Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Bài 28: Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp
  • Hướng Dẫn Đọc Thêm Văn Bản: Bài Thơ Số 28 (Ta
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Số 28 Của Ta
  • Soạn Bài Lớp 11: Bài Thơ Số 28
  • Soạn Bài Bài Thơ Số 28 Của Tago
  • Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ là sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh, nói quá, chơi chữ,…Trong một câu, một đoạn văn hay một bài thơ để tạo ra một hiệu quả nhất định. Làm cho câu văn trở nên hay hơn sinh động hơn và ấn tượng, biểu cảm, hấp dẫn hơn với người đọc người nghe.

    1. Biện pháp tu từ so sánh

    Biện pháp tu từ so sánh là sử dụng biện pháp so sánh, đối chiếu sự vật này với sự vật kia có nét tương đồng với nhau.

    Cấu trúc của dạng so sánh mà chúng ta thường gặp: …là…; …như…; chúng tôi nhiêu……bấy nhiêu.

    Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn, lời nói. Nếu một bài văn, câu văn có chứa biện pháp tu từ bạn sẽ thấy nó sinh động, hấp dẫn bạn đọc hơn.

    Một số ví dụ biện pháp tu từ: Cấu trúc A như B:

    Ví dụ 1: “Trẻ em như búp trên cành” – Trích câu nói của Bác Hồ

    Ví dụ 2: “Công cha như núi Thái Sơn.

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Trích ca dao

    Ví dụ 3: Trích tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên

    “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

    Cấu trúc A là B:

    Ví dụ 1: Nhà là nơi bình yên nhất, hay nhà là nơi để về

    Ví dụ 2: ” Quê hương là chùm khế ngọt” – Quê Hương ( Trung Đỗ Quân)

    Cấu trúc bao nhiêu..Bấy nhiêu:

    Ví dụ 1:

    “Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 2: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

    Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 3:

    “Ngó lên nuộc lạt mái nhà

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Trong pháp tu từ so sánh sẽ có các kiểu so sánh: Ngang bằng, không ngang bằng; theo đối tượng: so sánh theo đối tượng cùng loại, So sánh khác loại,; so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại.

    Ví dụ: Trích Sáng tháng năm – Tố Hữu

    “Người là cha, là bác, là anh

    Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” – Sử dụng so sánh ngang bằng.

    ” Cô giáo em hiền như cô Tấm”- So sánh đối tượng cùng loại,…

    2. Biện pháp tu từ nhân hóa

    Biện pháp tu từ nhân hóa là biện pháp sử dụng từ ngữ để chỉ hoạt động, suy nghĩ, tên gọi, tính cách,..vv. vốn chỉ để miêu ta con người lại sử dụng để miêu tả đồ vật, con vật, sự vật, cây cối làm cho câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên sinh động, hấp dẫn, có hồn và thu hút bạn đọc hơn.

    Cách nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa là: Gọi sự vật, hiện tượng, cây cối , con vật,..bằng tên người như ông mặt trời, chị ong,..

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nhân hóa:

    • Dùng vốn từ để chỉ sự vật: Bác cối xay gió, Chị hoa mặt trời, chị gió, chị ong nâu nâu, Bác xe điện,..
    • Sử dụng các hoạt đống, tính chất của con người để chỉ sự vật:

    Ví dụ:

    ” Heo hút cồn mây súng ngửi trời”- Trích bài thơ “Tây tiến” – Quang Dũng’

    “Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ” – Sang Thu -Hữu Thỉnh

    “Sông Đuống trôi đi

    Một dòng lấp lánh

    Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” – Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm

      Vốn dĩ con người chỉ nói chuyện được với con người, nhưng thông qua biện pháp nhân hóa con người nói chuyện với con vật, đồ vật,..

    Ví dụ:

    “Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta” – Trích Ca dao

    3. Biện pháp tu từ ẩn dụ

    Biện pháp tu từ ẩn dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ tương đồng. Sử dụng biện pháp ẩn dụ làm cho bài văn, câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên hấp dẫn, gợi hình gợi cảm hơn cho người đọc.

    Có nhiều kiểu ẩn dụ khác nhau: Ẩn dụ hình thức, cách thức , phẩm chất, chuyển đổi cảm giác.

    Các kiểu biện pháp và lấy ví dụ:

      Ẩn dụ hình thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng về hình thức

    Ví dụ:

    ” Vân xem trang trọng khác vời

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”- Truyện Kiều – Nguyễn Du

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” – Truyện Kiều – Nguyễn Du

      Ẩn dụ cách thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng cách thức

    Ví dụ:

    “Vì lợi ích mười năm trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm trồng người” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác. Đây là đoạn trích vừa có ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức.

    ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    ” Không thầy đó mày làm nên”

      Ẩn dụ phẩm chất: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng phẩm chất

    Ví dụ:

    “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh.

    “Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” – Viếng Lăng Bác – Viễn Phương

    ” Người cha mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm” – Đêm nay Bác không ngủ – Nguyễn Huệ

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” – Ca dao

      Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : Đây là ẩn dụ cho người đọc có sự chuyển đổi cảm giá; chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

    Vì dụ:

    ” Bỗng nhận ra hương ổi

    Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ

    Hình như thu đã về” – Sang Thu – Hữu Thỉnh

    ” Cát lại vàng giòn

    Ánh nắng chảy đầy vai” – Những cánh buồm -Hoàng Trung Thông

    ” Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” – Khương Hữu Dụng

    “Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”- Đêm côn Sơn – Trần Đăng Khoa

    4. Biện pháp tu từ hoán dụ

    Biện pháp tu từ hoán dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật – hiện tượng này bằng một tên sự vật – hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ gần gũi, thân thiết để làm cho câu văn, bài thơ, đoạn văn, lời nói trở nên hấp dẫn hơn, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho người đọc, người nghe.

    Có 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ mà chúng ta thường gặp: Lấy bộ phận để chỉ toàn thể, lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng, lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    Ví dụ cho 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ:

      Ví dụ lấy bộ phận để chỉ toàn thể:

    ” Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” – Tục ngữ

    “Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” – Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông

    ” Một trái tim lớn đã từ giã cuộc đời

    Một khối óc lớn đã ngừng sống ” – Xuân Diệu

      Ví dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

    “Vì sao trái đất nặng ân tình,

    Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh” -Tố Hữu

      Ví dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

    ” Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” – Việt Bắc – Tố Hữu

    ” Sen tàn, cúc lại nở hoa

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” – Nguyễn Du

    ” Áo nâu cùng với áo xanh

    Nông thôn cùng với thành thị đứng lên” – Tố Hữu

      Ví dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

    ” Một cây làm chẳng nên non

    3 cây chụm lại nên hòn núi cao” -Ca dao

    ” Ngày Huế đổ máu

    Chú Hà Nội về

    Tình cờ chú cháu

    Gặp nhau hàng bè” – Tố Hữu

    5. Biện pháp tu từ nói quá( Phóng đại, cường điệu, khoa trương,..)

    Một số ví dụ về biện pháp thu từ nói quá:

    ” Ước gì sông rộng một gang

    Bắc cầu dải yếm đón chàng sang chơi” – Ca dao

    “Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

    Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi” – Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

    “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

    Gió lay như sóng biển tung trắng bờ” – Mẹ suốt – Tố Hữu

    “Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”- Việt Bắc – Tố Hữu

    6. Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là biện pháp sử dụng tu từ dùng trong diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác đau thương,ghê sợ, nặng nề, thô tục, thiếu lịch sự trong một hoàn cảnh nhất định nào đó trong đời sống, trong bài văn, bài thơ.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    “Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” – Khóc dương khuê – Nguyễn Khuyến.

    Hãy nói ” Anh ấy đã hi sinh anh dũng trên chiến trường” thay vì nói” Anh ấy đã chết trên chiến trường”

    “Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”- Bác ơi – Tố Hữu

    7. Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

    Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ là sử dụng biện pháp nhắc đi nhắc lại nhiều lần 1 cụm từ . Cụm từ này có tác dụng trong việc làm tăng cường điệu, gợi liên tưởng, cảm xúc diễn đạt của người nói, người viết đối với người đọc, người nghe.

    Điệp ngữ gồm có nhiều dạng khác nhau: Điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ vòng tròn.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp từ:

    “… Nhớ sao lớp học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” – Việt Bắc – Tố Hữu. Đây là một ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” – Truyện kiều – Nguyễn Du. Cũng là 1 ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’ – Trích Chinh phụ ngâm khúc. Sử dụng điệp ngữ vòng

    “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” – Điệp ngữ nối tiếp

    8. Biện pháp tu từ chơi chữ

    Biện pháp tu từ chơi chưa là biện pháp tu từ sử dụng các sắc thái về âm, về nghĩa của từ để tạo cho câu nói, đoạn văn, đoạn thơ trở nên dí dỏm, hấp dẫ và thú vị hơn người đọc, người nghe.

    Một số lối chơi chữ mà chúng ta thường gặp: Từ đồng âm, cách điệp âm, lối nói lái, lối nói trại âm, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ:

    ” Bà già đi chợ cầu Đông

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

    Thầy bói xem quẻ nói rằng,

    Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn” – Ca dao

    ” Không răng đi nữa cũng không răng,

    Chỉ có thua người một miếng ăn.

    Miễn được nguyên hàm nhai tóp tép,

    Không răng đi nữa cũng không răng” – Không răng- Tôn Thất Mỹ

    “Em đây là gái năm con,

    Chồng em rộng lượng, em còn chơi xuân” – Ca dao ( sử dụng lối chơi chữ đồng nghĩa)

    ” Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,

    Nở lòng nào chị chẳng cho'” – sử dụng lối chơi chữ nói lái.

    9. Biện pháp tu từ liệt kê

    Biện pháp tu từ liệt kê là cách sắp xếp các từ, cụm từ cùng loại nối tiếp nhau để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn về tư tưởng, tình cảm trong các đoạn văn, bài thơ, lời nói tạo sự gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn cho người đọc, người nghe.

    Một số kiểu liệt kê: Liệt kê tăng tiến, liệt kê không tăng tiến, liệt kê theo từng cặp

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ liệt kê:

    “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi, em đã sống!

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!” – Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý

    ” Nhà em nuôi rất nhiều con vật: Con mèo, con chó, con trâu, con bò, con lợn, con dê, con gà,..”

    “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên

    Chiến sĩ anh hùng

    Đầu nung lửa sắt

    Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

    Máu trộn bùn non

    Gan không núng

    Chí không mòn!” – Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu

    10. Biện pháp tu từ tương phản

    Biện pháp tu từ tương phản là cách cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

    Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

    Ra thế, to gan hơn béo bụng

    Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.

    Nguồn : Nhóm sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn năm 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Giảng Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu
  • Soạn Bài Thơ Số 28 Siêu Ngắn
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Cb Tiết 95: Đọc Văn Bài Thơ Tình Số 28
  • Phân Tích Bài Thơ Số 28 Của Ta
  • Phân Tích Bài Thơ Số 28 Trích Trong Tập Người Làm Vườn Của Ta
  • Nội Dung, Nghệ Thuật Biện Pháp Tu Từ Sử Dụng Trong Bài Thơ Thú Nhàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Hay Nhất
  • Tổng Hợp Các Bài Viết Về Bài Thơ “nhàn”
  • Bài Thơ Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
  • Phân Tích Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • Nhớ Rừng Của Thế Lữ Mượn Lời Con Hổ Bị Nhốt Trong Vườn Bách Thú Để Diễn Tả Sự Sâu Sắc Nỗi Chán Ghét Thực Tại Tầm Thường, Giả Dối Và Niềm Khao Khát Tự Do Một Cách Mãnh Liệt
  • Phân tích nội dung, nghệ thuật biện pháp tu từ sử dụng trong bài thơ Thú Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    Bài làm

    Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có học vấn uyên thâm, từng làm quan nhưng vì cảnh quan trường nhiều bất công nên ông đã cáo quan về ở ẩn; sống cuộc sống an nhàn, thanh thơi. Ông còn được biết đến là nhà thơ nổi tiếng với hai tập thơ tiếng Hán “Bạch Vân am thi tập” và tập thơ tiếng Nôm “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Bài thơ “Nhàn “được rút trong tập thơ “Bạch Vân am thi tập”. Bài thơ đựợc viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật, là tiếng lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về một cuộc sống nhiều niềm vui, an nhàn và thanh thản nơi đồng quê.

    Xuyên suốt bài thơ “Nhàn” là tâm hồn tràn ngập niềm vui và sự thanh tịnh trong tâm hồn tác giả. Có thể xem đây là điểm nhấn, là tinh thần chủ đạo của bài thơ. Chỉ với 8 câu thơ đường luật nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mang đến cho người đọc một cuộc sống an nhàn nơi đồng quê êm ả.

    Mở đầu bài thơ là hai câu thơ đề rất mộc mạc:

    Một mai một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    Với phép lăp “một”-“một” đã vẽ lên trước mắt người đọc một khung cảnh bình dị, đơn sơ nơi quê nghèo, dù một mình nhưng không hề đơn độc. Hai câu thơ toát lên sự thanh tịnh của tâm hồn và êm đềm của thiên nhiên ở vùng quê Bắc Bộ. “Một cuốc”, “một cần câu” gợi lên sự bình dị, mộc mạc của một người nông dân chất phác. Hình ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một lão nông an nhàn, thảnh thơi với thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn. Đây có thể nói là cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người ở thời kỳ phòng kiến ngày xưa nhưng không phải ai cũng có thể dứt bỏ được chốn quan trường về với đồng quê như thế này. Động từ “thơ thẩn” ở câu thơ thứ hai đã tạo nên nhịp điệu khoan thai, êm ái cho người đọc. Dù ngoai kia người ta vui vẻ nơi chốn đông người thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mặc kệ, vẫn bỏ mặc để “an phận” với cuộc sống của mình hiện tại. Cuộc sống của ông khiến nhiều người ngưỡng mộ.

    Đến hai câu thơ thực tiếp theo càng khắc họa rõ nét hơn chân dung của “lão nông Nguyễn Bỉnh Khiêm”.

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao

    Đây có thể xem là tuyên ngôn sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm những năm tháng sau khi cáo quan về ở ẩn. Ông tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ đến sống, nhưng đây là cái “dại” khiến nhiều người ghen tỵ và ngưỡng mộ. Ông rất khéo léo trong việc dùng từ ngữ độc đáo, lột tả được hết phong thái của ông. Ông bảo rằng những người chọn chốn quan trường là những người “khôn”. Một cách khen rất tinh tế, khen mà chê, cũng có thể là khen mình và chê người. Tứ thơ ở hai câu này hoàn toàn đối lập nhau từ ngôn ngữ đến dụng ý “dại” -“khôn”, “vắng vẻ” – “lao xao”. Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về nơi vắng vẻ để ở có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước hay không? Với thời thế như vậy giờ và với cốt cách của ông thì “nơi vắng vẻ” mới thực sự là nơi để ông sống đến suốt cuộc đời. Một cốt cách thanh cao, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ.

    Hai câu thơ luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

    Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

    Một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo”. Mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy không có sơn hào hải vị nhưng những thức ăn có sẵn này lại đậm đà hương vị quê nhà, khiến tác giả an phận và hài lòng. Mùa thu có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá. Chỉ với vài nét chấm phá Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất Bắc rất hào phòng, đầy đủ thức ăn. Đặc biệt câu thơ “Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vài đường nét nhẹ nhàng, đơn giản nhưng toát lên sự thanh tao không ai sánh được. Một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòa hợp nhau.

    Đến hai câu thơ kết dường như đúc kết được tinh thần, cốt cách cũng như suy nghĩ của Nguyễn Bình Khiêm:

    Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

    Hai câu thơ này là triết lý và sự đúc rút Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thời gian ở ẩn. Đối với một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như thế này thì thực sự phú quý không hề là giấc chiêm bao. Ông từng đỗ Trạng nguyên thì tiền bạc, của cải đối với ông thực ra mà nói không hề thiếu nhưng đó lại không phải là điều ông nghĩ đến và tham vọng. Với ông phú quý chỉ “tựa chiêm bao”, như một giấc mơ, khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết mà thôi. Có thể xem đây chính là cách nhìn nhận sâu sắc, đầy triết lý nhất. Với một con người thanh tao và ưa sống an nhàn thì phú quý chỉ như hư vô mà thôi, ông yêu nước nhưng yêu theo một cách thầm lặng nhất. Cách so sánh độc đáo đã mang đến cho hai câu kết một tứ thơ hoàn hảo nhất.

    Như vậy với 8 câu thơ, bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt cách, tinh thần và phong thái của ông. Là một người yêu nước, thích sự thanh bình và coi trọng cốt cách xứng đáng là tấm gương đáng học hỏi. Bài thơ đường luật kết cấu chặt chẽ, tứ thơ đơn giản nhưng hàm ý sâu xa đã làm toát lên tâm hồn và cốt cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cho đến bây giờ, ông vẫn được rất nhiều người ngưỡng mộ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Nghĩ Về Bài Thơ “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Suy Nghĩ Về Bài Thơ Nhàn
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Cực Hay
  • Vẻ Đẹp Lối Sống Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ Nhàn
  • Triết Lý Nhân Sinh Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ “nhàn”
  • Soạn Văn Bài 28: Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Đọc Thêm Văn Bản: Bài Thơ Số 28 (Ta
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Số 28 Của Ta
  • Soạn Bài Lớp 11: Bài Thơ Số 28
  • Soạn Bài Bài Thơ Số 28 Của Tago
  • Một Số Bài Cảm Thụ Văn Học Tham Khảo Lớp 3
  • Việc sử dụng biện pháp tu từ trong xác lập văn bản có ý nghĩa vô cùng quan trọng, mang lại hiệu quả nghệ thuật cao. Bài học ngày hôm nay chúng ta sẽ thực hành vận dụng những biện pháp tu từ trong việc xây dựng văn bản.

    I. PHÉP LẶP CÚ PHÁP

    Câu 1. Đọc đoạn văn a và đoạn thơ b trong SGK xác định những câu nào có phép lặp cú pháp? Kết cấu cú pháp nào được lặp lại? Tác dụng (hiệu quả nghệ thuật) như thế nào?

    a. những câu lặp cú pháp trong đoạn a là: câu 1-3, 4-5

    – cấu trúc được lặp lại là:

    + Sự thật là…. CN + Vn + BT1 + chứ không phảo + BT2

    + Dân ta (đã/lại) đánh đổ + BT1 + đề + BT2

    – Hiệu quả nghệ thuật: nhấn mạnh, tô đậm tính khẳng định; giúp cho lời văn hài hoà, nhịp nhàng, bổ sung cho nhau.

    b. Những câu lặp cú pháp trong đoạn thơ b là:

    – Câu 1 và 2: CN – đây – là của chúng ta

    – Câu 3, 4, 5: Những – DT – Định tố Tác dụng: nhấn mạnh và khẳng định.

    c. Trong đoạn thơ c, cấu trúc câu được lặp lại là: Nhớ sao – BT

    Tác dụng: nhấn mạnh nỗi nhớ và kỉ niệm.

    Câu 2. So sánh bài tập 1 và bài tập 2 để chỉ ra điểm giống và khác nhau về hiện tượng lặp cú pháp.

    – Giống nhau: lặp lại cấu trúc một câu, một vế, tạo sự đăng đối, nhịp nhàng, cân xứng.

    – Khác nhau: các ví trụ trong BT1 lặp cú pháp trong các câu (hoặc các dòng thơ) khác nhau: Trong BT2 lặp cú pháp ngay trong một câu, tạo sự đối lập, cân xứng giữa các vế trong câu.

    Câu 3. Tìm ba câu văn hoặc thơ có dùng phép lặp cú pháp trong SGK Ngữ văn lớp 12. Phân tích tác dụng của phép lặp đó.

    Ví dụ:

    a. Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng

    Con cởi áo liệm thân cho bố.

    (Dọn về làng, Nông Quốc Chân)

    Phép lặp cú pháp kết hợp với phép liệt kê góp phần thể hiện sâu sắc nỗi đau, nỗi bất hạnh của gia đình dưới sự xâm lặng, giày xéo của thực dân Pháp.

    b. Con nhớ anh con, người anh du kích…

    Con nhớ em con, thằng em liên lạc

    (Chế Lan Viên)

    Phép lặp cú pháp góp phần thể hiện nỗi nhớ da diết, tràn ra như bất tận của chủ thể trữ tình khi nhớ về Tây Bắc.

    (Tương tự hai ví dụ trên, HS từ tìm thêm và phân tích),

    II. PHÉP LIỆT KÊ

    Phân tích hiệu quả của phép lặp cú pháp phối hợp với phép liệt kê trong 2 đoạn văn a và b (SGK).

    – Điểm chung: Phép lặp cú pháp phối hợp với phép liệt kê trong hai đoạn văn tạo ra hiệu quả:

    + Lời văn nhịp nhàng, cân xứng.

    + Nêu được những biểu hiện cụ thể, sự nối tiếp liên tục tạo sức lôi cuốn, hấp dẫn.

    – Điểm riêng:

    a. Đoạn văn trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn: kết hợp phép lặp với phép liệt kê để bày tỏ nỗi lòng của mình nhằm động viên khích lệ tướng sĩ dốc lòng học tập binh thư, đoàn kết một lòng đánh giặc, bảo vệ đất nước. Tác giả đã liệt kê nhiều sự việc: cho áo, cho cơm, thăng chức, cấp bổng, cho thuyền, cho ngựa, cùng nhau sống chết, cùng nhau vui cười khiến cho giọng văn nhiệt tình, truyền cảm, có tác dụng thuyết phục người nghe.

    b. Đoạn văn trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh: lên án và tố cá tội ác về chính trị của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Lời lẽ hù biện, giọng văn đanh thép chính là nhờ người viết đã sử dụng thành cô phép lặp cú pháp kết hợp phép liệt kê. Những tội ác của thực dân Pháp được kể ra dồn dập, liên tiếp, từ luật pháp dã man đến việc lập nhà nhiều hơn trường học, việc thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta, việc tắm của các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu, việc thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm nòi giống ta suy nhược… Tất cả không chỉ tố cáo, vạch mặt kẻ thù một cách rõ ràng, đanh thép mà còn truyền tới người đọc (người nghe lòng căm thù cao độ và sâu sắc. Có thể thấy sự kết hợp giữa phép lặp pháp và phép liệt kê qua mô hình sau:

    Chúng – tội ác

    III. PHÉP CHÊM XEN

    Câu 1. Phân tích các bộ phận in đậm trong ba ngữ liệu SGK, và nhận xét về:

    – Vị trí và vai trò ngữ pháp trong câu

    – Dấu câu tách biệt bộ phận đó

    – Tác dụng đối với việc bổ sung thông tin, tình cảm

    HS phân tích cụ thể từng đoạn văn để thấy điểm riêng của từng văn bản, chú ý trên cơ sở những điểm chung sau:

    – Vị trí nằm giữa hoặc cuối câu.

    – Vai trò ngữ pháp: chú giải (phụ chú)

    – Đặt trong dấu ngoặc đơn hoặc ngoặc kép nếu lấy dữ liệu trong văn bản

    nào đó.

    – Nói thêm việc bổ sung thông tin, bộc lộ một thái độ, cảm xúc.

    Câu 2. Viết đoạn văn từ 3 – 5 câu theo yêu cầu như trong SGK.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học
  • Bình Giảng Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu
  • Soạn Bài Thơ Số 28 Siêu Ngắn
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Cb Tiết 95: Đọc Văn Bài Thơ Tình Số 28
  • Phân Tích Bài Thơ Số 28 Của Ta
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Bài Thơ Sau: Cảnh Khuya (Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Cảm Nhận Của Em Về Vẻ Đẹp Của Ánh Trăng Và Tâm Hồn Của Bác Qua 2 Bài Thơ Cảnh Khuya Và Rằm Tháng Giêng
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Cảnh Khuya Của Hồ Chí Minh
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Cảnh Khuya Của Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Bài Thơ “con Cò Mà Đi Ăn Đêm”
  • Phân Tích Bài Thơ Con Cò Đi Ăn Đêm
  • Hồ Chí Minh là một lãnh tụ cách mạng thiên tài của dân tộc nhưng đồng thời, Người cũng là một nhà thơ sánh vai cùng những thi nhân của Đông Tây kim cổ. Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ của dân tộc, bên cạnh những chủ trương, chiến lược đánh đuổi giặc tài tình, Người còn có những vần thơ khiến lòng người rung động. “Cảnh khuya” là một thi phẩm trong số ấy:

    Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

    Bài thơ ra đời giữa lúc cuộc kháng chiến của dân tộc ta đang hồi gay go, quyết liệt: năm 1947. Trên chiến khu Việt Bắc, sau những giờ phút mỏi mệt, trong cảnh đêm của núi rừng, Người bồi hồi xúc động trước cảnh đêm khuya êm ái. Điều đầu tiên Bác cảm nhận được nơi thiên nhiên hoang sơ là tiếng suối róc rách tuôn theo dòng chảy:

    Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Lối so sánh của Bác thật kì lạ! Tiếng suối vốn được cảm nhận bằng thính giác nhưng nghe tiếng suối Người cảm nhận được độ “trong” của dòng chảy. Dòng suối ấy hẳn rất ngọt lành, trong mát, đó hẳn cũng là thứ quà riêng mà thiên nhiên núi rừng ban tặng riêng cho những người chiến sĩ trên đường hành quân xa xôi mệt mỏi. Chẳng những vậy, tiếng suối trong nhưng là “trong như tiếng hát xa”. “Tiếng hát xa” là thứ âm thanh rất đặc biệt. Đó phải là tiếng hát rất cao để có sức lan toả mạnh mẽ, để từ xa con người vẫn có thể cảm nhận được. Đó cũng là tiếng hát vang lên trong thời khắc yên lặng bởi nếu không, nó sẽ bị lẫn vào biết bao âm thanh phức tạp của sự sống, liệu từ xa, con người còn có thể cảm nhận được? Điều thú vị trong câu thơ của Bác Hồ là một âm thanh của tự nhiên được so sánh với tiếng hát của con người. Điều đó thể hiện cảm hứng nhân vãn sâu sắc trong những vần thơ của Bác.

    Cảnh đêm khuya hẳn trong trẻo, tĩnh lặng đến nhường nào Người mới có thế lắng nghe được tiếng suối long lanh ấy. Điều này không khó hiểu bởi không gian núi rừng thường được bao phủ bởi nhịều âm thanh phong phú: tiếng chim kêu, tiếng gió thổi, tiếng cây rừng xao xác tiếng muông thú gọi bầy… Trong bài thơ “Cảnh rừng Việt Bắc”, Bác đã từng viết:

    “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Vượn hót chim kêu suốt cả ngày”.

    Vậy thì có lẽ, đây là chút yên ả hiếm hoi của thiên nhiên núi rừng vào thời khắc đêm khuya. Thiên nhiên yên tĩnh nhưng cũng là tâm hồn con người yên tĩnh, thanh thản hoà mình vào vẻ đẹp của tự nhiên. Thiên nhiên vào giây phút ấy thật hữu tình biết mấy:

    Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

    Hai từ “lồng” cùng nằm trong một câu thơ tạo những ấn tượng rất đặc biệt. “Lồng” là dộng từ chỉ việc các vật nằm vào trong một cách thặt khớp để tạo thành một chỉnh thể. Câu thơ hữu tình như một bức tranh duyên: ánh trăng mênh mông toả sáng bao trùm lên cây cổ thụ, bóng cây cổ thụ lại dịu dàng phủ mình lên những nhành hoa. Bác dùng từ “lồng” rất “đắt”, nó trở thành “nhãn tự” cho câu thơ. Chỉ với một từ ấy, cảnh vật như đang giao hoà, nương dựa vào nhau một cách duyên dáng, đáng yêu. Đôi mắt người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh thật hữu tình, bác ái.

    Cảnh khuya sống động, có hồn bao nhiêu càng chứng tỏ một điều: người thưởng cảnh đang xa rời giấc ngủ yên bình thường nhật. Bởi vậy nên:

    Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

    Cảnh khuya trong trẻo, tĩnh lặng càng làm nổi bật hình ảnh Bác Hồ thao thức không yên trong đêm vắng. Người hoà mình vào thiên nhiên để cất tiếng thơ ngợi ca thiên nhiên núi rừng song đó chỉ là giây phút phiêu du vào mây gió còn tâm hồn người thực sự đang gửi gắm ở một chân trời khác: Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Câu thơ vang lên như một sự bừng tỉnh cho người đọc. Ta cứ ngỡ Bác đang thảnh thơi thương cảnh chơi trăng nhưng kì thực tấm lòng người vẫn đau đáu cho nỗi niềm non nước. Bác “chưa ngủ” vì một lẽ rất Hồ Chí Minh: “vì lo nỗi nước nhà”. Nói vậy bởi Bác đã có nhiều đêm không ngủ, nhiều đêm trở trăn vì cuộc kháng chiến của dân tộc:

    “Một canh, hai canh, lại ba canh Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng lành Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”.

    Vậy là, dù có tạm để lòng mình hướng đến cảnh vật xung quanh (một lời hỏi thăm người bạn muôn đời của thi nhân kim cổ) tâm hồn Bác vẫn luôn dành trọn tâm tình cho non sông, dân tộc. Và nói như nhà thơ Minh Huệ:

    “Đêm nay Bác ngồi đó Đêm nay Bác không ngủ Vì một lẽ thường tình Bác là Hồ Chí Minh”

    Bài thơ khép lại với bao dư âm mênh mang lan toả. Đã hơn một lần chúng ta xúc động trước tấm lòng cao cả, bác ái của Bác Hồ nhưng mỗi lần đọc lại “Cảnh khuya” ta lại bồi hồi với những tâm tình của một người mà cả cuộc đời chưa bao giờ nghỉ ngơi, chưa bao giờ an mình trong giấc ngủ.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Cảnh Khuya
  • Chứng Minh Bài Thơ Cảnh Khuya, Khi Con Tu Hú, Quê Hương Biểu Hiện Tình Cảm Của Nhà Thơ Đối Với Quê Hương Đất Nước
  • Bài Văn Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Cảnh Khuya
  • Trình Bày Cảm Nhận Về Bài Thơ Cảnh Khuya Của Hồ Chí Minh
  • Soạn Bài Cảnh Khuya Của Hồ Chí Minh Lớp 7
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7 Hồ Xuân Hương
  • Phân Tích Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Soạn Bài: Bánh Trôi Nước
  • Bánh Trôi Nước/ Thơ Hồ Xuân Hương/ Ngân Triều Chú Giải
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là bài thơ rất hay trong chương trình lớp 7, trong bài này sử dụng những biện pháp nghệ thuật, tu từ, xem bên dưới để biết tác giả đã sử dụng chúng hiệu quả như thế nào.

    Tác giả – Tác phẩm

    Hồ Xuân Hương, sống ở khoảng cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19. Bà được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm” với những bài thơ Nôm viết về người phụ nữ nổi tiếng. Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam với những giá trị cho đến tận ngày nay. Cuộc đời Hồ Xuân Hương trải qua nhiều thăng trầm, sống ở thời kì Lê mạt – Nguyễn Sơ, đây được coi là giai đoạn với nhiều biến động trong xã hội. Tuy nhiên, dù ở thời kì cuối phong kiến bà vẫn có cuộc sống êm đềm ở chốn phồn hoa – cổ Nguyệt đường ven Tây hồ. Bà là một người phụ nữ thông minh, tài giỏi, có thiên phú về thơ ca đồng thời cũng hiểu biết rộng và giao du với nhiều nhà thơ, nhà văn lúc bấy giờ. Tuy nhiên trong con đường tình duyên, bà lại không mấy suôn sẻ, đều làm lẽ qua hai đời chồng và hạnh phúc cũng ngắn ngủi.

    Các sáng tác của Hồ Xuân Hương luôn để lại những giá trị ý nghĩa sâu sắc. Các đề tài luôn xoay quanh tình yêu gia đình, quê hương, đất nước. Tuy nhiên khi nhắc đến thơ Nôm không thể không nhắc tới những bài thơ viết về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Có thể nói thơ Hồ Xuân Hương khi viết về người phụ nữ cũng chính là tiếng lòng của bà, tiếc thay cho thân phận chính mình. Trong đó vừa có sự hóm hỉnh, sâu cay vừa có gì đó xót xa, từng trải nhưng không kém phần ngạo nghễ. Các tập thơ nổi tiếng như “Xuân Hương thi tập”, “Lưu hương ký”…

    -Hoàn cảnh sáng tác bài “Bánh trôi nước”: là một người phụ nữ sống trong thời kì phong kiến, bà tiếp xúc với nhiều người dân lao động nghèo, đặc biệt là những người phụ nữ bị áp bức bất công. Trong xã hội đó luôn đề cao tinh thần trọng nam khinh nữ, chế độ đa thê đa thiếp khiến cho người phụ nữ bị rè rúng, sống cuộc đời bị hắt hủi, đau thương. Chính vì thương thay cho số phận bất hạnh của những người phụ nữ đó bà đã chiêm nghiệm và viết nên bài “Bánh trôi nước”.

    Giá trị nội dung

    Bài thơ “Bánh trôi nước” có giá trị nội dung, ý nghĩa sâu sắc. Thông qua hình ảnh chiếc bánh trôi với nhiều tầng nghĩa, được miêu tả thực, Hồ Xuân Hương đã làm hiện rõ hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.

    Bài thơ là tiếng lòng cảm thông, xót xa không chỉ cho thân phận người phụ nữ mà còn là cho chính bản thân mình. Sống ở thời kì mà xã hội không có chỗ cho người phụ nữ lên tiếng nên bà chỉ còn cách gửi gắm nỗi lòng vào những vần thơ. Thân phận người phụ nữ hiện lên với những bất hạnh, khổ đau, lênh đênh, lận đận không thể làm chủ cho chính mình. Song người con gái ấy vẫn một lòng son sắt, thủy chung. Vẻ đẹp đó thật đáng ngợi ca.

    Biện pháp nghệ thuật sử dụng trong bài Bánh trôi nước

    Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ Bánh trôi nước gồm có:

    -Ẩn dụ: tác giả mượn hình ảnh bánh trôi nước để nói về thân phận của những người con gái xưa dù tài hoa, xinh đẹp trong xã hội xưa mà số phận lênh đênh trôi nổi, số phận của họ lại bị phụ thuộc vào những kẻ khác.

    -Thành ngữ: “bảy nổi ba chìm” mục đích để nói về cuộc đời đầy lận đận, bấp bênh của những người phụ nữ của những kiếp hồng nhan bạc phận của phụ nữ xưa.

    – Điệp từ sử dụng từ “vừa” trong câu “thân em vừa trắng lại vừa tròn” nói lên những người phụ nữ xưa đều rất tài giỏi và xinh đẹp.

    Dàn ý phân tích tác phẩm

    -Hình ảnh bánh trôi nước:

    + Bánh trôi nước là loại bánh nổi tiếng của miền bắc. Hình dáng bên ngoài: trắng, tròn.

    +Cách làm bánh: Lớp bên ngoài là lớp vỏ bánh được nặn tròn, nhân bên trong màu đỏ. Luộc bánh để qua mấy lần chìm nổi thì mới chín và ngon. Khi nặn bánh độ tròn méo như nào phụ thuộc vào tay người nặn. Khi chín vỏ bánh mềm và nhân bên trong vẫn không hề bị méo.

    -Hình ảnh người phụ nữ:

    + Cách dùng: thông qua hình ảnh bánh trôi nước để liên hệ đến thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

    + Hình ảnh bên ngoài của bánh trắng tròn đại diện cho vẻ đẹp hình thức của người con gái. Hình ảnh “bảy nổi ba chìm” chỉ số phận của họ lênh đênh lận đận. “Rắn nát” hay hạnh phúc đều phụ thuộc vào tay người đàn ông trong xã hội.

    Các em theo dõi bên dưới để tìm kiếm thêm nhiều bài soạn văn cũng như một số bài văn mẫu hay trong chương trình Ngữ Văn Lớp 7. Chúc các em học tốt Ngữ Văn 7.

    ” Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7
  • Bài Viết Tuyên Truyền Về Thực Hiện An Toàn Giao Thông
  • Top 10 Bài Văn Viết Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Viết Bài Văn Nghị Luận Về An Toàn Giao Thông
  • Viết Đoạn Văn Ngắn Về An Toàn Giao Thông
  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác.

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Hình Ảnh Ẩn Dụ Trong Bài Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Top 5 Mở Bài Kết Bài Viếng Lăng Bác Hay Nhất
  • Mở Bài Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Kết Bài Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương được sáng tác trong không khí xúc động của nhân dân cả nước trước sự kiện to lớn là lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Là một thành viên trong đoàn đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, nhà thơ được vào lăng viếng Bác. Tình cảm yêu thương, kính phục cùng nỗi tiếc thương vô hạn vị lãnh tụ anh minh – Người Cha già vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã trở thành nguồn thi hứng dạt dào, thôi thúc Viễn Phương viết nên bài thơ được đánh giá là một trong những bài thơ hay nhất về Bác Hồ.

    Cảm hứng bao trùm bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác. Cảm hứng ấy chi phối giọng điệu và âm hưởng chung của toàn bài. Nhà thơ đã đem hết tâm huyết của mình để quan sát, chọn lọc và sáng tạo ra những hình ảnh có tính chất tượng trưng sâu sắc để thể hiện phẩm chất cao quý tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ hình ảnh quen thuộc là hàng tre xanh xanh san sát bên nhau dọc lối vào lăng – biểu tượng của sức sống bền bỉ, dẻo dai, kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, đến những hình ảnh giàu ý nghĩa triết lí như “mặt trời, vầng trăng, trời xanh” trong và quanh lăng Bác.

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    Mặt trời trong câu thơ trên là hình ảnh thực của vầng thái dương ngày ngày tỏa ánh sáng ấm áp xuống mặt đất – duy trì sự sống cho muôn loài. Mặt trời trong câu thơ dưới là một ẩn dụ nghệ thuật đẹp đẽ và đầy sáng tạo của nhà thơ, thể hiện tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với Bác Hồ – Người đốt ngọn đuốc giữa đêm trường thực dân phong kiến, dẫn đường chỉ lối cho dân tộc đứng lên thực hiện cuộc cách mạng giải phóng rung trời chuyển đất, làm nên chiến thắng vinh quang, khẳng định tên tuổi Việt Nam trước toàn thế giới. Bác Hồ mãi mãi là vầng mặt trời soi sáng và sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc ta trên con đường đi tới tương lai.

    Trong khổ thơ thứ ba có một ẩn dụ nghệ thuật mang một vẻ đẹp khác một ý nghĩa khác:

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    Câu thơ diễn tả tinh tế không khí yên tĩnh, trang nghiêm và ánh sáng dịu nhẹ trong lăng Bác. Hình ảnh vầng trăng gợi người đọc liên tưởng đến tâm hồn thanh cao cùng đời sống giản dị, trong sáng, thuần khiết của Bác. Đồng thời, nó cũng gợi cho chúng ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng mà thi sĩ Hồ Chí Minh sáng tác trong hoàn cảnh tù đày hoặc trong kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược. Suốt đời, Bác coi trăng là bạn tri âm, tri kỉ. Giờ đây, Bác đã an giấc ngàn thu, giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.

    Để thể hiện tâm trạng xúc động của mình, nhà thơ Viễn Phương đã mượn hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa sâu xa:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    Sinh tử là quy luật của Tạo hóa, không ai tránh khỏi. Bác Hồ của chúng ta cũng đã giã biệt cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân để đi vào cõi vĩnh hằng. Tuy vậy, trong lòng mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ đời đời sống mãi. Nhà thơ cũng như cả dân tộc nhận thức rõ điều đó nhưng vẫn không tránh khỏi niềm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Bác. Bác đã hóa thân thành trời xanh – bầu trời hòa bình, hạnh phúc – vẫn hằng ngày hiện diện trong cuộc sống của dân tộc và nhân loại.

    Viếng lăng Bác là một bài thơ thành công cả về nội dung và nghệ thuật, được nhiều người yêu thích, trân trọng bởi tác giả đã nói lên tấm lòng thành kính và biết ơn của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Cũng với cảm xúc và suy ngẫm giống như Viễn Phương, nhà thơ Tố Hữu đã viết: Bác sống như trời đất của ta. Sự nghiệp cách mạng cùng đời sống tinh thần cao cả của Người đã trở thành bất tử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Hình Ảnh Ẩn Dụ (Mặt Trời, Vầng Trăng, Trời Xanh…) Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Trình Bày Cảm Nhận Khổ 3 Bài Viếng Lăng Bác Của Nhà Thơ Viễn Phương
  • Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Tác Giả Viễn Phương
  • Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Soạn Bài: Viếng Lăng Bác Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Cảm Nhận Của Em Về Những Cảm Xúc Của Nhà Thơ Viễn Phương Qua Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Trung Tâm Tìm Gia Sư Giỏi Tphcm Cảm Nhận Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Phân Tích Bài Thơ: Viếng Lăng Bác
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Tác Giả Viễn Phương
  • Đề bài: Những hình ảnh ẩn dụ (mặt trời, vầng trăng, trời xanh,…) trong bài thơ Viếng lăng Bác đã có tác dụng như thế nào trong việc biểu hiện tình cảm, cảm xúc của nhà thơ Viễn Phương và của mọi người đối với Bác Hồ?

    Bài làm

    Bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương được sáng tác trong không khí xúc động của nhân dân cả nước trước sự kiện to lớn là lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Là một thành viên trong đoàn đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, nhà thơ được vào lăng viếng Bác. Tình cảm yêu thương, kính phục cùng nỗi tiếc thương vô hạn vị lãnh tụ anh minh – Người Cha già vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã trở thành nguồn thi hứng dạt dào, thôi thúc Viễn Phương viết nên bài thơ được đánh giá là một trong những bài thơ hay nhất về Bác Hồ.

    Cảm hứng bao trùm bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác. Cảm hứng ấy chi phối giọng điệu và âm hưởng chung của toàn bài. Nhà thơ đã đem hết tâm huyết của mình để quan sát, chọn lọc và sáng tạo ra những hình ảnh có tính chất tượng trưng sâu sắc để thể hiện phẩm chất cao quý tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ hình ảnh quen thuộc là hàng tre xanh xanh san sát bên nhau dọc lối vào lăng – biểu tượng của sức sống bền bỉ, dẻo dai, kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, đến những hình ảnh giàu ý nghĩa triết lí như “mặt trời, vầng trăng, trời xanh” trong và quanh lăng Bác.

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    Mặt trời trong câu thơ trên là hình ảnh thực của vầng thái dương ngày ngày tỏa ánh sáng ấm áp xuống mặt đất – duy trì sự sống cho muôn loài. Mặt trời trong câu thơ dưới là một ẩn dụ nghệ thuật đẹp đẽ và đầy sáng tạo của nhà thơ, thể hiện tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với Bác Hồ – Người đốt ngọn đuốc giữa đêm trường thực dân phong kiến, dẫn đường chỉ lối cho dân tộc đứng lên thực hiện cuộc cách mạng giải phóng rung trời chuyển đất, làm nên chiến thắng vinh quang, khẳng định tên tuổi Việt Nam trước toàn thế giới. Bác Hồ mãi mãi là vầng mặt trời soi sáng và sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc ta trên con đường đi tới tương lai.

    Trong khổ thơ thứ ba có một ẩn dụ nghệ thuật mang một vẻ đẹp khác một ý nghĩa khác:

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    Câu thơ diễn tả tinh tế không khí yên tĩnh, trang nghiêm và ánh sáng dịu nhẹ trong lăng Bác. Hình ảnh vầng trăng gợi người đọc liên tưởng đến tâm hồn thanh cao cùng đời sống giản dị, trong sáng, thuần khiết của Bác. Đồng thời, nó cũng gợi cho chúng ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng mà thi sĩ Hồ Chí Minh sáng tác trong hoàn cảnh tù đày hoặc trong kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược. Suốt đời, Bác coi trăng là bạn tri âm, tri kỉ. Giờ đây, Bác đã an giấc ngàn thu, giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.

    Để thể hiện tâm trạng xúc động của mình, nhà thơ Viễn Phương đã mượn hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa sâu xa:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    Sinh tử là quy luật của Tạo hóa, không ai tránh khỏi. Bác Hồ của chúng ta cũng đã giã biệt cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân để đi vào cõi vĩnh hằng. Tuy vậy, trong lòng mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ đời đời sống mãi. Nhà thơ cũng như cả dân tộc nhận thức rõ điều đó nhưng vẫn không tránh khỏi niềm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Bác. Bác đã hóa thân thành trời xanh – bầu trời hòa bình, hạnh phúc – vẫn hằng ngày hiện diện trong cuộc sống của dân tộc và nhân loại.

    Viếng lăng Bác là một bài thơ thành công cả về nội dung và nghệ thuật, được nhiều người yêu thích, trân trọng bởi tác giả đã nói lên tấm lòng thành kính và biết ơn của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Cũng với cảm xúc và suy ngẫm giống như Viễn Phương, nhà thơ Tố Hữu đã viết: Bác sống như trời đất của ta. Sự nghiệp cách mạng cùng đời sống tinh thần cao cả của Người đã trở thành bất tử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ “viếng Lăng Bác”
  • Nội Dung, Đặc Sắc Nghệ Thuật Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Các Dạng Đề Bài Thơ: Viếng Lăng Bác
  • Em Hãy Phân Tích Bài Thơ “viếng Lăng Bác” Của Nhà Thơ Viễn Phương
  • Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Đọc Và Cảm Thụ Bài Thơ “mẹ Ốm”

    --- Bài mới hơn ---

  • Bình Thơ Bài Thơ Mẹ Ốm Của Trần Đăng Khoa
  • Lqvh Dạy Trẻ Đọc Thơ: Mười Quả Trứng Tròn Của Phạm Hổ
  • Soạn Bài Nhàn Ngữ Văn Lớp 10
  • Top 10 Những Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9 Chọn Lọc
  • Top 9 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm Lớp 10 Chọn Lọc
  • Mẹ ốm

    Mọi hôm mẹ thích vui chơi

    Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu

    Lá trầu khô giữa cơi trầu

    Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay

    Cánh màn khép lỏng cả ngày

    Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa

    Nắng mưa từ những ngày xưa

    Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan

    Khắp người đau buốt nóng ran

    Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm

    Người cho trứng, người cho cam

    Và anh y sỹ đã mang thuốc vào

    Sáng nay trời đổ mưa rào

    Nắng trong trái chín ngọt ngào đưa hương

    Cả đời đi gió về sương

    Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi

    Mẹ vui con có quản gì

    Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca

    Rồi con diễn kịch giữa nhà

    Một mình con sắm cả ba vai chèo

    Vì con, mẹ khổ đủ điều

    Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn

    Con mong mẹ khỏe dần dần

    Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say

    Rồi ra đọc sách cấy cày

    Mẹ là đất nước, tháng ngày của con…

    Trần Đăng Khoa

    ” Mẹ ốm” là bài thơ lục bát của Trần Đăng Khoa đọc lên nghe thật cảm động. Bài thơ là tấm lòng ân tình sâu nặng, là tình thương mẹ thiết tha của đứa con thơ giàu lòng hiếu thảo đối với mẹ hiền.

    Mọi hôm, mẹ thích vui cười. Mẹ vẫn thích ăn trầu và đọc Kiều. Thế mà hôm nay, mẹ bị ốm, mẹ chẳng nói cười được nữa. Lá trầu, trang Kiều cũng trở nên cô đơn buồn thương:

    “Lá trầu khô giữa cơi trầu

    Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay”

    Mẹ nằm liệt giường, liệt chiếu. Ruộng vườn nhớ mong mẹ sớm trưa:

    Cánh màn khép lỏng cả ngày

    Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa

    Con thương mẹ ngã bệnh ” đau buốt, nóng ran”. Bà con xóm làng, anh y sĩ…tất cả đến thăm hỏi ân cần chăm sóc. Tình nghĩa anh em bà con như bát nước đầy:

    Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm

    Người cho trứng, người cho cam

    Và anh y sỹ đã mang thuốc vào

    Đứa con khi nhìn mẹ ” lần giường tập đi” mà thương mẹ, người mẹ tần tảo, vất vả cả đời đi gió về sương, người mẹ đã dành tất cả cho đàn con thơ:

    Vì con, mẹ khổ đủ điều

    Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn.

    Thương mẹ ốm đau, đứa con thơ chỉ cầu mong:

    Con mong mẹ khỏe dần dần

    Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say

    Với con thơ, mẹ là cuộc đời, mẹ là hạnh phúc, mẹ là quê hương đất nước của con. Biết bao yêu mến, biết ơn và tự hào về mẹ:

    Mẹ là đất nước tháng ngày của con

    Có tấm lòng nào bao la bằng tấm lòng của mẹ hiền? Có tình thương nào tha thiết, sâu nặng bằng tình con thương mẹ/ Bài thơ “Mẹ ốm” của Trần Đăng Khoa cho ta cảm thấy sâu sắc hơn tình mẫu tử ở đời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Tập Đọc 4: Mẹ Ốm
  • Bài Văn Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em Về Người Mẹ Thân Yêu.
  • Bài Văn Cảm Nghĩ Nụ Cười Của Mẹ
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Mẹ Của Em
  • Bài Văn Cảm Nghĩ Của Em Về Mẹ
  • Bài Thơ “mẹ Ốm” Của Trần Đăng Khoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Mẹ Ốm Trần Đăng Khoa
  • Phân Tích Bài Thơ “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đạt 9 Điểm
  • Lời Bài Thơ Nhớ Rừng (Thế Lữ)
  • Phân Tích Nội Dung Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • Trần Đăng Khoa nổi tiếng là một thần đồng về thơ khi đang còn học lớp ba trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của Khoa trong sáng giản dị mà dạt dào cảm xúc, đầy tình yêu thương con người và thiết tha yêu quê hương đất nước. Biết bao em nhỏ Việt Nam yêu thích những bài thơ của Khoa viết và bài thơ “Mẹ ốm” cũng vậy.

    Mẹ ốm Cánh màn khép lỏng cả ngày Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan. Khắp người đau buốt, nóng ran Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào. Sáng nay trời đổ mưa rào Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương Cả đời đi gió đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi. Mẹ vui con có quản gì Ngâm thơ kể chuyện, rồi thì múa ca Rồi con diễn kịch giữa nhà Một mình con sắm cả ba vai chèo. Vì con, mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say. Rồi ra đọc sách, cấy cày Mẹ là đất nước, tháng ngày của con… Trần Đăng Khoa

    Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả cảnh mẹ ốm bằng hình ảnh so sánh:

    “Mọi hôm mẹ thích vui chơi. Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”

    Thường ngày mẹ hay ăn trầu, đôi má lúc nào cũng đỏ hồng lên. Thế mà hôm nay mọi cảnh vật trong nhà thật buồn bã. Lá trầu cũng như lặng đi và héo khô trong cơi trầu. Những lúc rỗi rãi mẹ thường ngâm nga Truyện Kiều, giờ mẹ bị ốm nên “Truyện Kiều gấp lại trên đầu…”.

    Mẹ vốn là người lam làm tần tảo. Khi mẹ ốm thì “Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa”. Cả cuộc đời mẹ vất vả gian nan nay bị ốm, tác giả đã cảm nhận được và thể hiện qua hình ảnh:

    “Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”.

    Tác giả – một em thiếu niên 10 tuổi đã liên tưởng từ hình ảnh “nắng mưa” mà thấy được sự vất vả, những thăng trầm của cuộc sống mà người mẹ đã phải trải qua. Vì vậy mà tác giả như hiểu được người mẹ đang phải chịu sự “đau buốt, nóng ran” khi bị ốm.

    Rồi tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm của mọi người tới mẹ cũng được nhà thơ thể hiện rất mộc mạc, giản dị mà thắm đượm tình người:

    “Mẹ ơi, cô bác xóm làng đến thăm. Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào”.

    Điều đó chứng tỏ rằng, hàng ngày mẹ sống tốt với mọi người nên khi mẹ ốm mọi người quý mến và thương cảm tới mẹ. Còn nhà thơ – em bé thiếu niên Trần Đăng Khoa bấy giờ đã thấu hiểu nỗi vất vả cực nhọc của mẹ trong cuộc sống lam lũ mà em đã từng chứng kiến và cảm nhận được:

    “Cả đời đi gió, đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”.

    “Cả đời đi gió đi sương” là hình ảnh ẩn dụ diễn tả sự vất vả, gian khổ của người mẹ.

    Trong cuộc sống lao động cực nhọc, mẹ đã từng trải qua và vượt lên tất cả để vì cuộc sống và vì tương lai tốt đẹp của các con. Khoa còn hiểu được qua thành ngữ “đi gió đi sương” là nói lên được sự vất vả gian khổ, lao động trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sớm tối lặn lội. Cảm nhận được như vậy, chứng tỏ tác giả rất yêu thương mẹ, muốn làm tất cả những gì để mẹ vui lòng mà chóng khỏi ốm:

    “Mẹ vui con có quản gì Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca”.

    Khoa còn làm được cả những việc vượt ngoài khả năng mà trước đây bản thân chưa làm được: “Một mình con sắm cả ba vai chèo” – một em thiếu niên thật là ngoan ngoãn, có thể lúc trước còn nhõng nhẽo, hay vòi vĩnh mẹ nhưng bây giờ mẹ ốm đã biết thể hiện sự hiếu thảo của mình qua sự chăm sóc mẹ. Nhìn những nếp nhăn hằn trên khuôn mặt của mẹ, Khoa rất cảm động và thấy vô cùng biết ơn mẹ:

    “Vì con mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn”.

    Vì vậy mà trong lòng của nhà thơ lúc nào cũng ước:

    “Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ say”.

    Thật cảm động biết bao trước tình cảm đẹp đẽ của một người con – một cậu bé chưa đầy 10 tuổi trước cảnh “Mẹ ốm”. Bài thơ còn hay ở câu kết mà tác giả đã nói hộ chúng ta về lòng biết ơn vô hạn của những đứa con với các bà mẹ:

    “Mẹ là đất nước, tháng ngày của con”.

    Phải chăng đó cũng là tình cảm của mỗi chúng ta khi nghĩ về mẹ: Con yêu mẹ nhất trên đời, con yêu mẹ như yêu đất nước và mẹ chính là Tổ quốc của riêng con!

    Theo báo Bắc Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1001 Bài Thơ Mưa Buồn, Tâm Trạng Buồn, Cô Đơn Trong Mưa
  • Những Bài Thơ Tình Hay Về Mùa Đông
  • Bài Thơ Mẹ (Trần Quốc Minh)
  • Tổng Hợp Những Bài Thơ Về Mẹ Hay Và Cảm Động Nhất
  • Chùm Thơ Lục Bát Quê Hương Hay Nhất
  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ “viếng Lăng Bác”

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Dàn Ý Cảm Nhận Của Em Về Những Cảm Xúc Của Nhà Thơ Viễn Phương Qua Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Trung Tâm Tìm Gia Sư Giỏi Tphcm Cảm Nhận Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Phân Tích Bài Thơ: Viếng Lăng Bác
  • Đề bài: Em hãy lập dàn ý phân tích biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong bài thơ “Viếng lăng Bác”

    Bài làm

    + Mở bài:

    +Giới thiệu về tác giả:

    – Viễn Phương là một nhà thơ nổi tiếng trong nền thi ca hiện đại của dân tộc Việt Nam. Ông đã để lại nhiều tác phẩm hay, kiệt xuất cho công chúng yêu thơ thế hệ mai sau.

    -Giới thiệu về tác phẩm “Viếng lăng Bác”

    -Tác phẩm “Viếng lăng Bác” được nhà thơ sáng tác giả sáng tác trong dịp cả nước ta tổ chức sự kiện dâng hương viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi nước ta hoàn toàn thống nhất, đánh toàn quân xâm lược Pháp và Mỹ kết thúc 30 năm kháng chiến ròng rã nhiều gian khổ, hy sinh rất nhiều xương máu của các, chiến sĩ trên các chiến trường.

    + Thân bài:

    -Phân tích hình ảnh mặt trời trong bài thơ có ý nghĩa như thế nào? Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh mặt trời hồng, một hình ảnh nhiều ẩn dụ nhiều ý nghĩa sâu sắc:

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

    -Phân tích hình ảnh mặt trời trong hai câu thơ này? Mặt trời trong câu thơ không chỉ là vầng thái thái dương sáng chói, chỉ mặt trời ấm áp cho muôn loài ngày ngày mang ánh sáng cho con người cũng như vạn vật tự nhiên trên trái đất.

    -Mặt trời trong câu thơ này là mặt trời của Bác. Bác Hồ chính là người đã soi đường chỉ lối cho toàn dân tộc ta trong cuộc cách mạng tìm đường cứu nước thoát khỏi ách nô lệ lầm than, thoát khỏi cảnh làm thuộc địa, mất nước.

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    – Trong câu thơ này ý nghĩa ẩn dụ lại mang một thông điệp hoàn toàn khác. Câu thơ thể hiện sự tinh thế, nghiêm túc, trang nghiêm và vầng trăng dịu hiền thể hiện ánh sáng thuần khiết, trong veo như tình cảm của Bác dành cho non sông, cho muôn dân.

    -Nó như tình cảm của một vị cha già dân tộc dành cho con cháu của mình. Tình cảm ấy vừa tinh khôi, thuần khiết vừa ấm áp, dịu dàng.

    -Mở rộng lấy thêm dẫn chứng các tác giả khác nói về Bác để làm nổi bật tình cảm của Bác dành cho mọi người, cho dân tộc như thế nào? Nhạc sĩ Thuận Yến đã từng viết rằng ” Bác Hồ người là tình yêu thiết tha nhất, trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc Bác đã hy sinh cho tự do, cho dân tộc Việt Nam. Bác thương các cụ già trung thu về cho quà. Bác thương đàn em nhỏ...” Tình yêu của Bác dành cho mọi người là vô bờ bến, không lời nào kể hết.

    -Tình cảm của tác giả trong hai câu thơ này thể hiện như thế nào? Nhà thơ Viễn Phương đã mượn hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa sâu xa:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    – Mong ước của tác giả trong hai câu thơ này như thế nào? Sinh – lão- bệnh- tử là quy luật của trời đất, của tạo hóa không ai có thể vượt qua quy luật này. Bác Hồ của chúng ta cũng vậy. Bác ra đi để lại sự tiếc thương cho muôn dân, triệu triệu người con đất Việt không khỏi bàng hoàng đau xót. Nhà thơ cũng như hàng triệu người dân khác đều muốn Bác có thể sống mãi như câu hát của các em thiếu nhi thường hát ” Ngày ngày chúng cháu ước mong, mong sao Bác sống muôn đời“.

    -Hình ảnh bác trong lòng tác giả và nhân dân cả nước như thế nào? Bác Hồ tuy đã ra đi nhưng Bác như mặt trời một mặt trời không ngủ, Bác thức để canh giữ cho tổ quốc, cho muôn người con, người dân của Bác được ngủ ngon giống như lời thơ “Đêm nay Bác không ngủ” của nhà thơ Minh Huệ:

    “Đêm nay Bác ngồi đó

    Đêm nay Bác không ngủ

    Vì một lẽ thường tình

    Bác là Hồ Chí Minh”

    + Kết

    – Viếng lăng Bác là một bài thơ hay, xúc động lòng người, là một bài thơ tuyệt tác cả về nghệ thuật, hình tượng và nội dung.

    – Qua bài thơ tác giả muốn nhắn gửi điều gì? Qua bài thơ tác giả Viễn Phương muốn thể hiện tình yêu, lòng thành kính của mình với người cha già dân tộc Bác Hồ Chí Minh. Tình cảm mà tác giả dành cho Bác là một tình cảm thiêng liêng, thể hiện tình cảm xót thương, tiếc nuối xem lẫn biết ơn, của một người con khi vào thăm dân hương và đứng trước mặt người cha đã khuất của mình. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã từng viết rằng: ” Bác sống như trời đất của ta. Sự nghiệp cách mạng cùng đời sống tinh thần cao cả của Người đã trở thành bất tử“.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung, Đặc Sắc Nghệ Thuật Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Các Dạng Đề Bài Thơ: Viếng Lăng Bác
  • Em Hãy Phân Tích Bài Thơ “viếng Lăng Bác” Của Nhà Thơ Viễn Phương
  • Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Kết Bài Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100