Top #10 ❤️ Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Học Sinh Giỏi Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Văn

Đọc Hiểu Văn Bản: Vội Vàng (Xuân Diệu)

Đề Thi Cuối Năm Ngữ Văn 11 Bài Vội Vàng Có Ma Trận Đáp Án

Tìm Hiểu Văn Bản: Vội Vàng – Xuân Diệu

Cảm Nhận Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Phân Tích Đoạn Thơ “của Ông Bướm Này Đây Tuần Tháng Mật… Tháng Giêng Ngon Như Một Cặp Môi Gần”

Đề:  Nói về tài năng thơ, Ra- xun Gam-za-tốp cho rằng: “Giống như ngọn lửa bùng lên từ những cây củi khô, tài năng cũng được nuôi dưỡng bằng những tình cảm mạnh mẽ của con người”. Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Tự chọn phân tích một bài thơ để làm sáng tỏ.

          Bài làm của em Trần Thị Đinh Huệ, học sinh lớp 11 chuyên văn trường THPT chuyên Lương Văn Chánh, Phú Yên (Năm 2022)

BÀI LÀM

Này là gió thổi khúc tình ca khẽ lay động những bông cúc dại đang nằm ủ rủ bên vệ đường vươn mình đón cái vuốt ve ngọt ngào của gió. Này là bầu trời nhẹ nhàng lững lờ để lộ những đám mây ánh hồng trong ánh nắng hoàng hôn. Này là những giọt nước mắt thoát ra từ trang sách vào cuộc đời để gột rửa bao cằn khô sỏi đá để làm mát lòng nhân thế, để những điệu hồn khe khẽ trở mình như những bong bóng mưa len lỏi trên khắp lối về. Có phải vậy không mà hàng ngàn năm nay văn chương cuộn mình trong biết bao nguồn cảm xúc dạt dào, cuộn mình trong cái dòng nóng hổi của tình yêu, tình người nồng thắm. Bao quan niệm độc đáo về văn chương, nghệ thuật được đưa ra. Từ Biêlinxki đến Sêchxpia, VictoHuygo và giờ đây Raxun Gamzatốp đã góp thêm một tiếng nói để hoàn thành những mảnh ghép độc đáo về nghệ thuật: “Giống như ngọn lửa bùng lên từ những cành củi khô, tài năng cũng được nuôi dưỡng bằng những tình cảm mạnh mẽ của con người”

Từ khi sinh ra, văn học đã đến với con người qua giọng ru ngọt ngào tha thiết của mẹ, qua tiếng thơ êm dịu của bà. Men ngọt ngào của những vần thơ ấy đã khẽ chạm vào trái tim con người rung lên những tình cảm tha thiết. Không phải ngẫu nhiên mà Gamzatốp đã mượn hình ảnh những cây củi khô để nói về tài năng của người nghệ sĩ. “Cành củi khô” đó là chất liệu, là sự chuẩn bị sẵn sàng cho sự bùng cháy của ngọn lửa lớn, cho sự bừng sáng của những ánh háo quang. Củi khô cũng giống như trái tim của con người vậy, khi đã đủ đầy, khi đã thăng hoa như những mầm non càng đầy nhựa sống thì thất yếu nó sẽ vỡ ra và tung lên những vần thơ cháy bỏng, đắm say. Nếu gió có thể lưu chuyển những đám mây, sông chuyên chở những giọt nước đi ra biển lớn thì cảm xúc đưa trái tim người nghệ sĩ đạt đến mức cực điểm để chuyển hóa thành thơ. Tình cảm càng nồng thì tác phẩm càng hay, cảm xúc càng thăng hoa thì tác phẩm càng thành công. Phải thấu hiểu được qui luật ấy thì người nghệ sĩ mới làm nên tác phẩm xuất sắc cho đời.

Thơ ca phản ánh đời sống. Đời sống chính là chất liệu sơ khai để làm nên một tác phẩm. Nhà thơ như con ong lặn sâu vào cuộc đời để hút cho mình những giọt mật tinh túy nhất để làm đẹp cho nghệ thuật. Nhưng thơ sẽ chết nếu nhà thơ chỉ miêu tả cuộc sống để mà miêu tả, người nghệ sĩ phải gửi vào đó tiếng lòng, tiếng nói tha thiết của mình. Nhà thơ có thể miêu tả vẻ đẹp của một đám mây, một dòng sông, một bức tranh nhưng điều mà nghệ thuật quan tâm là đằng sau ấy người ta tìm thấy tiếng nói, cảm xúc, nỗi lòng của tác giả. Sẽ ra sao khi tác phẩm ấy chỉ là những con chữ nằm thẳng đỏ trên trang giấy? Sẽ ra sao khi văn học chỉ là sự copy cuộc sống một cách máy móc? Khi ấy liệu người đọc có còn thích thú ngâm lên những vần thơ nữa hay không.

Đặc biệt, bản chất của thơ ca là thể hiện đời sống nội tâm của con người. Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Tố Hữu từng viết rằng: “Thơ là điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu”. Tiếng thơ là tiếng lòng, là tiếng nói của lương tri và tình cảm của con người.Bởi vậy tình cảm trong thơ phải là những tính cảm chân thành, sâu sắc, mãnh liệt nhất.Sự hời hợt, nhạt nhẽo, khiên cưỡng sẽ không thể thành thơ. Đọc thơ mà không xúc động, không day dứt, không ám ảnh thì coi như tác giả đã thất bại. Ý kiến của Gamzatốp đã nêu lên yêu cầu của việc sáng tác thơ ca là phải luôn để trái tim mình giữa cõi đời bao la rộng lớn với những rung cảm sâu xa.

Thơ ca là chiếc nôi nâng giấc của con người, là thứ thuốc càng ngày ngấm càng ngọt đưa con người vào những phút giây êm đềm. Ta giật mình trước cái da diết, khắc khoải đến đau đớn của Hàn Mặc Tử. Ta lặng lẻ trở về một buổi chiều u buồn trong trang thơ Huy Cận.Và đặc biệt ta như sống lại cái mạnh mẽ trào sôi trong “Vội vàng” của Xuân Diệu. Tác phẩm đã để thương để nhớ trong trái tim của biết bao người về những dòng cảm xúc dạt dào, bồng bột có lúc đã thực sự là một cơn lũ cảm xúc, cuốn theo bao nhiêu hình ảnh thi ca dạt dào sức sống. Nhưng hơn hết “Vội vàng” cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lối sống, về cái tôi thật táo bạo của nhà thơ.

Mở đầu bài thơ là một khổ thơ ngụ ngôn thể hiện ước muốn kì lạ của thi sĩ. Ấy là ước muốn đảo lộn qui luật tự nhiên:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

Nói Xuân Diệu là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” quả không sai! Nếu như trong thơ ca của những thi sĩ lãng mạn ngày xưa thiên đường là chốn bồng lai tiên cảnh, là nơi gió trăng mây hoa thì theo Xuân Diệu cuộc sống gió trần gian mới là nơi đẹp nhất và căng mọng nhựa sống nhất. Thơ ông luôn có một niềm say mê cảnh sắc trần gian, một niềm khát khao giao cảm với đời, một lòng ham sống mảnh liệt. Nhà thơ muốn tắt nắng, buộc gió để giữ mãi hương sắc của đất trời. Lòng ham muốn lạ lùng ấy đã hé mở cho ta một lòng yêu bồng bột nhưng mãnh liệt, đắm say đối với cái thế giới thắm sắc đượm hương này. Ước muốn đóng băng thời gian, chặn vòng quay của vũ trụ, đảo ngược qui luật tự nhiên để giữ mãi vẻ đẹp của cuộc đời.

Mở ra trong “Vội vàng” là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Xuân Diệu đưa người đọc vào một chốn non nước tuyệt vời; diễn tả nó bằng một tình cảm, cảm xúc nồng nàn, mãnh liệt

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến oanh này đây khúc tình si”

Cùng thời, nếu như Thế Lữ tìm lên chốn bồng lai tiên cảnh, với chị Hằng, thỏ ngọc với “tiên nga xõa tóc bên nguồn” thì Xuân Diệu chính là người đã “đốt cảnh bồng lai” xua ai nấy về hạ giới. Lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống đã khiến tâm hồn thi sĩ bám chặt cuộc sống trần thế, không thoát li như các nhà thơ khác mà nói như Thế Lữ: “Lầu thơ của ông được xây dựng trêt đất của một tấm lòng trần gian”. Nhà thơ đã phát hiện cả một thiên đường trên mặt đất này, tươi đẹp đến từng centimet. Đó là bức tranh thêu mà trong mỗi đường chỉ là một sự dụng công vô cùng khéo léo tinh tế và sắc sảo. “Tuần tháng mật” của đôi vợ chồng đắm say trở thành mùa của ong bướm dập dìu. “Cành tơ” thì “phơ phất”. Từ láy “phơ phất” diễn tả được bước đi đầu xuân, mềm mại, nhẹ nhàng, trẻ trung trước gió. Và trong bức tranh đó không thể thiếu tiếng hót của chim yến oanh, tiếng hót hút hồn của biết bao con người yêu cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp. Tất cả mọi giác quan của thi sĩ như rung lên căng ra mà đón nhận tất cả, cảm nhận tất cả. Sự sống đang ngồn ngột phơi bày thiên nhiên hữu tình xinh đẹp, đáng yêu như một sự gợi mở hấp dẫn đến kì lạ, một sự mời mọc mà thiên nhiên là những món ăn có sẵn. Điệp ngữ “này đây” được sử dụng năm lần kết hợp với lối liệt kê khiến nhịp thơ trở nên tươi vui, dồn dập tựa như một tiếng réo vui ngây ngất, trầm trồ. Cảnh vật trong thơ ông trở nên cuộn trào sắc màu, cuộn trào sức sống. Thi pháp hiện đại đã chấp cánh cho những cảm giác mới mẻ của Xuân Diệu, giúp nhà thơ diễn tả trạng thái hồn nhiên, bồng bột trước cảnh đẹp mùa xuân.

Thơ xưa lấy thiên nhiên làm chuẩn mực để miêu tả cái đẹp của con người: “Phù dung như diện liễu như mi”. Xuân Diệu đưa ra một chuẩn mực khác, lấy con người giữa tuổi yêu đương để miêu tả thiên nhiên. Ấy mới là tiêu chuẩn cho mọi vẻ đẹp trên thế gian này. Con người là thước đo thẩm mĩ của vũ trụ, vẻ đẹp của con người trần thế là tác phẩm kì diệu nhất. Nói như Shakespeare: “ Con người là biểu mẫu của muôn loài”. Tư tưởng mỹ học ấy đã giúp nhà thơ sáng tạo nên một câu thơ vào loại tuyệt diệu của nền thi ca Việt Nam hiện đại “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.

1. Full tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi môn Văn

2. Khóa học Online điểm 8+ môn Văn

Đang ở đỉnh điểm của hạnh phúc, tâm hồn của nhà thơ bỗng trỗi dậy nỗi lo âu trước cái mong manh, chóng vánh của cuộc đời. Thi nhân chợt nhận ra qui luật khắc nghiệt của dòng chảy thời gian “tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ lụi tàn”. Hai tâm trạng trái ngược, nhưng dồn nén trong một câu thơ “Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa”. Về hình thức đây là một cấu trúc đặc biệt bởi nó ngắt thành hai câu chứa đựng hai tâm trạng, hai cảm xúc hoàn toàn trái ngược sung sướng – vội vàng. Nhưng điều mà Xuân Diệu muốn diễn tả ở đây là “vội vàng một nửa”. Thường thì con người ở tuổi trung niên mới nuối tiếc tuổi xuân. Ở đây Xuân Diệu đang xuân mà đã tiếc nuối, đã vội vàng “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Vì sao vậy? Vì Xuân Diệu hiểu rằng:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

                              Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

 Mà xuân hết nghĩa là tình tôi cũng mất

               Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật

                                 ….

               Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi

               Khắp sông núi vẩn than thầm tiễn biệt

               Con gió xinh thì thào trong gió biếc

               Phải chăng hờn vì nổi phải bay đi”

Quan niệm của Xuân Diệu vừa quen vừa lạ. Quen vì người xưa đã từng nói rằng “xuất bất tài lai”.Và lạ bởi đó là tiếng nói của một cái tôi ham sống, coi mùa xuân tình yêu và tuổi trẻ là tất cả của sự sống. Biết rằng mùa xuân của đất trời vẫn tuần hoàn nhưng tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại “nên thi sĩ bâng khuâng tiếc nuối”, rồi chìm vào một nỗi cô đơn, sầu tủi, miên man.  Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy vô hình mà mỗi khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn. Trái tim Xuân Diệu đa cảm quá, tâm hồn nhà thơ tinh tế quá để cảm thấy xót xa trước bước đi của thời gian. Vì thế mà nhà thơ chọn cho mình quan niệm sống “Vội vàng” như một cách đối phó với thời gian.  Trong đoạn thơ tiếp theo, cái giọng điệu sôi nổi, bồng bột, đắm say của Xuân Diệu thời “Thơ thơ” được thể hiện đầy đủ nhất. Từng làn sóng ngôn từ lúc đan chéo nhau, lúc lại song song thành những đợt sóng ào ạt vỗ mãi vào tâm hồn người đọc tiếp tục bắt gặp cái “tôi” đầy táo bạo của nhà thơ hòa trong cái “ta” rộng lớn:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn siết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Và non nước và cây và cỏ rạng

Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”

Hình thức trình bày đoạn thơ rất đặc biệt thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả. Ba chữ “ta muốn ôm” như mô phỏng hình ảnh nhân vật trữ tình đang dang rộng vòng tay ôm hết tất cả sự sống lúc xuân thì. Điệp ngữ “ta muốn” được điệp lặp lại bốn lần, một lần đi với một động từ diễn tả tình yêu càng lúc càng mãnh liệt hơn: “ôm, riết, say, thâu,hôn, cắn” đã thể hiện một khát khao tận hưởng đến cháy bỏng, nồng nàn. Câu thơ “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” là là đỉnh điểm của cảm xúc. Dường như đối với tác giả, mùa xuân ngon lành và quyến rũ như một trái chín ửng hồng khiến nhà thơ say mê muốn cắn vào nó. Khát khao giao cảm của nhà thơ mãnh liệt đến mức không có giới hạn.

Với bài thơ “Vội Vàng”, Xuân Diệu đã phả vào nền thi ca Việt Nam những âm điệu mới lạ bằng chính cảm xúc tha thiết, mãnh liệt. Chính cảm xúc từ trái tim đã đưa thơ Xuân Diệu đi vào trái tim người đọc. Nếu không có những cảm xúc được thăng hoa đến mức tuyệt đỉnh ấy, chắc chắn tác phẩm của Xuân Diệu sẽ không say đắm, nồng nàn đến thế.

Gamzatốp đã khẳng định tầm quan trọng của cảm xúc, tình cảm trong thơ. Khởi nguồn của thơ là tình cảm và đích đến của nó củng chính là trái tim con người. Tình cảm càng mạnh liệt thơ càng nồng nàn, tha thiết. Nói như Tagore: “Cũng như nụ cười và nước mắt thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong”.

* Nhận xét của thầy Hồ Tấn Nguyên Minh

– Hiểu đề sâu sắc, kiến giải tốt vấn đề

– Lập luận chặt chẽ, logic; kiến văn sâu rộng.

– Cách viết hấp dẫn, giàu chất văn

Vui lòng ghi rõ nguồn từ thầy Phan Danh Hiếu và ghi tên học sinh làm bài này.

Giáo Án Ngữ Văn 11: Vội Vàng

Văn Lớp 11: Phân Tích Cảm Nhận Đoạn 3 Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

1945 Đã Có Đóng Góp To Lớn Và Làm Sâu Sắc Hơn Quá Trình Hiện Đại Hóa Văn Học Nước Nhà. Xuân Diệu Là Nhà Thơ Được Nhắc Đến Nhiều Nhất Và Cũng Là Nhà Thơ Tiêu Biểu Nhất Cho Nền Thơ Ca Thời Kì Này. Xuân

Bài Thơ Vội Vàng (Xuân Diệu) – Tiếng Nói Của Một Con Tim Say Mê

Đặc Điểm Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ “Vội Vàng”

Bài Văn Của Học Sinh Giỏi: Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Để Chứng Minh Nhận Định

Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng (Cực Hay)

Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu Của Học Sinh Giỏi

Những Yếu Tố Mới Mẻ Qua Thi Phẩm “vội Vàng”

Đọc Hiểu Bài Thơ “vội Vàng”

Tìm Hiểu Bài Thơ “vội Vàng” Của Xuân Diệu

Leptônxtôi từng nói

“Khi đọc xong tác phẩm văn học, hứng thú chủ yếu là tính cách tác giả được thể hiện trong đó”.

Anh chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? hãy làm sáng tỏ vấn đề qua bài thơ ” Vội Vàng” của Xuân Diệu.

Bài văn mẫu chứng minh nhận định của Leptônxtôi qua bài thơ Vội Vàng.

Mở bài

Khi chúng ta làm quen với một người lạ, cái để lại ấn tượng trong ta và cũng là cái quyết định xem ta có muốn thân thiết, hoặc tạo khoảng cách với họ, không chính là tính cách của người đó, tính cách là nét đặc trưng và là ấn tượng của mỗi người trong lòng người khác. Không những trong cuộc sống mà trong văn học cũng vậy, điều để lại ấn tượng và cảm tình đối với người đọc đó chính là phong cách nghệ thuật của tác giả. Nhà văn Nga Leptônxtôi đã từng nói rằng: “khi đọc xong tác phẩm văn học, hứng thú chủ yếu là tính cách tác giả được thể hiện trong đó”. Thật đúng như vậy, và điều này được thể hiện rõ ràng qua bài thơ “Vội Vàng” của Xuân Diệu, một bài thơ hay và mang lại nhiều rung cảm trong lòng người đọc.

Thân bài.

Giải thích nhận định của Leptônxtôi

Thông thường người ta hay nói đến tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học, nhưng ở đây nhà văn Leptônxtôi lại đề cập đến tính cách tác giả. Đây là cách nói mới mẻ và đầy đủ ý nghĩa, ta hiểu tính cách tác giả ở đây chính là phong cách nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ nhưng phong cách nghệ thuật ấy được hình thành nên từ lối sống quan niệm sống và ảnh hưởng bởi cuộc sống thực tại, sự trải nghiệm cuộc đời của người nghệ sĩ. Ý kiến của LepTônxtôi nhằm khẳng định vai trò và ý nghĩa của phong cách nghệ thuật trong sáng tác văn chương. Phong cách của người nghệ sĩ trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật là rất quan trọng, phong cách của nghệ sĩ chính là cái khác, cái nổi bật để tạo nên sự ấn tượng cho người đọc và để phân biệt với các nghệ sĩ khác. Mỗi con người sinh ra có một giọng nói riêng, mỗi loài chim có một tiếng hót riêng, từng loài hoa có vẻ đẹp riêng tư riêng và người nghệ sĩ cũng vậy cũng cần phải có phong cách của riêng mình, bởi đó chính là thước đo cho sự vươn tới thành công tạo ấn tượng trong lòng người đọc của nhà văn, nhà thơ thực thụ tài năng.

Sê khốp từng nói nếu một tác giả không có lối đi riêng của mình thì người đó sẽ không bao giờ là nhà văn học được, vì sao lại như vậy? chúng ta biết rằng xã hội nào văn học đấy, cùng sống trong một hiện tượng xã hội, cùng nhận thức được vấn đề của sự việc, nếu mỗi người nghệ sĩ cũng không có phong cách riêng của mình tạo cho mình cách nhìn mới mẻ mẻ, không biết khám phá những điều chưa ai khám phá thì tác phẩm của họ sẽ chẳng có nét gì nổi bật, thậm chí bị chìm xuống so với những tác phẩm nghệ thuật khác, bởi độc giả không có chút ấn tượng gì với một tác phẩm không có sức hút không có điểm nhấn. Nhưng nếu trong rất nhiều tác phẩm cũng viết về một đề tài một nội dung nhưng người nghệ sĩ biết thể hiện phong cách nghệ thuật cá nhân thông qua tác phẩm, biết khai thác ở những góc độ mới nhìn nhận sự việc theo quan điểm của mình thì tác phẩm đó sẽ trở nên nổi bật so với các tác phẩm dùng để tải khác.

Trong phong trào thơ mới, trên văn đàn đã xuất hiện rất nhiều nhà thơ tài năng, các tác phẩm đặc sắc, nhưng trong tất cả các thi nhân của giai đoạn này thì Xuân Diệu được đắnh giá là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới bởi trong cùng một thời đại “lộn xộn”. đất nước bị thực dân Pháp xâm lược chúng mang những truyền thống văn hóa của chúng sang Việt Nam khiến đất nước rơi vào tình cảnh “Á, Âu, xã hội Tây, tàu nhố nhăng”. Trước tình cảnh này nhiều nhà thơ không giấu được buồn chán, nhiều người còn muốn thoát ly khỏi hiện thực cuộc sống để đến với chốn bồng lai. Ta biết đến Huy Cận với nỗi buồn “sầu vạn kỉ” trải dài trong tác phẩm nghệ thuật trước cách mạng tháng 8, ta biết đến Lưu Trọng Lư với mùa thu buồn trống vắng, Thế Lữ với một khối căm hờn và mong muốn được thoát khỏi phải sống tù túng, nhưng vẫn quẩn quanh trong bê cắt. Trong khi các nhà thờ khác đang buồn sầu chán nản thì Xuân Diệu đã thể hiện một cách nhìn một quan niệm sống hoàn toàn khác.

Chứng minh nhận định của Leptônxtôi qua bài thơ Vội Vàng

Là người mang trong mình những tri thức của cả văn hóa phương Đông lẫn phương tây Xuân Diệu là nhà thơ có tư tưởng thẩm mỹ kết hợp giữa cổ điển và hiện đại. Đặc biệt, ông có phong cách nghệ thuật hoàn toàn khác với những nhà thơ khác. Độc giả biết đến Xuân Diệu là một nhà thơ có nguồn cảm hứng mới lạ là, một người sôi nổi luôn thể hiện khao khát giao cảm, nồng cháy, cuồng say với cuộc đời. Xuân Diệu luôn ý thức được sự thật, sự của đời người vì vậy luôn có thái độ sống vội, sống tích cực. Ngoài ra điều nổi bật ở Xuân Diệu là người khác ấn tượng, đó là ông là nhà thơ của mùa xuân, của tình yêu và tuổi trẻ, luôn có cái nhìn “xanh non, biếc rờn” . Trước cuộc đời và chính cái tôi độc đáo ấy đã giải phóng ước lệ phi ngã của thơ ca cổ điển. Cá tính nghệ thuật này đã được Xuân Diệu thể hiện qua rất nhiều tác phẩm của mình, nhưng có lẽ bài thơ “Vội Vàng” là bài thơ thể hiện được phong cách và quan niệm sống của tác giả một cách rõ nét nhất. Bài thơ “Vội vàng” được rút ra từ tập thơ thơ viết năm 1938 và là bài thơ tiêu biểu trong tác phẩm mà Xuân Diệu viết trước cách mạng tháng 8.

” Nếu bây giờ chỉ cần gọi tên một nhà thơ trong thơ mới thôi, thì gần như tất cả sẽ gọi Xuân Diệu”. Có lẽ là vì sự táo bạo của ông được thể hiện trong thơ.

” Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

Trong cả một bài thơ theo thể 8 chữ, chỉ có 4 câu thơ được viết theo thể thơ ngũ ngôn, một thể thơ phù hợp cho việc thể hiện những cảm xúc về vần của Xuân Diệu. Điệp ngữ “Tôi muốn” được nhắc lại hai lần cùng với đó là 2 động từ mạnh “tắt” và “buộc” đã làm nổi bật khao khát của nhà thơ. Đó là khao khát “tắt nắng”, “buộc gió” để giữ lại màu hoa “cho màu đừng nhạt mất”, để giữ lại sắp thơm “cho hương đừng bay đi”. Đó là khát vọng chiếm đoạt quyền năng của tạo hóa để buộc hương hoa thắm mãi bên đời. Ngông cuồng hơn cả là nhà thơ muốn vũ trụ ngừng quay thời gian dừng lại để thi nhân tận hưởng được những phút giây tuổi trẻ của đời mình. Ta cảm nhận được một dòng cảm xúc mạnh mẽ, một khát vọng sống mãnh liệt để được tận hưởng trọn vẹn cuộc đời, tuy nhiên có thể làm mọi thứ dù cho đó là những hành động rất táo bạo gần như không thể thực hiện được, (tắt nắng, buộc gió).

Từ khao khát, mãnh liệt được giao cảm với cuộc đời đó. Xuân Diệu đã kiếm tìm những điều tươi đẹp, đã khám phá ra vẻ đẹp phơi phới, tình tứ của mùa xuân thông qua những cảnh vật thiên nhiên.

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của Yến Anh này đây khúc tình si

Và này đầy ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi buổi sớm, thần vui hằng gõ cửa”

Xuân Diệu luôn nhìn cuộc đời bằng cái nhìn “xanh non, biếc rờn”, phải là một người rất yêu đời yêu thiên nhiên thì nhà thơ mới có thể cảm nhận được từng chuyển biến của sự vật như thế. Xuân Diệu đã phát hiện ra vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh vật đang vào độ thanh tân nhất, diễm lệ nhất. Một bức tranh hội tụ đầy đủ những hương thơm, ánh sáng và màu sắc âm thanh. Đặc biệt cảnh vật hiện lên đều có đôi có cặp: ” Ong Bướm, tuần tháng mật”, ” hoa, đồng nội xanh rì”. Thi sỹ như đang đứng trước bức tranh thiên nhiên mà chỉ trỏ: “Này đây hoa”, ” này đây lá”, ” này đây ánh sáng”. Nhà thơ đã mở lòng mình để cảm nhận và thưởng thức từ mọi giác quan như đang muốn ôm trọn sự sống ngồn ngộn vào lòng mình. Thiên nhiên như một bữa tiệc trần gian đầy những thực đơn quyến rũ còn có cả Ong Bướm lượn tình tứ, ngọt ngào, hoa đua nhau khoe sắc tạo nên “đồng nội xanh gì”, cây cối đâm chồi nảy lộc lên những “cành tơ phơ phất”. Điểm vào bức tranh ấy là một ánh sáng lấp lánh, và tiếng hót của loài chim Yến anh đang ca ” khúc tình si”. Cuộc đời đang tràn đầy nhựa sống và thi nhân đang tận hưởng một cách say đắm. Khi các nhà thơ khác muốn thoát lên trên thoát lên chốn bồng lai thì Xuân Diệu đã bày tỏ rằng:

” Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần

Chân hóa dễ để hút mùa dưới đất”

Một khát khao sống đến mãnh liệt, không muốn rời xa cuộc đời không muốn sống sống mờ nhạt, sống vô nghĩa.

” Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời

Kẻ đựng trái tim trên máu đất

Hai tay chín móng bám vào đời”

Chẳng kiếm ở nơi đâu một hồn thơ dạt dào đến thế. Chính cảm hứng và trôi nổi rất “Tây” đó mà Xuân Diệu đã phải phá bỏ những ước lệ phi ngã cổ điển, khi mà trong thơ văn xưa thi nhân lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp

“Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

( Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Nhưng với Xuân Diệu, con người là chuẩn mực cho cái đẹp. Mùa xuân trong thơ xưa là:

” Mùa xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

( Nguyễn Du)

Thì xuân diệu chỉ diễn tả hết tất cả vẻ đẹp, sự tươi ngọt đó chỉ qua một hình ảnh so sánh.

” Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Mai ước lệ phi ngã cổ điển đã được giải phóng. Ta cảm nhận được vẻ đẹp của mùa xuân như sự ngọt ngào của ” cặp môi gần” tình tứ.

Chính vì quá yêu cuộc sống, muốn được giao cảm với đời mà nhà thơ mang trong mình tâm trạng vừa sung sướng, vừa tiếc nuối vì sợ thời gian tuổi trẻ sẽ trôi đi mất, tiếc nuối mùa xuân ngay khi đang ở trong mùa xuân.

“Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Người ta nói Xuân Diệu là nhà thơ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ quả thật không sai, xuân diệu trọn viết về mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, chọn tuổi trẻ cái tuổi cuồng nhiệt và sôi nổi nhất của cuộc đời và tình yêu là tình cảm có nhiều cung bậc cảm xúc nhất của con người. Thật là tinh tế! nhà thơ quan niệm rằng:

” Xuân đang tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”

Ta cảm nhận được sự hoài nghi băn khoăn và không giấu nổi sự lo lắng, vì quá yêu tuổi trẻ nên điều thi sĩ sợ nhất là tuổi trẻ qua đi tuổi già mau tới, bởi khi đã bước qua tuổi trẻ thì con người không thể quay lại ngược với thời gian được nữa đâu. Xuân Diệu đã lấy cả sinh mệnh cả thể của mình để trần tình làm thước đo của thời gian. Mà đó cụ thể là, quãng ngắn nhất của cuộc đời, tuổi trẻ:

” Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thăm lại!

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi

Nếu bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”

Chữ xuân được lặp đi lập lại nhiều lần. xuân vừa là “xuân của đất trời” vừa là “xuân của tuổi trẻ”. Nhưng mỗi lần nhắc lại bắt gặp sự ngậm ngùi của thi nhân. Nhà thơ ý thức được sự phản chiếu của đời mình, ý thức được rằng mùa xuân của thiên nhiên thì vẫn hoàn toàn nhưng tuổi trẻ của con người thì chỉ đến một lần duy nhất. Ở cái tuổi trẻ đầy năng lượng đó, thi nhân muốn say đắm, muốn cuồng nhiệt đến mức cảm thấy lượng trời vẫn còn chật. Tác giả sử dụng hệ thống từ ngữ tương phản đối lập, “xuân tuần hoàn”, “tuổi trẻ chẳng hai lần”, “còn”, “chẳng còn” làm nổi bật tâm trạng nuối tiếc thời gian của cuộc đời. Vũ trụ có thể vĩnh viễn, Mùa xuân có thể tuần hoàn, nhưng tuổi xuân của con người chỉ có một lần đã qua là mãi mãi. Ta cảm nhận được những tiếng thở dài của thi nhân khi bâng khuâng tiếc nuối nghĩ về một ngày nào đó mình sẽ không còn có thể cảm nhận được bao thanh sắc của cuộc đời được nữa.

Vì suy nghĩ lo lắng rằng đời người là hữu hạn, cái gì rồi cũng sẽ qua đi, nên trong cảm nhận của mình thi nhân thấy vạn vật cũng như đang tiếc nuối chia ly.

“Mùi tháng năm đều sơm bị chia phôi

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt

Con gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hơn vì nỗi phải bay đi

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa”.

Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu là cảm nhận đầy tính mất mát, mỗi khoảnh khắc là sự mất mát đối với từng cá thể. Nhà thơ có thể cảm nhận rõ được “mùi năm tháng”, và “vị chia phôi”, dạy lên khắp không gian là than thở, tiễn biệt. Phần đời sinh bệnh của cá thể đang ra đi không thể nào tái tạo

tạo được. Tác giả lo lắng tiếc nuối khi nghĩ về phần đời sắp sửa tàn phai của mình nên cũng cảm thấy vạn vật cũng đang than thở theo. Xuân Diệu quả thật ham sống đến cuồng nhiệt, một nét phong cách mà khó có thể tìm được ở những nhà thơ cùng thời khác. Ông yêu mùa xuân, yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời, vì vậy ông chỉ muốn nắm giữ tất cả tinh hoa trong cuộc sống là của riêng mình, một sự tham lam rất thú vị và đáng yêu.

Khổ thơ cuối cùng thể hiện rõ nét nhất niềm khát khao, sống mãnh liệt của thi nhân:

“Chẳng bao giờ tôi chẳng bao giờ nữa

Mau đi thôi mưa chưa ngã chiều hôm

Ta muốn ôm!

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn biết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước và cây và cỏ rạng”

Đây là đoạn thơ mang đậm chất phong cách của tác giả, khát khao hưởng thụ cuộc sống đến vội vã, vội vàng. Chỉ với 3 chữ ” Ta muốn ôm” được tách riêng ra thành một câu ta thấu hiểu hết được cái ước mong mãnh liệt của thi sĩ muốn dành hết cho mình cả sự sống mơn mởn”, những gì tươi nhất đẹp nhất ở cõi trần thế. Sau khi đã ôm trọn cả sự sống vào lòng khi ngân còn muốn “siết”, muốn “thâu”, muốn “say”. Chao ôi! dường như thi sĩ muốn mình phải sở hữu tất cả những gì tươi đẹp nhất. Một sự sống của mình không đủ thi nhân còn muốn ôm thêm những sự sống khác vào lòng. Đoạn thơ ngắn nhưng có 4 từ ” ta muốn” lập đi lập lại thể hiện nhịp điệu hối hả, chứng tỏ Xuân Diệu nồng nhiệt đến rối rít cuống quýt, một khát khao đến ham hở, cuồng nhiệt của nhà thơ, muốn ” say cánh bướm với tình yêu”, muốn ” thâu trong một cái hôn nhiều”, muốn hút hết vào lòng nhựa sống dạt dào để rồi:

“Cho chếnh chóang mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thành sắc của thời tươi

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”

Thi sĩ như con ong bay đi hút mật đến no say ” chếng choáng”. Say mê đến mạnh bạo muốn cắn vào xuân hồng cho thích thú cho thỏa mãn. Đây chính là đỉnh điểm khát khao cháy bỏng của nhà thơ, bao nhiêu niềm ham sống mong muốn được say mê với đời đã được nhà thơ thể hiện rõ nhất rất mãnh liệt và kết thúc là một cử chỉ thật đáng yêu: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”.

Nghệ thuật cũng là yếu tố tạo nên sự thành công cho tác phẩm, bên cạnh phong cách và tài năng của thi sĩ. Bài thơ mang đậm chất trữ tình lãng mạn, nhưng không quá bay bổng mà lại gần gũi thân quen, ngôn ngữ trong thơ giao hình ảnh kết hợp giữa chất cổ điển lẫn hiện đại thể thơ 8 chữ nhưng xen lẫn vài dòng thơ ngũ ngôn dòng thơ 3 chữ, 10 chữ tạo điểm nhấn cho tác phẩm. Nhờ những nét nghệ thuật đặc sắc đó mà vội vàng trở thành bài thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới, được nhiều độc giả yêu quý.

Phong Cách độc đáo mới lạ, chính là bước đệm dẫn đến sự thành công của một nghệ sĩ, nhờ có tài năng và phong cách nghệ thuật đặc sắc Xuân Diệu đã trở thành một nhà thơ nổi tiếng nhà thơ mới nhất trong phong trào thơ mới và giành được nhiều cảm tình từ độc giả ở mọi thế hệ./.

Xuân Diệu Và Quan Niệm Sống Qua Vội Vàng

Giáo Án Dạy Ngữ Văn 11 Tiết 79, 80: Vội Vàng

Cảm Nhận Về Bài Thơ Vội Vàng Của Nhà Thơ Xuân Diệu

Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Nhà Thơ Xuân Diệu

Dàn Ý Chi Tiết Đề Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Đoạn 2 (16 Câu Tiếp Theo)

Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn: Ngữ Văn 9 Năm Học: 2014

Sơ Đồ Tư Duy Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Kể Sáng Tạo Nội Dung Của Bài Thơ Ánh Trăng Theo Lời Của Tác Giả

Bài Văn: Làm Rõ Nhận Định: Bằng Hình Ảnh Ánh Trăng Hiện Ra Đột Ngột Giữa Khung Cảnh Thành Phố, Bài Thơ “Ánh Trăng” Như Một Lời Tự Nhắc Nhở Của Tác Giả Về Những Năm Tháng Gian Lao Đã Qua Của Cuộc Đời N

Áo Dài Trong Thơ & Nhạc

Áo Dài Trong Thơ Và Nhạc

PHÒNG GD&ĐT HUYỆN THANH OAI TRƯỜNG THCS BÌNH MINH ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI Môn: Ngữ Văn 9 Năm học: 2014 - 2022 Thời gian: 150 phút(không kể thời gian giao đề) Câu 1: (4 điểm) Trình bày cảm nhận của em (khoảng một trang giấy thi) về vẻ đẹp và ý nghĩa của hình ảnh trong những câu thơ sau: “ Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.” (Đồng chí - Chính Hữu) Câu 2: ( 6 điểm ) HAI BIỂN HỒ Người ta bảo ở Palextin có hai biển hồBiển hồ thứ nhất gọi là biển Chết. Đúng như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này. Nước trong hồ không có một loại cá nào có thể sống nổi mà người uống phải cũng bị bệnh. Ai ai cũng đều không muốn sống ở gần đó. Biển hồ thứ hai là Galile. Đây là biển hồ thu hút nhiều khách du lịch nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà cá cũng sống được. Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở nơi đây. Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này Nhưng điều kỳ lạ cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào biển Chết. Biển Chết đón nhận và giữ lại riêng cho mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ Galile cũng đón nhận nguồn nước từ sông Jordan rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong biển hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú và con người. (Trích “Bài học làm người ”- Nhà xuất bản giáo dục) Qua câu chuyện Hai biển hồ, em nhận được bài học ý nghĩa nào cho cuộc sống? Câu 3: ( 10 điểm) Có ý kiến cho rằng: "Từ một câu chuyện riêng, bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy cất lên lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm của con người đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu" Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. --------- HẾT--------- Người duyệt đề Nguyễn Thị Nghiêm Người soạn đề Trần Thị Hinh PHÒNG GD&ĐT HUYỆN THANH OAI TRƯỜNG THCS BÌNH MINH HƯỚNG DẪN CHẤM THI HỌC SINH GIỎI Môn: Ngữ Văn 9 Năm học: 2014 - 2022 Câu 1: Bài làm của học sinh cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau: A. Về hình thức: (1 điểm) Bài văn viết có kết cấu chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, trình bày sạch đẹp, không sai lỗi chính tả, khả năng cảm thụ tốt, cảm xúc chân thành, phân tích làm sáng tỏ nội dung, nêu bật được cảm nhận của mình về vẻ đẹp và ý nghĩa của hình ảnh trong những câu thơ trên. B.Về nội dung: (3 điểm) -Học sinh cần tập trung trình bày cảm nhận của mình về vẻ đẹp và ý nghĩa của hình ảnh thể hiện được tình đồng chí, đồng đội của người lính và là biểu tương đẹp về cuộc đời của người chiến sĩ. (1 điểm) -Người lính, khẩu súng, vầng trăng, ba hình ảnh gắn kết với nhau làm nên một bức tranh tuyệt đẹp về tình đồng chí, đồng đội, về tình bạn giữa thiên nhiên (vầng trăng) và con người (người lính) trong hoàn cảnh đồng cam cộng khổ chiến đấu. (1 điểm) -Hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng độc đáo(đầu súng trăng treo) được gợi ra bởi những liên tưởng phong phú (gần-xa, hiện thực-lãng mạn, chiến sĩ-thi sĩ)(1 điểm) Câu 2: Bài làm đáp ứng được những yêu cầu sau: A.Về kiến thức và kĩ năng: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần phải triển khai các ý cơ bản sau: -Từ một câu chuyện (rút ra bài học cho cuộc sống) học sinh trình bày suy nghĩ về một vấn đề tư tưởng đạo lý- mối quan hệ giữa cho và nhận trong cuộc sống. Hạnh phúc không phải chỉ là nhận lấy mà còn là biết cho đi. Người hạnh phúc nhất ở trên đời là người biết đem đến cho người khác nhiều hạnh phúc nhất. Trong cuộc sống phải luôn biết chia sẻ với người khác. Nếu biết sống vì người khác thì cuộc đời chúng ta sẽ tốt đẹp hơn nhiều lần, cuộc đời sẽ có ý nghĩa thêm bội phần. Có người nói "người ta kính trọng bạn không phải những gì bạn nhận được. Sự kính trọng là phần thưởng dành cho những gì mà bạn cho đi". - Với đề bài này học sinh cần giải thích – phân tích để làm rõ bài học giáo dục được gửi gắm trong câu chuyện. B. Hiểu được ý nghĩa của câu chuyện: Nghĩa đen theo nghĩa khoa học: + Biển Chết là do vị trí hồ không thuận lợi xung quanh không có kênh rạch hay lối thoát nên nước từ thượng nguồn đổ về đây bị ứ đọng dần dần tích tụ lượng muối lớn, làm cho nồng độ muối trong nước quá cao. + Nước quá mặn nên không sinh vật nào sống được nên dẫn đến hoang vu thiếu sự sống. + Biển hồ Galile cũng đón nhận nguồn nước từ sông Jordan rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú và con người. C. Bài học rút ra từ câu chuyện. Câu chuyện đã đem đến bài học thật ý nghĩa trong cuộc sống: - Trong cuộc sống hằng ngày, con người có những mối quan hệ, những giao tiếp, những sinh hoạt luôn “ trao” và “ nhận”. Xã hội sẽ không tồn tại nếu thiếu quá trình này. - Hãy biết chia sẻ để nó lan tỏa và biến thành niềm vui - Biển chết: biểu tượng cho một loại người ích kỷ, thiếu lòng vị tha, nhân hậu, chỉ biết sống cho riêng mình. (dẫn chứng từ thực tế cuộc sống ). - Biển Galile: biểu tượng cho mẫu người giàu lòng vị tha, nhân hậu, sống vì người khác, luôn mở rộng vòng tay cho và nhận. (dẫn chứng từ thực tế cuộc sống ). * Khẳng định cách nhìn, thái độ sống chi phối hoàn cảnh sống, tác động đến các mối quan hệ xung quanh (dẫn chứng- phân tích-so sánh, đối chiếu ). * Liên hệ: Cuộc sống cần có sự đồng cảm, biết sẻ chia để nỗi buồn vơi đi, niềm vui, hạnh phúc nhân lên( hãy dang rộng đôi tay với những nạn nhân bị chất độc màu da cam; đồng bào đang chịu cảnh thiên tai bão lụt, những số phận bất hạnh) * Bài học cho bản thân: + Cách ứng xử và thái độ đối với những người xung quanh. + Cách ứng xử, cho và nhận đối với cuộc đời. Biểu điểm: - Điểm 5à 6: Hiểu rõ yêu cầu của đề bài, đảm bảo các yêu cầu về kỹ năng và kiến thức, có lập luận chặt chẽ, có sự kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận, bài viết có cảm xúc, diễn đạt lưu loát, không sai lỗi chính tả. - Điểm 4: Hiểu rõ yêu cầu của đề bài, đáp ứng hầu hết các yêu cầu về kỹ năng và kiến thức, có lập luận tương đối chặt chẽ, có sự vận dụng thành công thao tác lập luận, diễn đạt tương đối tốt. - Điểm 3: Hiểu yêu cầu của đề bài, đáp ứng được cơ bản các yêu cầu về kỹ năng và kiến thức, lập luận chưa chặt chẽ, có thể còn một số lỗi nhỏ về diễn đạt. - Điểm 1à2: Chưa đáp ứng được 1/2 yêu cầu về kỹ năng và kiến thức, mắc lỗi chính tả và diễn đạt. - Điểm 0: Để giấy trắng. Câu 3: ( 10 điểm ) Bài viết đảm bảo các yêu cầu sau: * Hình thức: Đảm bảo bố cục 3 phần rõ ràng; đúng thể loại nghị luận văn học, luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ; diễn đạt mạch lạc; trình bày sạch đẹp, không mắc lỗi ngữ pháp, chính tả. * Nội dung: a. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và ý kiến nêu trong đề bài. ( 1 điểm) b. Thân bài: ( 8 điểm) - Giải thích ý kiến: ( 2 điểm) Một câu chuyện riêng: câu chuyện có thật của cuộc đời tác giả- người đã từng gắn bó với vầng trăng từ thuở nhỏ qua thời đi bộ đội; đến khi về sống ở thành phố "quen ánh điện cửa gương" thì " vầng trăng đi qua ngõ - ngỡ người dưng qua đường". Rồi một lần " Thình linh đèn điện tắt", trong phòng " tối om" nhà thơ "bật tunng cửa sổ" vầng trăng tròn", từ đó, bao cảm xúc và suy ngẫm của tác giả về những năm tháng gian lao, tình nghĩa đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu,..chợt ùa đến. - Chứng minh: ( 4 điểm ) + Ba khổ thơ đầu là lời kể rất tự nhiên về mối quan hệ gắn bó, thân thiết như tình bạn tri kỉ giữa nhà thơ và vầng trăng trong quãng đời từ thơ ấu đến thời gian đi bộ đội,sống và chiến đấu nơi rừng núi. Quan hệ đó tự nhiên mà gần gũi đến nỗi gần như đi đâu,làm gì cũng có nhau và có lẽ nhà thơ không bao giờ nghĩ rằng sẽ có lúc mình quên người bạn tri kỉ, tình nghĩa ấy. Đó là quãng đời "trần trụi ", hồn nhiên, chân thật nhất; dẫu thiếu thốn, gian khổ nhưng không thiếu niềm vui, hạnh phúc. Vậy mà, cũng rất tự nhiên, anh lại có thể coi người bạn trăng tình nghĩa thuở nào " như người dưng qua đường". Vì sao lại như vậy? Vì thay đổi hoàn cảnh sống... vầng trăng vẫn đi qua phố, qua ngõ nhà anh nhưng anh hoàn toàn không biết hoặc hoàn toàn dửng dưng, vì anh không còn cần đến nó. Ý nghĩa của lời kể sâu, rộng hơn nhiều so với chi tiết thật của câu chuyện. Đó là khi ng ười ta thay đổi hoàn cảnh sống thì có thể dễ dàng lãng quên quá khứ, nhất là quá khứ nhọc nhằn, gian khổ. Trước vinh hoa phú quý, người ta cũng có thể phản bội lại chính mình, thay đổi tình cảm với những chuyện tưởng chừng không bao giờ có thể lãng quên. + Khổ 4: Tình huống mất điện đột ngột trong đêm là một câu chuyện không hiếm gặp ở nước ta trong thời điểm tác giả viết Ánh trăng- vốn đã quen với ánh sáng -không thể chịu cảnh tối om. Ba từ vội, bật, tung đặt liền nhau cho thấy sự khó chịu và hành động khẩn trương, hối hả tìm nguồn sáng. Và đột ngột vầng trăng tròn xuất hiện. Ngửa mặt lên nhìn trời, nhìn trăng... Tình huống đó như một cái cớ khơi gợi tâm trạng và suy ngẫm của tác giả. cảm xúc dâng trào. Tác giả không cụ thể, trực tiếp mà dùng phép so sánh, điệp từ, từ ngữ có cái gì rưng rưng...diễn tả sự xúc động trào dâng khi gặp lại vầng trăng- người bạn tri kỉ, tình nghĩa mà mình từng quên lãng, gợi quá khứ ùa về.... Phân tích nghĩa của hình ảnh vầng trăng " tròn vành vạnh", " im phăng phắc"; cái " giật mình". Hình ảnh thơ hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí: " tròn vành vạnh" một vẻ đẹp viên mãn, trăng vẫn thế, vẫn thủy chung, tình nghĩa. Chỉ có lòng người thay đổi “vô tình”. " Ánh trăng im phăng phắc" vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ sáng nhưng mang ý nghĩa nhắc nhở nghiêm khắc, đủ để con người “giật mình” biết tự vấn lương tâm, biết suy nghĩ để nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, nông nổi trong cách sống của mình. Cái giật mình tự nhắc nhở bản thân về lòng ân nghĩa, thủy chung, độ lượng, không bao giờ được làm kẻ phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên. Bài thơ không chỉ là câu chuyện riêng của Nguyễn Duy mà còn có ý nghĩa đối với cả một thế hệ đã trải qua những năm tháng gian khổ trong chiến tranh, từng gắn bó với thiên nhiên, với nhân dân... nay được sống trong hòa bình và tiếp xúc với nhiều tiện nghi hiện đại văn minh. Hơn nữa bài thơ còn có ý nghĩa với nhiều người bởi nó đặt ra vấn đề thái độ sống đối với quá khứ, với người đã khuất, với cả chính mình khi hoàn cảnh sống thay đổi. Bài thơ nằm trong mạch cảm xúc " uống nước nhớ nguồn", gợi lên đạo lí tình nghĩa thủy chung- một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. c. Kết bài: Nêu cảm xúc, ấn tượng sâu sắc nhất về bài thơ hoặc rút ra bài học sâu sắc cho bản thân sau khi học bài thơ. (1 điểm) Người duyệt đề Nguyễn Thị Nghiêm Người soạn đề Trần Thị Hinh

Đề Xuất 10/2021 # Một Số Câu Hỏi Xoay Quanh Bài Thơ: “Ánh Trăng” # Top Like

Phân Tích Bài Thơ “Ánh Trăng” Của Nguyễn Duy

Ôn Tập, Củng Cố Kiến Thức Bài Thơ “Ánh Trăng” Của Nguyễn Duy

Hình Ảnh Ánh Trăng Cùng Với Mạch Cảm Xúc Trong Bai Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Tổng Ôn Kiến Thức Về Bài Thơ Ánh Trăng Của Nhà Thơ Nguyễn Duy

Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu Của Học Sinh Giỏi

Những Yếu Tố Mới Mẻ Qua Thi Phẩm “vội Vàng”

Đọc Hiểu Bài Thơ “vội Vàng”

Tìm Hiểu Bài Thơ “vội Vàng” Của Xuân Diệu

4 Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Cảm Nhận Khổ 2 Bài Thơ Vội Vàng

Đề bài: Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Xuân Diệu được mệnh danh là ông hoàng thơ tình với nhiều bài thơ thể hiện tình cảm yêu thương mãnh liệt. Nhắc tới thơ Xuân Diệu thì không thể không nhắc tới bài thơ Vội Vàng.

Bài thơ Vội Vàng với lời thơ tha thiết, mang nhịp điệu nhanh tạo nên một hình dung về sự vội vàng, gấp gáp của con người đang chìm đắm trong tình yêu. Tình cảm ấy được thể hiện ngay ở những vần thơ đầu tiên:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

Lời thơ bộc lộ nên một cái “tôi”đầy mãnh liệt, đầy những khát khao cháy bỏng. Những khát khao của cái tôi ấy lại vô cùng đặc biệt và mang theo cả sự phi lý. Đó là muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió lại”. Như chúng ta đã biết nắng và gió là hai hiện tượng tự nhiên, ấy vậy mà tác giả lại muốn điều khiển, chế ngự nó, muốn cưỡng lại quy luật của tự nhiên. Thông qua đó ta hiểu được nhà thơ giống như một người tự do, tự tại và làm theo những gì mình muốn chứ không muốn tuân theo những vận động của tự nhiên, theo lẽ thường. Tuy nhiên cũng phải đặt ra một câu hỏi đó là tại sao tác giả lại muốn như vậy? Bởi vì thi sĩ Xuân Diệu đã có nhận thức sâu sắc về những vật tồn tại trong tự nhiên, ông hiểu được rằng màu có đẹp nhưng rồi cũng sẽ phai nhạt, hương có thơm nhưng cũng đến lúc bay hết đi. Trước cái lẽ đó nên tác giả muốn đi ngược lại với tự nhiên, muốn níu giữ lại những gì đẹp đẽ nhất. Đó chính là khát khao cháy bỏng của người thi nhân.

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa”

Mỗi một câu chữ như được thổi hồn khiến chúng trở nên sinh động và hấp dẫn hơn bao giờ hết. Từng hình ảnh thiên nhiên tươi vui, đầy sắc màu được hiện lên kết hợp với điệp từ “này đây” như một cách liệt kê, kể lể, lại mang theo nhịp điệu nhanh, tươi vui. Qua đó bộc lộ niềm hân hoan, vui sướng của tác giả đang chìm đắm giữa khung cảnh thiên nhiên ấy. Trong khung cảnh đó có ong bướm, có hoa cỏ, rồi có những tiếng ca từ tự nhiên vang lên giống như một “khúc tình si” của người đã và đang được yêu. Không chỉ có cảnh, có âm thanh mà còn có ánh sáng, ánh sáng khi mà sớm mai thức giấc, khi ta mở mắt cũng chính là lúc ta thấy được. Đối với người đang yêu thì còn gì vui sướng hơn khi sớm mai thức giấc ánh nắng chan hòa, khi mà cảm nhận được niềm vui giống như một vị thần gõ cửa cho ta thức giấc, cho ta trải nghiệm một ngày mới.

Bức tranh cảnh vật đầy hứa hẹn về tương lai và hạnh phúc. Khác với những nhà thơ cùng thời khi mang “nỗi buồn thế hệ”, họ tìm những nơi tiên cảnh xa vời thực tế nhưng Xuân Diệu lại không giống vậy. Thi sĩ đã tìm được chốn thiên đường ngay tại mặt đất này. Với ông cuộc đời này đầy rẫy những điều đáng yêu, thú vị mà ta có thể kiếm tìm và tận hưởng:

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Một câu thơ đầy gợi cảm. Như chúng ta đã biết mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm nhưng Xuân Diệu chỉ nhắc tới tháng giêng, một tháng mở đầu cho một năm, cho mùa xuân và cũng đồng thời là thời gian mà vạn vận tươi tốt, căng tràn sức sống. Cây cối đâm chồi nảy lộc, cỏ cây tươi tốt và con người giữa thiên nhiên ấy cũng mang dáng vẻ trẻ trung, yêu đời, mang theo một niềm yêu sống, thiết tha với đời. Thiên nhiên tươi đẹp ấy được ví với “cặp môi gần” mang một ý nghĩa đặc biệt. Trong thơ xưa thì thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp nhưng với Xuân Diệu thì con người mới là chuẩn mực của cái đẹp. Con người đang trong độ đẹp nhất, căng đầy sức sống nhất. Câu thơ không chỉ tả cảnh mà còn tả tình, thể hiện khát vọng của tác giả, khao khao tình, yêu, khát khao hạnh phúc một cách táo bạo.

Nhận thấy cái đẹp ở ngay trần thế đồng thời thi sĩ cũng cảm nhận được sâu sắc cái hữu hạn của mùa xuân:

“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”

Những khát khao giao cảm với đời nhưng đồng thời cũng thấy được cuộc sống này tươi đẹp nhưng cũng chứa những bi kịch mà chúng ta sẽ gặp phải. Ông chứng kiến sự thay đổi, vận động của thời gian. Thời gian trong quan niệm trước kia thì thời gian là tuần hoàn, là sự lặp đi lặp lại nhưng giờ đây thời gian được quan niệm là tuyến tính, là một đi không trở lại. Nhận thức được sự ngắn ngủi của thời gian khiến thi sĩ cảm thấy hốt hoảng và cần phải vội vã, nhanh chóng tận hưởng hết những gì tươi đẹp nhất của đời người. Chính vì thế thơ của ông lúc nào cũng giục giã, cuống quýt:

“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”

“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”

Sang đến khổ thơ cuối thì giọng thơ càng trở nên gấp gáp, vội vàng bởi chính Xuân Diệu đang sợ rằng thời gian trôi đi quá nhanh, ông không muốn đến khi “nắng hạ mới hoài xuân” mà muốn trân trọng ngay từ những giây phút ông nhận ra sự hữu hạn của thời gian với mỗi đời người:

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thây trong một cái hôn nhiều”

Chữ “ôm” được nhà thơ sử dụng như thể hiện khát khao ôm trọn cả “sự sống”, ôm đồm hết những gì xung quanh để giữ lại chúng. Cuộc sống “mơn mởn” tươi xanh, nó rất đẹp, rất tươi mới khiến cho lòng người khao khát níu giữ. Điệp từ “ta muốn ôm” đã thành công bật lên ham muốn cháy bỏng của tác giả. Đó chính là một tâm hồn thiết tha sự sống, yêu cuộc đời đến cuồng nhiệt. Và dường như thi sĩ đang hạnh phúc, đang sung sướng đến nỗi thốt lên một câu thơ đầy tính gợi cảm, biểu tượng:

“Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”

Mùa xuân, mùa đẹp nhất, là thời điểm giống như một trái chín trải qua thời gian hình thành và phát triển đã đạt đến độ chín mọng. Nó giống như mời mọc, thôi thúc ta dẫn tới hành động “muốn cắn vào ngươi”.

Qua bài thơ Vội Vàng, có thể thấy trí tượng tưởng rất táo bạo và mới mẻ của Xuân Diệu. Ông không chỉ sống hết mình với thiên nhiên, ca ngợi thiên nhiên mà còn thông qua nó để đưa ra lời khuyên, lời cảnh tỉnh cho thế hệ trẻ cần phải biết trân trọng tuổi trẻ, trân trọng khi mình còn được tồn tại trên mặt đất này và sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội, sống tận hưởng trọn vẹn những khoảnh khác tươi đẹp của cuộc sống.

Bài thơ Vội Vàng của nhà thơ Xuân Diệu mang một màu sắc rất riêng với ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đây là một tác phẩm tiêu biểu của một thi sĩ luôn khát khao giao cảm với đời, một nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh).

Loan Trương

Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng (Cực Hay)

Bài Văn Của Học Sinh Giỏi: Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Để Chứng Minh Nhận Định

Xuân Diệu Và Quan Niệm Sống Qua Vội Vàng

Giáo Án Dạy Ngữ Văn 11 Tiết 79, 80: Vội Vàng

Cảm Nhận Về Bài Thơ Vội Vàng Của Nhà Thơ Xuân Diệu

🌟 Home
🌟 Top