Vụ Đồng Tâm: Lạ Lắm

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ “đất Nước Mình” Của Cô Giáo Trần Thị Lam
  • Con Gái Tác Giả Bài Thơ “đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh” Đoạt Học Bổng 6,2 Tỷ Ở Mỹ
  • Đề Thi Thử Môn Văn Thpt Quốc Gia Số 23
  • Phân Tích Bài Thơ Đất Nước Trích Mặt Đường Khát Vọng Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Phân Tích Ý Nghĩa Bài Thơ Đất Nước (Trích Mặt Đường Khát Vọng) Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Có một dạo, cộng đồng ồn lên bài thơ “Đất nước mình lạ lắm phải không anh?” của một cô giáo nào đó ở Hà Tĩnh. Hồi đấy, nhiều người cũng làm thơ giả nhời cô giáo.

    1 – Lạ lắm. Có những người ra sức lên án các quan tham, đòi phải xử nghiêm, phải bắn bỏ v.v… Nhưng chính những người đó lại ra sức thương xót “cụ”, bất chấp việc “cụ” và con cháu “cụ” đã hình thành một mạng lưới quyền lực gia đình trị từ xã đến huyện, để xâu xé đất quốc phòng.

    Vì sự ăn dày, ăn tất, ăn cả đất xung quanh, mà con cháu “cụ” thì gia nhập Juventus, hát bài “Xuân này con không về”. Bản thân “cụ” làm quan hàng xã đến chức bí thư đảng ủy, nhúng tay vào đủ mọi thứ bẩn thỉu, rồi kết thúc cuộc đời bằng cách đổ xăng thiêu sống ba công an, và nhận cái chết bằng phát đạn 9 ly ngay giữa tim, khi trong tay nắm chặt quả lựu đạn.

    2 – Lạ lắm. Có những người đòi hỏi phải giải thích, đối thoại với dân, không được dùng vũ lực với dân. Nhưng những người đó lờ lớ lơ đi việc ông Nguyễn Đức Chung đã giữ lời hứa 45 ngày thanh tra toàn diện. Họ cũng lờ lớ lơ việc Thanh tra Chính phủ đã phúc tra kết quả của Thanh tra Hà Nội, và Phó Tổng Thanh tra Chính phủ đã về tận huyện Mỹ Đức để giải thích với dân. Vào lúc đó, không thấy có “dân Đồng Tâm” nào đi đối chất với thanh tra.

    Và rồi, khi công an tiêu diệt “cụ” với đầy đủ bằng chứng về các hành vi tội phạm có vũ trang, thì họ khóc huhu: “Sao lại dùng vũ lực với dân, sao lại bắn chết một ông già (tay cầm quả lựu đạn)?

    3 – Lạ lắm. Có những người băn khoăn tại sao lại “cưỡng chế” nhà “cụ” vào lúc 4 giờ sáng. Tại sao lại phải huy động hàng ngàn công an để “đàn áp” cụ? Chăc có lẽ họ đã không phân biệt được, hoặc cũng có thể họ cố tình lập lờ giữa cưỡng chế đất đai và vây bắt tội phạm có tổ chức nguy hiểm, trang bị vũ khí nóng. Họ tạo ra hình ảnh cụ già yếu đuối với lựu đạn trên tay bị bắn chết, mà quên mất trước đó công an đã phải trả giá 3 liệt sĩ bị thiêu sống trong đêm. Nói thẳng ra: Không cần đến “mấy ngàn công an”, mà chỉ cần một tiểu đội cảnh sát cơ động trang bị tiểu liên cực nhanh, thì họ sẽ cho “cụ” và đàn em của “cụ” thành cái tổ ong ngay trong một nốt nhạc, thay vì phải đứng nhìn “cụ” ra lệnh thiêu sống đồng đội mình, rồi mới có lệnh nổ súng.

    Mà có lẽ, với những người “lạ” như thế, nếu như nhà họ có cháy lúc nửa đêm, thì công an phòng cháy cứ chờ đến giờ hành chính rồi hẵng xuất xe. Nếu người nhà họ có đau ốm, thì bác sĩ A9 Bạch Mai cứ chờ sáng rồi hẵng cấp cứu.

    4 – Lạ lắm. Có những người cắc cớ: Sao không mang sự việc ra giải quyết tại Tòa án. Họ không biết, hoặc cố tình không biết rằng các tranh chấp đất đai có thể được giải quyết bằng thủ tục tố tụng tư pháp, hoặc thủ tục hành chính. Nhìn lại toàn bộ quá trình, chính “tổ đồng thuận” của “cụ” đã chọn con đường hành chính, và thua lấm lưng trắng bụng.

    Phó Tổng Thanh tra Chính phủ chiếu slide bản đồ cho dân, khẳng định các cột mốc còn rất tốt. Nước cố cùng, khi Thanh tra Chính phủ chiếu bí đến sân nhà “cụ”, thì “cụ” giả điên lên mạng live stream. “Cụ” bảo vì “cụ” sợ bị đánh gãy chân, nên “cụ” không lên huyện nghe kết luận thanh tra.

    Còn chưa nói đến việc, chưa bao giờ “cụ” nộp đơn lên Tòa án, và nếu có, thì tư cách nào để “cụ” tham gia tố tụng, khi “cụ” chẳng có mẩu đất nào trong khu vực có tranh chấp với sân bay Miếu Môn?

    5 – Lạ lắm. Có những người ra sức đòi đánh Trung Quốc bảo vệ Trường Sa, giành lại Hoàng Sa. Nhưng cũng chính những người đó đánh bài lờ về một sự thực rằng sân bay Miếu Môn là sân bay dự bị của sân bay Nội Bài khi có chiến tranh từ thời đánh Mỹ.

    Kể từ năm 1980, sau khi có chiến tranh biên giới, sân bay được lên kế hoạch mở rộng để dự phòng chiến tranh lớn, bảo vệ bầu trời miền bắc. Nói cách khác, đó chính là cái sân bay quân sự, với chức năng gần như duy nhất là căn cứ xuất phát cho máy bay tiêm kích đánh trả các cuộc tấn công từ phía bắc xuống, để bảo vệ “nóc nhà” của Hà Nội.

    Nói kĩ hơn về điểm này: Sau khi sân bay được củng cố và mở rộng, thì chiến tranh lớn không xảy ra, nên sân bay được giao cho một đơn vị bộ đội công binh của Quân chủng Phòng không – không quân (không còn tổ chức tiểu đoàn căn cứ sân bay riêng nữa). Thực ra, lữ đoàn công binh 28 của Quân chủng PK-KQ chỉ là phiên hiệu từ năm 1999 trở về sau. Còn trước đó, Phòng không và Không quân là 2 quân chủng độc lập (tổ chức kiểu LX), mỗi quân chủng đó có đơn vị công binh riêng để xây dựng và bảo trì các sân bay (trung đoàn 28 công binh không quân), trận địa pháo, trận địa tên lửa (trung đoàn 220 công binh phòng không). Sân bay được giao cho một tiểu đoàn công binh của trung đoàn 28, và bản thân tiểu đoàn này cũng chỉ có biên chế khung, vì phần lớn bộ đội đã đi khắp cả nước để thi công các sân bay, trong cao trào chuẩn bị chiến tranh lớn nếu TQ xâm lược VN lần nữa như năm 1979.

    Với lực lượng ít ỏi như thế, đơn giản là họ không đủ người để quán xuyến hết 236ha đất sân bay của 3 xã (trong đó có 64ha đất của xã Đồng Tâm). Và đó là lúc “phong trào” lấn chiếm đất xuất hiện. Bất chấp việc bản đồ sân bay đã có chữ kí của chỉ huy đơn vị quản lý sân bay, và lãnh đạo 3 xã lân cận. Bất chấp các mốc giới vẫn còn nguyên vẹn xi măng cốt thép.

    Mỗi căn nhà, mảnh vườn lấn vào đường băng, chính là một nhát dao xẻ thịt một sân bay quan trọng của không quân. Và đến khi quân đội hoảng hồn nhận ra, thì nhà dân đã chắn cả hầm chứa máy bay trực chiến, đường lăn máy bay đã thành ao chuôm.

    Thế nên, vĩnh viễn không còn sân bay quân sự Miếu Môn nữa, vì nó đã bị bóp chết. Quân đội chuyển sang giao đất cho Tập đoàn Viettel, song song với việc chuyển tập đoàn này thành Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội. Không ai nói ra, nhưng phải hiểu rằng công trình quốc phòng là nhà máy công nghiệp quốc phòng quan trọng, mà vũ khí – khí tài nó sản xuất ra, là thứ dành cho những kẻ thù của Tổ quốc. Đến lúc này, thì bùng nổ sự việc Đồng Tâm, việc này kéo dài 3 năm, mất 3 liệt sĩ công an. Và Miếu Môn từ chỗ là một sân bay bỏ hoang, nay trở thành trọng điểm của dư luận.

    À mà, chưa kể còn có những người rất lạ, họ đòi phải công khai xem nhà máy quốc phòng tối mật của Viettel là nhà máy gì. Không rõ những người này có liên hệ gì với Hoa Nam tình báo cục hay không, chứ nếu không thì họ ăn gì mà thông minh thế?

    Như vậy, là có ít nhất hai lần “cụ” và đàn em của “cụ” đã xẻo thịt những cơ sở quốc phòng quan trọng nhất để đánh kẻ thù phương bắc: Một lần là sân bay quân sự dự bị chiến lược cho chiến tranh biên giới. Một lần là nhà máy công nghiệp quốc phòng tối mật.

    6 – Khóc “cụ”

    Than ôi.

    Đất trời Đồng Tâm mây mù che phủ.

    Người Đảng viên già ôm lựu đạn chai xăng.

    Ới cụ ơi. 3 năm qua cụ còn giữ được mạng, là nhờ ơn Đảng ơn chính quyền nương tay không giết. Cụ tưởng thế là hay, cụ rào làng, cụ đặt chông, cụ thiêu sống công an không chớp mắt. Cụ làm quan thì hà lạm tham nhũng. Con cháu cụ thì nối bước nhau vào huyện vào xã, rồi nhờ cụ mà ăn cơm cân áo số. Cụ chết đi tay còn cầm lăm lăm lựu đạn. Thế mà bây giờ nhiều người khóc cụ, lạ lắm cụ ơi.

    Cụ có linh thiêng, thì xin nhắc cho cụ biết: Nhờ ơn cụ, mà con cháu cụ được gia nhập đội tuyển Juventus, ăn Tết nơi buồng giam nhà đá. Nhờ ơn cụ, mà ba gia đình liệt sĩ năm nay không có Tết, vợ mất chồng, con mất cha ngơ ngác. Nhờ ơn cụ, mà dự án nhà máy quốc phòng chậm trễ ba năm, và không biết sẽ còn chậm đến khi nào.

    3 năm chậm trễ đó, là 3 năm những vũ khí – khí tài made in Vietnam chậm đến tay chiến sĩ, là 3 năm thụt lùi thua kém nền công nghiệp quốc phòng đang tiến như vũ bão của người láng giềng bên kia biên giới. Viettel là niềm hi vọng gần như duy nhất sẽ gây dựng nên nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, và trong những trắc trở đầu tiên mà niềm hi vọng đó gặp phải, vinh quang thay lại có tên “cụ”.

    Người ta sẽ học được từ thất bại nhiều hơn thành công. Mong rằng Viettel sau này hãy đưa ảnh “cụ” vào phòng truyền thống của nhà máy, để đời đời kiếp kiếp cán bộ chiến sĩ toàn quân nhận thức ra rằng: Kẻ thù phương bắc không đáng sợ bằng những kẻ đâm sau lưng chiến sĩ. Rằng những ngày gian khổ đầu tiên của nhà máy, không phải do gián điệp nước ngoài phá hoại, không phải do không quân địch ném bom, pháo hạm địch bắn phá, mà là do phải giành đất, giữ đất sân bay với “nhân dân anh hùng”.

    Vậy đó, lạ lắm …

    Lương Lê Minh

    https://www.facebook.com/100006948106461/videos/2493784677529778/?hc_location=ufi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích 8 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Việt Bắc Liên Hệ Với 9 Câu Đầu Bài Đất Nước Để Thấy Điểm Tương Đồng
  • Soạn Bài Việt Bắc Đầy Đủ Nhất
  • Hướng Dẫn Cảm Thụ Văn Học Bài Bài Hát Trồng Cây
  • Bài Thơ Vui Trung Thu Cho Trẻ Nhỏ Hay Và Ý Nghĩa 2022
  • Những Bài Hát Về Nghề Nghiệp Cho Trẻ Mầm Non Hay Nhất
  • Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Đêm Trăng” – Xuân Diệu & Hoàng Thanh Tâm

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Ca Khúc Phổ Thơ Nổi Tiếng
  • Miễn Phí Tải Về File Word
  • Thơ Chọn Lời Bình: Con Yêu Mẹ
  • Giáo Án Mầm Non Đề Tài: Thơ: Yêu Mẹ 2022
  • Giáo Án Mầm Non Bài Thơ Yêu Mẹ
  • Chào các bạn,

    Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Đêm Trăng” (“Trăng”) của Thi sĩ Xuân DiệuNhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm.

    Thi sĩ Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, ông sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 – mất ngày 18 tháng 12 năm 1985. Ông là một trong những thi sĩ hàng đầu của Việt Nam. Sự nghiệp viết lách của ông có khoảng 450 bài, phần lớn vẫn còn nguyên bản thảo, đặc biệt là thơ tình, cùng với vài truyện ngắn, và một số bài phê bình văn học.

    Ông sinh tại Gò Bồi, Tùng Giản, quận Tuy Phước, tỉnh Bình Định (quê ngoại của ông). Thân sinh của ông là cụ Ngô Xuân Thọ, thầy giáo, và bà Nguyễn Thị Hiệp. Ông học ở Qui Nhơn, Huế, và về sau ở Hà Nội (1938–1940). Ông tốt nghiệp bằng Kỹ sư Nông nghiệp năm 1943 và làm việc ở Mỹ Tho trước khi trở lại Hà Nội.

    Mặc dù ông được mọi người biết đến là một thi sĩ thơ tình xuất sắc, nhưng cuộc hôn nhân của ông chỉ tồn tại có 6 tháng trước khi vợ chồng ông ly dị và ông sống độc thân cho đến cuối đời.

    Có nguồn dư luận tin rằng ông là người đồng tình luyến ái cùng với nhà thơ Huy Cận (người bạn nối khố thời trung học của ông) cũng như đã được ông thể hiện qua những bài thơ tình đề tặng riêng cho những người đàn ông khác. Những bài thơ này gồm có: “Tình Trai” – viết về cuộc tình của hai thi sĩ người Pháp, Arthur Rimbaud & Paul Verlaine, và “Em Đi” – một bài thơ tình đầy xúc cảm viết tặng riêng cho thi sĩ Hoàng Cát, người cùng sống chung với ông hai năm, khi ông Hoàng Cát phải vào Nam.

    Trong sự nghiệp của ông, Xuân Diệu được biết đến như là một thi sĩ thượng thặng trong phong trào Thơ Mới, với biệt hiệu “Ông Hoàng Thơ Tình”. Ông cũng chính là người đã tặng cho nữ sĩ Hồ Xuân Hương biệt danh: “Nữ Hoàng Thơ Nôm”.

    Thi sĩ Xuân Diệu còn là thành viên của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, và là một trong những nhà thơ tiên phong hoạt động đẩy mạnh phong trào Thơ Mới. Những bài tiêu biểu ông viết trong thời gian này là: “Thơ Thơ” (1938), “Gửi Hương Cho Gió” (1945), và truyện ngắn “Phấn Thông Vàng” (1939).

    Hai bài “Thơ Thơ” và “Gửi Hương Cho Gió” được quần chúng công nhận là hai bài thơ lớn trong Văn học Việt Nam vì trong đó “tình yêu”, “đời sống”, “hạnh phúc”, “yêu cuộc đời” được ông ca ngợi tôn vinh cùng lúc với “tuổi trẻ”, “mùa xuân”, “thiên nhiên bảo bọc tình yêu”. Ngoài ra thơ ông còn cho thấy nỗi “buồn thương cho thời gian đã mất”, tính chất “vô thường của đời sống”, và niềm “khao khát cho một đời sống vĩnh cửu”.

    Hiện nay tên của ông được đặt cho một con đường trong thành phố Hà Nội.

    Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm sinh ngày 14 tháng 4 năm 1960 tại Sài Gòn, anh là thứ nam của ông Hoàng Cao Tăng, cố giám đốc Đài Phát Thanh Pháp Á (Radio France Asie). Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm thuộc thế hệ nhạc sĩ trẻ sau 1975, có những ca khúc đi sâu vào lòng người, và được xếp loại chung với những sáng tác của các thế hệ đàn anh trước 1975.

    Với hơn 60 tác phẩm sáng tác trong khoảng 3 thập niên từ 1980-2009, trong số đó có những nhạc phẩm nổi bật như: “Tháng Sáu Trời Mưa”, “Lời Tình Buồn”, “Trả Lại Thoáng Mây Bay”, “Ngập Ngừng”, “Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi” vv…, đã đem tên tuổi Hoàng Thanh Tâm đến với mọi tầng lớp khán thính giả khắp nơi, giúp anh có một chỗ đứng vững chãi trong làng âm nhạc Việt Nam.

    Sau khi tốt nghiệp trung học tại trường Pétrus Ký, Hoàng Thanh Tâm vượt biên đến đảo Pulau Bidong, Mã Lai và được hội từ thiện Caritas bảo lãnh sang Bỉ năm 1979.

    Anh đã theo học ngành Tin học (L’informatique) 3 năm tại trường Đại học Tự do Bruxelles và một lần nữa anh lại di cư sang Úc Đại Lợi vào năm 1982, và định cư luôn tại Úc cho đến bây giờ…

    Trong 3 năm ở Bruxelles, Hoàng Thanh Tâm đã viết rất nhiều ca khúc về những nỗi nhớ thương quê nhà, cho những cuộc tình dang dở của anh, và nỗi cô đơn buồn tủi trên xứ người. Điển hình là những nhạc phẩm như: “Trả Lại Thoáng Mây Bay”, “Đêm Tha Hương”, “Dáng Xưa”, “Xuân Mơ”, “Đêm Hoàng Lan” (phổ thơ Trần Dạ Từ), “Lời Cho Người Tình Xa”, “Tìm Em” vv…

    Nhạc phẩm đầu tay anh viết tại hải ngoại là nhạc phẩm “Trả Lại Thoáng Mây Bay” đã được ca sĩ Lệ Thu trình bày lần đầu tiên trong băng nhạc “Thu Hát Cho Người” do chính Lệ Thu thực hiện năm 1982.

    Qua Úc năm 1982, nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm đã sống 6 năm đầu tại thủ đô Canberra. Trong thời gian này, anh có rất nhiều hứng khởi sáng tác, và đã tiếp tục viết rất nhiều tình khúc, cũng như phổ nhạc nhiều bài thơ nổi tiếng của các thi sĩ thời tiền chiến và cận đại như “Tháng Sáu Trời Mưa” & “Cần Thiết” của Nguyên Sa, “Áo Trắng” & “Buồn Đêm Mưa” và “Tự Tình” của Huy Cận, “Ngập Ngừng” (Em Cứ Hẹn) của Hồ Dzếnh, “Đây Thôn Vỹ Dạ” và “Giọt Lệ Tình” của Hàn Mặc Tử, “Một Mùa Đông” của Lưu Trọng Lư, “Đêm Trăng” của Xuân Diệu, “Một Tháng Giêng” (Đêm Hoàng Lan) và “Tình Tự Mưa” của Trần Dạ Từ, hoàn chỉnh thi phẩm “Cô Hái Mơ” của Nguyễn Bính vv…

    Sau khi qua Mỹ năm 1986 để thực hiện album đầu tay “Lời Tình Buồn” và album thứ hai “Khúc Nhạc Sầu Cho Em” năm 1987 do trung tâm Giáng Ngọc của Lê Bá Chư phát hành, anh trở về Úc và chuyển về sinh sống ở Sydney năm 1988.

    Thi phẩm “Trăng” (Thi sĩ Xuân Diệu)

    Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá;

    Ánh sáng tuôn đầy các lối đi,

    Tôi với người yêu qua nhẹ nhẹ …

    Im lìm, không dám nói năng chi.

    Bâng khuâng chân tiếc dậm lên vàng,

    Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang,

    Ngơ ngác hoa duyên còn núp lá.

    Và làm sai lỡ nhịp trăng đang.

    Dịu dàng đàn những ánh tơ xanh,

    Cho gió du dương điệu múa cành;

    Cho gió đượm buồn, thôi náo động

    Linh hồn yểu điệu của đêm thanh.

    Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ,

    Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ.

    Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá !

    Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ.

    (1936)

    Thi khúc “Đêm Trăng” (Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm)

    Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá

    Ánh sáng tuôn đầy các lối đi

    Tôi với người yêu qua nhè nhẹ

    Im lìm không dám nói năng chi

    Bâng khuâng chân tiếc dẫm lên vàng

    Tôi sợ đường trăng dậy tiếng vang

    Ngơ ngác hoa duyên còn núp lá

    Và làm sai lỡ nhịp trăng đang

    Dịu dàng dàn những ánh tơ xanh

    Cho lá du dương điệu múa cành

    Cho gió đượm buồn thôi náo động

    Linh hồn yểu điệu của đêm thanh

    Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ

    Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ

    Trăng sáng trăng xa trăng rộng quá

    Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ…

    – Nhà Thơ số Một của Thơ Mới

    Cùng với link thi khúc “Đêm Trăng” do ca sĩ Mai Hương diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

    Mời các bạn,

    Túy Phượng

    (Theo Wikipedia)

    Nhà Thơ số Một của Thơ Mới

    (Vương Trí Nhàn)

    Đi tìm một cách nói hợp lý

    Xuân Diệu thường nói ông mang trong mình quê hương thống nhất. Cha đàng ngoài má ở đàng trong, — cái lý của ông thật cụ thể.

    Mượn cách nói ấy, khi xem xét sang lĩnh vực thơ, tôi cũng muốn nói rằng ông mang trong mình nền thơ thế kỷ Việt Nam thế kỷ XX.

    Nửa đầu thế kỷ, thơ Việt có chuyển đổi về mặt cơ cấu, từ mô hình kiểu trung đại chuyển sang một mô hình hiện đại. Khi thơ như một cơ cấu đã ổn định, từ sau 1945, cái định hướng rõ nhất là chuyển đổi chức năng để phục vụ xã hội. Trong cả hai cuộc vận động, người ta đều thấy Xuân Diệu là một trong những tên tuổi được nhắc nhở nhiều nhất.

    Trong phạm vi Thơ mới, ông không có những bài thơ coi là mở đầu như Phan Khôi. Ông không có vai trò người khai phá đầy tài năng như Thế Lữ, không có những tác phẩm chín như Huy Cận. Song nói đến thời đại này là phải nói đến ông. Qua ông, thấy cả sự vận động của Thơ mới.

    Tuy cùng nằm trong khuôn khổ hiện đại hóa văn học, song những gì diễn ra trong thơ tiền chiến khác hẳn trong văn xuôi. Với văn xuôi các nhà văn của ta bằng lòng làm người học trò nhỏ của văn học Pháp. Thơ thì khác. Ban đầu người ta không chịu. Phạm Quỳnh từng kể, có những ông đồ tự hỏi: Bên tây cũng có thơ à?

    Quan niệm như vậy, cho nên trong thực tế, đồ thị diễn tả vận động của mỗi thể loại cũng khác nhau. Ở văn xuôi mọi chuyện từ từ, không có đột biến. Thơ cũ, sau một hồi chống chọi, như là xảy ra tình trạng “vỡ trận”. Kết quả là có Thơ mới náo động một thời.

    Có thể tìm thấy bóng dáng cuộc vận động này trong bước đi của Xuân Diệu. Ông đến trong tư thế ào ạt khẳng định. Ban đầu Thơ mới làm cho người ta ngỡ ngàng ư? Thì Xuân Diệu làm cho chúng ta ngỡ ngàng. Rồi cuối cùng chúng ta thấy Thơ mới gần với ta ư? Thì Xuân Diệu đã được cả một thời say đắm.

    Xuân Diệu là tất cả cái hay cái dở của thơ mới. Là sự cởi mở và tham vọng của con người đương thời. Là hào hứng đi ra với thế giới. Nhưng cũng là nông nổi, cạn cợt, là nhanh chóng chán chường và bế tắc.

    Nếu cần nói gọn một câu về vai trò của Xuân Diệu trong Thơ mới thì nên nói gì?

    Hoài Thanh là người đầu tiên cho rằng “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới”. Ở Sài Gòn năm 1967, trong tập Bảng lược đồ của văn học Việt Nam (Ba thế hệ của nền văn học mới ), Thanh Lãng cũng viết một câu tương tự. Tôi vừa đọc lại hồ sơ cuộc hội thảo kỷ niệm 10 năm nhà thơ Xuân Diệu qua đời. Cho đến nay công thức đó vẫn được nhiều người nhắc lại.

    Có lẽ ý kiến đó hình thành một phần là do từ trước, Hàn Mặc Tử còn ít được đọc và được nghiên cứu. Còn ngày nay với sự phổ biến của Hàn Mặc Tử, thì theo tôi, vai trò người mới nhất của Thơ mới phải thuộc về Hàn mới đúng.

    Nhưng sao người ta vẫn thích trích dẫn cái câu của Hoài Thanh?

    Tạm thời có thể diễn giải như thế này: Nếu từ góc độ khoa học của vấn đề, Hàn đã là người đi xa nhất, và do đó mới nhất. Còn nếu xem xét hiệu ứng của thơ trong đời sống thì những ấn tượng Xuân Diệu để lại trong lòng người không ai có thể bì kịp.

    Thay cho công thức “gương mặt tiêu biểu” đã mòn, tôi muốn nói Xuân Diệu là hiện thân của Thơ mới. Là nhà thơ số một không phải với nghĩa hay nhất, giá trị nhất, đứng cao hơn hết …, mà là, nếu bây giờ chỉ cần gọi tên một nhà thơ trong thơ mới thôi, thì gần như tất cả sẽ gọi Xuân Diệu.

    Giữa các phong cách của Thơ mới, Xuân Diệu là một cái gì vừa phải, hợp lý, ông vốn có cái dễ dàng để đến với đám đông trong văn chương cũng như trong cuộc đời. Thế Lữ hơi cổ. Trong thơ Thế Lữ người ta vẫn cảm thấy một cái gì hơi già, hơi cũ, mắt nhìn về cái mới chứ chân chưa đặt tới cái miền mới mẻ đó. Mong muốn kéo nhà thơ này đi tới nhưng con người ông không theo kịp. Lưu Trọng Lư cũng vậy, mà lại ngả sang mơ mộng xa xôi. Huy Cận chậm rải khoan thai đậm chất văn hóa, và Huy Cận như già trước tuổi nữa. Về độ chín của thơ, Xuân Diệu không bằng Huy Cận. Song sự trẻ trung làm cho Xuân Diệu có sự hấp dẫn hơn, phổ biến hơn nhiều.

    Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên ăn nhiều ở sự hướng thượng, suy tư, độc đáo. Các ông có cái gì đó mà người bình thường khó với tới. Họ nhìn theo các ông mà ngại.

    Xét về ảnh hưởng với các thế hệ sau, vai trò của Xuân Diệu cũng rất lớn. Như ở thế hệ những người sinh khoảng 40 của thế kỷ trước, những Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật. Nếu đặt ra một hàng những Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử thì trong sự khác nhau rất rõ, họ vẫn gần với Xuân Diệu hơn cả, số người nằm cùng một trục dọc với Xuân Diệu khá đông đảo.

    Xuân Diệu như hoa hồng trong một vườn hoa loại nào cũng đẹp. Như một thứ cơm tẻ vừa với mọi người. Đi đến một tổng hợp khái quát nhất Hoài Thanh ở cuối bài tổng luận về thơ mới bảo Xuân Diệu là “nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại”.

    Thêm một ít khía cạnh trong con người Âu hóa và mỹ cảm hiện đại

    Ông là con người của ham muốn say đắm muốn sống hết mình. Chỉ cần đọc một câu thơ Anh nhớ tiếng anh nhớ hình anh nhớ ảnh — Anh nhớ em anh nhớ lắm em ơi, cảm nghe hết cái sự nồng nàn của nó …người ta đã biết ngay nó không thể có ở nhà thơ cổ điển, nó phải thuộc bề một nhà thơ hiện đại.

    Mặc dù có những bài tuyệt bút, song Xuân Diệu thường vẫn để lại ấn tượng có chỗ sượng, chưa chín, chưa đều tay. Ông là người rất có ý thức mà cũng là rất nhạy cảm khi bênh vực cho cái dang dở. So sánh ca dao Nam Trung bộ và ca dao miền Bắc, ông nói rằng ca dao miền Bắc quá chau chuốt quá hoàn chỉnh, trong khi ca dao Nam Trung bộ trần trụi thô mộc nên dễ gần. Có lần, nhận xét về một bài thơ, Xuân Diệu bảo khi người ta cảm động quá, người ta có gì đó run rẩy lúng túng. Trong những trường hợp này, Xuân Diệu đã biện hộ cho mình. Chính ở cái vẻ vội vàng hấp tấp dở dang chưa thành này mà Xuân Diệu gần với con người đương thời.

    Nhưng không chỉ có thế. Không chỉ có hồn nhiên tuổi trẻ, mà càng về sau, Xuân Diệu càng tỏ ra sống hết với cái đã đầy của cuộc sống. Bài Hy mã lạp sơn là một cách ướm thử sự vượt lên cái thông thường, tự làm khác mình đi và đẩy suy nghĩ của mình tới cùng, tới cái tuyệt đối. Nhưng một lần tới rồi thì lộ ngay ra là không bao giờ nên trở lại nữa. Biết điều tội nghiệp run rẩy thiết tha, Xuân Diệu là chính mình hơn trongLời kỹ nữ.

    Sự khác nhau giữa Thơ cũ và Thơ mới bắt đầu từ sự đổi khác của tâm lý con người, của cách xúc động… và điều này đã được nhiều người như Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh diễn tả sâu sắc. Mối quan hệ giữa lý trí và cảm xúc là một vấn đề lớn của con người hiện đại. Hồi 1961, nhân tuyển thơ 15 năm sau Cách mạng, Chế Lan Viên nói như một câu buột miệng “Xuân Diệu cần hồn nhiên hơn và Tế Hanh phải bớt tự nhiên đi”. Tôi đọc và tưởng là về già Xuân Diệu mới vậy. Sau đọc lại, thấy cái cách sống và làm việc theo lý trí này có từ Xuân Diệu hồi Thơ mới. Xét trên toàn cục, Xuân Diệu đã là một con người nhất quán, những năm cuối đời chỉ tô đậm những nét cốn có của ông lúc trẻ. Và đó chính là dấu hiệu làm chứng cho sự có mặt của nền văn hóa mà ông tiếp nhận từ nhỏ.

    Nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn gần đây nói rằng con người ông có cả văn hóa Việt Nam lẫn văn hóa Mỹ. Trong Xuân Diệu cái yếu tố Mỹ được thay bằng văn hóa Pháp. Cố nhiên là cách kết hợp những yếu tố khác nhau ở người này không bao giờ giống như ở người khác, nhưng họ đều là hiện tượng đa văn hóa.

    Thơ tám chữ, thơ bảy chữ

    Trên phương diện hình thức nghệ thuật thơ, so với các nhà Thơ mới khác, Xuân Diệu cũng để lại ấn tượng riêng, về một cái gì vừa miệng với số đông, nghĩa là rất phổ biến.

    Sáng tạo của Thơ mới trên phương diện thể thơ gồm hai phần: một là đưa thể tám chữ lên mức hoàn chỉnh và thứ hai là có những cách tân mới đối với các thể cũ như thơ bảy chữ, thơ lục bát.

    Sở dĩ đọc Thế Lữ ta cảm thấy một cái gì cũ cũ, bởi vì ngoài Nhớ rừng, các bài tám chữ khác của ông để lại ấn tượng nặng nề do sự xâm nhập của yếu tố văn xuôi còn thô. Ở các bài như Đi giữa đường thơm, Nhạc sầu của Huy Cận, Nhớ con sông quêhương của Tế Hanh, chúng ta thấy thơ tám chữ tự nhiên như một sản phẩm thuần Việt. Mà cái đó đến sớm với Xuân Diệu. Những bài như Tương tư chiều,Vội vàng, Hoa đêm của ông cùng với Lời kỹ nữ Hy mã lạp sơn vừa nói ở trên là những sáng tác hoàn thiện.

    Hoài Thanh bảo thơ tám chữ của Xuân Diệu có nguồn gốc ở ca trù. Cảm giác gần gũi có được là do cái hồn thơ, một cái gì thanh thoát mà lại hơi lẳng lơ tinh nghịch. Mặt khác là hơi thơ, biểu hiện ở độ dài. Tính số câu của một bài thơ, trong khi Tiếng địch sông Ô của Huy Thông làm chúng ta ngợp, thì các bài tám chữ của Xuân Diệu và những bài vừa nhắc trên của Huy Cận, Tế Hanh…cũng gần gũi hơn hẳn.

    Một đóng góp khác của Xuân Diệu trong thể thơ bảy chữ, những bài gồm ba –bốn khổ, nó là một hơi thơ mạnh đi như một lát dao sắc.

    Tản Đà không có bài thơ nào sử dụng tứ tuyệt như vậy. Trong số 47 bài của Mấy vần thơ của Thế Lữ, tôi chỉ thấy có một bài mang tên Yêu là cũng gồm ba khổ như thế này. Nhưng đây là một bài thơ rất ít người nhớ.

    Còn với Xuân Diệu chúng ta thấy hàng loạt trường hợp Nguyệt cầm, Nụ cười xuân,Trăng, Huyền Diệu, Gặp gỡ,Yêu, Tình trai, Đây mùa thu tới, Ý thu, Hẹn hò, Đơn sơ.

    Tôi chợt nhớ tới thể sonnet (1) của Pháp, và muốn giả thiết rằng ở những bài thơ nói trên, Xuân Diệu đã làm một cuộc hôn phối giữa thơ Pháp và thơ dân tộc. Ông Việt hóasonnet từ nền văn hóa mà ông mới tiếp nhận và mang lại cho nó một âm hưởng phương Đông, bằng cách lai tạo nó với thất ngôn tứ tuyệt. Giờ đây loại thơ gồm ba hay bốn khổ tứ tuyệt — 12 hoặc 16 câu bẩy chữ — đã là một cấu trúc cổ điển. Thơ tình của Xuân Diệu sau 1945 thường trở lại với thể này Nguyện, Hoa nở sớm, Tình yêu san sẻ, Ngược dòng sông Đuống.Và đây, tạm kể một số bài thơ được nhiều người thuộc của các tác giả về sau:

    Buồn, Xuân, Em về nhà, Vạn lý tình, Gánh xiếc… của Huy Cận

    Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

    Cô hái mơ của Nguyễn Bính

    Xuân ý của Hồ Dzếnh

    Sầu chung, Chiều loạn (Chiều loạn mây rồi gió đã lên) của Trần Huyền Trân

    Từ sau 1945 , tôi muốn nhắc Hoa cỏ may (Cát vắng sông đầy cây ngẩn ngơ) của Xuân Quỳnh, cũng như bài Thanh xuân (2) của Nhã Ca, giữa hai bài của hai thi sĩ có gì như là đồng vọng và cùng âm hưởng.

    Cái mới đến từ hội nhập

    Nhớ lại khi Xuân Diệu mới xuất hiện, Hoài Thanh thú nhận:

    “Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng”

    Cái tình đồng hương nói ở đây gồm hai yếu tố:

    Một là những yếu tố thuần Việt. Đã nhiều người nói tới cái phần thi liệu Việt ở Xuân Diệu từ “Đã nghe rét mướt luồn trong gió / Đã vắng người sang những chuyến đò” tới “Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya” hoặc “Con cò trên ruộng cánh phân vân”

    Hai là những yếu tố mượn từ đời sống và văn hóa Trung Hoa đã được Việt hóa. Cái yếu tố Tàu này vốn thấy ở nhiều nhà văn tiền chiến, từ những ông già thả thơ đánh thơ ở Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, tới chú khách bán mằn thắn và mấy người khách ở phố Cẩm Giàng của Thạch Lam…

    Bấy lâu ta cứ ngỡ ở Xuân Diệu chỉ có Rimbaud với Verlaine, hóa ra ta nhầm.

    Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đọc lại báo Ngày nay 1938 còn dẫn ra cả một đoạn Xuân Diệu ca ngợi mùa thu “mặc dầu ở bên tây vẫn có mùa thu, thiên hạ vẫn cứ thấy mùa thu là ở bên Tàu. Mùa thu cũng đồng một quê quán với Tây Thi, với nàng Tây Thi quá xa nên quá đẹp “

    Trong cả Thơ thơ lẫn Gửi hương cho gió, cái chất Trung Hoa này xuất hiện ở nhiều dạng.Trong vốn từ ngữ. Trong cái nhịp thơ tứ tuyệt nói ở trên. Và trong thi liệu : Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi /Tôi yêu Ly Cơ hình mơ màng / Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng / Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi. Có cả một bài mang tên Mơ xưa, nhắc lại nhữngGió liễu chiều còn nhớ kẻ dương quan. Yếu tố Trung hoa cố điển ở đây là một bộ phận của yếu tố Việt Nam. Nước Việt trong thời gian. Nước Việt với chiều dài lịch sử, với cái vẻ quý tộc tinh thần… Tất cả lại hiện diện.

    Xin nói tiếp về Nguyệt cầm. Trăng ở đây được gọi là nguyệt, đàn gọi là cầm. Nguyệt và trăng, đàn và cầm cùng tồn tại song song. Cái hồn hiện đại nhập vào cảnh cũ Linh lung ánh sáng bỗng rùng mình. Nhưng trăng và đàn lại là những motip của thơ cổ phương Đông. Còn chữ linh lung với nghĩa ánh sáng chấp chới thì không biết có phải lấy từ bài Ngọc giai oán của Lý Bạch (khước há thủy tinh liêm — linh lung vọng thu nguyệt),(3) chỉ biết sau Xuân Diệu, không ai dùng nó nữa, và các từ điển tiếng Việt mới in nửa sau thế kỷ XX chỉ ghi lung linh chứ không còn ghi linh lung.

    Với bài viết kinh điển Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã sớm cảm thấy cái mới ở Xuân Diệu nói riêng và Thơ mới nói chung là là đến từ hội nhập.Gần đây nhà thơ Hoàng Hưng (bài Thơ mới và thơ hôm nay) phát hiện thêm. Ông bảo: “thơ Pháp thế kỷ XIX đã thúc đẩy Huy Cận Xuân Diệu tìm ra những ý vị lãng mạn của thơ Đường mà suốt một thế kỷ trước đó, các vị túc nho đã không cảm nhận nổi mà chỉ nhai cái bã niêm luật”. Tức là nhờ hội nhập hôm nay mà ta phát hiện lại thành tựu của hội nhập hôm qua. Ta được làm giàu lên nhiều lần hơn là ta tưởng.

    Hơn thế nữa, hội nhập không phải chỉ có một chiều là hướng ngoại, hội nhập còn là quay trở về phát hiện lại bản thân và nhận diện lại những yếu tố nội sinh. Nói cách khác, nhờ hội nhập mà cốt cách của dân tộc được phát hiện.

    Xuân Diệu đã làm công việc này một cách có ý thức. Ồng có riêng một bài viết mang tên Tính cách An Nam trong văn chương (báo Ngày nay 28-1-1939 ), ở đó ông nói rằng “Trong lòng An Nam của chúng ta vẫn có những phần những ý những cảm giác mà người Tây có. Xưa kia ta không nói là vì ta không ngờ; bây giờ cái não khoa học của Âu Tây đã cho biết rằng ta có, vẫn có đã lâu những của cải chôn giấu trong lòng thì sao ta không nói” (4)

    Lịch sử không lặp lại

    Không phải là thơ Việt Nam sau 1945 không có những đổi mới về hình thức, song một sự thay đổi có tính chất bước ngoặt như hồi 1932-41 không còn nữa. Nhu cầu của xã hội lúc này là tận dụng sự phát triển đã có từ Thơ mới để hướng thơ vào các hoạt động tuyên truyền giáo dục quần chúng. Ngay ở Sài gòn trước 1975 nơi sự hội nhập với thế giới còn được làm trong lặng lẽ, thì thơ vẫn không tạo được những bước nhảy đáng kể. Tuy xuất phát từ những tình thế khác nhau, song giữa sự tìm tòi của Thanh Tâm Tuyền, Nhã Ca …với tìm tòi của Nguyễn Đình Thi, Trần Mai Ninh, Trần Dần, Hữu Loan ở miền Bắc suy cho cùng có sự tương tự. Nhìn chung là thưa vắng lót đót và không sao tạo được cao trào hoặc trở thành xu thế bao trùm.

    Nổi lên trên bề mặt thơ sau 1945 vẫn là sáng tác của các nhà thơ mới: Huy Cận, Chế Lan Viên Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, ấy là không kể một lớp nhà thơ trẻ mới hình thành, tất cả mang lại cho thơ mới một sự hồi sinh, một đỉnh cao thứ hai.

    Trên hướng phát triển này, Xuân Diệu tiếp tục vị trí hàng đầu của mình. Năng lực của ông không còn hướng vào việc tìm tòi cái mới; có cảm tưởng với ông tất cả đã đủ, vấn đề bây giờ chỉ là tìm cách khai thác tận dụng cái đã có. Mà về việc này thì từ bản tính “tay hay làm lụng mắt hay kiếm tìm” ông có cả, từ sự thành thạo, tức thói quen lao động siêng năng tới sự nhạy cảm biết tìm ra những phương án tối ưu trong lao động.

    Thơ Xuân Diệu những năm cuối đời gợi cho ta cảm giác một trái cây không còn được tiếp nhựa sống từ toàn thân mà chỉ tự chín, thời gian chín lại kéo quá dài, nên — nói như dân gian vẫn nói — chín rụ chín rị, tức có cả cái phần đã đầy, nát, vỡ, lữa ra , là cái phần “suy đồi” xảy ra ở mọi quá trình lão hóa. Nhưng ở chỗ này nữa lại càng thấy tính chất “đại diện toàn quyền” của Xuân Diệu với Thơ mới.

    Người ta không thể đòi hỏi quá nhiều ở một người. Đặt trên cái nền chung của lịch sử thì vẫn thấy ông đứng sừng sững ở giai đoạn chuyển đổi của nền thơ Việt Nam, như một thách thức và một điểm đối chiếu.

    (1)Xin tạm coi đây mới là một giả thiết, bởi chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu vào bản chất của sonnet và tác động của nó tới các nhà thơ Việt Nam. Chỉ xin lưu ý thêm, sonnet hiện đại thường có 14 câu trong khi tứ tuyệt ba khổ là 12 câu, bốn khổ là 16 câu.

    (2) Nguyên văn toàn bài:

    Thanh xuân

    Chợt tiếng buồn xưa động bóng cây

    Người đi chưa dạt dấu chân bày

    Bàn tay nằm đó không ngày tháng

    Tình ái xin về với cỏ may

    Rồi lá mùa xanh cũng đỏ dần

    Còn đây niềm hối tiếc thanh xuân

    Giấc mơ choàng dậy tan hình bóng

    Và nỗi tàn phai gõ một lần

    Kỷ niệm sầu như tiếng thở dài

    Khuya chìm trong tiếng khóc tương lai

    Tầm xa hạnh phúc bằng đêm tối

    Tôi mất thời gian lỡ nụ cười

    Đời sống ôi buồn như cỏ khô

    Này anh em cũng tợ sương mù

    Khi về tay nhỏ che trời đất

    Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ

    Trong Thơ Nhã Ca (S. Nxb Ngôn ngữ, 1965 ). Lưu ý là bài này như vậy viết ở Sài Gòn những năm sáu mươi thế kỷ XX, còn bài Hoa cỏ may của Xuân Quỳnh viết ở Hà Nội, 1985. Khi thơ Nhã Ca tái bản (S. 1972 ) bài Thanh xuân này xếp vào phần I, mang tên thơ viết thời con gái. Nhã Ca còn nhiều bài khác, có cấu tứ tương tự: Ngày tháng trôi đi, Bước tàn phai, Bàn tay chàng, Vết cắt xuân

    (3) Đây cũng là điều Phan Cự Đệ dẫn trong cuốn Phong trào thơ mới , in lần đầu 1966. Nhà nghiên cứu chỉ không nói rõ do ông tìm ra hay do sự mách bảo của chính Xuân Diệu .

    (4)Tìm đọc bài viết của chúng tôi Xuân Diệu và một quan niệm cởi mở về íính dân tộc trong đó có dẫn lại đầy đủ Tính cách An Nam trong văn chương. Có trong nhiều tập “hồ sơ” về Xuân Diệu đã xuất bản.

    Trích từ: http://www.viet-studies.info/vtnhan/

    oOo

    Đêm Trăng – Ca sĩ Mai Hương

    Share this:

    • Thêm

    Thích bài này:

    Thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Chiều” – (“Mộ Khúc”) – Xuân Diệu & Phạm Duy
  • Trình Bày Ngắn Gọn Những Đặc Điểm Thơ Xuân Diệu Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Và Cá Tính Sáng Tạo Của Thơ Xuân Diệu Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 (Phạm Minh Huệ)
  • Lời Kỹ Nữ – Bài Thơ Hấp Dẫn Nhất Của Nhà Thơ Xuân Diệu
  • Tập Thơ Tình Lãng Mạng Dại Khờ
  • 1001 Bài Thơ Quê Hương, Tình Yêu Làng Quê & Nỗi Nhớ

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Bài Thơ Hay Về Thầy Cô
  • Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Trọn Bộ 169 Bài Thơ Anh Yêu Em Ngọt Ngào Hấp Dẫn Nhất
  • Tuyển Chọn 222 Bài Thơ Anh Yêu Em Chế Hài Hước, Dí Dỏm Nhất
  • Bài Thơ Bàn Tay Cô Giáo Của Nguyễn Trọng Hoàn Và Định Hải
  • (iini.net) Tổng hợp những bài thơ quê hương hay với tình cảm dạt dào khi nghĩ về nơi mình sinh ra và lớn lên. Những vần thơ tình quê hương, làng quê tôi,.. thật đậm đà sâu sắc…

    Tình yêu quê hương có thể nói là tình yêu lớn nhất, thiêng liêng nhất trong tất thảy các thứ tình yêu. Bởi trong đó có tình yêu cha mẹ, tình yêu đôi lứa, bạn bè, làng xóm, sân kho, giếng nước, con đò, dòng sông, đình, chùa… và cả những con đường đầy ắp bao kỷ niệm buồn vui đều gói cả trong quê hương của mỗi chúng ta. Chả thế mà bài thơ Quê hương của nhà thơ Đỗ Trung Quân có câu thơ để đời :

    “Quê hương là chùm khế ngọt, Cho con trèo hái mỗi ngày”

    Thơ Hay Viết Về Quê Hương #01

    BÀI THƠ: BỨC TRANH QUÊ

    Thơ: Hà Thu

    Quê hương đẹp mãi trong tôi

    Dòng sông bên lỡ bên bồi uốn quanh

    Cánh cò bay lượn chòng chành

    Đàn bò gặm cỏ đồng xanh mượt mà

    Sáo diều trong gió ngân nga

    Bình yên thanh đạm chan hòa yêu thương

    Bức tranh đẹp tựa thiên đường

    Hồn thơ trỗi dậy nặng vương nghĩa tình.

    Thơ Hay Viết Về Quê Hương #02

    THƠ QUÊ HƯƠNG: CÒN MÃI HƯƠNG QUÊ

    Thơ: Hiền Nhật Phương Trần

    Tóc dài em xõa ngang vai

    Bóng quê hương đổ dặm dài phía sau

    Bến sông đợi một nhịp cầu

    Thênh thang đồng lúa một màu ngát xanh

    Yêu quê tình mãi ngọt lành

    Du dương khúc hát thanh bình ngân nga

    Điệu hò xứ Huế vang xa

    Gửi tình em với quê nhà đợi mong

    Hè sang Phượng trổ sắc hồng

    Người ơi ước hẹn tình nồng không phai!

    Thơ Hay Viết Về Quê Hương #03

    THƠ QUÊ HƯƠNG

    Thơ: Dạ Thế Nhân

    Quê hương là tiếng à ơi

    Giọng ru của Mẹ một đời vì con

    Quê hương là dãy Trường Sơn

    Ngất cao hùng vĩ …núi non chập chùng

    Quê hương là vạn anh hùng

    Màu xương tuôn đổ trừ hung bạo tràn

    Quê hương là dãy giang san

    Cà mau – Nam ải vạn ngàn gấm hoa

    Là muôn tiếng Mẹ lời Cha

    Ấm đời con trẻ bao la biển trời

    Quê hương là tiếng ru hời

    Câu hò ví dặm … đêm rơi não lòng

    Quê hương bóng Mẹ trên đồng

    Bóng Cha dưới ruộng …gánh gồng vì con

    Quê hương tuổi dại ngày son

    Là con diều giấy trên non mãi đùa

    Quê hương là ngọn gió lùa

    Mẹ che con ngủ…đêm thừa lạnh căm

    Năm canh Mẹ thức trọn năm

    Vì chồng con…vì cả giang san này

    Mặc mưa sa…mặc nắng dày

    Quê hương của Mẹ trải đầy trong con

    Gian lao Mẹ gánh cho tròn

    Dẫu muôn gian khó mỏi mòn bước chân

    Cho con điệu hát trong ngần

    Cho con trọn vẹn âm vần….Quê hương.

    Thơ Hay Viết Về Quê Hương #04

    BÀI THƠ: TÌNH QUÊ

    Thơ: Hà Thu

    Tôi về tìm lại tuổi thơ

    Tìm trong câu hát ầu ơ ví dầu

    Tìm về đồng ruộng nương dâu

    Dòng sông bến nước cây cầu gốc đa

    Tôi về tìm lại hôm qua

    Hồn nhiên thơ mộng nô đùa rong chơi

    Tuổi thơ ngày ấy đâu rồi

    Bao nhiêu ký ức dần trôi ùa về

    Chẳng nơi nào đẹp bằng quê

    Nhà tranh vách lá tạm che nghèo nàn

    Nhưng mà tình nghĩa chứa chan

    Chở che đùm bọc cơ hàn sớt chia

    Phồn hoa đô thị ngoài kia

    Ồn ào náo nhiệt xa lìa tình thân

    Bôn ba xuôi ngược bụi trần

    Nửa đời nặng gánh vai uằn áo cơm

    Về quê lòng thấy vui hơn

    Tình thân bè bạn thuở còn đôi mươi

    Tôi về tìm lại nụ cười

    Bấy lâu lạc lõng chợ đời bon chen

    Tôi về tìm bóng thân quen

    Bạn trường một thuở sách đèn ngày thơ

    Bạn bè một thuở dại khờ

    Về ôn kỷ niệm trong mơ ngày nào

    Nhớ quê lòng dạ xuyến xao

    Về nghe câu hát ngọt ngào đưa nôi

    Quê hương khế ngọt ven đồi

    Quê hương in dáng mẹ tôi đợi chờ.

    Thơ Hay Viết Về Quê Hương #05

    BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG

    Thơ: Nguyễn Điệp

    Quê hương tôi là những buổi trưa hè

    Theo chúng bạn đi bắt ve về nghịch

    Vị của bàng…chua chua…mà vẫn thích

    Ánh mắt người khúc khích gọi mùa sang

    Quê hương tôi là bông lúa chín vàng

    Hàng dừa đứng mơ màng trong nắng sớm

    Vườn trái cây sai trĩu cành mơn mởn

    Có dáng cha đang đứng đợi con về

    Từng đàn trâu thong thả chốn đường quê

    Tiếng sáo trúc vỗ về trưa nắng hạ

    Là dáng mẹ hòa trong từng gốc rạ

    Giọt sương đêm trên cành lá gọi mời

    Con sẽ về bên mẹ…mẹ hiền ơi

    Để được khóc bên những lời an ủi

    Được xuýt xoa củ khoai lang nướng củi

    Được hòa mình trong khúc hát sông quê

    Quê hương ơi…ta nhất định trở về !!!

    Thơ Hay Viết Về Quê Hương #06

    BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG HOÀI NHỚ

    Thơ: Phú Sĩ

    Quay gót trở về một lần với quê hương

    Thương lắm anh ơi vấn vương bao nỗi nhớ

    Ký ức tuổi thơ theo năm chờ tháng đợi

    Ôm ấp vui buồn theo từng hạt mưa rơi

    Hãy lại một lần về chốn cũ anh ơi!

    Nơi bến sông xưa còn bên bồi bên lở

    Lời hẹn năm nào đời này anh còn nợ

    Trăn trở đêm buồn trăn trở khúc nhạc xưa

    Hãy lặng nhớ về mùa hoa bưởi đong đưa

    Dáng mẹ liêu xiêu nắng đùa trên mái lá

    Có kỷ niệm về mối tình cha thắm đỏ

    Ru mãi ngọt ngào tuổi thơ đã rời xa

    Anh hãy quay về mùa cây lúa trổ hoa

    Cánh đồng vàng ươm tình thương còn chan chứa

    Cúm núm gọi đàn tiếng kêu còn dang dở

    Điệp khúc quê mình còn đợi mãi tình anh.

    Thơ Hay Viết Về Quê Hương #07

    BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG

    Thơ: Phú Sĩ

    Quê tôi đó có tình yêu tha thiết

    Mỗi đứa con nơi biền biệt chưa về

    Vẫn ngóng lòng nơi ấy mái tranh quê

    Có dáng mẹ còn não nề thương nhớ

    Quê tôi đó có câu hò mãi nợ

    Một lời thề ngày rời bến yêu thương

    Dù đi xa cách trở mấy dăm trường

    Con tim nhỏ vấn vương hình bóng cũ

    Quê tôi đó những mảnh đời vần vũ

    Khói lam chiều ấp ủ sưởi lòng nhau

    Giọt mồ hôi mằn mặn vẫn khát khao

    Niềm hạnh phúc đang dâng trào nơi ấy

    Quê tôi đó ngàn đời nay vẫn vậy

    Vòng tay người che chở bước thơ ngây

    Giờ quay về mái tóc nhuốm màu phai

    Vẫn còn thấy đắm say ngàn nỗi nhớ

    Quê tôi đó nghĩa ân tình thắm nở

    Bạn đời ơi dầu năm tháng đợi chờ

    Một ngày về tươi mãi khúc tình thơ

    Lời quê mẹ tiếng tơ lòng ấm mãi.

    Thơ Hay Viết Về Quê Hương #08

    BÀI THƠ: YÊU LẮM QUÊ HƯƠNG TÔI

    Thơ: Triệu Phú Tình

    Anh yêu lắm yêu quê mình nhiều lắm

    Những cánh đồng trải thảm rộng mênh mông

    Tím lục bình bềnh bồng nổi trên sông

    Khói bếp thơm vương nồng mùi rơm rạ

    Từng chiếc chòi được lợp bằng mái lá

    Đêm ra ngồi thả vó bắt cá tôm

    Ngó xa xa vài người eo buộc hom

    Xoi ếch nhái nơi đường mòn bờ ruộng

    Lòng chợt nhớ mùi mắm thơm cà cuống

    Chấm dưa cà hoặc rau muống cực ngon

    Mấy đứa trẻ nhà bên cười tươi giòn

    Nhắc thuở bé mình lon ton cũng thế

    Tối rủ nhau ra đầu làng ngồi kể

    Chuyện ở trường chuyện chú rể cô dâu

    Rồi thỉnh thoảng có đứa chêm một câu

    Giọng pha trò cười rung râu rụng rốn

    Có những hôm chơi cái trò tìm trốn

    Đứa lỡ quên ngủ luôn ở đống rơm

    Đứa thì đói chạy về nhà ăn cơm

    Mai mới đến lại đơm điều nói dối

    Phải nói rằng mình quả thật có lỗi

    Với làng quê với nguồn cội ông cha

    Bởi đã lâu chẳng thăm lại quê nhà

    Xin thứ tha thật lòng mong tha thứ.

    Thơ Hay Viết Về Quê Hương #09

    BÀI THƠ: HỒN QUÊ

    Thơ: Hảo Trần

    Ta về nương gió đồng xanh

    Nghe hồn cây cỏ dệt thành hồn quê..

    Lắng nghe đất thở bộn bề

    Lẫn trong hương lúa ..hương quê nồng nàn

    Tiếng đêm âm hưởng đồng hoang

    Cuốc kêu gọi bạn, tiếng đàn dế giun..

    Lấm lem chân mẹ lội bùn

    Trĩu bông lúa chín vàng ươm trên đồng

    Tạc vào giữa chốn mênh mông

    Hao gầy dáng mẹ lưng còng liêu xiêu

    Ta về tìm thủa dấu yêu

    Bến sông bờ bãi những chiều xa xưa

    Cánh diều no gió tuổi thơ

    Lưng trâu cõng những ước mơ thủa nào

    Đêm trăng lòng dạ nôn nao

    Câu hò vang vọng cồn cào nhớ nhung

    Đâu rồi thăm thẳm ánh nhìn..

    Bờ môi hé nụ.. Nhịp tim chòng chành..

    Bao nhiêu năm sống thị thành

    Hồn quê vẫn đẫm ngọt lành trong tôi…!

    Thơ Hay Viết Về Quê Hương #10

    QUÊ HƯƠNG MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

    Thơ: Võ Sơn Lâm

    Yêu quê hương nhớ một thời thơ dại

    Tiếng ru hời vọng lại của ngày xưa

    Đêm ba mươi nghe tiếng pháo giao thừa

    Mùng một tết vào chùa đi lễ phật

    Ta lớn lên giữa một thời chật vật

    Bao khó khăn lật đật những vui buồn

    Và cuộc đời cũng chẳng được sẻ suôn

    Khi Đất Nước mang nỗi buồn chia cắt

    Tình yêu thương con người luôn gắn chặt

    Thấm đẫm buồn se thắt tiếng đạn bom

    Nhìn em thơ trong đói rét gầy còm

    Bao nỗi khổ mỏi mòn ta day dứt

    Rồi tháng năm tiếng quân reo hừng hực

    Thống nhất rồi đất nước rực cờ hoa

    Tổ Quốc vui thay, xum họp một nhà

    Ta vẫn nhớ kỷ niệm xa… ngày ấy.!…

    Thơ Hay Viết Về Quê Hương #11

    QUÊ HƯƠNG

    Thơ: Nguyễn Hưng

    Ai cũng có một quê hương để nhớ

    Vết thời gian không thể xóa bao giờ

    Thương tuổi thơ những trưa cùng đám bạn

    Bắt cá đòng…hỉ hả với bùn dơ

    Gió bấc về…cuối vụ…lúa vàng mơ

    Đòng cong vút gọi mời mùa thu hoạch

    Ruộng khô hạn trơ mình con cá chạch

    Cố vẫy vùng tìm đường lách về sông

    Quê hương ta mộc mạc những cánh đồng

    Ngọt phù sa thượng nguồn…đông vàm cỏ

    Nơi chở che cả một thời gian khó

    Mồ hôi cha…nước mắt mẹ…chát phèn

    Cả cuộc đời làm bạn với bùn đen

    Cha mỉm cười khi nức mầm hạt thóc

    Đôi vai mẹ nặng quằng bao khó nhọc

    Lệ mừng rơi khi khoai bắp xanh màu

    Con cá đòng mộc mạc chẳng thanh cao

    Mãi thủy chung bên nồi cơm gạo mới

    Sao cứ nhớ cứ thèm nơi đầu lưỡi

    Có lẽ nào…đó…mùi vị quê hương

    Nhớ bồi hồi những kỷ niệm yêu thương

    Biết tìm đâu bữa cơm nghèo thuở nhỏ

    Bỗng chiều nay nghe mắt mình rát đỏ

    Xa lắm rồi ngày xưa đó…Quê ơi.

    Làng tôi giữa đồng xanh dào dạt

    Mỗi hè về ngan ngát hương đưa

    Nhớ sao những buổi hạ xưa

    Cha thường hóng gió mỗi trưa hạ nồng

    Làng tôi có con sông dài rộng

    Êm đềm trôi thơ mộng tuyệt vời

    Đêm về đầy ánh sao rơi

    Sóng xô man mác đầy vơi nỗi niềm

    Làng tôi đó Mộc miên đỏ dạ

    Của mối tình đã hoá hư không

    Chia xa cái tuổi Phượng hồng

    Sao tôi vẫn nhớ mênh mông ngày nào

    Làng tôi có cầu ao bình dị

    Mẹ vẫn thường dầu dí ầu ơ

    Mây hồng xao xuyến mộng mơ

    Cánh Diều nghiêng cả hạ thơ nắng vàng

    Dẫu xa ngái xóm làng vạn dặm

    Vẫn ngóng trông ngày sẽ trở về

    Mình tôi dạo bước triền đê

    Đắm trong hoài niệm tình quê ngọt ngào…

    Quê hương ơi chưa đi xa đã nhớ

    Nhớ con sông thương bên lở bên bồi

    Chợ quê mình nơi con nước chia đôi

    Dòng ký ức gọi mời đêm thao thức.

    Tuổi thơ ơi trong xanh như màu nước

    Theo thời gian mơ ước cứ vời xa

    Còn trong tim bao khát vọng thiết tha

    Thương nhớ quá quê nhà bao kỷ niệm.

    Chiều trên sông hoa lục bình nở tím

    Hoàng hôn buông nhuộm tím cõi lòng ai

    Nợ áo cơm lưu lạc tháng năm dài

    Mái trường cũ chưa ngày về thăm lại.

    Ai một thời ấp ôm tình vụng dại

    Khoảng trời xưa sống lại giữa đêm mơ

    Mắt mẹ quê sâu lắng nỗi đợi chờ

    Vầng trăng hẹn chơ vơ miền ký ức.

    Dòng lưu bút còn in sâu tiềm thức

    Mối tình đầu day dứt cả tâm tư

    Gửi hết tình lên giấy trắng thành thơ

    Đêm viễn xứ thẫn thờ bao kỷ niệm.

    Ai cũng có quê hương, và ai cũng yêu quê hương của mình cả. Xin mời các bạn cùng xem tiếp những bài thơ viết về quê hương và tuổi thơ với những sáng tác mới nhất. Tình thơ quê hương thật nhẹ nhàng nhưng dạt dào cảm xúc..

    Tình Thơ Quê Hương Và Tuổi Thơ Hay #14

    QUÊ ƠI

    Thơ: Hảo Trần

    Vẳng đâu đây tiếng gà gáy canh khuya

    Đêm trở giấc nghe sông quê quẫy sóng

    Xóm yên bình chìm trong làn sương mỏng

    Tiếng gọi đò chúng tôi đó đợi bến xưa

    Thương quê nhà bao vất vả sớm trưa

    Theo mùa vụ .. lùa bát cơm nuốt vội

    Đất nứt nẻ đường cày không lật nổi

    Nắng gió lào thêm bỏng rát bàn chân

    Mẹ còng lưng tạc vào cánh đồng xanh

    Mồ hôi cha áo phai màu mưa nắng

    Nỗi nhọc nhằn chắt chiu từ chát đắng

    Kết tinh vào hạt gạo trắng cơm thơm

    Ta lớn lên vững bước mọi nẻo đường

    Trong hành trang nỗi nhớ quê khắc khoải

    Chạm cuống rốn mẹ phơi thời non dại

    Ta ghìm lòng ..thổn thức gọi ..quê ơi..

    Tình Thơ Quê Hương Và Tuổi Thơ Hay #15

    QUÊ HƯƠNG TUỔI THƠ TÔI

    Thơ: Violet Hoa

    Tôi trở về sau những tháng ngày xa

    Dòng sông nhỏ bên nhà nay vẫn thế

    Con thuyền vẫn đưa mái chèo khua nhẹ

    Sóng đùa nhau lặng lẽ hát, xô bờ

    Tôi trở về mà cứ ngỡ như mơ

    Sao gần gũi chẳng hững hờ xa cách

    Yên bình lắm nhưng không hề hiu quạnh

    Vẫn còn đây lấp lánh tuổi thiên thần…

    Nhớ những ngày nước lụt vào đến sân

    Theo lũ trẻ vác cần đi câu cá

    Vui té nước làm áo quần ướt cả

    Đuổi nhau hoài trượt ngã vẫn cười tươi

    Những buổi chiều theo mẹ vớt củi trôi

    Mẹ vất vả vẫn cười trong mưa lũ

    Cuộc sống khó biết bao giờ no đủ

    Cả cuộc đời lam lũ với miền quê…

    Những đêm hè theo cha khắp triền đê

    Bắt Đom Đóm mang về cho trong lọ

    Nhìn như chiếc đèn lồng xinh bé nhỏ

    Gọi bạn bè chơi đố suốt đêm thâu

    Sắp tàn canh trăng ngả núi gối đầu

    Gà đã gáy tận sâu nơi xóm nhỏ

    Vừng Đông rạng ánh bình minh lấp ló

    Lại ra đồng cắt cỏ với chăn trâu

    Nắng chang chang chẳng mũ nón đội đầu

    Mò Cua Ốc nơi đồng sâu, ruộng cạn

    Lên đồi bẻ những chùm Sim, quả Nhãn

    Lại quây quần bên chúng bạn cùng ăn…

    Đã xa rồi tuổi thơ ấy bao năm

    Nhưng kỷ niệm ướt đằm trong nỗi nhớ

    Quê tôi đó nằm bên dòng sông nhỏ

    Cả cuộc đời tôi nhớ mãi không quên!

    Tình Thơ Quê Hương Và Tuổi Thơ Hay #16

    QUÊ MẸ

    Thơ: Violet Hoa

    Kỳ nghỉ lễ tôi trở về quê mẹ

    Cánh đồng làng lặng lẽ dưới chân đê

    Tiếng Cuốc kêu như chào đón Hạ về

    Cơn gió nhẹ vỗ về yêu thương lắm

    Miền quê cũ in tình người sâu đậm

    Thương Mẹ nghèo áo đẫm giọt mồ hôi

    Những buổi trưa ru con ngủ ơ hời

    Bên cánh võng ở nơi bờ tre nhỏ

    Chiều nắng ngả Mẹ ra đồng kéo vó

    Nơi cống làng Mẹ thả Đó, mò cua

    Làn gió hôn lên trán mẹ như đùa

    Mẹ nghe cả những mùa vui hạnh phúc…

    Bao năm tháng dẫu dòng đời trong đục

    Trái tim còn rạo rực những đam mê

    Gạt lo toan trong cuộc sống bộn bề

    Con trở lại miền quê – nơi có Mẹ…

    Tình Thơ Quê Hương Và Tuổi Thơ Hay #17

    QUÊ HƯƠNG HAI TIẾNG NGỌT NGÀO

    Thơ: Quí Phi Hoàng

    Nơi bình yên đó là chốn quê hương

    Có bốn mùa luôn ngọt ngào hoa trái

    Tình làng xóm tựa bình minh nắng trải

    Để đi đâu cũng thao thức lối về

    Quê hương đó những bãi cỏ chân đê

    Thời để chỏm chăn trâu và nghịch ngợm

    Tắm chẳng mặc quần lòng đâu bận rộn

    Tiếng cười hồn nhiên bay bổng cánh diều

    Quê hương với hạt nắng mai đáng yêu

    Cùng bé thơ vui hái hoa bắt bướm

    Trong cơn mơ cánh chuồn chuồn vẫn lượn

    Để trưa hè thơ thẩn ở bờ ao

    Chốn dấu yêu trong tim mãi ngọt ngào

    Bởi ở đó có ngôi nhà của mẹ

    Tình thương cha cứ luôn luôn lặng lẽ

    Lộc cộc đầu hè tiếng gậy bà khua

    Lòng yêu quê nói biết mấy cho vừa

    Nên trăm sông cứ đổ dồn biển cả

    Người dân quê chỉ ao tù, nước lã

    Nhưng tấm lòng luôn ấm áp chân tình.

    Tình Thơ Quê Hương Và Tuổi Thơ Hay #18

    QUÊ HƯƠNG TUỔI THƠ TÔI

    Thơ: Phú Sĩ

    Quê hương trong tôi …

    … là vùng trời cổ tích

    Là buổi bình minh theo gót mẹ ra đồng

    Cảm giác yên bình mùi lúa chín mênh mông

    Vương lại cuối mùa còn nồng hương thơm ngát

    Quê hương trong tôi ….

    …. là cánh diều phiêu bạt

    Mang cả quảng đời thơ ấu thả ước mơ

    Là món cá đồng ngày trốn bắt ven bờ

    Mùi vị ngọt thơm đợi chờ trong tiềm thức

    Quê hương trong tôi ….

    …. làn dân ca trầm ấm

    Hòa điệu rì rào man mác rặng tre ngân

    Tiếng vọng hồn quê nâng đỡ tuổi thơ hồng

    Không vướng bụi trần đong đầy tình của mẹ

    Quê hương trong tôi ….

    … là cầu tre lắt lẽo

    Đưa bước chân người yên bình giữa gieo neo

    Là cọng rơm vàng đốt nên lửa vui reo

    Là bản đồng ca tiếng côn trùng réo rắt ….

    Quê hương trong tôi …

    …. là nghĩa tình sâu sắc

    Nồng ấm chân thành chia sẻ đỡ nương nhau

    Là những con người lam lũ vẫn cần lao

    Nụ cười nở tươi ….. đón chào ngày quê mới.

    Thơ Tình Yêu Quê Hương Thắm Thiết #19

    VỀ QUÊ HƯƠNG

    Thơ: Quốc Phương

    Lâu lắm rồi..mới về với quê hương

    Và dạo bước trên con đường xưa cũ

    Hàng cây vẫn..âm thầm buông tán phủ

    Trước cổng chùa..bóng cổ thụ còn in

    Lâu lắm rồi..mới lại được ngắm nhìn

    Ngôi đình cổ..có nghìn năm lịch sử

    Ở nơi đó..bao điều trong quá khứ

    Mà tuổi thơ..ai cũng giữ riêng mình

    Lâu lắm rồi..về lại chốn tâm linh

    Được gặp gỡ..siết chặt tình thân ái

    Những ngày Tết..trên quê hương từng trải

    Thật vui lòng..nghe lại khúc dân ca

    Cũng lâu rồi..kể từ lúc bôn ba

    Nay vẫn thấy..quê mình tha thiết thế

    Một lời nhắc..cuộc đời dù dâu bể

    Quê hương mình..như chẳng thể nào quên.

    Quê hương đã cho tôi lớn lên bằng tiếng khóc chào đời, bằng lời ru ầu ơ thiết tha của mẹ. Bằng dòng sữa thơm đã nuôi tôi lớn thành người, Quê Hương nghe mộc mạc giản dị nhưng thật thân quen. Hai tiếng Quê hương trong tôi lại hiện về giống như một bức tranh đầy màu sắc chân phương, thiện mỹ, nhưng để thấu hiểu hết được phải bằng cả trái tim, lẫn tâm hồn. Với tôi Quê hương có một vị trí đặc biệt rất quan trọng dù đi đâu thì Quê hương vẫn trong trái tim tôi, bởi vì Quê hương là chùm khế ngọt, nếu ai không nhớ sẻ không lớn nổi thành người, giống như trong bài hát vậy.

    Mỗi người ai cũng có một Quê hương. Nghe thân thương gần gũi làm sao, là nơi in đậm kỷ niệm của tuổi thơ.

    Thơ Tình Yêu Quê Hương Thắm Thiết #20

    MỘT THOÁNG QUÊ HƯƠNG

    Thơ: Trúc Thanh

    Tôi nợ quê hương

    một bài thơ thơm mùi kỷ niệm

    Nợ những buổi chiều khua dầm ngắm hoa tím ven sông

    Tiền lá đổi mua đầy túi vỏ ốc đồng

    Giả bộ thổi cơm trò chơi đóng vai chồng, vai vợ

    Cái tuổi hồn nhiên chợt ùa về nhớ ơi là nhớ

    Thèm canh chua trái bần cùng một mớ cá rô ron

    Quê mộc mạc như cha sang sảng tiếng cười giòn

    Quê hiền hòa như mẹ vì chồng con tần tảo

    Dòng sông chở phù sa vị quê hương nồng cái khăn, cái áo

    Mồ hôi nhỏ trên đồng nên mặn từng hạt gạo, bát cơm

    Cay mắt đàn cò bởi làn khói đốt rơm

    Con cá lóc nướng chui bốc mùi thơm thèm không chịu nổi

    Chiều xuống ven đê, bầy vịt chạy đồng ùa ra sông tha hồ bơi lội

    Lũ trẻ chụm đầu chia nhau từng trái ổi, chùm me

    Nhớ người xa tủi cây khế sau hè

    Chiếc xuồng nhỏ buồn hiu dưới tàn tre lá rụng

    Tôi của ngày xưa trong đám trẻ nô đùa cười khoe hàm răng sún

    Con đường đất nhẵn lì mài thủng cái mo cau

    Kẻ ly hương chán cuộc sống ồn ào

    Xin trở lại khi nào lòng thấy nhớ.

    Thơ Tình Yêu Quê Hương Thắm Thiết #21

    LÀNG QUÊ ÊM ĐỀM

    Thơ: Phong Sương

    Nắng chiều đã ngã triền đê

    Đoàn người thong thả đi về cùng trâu

    Con sông xanh thẳm một màu

    Tiếng con cuốc gọi từ đâu vọng về

    Êm đềm ở xóm làng quê

    Màn sương bao phủ đêm về vắng tanh

    Trên đồng ngọn lúa còn xanh

    Xóm làng êm ả trong lành biết bao

    Một bày em nhỏ lao xao

    Chờ đón bố mẹ ra vào trong sân

    Trời tối thì cũng đã gần

    Nhà nhà khói bếp trắng ngần bay lên

    Cảnh quê thật là êm đềm

    Đêm về yên tĩnh mà mê mẩn lòng

    Ngũ cho một giấc say nồng

    Bao nhiêu công việc nhà nông bộn bề

    Thả vào giấc ngũ say mê

    Đến khi tĩnh giấc vọng về trống canh

    Mọi người thức dậy thật nhanh

    Cơm cà mắn cá ăn nhanh ra đồng

    Con đò nằm ở bến sông

    Hình như nó cũng chờ mong một người

    Để rồi vui đón tươi cười

    Đò cùng với chủ đưa người sang sông.

    Thơ Tình Yêu Quê Hương Thắm Thiết #22

    ÔI QUÊ HƯƠNG

    Thơ: Toàn Tâm Hòa

    Ôi quê hương là đồng xanh, trái ngọt

    Đất thấm mồ hôi trên những luống cày

    Ba lớn lên mùi bùn còn bám gót

    Hạt lúa thơm lừng đổi những đắng cay!

    Ôi quê hương là cánh cò rợp trắng

    Ai vẽ bức tranh diễm tuyệt, thanh bình

    Cái nghĩa, cái tình nồng nàn sâu lắng

    Bình dị nhưng mà quá đỗi lung linh

    Cho con về đây thấy hình ảnh đó

    Có bài học nào gần gũi thế không!?

    Từ những bình thường khóm hoa, ngọn cỏ

    Cũng đã làm con ghi khắc trong lòng

    Nơi Ba đã từng chôn nhau cắt rốn

    Gió nội hương đồng con thấy yêu không

    Giữ cái bình dân để mà làm vốn

    Dù sống ở đâu chẳng thẹn với lòng!

    Bài học quê hương chỉ là như thế

    Muối mặn gừng cay, bùi ngọt vô cùng

    Khi gặp bạn bè thì con hãy kể

    Có một nơi về quá đỗi bao dung!

    Thơ Tình Yêu Quê Hương Thắm Thiết #23

    (đang cập nhật..)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ “đồng Chí” Của Chính Hữu
  • Những Bài Thơ Tình Yêu Cực Ngọt Ngào Dành Cho Tình Yêu Đôi Lứa
  • Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Mạch Cảm Xúc Quê Hương
  • Những Bài Thơ Hay Về Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước
  • + 500 Bài Thơ Về Tình Yêu Quê Hương Đất Nước Con Người
  • Những Lời Chúc, Bài Thơ Và Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Nhà Giáo ⋆ Sie.vn
  • Những Bài Thơ Hay Về Thầy Cô Cho Trẻ Mầm Non Nhân Ngày 20/11
  •     Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ…

        Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ…

        Ở phần mở đầu bài thơ: Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/“Ai bảo chăn trâu là khổ?”/Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…, có lẽ lúc hoài niệm về thời thơ ấu, trong ký ức của tác giả đã hiện lên thấp thoáng những câu hát của… Phạm Duy: Ai bảo chăn trâu là khổ?Chăn trâu sướng lắm chứ!Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao… (Em bé quê). Bởi nếu không thì tác giả đã không để câu Ai bảo chăn trâu là khổ trong ngoặc kép. Tuy nhiên, dẫu có như vậy thì câu này cũng liền mạch với một tứ thơ hết sức trong trẻo, hồn nhiên: … Những ngày trốn học/Đuổi bướm cầu ao/Mẹ bắt được/Chưa đánh roi nào đã khóc!/Có cô bé nhà bên/Nhìn tôi cười khúc khích… Một điều chắc chắn rằng, sở dĩ bài thơ có sức hấp dẫn người đọc là bởi tuy tác giả sử dụng những câu chữ mộc mạc nhưng lại khéo dụng công ở những lần “cô bé nhà bên cười khúc khích”, tạo nên một ấn tượng khó quên…

    “Cô bé” ấy là ai?

            “Cô bé” ấy tên thật là Phạm Thị Triều, sinh ra trong một gia đình có nghề làm mắm gia truyền ở Vĩnh Trường (Nha Trang). Nghề làm mắm cũng là để đóng góp kinh tài cho cách mạng. Cô bé Triều mới “trổ mã” đã theo chị gái lên căn cứ Đồng Bò. Gia đình thấy Triều còn nhỏ quá, cho người nhắn về nhưng cô nhất quyết không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, Triều được điều về làm ở khối Dân chính của Tỉnh ủy Phú Khánh, đóng ở Đá Bàn. Chính nơi đây, cô đã gặp chàng trai sau này trở thành nhà thơ Giang Nam…

        Còn anh chàng Nguyễn Sung (tên thật của Giang Nam), mới 16 tuổi đã bỏ học giữa chừng vì nhà trường đóng cửa do thời cuộc (Nhật đảo chính Pháp tháng 8.1945). Cậu theo anh trai là nhà cách mạng Nguyễn Lưu tham gia Việt Minh ở mặt trận Phú Khánh. Khoảng đầu năm 1954, Nguyễn Sung được điều về căn cứ Đá Bàn và anh bộ đội trẻ đã “ngẩn ngơ” trong lần đầu gặp Phạm Thị Triều.

        Ít lâu sau anh biết thêm rằng không phải chỉ mình anh mà cả đám lính trẻ cũng thường tìm cớ này, cớ nọ để tạt vào cơ quan chỉ để… nhìn cô Triều một cái. “Bạo phổi” lắm thì cũng chỉ nói vu vơ một câu rồi… biến! Chuyện yêu đương, trai gái trong cùng tổ chức hồi ấy hầu như bị cấm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, là một anh lính có “chút thơ văn” nên Nguyễn Sung vẫn nghĩ được cách tiếp cận người đẹp. Trước tiên, anh vận dụng khả năng thơ văn của mình để được giao nhiệm vụ chạy công văn. Và thế là mỗi lần đưa công văn đến cơ quan, anh lại kèm theo một lá thư (viết sẵn) cho nàng mà không nói năng, hỏi han gì thêm vì sợ lộ. Phải hơn một tuần sau lá thư thứ hai, anh mới “sướng rêm người” khi được nàng “ừ” (trong bức thư hồi âm)…

        Yêu nhau “kín đáo” như thế mà vẫn không giấu được ai, may mà cả anh lẫn chị đều được anh em thương mến nên trước ngày anh ra Bình Định tham gia Đoàn Sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Genève, cơ quan đã tổ chức đám cưới cho họ. Sống với nhau được hai đêm thì anh lên đường, còn chị trở lại Nha Trang… Từ buổi đó, đôi vợ chồng trẻ phải luôn chịu cảnh xa cách, gian truân…

        Sau Hiệp định Genève (tháng 7.1954), Nguyễn Sung vào hoạt động trong lòng địch, trong vai trò công nhân ở một xưởng cưa và âm thầm viết cho tờ Gió mới – là tờ báo hợp pháp ở Nha Trang. Tuy hoạt động cùng địa bàn nhưng đôi vợ chồng son vẫn không thể gặp nhau vì khác tuyến, phải tuân giữ kỷ luật khắt khe để không bị lộ… Mãi đến năm 1958, tổ chức chuyển vùng công tác cho họ vào Biên Hòa thì họ mới thật sự có những ngày hạnh phúc bên nhau, dù khoảng thời gian này cũng rất ngắn ngủi. Họ thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo. Ông làm mướn cho một nhà thầu khoán, còn bà buôn bán lặt vặt…

        Một thời gian sau, tổ chức lại rút ông về lại Khánh Hòa, bà Triều ở lại một mình nuôi con. Mỗi đêm, nghe con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà Triều phải lấy chiếc áo cũ của chồng đắp lên người con để “có hơi của ông ấy cho nó nín khóc”. Sau này, ông đã mượn lời vợ, và mượn luôn sự cố khóc đêm của con để bày tỏ nỗi nhớ thương: Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/Nó khóc làm em cũng khóc theo/Anh gởi về em manh áo cũ/Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều… (Lá thư thành phố).

    Quê hương ra đời trong hoàn cảnh nào?

        Trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, Giang Nam đã kể lại như sau: “Bài thơ Quê hương ra đời năm 1960, dưới chân núi Hòn Dù, cách chúng tôi Trang hơn 40 cây số về phía tây. Lúc ấy, tôi đang là Phó ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Chiều hôm ấy, anh Phó bí thư Tỉnh ủy đã gọi tôi lên chỗ anh ở (một căn chòi nhỏ giữa rừng). Anh ân cần hỏi thăm tôi về tình hình công tác, sức khỏe… Tôi linh cảm thấy có điều gì không bình thường. Quả nhiên sau đó, anh nói thật: Tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu… Tôi bàng hoàng, trời đất như sập xuống đầu mình… Trong nỗi đau đớn tột cùng, tôi ngồi trong căn chòi nhỏ, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín ba mặt, tôi đã viết một mạch xong bài thơ, không xóa sửa chút nào… Không phải tôi làm thơ mà là ghi lại những ký ức, những hình ảnh đã trở thành máu thịt trong tôi. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra, nhất là ở hai câu cuối của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”.

        Bài thơ được ký tên Giang Nam, bởi dạo còn đi học ông rất thích những câu thơ của Hồ Dzếnh: Tô Châu lớp lớp phủ kiều/Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam… Sau đó, ông gửi bài thơ theo đường giao liên cho Báo Thống Nhất (Hà Nội), vì chỉ có tờ báo này được chuyển vào chiến trường phía Nam. Khoảng tháng 8.1961, trên đường công tác qua huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), qua chiếc radio, ông nghe Đài phát thanh Việt Nam đọc bài thơ Quê hương và thông báo bài thơ này đoạt giải nhì của Báo Văn nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, hình ảnh thân yêu của vợ con ông lại ùa về, ông bật khóc…

        Đinh ninh là vợ con mình đã chết, Giang Nam lao vào công tác, nhất là trên mặt trận văn hóa. Bỗng giữa năm 1962, vợ con ông được thả về vì địch không tìm được chứng cứ. Sum họp chưa được bao lâu, vợ ông lại bị bắt lần thứ hai (1968), đứa con gái cứ bám riết lấy mẹ nên cũng… bị tù. Mãi đến năm 1973 họ mới được trả tự do…

        Hiện nay, đôi “bách niên – đồng chí” đều đã qua ngưỡng tuổi 80, họ vẫn hạnh phúc bên nhau trong căn nhà số 46 đường Yersin (TP.Nha Trang).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam Chi Tiết
  • Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Quê Hương”
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương ( Tế Hanh )
  • “Bài Thơ Quê Hương”, Một Bài Thơ Ít Biết Của Nguyễn Bính – Nguyễn Đình Minh – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng
  • Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một ?
  • Hình Ảnh Quê Hương Quảng Bình Trong Thơ Xuân Hoàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 10 Bài Hát Hay Nhất Về Quê Hương Quảng Bình
  • Bài Thơ Viết Về Quê Hương Để Gửi Cho Những Thế Hệ Sau
  • Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Tế Hanh
  • Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Đỗ Trung Quân Có Đoạn: ”quê Hương… Thành Người”. Em Hãy Giải Thích Ý Nghĩa Của Những Câu Thơ Trên Và Nêu Rõ Vai Trò, Tác Dụng Của Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước Với Cuôc Sống Tâm Hồn Của Mỗi Con Người
  • Cố Nhạc Sĩ Giáp Văn Thạch: Đò Nhỏ Vọng Tiếng Quê Hương
  • (QBĐT) – Nhà thơ Xuân Hoàng (SN 1925 tại TP. Đồng Hới) làm thơ từ năm 1947 và trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1952. Đánh giá về đời thơ, đường thơ của Xuân Hoàng, nhà thơ Chế Lan Viên nói rằng: “Xuân Hoàng là nhà thơ của Quảng Bình”. Trong gia tài thi ca đồ sộ với 16 tập thơ và trường ca đã xuất bản của ông có một dòng tác phẩm xuyên suốt viết về quê hương Quảng Bình. Rất nhiều trong số đó đã trở thành tác phẩm gối đầu giường của các thế hệ độc giả.

    Đọc tác phẩm của nhà thơ Xuân Hoàng, chúng ta sẽ gặp lại hình ảnh của quê hương Quảng Bình trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Những địa danh, sự kiện và những con người có tên, không tên được ông đưa vào thơ chân thực mà nhẹ nhàng, xúc cảm. Nói rằng, nhà thơ Xuân Hoàng là người chép sử cho dải đất Quảng Bình bằng thơ quả không sai.

    Mỗi bài thơ của ông là một câu chuyện lịch sử oai hùng. “Ai đi qua Quảng Bình/Hẳn từng quen huyện Bố/Huyện khắc khổ: Dân nghèo, đất đỏ/Dưới chân Ba Rền/Thăm thẳm một màu xanh/Chợ Bố Trạch sắn nhiều gạo ít/Nâu Ba Rền củ tốt hơn khoai/Sông Dinh nước cạn bãi bồi/Đồng khô đồng cạn, mùa vơi mùa cằn” (Qua Bố Trạch).

    Đó là hình ảnh của huyện Bố Trạch năm 1950. Đất nghèo nhưng lòng người kiên trung “Giặc chiếm đóng!/Cười gằn thách thức!/Người dân nghèo Bố Trạch đứng lên: Củ khoai, luống đất đang hiền/Bỗng trỗi dậy, Ba Rền hoen ráng đỏ”.

    Cũng trong thời kỳ này, nhà thơ Xuân Hoàng có bài “Tiếng hát sông Gianh” ghi lại cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân đôi bờ dòng sông lịch sử: “Một buổi sáng giặc về Phù Trịch/Canô, phà, đò, nôốc kéo theo nhau/Pháp, da đen, khố đỏ, đủ da màu?/Từ Hòa Luật, Mỹ Trung, Đồng Hới, Lý Hòa, Thanh Khê ồ ạt đến”. Trong bối cảnh ấy, vẫn hiện lên vẻ đẹp bình dị mà kiên cường của những làng quê bên sông “Bên kia sông hàng tre chờ lặng lẽ/Nắng ngập bờ không một bóng dân quân/Làng hiền từ…mà bí mật lạnh lùng…”, nhưng rồi:”Từng loạt một, súng bắt đầu lên tiếng/Đò chồng chềnh, tên lái ngã quay lơ/Đạn trên đồi vãi xuống như mưa/Đò cứ đắm lính trên đò cứ chết…”. Đất Quảng Bình là vậy. Người Quảng Bình là vậy. Hiền lành mà quyết liệt. Lặng lẽ mà sục sôi.

    Nếu những bài thơ sáng tác từ trước năm1954 mang âm hưởng hào hùng và bi tráng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thì trong năm đầu tiên hòa bình lập lại trên toàn miền Bắc (năm 1955), hình ảnh quê hương mang dáng vẻ thanh bình trở lại đúng như bối cảnh lịch sử đương thời: “Sáng trăng, sáng lạch Ba Đồn/Gió từ cửa biển, gió nồm thổi lên/Ngày mai xuống ăn chợ phiên/Tiếng hò sông lặng nghe quen quá chừng…”. Khung cảnh trữ tình của đêm trước chợ phiên Ba Đồn đã ăn sâu vào tiềm thức của biết bao thế hệ người dân vùng đất nam đèo Ngang Quảng Trạch-Ba Đồn. Nhà thơ Xuân Hoàng không chỉ ghi lại lịch sử mà còn lưu giữ truyền thống văn hóa bằng thơ.

    Xuân Hoàng là nhà thơ của hiện thực. Ông không sáng tác mà không có thực tế. Những gì đã đi vào thơ Xuân Hoàng đều rất gần gũi với đời thực. Không ví von sáo rỗng, không ngợi ca màu mè, Quảng Bình với những gì vốn có, gần gũi hiện lên trong thơ ông là cả một trời thương mến: “Không biết tự đời nào/Những cửa sông vui như mùa trĩu trái/Bồi lở cắt cát dài thành trăm dải/Mở rộng chân trời bao nỗi khát khao/Những động cát quê tôi/Nuôi tôi lớn trong lời ru của sóng/Dương liễu mơn man, dừa xao nước động/Đã bao đời thầm thỉ sức sinh sôi…”.

    Đời thơ Xuân Hoàng là mải miết những chuyến đi. Và thơ ông là bức tranh toàn cảnh của Quảng Bình. Từ năm 1960, ông đã nhắc đến Phong Nha với vẻ đẹp hữu tình sông núi: “Dòng sông Son vẫn đẹp màu áo lính/Lèn Phong Nha biêng biếc chập chùng quen…”. Khung cảnh những vùng đồi bát ngát nơi miền tây Quảng Bình làm say lòng thi sỹ cũng được ông nhắc đến: “Mùa chắt chiu, đồi ngã sắc hoa lim/Sang mùa gió, bạc đầu lau trắng xóa/Những đồi hoang trên quê hương ta đó/Những đồi hoang rất đỗi bình yên…/Đồi chỉ mang màu, đồi không mang tên/Vào xuân: sắc ngà, sang hè: chuyển đỏ/Tím mùa thu, hoa mua thường dạn gió/Và bạc đầu, lau thắp suốt mùa đông…”.

    Trong mạch nguồn xúc cảm với quê hương, năm 1964 nhà thơ viết tác phẩm “Gởi quê hương chiến đấu”. Một bài thơ không dài nhưng gói gọn biết bao ân tình với rất nhiều tên đất, tên làng và những con đường nhỏ xinh của Đồng Hới: “Tôi thuộc hết tên đường trong thị xã/Những con đường mang những tiếng thân yêu/Đường Lê Trực sớm chiều thường rộn rã/Lê Thành Đồng xưởng mộc, biển sơn treo/Lối Cô Tám rẽ ngang về bến chợ/Đào Duy Từ kè vững mở tầm khơi/Lâm Úy vẫn cười kia trên nẻo phố/Quách Xuân Kỳ cũng hẹn xuống đường vui..”

    Trong nhiều tác phẩm khác, những tên đất, tên làng đã đi vào lịch sử như: đường 12A, Khe Ve, La Trọng, Bãi Dinh, đèo Mụ Giạ, Phu La Nhích…và những con người gắn liền với mỗi thời kỳ chiến đấu của quê hương: Quách Xuân Kỳ, mẹ Suốt…cũng được nhà thơ tinh tế đưa vào tác phẩm. Hình dáng của quê hương Quảng Bình mỏng manh bên bờ sóng mà can trường và kiêu hãnh, bình dị mà lộng lẫy cứ thế tự nhiên được nhà thơ vẽ nên trên nhiều góc độ khác nhau: “Quê tôi đấy đất Quảng Bình xinh đẹp/Con người hiền và sông núi xanh trong/Ôm lịch sử mấy nghìn năm đậm nét…”. Đọc thơ Xuân Hoàng, người Quảng Bình sẽ tự hào hơn về đất mẹ. Và lữ khách sẽ thấy yêu hơn đất, người nơi đây.

    Nhà thơ Xuân Hoàng sinh ra và lớn lên ở Đồng Hới. Suốt một đời thơ ông gắn bó với mảnh đất nhỏ xinh như một đóa hồng bên cửa biển này. Bởi vậy mà Đồng Hới luôn để lại trong trái tim ông nguồn cảm xúc thi ca mãnh liệt. Men theo đường thơ Xuân Hoàng, chúng ta luôn luôn gặp Đồng Hới. Có khi duyên dáng một mình. Có khi hòa chung vào cả quê hương Quảng Bình yêu dấu.

    Nhưng ở vị trí nào, thời khắc nào, Đồng Hới cũng mang vẻ đẹp riêng có của vùng đất nơi cuối sông đầu biển. Phải yêu thương quá đỗi nhà thơ mới thốt lên rằng: “Cái thị xã nhỏ, xinh như đường ngân nét nhạc/Đã bao lần phải hứng bom rơi”, “Chúng tôi đi, mang Đồng Hới đi bao nơi/Trong giấc ngủ tiếng căm thù vẫn thức/Đâu có lửa, đó là vùng có chớp/Tiếng gọi cháy lòng Đồng Hới của ta ơi”…

    Có một điều đặc biệt, tác phẩm của nhà thơ Xuân Hoàng không chỉ phản ánh hiện thực sinh động mà còn mang tính dự báo. Tháng 10-1966, giữa những loạt bom hủy diệt Đồng Hới của đế quốc Mỹ, ông sáng tác bài thơ “Đồng Hới”: “Ta biết hôm nay Đồng Hới hủy mình/Để có ngày mai Đồng Hới đẹp/Thành phố ta xây bên bờ biển biếc/Biển miền Trung xanh ngắt một màu xanh…”. Hơn 50 năm sau, niềm hy vọng của nhà thơ đã trở thành hiện thực: “Cái thị xã nhỏ, xinh như đường ngân nét nhạc” của nhà thơ Xuân Hoàng năm xưa ấy đã trở thành thành phố “đẹp vạn lần hơn” như nhà thơ ước vọng.

    Gần trọn đời thơ, đường thơ gắn bó với quê hương Quảng Bình, nhà thơ Xuân Hoàng đã để lại cho đất và người Quảng Bình nhiều tác phẩm có sức lay động, lan tỏa mạnh mẽ. Dù rất nhiều thập kỷ đã trôi qua nhưng đó là những dòng thơ tươi xanh, những dòng thơ lửa cháy, đúng như lời nhà thơ Xuân Diệu nhận xét: “Nhờ sống ở vùng đất lửa nên thơ Xuân Hoàng mới có lửa như thế”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chùm Thơ Hay Viết Về Quê Hương Xứ Kinh Bắc
  • Bài Thơ: Bắc Giang Quê Tôi
  • Bài Hát “bạc Liêu Quê Tôi”: Nhớ Ngày Giải Phóng…
  • Bài Văn Cảm Nhận Về Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Tế Hanh Hay
  • Tìm Hiểu Và Nêu Cảm Nhận Của Bản Thân Về Bài Quê Hương Của Tế Hanh
  • Lời Bài Hát Anh Yêu Em Nhiều Lắm

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Bài Thơ Chế Hay Nhất
  • Hót Hòn Họt Những Bài Thơ Yêu Em Thật Lòng Gây Sốt Cộng Đồng Mạng
  • Đến Với Bài Thơ Anh Yêu Em Người Đàn Bà Đã Cũ (Có Lời Bình Hay)
  • 99+ Bài Thơ Tình Yêu Tiếng Anh Sâu Đậm, Nồng Thắm Nhất
  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Tình Yêu Trong Sáng Trong Bài Thơ Tôi Yêu Em
  • Ca sĩ: latumi tôi đã có những kỉ niệm đẹp bên cô ấy,tôi đã cùng cô ấy hát,cô ấy hát thật hay,và nhất là tôi với cô ấy có cùng một niềm đam mê đó là yêu thích nhạc rap cô ấy cười trông cũng thật xinh và nói chung là tôi yêu cô ấy ,tôi yêu cô ấy rất là nhiều latumi yêu sohee

    anh muốn anh muốn có một đôi cánh thiên thần để cùng em bay đi khắp mọi nơi chứng kiến khắp mọi cảnh đẹp trên đời và chỉ muốn nói với em rằng anh chỉ yêu em mà thôi và con tim anh sẽ không bao h thay đổi hay anh không phải là một người nói dối khi con tim anh đã trao về em mất rồi (Sohee những lời anh nói không bao h là nói dối khi anh chỉ yêu em mà thôi) một mình anh lệ ướt đẫm trong căn phòng tôi anh vẫn không tìm thấy lối ra và anh đã mất đi một người con gái và anh mất đi tất cả,những kí ức thật thà nó rộng như là biển cả nhưng sao bây h chỉ còn là những nỗi đau khó tả bởi vì anh đã mất em thật rồi và h nay anh vẫn ngồi khóc ,khóc cho những kỉ niệm đã qua như những hạt mưa xa chỉ còn đọng lại trên những tán lá và anh đang cố lấy lại,lấy lại những ngày tháng bên em ,anh biết là rất khó nhưng biết làm sao khi ,anh đã yêu em thật nhiều

    và h qua ở trong mơ anh đã mơ thấy em anh nhìn thấy những kỉ niệm đẹp,người yêu ơi h qua anh đã mơ anh đã mơ thấy em ,ở bên em là những kỉ niệm đẹp,anh chỉ muốn ở bên em mãi ,hát cho em muôn vàn khúc ca ,nhưng điều đó khó mà xảy ra ,vì e đã có một người mới chỉ còn tôi một mìh chơi vơi,như con thuyền lạc giữa biển khơi,và ai đâu có biết được rằng con thuyền đó đã mất phương hướng,và ai đâu có biết được rằng con thuyền đó vẫn còn yêu ,em hẫy nhớ lấy một điều ,anh yêu em cho đến khi,ông mặt trời kia ko tỏa sáng,anh yêu em cho đến khi ,ông mặt trời kia ko tỏa nắng,anh yêu em cho đến khi thế gian này ko còn tình yêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • #199 Bài Thơ Anh Yêu Em Ngắn Hay Nhất Thay Lời Yêu Nồng Nàn
  • Phân Tích Bài Thơ Tôi Yêu Em Của Puskin.
  • Phân Tích Bài Thơ Sau Đây: “tôi Yêu Em, Tôi Yêu Em: Đến Nay Chừng Có Thể, Ngọn Lửa Tình Chưa Hẳn Đã Tàn Phai; Nhưng Không Để Em Bận Lòng Thêm Nữa, Hay Hồn Em Phải Gợn Bóng U Hoài … Cầu Em Được Người Tình Như Tôi Đã Yêu Em” 1829
  • Nhà Thơ Hoàng Trung Thông (1925
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Top 10 Bài Thơ Hay Của Nhà Thơ Hoàng Trung Thông
  • Bài Thơ “quê Hương” Của Tế Hanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Thơ Chế Qua Đèo Ngang Cực Hài
  • Top Những Bài Thơ Về Trăng Hay Nhất 4 Chữ 5 Chữ 7 Chữ 8 Chữ Lục Bát
  • Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Khám Phá Những Bài Thơ Ngắn Hay Về Biển Xúc Động Nhất
  • Phân Tích Bài Thơ “Sóng” Của Xuân Quỳnh (Cực Hay)
  • Tế Hanh là một nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới, thơ ông  thường mang nặng nỗi buồn và tình yêu quê hương thắm thiết. Quê hương là nguồn cảm hứng dạt dào trong suốt cuộc đời thơ ông. Bởi vậy có ý kiến cho rằng: “ Bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, sâu nặng khi xa quê”.

    Trước hết, trong xa cách nhà thơ nhớ về quê hương. Cảnh vật quê hương được miêu tả với nỗi nhớ và tình yêu tha thiết. Khung cảnh làng quê hiện lên với một bức tranh lao động tươi sáng và đầy hứng khởi. Cuộc sống lao động của làng quê hiện lên qua cảnh đoàn thuyền đầy khí thế vượt Trường Giang lúc ra khơi và đông vui, no đủ, bình yên khi trở về.  Con người ở làng quê hiện lên với vẻ đẹp khỏe khoắn, vạm vỡ, mạnh mẽ. Đoàn thuyền xuất phát giữa cảnh bình minh trong sáng dịu mát và rực rỡ nắng mai hồng. Chiếc thuyền được so sánh với con tuấn mã cùng với các động từ, tính từ mạnh: “hăng, phăng, vượt” cho thấy khí thế mạnh mẽ, dũng mãnh băng mình vươn tới khi ra khơi. Hình ảnh so sánh, giàu ý nghĩa “cánh buồm – hồn làng” làm cho hình ảnh cánh buồm trở nên lớn lao, kì vĩ, thiêng liêng và rất thơ mộng. Nhà thơ chợt nhận ra cái linh hồn của làng chài quê hương trong hình ảnh cánh buồm. Cánh buồm được nhân hóa như một con người nó đang rướn cao thân mình thu hết gió của đại dương đẩy con thuyền đi nhanh hơn. Câu thơ đầu tả hình ảnh dân chài làn da ngăm đen vì nắng gió là tả thực, làm nổi bật một nét riêng của màu da dân biển. Câu thơ tiếp theo “ Cả thân hình nồng thở vị xa xăm” mới là sáng tạo: Nước da ngăm nhuộm nắng, gió và  những chuyến đi xa của biển cả. Hình ảnh người dân chài vừa chân thực vừa lãng mạn với tầm vóc phi thường. Câu thơ đầu được tả chủ yếu qua thị giác, qua cái nhìn, quan sát của đôi mắt, câu sau mới là tả tâm hồn và cảm quan lãng mạn của nhà thơ. Nhớ quê hương là nhà thơ nhớ đến hình ảnh son thuyền, con thuyền như một cơ thể sống, nhận biết được chất muối của biển đang ngấm dần, lặn dần vào da thịt của mình. Hình ảnh con thuyền đồng nhất với cuộc sống của người dân làng chài. Hai câu thơ cho ta cảm nhận được một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và tình yêu sự gắn bó máu thịt với quê hương mình của nhà thơ Tế Hanh.

    Đặc biệt, tình yêu quê hương được thể hiện trực tiếp qua nỗi nhớ da diết của nhà thơ. Đó là nỗi nhớ luôn ăm ắp tràn đầy thường trực về một làng chài yêu dấu mà Tế Hanh mang theo trong suốt đời thơ của mìnhNỗi nhớ quê hương qua những hình ảnh quen thuộc: Tác giả nhớ về “Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi”, đó là những hình ảnh quen thuộc, gắn liền với người dân miền biển. Màu nước biển trong xanh nơi những con thuyền giương cánh buồm vôi trắng thâu góp gió rẽ ra biển khơi, tìm đến những mẻ cá bạc sau bao gian lao mưa nắng và hiểm nguy, vất vả.  Nỗi nhớ về khung cảnh sinh hoạt của người dân làng chài: ”. Đâu đó trong tiềm thức của nhà thơ, vẫn mường tượng ra cảnh sinh hoạt đánh bắt cá của người dân quê hương, họ đang ngày đêm ra khơi đánh bắt với sự hăng say và tinh thần yêu lao động, lái những con thuyền vươn ra biển cả, đương đầu với sóng gió và thử thách của đại dương mênh mông để rồi từ đó thu về những mẻ cá nặng trong niềm vui hân hoan . Nỗi niềm dâng trào trong cảm xúc của nhà thơ: Phải có sự gắn bó sâu sắc và tình yêu sâu đậm với ngôi làng chài này lắm, tác giả mới có những cảm nhận tinh tế, cách miêu tả đầy sống động và lãng mạn như thế. “Cái mùi nồng mặn” ấy chính là mùi của biển cả, của vị xa xăm nồng thở trong thân hình người dân trai tráng, của chất muối thấm trong thớ gỗ con thuyền.  Qua nỗi nhớ của tác giả bức tranh quê hương hiện lên thật tươi đẹp, khỏe khoắn, tràn đầy sức sống và mang những nét đặc trưng riêng biệt của một làng quê vùng biển không thể lẫn với bất kì một làng quê nào khác. Qua bức tranh ấy chúng ta cảm nhận được nỗi nhớ, niềm tự hào, sự gắn bó máu thịt và tình yêu quê hương tha thiết sâu nặng của chính nhà thơ.

      Kết bài:   Tóm lại, với giọng thơ  nhẹ nhàng, tha thiết ngôn ngữ thơ bình dị, gợi cảm, hình ảnh chọn lọc có những biện pháp tu từ đặc sắc. Cả bài thơ là khúc ca quê hương tươi sáng ngọt ngào, là sản phẩm của một hồn thơ trẻ trung, tha thiết, đầy thơ mộng.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chùm Thơ Về Mẹ (Chọn Lọc)
  • Rung Động Trước Những Bài Thơ Đêm Buồn Nhớ Mẹ Sâu Sắc Chạm Đến Trái Tim Bạn Đọc
  • Thơ ” Nhỏ Ơi ” Của Đỗduythụy Khxh1 Texas – Áihữu Vạnhạnh
  • Bài Thơ Nói Với Em (Vũ Quần Phương) – Hãy Nhắm Mắt Để Lắng Nghe Chia Sẻ
  • Top Những Bài Thơ Hay Nhất Về Mùa Thu Lãng Mạn Ý Nghĩa
  • Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Đỗ Trung Quân Có Đoạn: ”quê Hương… Thành Người”. Em Hãy Giải Thích Ý Nghĩa Của Những Câu Thơ Trên Và Nêu Rõ Vai Trò, Tác Dụng Của Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước Với Cuôc Sống Tâm Hồn Của Mỗi Con Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Cố Nhạc Sĩ Giáp Văn Thạch: Đò Nhỏ Vọng Tiếng Quê Hương
  • Bài Học Đầu Cho Con (Quê Hương)
  • “quê Hương” Của Đỗ Trung Quân
  • Giáo Án Môn Chính Tả
  • Bài Văn Cảm Nghĩ Của Em Về Quê Hương
  • Cuối hạ chớm thu, những cơn gió hè nóng nực cũng đã bắt đầu dịu lại, gió thu heo may và những cơn mưa sụt sùi của mùa Ngâu đã về . Tháng Bảy âm lịch là tháng của mưa, những giọt mưa có thể là những giọt lệ tình ái của Ngưu Lang Chức Nữ, là những giọt lệ hiếu tử nhớ cha thương mẹ đã khuất núi, là những giọt lệ khóc than của các oan hồn vất vưởng phiêu diêu không nơi nương tựa. Chắc chưa có ai thấy được “quạ ô bắt cầu” cũng như hình dáng của chàng Ngưu nàng Chức ra sao, nhưng mối tình “ngăn sông cách núi” và chung thuỷ thiên thu của họ đã đi vào lòng người với sự cảm thông và mến mộ. Tấm gương hiếu thảo và tấm lòng bồ tát của ngài Mục Kiền Liên đã xuống tận địa ngục A Tỳ để cứu mẹ và các oan hồn uổng tử đã trở thành một gương sáng cho hậu thế noi theo. Hiện nay, lễ Vu Lan đã trở thành một tập tục và “nghi thức tưởng niệm” được hầu hết các Phật tử của các nước vùng Đông nam Á tổ chức một cách trọng thể tại các chùa chiền hoặc tại gia. Tương truyền ngày rằm tháng bảy còn là ngày “xá tội vong nhân”, ngày cúng kiến (bố thí ) cho các oan hồn uổng tử, không có người thừa tự chăm sóc hương khói, vất vưởng không có nơi nương tựa … Gọi nôm na là lễ “cúng cô hồn”.

    Theo Phật giáo mùa Vu Lan là mùa báo hiếu của người con đất Việt và hiếu từ không phải chỉ riêng đối với cha mẹ, mà là với tất cả chúng sanh. Tuy nhiên, ở một góc nhìn hẹp hơn, lễ Vu Lan có lẽ tương tự như ngày Hiền Mẫu (Mother s day) ở các nước Âu Mỹ. Một phần, có lẽ do nguồn gốc xuất phát của lễ Vu lan là sự tích bồ tát Mục Kiền Liên vào ngục A Tỳ để cứu mẹ là Thanh Đề. Kế đến, mặc dù con là kết tinh của mẹ cha , và “công cha như núi Thái sơn” là một sự thật ai cũng biết. Nhưng sinh vật, đặc biệt là con người, thì đã vất vả với mẹ từ lúc còn là bào thai trong bụng nên tình cảm của đứa con dường như gắn bó với mẹ hơn cha. Điều này cũng hợp lý vì ngoài đất đá, sự sống của vạn vật đều bắt đầu từ MẸ .

    “Quê hương là gì hở mẹ Mà cô giáo dạy phải yêu Quê hương là gì hở mẹ Ai đi xa cũng nhớ nhiều Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay Quê hương là con diều biếc Tuổi thơ con thả trên đồng Quê hương là con đò nhỏ Êm đềm khua nước ven sông Quê hương là cầu tre nhỏ Mẹ về nón lá nghiêng che Là hương hoa đồng cỏ nội Bay trong giấc ngủ đêm hè Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Tế Hanh
  • Bài Thơ Viết Về Quê Hương Để Gửi Cho Những Thế Hệ Sau
  • Top 10 Bài Hát Hay Nhất Về Quê Hương Quảng Bình
  • Hình Ảnh Quê Hương Quảng Bình Trong Thơ Xuân Hoàng
  • Chùm Thơ Hay Viết Về Quê Hương Xứ Kinh Bắc
  • Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Tả Cảnh Quê Hương Vào Buổi Sáng Mùa Hè Lớp 6 Hay Nhất
  • Chọn Lọc 100 Bài Thơ Về Thầy Cô Giáo Tự Sáng Tác Ngắn Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Về Thầy Cô Hay Nhất ❤️ Thơ Chúc Mừng 20/11
  • 16 Bài Thơ Hay Về Thầy Cô Và Mái Trường Yêu Dấu
  • Thơ Tiếng Anh Về Thầy Cô
  • Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

    Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

    “Ai bảo chăn trâu là khổ ?”

    Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

    Nhớ những ngày trốn học

    Đuổi bướm cầu ao

    Mẹ bắt được…

    Chưa đánh roi nào đã khóc

    Có cô bé nhà bên

    Nhìn tôi cười khúc khích…

    Cách mạng bùng lên

    Rồi kháng chiến trường kỳ

    Quê tôi đầy bóng giặc

    Từ biệt mẹ tôi đi

    Cô bé nhà bên (có ai ngờ)!

    Cũng vào du kích

    Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

    Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)

    Giữa cuộc hành quân không nói được

    một lời…

    Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại

    Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi

    Hòa bình tôi trở về đây

    Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

    Lại gặp em

    Thẹn thùng nép sau cánh cửa

    Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

    – Chuyện chồng con… (khó nói lắm anh ơi)!

    Tôi nắm bàn tay, ngậm ngùi, nhỏ nhắn

    Em để yên trong tay tôi nóng bỏng

    Hôm nay nhận được tin em

    Không tin được dù đó là sự thật

    Giặc bắn em rồi quăng mất xác

    Chỉ vì em là du kích em ơi!

    Đau xé lòng anh chết nửa con người!

    Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm

    Có những ngày trốn học bị đòn roi

    Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

    Có một phần xương thịt của em tôi

    ***

    Когато бях дете и ходех на училище,

    обиквах родната страна

    със всяка страница на детската ми книга.

    Там пишеше : “Кой казва, че е трудно

    да пасеш биволи в гората, на полето ?”

    И закопнях за песните на птиците в гората. . .

    Понявга майка ме улавяше, когато

    край блатото подгонех пеперуда,

    вместо да ида в клас. Да бяхте чули

    как жално плачех, преди да са ме още били !

    Едно момиченце в съседната ни къща

    ме гледаше и дяволито се усмихваше.

    Покриха вражи сенки моята страна.

    Сбогувах се със майка и заминах.

    И, представете си, съседското момиче

    и то поело в горските усои.

    Веднъж случайно я видях по пътя.

    Тя пак тъй дяволито се усмихна,

    очите й блестяха черно-черни.

    Защо така привличаха очите й ?

    Не разменихме дума : аз бях в строй,

    но се обръщах дълго, много дълго.

    Над нас валеше. В мен блестеше слънце.

    Мирът настъпи. Върнах се във къщи,

    в училище, в оризището при браздите.

    И пак видях съседката ни млада,

    която криеше главица зад пердето.

    Тя се усмихваше – потайна, дяволита.

    Когато я запитах един ден

    дали сърцето й все е свободно,

    “Въпросът ти е, знаеш, неудобен. . .”

    отвърна и главата си наведе.

    Цял разтреперан, пълнен с бяла нежност,

    аз хванах тънките й пръсти.

    Тя ги остави да почиват в ръцете ми горещи.

    И връхлетя внезапно новината –

    така ужасна, че не смея да повярвам :

    Убили са те, сестро, о, любима !

    Захвърлили те нейде във гората.

    Защо ли ? През войната

    ти си си била – ето твоя грях.

    Сърцето ми раздират остри пръсти.

    Не зная, жив ли съм, или съм вече прах. . .

    Като дете обичах родната страна за птиците и пеперудите й.

    С тях ходех на училище в гората.

    Обичам днес страната си, защото всяка нейна шепа пръст

    съдържа малко от кръвта на моята любима.

    Превел Стефан Гечев

    – Bài thơ làm trong một giờ.

    “Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – nhà cách mạng Nguyễn Lưu- truyền cho bầu nhiệt huyết, nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính, Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ Quê hương. Thời khắc nghiệt của chiến tranh, tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi, nên tôi chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi kèm cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em, em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai, Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ, cuối cùng cũng nhận được hồi âm… Từ đó, họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955).

    Nhà thơ Giang Nam

    Cưới xong ở với nhau được đúng hai đêm, ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi Gió mới, hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này, chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa, vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ, ngay sau khi vợ sinh, tôi được tổ chức rút về lại KhánhHoà. Sau đó không lâu, vào một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành, có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Bình Dương). Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi” – Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ Quê hương.

    Tạo cảm hứng cho một đời

    Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, từ phía sau cặp kính cận, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài Quê hương, tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9.1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ Quê hươngcủa mình và thông báo được giải Nhì báo Văn Nghệ.

    Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài Quê hương đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền, cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả” – Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Ha Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong lòng một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ Quê hương của Giang Nam và Núi đôi của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài Quê hươngcủa Giang Nam đau quá! Tuy bài thơ được giải Nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ Quê hương được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” – Giang Nam cho biết.

    Nguyễn Quang Sáng, Hoài Vũ, Giang Nam, Chim Trắng ở chiến trường Tây Ninh (năm 1974).

    Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ, cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962, bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về, do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu, năm 1968, vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả, nhờ một luật sư giỏi bào chữa. Nhớ lại thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái, tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi, vợ tôi đã trùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. ‘Tận khổ cam lai’, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh. Sau ngày giải phóng, tôi có đi tìm lại người luật sư bào chữa cho vợ tôi để cảm ơn nhưng không gặp”.

    Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, theo điều động của tổ chức, Giang Nam vào làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978, chấp hành ý kiến của cấp trên, ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN. Năm1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa), Tỉnh ủy Khánh Hòa xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh – Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan, cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với quê hương, với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình, được phục vụ nhân dân, lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ Quê hương nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết, viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.

    Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh, có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết. Vì cái đam mê viết nên hiện nay, dù tuổi đã cao, ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chùm Thơ Người Xa Quê Của Nhiều Tác Giả
  • Thơ Hay Về Cuộc Sống Xa Quê
  • Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Phân Tích Bài Thơ Thu Hứng Của Đỗ Phủ Để Thấy Được Cảnh Sắc Mùa Thu Và Nỗi Nhớ Quê Hương
  • Quê Hương Và Nỗi Nhớ Trong Thơ Bùi Đức Ánh
  • Tình Yêu Biển Đảo Quê Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Mùa Xuân Nho Nhỏ Văn Mẫu
  • 8 Bài Nhạc Tết Vui Nhộn Dành Cho Thiếu Nhi
  • Những Bài Thơ Tình Hay Nhất Của Nhà Thơ Xuân Diệu
  • 1001 Bài Thơ Khoán Thủ Mừng Mùa Xuân Về Trong Yêu Thương
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 1001 Bài Thơ Khoán Thủ Viết Về Cha Mẹ Hay, Ý Nghĩa & Cảm Động
  • “Tôi đang nghe Tổ quốc gọi tên mình bằng tiếng sóng Hoàng Sa, Trường Sa dội vào ghềnh đá”. Có thể nói, từ bao đời nay biển đảo quê hương luôn là một phần máu thịt không thể tách rời trong tim mỗi người dân đất Việt. Biển đảo chính là một món quà vô giá mà thiên nhiên ưu đãi, lịch sử hào hùng trao tặng chúng ta. Chính trên vùng mênh mông đại dương bao la, nơi cột mốc chủ quyền sừng sững như chứng nhân của lịch sử đầy “máu và hoa” , luôn có những con người vẫn ngày đêm canh giữ cho quê hương giấc ngủ yên bình. Chính tại nơi đầu sóng ngọn gió luôn có lá cờ Tổ quốc tung bay đó là nơi những trái tim đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, của đông đảo các thế hệ Việt Nam hướng về với lòng thành kính, yêu thương và biết ơn vô hạn. Vì một lý do rất đơn giản: Đây là quê hương chúng ta.

    Thế hệ trẻ chúng tôi được may mắn sinh ra trên đất nước bình yên, sạch bóng quân thù, được tự hào về những trang sử vàng quá khứ hào hùng, bi tráng, được hưởng một niềm ưu ái “Thưở còn thơ ngày hai buổi đến trường/ Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ” (Đỗ Trung Quân). Chúng tôi được lắng nghe lời non sông vọng về qua những trang sách: “Lãnh thổ Việt Nam là một khối thống nhất và toàn vẹn bao gồm vùng đất, vùng biển và vùng trời. Nước ta có đường bờ biển dài 3260 km, cong hình chữ S, chạy từ thị xã Móng Cái (Quảng Ninh) ở phía Bắc đến thị xã Hà Tiên (Kiên Giang) ở phía Tây Nam… Nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là các đảo ven bờ và có hai quần đảo ở ngoài khơi xa trên biển Đông là quần đảo Hoàng Sa (thuộc thành phố Đà Nẵng) và quần đảo Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa). Theo quan niệm mới về chủ quyền quốc gia thì vùng biển Việt Nam có diện tích khoảng 1 triệu km2 ở biển Đông. Biển Đông đối với nước ta là một hướng chiến lược quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước. Các đảo và quần đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệ thống căn cứ để nước ta tiến ra biển và đại dương trong thời đại mới, khai thác có hiệu quả các nguồn lợi vùng biển, hải đảo, thềm lục địa. Việc khẳng định chủ quyền của nước ta đối với các đảo và quần đảo có ý nghĩa là cơ sở để khẳng định chủ quyền của nước ta với vùng biển và thềm lục địa quanh đảo”. (trích SGK Địa lý lớp 12)

    Qua các bài học lịch sử, địa lí hàng ngày, ý thức về độc lập, chủ quyền và tự hào dân tộc lớn dần lên trong mỗi học sinh. Biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, vì vậy có muôn vàn trái tim ngày đêm hướng về biển đảo, dành tình yêu cho những người lính biển cùng các chiến sĩ, các lực lượng ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo nước nhà. Người dân Việt Nam đều hướng về biển bằng một tình yêu chung thủy. Đó là niềm tự hào, say mê trước vẻ đẹp của những bãi cát dài, làn sóng biếc, vịnh đảo nên thơ. Biển đẹp dịu dàng như từng lớp sóng âm thầm xô bờ đến khi sóng bào mòn đá lúc nào không hay. Chúng tôi cảm ơn thiên nhiên ưu ái đã ban tặng nơi đây một nét diễm lệ, giàu có về tài nguyên thiên nhiên. Ngư trường rộng lớn, nguồn nhiên liệu dưới lòng biển nhiều, phong cảnh đẹp, con người hòa đồng,… đem đến cho ta nguồn lợi rất lớn. Di tích lịch sử Nhà tù Côn Đảo đang ngày đêm đón những lượt tàu ra biển để hồi tưởng lại một thời huy hoàng cũng chính là một thắng cảnh đẹp của biển đảo quê hương. Đặc sản tỏi Lý Sơn- thứ quà quí kết tinh tinh hoa đất trời và sự cần cù, chịu khó của con người lao động đang dần vượt ngàn hải lý, xuất khẩu tới những đất nước xa xôi, khẳng định thương hiệu hàng Việt trên trường quốc tế. Hơn hết, “Trường Sa-Hoàng Sa là của Việt Nam”- là dáng hình xứ sở. Những người dân bám đất, bám đảo, chống chọi với cuộc sống khắc nghiệt, thiếu thốn lắm nhưng hạnh phúc nhiều với suy nghĩ:”Đảo là nhà, biển cả là quê hương”. Tôi cảm phục trước những bức tượng đài sống của những người chiến sĩ hải quân, đầu đội mũ, tay vác súng đứng canh giữ biển. Giữ đảo chính là đang bảo vệ quê hương mình. Mang trên vai trọng trách bảo vệ quê hương đất nước chính là niềm tự hào của các chiến sĩ hải quân. . Bác Hồ đã từng căn dặn :

    “Ngày xưa ta có đêm, có rừng. Ngày nay ta có ngày,có trời, có biển. Bờ biển nước ta dài, tươi đẹp.Ta phải biết giữ gìn và phát huy nó”. Mỗi người thể hiện tình yêu nước, yêu biển – đảo khác nhau nhưng với tất cả đều thể hiện tình cảm mãnh liệt ấy bằng nhiệt huyết của trái tim và lòng nhân ái. Hãy yêu nước bằng một trái tim nóng, cái đầu lạnh và những hành động thực tiễn góp phần bảo vệ biển đảo như: Học tập nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc để tìm ra phương thức bảo vệ chủ quyền một cách hữu hiệu; Xây dựng, củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ tổ quốc; Tích cực học tập kiến thức quốc phòng, an ninh, sẵn sàng nhận và hoàn thành các nhiệm vụ quốc phòng; Tích cực tham gia các phong trào của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, phong trào mùa hè xanh, phong trào thanh niên tình nguyện hướng đến vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo.

    Học sinh trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam thường xuyên được giáo dục ý thức bảo vệ biển đảo của tổ quốc. Chúng tôi đã có rất nhiều hoạt động sinh động hướng về biển đảo. Ngày 19/05/2014, các học sinh lớp 12 trước khi ra trường đã tổ chức xếp thành hình bản đồ Việt Nam với những lá cờ đỏ sao vàng trên tay nhuộm đỏ khu vực chính của sân trường.

    Học sinh Trường chuyên Hà Nội – Amsterdam xếp hình tổ quốc

    Ngay sau hoạt động xếp hình đất nước, các thầy cô giáo cùng các học sinh của Ams đã tổ chức hoạt động quyên góp với thông điệp “Quyết tâm sẵn sàng vì biển đảo thân yêu của Tổ quốc”.

    Hoạt động từ thiện từ ngày 2/4-3/4/2016 vừa qua tại đảo Vạn Gia – đảo tiền tiêu của Tổ quốc, các thầy cô giáo trường HN-Ams đã trao quà cho các hộ dân nghèo, học sinh khó khăn, giao lưu với đồn biên phòng trên xã đảo là hoạt động thường niên ý nghĩa, góp phần chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, mang lại những niềm vui, hi vọng cho các em học sinh vùng sâu, vùng xa có nhiều thiếu thốn trong học tập và điều kiện sống và bà con nghèo trên xã đảo.

    Những chuyến đi như thế này không chỉ là sự kiện hưởng ứng lời kêu gọi của Công đoàn Giáo dục Việt Nam, Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Nội về hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, mà cũng thể hiện tình yêu, nhiệt huyết và hành động thiết thực của thầy trò THPT Chuyên Hà Nội- Amsterdam, chúng tôi luôn hướng về biển đảo quê hương với nhận thức đúng đắn và tình cảm chân thành.

    Là một học sinh trường Ams, bạn và tôi- chúng ta hãy trở thành một tuyên truyền viên giúp mọi người cùng hiểu, cùng nhau giữ gìn biển đảo biên cương của Tổ quốc. Những Amsers trẻ hãy cống hiến nhiệt tình, sáng tạo góp phần để Việt Nam trở thành quốc gia “mạnh về biển và giàu lên từ biển”.

    Nguồn bài viết:

    WEBSITE Trường THPT Chuyên Hà Nội-AMSTERDAM

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Luận Về Tình Yêu Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Hay Về Xứ Nghệ
  • Suy Nghĩ Của Em Về Quê Hương
  • Nghị Luận Xã Hội Về Tình Yêu Quê Hương
  • Viết Đoạn Văn Về Tình Yêu Quê Hương Đất Nước
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×