi không biết dạo này ra sao, đổi mới thế nào? Chẳng biết bọn trẻ dưới quê có vui khi nhận được quà không? Tôi đi ngủ với vô vàn câu hỏi và một tâm trạng hồi hộp.

    Sáng hôm sau, tôi thức dậy sớm hơn thường lệ. Sau khi chuyển đồ đạc lên phía sau, đúng tám giờ, xe chúng tôi chuyển bánh. Xe chạy bon bon trên con đường trải nhựa phẳng lì. Hết đường Giải Phóng, xe xuôi theo quốc lộ 1A. Tôi mở cửa kính xe. Gió và nắng ùa vào. Đã ra khỏi thành phố Hà Nội nên không khí thoáng đãng hơn nhiều. Không còn cảnh xe cộ nườm nượp nối đuôi nhau do tắc đường. Không còn cái bụi bặm và tiếng ồn ào của động cơ xe. Chà! Thật khoan khoái và dễ chịu. Tôi mải mê ngắm nhìn khung cảnh bên ngoài. Những hàng cày, những cánh đồng, nhà cửa… cứ như lùi dần sau xe tôi. Lúc đầu, thế chỗ cho những cao ốc chọc trời là những khoảng không gian bát ngát trời mây tươi non màu cỏ. Dần dần, thay vào đó là những khu công nghiệp, những nhà máy lớn nhỏ xếp xen nhau với những ống khói lớn toả lên trời xanh. Thế rồi, lại những cánh đồng lúa mênh mông hiện ra, màu mạ non xanh hoà quyện với màu nâu màu mỡ của đất đai hứa hẹn một vụ mùa bội thu. Khoảng gần trưa, chúng tôi qua cầu Hàm Rồng. Cầu bắc qua con sông Mã hùng vĩ, xanh ngát như dải lụa màu xanh da trời. Chỉ thoáng sau, chúng tôi đã đặt chân lên khoảng đất trống đầu làng, bên luỹ tre già xanh xanh và trước cổng làng khum khum được xây bằng đá.

    Đường vào làng tôi vẫn vậy. Vẫn con đường dẫn qua cây đa cổ thụ đầu làng với tán lá xanh rậm, che mát cho lũ trẻ đùa vui dưới gốc cây. Xa xa, cánh đồng rộng lớn với những bóng nón trắng nhấp nhô. Thi thoảng, một giọng ca dao, một điệu hát ru con lại vút lên, len lỏi qua các lùm cây, ngõ ngách toả khắp xóm làng. Kia là mái đình cong cong cổ kính cùng hồ sen với những bông sen nở rộ, khoe nhị vàng tươi lấp ló dưới những cánh hồng… Chỉ có điều, con đường không còn là đường đất nữa, nó đã được trải nhựa đen bóng, phẳng lì.

    Tôi sải bước vào giữa làng. Những làn khói lam bốc lên mờ mò trên mỗi nóc nhà. Lạ quá, bao nhà tranh vách đất xưa đã được thay bằng nhà mái ngói đò tươi.

    Trên mái mỗi nhà đều có đường dây điện. Điện đã về tới quê tôi. Tôi dừng chân trước cổng nhà cô tôi, cất tiếng chào cô chú. Thấy gia đình tôi về, cô chú mừng lắm. Chẳng đợi tôi sắp xếp đồ đạc, cô kéo tôi vào lòng hỏi han đủ mọi chuyện. Mẹ tôi trao quà cho mọi người, ai cũng thích.

    Trưa hôm đó, cô đãi tôi một bữa cơm quê. Chỉ là mấy món ăn giản dị mà sao tôi thấy ngon miệng thế. Ản xong, tôi nhanh chóng nhập bọn với lũ trẻ quê. Chúng tôi chơi đùa vui vẻ. Nhưng rồi xảy ra một việc. Lúc đó, tôi chạy theo đám trẻ ra đầu làng, ngang hồ nước. Chẳng may, tôi trượt chân, té ùm xuống nước. Mà tôi lại không biết bơi. Thấy tôi cứ chới với, lũ trẻ hiểu ngay sự cố. Tất cả chúng lao ùm xuống hồ, ra sức kéo tôi lên bờ. Sau khi thoát hiểm, tôi thấy mình thật sự gắn bó với lũ trẻ. Rồi chúng lại kéo tôi đi chơi. Chúng tôi chơi nhiều trò lắm. Nào là chơi ô ăn quan dưới gốc đa, nào là cưỡi trâu đánh trận giả, nào là bịt mắt bắt dê… Nhưng tôi vẫn thích nhất trò thả diều. Được chạy dài trên con đê, nhìn cánh diều bay bỗng trong gió, nghe tiếng sáo vi vu rồi hò hét vang trời mới vui làm sao.

    Nhưng cũng đến lúc phải chia tay cô chú và các bạn. Chiều hôm đó, tôi trở về Hà Nội với bao nhiêu là quà quê, bao nhiêu là lưu luyến. Tôi vẫn nghe đâu đó tiếng sáo diều vi vu. Tôi sẽ không quên, không bao giờ quên những kỉ niệm đẹp của ngày hè đó.

    Quê hương đối với tôi là những gì thân thương gần gũi nhất. Quê hương chính là vi vu cánh diều tôi thả cùng bọn trẻ. Quê hương chính là buổi chia tay đầy lưu luyến giữa tôi và lũ trẻ chăn trâu… Tôi yêu quê mình biết bao nhiêu. Mong sao sau này tôi sẽ làm được những việc thật có ích cho quê hương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thơ Hay Ảnh Đẹp Về Con Gái Miền Quê Dịu Dàng, Dễ Thương
  • Những Bài Thơ Hay Về Những Cô Gái Quê
  • Chùm Thơ Lục Bát Gái Quê, Con Gái Nhà Nông Hay Nhất
  • Nêu Cảm Nghĩ Của Em Về Dòng Sông Quê Hương.
  • Cảm Nghĩ Về Dòng Sông Quê Hương Em
  • Giáo Án Thơ: Thăm Nhà Bà

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Hoạch Bài Giảng Giáo Án Điện Tử :thơ Thăm Nhà Bà
  • Giáo Án Thơ Thăm Nhà Bà
  • Giáo Án Ptnn: Thơ : Tết Là Bạn Nhỏ
  • Bài Thơ Tết Của Mẹ Tôi Của Tác Giả Nguyễn Bính
  • Hình Ảnh Người Phụ Nữ Xưa Trong Bài Thơ “tết Của Mẹ Tôi” Của Nguyễn Bính
  • PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO QUẬN CẦU GIẤY

    Trường mầm non Hoa Hồng Nghĩa Tân

    GIÁO ÁN

    (Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ)

    Đề tài : Thơ ” Thăm nhà bà ”

    Chủ đề: Gia đình

    Giáo viên : Vũ Thị Kim Oanh

    Lớp mẫu giáo bé C1

    NĂM HỌC 2014 – 2022

    GIÁO ÁN

    (Lĩnh vực: Phát triển ngôn ngữ )

    Chủ đề: Gia Đình

    Đề tài : Thơ ” Thăm nhà bà “

    Loại tiết: Trẻ đã biết

    Đối tượng: Mẫu giáo bé C1

    Số lượng: 20 trẻ

    Thời gian: 15-20 phút

    Ngày dạy : 13/11/2014

    Người soạn : Vũ Thị Kim Oanh

    I. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU:

    1. Kiến thức:

    – Trẻ nhớ tên bài thơ “Thăm nhà bà” và tên tác giả “Như Mạo”

    – Trẻ hiểu nội dung bài thơ: Bạn nhỏ đến thăm bà nhưng bà đi vắng, bạn nhỏ thấy đàn gà đáng yêu đang chơi ngoài nắng, bạn đứng ngắm, cho gà ăn thóc rồi lùa đàn gà vào chỗ mát.

    – Dạy trẻ đọc thuộc diễn cảm bài thơ “Thăm nhà bà”

    2. Kĩ năng:

    – Trẻ đọc diễn cảm bài thơ và thể hiện được tình cảm khi đọc thơ.

    – Phát triển ngôn ngữ cho trẻ, rèn trẻ kỹ năng trẻ nói đủ câu, đủ ý.

    – Trẻ trả lời đúng các câu hỏi của cô theo nội dung của bài thơ

    – Phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ chủ định của trẻ, phát triển khả năng cảm thụ thơ cho trẻ.

    3. Thái độ:

    – Trẻ hứng thú tham gia vào tiết học.

    – Trẻ chú ý lắng nghe cô đọc thơ

    – Giáo dục : Qua bài thơ trẻ biết yêu quí vâng lời ông bà cha mẹ , biết yêu thích và có ý thức chăm sóc vật nuôi trong gia đình

    II. CHUẨN BỊ:

    1. Đồ dùng dạy học:

    Đàn organ

    Đĩa nhạc bài ‘Đàn gà trong sân’

    Sa bàn, cây xanh , đàn gà con, gà mẹ , em búp bê, nhà, que chỉ

    2. Đội hình:Trẻ ngồi trên ghế đội hình chữ u

    III. CÁCH TIẾN HÀNH:

    Nội dung

    Hoạt động của cô

    Hoạt động của trẻ

    Bước 1:

    Ổn định tổ chức:

    – Vào bài

    Bước 2:

    Nội dung chính:

    * Cô cho trẻ nhắc lại tên bài thơ

    – Cô đọc diễn cảm lần 1:

    – Cô đọc diễn cảm lần 2:

    * Đàm thoại trẻ hiểu nội dung bài thơ

    * Giáo dục trẻ:

    * Dạy trẻ đọc diễn cảm bài thơ:

    – Cô đọc diễn cảm kết hợp với tranh (Đọc trên nền nhạc)

    – Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì?

    Bài thơ “Thăm nhà bà” của nhà thơ nào?

    Cô khái quát: Bài thơ “Thăm nhà bà” ” của nhà thơ: Như Mạo

    Cô đọc diễn cảm kết hợp sa bàn

    + Bạn nhỏ đến thăm bà, bạn có gặp bà không? Bạn đã thấy điều gì?

    + Câu thơ nào đã thể hiện điều đó?

    – Cô KQ trích dẫn: Đến thăm…… chơi ngoài nắng + Khi thấy đàn gà chơi ngoài nắng bạn nhỏ goi như thế nào?

    + Chúng mình cùng gọi gà nào?

    – Khi bạn nhỏ gọi chúng mình thấy gà con chạy như thế nào?

    + Trích dẫn : chúng lật đật chạy nhanh nhanh. Xúm vòng ……chiếp chiếp

    – Đàn gà con kêu thế nào không ?

    – Các con giả tiếng gà con kêu nào ! nghe thật đáng yêu thật giống chú gà con

    – Chú gà con đang mải miết nhăt gì ?

    – Bạn nhỏ giúp bà lùa đàn gà vào đâu!

    + Trích dẫn : Gà mải miết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Văn Học Đề Tài: Thơ Thăm Nhà Bà
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Dàn Ý Bài Thơ “tiểu Đội Xe Không Kính”
  • Nhận Xét Về Bài Thơ “bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính” Của Phạm Tiến Duật
  • Văn Mẫu Lớp 9: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Xuất Xứ Bài Thơ Thăm Lại Pác Bó

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Nghị Luận: Tức Cảnh Pác Bó
  • Đừng Trách Chi Những Phút Xao Lòng
  • Nghị Luận Xã Hội Về Người Phu Quét Đường Vĩ Đại
  • Phân Tích Bài Thơ Thu Hứng Của Đỗ Phủ
  • Thơ Xuân Của Đỗ Phủ
  • Ngày 19-2-1961, sau Tết Nguyên đán Tân Sửu, Bác Hồ trở lại thăm Cao Bằng – nơi 20 năm trước Người đã vượt biên giới Việt – Trung về Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (29-1-1941) để lãnh đạo kháng chiến. Tuy vừa đi ô tô một đoạn đường dại quốc lộ 4 gập gềnh, khúc khuỷu từ Lạng Sơn lên, người mệt mỏi, sáng ngày 20-2-1961, Bác Hồ vẫn tranh thủ đi thăm Pác Bó. Ngày ấy, từ ngã ba Đôn Chương vào Pác Bó chưa có đường ô tô như ngày nay, chỉ có đường mòn cách xa 8 km, trời lại vừa mới mưa phùn nên đường lầy trơn rất khó đi.

    Để bảo đảm an toàn cho Bác, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đã chuẩn bị sẵn và đề nghị Bác đi ngựa – Bác chấp thuận. Hai chiến sĩ biên phòng lo Bác ngồi trên lưng ngựa không vững bèn chạy theo hai bên để đỡ Bác. Bác gạt đi: “Các chú khỏi lo. Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, Bác làm gì có xe ô tô để đi. Nếu đi công tác chặng đường gần thì đi bộ, chặng đường xa mới có ngựa cưỡi. Bác cưỡi ngựa thạo rồi”.

    Sau hai mươi năm, ngày 20-2-1961, Hồ Chủ tịch về thăm lại Pác Bó (Cao Bằng). Được gặp lại Người, bà con Pác Bó vô cùng xúc động. Ảnh: Người thăm lại suối Lê-nin (Pác Bó).

    Vào đến bản Pác Bó, Bác và các đồng chí cùng đi thẳng vào hang Cốc Bó rồi mới quay ra gặp gỡ bà con dân bản. Từ bản Pác Bó vào khu vực hang Cốc Bó, ngựa không sao đi nổi, Bác phải chống gậy đi bộ. Năm ấy Bác đã bước sang tuổi 71, sức khỏe đã giảm nhiều, lại thêm phần xúc động khi trở lại thăm chốn xưa, nên đến đầu nguồn suối Lê-Nin, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đề nghị Bác không leo núi dốc để thăm lại hang Cốc Bó nữa. Ngước nhìn lên phía hang nằm ở lưng chừng núi, Bác bùi ngùi nói:

    -Thôi, đành vậy. Nhờ các chú lên thăm hang giúp Bác. Xem nhũ đá Bác tạc tượng ông Các Mác, dưới chân ông có tượng vượn người, và trên vách hang, bác có viết bằng chữ nho bằng than củi “Ngày mùng tám tháng hai, năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt” là ngày Bác vào ở hang có còn giữ được không?

    Trong khi chờ đợi đoàn người lên thăm hang, Bác thong dong đi thăm lại những phiến đá Bác kê thay bàn thế để ngồi làm việc, thăm gốc cây ổi thường ngày Bác vẫn hái lá đun uống thay chè (trước đây chỉ với tay tầm ngang đầu là hái được từng nắm lá), nay đã trở thành một cây ổi cổ thụ vươn cao hàng chục mét, gốc đã tróc vỏ trơ lõi sần sùi, thăm phiến đá nhẵn bóng dưới gốc cây si già, khi thư giãn Bác thường ngồi câu cá bên bờ suối… gợi nhớ biết bao kỷ niệm của một thời hoạt động bí mật gian truân.

    Từ trên hang xuống, đồng chí Lê Quảng Ba, người từng dẫn đường cho Bác từ Trung Quốc vượt biên giới về Pác Bó và đã được sống gần gũi với Bác suốt thời gian ở Pác Bó, năm ấy là Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Trung ương, thưa với Bác:

    -Thưa Bác, đường lên hang trơn trượt, cỏ mọc đôi đoạn phủ cả lối đi. Còn trong hang, tượng ông Mác, tượng vượn người, dòng chữ nho Bác viết trên vách đều còn nguyên vẹn. Duy chỉ có những tấm phản kê làm giường cho Bác nằm thì đã mục nát cả.

    Bác xúc động nói:

    -Bà con Pác Bó tốt quá. Trước đây, nếu không được bà con đùm bọc, cưu mang thì làm sao Bác sống qua được những ngày cách mạng còn đen tối. Nay đã 20 năm qua đi, lại vẫn giữ gìn, bảo vệ cả cái hang Bác ở. Hôm nay, Bác rất vui. Bây giờ còn ít phút, Bác và các chú ta cùng làm một bài thơ. Chủ đề là tức cảnh thăm lại hang Cốc Bó, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt – Các chú có đồng ý không?

    Mọi người vỗ tay hưởng ứng, Bác liền chỉ tay vào đồng chí Hồng Kỳ, lúc ấy là Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng:

    -Chú là Bí thư, chú xướng câu mở đầu.

    Đồng chí Hồng Kỳ lắc đầu, gãi tai, cười trừ:

    -Thưa Bác, cháu là Bí thư nhưng cháu rất là bí thơ. Cháu không biết làm thơ đâu ạ!

    Bác phê bình khéo:

    -Đáng lẽ chú là Bí thư thì phải giỏi làm thơ mới đúng. Thơ cũng là vũ khí cách mạng. Có khi cán bộ nói cả buổi mà quần chúng không nghe ra, nhưng chỉ đọc mấy vần thơ thì ai cũng hiểu. Thôi được, tha cho chú. Vậy, Bác chỉ định người khác vậy.

    Bác nhìn quanh rồi chỉ vào đồng chí Tố Hữu:

    -Đồng chí Lành vậy – Chú là nhà thơ mà.

    Đồng chí Tố Hữu cũng lắc đầu cười:

    -Dạ, ở đây Bác là người có tuổi hơn cả. Xin kính lão đắc thọ, mời Bác khai thơ trước ạ!

    Bác cười to:

    -Các chú khôn thật, định dồn Bác vào chân tường đấy phỏng? Được, Bác sẽ khai thơ vậy.

    Suy nghĩ giây lát, Bác đọc hai câu mở bài:

    Hai mươi năm trước ở hang này

    Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây

    Đấy, Bác mở đến nửa phần bài thơ. Bây giờ đến lượt các chú làm hai câu thơ cuối.

    Mọi người vỗ tay hoan hô. Rồi mỗi người thêm một ý, góp một câu, cuối cùng Bác kết luận:

    Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu

    Non sông gấm vóc có ngày nay

    Thế là bài thơ hoàn thành. Thực ra bài thơ là “Không đề”, về sau này khi xuất bản mới đặt tên bài thơ là Thăm lại Pác Bó.

    Lê Hồng Bảo Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Con Người Hồ Chí Minh Hiện Lên Qua Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó
  • Đề Bài: Tình Yêu Thiên Nhiên Trong Thơ Bác Thể Hiện Qua Bài ” Tức Cảnh Pác Bó” ” Ngắm Trăng” ” Đi
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó (Hồ Chí Minh)
  • Phân Tích Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó Đặc Sắc Chi Tiết
  • Phân Tích Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó Của Tác Giả Hồ Chí Minh
  • Trang Thơ Chủ Nhật: Mẹ Hiền Ơi, Con Đã Về Thăm

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Vài Cảm Nhận Về Tập Thơ “tháng Bảy”* Của Hoàng Minh Đức
  • Bài Tập Đọc Hiểu Ngữ Văn 12
  • Mẹ Tôi (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5
  • Giáo Án Ngữ Văn 7
  • Cảm Nghĩ Về Người Mẹ Của Em
  • THƠ TÌNH NGƯỜI LÍNH BIỂN

    Tặng các anh lính biển giữ biên cương

    Tạm biệt em anh lên đường giữ đảo

    Giữa trùng khơi chỉ thấy sóng bạc đầu

    Gió rú gào báo tin từng cơn bão

    Vẫn oai hùng chao lượn cánh hải âu.

    Từng đợt sóng kết thành chùm hoa biển

    Trắng tinh khôi như thuở áo học trò

    Ngày tan trường chưa trao lời ước hẹn

    Dõi theo người lòng sao mãi ngẩn ngơ.

    Hành trang anh có tình em trong đó

    Nụ cười xinh và ánh mắt dịu dàng

    Chưa kịp nắm bàn tay ai bé nhỏ

    Lá thư tình còn viết vội dở dang.

    Tạm biệt em anh lên đường giữ biển

    Tàu anh đi có sao sáng dẫn đường

    Cột mốc biên cương qua từng hải lý

    Cuộc hành trình gìn giữ đảo quê hương.

    Đồng đội anh những chàng trai rất trẻ

    Trên boong tàu say hát bản tình ca

    Trong trái tim có tình yêu biển đảo

    Cùng người thương dù đang ở thật xa.

    Giữa phong ba tiếng sóng vỗ tứ bề

    Hoa biển trắng mang tình anh lính trẻ

    Em yêu ơi! Xin hãy đợi anh về.

    MẸ VẪN NGỒI BÊN BỜ BIỂN ĐÔNG

    Mẹ vẫn ngồi bên bờ biển Đông

    Chờ tin con se thắt cả lòng

    Ngày ra đi hẹn về thăm mẹ

    Qua bao mùa mưa nắng bão dông.

    Dáng mẹ gầy bóng đổ liêu xiêu

    Mòn mắt trông từng đợt thủy triều

    Ngỡ chân con băng qua trảng cát

    Như ngày nào thốt tiếng mẹ yêu.

    Mẹ nào hay trùng khơi nổi sóng

    Bãi san hô con đã yên nằm

    Lời thì thầm gởi theo chim biển

    Mẹ hiền ơi con đã về thăm.

    Hoa muống biển nở trên mộ gió

    Hàng phi lao tiếng sóng rì rào

    Đợi con về sửa ngôi nhà dột

    Thiếu hơi người bếp lửa hư hao.

    Mẹ vẫn ngồi bên bờ biển Đông

    Biển vẫn xanh ôm sóng vào lòng

    Người lính trẻ thôi không về nữa

    Hồn hòa vào cây cỏ núi sông.

    CHO TÔI MƠ GIẤC MƠ PHÙ ĐỔNG

    Cho tôi mơ giấc mơ Phù Đổng

    Qua một đêm sức mạnh thần kì

    Tin báo dữ bay nhanh làng Gióng

    Tiếng sứ truyền theo tiếng ngựa phi.

    Cho tôi mơ tiếng trống Mê Linh

    Lễ tế cờ trước khi ra trận

    Lưỡi gươm thiêng truyền lệnh xuất binh

    Lũ giặc sợ kinh hồn bạt vía.

    Cho tôi mơ trùng dương cưỡi sóng

    Chém cá kình giữa chốn biển khơi

    Ai dám bảo đàn bà yếu bóng?

    Cũng có khi lấp biển vá trời.

    Cho tôi mơ sóng dậy Bạch Đằng

    Trên cọc nhọn còn tươi máu đỏ*

    Chiến công xưa tạc dấu ngàn năm

    Chui ống đồng trốn không kịp thở.

    Cho tôi mơ cành đào ngày tết

    Vẫn nở hoa giữa đất Thăng Long

    Chiến bào còn vương mùi khói súng

    Giặc kinh hoàng hai tiếng Quang Trung.

    NGƯỜI về cùng đàn con ra trận

    Ngựa sắt thành chiến hạm tàu bay

    Nơi biển Đông kẻ thù gây hấn

    Trận cuối nầy đáy biển chôn thây.

    *Đằng giang tự cổ huyết do hồng (Giang Văn Minh)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chùm Thơ Mùa Đông Nhớ Thương Về Mẹ Hay Nhất
  • Lời Bài Hát Thương Nhớ Mẹ Già
  • Giúp Con Học Bài Hiệu Quả Ở Nhà Thời Gian Dịch Covid
  • Cảm Nghĩ Về Đôi Mắt Mẹ
  • Lời Bài Hát Mẹ Anh Nhắc Em
  • Tháng 7 Về Thăm Bến Đò Mẹ Suốt

    --- Bài mới hơn ---

  • Dòng Sữa Mẹ – Giáo Phận Cần Thơ
  • Mẹ Tơm – Bài Ca Người Mẹ Việt Nam Anh Hùng Của Tố Hữu
  • “Tôi Lại Về Quê Mẹ Nuôi Xưa”…
  • Thơ Tặng Con Gái Yêu!
  • Thơ: Đỗ Trung Quân, Nhạc: Bate Thanh Thiện Trần
  • .

    (LĐ online) – Bảo Ninh – Quê Mẹ Suốt là một làng biển, cửa biển nằm bên sông Nhật Lệ (Đồng Hới). Cái tên làng biển này gợi cho tôi nhớ về một tác phẩm văn học nổi tiếng viết về chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh. Thật ra tên ông là Hoàng Ấu Phương nhưng quê ông ở đây nên lấy bút danh là Bảo Ninh. Tôi thật bất ngờ khi biết cái làng biển bé nhỏ này lại sinh ra hai nữ anh hùng đó là: Mẹ Suốt và bà Nguyễn Thị Khíu – đội trưởng đội đánh cá Minh Khai đã lãnh đạo chị em ra khơi bám biển sản xuất dưới làn bom đạn ác liệt của máy bay và tàu chiến Mỹ. Nếu tính theo dọc sông Nhật Lệ cách không xa Bảo Ninh còn có một nữ anh hùng dân quân đó là Trần Thị Lý gan dạ, xông xáo trực chiến bắn rơi máy bay Mỹ. Cả ba người đều được nhà nước phong tặng anh hùng cùng vào một ngày 01/01/1967. 

     

    Bến đò Mẹ Suốt

     

    Tháng 7 này tôi về Bảo Ninh thăm lại bến đò Mẹ Suốt năm xưa. Một anh bạn thơ quê Quảng Bình đã kể cho tôi nghe xuất xứ bài thơ “Mẹ Suốt” nổi tiếng của nhà thơ Tố Hữu. Tố Hữu là người có cả một chùm thơ viết về các bà mẹ Việt Nam anh hùng ở khắp mọi miền đất nước. Nếu kể từ trong Nam ra thì có: Bà má Hậu Giang; Mẹ Suốt (Quảng Bình); Mẹ Tơm (Thanh Hóa); Bầm Ơi và Bà Bủ ngoài miền trung du Bắc Bộ. Trong đó, bài thơ “Mẹ Suốt” sau khi được in trang trọng trên trang nhất báo Nhân Dân, qua giọng ngâm truyền cảm của nghệ sĩ Châu Loan trên sóng phát thanh Đài tiếng nói Việt Nam và đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa đã được nhiều người biết đến. Anh bạn thơ kể: Năm 1965, giặc Mỹ cho máy bay đánh phá ác liệt thị xã Đồng Hới. Nhà thơ Tố Hữu lúc đó là Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương vào làm việc với tỉnh Quảng Bình trong tâm trạng khao khát thôi thúc: “Đường vào khu 4, vào Thanh – Không đi thì nhớ, không đành, phải đi” (Đường vào). Sau khi nghe hết các báo cáo của địa phương, các tấm gương điển hình, ông chú ý và mong muốn được gặp Mẹ Suốt chèo đò chở bộ đội qua sông Nhật Lệ. Trưa 04/11/1965, tổ chức bố trí cho nhà thơ gặp Mẹ Suốt tại nhà khách Tỉnh ủy Quảng Bình. Trong lần gặp này, nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại những câu hỏi của mình và những câu trả lời của Mẹ Suốt. Sau giờ làm việc, nghỉ ngơi xong, nhà thơ lên phòng khách ghi chép, sắp xếp câu chữ cho có vần điệu thế là bài thơ “Mẹ Suốt” ra đời. Bài thơ như một thiên phóng sự mở đầu bằng câu thơ: “Lặng nghe mẹ kể ngày xưa …”. Người thính giả đầu tiên được nhà thơ Tố Hữu đọc cho nghe bài thơ “Mẹ Suốt” là cố Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình Nguyễn Tư Thoan. Tôi còn được nghe kể: Cuộc đời Mẹ Suốt rất vất vả, lớn lên làm vợ lẻ ông Trần Bạo. Dịp đó, các đội sản xuất đánh cá mà ông Bạo là xã viên, thường được gọi tên “xuất quân” đi bám biển, còn mẹ Suốt thì luôn sẵn sàng xung phong nhận nhiệm vụ chèo đò. Vì thế mà qua nghe chuyện, nhà thơ Tố Hữu mới có câu: “Ông nhà theo bạn xuất quân – Tui nay cũng được vô chân sẵn sàng”. Còn câu thơ: “Mùng xanh đây mụ đắp cho kín mình” mà ông Trần Bạo dặn mẹ lại chính là tấm dù ngụy trang nhuộm xanh cắt ra từ vải mùng để mẹ khoác lên người khi chèo đò. 

     

    Con đò của Mẹ Suốt thường chở được 20 đến 30 người. Ông Vũ Văn Hoa – Con rể Mẹ Suốt kể lại: Khi bài thơ xuất hiện, mẹ tôi có được nghe nghệ sĩ Châu Loan ngâm trên đài bà đã xúc động và bật khóc biết ơn nhà thơ Tố Hữu. Cũng chính từ thông điệp cảm động nhân văn của thi ca này đã giúp chúng ta biết đến người mẹ anh hùng quả cảm. Và sau đó, Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương qua đề xuất của nhà thơ Tố Hữu đã đề nghị phong tặng danh hiệu anh hùng cho mẹ. Mặc dù lúc đó tuổi mẹ đã cao nhưng mẹ xung phong đảm nhiệm công việc khó khăn nguy hiểm nhất là chở bộ đội qua sông và chuyển vũ khí lương thực ra cho các tàu hải quân chi viện cho chiến trường miền Nam. Có những lần con đò mới ra đến giữa dòng thì bị máy bay địch bắn phá dữ dội. Con thuyền nghiêng ngã ngỡ như lật úp nhưng mẹ vẫn bình tĩnh, khôn khéo cầm chắc tay lái điều khiển vượt qua mưa bom cập bến an toàn. Một con số thống kê cho biết mỗi năm mẹ chở chừng khoảng 1.400 chuyến đò qua sông…

     

    Đối diện với bến đò Mẹ Suốt bên kia sông Nhật Lệ là khu tượng đài Mẹ Suốt. Tôi đã đến Hội Văn nghệ Quảng Bình gặp Chủ tịch Hội là nhà điêu khắc Phan Đình Tiến – Tác giả tượng đài Mẹ Suốt. Anh Tiến hồ hởi dẫn tôi ra thăm khu tượng. Tiến kể: Anh vốn xuất thân là chàng sinh viên khoa hội họa của Trường Đại học Nghệ thuật Huế. Tuy nhiên, sau một thời gian vẻ đẹp của mảng khối điêu khắc đã hấp dẫn cuốn hút anh, mà theo anh chỉ có ở đó mới có thể diễn tả hết được ý tưởng sáng tạo của mình. Từ đó anh quyết định học ngành điêu khắc. Vào năm cuối đại học, tác phẩm “Tượng đài Mẹ Suốt” đã được hội đồng nghệ thuật Trường Đại học Nghệ thuật Huế chấm giải xuất sắc. “Đó là một niềm vui và vinh dự lớn nhất trong sự nghiệp điêu khắc của tôi” – anh Tiến chia sẻ. Anh là người con Quảng Bình quê hương với Mẹ Suốt và năm 1966 lúc anh sinh ra cũng là thời điểm bài thơ “Mẹ Suốt” của nhà thơ Tố Hữu mới ra đời và được lan truyền rộng rãi luôn ám ảnh anh. Nhiều lần Phan Đình Tiến sang làng Bảo Ninh ra bến đò Mẹ Suốt. Trước mắt anh là lấp loáng ánh nắng trên những ngọn sóng của sông Nhật Lệ như gợi nhớ lại tư thế hiên ngang dũng cảm của Mẹ Suốt chèo đò, cho anh cảm hứng về dáng điệu của bức tượng. Và nhất là đôi mắt của mẹ – một đôi mắt hiền từ lam lũ từ nhỏ tần tảo nuôi con nay ánh lên sáng rực ngọn lửa quả cảm trước bom đạn kẻ thù. Và, nếp áo nâu bạc màu sương gió có gì lay thức thao thiết trong lòng anh để hoàn thanh ý tưởng thiết kế. 

     

    Tượng đài Mẹ Suốt

     

    Năm 2001, khi đang thi công mẫu tượng đài Mẹ Suốt, Tiến bị một cơn đau lạ trong đầu. Ra điều trị tại Bệnh viện Việt – Đức (Hà Nội), người ta phát hiện anh bị u màng não. Tiến cứ nghĩ cuộc đời đã đến lúc chấm hết. Ngoài nỗi lo mẹ già, vợ trẻ và đứa con đầu lòng chuẩn bị ra đời, anh còn lo lắng tượng đài Mẹ Suốt chưa xong, như món nợ tinh thần day dứt. Tiến kể lại: “Ngày đó, khi đêm xuống, đầu đau nhức như búa bổ, trong cơn mơ chập chờn, hình ảnh Mẹ Suốt hiện về và cơn đau đầu giảm hẳn”. Trong một lần người nhà Mẹ Suốt làm lễ tạ mộ mẹ đã thắp hương khấn mẹ phù hộ cho Tiến khỏe mạnh và quả nhiên Tiến khỏi bệnh hẳn. Anh nói: “Mình nghĩ là mình được Mẹ Suốt phù hộ thật nên khỏi bệnh”. Đứa con trai sinh ra Tiến đặt tên là Cu Đá vì đời nhà điêu khắc chỉ gắn với đất đá. Những ngày ấy, nhà điêu khắc Phan Đình Tiến sau khi khỏi bệnh đã vội về dù sức khỏe chưa ổn định vẫn cặm cụi giữa ngày hè rát bỏng cùng nhóm nghệ nhân Ninh Bình hoàn thành tượng đài Mẹ Suốt bên bờ sông Nhật Lệ ở một vị trí rộng rãi rất đẹp. Tượng Mẹ Suốt cao 7 m (cả bệ) được Tiến làm từ chất liệu đá xanh Thanh Hóa dựng xong năm 2003. Nơi đây bây giờ trở thành công viên có rất nhiều đoàn khách du lịch đến đặt vòng hoa thăm viếng. 

     

    Anh Tiến dẫn tôi vào khu chợ kề bên tượng đài. Anh đố tôi: Anh xem trong những người bán hàng dãy quán này ai là con Mẹ Suốt? Tôi nhìn lướt qua khi đi dọc dãy quán tạp hóa với muôn mắm muối, dưa cà nhanh chóng nhận ra chị Trần Thị Huế, bởi chị có khuôn mặt rất giống Mẹ Suốt mà nói như anh Tiến là “giống mẹ như tạc”. Chị là con gái thứ ba của mẹ, chị nói: “Tui may mắn có cơ duyên là ngày ngày bán hàng ở đây gần tượng đài mẹ mình. Sáng đến sớm, chiều về muộn ít nhất là ngày hai lần được gặp mẹ, nghĩ về mẹ và tưởng như được trò chuyện hàng ngày với mẹ”. Chị kể cho chúng tôi nghe về nghững giây phút cuối cùng của đời mẹ: Hôm đó là ngày 21/08/1968, sau khi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua từ Hà Nội về đến Quảng Bình, tỉnh đội cho xe đưa mẹ tui về bến đò Nhật Lệ. Xuống đò, mẹ dành lấy chèo từ tay chị gái tui nói: “Bữa ni, mi chống nhiều, để mạ!” rồi mẹ vừa chèo vừa kể chuyện được gặp Bác Hồ. Đến Bảo Ninh, mẹ nói với chị gái tui: “Mạ về làng để biếu mấy ông, mấy bà trong xóm khăn mùi xoa, cho mấy cháu nhỏ vỡ, bút mực rồi ra chống đò thay mi”. Đó là những món quà mẹ mua sau đại hội. Mẹ tui bước nhanh trên triền cát chợt có tiếng máy bay, bất ngờ hai chiếc phản lực từ biển lao đến thả hai trái bom bi. Trái bom lớn nổ vô số những trái bom con bắn xuống tới tấp, tiếng nổ lục bục dội lên. Khi mọi người chạy đến, mạ tui đã hy sinh thân thể đẫm máu loang nhanh thấm xuống đất phù sa lẫn cát. Đôi mắt mẹ vẫn mở to nhìn bầu trời xanh ngăn ngắt như chưa biết điều gì xảy ra. Xung quanh người tung tóe bút, vỡ và những tấm khăn mùa xoa cũng đẫm máu”. Phan Đình Tiến và tôi lặng người cùng ngước nhìn về phía tượng đại Mẹ Suốt trong nắng và gió và hình như có cảm giác mẹ đang rướn người lên băng mình về phía trước. 

     

    Tác giả bên bức phù điêu khu tưởng niệm bến đò Mẹ Suốt

     

    Một sự trùng hợp ngẫu nhiên là trụ sở UBND xã Bảo Ninh xây ngay cạnh bên đò Mẹ Suốt năm xưa. Bên cạnh cổng chính trụ sở là khu lưu niệm bến đò Mẹ Suốt khá khang trang với những bức phủ điêu tạc trên bức tường dài kể lại câu chuyện về Mẹ Suốt chèo đò. Tấm bia tưởng niệm mẹ nghi ngút khói hương trầm. Tôi nhìn lên bức tường in phù điêu mẹ chèo đò thật sinh động cùng với mấy cấu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung – Gió lay như sóng biển tung trắng bờ”. Và tôi vẫn như còn như nghe lời tâm sự của nhà thơ Tố Hữu với mẹ: “Gan chi gan rứa, mẹ nờ – Mẹ rằng: cứu nước còn chờ chi ai”. Tháng 7 bến đò mẹ Suốt như sâu thẳm mà mênh mang hơn trong: “Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình”…

     

    Hà Tĩnh, ngày 15 tháng 7 năm 2022

     

    NGUYỄN NGỌC PHÚ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đến Với Bài Thơ Hay: Lời Ru Của Mẹ
  • Bà Ra Bế Cháu Của Bà
  • Thơ Hay Về Mẹ ( Đỗ Trung Quân)
  • Đêm Thơ “Quê Mẹ” Của Nhà Thơ Tố Hữu Tại Huế
  • Giới Thiệu Tập Thơ “Quê Mẹ” Của Nhà Thơ Tố Hữu
  • Giáo Án Thơ Thăm Nhà Bà

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ptnn: Thơ : Tết Là Bạn Nhỏ
  • Bài Thơ Tết Của Mẹ Tôi Của Tác Giả Nguyễn Bính
  • Hình Ảnh Người Phụ Nữ Xưa Trong Bài Thơ “tết Của Mẹ Tôi” Của Nguyễn Bính
  • “tết Của Mẹ Tôi” Trong Thơ Nguyễn Bính
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Top 10 Bài Thơ Hay Viết Về Tiết Thanh Minh
  • 1. Mục đích – yêu cầu: a. Kiến thức:

    – Trẻ thuộc bài thơ, hiểu nội dung bài thơ.

    – Đọc diễn cảm bài thơ, thể hiện đúng nhịp điệu bài thơ.

    – Nhớ tên bài thơ.

    b. Kỹ năng:

    – Phát triển ngôn ngữ , rèn lời nói rõ ràng mạch lạc.

    – Rèn kỹ năng đọc thơ diễn cảm.

    – Kỹ năng trả lời đầy đủ câu.

    c. Giáo dục:

    – Trẻ biết kính trọng giúp đỡ ông bà, những người thân trong gia đình.

    – Có ý thức trong mọi hoạt động .

    – Máy tính ,máy chiếu có hình ảnh bài thơ.

    – Đĩa bài hát cháu yêu bà.

    3. Tiến hành:

    – Trẻ cùng cô hát theo nhạc bài hát ” Cháu yêu bà”.

    – Cô và các con vừa hát bài hát gì? Trong bài hát đã nói đến ai?

    b. Nội dung:

    – Bạn nhỏ nhớ bà, bạn đến thăm bà nhưng bà lại đi vắng, thấy đàn gà ở sân bạn đã giúp bà cho gà ăn rồi lùa gà vào bóng mát.

    – Hình ảnh bạn nhỏ với đàn gà thật đẹp khiến tác giả Như Mao đã viết thành bài thơ “Thăm nhà bà” mà hôm trước cô cháu mình đã được làm quen rồi đấy.

    – Cô đọc mẫu lần 1 kết hợp với cử chỉ điệu bộ.

    – Cô giới thiệu lại tên bài thơ.

    – Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? Do ai sáng tác?

    * Đàm thoại giúp trẻ hiểu tác phẩm:

    – Bạn nhỏ đến thăm bà, bạn có gặp bà không? Bạn đã thấy điều gì?

    – Khi thấy đàn gà chơi ngoài nắng bạn đã làm gì?

    – Khi nghe thấy bạn nhỏ gọi “bập bập bập” đàn gà đã làm gì?

    “Chúng lật đật

    Chạy thật nhanh

    Xúm vòng quanh

    Kêu: ” Chiếp,chiếp”

    Gà mãi miết”

    Nhặt thóc vàng”

    – Giải thích từ khó: Mải miết: Là các chú gà con chỉ nhặt thóc, không để ý đến điều gì khác.

    – Khi đàn gà ăn thóc xong bạn nhỏ nhẹ nhàng làm gì?

    – Bạn nhỏ nhớ bà, bạn đến thăm bà nhưng bà lại đi vắng, thấy đàn gà chơi ngoài nắng bạn đã giúp bà chăm sóc gà cho gà ăn rồi lùa gà vào bóng mát.

    Những ngày nghỉ khi được bố mẹ cho đến thăm bà, các con vui vẻ đến thăm bà và giúp đỡ bà những công việc mà các con có thể làm được nhé!

    * Cô đọc diễn cảm lại bài thơ 1 lần kết hợp sử dung hình ảnh power point minh họa.

    – Cả lớp đọc cùng cô: lần 2, 3 lần.

    – Cho trẻ đọc theo tổ, nhóm, cá nhân trẻ đọc

    – Cả lớp đọc lại 1 lần

    c. Kết thúc:

    – Cho trẻ đọc lại bài thơ “Thăm nhà bà”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kế Hoạch Bài Giảng Giáo Án Điện Tử :thơ Thăm Nhà Bà
  • Giáo Án Thơ: Thăm Nhà Bà
  • Giáo Án Văn Học Đề Tài: Thơ Thăm Nhà Bà
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Dàn Ý Bài Thơ “tiểu Đội Xe Không Kính”
  • Kế Hoạch Bài Giảng Giáo Án Điện Tử :thơ Thăm Nhà Bà

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Thơ Thăm Nhà Bà
  • Giáo Án Ptnn: Thơ : Tết Là Bạn Nhỏ
  • Bài Thơ Tết Của Mẹ Tôi Của Tác Giả Nguyễn Bính
  • Hình Ảnh Người Phụ Nữ Xưa Trong Bài Thơ “tết Của Mẹ Tôi” Của Nguyễn Bính
  • “tết Của Mẹ Tôi” Trong Thơ Nguyễn Bính
  • KẾ HOẠCH XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ – GIÁO DỤC MẦM NON

    Trường: MN Hoa Hồng

    LĨNH VỰC (MÔN HỌC): LQVH KHỐI LỚP: MGN B3

    Họ tên giáo viên: Nguyễn Thùy Linh

    THƠ: Thăm nhà bà

    Trình độ chuyên môn: Trung Cấp

    Trình độ Tin học: B

    Địa chỉ, số điện thoại di động của GV: Giáo viên trường MN Hoa Hồng. 0904927335

    Số tiết của bài dạy: tiết 2.

    I. Mục tiêu bài dạy:

    1. Kiến thức:

    – Trẻ hiểu nội dung bài thơ: Bạn nhỏ đến thăm bà nhưng bà đi vắng, bạn nhỏ thấy đàn gà đáng yêu đang chơi ngoài nắng, bạn đứng ngắm, cho gà ăn thóc rồi lùa đàn gà vào chỗ mát.

    – Trẻ đọc thuộc diễn cảm bài thơ “Thăm nhà bà”

    2. Kỹ năng:

    – Trẻ nhớ tên bài thơ “Thăm nhà bà” do nhà thơ Như Mao sáng tác.

    – Cảm nhận hình ảnh trong bài: Bạn nhỏ thật là thân thiết khi nhìn thấy đàn gà nhà bà và trẻ biết cách đọc thơ diễn cảm.

    – Trẻ biết lắng nghe và mạnh dạn trả lời câu hỏi đúng theo yêu cầu của cô.

    3. Thái độ:

    – Qua nội dung bài thơ trẻ cảm nhận được tình cảm của bạn nhỏ giành tặng bà: Bạn biết đến thăm bà và bạn còn biết yêu quý chăm sóc con vật nuôi giúp bà khi bà đi vắng

    II. Yêu cầu của bài dạy:

    III. Chuẩn bị cho bài giảng:

    1. Chuẩn bị của Giáo viên:

    – power point bài thơ:” Đến thăm bà”.

    2. Chuẩn bị của Học sinh:

    – xắc xô, phách…

    IV. Nội dung và tiến trình bài giảng

    1. Ổn định tổ chức :

    – Trẻ cùng cô hát theo nhạc bài hát “Đàn gà trong sân”

    2. Nội dung:

    2.1 cho trẻ làm quen với tác phẩm

    – Cô cho trẻ xem power point hình ảnh bé đang cho những chú gà ăn thóc.

    – Cô đàm thoại: Đây là hình ảnh gì?

    Các con đã bắt gặp những hình ảnh này ở đâu? Bạn nhỏ đang làm gì?

    – Bạn nhỏ nhớ bà, bạn đến thăm bà nhưng bà lại đi vắng, thấy đàn gà ở sân bạn đã giúp bà cho gà ăn rồi lùa gà vào bóng mát.

    Hình ảnh bạn nhỏ với đàn gà thật đẹp khiến tác giả Như Mao đa viết thành bài thơ “Thăm nhà bà” mà hôm trước cô cháu mình đã được làm quen rồi đấy.

    * Cô đọc diễn cảm lại bài thơ kết hợp power point

    – Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? do ai sáng tác?

    * Trẻ đọc cùng cô lần 2 kết hợp power point

    2.2 Đàm thoại giúp trẻ hiểu tác phẩm: (Kết hợp sử dụng sile minh họa)

    – Bạn nhỏ đến thăm bà, bạn có gặp bà không? Bạn đã thấy điều gì?

    + Câu thơ nào đã thể hiện điều đó?

    – Khi thấy đàn gà chơi ngoài nắng bạn đã làm gì?

    + Bạn nào có thể đọc lại được câu thơ đó?

    – Khi nghe thấy bạn nhỏ gọi “bập bập bập” đàn gà đã làm gì?

    + Câu thơ nào thể hiện hình ảnh đàn gà đó?

    – Khi đàn gà ăn thóc xong bạn nhỏ nhẹ nhàng làm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Thơ: Thăm Nhà Bà
  • Giáo Án Văn Học Đề Tài: Thơ Thăm Nhà Bà
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Dàn Ý Bài Thơ “tiểu Đội Xe Không Kính”
  • Nhận Xét Về Bài Thơ “bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính” Của Phạm Tiến Duật
  • Thăm Lúa (Trần Hữu Thung

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Gọi Cho Tôi Bạn Nhé!
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ: Gọi Dạ Bảo Vâng
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ “gọi Dạ Bảo Vâng”
  • Lời Bài Hát Gọi Tên Em Trong Đêm
  • Chùm Thơ Tiếng Ve Sầu Ngày Hạ Hay, Thơ Ngắn Viết Về Tiếng Ve Mùa Hè
  • Mặt trời càng lên tỏ

    Bông lúa chín thêm vàng

    Sương treo đầu ngọn gió

    Sương lại càng long lanh.

    Bay vút tận trời xanh

    Chiền chiện cao cùng hót

    Tiếng chim nghe thánh thót

    Văng vẳng khắp cánh đồng

    Đứng chống cuộc em trông

    Em thấy lòng khấp khởi

    Bởi vì em nhớ lại

    Một buổi sớm mai ri

    Anh tình nguyện ra đi

    Chiền chiện cao cùng hót

    Lúa cũng vừa sẫm hột

    Em tiễn anh lên đường

    Chiếc xắc mây anh mang

    Em nách mo cơm nếp

    Lúa níu anh trật dép

    Anh cúi sửa vội vàng

    Vượt cánh đồng tắt ngang

    Đến bờ ni anh bảo

    “Ruộng mình quên cày xáo

    Nên lúa chín không đều

    Nhớ lấy để mùa sau

    Nhà cố làm cho tốt”

    Xa xa nghe tiếng hát

    Anh thấy rộn trong lòng

    Sắp đến chỗ người dông

    Anh bảo em ngoái lại

    Cam ba lần ra trái

    Bưởi ba lần ra hoa

    Anh bước chân đi ra

    Từ ngày đầu phòng ngự

    Bước qua kì cầm cự

    Anh có gửi lời về

    Cầm thư anh mân mê

    Bụng em giừ phấp phới

    Anh đang mùa thắng lợi

    Lúa em cũng chín rồi

    Lúa tốt lắm anh ơi

    Giải thi đua em giật

    Xoè bàn tay bấm đốt

    Tính cũng bốn năm ròng

    Ai cũng bảo đừng mong

    Riêng em thì vẫn nhớ

    Chuối đầu vườn đã lổ

    Cam đầu ngõ đã vàng

    Em nhớ ruộng nhớ vườn

    Không nhớ anh răng được

    Mùa sau kề mùa trước

    Em vác cuốc thăm đồng

    Lúa sây hạt nặng bông

    Thấy vui vẻ trong lòng

    Em mong ngày chiến thắng.

    Trần Hữu Thung là tên thật. Ông sinh (1923) và mất (2000) tại quê gốc Diễn Châu, Nghệ An. Tham gia Việt Minh từ 1944. Trong kháng chiến chống Pháp là cán sự văn hóa, cán bộ tuyên truyền. Làm thơ, viết ca dao nhiều từ dạo đó. Trần Hữu Thung có phong cách một nhà thơ dân gian. Thơ đối với ông, những ngày đầu cầm bút, chỉ là phương tiện công tác, ông viết để ca ngợi chiến công, phổ biến chủ trương chính sách, phản ánh đời sống người nông dân kháng chiến. Lời lẽ mộc mạc, tình cảm thật thà, phổ cập. Trần Hữu Thung không quan tâm lắm đến cái mà bây giờ ta gọi là trữ tình riêng tư . Ông không nói chuyện mình. Không vui buồn chuyện riêng. Đúng hơn, lòng ông vui buồn cùng vận nước, tình dân. Năm 1944, ông viết bài thơ dài Việt Nam ly khúc , theo thể song thất lục bát, mang hơi hướng thơ yêu nước của phong trào Đông Du, cổ động lòng yêu nước, thương dân, ý chí cách mạng. Thời kháng chiến chống Pháp, những bài thơ Cò trắng phát thanh, Hai Tộ hò khoan, Nhớ sông Lô … chưa thể coi là thơ, nhưng các văn phẩm ấy lại có sức phổ biến rộng, phù hợp với năng lực tiếp nhận của vùng quê kháng chiến Nghệ An, Thanh Hóa, những năm cuối 40, đầu 50. Đến bài Thăm lúa , viết 1- 1- 1950, mới là bài thơ khai sinh nhà thơ Trần Hữu Thung. Thăm lúa mang giọng thơ năm chữ, đôi chỗ gợi nhớ nhịp điệu hát dặm Nghệ An, nhưng đã đầy đủ cốt cách một thi phẩm mới mẻ của nền thơ cách mạng đang thời trứng nước:

    Xòe bàn tay bấm đốt

    Tính đã bốn năm ròng

    Người ta bảo không trông

    Ai cũng nhủ đừng mong

    Riêng em thì em nhớ

    Tình cảm trong trẻo, đặc biệt chất cảm xúc mới, thật, khỏe khoắn . Không gian bay của con chim chiền chiện vẽ ra khoảng rộng xa của hồn người kháng chiến, bài thơ tình yêu thôn dã ấy đã thành dấu tích tâm hồn của kháng chiến chín năm. Hiện thực đời sống kết tinh thành tâm trạng nhân vật. Để từ tâm trạng người đọc luận ra đời sống. Đấy là chỗ tinh vi của thơ. Trần Hữu Thung cứ hồn nhiên mà đạt tới bút pháp tinh vi ấy (theo Võ Văn Trực, Trần Hữu Thung cao hứng viết bài thơ này trong buổi dự một đám cưới ở Đô Lương). Bài thơ liền một mạch cảm xúc sáng và trong. Hình ảnh chân thật như vốn có của đời sống nhưng rất nên thơ, nên thơ do cách nhìn của người trong cuộc, cách nhìn ấy do một tấm lòng đang hạnh phúc, nâng niu mọi nét đời…

    Mười bốn năm sau, năm 1964, năm mở đầu miền Bắc đánh Mỹ, bài thơ Anh vẫn hành quân như một điệp khúc của Thăm lúa. Cũng thể thơ năm chữ. Cũng đề tài tình yêu xa cách. Cũng cảm xúc riêng chung hài hòa, trong sáng, đầy phẩm chất lý tưởng. Thơ Trần Hữu Thung giàu lý tưởng và mơ ước nhưng không lên gân nặng nề tư biện. Chất lý tưởng ấy rất giống với lòng mơ ước trong các truyện cổ tích: thiện thắng, ác thua, ở hiền gặp lành… Lý tưởng nhưng ấm áp đời thường. Chính cuộc sống, cách sống của tác giả tạo nên chất thơ ấy, chất tâm hồn ấy. Đã từng tham gia công tác ở các cơ quan chỉ đạo văn học nghệ thuật ở trung ương, từng có công tích cách mạng lẫn văn chương (giải thưởng thơ tại Liên hoan thanh niên thế giới ở Buy- ca- rét 1953), nhưng lại xin trở về quê nhà, sống như một nông dân, thanh bần, vất vả. Nghệ thuật thơ có thể chưa cao, nhưng những điều gan ruột bộc bạch thì lại hay cảm động lòng người. Bạn đọc, bạn viết yêu thơ Trần Hữu Thung cũng có lý do ấy.

    Từ những năm 80 rồi 90, Trần Hữu Thung có ý hướng tới nhiều hơn những cảm xúc trữ tình cá thể: Thơ những dòng viết dở/ Đời nắng mưa vẫn còn . Cảm xúc có trầm xuống, lời thơ cũng mượt hơn, nhưng bao giờ cũng chất phác chân tình. Em ơi phải thú thực rằng/ Quên nhau khó lắm chi bằng nhớ nhau . Hoặc Đã buồn cái chuyện riêng ta/ Lại thêm lắm chuyện từ xa ập vê ö. Chính cái nỗi lắm chuyện từ xa ập vê ö ấy sẽ tạo cảm xúc cho thơ, tạo sự phong phú cả đề tài, cảm xúc lẫn bút pháp của Trần Hữu Thung. Bài thơ Chợ Tết sau chân núi như một thành công muộn mằn của đời thơ ông. Bài này ông dùng thơ bảy chữ cổ điển. Trần Hữu Thung thường quen dùng lục bát và ngũ ngôn gợi ca dao và hát dặm. Bài này hơi thơ cổ điển tạo những cảm xúc dư ba, lời hết mà tình chưa hết. Đây là nét mới của Trần Hữu Thung:

    Tay nắm tay nhau tình chẳng ngỏ

    Để sáng sương mù năm ấy trôi.

    Bên cạnh thơ, Trần Hữu Thung còn viết văn xuôi, chủ yếu là những ghi chép, giữ lại những năm tháng, những kỷ niệm của quê hương đánh giặc. Đáng trân trọng là những công trình sưu tầm nghiên cứu văn học dân gian của vùng quê Nghệ Tĩnh: Vè, Dòng sữa quê hương, Sức biểu hiện của dân ca Nghệ Tĩnh … Ông còn soạn cả Từ điển tiếng Nghê û. Những chi tiết ấy càng cho thấy thêm hồn thơ ông dấy lên chính từ quê hương xứ sở. Cảm và nghĩ trong thơ ông bắt nguồn từ cuộc sống vật lộn nhỡn tiền của bà con làng xóm quanh ông. Hơn hai mươi năm cầm bút, là hội viên sáng lập Hội nhà văn Việt Nam (1957) nhưng trước sau ông vẫn rõ là nhà thơ dân gian, với tất cả phẩm chất cao quý của từ này.

    Hà Nội, 28- 8- 2001.

    “Lãi” cả đời từ một lần “thăm lúa”

    Võ Văn Trực

    Nhiều thế hệ học sinh của chúng ta đã học giảng văn bài “Thăm lúa” của Trần Hữu Thung. Đó là một trong những bài thơ hay hồi kháng chiến chống Pháp. Năm 1946, dự một đám cưới ở huyện Đô Lương, Nghệ An, Trần Hữu Thung đã viết và đọc tại chỗ bài này. Nhiều người chuyền tay nhau chép vào sổ. Sau đó, bài thơ được giải Nhất trong Festival Thanh Niên thế giới tại Đức.

    “Thăm lúa” mang âm hưởng dân ca rất đậm, nhất là âm hưởng điệu hát giặm Nghệ Tĩnh. Ngay từ thời bài thơ mới ra đời, đã được phổ biến rộng rãi ở nông thôn vùng khu Bốn.

    Một lần, đạp xe đi công tác với một người bạn, anh mải mê ngắm phong cảnh ruộng đồng, làng mạc. Quay lại, không thấy người bạn đâu cả. Anh đành vào quán nước chè xanh đợi bạn. Một chốc sau, người bạn hăm hở đạp xe đuổi theo anh và nói: “Thung ơi, tao nghe từ trong xóm vọng ra tiếng ru của cô gái bài hát giặm rất mới và hay như bài thơ. Tao dừng lại chép. Đây, mày xem!…” Trần Hữu Thung hối hả đọc, thì ra bài thơ “Thăm lúa” của mình. Bài thơ chưa được đăng báo mà đã có người thuộc.

    Trong một chuyến đi ngược sông Lam, trăng thanh gió mát, người chen chúc nhau nằm trên ván thuyền, một người xướng lên: “Đề nghị cô lái đò hát cho vui”. Mọi người đồng thanh hưởng ứng. Cô lái đò cất giọng hát những bài dân ca Nghệ Tĩnh, rồi hát bài “Thăm lúa”. Ngỡ là Trần Hữu Thung đã ngủ một người bạn lách đám đông người và gánh gồng ngổn ngang, tìm đến chỗ Thung nằm: “Thung ơi, cô lái đò đang hát bài “Thăm lúa” của mày”. Thung giơ tay: “Im, im mà nghe”. Hai bạn ngồi tựa vào mạn thuyền, vừa hút thuốc lào vừa nghe. Cô lái đò hát xong bài “Thăm lúa” thì cũng vừa đến bến Rạng. Thung niềm nở chào cô lái đò và bước lên bờ. Một ông khách ghé tai cô nói nhỏ: “Anh ấy là Trần Hữu Thung, cô vừa hát bài của anh ấy”. Cô lái vội vã gọi to: “Anh là Trần Hữu Thung à, quay lại cho em xem mặt một tí!…”.

    Bà con nông dân Nghệ Tĩnh thường hay uống nước chè xanh. Người ta dùng xe cút kít chở chè từ Anh Sơn, Đô Lương về bán ở các chợ miền xuôi… Trần Hữu Thung đang thong dong cuốc bộ từ trên đường số 7 thì gặp một đoàn xe chở chè vượt dốc Truông Kè. Mấy cậu con trai ra sức đẩy xe. Mấy cô gái vừa kéo xe vừa hát. Họ hát lẫn lộn bài “Thăm lúa” với những bài giặm vè quê hương. Cảm thấy vui trong lòng, anh Thung quàng xắc chéo qua vai, xúm tay cùng đẩy xe chè. Anh vừa đẩy vừa nhẩm thuộc những bài giặm vè mà anh chưa biết… Qua bên kia dốc, anh cùng vào uống nước chè xanh với đoàn người buôn chè. Một người cùng cơ quan đi qua, cũng dừng lại uống nước, chợt thấy Trần Hữu Thung đang phanh trần áo, mồ hôi đầm đìa, chuyện trò rôm rả, bèn gọi toáng lên: “Thung! Thung! Trầng Hữu Thung!”. Anh giật mình, quay ra. Cả phường buôn chè cũng nhìn anh, hỏi nhau: “Ông này là Trần Hữu Thung à?…”.

    Trần Hữu Thung đã có lần bị bọn xấu trấn lột. Chuyện xảy ra thật buồn cười… Đi công tác các làng quê trong tỉnh, rất ít khi anh đi ô tô, mà thường dùng cái xe đạp cọc cạch. Lần ấy, đêm khuya gió mát, anh đạp xe một mình từ Đô Lương về Diễn Châu. Đến quãng đường vắng, hai cậu thanh niên cầm gậy ngáng lại. Trần Hữu Thung bình tĩnh dừng xe:

    – Hai đứa mày muốn trấn lột tao chứ gì?

    Anh móc túi và trao cho chúng:

    – Đây, tao chỉ có 9.000 đồng, chúng mày cầm mà tiêu. Còn cái xe cọc cạch này đáng mấy xu, chúng mày lấy làm gì!

    Hai cậu thanh niên cầm 9.000 đồng và giậy túi dết lục soát, thấy có nhiều cuốn sổ và ở bìa cuốn nào cũng ghi tên “Trần Hữu Thung”. Một cậu hỏi:

    – Bác là Trần Hữu Thung à?

    – Ấy!

    – Có phải Trần Hữu Thung “Thăm lúa” không?

    – Ấy!

    – Thế thì chúng cháu xin lỗi bác!

    Hai cậu thanh niên trao lại cho Trần Hữu Thung túi dết và 9.000 đồng, rồi bước đi và nói với nhau: “Nhà thơ mà nghèo quá!”.

    Bài thơ “Thăm lúa” lặng lẽ ra đời và lặng đi sâu vào lòng người. Bạn bè hỏi chuyện, Trần Hữu Thung lặng lẽ trả lời: “Hồi đó mình có biết gì về lý luận văn nghệ hiện thực chủ nghĩa xã hội đâu. Được bà con mời dự đám cưới, mình biết cưới xong chú rể sẽ tòng quân, bỗng nhiên xúc động cầm bút viết thành thơ…”.

    Thân Thị Diệp Nga @ 17:56 21/10/2010

    Số lượt xem: 1413

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Bài Thơ Hay Và Nổi Tiếng Nhất Của Nhà Thơ Huy Cận
  • Nỗi Đau Không Của Riêng Ai Từ Những Câu Thơ Thắt Lòng
  • Bài Thơ Tiếng Gọi Bên Sông Của Tác Giả Thế Lữ
  • Giáo Án Tập Đọc 2 Tuần 3 Tiết 4: Gọi Bạn
  • Kể Lại Câu Chuyện “gọi Bạn”
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×