Top #10 ❤️ Cách Ngắt Nhịp Bài Thơ Bầm Ơi Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu)

Dạy Bé Chúc Tết Ông Bà Bằng Những Bài Thơ Hay Ngộ Nghĩnh

Tuyển Tập Những Bài Thơ Hay Về Chú Bộ Đội

Bài Thơ Cây Dây Leo

Giáo Án Thơ Cô Giáo Của Em

Phân Tích Bài Thơ Cảnh Khuya Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Nội Dung

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

Bầm ơi có rét không bầm!

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Đây chính là câu chuyện về người mẹ hết lòng thương con. Khi các thi sĩ dừng chân ở nhà bầm, bầm đã dành giường cho họ và chuyển xuống bếp ngủ. Tối về cụ dùng lá chuối khô bện lại để nàm nệm nằm cho đỡ lạnh. Tuy nhiên khi ấy cứ đêm đêm mọi người lại nghe thấy tiếng khóc nỉ non của cụ. Hỏi ra mới vỡ lẽ rằng, cụ nhớ đứa con trai của mình. Con trai của cụ tham gia vệ quốc quân nhưng lâu ngày không có tin tức. Chính vì vậy khi ấy các nhà thơ đã đề nghị Tố Hữu sáng tác một bài thơ như là một bức thư của người con trai để cụ an lòng. Đó cũng chính là hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

Bầm ơi có rét không bầm!

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Về sau bài thơ Bầm ơi được nhiều người biết tới hơn và các chiến sĩ đã chép bài thơ này vào lá thư để gửi cho mẹ của mình và báo rằng họ vẫn bình an. Sau này năm 1981 khi đang ở Hà Nội thì anh đại tá quân đội là con trai của cụ Gái đến thăm. Anh rất cảm kích bài thơ của nhà thơ đã làm vơi bớt sự nhớ nhung của mẹ. Và nhà thơ đã gửi 3m lụa làm quà để anh mang về làm quà cho mẹ của mình.

Bài thơ Bầm ơi không chỉ là tình cảm riêng tư của một chàng trai nào đối với mẹ của mình nữa. Mà nó có sức lan tỏa và cũng chính là tình cảm thủy chung sâu nặng của những người chiến sĩ xa quê. Đó cũng chính là một cách báo bình an cho những người thân ở nhà. Qua đó ta có thể cảm nhân được hình ảnh người mẹ trung du bình dị nhưng lại có tình cảm sâu nặng dành cho đứa con đang chiến đấu cho Tổ quốc hôm nay.

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

Con đi mỗi bước gian lao

Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

Bao bà cụ từ tâm như mẹ

Yêu quý con như đẻ con ra.

Tình cảm ấy đã nâng bước chân của những người con nơi chiến trường. Và cũng chính tình yêu đồng chí, yêu ước, hậu phương đã hòa thành một tình cảm lớn lao giúp người chiến sĩ vượt qua những thử thách và gian lao của cuộc chiến. Đó chính là giá trị mà bài Bầm ơi muốn nhắn nhủ. Bởi nó cũng thể hiện được những quyết tâm của các chiến sĩ luôn sẵn sàng vượt lên phía trước để tiêu diệt kẻ thù. Bởi vì sau lưng họ có bầm luôn theo dõi và dành tình cảm sâu nặng.

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bầm Ơi!

Giáo Án Thơ Làm Bác Sĩ

Phân Tích Bài Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

Bình Ngô Đại Cáo (Ngô Tất Tố Dịch)

Bài Thơ Bàn Tay Cô Giáo Của Nguyễn Trọng Hoàn Và Định Hải

Bầm Ơi! – Tố Hữu

Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Bầm Ơi

Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ

Tổng Hợp Những Bài Thơ Chúc Tết Ý Nghĩa, Dễ Thuộc Ba Mẹ Có Thể Dạy Cho Trẻ

Ngày Xuân Đọc Lại Bài Thơ Năm Mới Chúc Nhau

Cái Cười Tết Của Tú Xương

Facebook

Twitter

Pinterest

Bài thơ Bầm ơi! của nhà thơ Tố Hữu nói về nỗi nhớ của người chiến sĩ ngoài mặt trận, nhớ về người mẹ ở quê nhà. Anh thương mẹ già vẫn phải làm lụng vất vả khi trời rét, phải lo lắng cho đàn con đi chiến đấu. Tình thương của người chính sĩ dành cho mẹ hòa cùng tình thương dành cho đất nước.

Hoàn cảnh ra đời bài thơ Bầm ơi!

Xã Gia Điền là một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa (Phú Thọ), là nơi mà người dân quê gọi mẹ là bầm, là bủ. Và ở chính mảnh đất nghĩa tình này, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Bầm ơi” nổi tiếng.

Vào những năm 1947, 1948, đoàn văn nghệ sỹ trong hành trình “nhận đường” đã chọn Gia Điền làm nơi dừng chân và hoạt động văn học nghệ thuật. Khi ấy, các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân đã ở lại thôn Gốc Gạo xã Gia Điền. Ngôi nhà mà các nhà văn chọn để ở trọ là nhà bà cụ Nguyễn Thị Gái. Khi các văn nghệ sỹ đến ở, bủ Gái đã dọn xuống bếp để nhường giường và không gian nhà trên cho khách. Cũng từ chính ngôi mà mái cọ bình yên này, vào khoảng thời gian ấy, bài thơ Bầm ơi được “khai sinh”.

Bài thơ Bầm ơi! – Tố Hữu

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

Bầm ơi có rét không bầm!

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

Con ra tiền tuyến xa xôi

Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.

Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.

Con đi xa cũng như gần

Anh em đồng chí quây quần là con.

Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí

Bầm quý con, bầm quý anh em.

Bầm ơi, liền khúc ruột mềm

Có con có mẹ, còn thêm đồng bào

Con đi mỗi bước gian lao

Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

Bao bà cụ từ tâm như mẹ

Yêu quý con như đẻ con ra.

Cho con nào áo nào quà

Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.

Con đi, con lớn lên rồi

Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con!

Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.

Mẹ già tóc bạc hoa râm

Chiều nay chắc cụng nghe thầm tiếng con…

1948

Lĩnh Vực: Phát Triển Ngôn Ngữ Đề Tài Thơ: Làm Bác Sĩ

Chuyên Đề Nghề Nghiệp Cho Bé

Cậu Bé 10 Tuổi Đọc Vanh Vách Bình Ngô Đại Cáo

Phân Tích Bài Thơ Bình Ngô Đại Cáo Chi Tiết 2 Đoạn Đầu

Bài Phân Tích Đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo Xuất Sắc Giúp Học Sinh Đạt Điểm Cao

Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Bầm Ơi

Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ

Tổng Hợp Những Bài Thơ Chúc Tết Ý Nghĩa, Dễ Thuộc Ba Mẹ Có Thể Dạy Cho Trẻ

Ngày Xuân Đọc Lại Bài Thơ Năm Mới Chúc Nhau

Cái Cười Tết Của Tú Xương

“hiệu Lệnh” Của Bác Hồ Trong Bài Thơ Chúc Tết Mậu Thân 1968

Đề bài : đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi ở dưới

… Bầm ơi có rét không bầm,

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn.

Bầm ra ruộng cấy bầm run,

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non.

Mạ non bầm cấy mấy đon,

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân,

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu…

(Trích Bầm ơi – Tố Hữu, tập thơ Việt Bắc, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2005)

Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của  văn bản ? (0,25 điểm)

Câu 2: Nội dung của văn bản ? (0,25 điểm)

Câu 3: Tìm và phân tích hiệu quả của những từ ngữ thể hiện nỗi vất vả của người mẹ trong đoạn thơ?  (0,5 điểm)

Câu 4: Anh/chị  hãy viết một đoạn văn ngắn từ  5 -7 dòng thể hiện tình cảm của mình đối với mẹ? (0,5 điểm)

Đáp án :

Phong cách ngôn ngữ của đoạn thơ: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật/ Nghệ thuật

.

 

1. Nội dung của đoạn thơ: Khắc họa hình ảnh người mẹ vất vả và tình cảm của người con đối với mẹ.

2. Các từ ngữ thể hiện nỗi vất vả của người mẹ: Bầm run, chân lội dưới bùn, ướt áo tứ thân.

3. Hiệu quả: Diễn tả chân thật, sinh động về hình ảnh người mẹ lam lũ, vất vả.

4. Học sinh viết đoạn văn thể hiện được tình cảm và thái độ đối với mẹ.

Các em có thể tham khảo đoạn văn sau:

“Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!“. Trong mỗi nhịp đập của trái tim mình, ta luôn thấy  hình bóng của mẹ yêu. Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta không thể nói hết bằng lời. Và cho dù có đi đâu về  đâu , dù thành công hay thất bại thì mẹ vẫn luôn bên ta, che chở, bảo vệ, động viên ta vững bước trên đường đời. Từ tận đáy lòng   tôi luôn mong ước được nằm trong vòng tay âu yếm, trìu mến của mẹ, của gia đình! Thương mẹ, con nguyện sẽ gắng học thật tốt để rèn luyện bản thân , góp một phần nhỏ bé cho xã hội, đem lại nguồn vui, niềm hy vọng cho mẹ, cho gia đình thương yêu của mình.

Bầm Ơi! – Tố Hữu

Lĩnh Vực: Phát Triển Ngôn Ngữ Đề Tài Thơ: Làm Bác Sĩ

Chuyên Đề Nghề Nghiệp Cho Bé

Cậu Bé 10 Tuổi Đọc Vanh Vách Bình Ngô Đại Cáo

Phân Tích Bài Thơ Bình Ngô Đại Cáo Chi Tiết 2 Đoạn Đầu

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bầm Ơi!

Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu)

Dạy Bé Chúc Tết Ông Bà Bằng Những Bài Thơ Hay Ngộ Nghĩnh

Tuyển Tập Những Bài Thơ Hay Về Chú Bộ Đội

Bài Thơ Cây Dây Leo

Giáo Án Thơ Cô Giáo Của Em

Hoàn cảnh ra đời bài thơ Bầm ơi!

Xã Gia Điền là một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa (Phú Thọ), là nơi mà người dân quê gọi mẹ là bầm, là bủ. Và ở chính mảnh đất nghĩa tình này, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Bầm ơi” nổi tiếng.

Vào những năm 1947, 1948, đoàn văn nghệ sỹ trong hành trình “nhận đường” đã chọn Gia Điền làm nơi dừng chân và hoạt động văn học nghệ thuật. Khi ấy, các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân đã ở lại thôn Gốc Gạo xã Gia Điền. Ngôi nhà mà các nhà văn chọn để ở trọ là nhà bà cụ Nguyễn Thị Gái. Khi các văn nghệ sỹ đến ở, bủ Gái đã dọn xuống bếp để nhường giường và không gian nhà trên cho khách. Cũng từ chính ngôi mà mái cọ bình yên này, vào khoảng thời gian ấy, bài thơ Bầm ơi được “khai sinh”.

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

Bầm ơi có rét không bầm!

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

Con ra tiền tuyến xa xôi

Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.

Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.

Con đi xa cũng như gần

Anh em đồng chí quây quần là con.

Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí

Bầm quý con, bầm quý anh em.

Bầm ơi, liền khúc ruột mềm

Có con có mẹ, còn thêm đồng bào

Con đi mỗi bước gian lao

Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

Bao bà cụ từ tâm như mẹ

Yêu quý con như đẻ con ra.

Cho con nào áo nào quà

Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.

Con đi, con lớn lên rồi

Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con!

Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.

Mẹ già tóc bạc hoa râm

Chiều nay chắc cụng nghe thầm tiếng con…

1948

Giáo Án Thơ Làm Bác Sĩ

Phân Tích Bài Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

Bình Ngô Đại Cáo (Ngô Tất Tố Dịch)

Bài Thơ Bàn Tay Cô Giáo Của Nguyễn Trọng Hoàn Và Định Hải

Tuyển Chọn 222 Bài Thơ Anh Yêu Em Chế Hài Hước, Dí Dỏm Nhất

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu)

Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản, Thơ Chi Tiết Cùng Ví Dụ

Soạn Văn Bài: Luyện Tập Vận Dụng Kết Hợp Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Bài Văn Nghị Luận

Mấy Ý Kiến Về Việc Thưởng Thớc, Đánh Giá Thơ Tố Hữu

Giáo Án Tập Đọc Lớp 5

Thơ Chúc Mừng Năm Mới 2022

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

Bầm ơi có rét không bầm!

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Cảm nhận hình ảnh người mẹ trung du qua Bầm ơi

Bài thơ Bầm ơi được sáng tác kể về người mẹ Nguyễn Thị Gái. Đây là nơi một số nhà thơ trong đó có Tố Hữu đã dừng chân. Địa điểm nhắc tới trong bài chính là xã Gia Điền – một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa ( Phú Thọ). Cảm nhận sâu sắc tình cảm bầm dành cho những thi sĩ, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Bầm ơi

Bầm ơi – một lá thư bằng thơ

Đây chính là câu chuyện về người mẹ hết lòng thương con. Khi các thi sĩ dừng chân ở nhà bầm, bầm đã dành giường cho họ và chuyển xuống bếp ngủ. Tối về cụ dùng lá chuối khô bện lại để nàm nệm nằm cho đỡ lạnh. Tuy nhiên khi ấy cứ đêm đêm mọi người lại nghe thấy tiếng khóc nỉ non của cụ. Hỏi ra mới vỡ lẽ rằng, cụ nhớ đứa con trai của mình. Con trai của cụ tham gia vệ quốc quân nhưng lâu ngày không có tin tức. Chính vì vậy khi ấy các nhà thơ đã đề nghị Tố Hữu sáng tác một bài thơ như là một bức thư của người con trai để cụ an lòng. Đó cũng chính là hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

Bầm ơi có rét không bầm!

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Khi sáng tác xong nhà thơ dã đọc cho cụ nghe và bảo đó chính là bài thơ mà con trai cụ gửi về nhà. tin là như vậy cụ mừng lắm và cũng hết lo lắng và cũng không còn nghe tiếng khóc thầm mỗi đêm. Và cụ luôn miệng nói với nhà thơ Tố Hữu rằng con trai của cụ nó thương cụ thế đấy. Từ đó hôm nào cụ cũng nhờ nhà thơ Tố Hữu đọc lại bài thơ nghe ít nhất một lần.

Về sau bài thơ Bầm ơi được nhiều người biết tới hơn và các chiến sĩ đã chép bài thơ này vào lá thư để gửi cho mẹ của mình và báo rằng họ vẫn bình an. Sau này năm 1981 khi đang ở Hà Nội thì anh đại tá quân đội là con trai của cụ Gái đến thăm. Anh rất cảm kích bài thơ của nhà thơ đã làm vơi bớt sự nhớ nhung của mẹ. Và nhà thơ đã gửi 3m lụa làm quà để anh mang về làm quà cho mẹ của mình.

Câu chuyện gia tài của người chiến sĩ

Bài thơ Bầm ơi không chỉ là tình cảm riêng tư của một chàng trai nào đối với mẹ của mình nữa. Mà nó có sức lan tỏa và cũng chính là tình cảm thủy chung sâu nặng của những người chiến sĩ xa quê. Đó cũng chính là một cách báo bình an cho những người thân ở nhà. Qua đó ta có thể cảm nhân được hình ảnh người mẹ trung du bình dị nhưng lại có tình cảm sâu nặng dành cho đứa con đang chiến đấu cho Tổ quốc hôm nay.

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

Hình ảnh người bầm hiện lên thật xúc động. Từng câu chữ như làm sống lại hình ảnh bà mẹ trung du nghèo khó nhọc. Nhất là trong một buổi sáng mưa phùn mẹ tay run cắm từng mảnh mạ xuống bùn mà làm con người ta thêm phần xót xa, quặn đau. Qua đó như muốn khuyên nhủ người mẹ hãy bớt những lo toan và bộn bề. Bởi rằng những khốc liệt nơi chiến trường cũng không thể nào đo được những nỗi vất vả của cuộc đời bầm. Và cũng không đổi lại được tình cảm mà bầm dành cho con.

Con đi mỗi bước gian lao

Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

Bao bà cụ từ tâm như mẹ

Yêu quý con như đẻ con ra.

Tình cảm ấy đã nâng bước chân của những người con nơi chiến trường. Và cũng chính tình yêu đồng chí, yêu ước, hậu phương đã hòa thành một tình cảm lớn lao giúp người chiến sĩ vượt qua những thử thách và gian lao của cuộc chiến. Đó chính là giá trị mà bài Bầm ơi muốn nhắn nhủ. Bởi nó cũng thể hiện được những quyết tâm của các chiến sĩ luôn sẵn sàng vượt lên phía trước để tiêu diệt kẻ thù. Bởi vì sau lưng họ có bầm luôn theo dõi và dành tình cảm sâu nặng.

Tư Tưởng Nhân Nghĩa Được Thể Hiện Trong Suốt Bài Bình Ngô Đại Cáo

Nghị Luận “bình Ngô Đại Cáo” Một Tác Phẩm Của Nguyễn Trãi

Văn Mẫu Nghị Luận Tác Phẩm Bình Ngô Đại Cáo

Bài Viết Phân Tích “bình Ngô Đại Cáo”

Trình Bày Cảm Nhận Đoạn 1 2 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu) – Vẻ Đẹp Của Người Mẹ Miền Trung Du

Bài Thơ Cảnh Ngày Hè (Nguyễn Trãi) – Bức Tranh Ngày Hè Rực Rỡ

Bài Thơ “Cảnh Ngày Hè” Của Nguyễn Trãi

Chùm Bài Thơ Về Chú Bộ Đội

Bài Thơ Cây Đào

Qua Hai Bài Thơ Cảnh Khuya Và Rằm T…

Nội Dung

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

Bầm ơi có rét không bầm!

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Bài thơ Bầm ơi được sáng tác kể về người mẹ Nguyễn Thị Gái. Đây là nơi một số nhà thơ trong đó có Tố Hữu đã dừng chân. Địa điểm nhắc tới trong bài chính là xã Gia Điền – một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa (Phú Thọ). Cảm nhận sâu sắc tình cảm bầm dành cho những thi sĩ, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Bầm ơi

Đây chính là câu chuyện về người mẹ hết lòng thương con. Khi các thi sĩ dừng chân ở nhà bầm, bầm đã dành giường cho họ và chuyển xuống bếp ngủ. Tối về cụ dùng lá chuối khô bện lại để nàm nệm nằm cho đỡ lạnh. Tuy nhiên khi ấy cứ đêm đêm mọi người lại nghe thấy tiếng khóc nỉ non của cụ. Hỏi ra mới vỡ lẽ rằng, cụ nhớ đứa con trai của mình. Con trai của cụ tham gia vệ quốc quân nhưng lâu ngày không có tin tức. Chính vì vậy khi ấy các nhà thơ đã đề nghị Tố Hữu sáng tác một bài thơ như là một bức thư của người con trai để cụ an lòng. Đó cũng chính là hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

Bầm ơi có rét không bầm!

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Khi sáng tác xong nhà thơ dã đọc cho cụ nghe và bảo đó chính là bài thơ mà con trai cụ gửi về nhà. tin là như vậy cụ mừng lắm và cũng hết lo lắng và cũng không còn nghe tiếng khóc thầm mỗi đêm. Và cụ luôn miệng nói với nhà thơ Tố Hữu rằng con trai của cụ nó thương cụ thế đấy. Từ đó hôm nào cụ cũng nhờ nhà thơ Tố Hữu đọc lại bài thơ nghe ít nhất một lần.

Về sau bài thơ Bầm ơi được nhiều người biết tới hơn và các chiến sĩ đã chép bài thơ này vào lá thư để gửi cho mẹ của mình và báo rằng họ vẫn bình an. Sau này năm 1981 khi đang ở Hà Nội thì anh đại tá quân đội là con trai của cụ Gái đến thăm. Anh rất cảm kích bài thơ của nhà thơ đã làm vơi bớt sự nhớ nhung của mẹ. Và nhà thơ đã gửi 3m lụa làm quà để anh mang về làm quà cho mẹ của mình.

Bài thơ Bầm ơi không chỉ là tình cảm riêng tư của một chàng trai nào đối với mẹ của mình nữa. Mà nó có sức lan tỏa và cũng chính là tình cảm thủy chung sâu nặng của những người chiến sĩ xa quê. Đó cũng chính là một cách báo bình an cho những người thân ở nhà. Qua đó ta có thể cảm nhân được hình ảnh người mẹ trung du bình dị nhưng lại có tình cảm sâu nặng dành cho đứa con đang chiến đấu cho Tổ quốc hôm nay.

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

Hình ảnh người bầm hiện lên thật xúc động. Từng câu chữ như làm sống lại hình ảnh bà mẹ trung du nghèo khó nhọc. Nhất là trong một buổi sáng mưa phùn mẹ tay run cắm từng mảnh mạ xuống bùn mà làm con người ta thêm phần xót xa, quặn đau. Qua đó như muốn khuyên nhủ người mẹ hãy bớt những lo toan và bộn bề. Bởi rằng những khốc liệt nơi chiến trường cũng không thể nào đo được những nỗi vất vả của cuộc đời bầm. Và cũng không đổi lại được tình cảm mà bầm dành cho con.

Con đi mỗi bước gian lao

Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

Bao bà cụ từ tâm như mẹ

Yêu quý con như đẻ con ra.

Tình cảm ấy đã nâng bước chân của những người con nơi chiến trường. Và cũng chính tình yêu đồng chí, yêu ước, hậu phương đã hòa thành một tình cảm lớn lao giúp người chiến sĩ vượt qua những thử thách và gian lao của cuộc chiến. Đó chính là giá trị mà bài Bầm ơi muốn nhắn nhủ. Bởi nó cũng thể hiện được những quyết tâm của các chiến sĩ luôn sẵn sàng vượt lên phía trước để tiêu diệt kẻ thù. Bởi vì sau lưng họ có bầm luôn theo dõi và dành tình cảm sâu nặng.

Bài Thơ Làm Bác Sĩ

Bài Thơ Bắp Cải Xanh

Cảm Nghĩ Bài Thơ Bánh Trôi Nước

Chùm Thơ Về Hưởng Ứng An Toàn Giao Thông

Ngọn Đồi Chúng Ta Leo Lên – Bài Thơ Amanda Gorman Đọc Tại Lễ Nhậm Chức Của Tổng Thống Joe Biden

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dừa Ơi

Soạn Bài Dòng Sông Mặc Áo

Câu Chuyện Về Nhà Thơ Tố Hữu Và Emily

Chùm Thơ Vui, Hài Hước Về Những Người Đang Ế, Fa

Thơ Chế Fa Độc Đáo, Hài Hước Giúp Bạn Xả Stress Lí Tưởng

Phân Tích Bài Việt Bắc Đầy Đủ Nhất

– Lê Anh Xuân (1939-1968) tên khai sinh là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5-6-1940 tại Châu Thành, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình nhà giáo yêu nước. Năm 1952, Lê Anh Xuân vừa học vừa làm việc ở nhà in trong chiến khu kháng chiến chống Pháp.

– Năm 1954 Lê Anh Xuân theo gia đình tập kết ra Bắc.

– Sau khi tốt nghiệp khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và sau một thời gian ngắn làm phụ giảng tại trường, Lê Anh Xuân trở về chiển trường miền Nam công tác trong ngành giáo dục rồi chuyển sang Hội Văn nghệ Giải phóng.

– Anh hy sinh ngày 24-5-1968 ở vùng phụ cận Sài Gòn trong chiến dịch xuân Mậu Thân (1968).

+ Tác phẩm chính:

– Tiếng gà gáy (thơ, 1965)

– Có đâu như ở miền Nam (1968)

– Nguyễn Văn Trỗi (trường ca, 1968)

– Hoa dừa (thơ, 1971)

– Thơ Lê Anh Xuân (1981)

– Giữ đất (1966)

II. Bài Thơ Dừa Ơi Của Nhà Thơ Lê Anh Xuân

Nhà thơ Lê Anh Xuân được biết đến là một nhà thơ tài hoa của quê hương, đất nước. Những bài thơ của ông đều đậm chất trữ tình ca ngợi vẻ đẹp quê hương đất nước, ca ngợi ý chí tự lực tự cường bám trụ với quê hương của những người dân miền nam trong cuộc kháng chiến hay. Thơ ông bộc lộ rõ tình yêu quê hương ngọt ngào được nhiều độc giả yêu thích. Bài thơ Dừa Ơi cũng là một tác phẩm đã đưa ông đến với độc giả gần thêm nữa

Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ

Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ

Cứ mỗi chiều nghe dừa reo trước gió

Tôi hỏi nội tôi: “Dừa có tự bao giờ?”

Nội nói: “Lúc nội còn con gái

Đã thấy bóng dừa mát rượi trước sân

Đất này xưa đầm lầy chua mặn

Đời đói nghèo cay đắng quanh năm”

Hôm nay tôi trở về quê cũ

Hai mươi năm biết mấy nắng mưa

Nội đã khuất rồi xanh rì đám cỏ

Trên thân dừa vết đạn xác xơ.

Dừa ơi dừa! Người bao nhiêu tuổi

Mà lá tươi xanh mãi đến giờ

Tôi nghe gió ngàn xưa đang gọi

Xào xạc lá dừa hay tiếng gươm khua.

Tôi ngước nhìn mùa xuân nắng dọi

Bốn mặt quê hương giải phóng rồi

Tôi bỗng thấy nội tôi trẻ lại

Như thời con gái tuổi đôi mươi

Như hàng dừa trước ngõ nhà tôi.

III. Hình Ảnh Cây Dừa Trong Thơ Lê Anh Xuân

Lê Anh Xuân tên thật là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5-6-1940 tại Bến Tre. Quê nội của anh ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Thân sinh là giáo sư Ca Văn Thỉnh, một nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học có uy tín. Lớn lên trong một gia đình trí thức yêu nước có truyền thống văn học, Lê Anh Xuân sớm tiếp xúc với văn thơ từ nhỏ.

Lê Anh Xuân yêu quê hương như người ta thực sự yêu người yêu. Anh tha thiết, tự hào về cây dừa, về sông nước Bến Tre, về cảnh mưa chiều gió lớn, về sự anh dũng của những con người trên quê hương ba dải cù lao. Tất cả lòng yêu ấy anh thể hiện qua thơ mình.

Bến Tre, một vùng quê nổi tiếng với dừa. Cây dừa là linh hồn, là biểu tượng của người dân xứ này. Nó có mặt trong đời sống hàng ngày của người dân quê như một thứ không thể thiếu. Những bữa cơm thơm ngọt được nấu từ củi dừa. Đuốc lá dừa ấm áp xua bóng tối đường quê. Ai đi xa quê cũng thèm được ăn lại những món ăn béo ngậy mùi dừa: mấy con cá đồng kho nước cốt dừa chấm rau sống, tép sông rang nước cốt dừa hay món canh kiểm đủ mùi cây trái Bến Tre, dừa, chuối, mít, khoai,….Thân dừa làm cầu qua sông, qua rạch; làm cây cột, cây kèo, cây đòn tay, làm cái giường, cái ghế, …trong nhà.

Với anh, dừa dù có từ “ngàn xưa” nhưng mãi tuổi “tươi xanh”, đầy sức sống. Dừa như một nhân chứng của lịch sử chuyển tiếp truyền thống đấu tranh giữ nước của người dân quê dừa đến những thế hệ sau. Tập thơ thứ hai của mình, Lê Anh Xuân đặt tên Hoa dừa, như người ta lấy tên người yêu đầu hay người bạn thân mà đặt cho con. Mười năm ở miền Bắc, trong nỗi nhớ quê, anh đã nhớ dừa da diết

Nỗi nhớ quê hương thường trực trong lòng, nó xuyên suốt thời gian trong ngày: sớm mai, trưa, đến đêm. Không gian trong nỗi nhớ là bầu trời quê hương luôn rợp bóng dừa xanh ngắt. Hình như dừa là hình ảnh đầu tiên đến trong anh mỗi lần nhớ quê. Anh không viết về dừa chung chung mà rất cụ thể. Có lẽ phải là người sống ở quê dừa mới thấy hết sự hữu ích của cây dừa. Lê Anh Xuân đã không bỏ sót công dụng nào của dừa. Trước hết dừa che mát sân nhà, ru giấc ngủ tuổi thơ của bao thế hệ:

“Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ

Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ

Cứ mỗi chiếu nghe dừa reo trước gió

Tôi hỏi nội tôi: “Dừa có tự bao giờ”

Nội nói ” Lúc nội còn con gái

Đã thấy bóng dừa mát rượi trước sân.”

Như vậy, dừa đã ru giấc tuổi thơ của nội, của cha, của “tôi” và sẽ còn ru giấc êm đềm của nhiều thế hệ nữa. Ai đã từng nằm võng trên hiên nhà một buổi trưa hè oi nắng, ngoài hiên là hàng dừa tơ rợp bóng, mới cảm nhận được điệu hát ru của dừa – Nó mát dịu, khỏe khoắn, lúc xa lúc gần, lúc cao lúc thấp, có lúc như một chuỗi cười dài, có lúc như chợt yên lặng rồi vỡ xòa đuổi nhau theo gió – mới hiểu hết những dòng thơ này.

Dừa còn tham gia vào bao công việc khác trong cuộc sống đời thường. Trong cuộc chiến ác liệt với kẻ thù trên quê hương Đồng Khởi, dừa đã góp phần to lớn: thân dừa dựng pháo đài, làm lá ngụy trang, làm đuốc soi đường:

“Nếu ngã xuống dừa ơi không uổng

Dừa lại đúng lên thân dựng pháo đài.

Lá dừa xanh long lanh ánh nắng

Theo đoàn quân thành là ngụy trang

Nếu rụng xuống dừa ơi không uổng

Dừa lại cháy lên thành đuốc soi đường”

Ở bài thơ này, Lê Anh Xuân đã bất diệt hóa cây dừa. Khi còn đứng hiên ngang, lá dừa ngụy trang cho cán bộ, cho du kích. Khi lá dừa lìa cành vẫn nguyện lấy thân mình làm ánh lửa ấm áp cho đời, làm ngọn đuốc soi sáng đường cách mạng. Những thân dừa bị thương vẫn không hề ngã gục, vẫn “đứng hiên ngang ca hát giữa trời”. Và nếu có ngã xuống vì đạn bom tàn khốc của kẻ thù, thân dừa lại một lần nữa đứng lên làm thành những pháo đài kiên cố, tiếp tục đương đầu với bom đạn giặc. Nhà thơ đã khẳng định dừa là biểu tượng của người dân Bến Tre:

“Ôi thân dừa đã hai lầm máu đổ

Biết bao đau thương biết mấy oán hờn

Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút

Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng

Rễ dừa bám sâu vào lòng đất

Như dân làng bám chặt quê hương”.

Trải qua hai cuộc chiến, “súng giặc đất rền”, người dân Bến Tre oằn mình trong lửa đạn: “Chị ta chúng khảo chúng tra, Em ta chết tuổi mới vừa đôi mươi”. Nhưng người dân Bến Tre vẫn kiên gan bám đất, bám làng, vẫn cấy lại lúa, trồng lại dừa sau những trận bom cày. Những mẹ già nuôi giấu cán bộ, những người con trai xứ dừa đánh giặc bằng ong vò vẽ, bằng bẫy chông tre,…Với một ít vũ khí cùng gậy tầm vong, súng bập dừa, đuốc là dừa và tấm lòng yêu quê, người dân Bến Tre đã làm nên Đồng Khởi lẫy lừng…

Yêu quê hương đất nước là tình cảm chung của dân tộc; đồng thời cũng là nguồn thi hứng chủ đạo trong thơ ca kháng chiến. Thơ Lê Anh Xuân cũng bắt nguồn từ cảm hứng mang tính thời đại ấy nhưng ở anh vẫn có một cái gì đó rất riêng, khiến nhà thơ xứ dừa này không thể lẫn với bao nhiêu nhà thơ đương thời khác.

Nét phong cách đặc thù ấy là tấm lòng gắn bó thiết tha với cái nơi từng in dấu một phần quãng đời thơ ấu của anh mà thổ ngơi của nó đã quyện vào thơ anh một hương vị đặc trưng không thể lẫn vào đâu được. Chính những con người dũng cảm vô song, chính tầm vóc của miền Nam, của dân tộc đã nâng cánh cho hồn thơ Lê Anh Xuân. Và chính hồn thơ anh đã nâng cánh cho tình yêu quê hương đất nước trong tôi. Cảm ơn anh đã để lại cho đời, cho thế hệ chúng tôi những dòng thơ đẹp, những dòng thơ mà bất cứ người dân Bến Tre nào đọc được cũng thấy hết sức tự hào vì được sinh ra trên mảnh đất này.

Thơ Triết Lý Về Dại Khôn

Phân Tích Bài Thơ Dáng Đứng Việt Nam Của Lê Anh Xuân

Nhớ Lê Anh Xuân Với Bài Thơ ‘dáng Đứng Việt Nam’

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dặn Con

Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Dặn Con

Giáo Án Âm Nhạc: Hát Vỗ Tay Theo Nhịp Bài “quả Gì?”

Tả Quả Dưa Hấu Mà Em Biết

Bài Thuốc Hay Từ Quả Dứa Dại Ít Người Biết

Tả Loại Quả Em Thích

Bài Thuốc Đậu Đen Hấp Trái Dừa Chữa Bệnh Gút Và Bệnh Xương Khớp

Chàng Trai Viết Thư Cho Siêu Thị Khi Phát Hiện Sâu Bọ Trên Dưa Leo, Câu Trả Lời Khiến Ai Cũng Bật Cười

Giáo án âm nhạc: Hát vỗ tay theo nhịp bài “Quả gì?”

– Nghe hát: “Hoa thơm bướm lượn”

– Trẻ hiểu được nội dung bài hát, vận động thành thạo vỗ tay theo nhịp nhịp nhàng theo lời bài hát “Quả gì?”

– Trẻ chú ý lắng nghe cô hát, trẻ biết được luật chơi cách chơi trò chơi “Nghe tiếng hát tìm đồ vật”

– Rèn kỹ năng vận động theo nhạc, nhẹ nhàng đúng giai điệu bài hát, trẻ biết hưởng

ứng cùng cô bài nghe hát ” Hoa thơm bướm lượn”

– Rèn kỹ năng hát đúng kết hợp vỗ đệm theo nhịp bài hát “Quả gì?”.

– Trẻ thích ăn các loại hoa quả, khi ăn biết rửa sạch, bỏ vỏ, bỏ

– Có ý thức chăm sóc và bảo vệ cây xanh.

– Xắc xô, phách tre, đàn….

Hình ảnh 1 số loại quả (Khế, mít…)

– Cô và trẻ cùng chơi trò chơi tập tầm vông.

– Cô đưa hình ảnh quả Khế và quả Mít ra cho trẻ quan sát, hỏi tre:

– Cô có bức tranh gì? (Quả khế và quả mít)

– Quả khế và quả mít dùng để làm gì? (ăn)

– Các con có thích ăn những loại quả này không?

– Có 1 bài hát chúng ta đã được làm quen cũng đã nói về 2 loại quả này đấy, các con có đoán ra đó là bài gì không? (Quả gì)

– Cô mở nhạc bài hát ” Quả gì” cả lớp cùng hát và đi về chổ ngồi theo hình chữ U

* Hoạt động 2: Vận động theo nhạc.

– Hỏi trẻ: Cô cháu mình vừa thể hiện xong bài gì? (Quả gì?)

– Do ai sáng tác? ( Nhạc sỹ Xanh Xanh)

– Cô vận động vỗ tay theo nhịp lần 1

– Lần 2 kết hợp giải thích (Cô vừa nhún theo nhạc vừa hát đồng thời vỗ tay 1 cái vào phách mạnh rồi mở ra vào phách nhẹ)

– Cô cho cả lớp vận động theo nhịp

– Mời tổ ” Chim non” ( Hát vận động theo nhịp)

– Bây giờ là phần thể hiện của tổ ” Bướm vàng” ( Hát vận động theo nhịp)

– Tiếp theo xin mờ tổ ” Thỏ trắng” ( Hát vận động theo nhịp)

– các con ơi! Được biết tại trường mầm non Đức Thịnh, hôm nay có tổ chức cuộc thi tiếng hát họa my rất hay, các con có muốn tới đó tham gia không nào?

– Trẻ vui đọc bài thơ: “Quả ” Đi vòng tròn di chuyển đội hình thành 3 hàng ngang.

* Xin nhiệt liệt chào đón các em nhỏ đã có mặt trong cuộc thi ” Tiếng hát họa my” của lớp Nhỡ B của chúng ta ngày hôm nay.

– Để mở đầu cho chương trình hãy dành 1 tràng pháo tay thật lớn để chào đón các ca sỹ nhí đến từ đội ” Chim non” ( gọi tên 5 bạn – cầm đàn biểu diễn)

– Tiếp theo ( Gọi tên 4 bạn – cầm xắc xô, hát vận động)

– Gọi tên 3 bạn – cầm bộ gõ hát vận động

– Mời 1 bạn lên biểu diễn ( Múa)

– Mời 1 bạn lên biểu diễn( Nhún)

– Bây giờ là phần thể hiện của đoàn nghệ thuật đến từ tập thể lớp Nhỡ B ( Trẻ vui hát ” Quả gì” đi vòng tròn di chuyển về hình chữ U).

– Cô hát cho trẻ nghe lần 1 ( Ngồi hát)

– Hỏi trẻ: Cô vừa thể hiện xong bài gì?( Hoa thơm bướm lượn)

– Dân ca miền nào?

– Cô hát cho trẻ nghe lần 2 ( Đứng dậy biểu diễn và cho trẻ hưởng ứng theo cô)

Các cháu ơi! Đến với ngày hội âm nhạc chúng ta không chỉ được hát, múa..mà chúng ta còn được chơi những trò chơi rất hay nữa đấy. Hôm nay, cô sẽ mang đến cho lớp chúng mình trò chơi mang tên “Nghe tiếng hát tìm đồ vật” các cháu có thích không?

– Cô nêu luật chơi cách chơi

– Cho trẻ chơi cô quan sát gợi ý động viên trẻ.

Cô cho trẻ vừa đi vừa hát bài ” Quả gì” nhẹ nhàng đi ra ngoài.

– Dặn dò trẻ trước khi ra sân, kiểm tra sức khỏe.

– Cô dẫn trẻ ra sân Cho trẻ ngắm kỹ một số cây xung quanh trường, trò chuyện với trẻ về 1 số loại quả.

– Hôm nay cô đã chuẩn bị cho các con rất nhiều phấn để vẽ về các loại quả đấy! Các con có thích không?

* Giáo dục trẻ biết lợi ích của các loại quả, thích ăn các loại quả, khi ăn phải rửa sạch, gọt vỏ, bỏ hạt…biết chăm sóc bảo vệ cây xanh.

– Tổ chức cho trẻ chơi 2 -3 lần

– Cô bao quát, đảm bảo an toàn cho trẻ.

– Trò chuyện với trẻ về một số loại quả

– Phát đất nặn và bảng con cho trẻ

– Cô giới thiệu và nặn một số loại quả cho trẻ xem

– Cô kiểm tra, nhận xét, tuyên dương trẻ

+ Giáo dục trẻ biết lợi ích của các loại quả, thích ăn các loại quả.

* Chơi kết hợp ở các góc:

– Vẫy cháu lại gần, trò chuyện vui vẽ…

– Các cháu ơi! Lúc sáng chúng mình chơi có vui không? Cháu đã làm gì? Chơi ở góc chơi nào?Chơi có thích không? Thích chơi thì phải làm thế nào?

– Giờ xem ở các góc chơi lúc sáng xếp gọn chưa nào? Nếu cô cho các cháu chơi tiếp các cháu có xếp được gọn như thế nữa không? – Mời các cháu về góc chơi

Cô quan sát trẻ chơi ở các góc, động viên, khuyến khích trẻ chơi, chơi xong cho trẻ cất dọn đồ chơi gọn gàng, sạch sẽ.

Đề Tài: Hát ” Quả Cà Chua”

Tả Loại Quả Mà Em Thích

Con Ma Và Quả Bí Đỏ

Quan Sát : Quả Bí Đỏ

Tổng Hợp Những Bài Thuốc Chữa Bệnh Từ Quả Bí Đao

Soạn Bài Lớp 12: Bác Ơi

Giáo Án Dạy Ngữ Văn 12 Tiết 42 Đọc Thêm: Bác Ơi

Tư Liệu Về Bài Thơ Tôi Yêu Em Của Puskin

Phân Tích Bài Thơ ” Tôi Yêu Em “

Phân Tích Bài Thơ Đàn Ghita Của Lorca

Soạn Bài Đàn Ghita Của Lorca Lớp 12 Tác Giả Thanh Thảo

Soạn bài lớp 12: Bác ơi

Soạn bài lớp 12: Bác ơi

I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả

Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành (1920-2002)

Quê ở làng Phù Lai- Quảng Thọ – Quảng Điền – Thừa Thiên Huế. Đây là mảnh đất thơ mộng trữ tình còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa.

Gia đình: Tố Hữu sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, thời đại nước mất nhà tan.

Bản thân Tố Hữu là một người sớm có tình yêu và năng khiếu văn học. Đến khi thanh niên ông tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng. Có những lần bị bắt vào tù nhưng ông đã vượt ngục thành công

Tố Hữu là một trong những tác gia của nền văn học Việt Nam ta. Khối lượng tác phẩm đồ sộ lại tràn đầy ý nghĩa. Đời thơ của ông gắn liền với những chặng đường cách mạng.

Một số tập thơ tiêu biểu của Tố Hữu:

Từ ấy (1937-1946)

Việt Bắc (1946-1954)

Gió lộng (1955-1961)

Ra trận, Máu và hoa

Một tiếng đờn, Ta với ta

Nét nghệ thuật trong sáng tác của Tố Hữu là tính trữ tình chính trị, ông luôn hướng đến cái ta chung, niềm vui lớn, lý tưởng lớn.

2. Tác phẩm

Hoàn cảnh sáng tác: ngày 2/9/1960 đang lúc mặt trận miền Nam giành những chiến thắng trên con đường kháng chiến chống Mỹ, cả nước đang tập trung đánh đuổi quân xâm lược thì Bác Hồ qua đời. Cả rừng người tiễn đưa Bác – vị cha già kính yêu không còn nữa ai nấy cũng thương xót không nguôi. Tố Hữu cũng không kiềm được cảm xúc của mình nên đã viếng Bác bằng bài thơ này.

II. Tìm hiểu chi tiết 1. Nỗi đau xót xa trước sự kiện Bác qua đời

Con người: Tất cả nhân dân Việt Nam đều thương tiếc Bác mất mấy ngày, nhà thơ từ xa chạy về ngóng lên chân cầu thang chờ Bác xuống nhưng chỉ là vô vọng. Không thể tin nổi Bác đã đi thật rồi.

Cảnh vật: lạnh lẽo, có cái gì đó hoang sơ thiếu đi hơi thở của một con người vĩ đại

2. Hình tượng Bác Hồ

Khổ thơ 5 nói lên tình cảm đẹp đẽ của Bác dành cho những người con đất Việt. Tim Bác mênh mông lắm có thể ôm trọn cả đất nước Việt Nam.

Cuộc đời Bác là dành cho cách mạng vì thế cho đến hơi thở cuối cùng Bác cũng vẫn muốn làm cách mạng. Thế nhưng tuổi già sức yếu Bác phải ra đi, Bác không đau mà Bác chỉ thương cho nhân dân ta, lo cho thế hệ dân tộc Việt Nam.

Bác dù đã đi xa nhưng đối với dân tộc ta thì Bác còn sống mãi, Bác hãy con yêu thương những kiếp đời nô lệ những dãy núi những cành hoa và chắc chắn Bác vẫn đấu tranh vì hạnh phúc đơn giản của dân tộc ta “Sữa để em thơ lụa tặng già”.

Bác nhớ miền Nam còn miền Nam mong Bác, lý tưởng của Bác đây sẽ soi sáng cho những thế hệ đi sau noi theo. Bác đâu có mất bác chỉ ngủ một giấc ngủ nghìn thu, Bác sống một đời thanh bạch không vàng son đến khi yên nghỉ.

3. Những cảm xúc của nhà thơ khi Bác qua đời

Ba đoạn thơ cuối nhà thơ thể hiện những cảm xúc của bản thân trước sự ra đi của Bác. Lòng dẫu muốn khóc to lên vì sự mất mát đau thương ấy nhưng lại nghĩ vì đại cuộc không dám khóc nhiều. Bác về thế giới người hiền, còn con cháu chúng ta tiếp tục con đường đấu tranh vì dân tộc.

III. Tổng kết

Bài thơ như một dòng tâm trạng của nhà thơ trước sự ra đi của Bác, có thể nói nhà thơ đã thay mặt tất cả đồng bào ta để nói lên tâm trạng chung trước sự kiện đau lòng ấy. Bằng giọng văn trữ tình cùng với thể thơ thất ngôn những tình cảm như được bày tỏ hết. Đông thời nó cũng giống như một lời hứa sẽ làm nôt những gì Bác còn chưa kịp làm.

Theo chúng tôi

Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Lớp 11 Hk 2.

Phân Tích Bài Thơ Thu Vịnh Của Nguyễn Khuyến

Phân Tích Bài Thơ Thu Vịnh Của Nguyễn Khuyến.

Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu) Lớp 11 Của Nguyễn Khuyến

Soạn Bài: Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu)

Cách Làm Thơ Lục Bát

Chùm Thơ Hay Nhất Về Tình Cảm Gia Đình: Tình Cha Mẹ, Tình Anh Em, Tình Ông Bà

Tổng Hợp Cách Làm Thơ Lục Bát. Các Mẫu Thơ Lục Bát Về Tình Yêu Lãng Mạn Nhất 2022

+688 Bài Thơ Lục Bát Mùa Xuân Cực Vui Và Ý Nghĩa

+333 Bài Thơ Lục Bát Mùa Đông Yêu Thương Hay Nhất

Thơ Về Mùa Đông – Những Câu Thơ Lục Bát Tự Sáng Tác Về Mùa Đông Lạnh

Bạn đang quan tâm tới cách để có thể tự học & làm thơ lục bát. Chỉ cần đọc hết bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thể thơ lục bát nổi tiếng của Việt Nam. Cách gieo vần, có những luật thanh như thế nào? Từ đó tự mình có thể sáng tác ra những đoạn thơ, gieo vần với từng con chữ…

Thơ Lục Bát Là Gì?

Theo tiếng Hán, Lục = 6 (sau âm tiết một câu), Bát = 8 (8 âm tiết một câu). Từ đó ghép lại tại thành thể thơ lục bát.

Thể thơ lục bát (六八) là một thể thơ của Việt Nam, đúng như tên gọi, một cặp câu thơ cơ bản gồm một câu 6 âm tiết và 1 câu 8 âm tiết, phối vần với nhau. Một bài thơ lục bát gồm nhiều câu tạo thành không hạn chế số câu.

Niêm, luật, vần của thể thơ lục bát?

Các tiếng mang thanh huyền và thanh ngang được gọi là thanh bằng; mang thanh sắc, hỏi, ngã, nặng được gọi là thanh trắc. Quy tắc cơ bản của cặp câu lục bát là các tiếng thứ 2, 6, 8 mang thanh bằng, tiếng thứ 4 mang thanh trắc, còn lại có thể tùy ý. Đuôi câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát, đuôi câu bát vần với đuôi câu lục sau. Nếu tiếng thứ sáu của câu bát là thanh ngang (dương bình) thì tiếng thứ 8 phải là thanh huyền (âm bình) và ngược lại.

Vần của thơ lục bát cũng giống như vần trong thơ nói chung, bao gồm hai loại là vần chính (giống nhau phụ âm cuối, khác phụ âm đầu) và vần thông (âm na ná nhau).

Ví dụ câu 3241-3244 trong truyện Kiều:

Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Các biến thể của thơ lục bát?

Biến thể lục bát rất đa dạng, có thể chia làm ba loại là sai khác về số âm tiết, về niêm luật và về vần hoặc tổ hợp của 2, ba loại trên.

Ví dụ sai khac số âm tiết: Câu thơ của Hồ chủ tịch thừa một tiếng ở câu bát.

Trẻ em như búp trên cành,

Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan.

Ví dụ về sai khác niêm luật: Câu ca dao có âm tiết thứ 2 và thứ 4 sai luật bằng-trắc

Lươn ngắn lại chê trạch dài,

Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.

Ví dụ về sai khác phối vần: Hình thức phối vần ở đuôi câu sáu và giữa câu 8 khá phổ biến.

Con vua thì được làm vua

Con sãi ở chùa, thì quét lá đa.

Cách làm thơ lục bát, tìm hiểu về cách gieo vần?

Luật thanh

Hai câu lục và câu bát là không thể thiếu để có thể tạo nên một bài thơ lục bát chuẩn chỉnh. Giống thể thơ Đường luật nó rất cần được được tuân hành luật thanh giống như sau: nhất, tam, ngũ bất bàn luận, nhị, tứ, lục phân minh.

Trong các số đó các tiếng thứ một, ba và năm có thể là những tiếng chính còn tiếng thứ hai, bốn, sáu phải làm theo quy tắc. Quy luật:

Tại câu lục: ta gieo theo trình tự những tiếng hai – bốn – sáu là Bằng (B) – Trắc (T) – Bằng

Tại câu bát: ta gieo theo trình tự các tiếng hai – bốn – sáu – tám là Bằng -Trắc -Bằng -Bằng (BTBB).

Ví dụ:

Tháng ba nhớ người quân nhân  Bằng – Trắc – Bằng

Ruột đau như cắt, thương thân chiều buồn Bằng -Trắc -Bằng -Bằng

Quy tắc

 về gieo vần

Mẹo gieo vần của thể thơ này khác hoàn toàn so với những thể thơ khác. Ta rất dễ dàng gieo nhiều vần trong câu chứ không nhất thiết là chỉ được gieo một vần duy nhất.

Đây được cho là một trong những phần linh hoạt của thể thơ này, không trở nên đặt nặng chủ đề gieo vần mà còn làm bài thơ hay hơn và rất dễ nghe hơn.

Ví dụ (những từ in nghiêng hay đậm là vần với nhau):

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Trong thể thơ biến thể vẫn gieo vần như thế, nhưng trường hợp câu bát của cặp câu có thanh là t-b-t-b thì tiếng thứ sáu câu lục bên trên nó vần với tiếng thứ tư của câu đó.

Hướng dẫn

 ngắt nhịp

Thơ phổ biến được ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, nhưng thỉnh thoảng để nhấn mạnh nên người đọc đổi thành nhịp lẻ là 3/3.

Mẹo đơn giản để làm thơ lục bát

Bước 1 – Phương pháp Gieo Vần – Chữ: Mẹo Gieo Vần-Chữ cuối của câu trên (tức câu 6) phải vần với chữ thứ sáu của câu dưới (tức câu 8). Cứ mỗi hai câu thì đổi vần, & bao giờ cũng gieo vần bằng (còn gọi là bằng hoặc bình, tức có dấu huyền hoặc không dấu).

Ví dụ: hòn, non, mòn, con… Nếu gieo vần mưa với mây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận.

Bước 2 – Luật Bằng Trắc: Luật Bằng Trắc-Cách sử dụng mẫu tự & viết tắt giống như sau: B là Bằng, T là Trắc, V là Vần.

Câu 6: B B T T B B

Câu 8: B B T T B B T B

Ví dụ:

(Kiều)

Ghi chú: Chữ là và đau là yêu vận (tức là vần đặt ở trong câu); chữ nhau và lòng là cước vận (tức là vần đặt ở cuối câu). Chữ thứ 6 của câu 6 (ta) hiệp vận (V) với chữ thứ 6 của câu 8 (là), chữ thứ 8 (nhau) của câu 8 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (dâu) của câu 6, chữ thứ 6 (dâu) của câu 6 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (đau) của câu 8.

Bước 3 – Thanh: Thanh bao gồm Trầm Bình Thanh & Phù Bình Thanh. Trầm Bình Thanh là các tiếng hay chữ có dấu huyền. Ví dụ: là, lòng, phòng… Phù Bình Thanh là những tiếng hay chữ không có dấu. Ví dụ: nhau, đau, mau…

Trong câu 8, hai chữ thứ 6 và thứ 8 luôn luôn ở vần Bằng, nhưng không được có cùng một thanh. Có như thế, âm điệu mới êm ắng và dễ nghe. Nếu chữ thứ 6 thuộc Phù Bình Thanh thì chữ thứ 8 phải thuộc Trầm Bình Thanh, & trái lại.

Ví dụ:

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

(Ghi chú: là thuộc Trầm Bình Thanh, nhau thuộc Phù Bình Thanh).

Các điều trông thấy mà cực khổ lòng.

(Ghi chú: đau thuộc Phù Bình Thanh, lòng thuộc Trầm Bình Thanh).

Bước 4 – Phá Luật: Phá Luật – nhiều lúc bọn họ gặp người sử dụng thơ like phá luật ở chữ thứ hai câu 6, thay vì vần bằng thì lại đổi ra vần trắc; còn chữ thứ tư thì có khi đổi thành vần bằng thay vì vần trắc như tầm thường lệ. Câu 6 cũng rất được ngắt ra sử dụng hai vế.

Tổng hợp các bài thơ lục bát hay nhất

Hạ Về Nhớ Anh

Chiều nay nhìn phượng đỏ cây

Ngoài hiên gió thoảng lắt lay bên thềm

Ve ngân bất chợt lặng im

Tim nghe giá buốt rũ mềm mi cay

Sao anh không đến chốn này

Cho em hờ hững vòng tay dại khờ

Anh đừng nhốt gió vào thơ

Chua cay em cứ thẫn thờ đan xen

Thơ say đem ủ thành men

Ngu ngơ uống cạn đời đen mất rồi

Ngoài kia phượng đỏ rực trời

Lao xao tim cứ bồi hồi quặn đau

(Hoàng Mai)

Biết

Biết anh đã có vợ nhà

Biết mình không thể yêu mà vẫn yêu

Biết lòng rồi khổ đau nhiều

Biết ngang trái đó vẫn liều nhớ nhung

Biết vô duyên thế là cùng

Biết có son sắt cũng chung chồng người

Biết tình qua phút si mê

Biết nhau bởi những hẹn thề vu vơ

Biết sầu rối nhịp đường tơ

Biết sau say đắm mộng mơ sẽ tàn

Biết mưa có tạnh, trời quang

Biết chắc chắn bão lại tràn qua tim

Biết càng yêu, luỵ từng đêm

Biết càng nhớ sẽ càng thêm đoạ đày

Biết không đi trọn ngày mai

Biết trăm năm chỉ ván bài…

em thua!

(Trường Phi Bảo)

Giấc Mơ Hoa

Đêm qua trong giấc mộng vàng

Bóng anh nhẹ lướt nhẹ nhàng giấc say

Chúng mình tay lại cầm tay

Mắt môi chờ đợi bao ngày dấu yêu

Đan tay đi giữa rừng chiều

Heo may lạnh buốt đìu hiu nắng tàn

Giật mình nuối giấc mơ tan

Ngoài kia nắng đã ươm vàng rồi anh

(Hoàng Mai)

Bài Quê Hương – Nguyễn Đình Huân

Quê hương là một tiếng ve

Lời ru của mẹ trưa hè à ơi

Dòng sông con nước đầy vơi

Quê hương là một góc trời tuổi thơ

Quê hương ngày ấy như mơ

Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu

Quê hương là tiếng sáo diều

Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê

Quê hương là phiên chợ quê

Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa

Quê hương là một tiếng gà

Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng

Quê hương là cánh đồng vàng

Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều

Quê hương là dáng mẹ yêu

Áo nâu nón lá liêu siêu đi về

Quê hương nhắc tới nhớ ghê

Ai đi xa cũng mong về chốn xưa

Quê hương là những cơn mưa

Quê hương là những hàng dừa ven kinh

Quê hương mang nặng nghĩa tình

Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời

Quê hương ta đó là nơi

Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

Bài Quê Hương Nỗi Nhớ – Hoàng Thanh Tâm

Trở về tìm mái nhà quê

Tìm hình bóng mẹ bộn bề nắng mưa

Tìm nắng xuyên ngọn cây dừa

Tìm hương mạ mới gió lùa thơm tho

Tìm đàn trâu với con đò

Áo bà ba mẹ câu hò trên sông

Nón lá nghiêng nắng nước ròng

Miền quê khó nhọc con còng con cua

Lục bình tim tím mùa mưa

Bồng bềnh một khúc sông khua mái chèo

Khói lên cháy bếp nhà nghèo

Con gà cục tác con mèo quẫy đuôi

Heo gà chạy ngược chạy xuôi

Chân bùn tay lấm nụ cười chân quê

Cánh cò trắng xóa vọng về

Ngân nga vọng cổ bốn bề thiên nhiên

Đậm đà ký ức giao duyên

Xương cha máu mẹ dịu hiền ca dao

Con dù biền biệt phương nào

Quê hương một dạ dạt dào khó phai.

Bài Thơ Lục Bát Miền Quê – Đức Trung

Tôi thầm nhớ một miền quê

Ước mơ thăm lại trở về tuổi thơ

Đồng xanh bay lả cánh cò

Hương sen tỏa ngát mộng mơ những chiều

Vi vu gió thổi sáo diều

Bóng ai như bóng mẹ yêu đang chờ?

Dòng sông, bến nước, con đò

Có người lữ khách bên bờ dừng chân

Xa xa vẳng tiếng chuông ngân

Bờ tre cuối xóm trong ngần tiếng chim

Tuổi thơ thích chạy trốn tìm

Cây đa giếng nước còn in trăng thề

Xa rồi nhớ mãi miền quê

Trong tim luôn nhắc trở về ngày xưa…

Nguồn bài viết: cách làm thơ lục bát

Thơ Lục Bát Là Gì? Cách Làm Thơ Lục Bát Tự Sáng Tác

Những Bài Thơ Hay Lớp 3

Dàn Ý Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát

Học Tiếng Anh Qua Thơ Lục Bát Của Gs Toán Ngô Bảo Châu

Top Những Bài Thơ Hay Nhất Của Tố Hữu

🌟 Home
🌟 Top