Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dừa Ơi

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Dòng Sông Mặc Áo
  • Câu Chuyện Về Nhà Thơ Tố Hữu Và Emily
  • Chùm Thơ Vui, Hài Hước Về Những Người Đang Ế, Fa
  • Thơ Chế Fa Độc Đáo, Hài Hước Giúp Bạn Xả Stress Lí Tưởng
  • Phân Tích Bài Việt Bắc Đầy Đủ Nhất
  • – Lê Anh Xuân (1939-1968) tên khai sinh là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5-6-1940 tại Châu Thành, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình nhà giáo yêu nước. Năm 1952, Lê Anh Xuân vừa học vừa làm việc ở nhà in trong chiến khu kháng chiến chống Pháp.

    – Năm 1954 Lê Anh Xuân theo gia đình tập kết ra Bắc.

    – Sau khi tốt nghiệp khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và sau một thời gian ngắn làm phụ giảng tại trường, Lê Anh Xuân trở về chiển trường miền Nam công tác trong ngành giáo dục rồi chuyển sang Hội Văn nghệ Giải phóng.

    – Anh hy sinh ngày 24-5-1968 ở vùng phụ cận Sài Gòn trong chiến dịch xuân Mậu Thân (1968).

    + Tác phẩm chính:

    – Tiếng gà gáy (thơ, 1965)

    – Có đâu như ở miền Nam (1968)

    – Nguyễn Văn Trỗi (trường ca, 1968)

    – Hoa dừa (thơ, 1971)

    – Thơ Lê Anh Xuân (1981)

    – Giữ đất (1966)

    II. Bài Thơ Dừa Ơi Của Nhà Thơ Lê Anh Xuân

    Nhà thơ Lê Anh Xuân được biết đến là một nhà thơ tài hoa của quê hương, đất nước. Những bài thơ của ông đều đậm chất trữ tình ca ngợi vẻ đẹp quê hương đất nước, ca ngợi ý chí tự lực tự cường bám trụ với quê hương của những người dân miền nam trong cuộc kháng chiến hay. Thơ ông bộc lộ rõ tình yêu quê hương ngọt ngào được nhiều độc giả yêu thích. Bài thơ Dừa Ơi cũng là một tác phẩm đã đưa ông đến với độc giả gần thêm nữa

    Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ

    Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ

    Cứ mỗi chiều nghe dừa reo trước gió

    Tôi hỏi nội tôi: “Dừa có tự bao giờ?”

    Nội nói: “Lúc nội còn con gái

    Đã thấy bóng dừa mát rượi trước sân

    Đất này xưa đầm lầy chua mặn

    Đời đói nghèo cay đắng quanh năm”

    Hôm nay tôi trở về quê cũ

    Hai mươi năm biết mấy nắng mưa

    Nội đã khuất rồi xanh rì đám cỏ

    Trên thân dừa vết đạn xác xơ.

    Dừa ơi dừa! Người bao nhiêu tuổi

    Mà lá tươi xanh mãi đến giờ

    Tôi nghe gió ngàn xưa đang gọi

    Xào xạc lá dừa hay tiếng gươm khua.

    Tôi ngước nhìn mùa xuân nắng dọi

    Bốn mặt quê hương giải phóng rồi

    Tôi bỗng thấy nội tôi trẻ lại

    Như thời con gái tuổi đôi mươi

    Như hàng dừa trước ngõ nhà tôi.

    III. Hình Ảnh Cây Dừa Trong Thơ Lê Anh Xuân

    Lê Anh Xuân tên thật là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5-6-1940 tại Bến Tre. Quê nội của anh ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Thân sinh là giáo sư Ca Văn Thỉnh, một nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học có uy tín. Lớn lên trong một gia đình trí thức yêu nước có truyền thống văn học, Lê Anh Xuân sớm tiếp xúc với văn thơ từ nhỏ.

    Lê Anh Xuân yêu quê hương như người ta thực sự yêu người yêu. Anh tha thiết, tự hào về cây dừa, về sông nước Bến Tre, về cảnh mưa chiều gió lớn, về sự anh dũng của những con người trên quê hương ba dải cù lao. Tất cả lòng yêu ấy anh thể hiện qua thơ mình.

    Bến Tre, một vùng quê nổi tiếng với dừa. Cây dừa là linh hồn, là biểu tượng của người dân xứ này. Nó có mặt trong đời sống hàng ngày của người dân quê như một thứ không thể thiếu. Những bữa cơm thơm ngọt được nấu từ củi dừa. Đuốc lá dừa ấm áp xua bóng tối đường quê. Ai đi xa quê cũng thèm được ăn lại những món ăn béo ngậy mùi dừa: mấy con cá đồng kho nước cốt dừa chấm rau sống, tép sông rang nước cốt dừa hay món canh kiểm đủ mùi cây trái Bến Tre, dừa, chuối, mít, khoai,….Thân dừa làm cầu qua sông, qua rạch; làm cây cột, cây kèo, cây đòn tay, làm cái giường, cái ghế, …trong nhà.

    Với anh, dừa dù có từ “ngàn xưa” nhưng mãi tuổi “tươi xanh”, đầy sức sống. Dừa như một nhân chứng của lịch sử chuyển tiếp truyền thống đấu tranh giữ nước của người dân quê dừa đến những thế hệ sau. Tập thơ thứ hai của mình, Lê Anh Xuân đặt tên Hoa dừa, như người ta lấy tên người yêu đầu hay người bạn thân mà đặt cho con. Mười năm ở miền Bắc, trong nỗi nhớ quê, anh đã nhớ dừa da diết

    Nỗi nhớ quê hương thường trực trong lòng, nó xuyên suốt thời gian trong ngày: sớm mai, trưa, đến đêm. Không gian trong nỗi nhớ là bầu trời quê hương luôn rợp bóng dừa xanh ngắt. Hình như dừa là hình ảnh đầu tiên đến trong anh mỗi lần nhớ quê. Anh không viết về dừa chung chung mà rất cụ thể. Có lẽ phải là người sống ở quê dừa mới thấy hết sự hữu ích của cây dừa. Lê Anh Xuân đã không bỏ sót công dụng nào của dừa. Trước hết dừa che mát sân nhà, ru giấc ngủ tuổi thơ của bao thế hệ:

    “Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ

    Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ

    Cứ mỗi chiếu nghe dừa reo trước gió

    Tôi hỏi nội tôi: “Dừa có tự bao giờ”

    Nội nói ” Lúc nội còn con gái

    Đã thấy bóng dừa mát rượi trước sân.”

    Như vậy, dừa đã ru giấc tuổi thơ của nội, của cha, của “tôi” và sẽ còn ru giấc êm đềm của nhiều thế hệ nữa. Ai đã từng nằm võng trên hiên nhà một buổi trưa hè oi nắng, ngoài hiên là hàng dừa tơ rợp bóng, mới cảm nhận được điệu hát ru của dừa – Nó mát dịu, khỏe khoắn, lúc xa lúc gần, lúc cao lúc thấp, có lúc như một chuỗi cười dài, có lúc như chợt yên lặng rồi vỡ xòa đuổi nhau theo gió – mới hiểu hết những dòng thơ này.

    Dừa còn tham gia vào bao công việc khác trong cuộc sống đời thường. Trong cuộc chiến ác liệt với kẻ thù trên quê hương Đồng Khởi, dừa đã góp phần to lớn: thân dừa dựng pháo đài, làm lá ngụy trang, làm đuốc soi đường:

    “Nếu ngã xuống dừa ơi không uổng

    Dừa lại đúng lên thân dựng pháo đài.

    Lá dừa xanh long lanh ánh nắng

    Theo đoàn quân thành là ngụy trang

    Nếu rụng xuống dừa ơi không uổng

    Dừa lại cháy lên thành đuốc soi đường”

    Ở bài thơ này, Lê Anh Xuân đã bất diệt hóa cây dừa. Khi còn đứng hiên ngang, lá dừa ngụy trang cho cán bộ, cho du kích. Khi lá dừa lìa cành vẫn nguyện lấy thân mình làm ánh lửa ấm áp cho đời, làm ngọn đuốc soi sáng đường cách mạng. Những thân dừa bị thương vẫn không hề ngã gục, vẫn “đứng hiên ngang ca hát giữa trời”. Và nếu có ngã xuống vì đạn bom tàn khốc của kẻ thù, thân dừa lại một lần nữa đứng lên làm thành những pháo đài kiên cố, tiếp tục đương đầu với bom đạn giặc. Nhà thơ đã khẳng định dừa là biểu tượng của người dân Bến Tre:

    “Ôi thân dừa đã hai lầm máu đổ

    Biết bao đau thương biết mấy oán hờn

    Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút

    Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng

    Rễ dừa bám sâu vào lòng đất

    Như dân làng bám chặt quê hương”.

    Trải qua hai cuộc chiến, “súng giặc đất rền”, người dân Bến Tre oằn mình trong lửa đạn: “Chị ta chúng khảo chúng tra, Em ta chết tuổi mới vừa đôi mươi”. Nhưng người dân Bến Tre vẫn kiên gan bám đất, bám làng, vẫn cấy lại lúa, trồng lại dừa sau những trận bom cày. Những mẹ già nuôi giấu cán bộ, những người con trai xứ dừa đánh giặc bằng ong vò vẽ, bằng bẫy chông tre,…Với một ít vũ khí cùng gậy tầm vong, súng bập dừa, đuốc là dừa và tấm lòng yêu quê, người dân Bến Tre đã làm nên Đồng Khởi lẫy lừng…

    Yêu quê hương đất nước là tình cảm chung của dân tộc; đồng thời cũng là nguồn thi hứng chủ đạo trong thơ ca kháng chiến. Thơ Lê Anh Xuân cũng bắt nguồn từ cảm hứng mang tính thời đại ấy nhưng ở anh vẫn có một cái gì đó rất riêng, khiến nhà thơ xứ dừa này không thể lẫn với bao nhiêu nhà thơ đương thời khác.

    Nét phong cách đặc thù ấy là tấm lòng gắn bó thiết tha với cái nơi từng in dấu một phần quãng đời thơ ấu của anh mà thổ ngơi của nó đã quyện vào thơ anh một hương vị đặc trưng không thể lẫn vào đâu được. Chính những con người dũng cảm vô song, chính tầm vóc của miền Nam, của dân tộc đã nâng cánh cho hồn thơ Lê Anh Xuân. Và chính hồn thơ anh đã nâng cánh cho tình yêu quê hương đất nước trong tôi. Cảm ơn anh đã để lại cho đời, cho thế hệ chúng tôi những dòng thơ đẹp, những dòng thơ mà bất cứ người dân Bến Tre nào đọc được cũng thấy hết sức tự hào vì được sinh ra trên mảnh đất này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thơ Triết Lý Về Dại Khôn
  • Phân Tích Bài Thơ Dáng Đứng Việt Nam Của Lê Anh Xuân
  • Nhớ Lê Anh Xuân Với Bài Thơ ‘dáng Đứng Việt Nam’
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dặn Con
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Dặn Con
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Bài Thơ Hay Về Dừa Và Cây Dừa Hay Mới Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Thơ Cây Dừa
  • Tả Cây Dừa Văn Lớp 4
  • Phân Tích Bài Thơ Cây Dừa Của Trần Đăng Khoa (Bài 2)
  • Phát Triển Ngôn Ngữ Thơ Chiếc Cầu Mới
  • Thơ : Chiếc Cầu Mới
  • Thơ hay về cây dừa 1: Dừa non ơi hỡi dừa non

    Trong thời bình, dừa mang lại cho quê hương ta vẻ thơ mộng, trù phú. Dừa làm dịu mát cái nắng ban trưa khắc nghiệt; dừa xuất hiện ở hai đầu cánh võng ru giấc ngủ ban trưa; dừa tô điểm cho thôn quê những mái ngói xinh xắn; dừa tạo không gian cho tình yêu phát triển…

    Thơ hay về cây dừa 2: Dừa ơi

    Tôi ngước nhìn mùa xuân nắng dọi

    Bốn mặt quê hương giải phóng rồi

    Tôi bỗng thấy nội tôi trẻ lại

    Như thời con gái tuổi đôi mươi

    Như hàng dừa trước ngõ nhà tôi.

    Trong chiến tranh, dừa biểu hiện cho quê hương ta tính kiên cường, bất khuất. Dừa là những cánh rừng “che dân quân”, nhưng lại “vây quân địch”; dừa oai hùng lấy thân chắn bom, đỡ đạn; lại nhẹ nhàng phủ nắp hầm ngụy trang; dừa che kín nhà vườn và chở che cho từng thân phận bằng thân và tàu lá của mình…

    Thơ hay về dừa 3: Dừa Tam Quan

    Nước thơm là ở nơi cùi

    Dừa ngon là ở nơi người biết chăm

    Lên đường, cứ mãi bâng khuâng

    Đất, người là vậy: Tam Quan xứ dừa!

    Với Tam Quan, cây dừa là biểu tượng, là người bạn thân thiết của người dân xứ này. Dừa hiện hữu trong mỗi bữa cơm, mỗi góc nhà, mỗi dịp lễ hội… Vỏ, lá dừa khô một thời dành chụm lửa, đốt đuốc soi đường. Nước dừa tươi để kho thịt, kho cá; còn cơm dừa già cho nước cốt dừa để kho cá, tép và nấu canh, nấu chè, nấu kiểm. Thân dừa làm cột nhà, làm cầu qua sông. Con cái lớn lên, ôm trái dừa nhảy ùm xuống sông mà học bơi, học lội. Gốc dừa mát mẻ là nơi hò hẹn yêu thương của trai gái trong làng; hoa dừa để điểm tô thêm ngày cưới, cho ong đi bông lấy mật.

    Thơ hay về dừa 4: Dưới bóng dừa

    Nói đến quê hương cây dừa, thật thiếu sót nếu không đề cập đến mảng tình yêu đôi lứa. Trai thanh nữ tú hẹn hò, hờn dỗi… đều có sự làm chứng của dừa. Thậm chí, dừa đôi khi còn đóng vai trò là “sứ giả tình yêu” chứng giám thêm cho sự chân thành, thẳng thắn, như cô gái hờn trách chàng trai, nào em có đòi hỏi thách cưới gì cao sang, mà anh cứ lần lữa khiến lỡ làng duyên em

    Thơ hay về dừa 5: Dừa

    Dừa thích ngắm trăng

    Thích reo tàu lá

    Đem nước lên quả

    Lúc nào ai hay!

    Hình ảnh những rặng dừa che chở, bao bọc, mang lại sự yên bình cho làng quê yêu dấu đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong văn học nói riêng và trong đời sống của người dân Việt Nam nói chung. Và hình ảnh đó được khắc sâu qua ngòi bút của một tác giả, nhưng lại mang một tình yêu lớn với quê hương với thiên nhiên.

    Thơ hay về dừa 6: “Nếu tôi là quả dừa”

    Cái hay của bài thơ không chỉ ở chỗ tá giả so sánh mình với quả dừa, liên tưởng với nhiều hình ảnh khác nhau trong cuộc sống, mà cái hay, cái độc đáo của bài thơ còn là ở chỗ thông qua việc miêu tả lợi ích cây dừa, Tác giả đã tái hiện một vẻ đẹp và lợi ích cua quả dừa.

    Thơ hay về dừa 7: Anh về bẻ trăm khuôn dừa

    Bài thơ này nói về ngưới con trái “bẻ tram khuôn dừa” để “gói tram bánh nếp” sau đó đi hỏi cưới người con gái. Hình ảnh dừa lại một lần nữa tái hiện trong tình yêu đôi lứa.

    Thơ hay về dừa 8: Bài ca cho người đi trồng dừa

    Giã từ phố chợ Trà Vinh

    Chúng tôi đi về phía biển

    Đường bụi mù, đường xa biền biệt

    Quê hương xứ Dừa không chỉ được biểu hiện bằng thực tiễn nông nghiệp cây dừa có diện tích lớn, năng suất cao… với những sản phẩm công nghiệp của dừa từ các công ty, xí nghiệp, nhà xưởng…; mà còn được biểu hiện ở một bình diện cao hơn là văn hóa xứ Dừa đã được hình thành trong công chúng Nam Bộ.

    Thơ về cây dừa 9: Bài hát về cây dừa

    Lòng đất mẹ rất sâu, giọng hát em bay xa

    Cây dừa lớn nhờ đất lành và giọng hát

    Trên phù sa gió cát

    Nước bạc mênh mảng

    Ru mình bên những dòng sông

    Vươn tàu che những đoàn quân

    Dừa reo khúc hát chiến công thành đồng

    Những năm trái dừa chọi với trái bom

    Nước dừa khét đắng mùi thuốc độc

    Những năm Cây Dừa là tên của trại giam

    ngoài nhà lao Phú Quốc

    Những năm lá dừa bị thương héo queo rơi xuống gốc

    Còn kịp gửi màu xanh nguyên vẹn cho chồi

    Những năm dừa sống như miền Nam gan góc

    Em chưa hiểu hết cây dừa quê tôi đâu.

    Giọng hát bay xa, lòng đất thắm sâu

    Cây dừa lớn nhờ đất lành và giọng hát…

    Những năm cây dừa theo ra với Bắc

    Bắc nhớ miền Nam, hôm sớm vào ra

    Chắt chiu vun xới cho dừa

    Nay dừa đã lớn…

    Lá dừa rưng rưng khi Bác đưa tay

    lên ngực mình xúc động:

    … Miền Nam trong trái tim tôi!

    Những năm bài hát cây dừa có Bác với

    miền Nam thao thức

    Em chưa hiểu hết cây dừa quê tôi đâu.

    Hôm nay theo quê dừa về miệt Cà Mau

    Gặp những má già móm mém nhai trầu

    Hai mươi năm đạn dày súng gươm

    nuôi lớn những anh hùng đi làm nên

    những chân trời bão táp

    Trên phù sa gió cát

    Nước bạc mênh mang

    Em nhớ hát cho những má già tôi nghe bài hát

    cây dừa trong câu hát dân gian

    Câu hát có lòng Bác thương miền Nam không ngủ

    Mỗi sớm mai ra, Bác chăm dừa trước ngõ

    Vui một ngày thắng lớn ở miền Nam.

    Dừa tạo bóng mát, làm nên sự thơ mộng cho làng quê. Dừa che chở con người trong những lúc lao động, đấu tranh khó nhọc, gian khổ. Dừa mang lại dòng nước ngọt lịm, tinh khiết giúp người bệnh chóng khỏe, người khỏe thêm mạnh hơn. Dừa mang lại quá nhiều lợi ích kinh tế giúp nhà nhà thoát nghèo, sung túc, quê hương đi lên trong ấm no, thịnh vượng. Và hơn hết là sự thủy chung gắn bó lâu đời của dừa với người từ khi cha ông đến khai hoang mở đất. Cứ thế, cũng bằng ấy thời gian, dừa đi vào thơ ca của con người thật nhẹ nhàng và ân tình sâu lắng…

    Thơ hay về dừa 10: Bóng dừa

    Bóng xa như núi nghỉ

    Bóng gần thành mây cao

    Trong lao động, dừa đã âm thầm từng bước giải tỏa những khó khăn, nặng nhọc cho người. Dừa không chỉ mang lại thu nhập mà còn giải quyết hầu hết mọi nhu cầu sinh hoạt đời sống… Trong cuộc sống, dừa cũng là nguyên cớ để con người bộc lộ những suy tư, tình cảm. Có dừa con người có niềm tự hào sở hữu, con người có được những suy nghĩ khoán đạt và tươi vui, con người có được những suy tư hóm hỉnh, yêu đời…

    Thơ hay về cây dừa 11: Cây dừa

    Hình ảnh cây dừa được miêu tả cụ thể trong bài thơ, nhưng những từ ngữ có lẽ khiến người đọc hơi khó hiểu về lợi ích của dừa. Nhưng nội dung chủ yếu của bài thơ là muốn nói về những lợi ích mà dừa mang lại.

    Thơ hay về cây dừa 12: Cây dừa

    Cây dừa xanh toả nhiều tàu

    Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng

    Thân dừa bạc phếch tháng năm

    Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao

    Đứng canh trời đất bao la

    Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi

    Bài thơ “Cây dừa” là một trong những bài thơ hay, độc đáo được in trong tập “Góc sân và khoảng trời”. Bài thơ được sáng tác khi Trần Đăng Khoa còn là một cậu bé. Dừa là hình ảnh hết sức quen thuộc đối với mọi người, bởi trên đất nước Việt Nam, đi tới miền quê nào, ta cũng có thể mặc sức ngắm nhìn những rặng dừa thẳng tắp, cao vút. Một hình ảnh quen thuộc đến là vậy, nhưng khi vào thơ Khoa, cây dừa lại hiện lên hết sức mới mẻ, độc đáo, ngỗ nghĩnh và thân thương làm sao. Để có được điều đó, Trần Đăng Khoa đã quan sát cảnh vật bằng cả tấm lòng thiết tha, chân thành.Với tình yêu thiên nhiên và khả năng quan sát tỉ mỉ, tinh tế, Trần Đăng Khoa đã miêu tả cây dừa một cách sinh động với tất cả các bộ phận vốn có của nó. Cả cây dừa, từ gốc tới ngọn, không chỗ nào tác giả nhỏ tuổi không tìm ra những liên tưởng thú vị và độc đáo

    Thơ hay về cây dừa 13: Đuốc lá dừa

    Một lần nào đó trong mơ

    Cầu sao được đuốc lá dừa lại soi…

    Biểu tượng “đuốc lá dừa” không lạ với bất cứ người dân nào ở xứ dừa, đặc biệt là Bến Tre. Đó là ngọn đèn lí tưởng giúp người vượt qua đêm tối, tránh được nỗi sợ đêm đen; nhất là khi có gió mưa thì không ngọn đèn nào có thể thay thế.

    Thơ hay về dừa 14: Giã ơn ai có cây dừa

    Bài thơ là lời cảm ơn của tác giả đến với những ai có cây dừa. Tác giả nghỉ mát đợi “người thương” và nhờ bóng mát của cây dừa mà tác giả có một cái kết thật đẹp là “hai đứa hai họ, ta thương nhau đời”.

    Thơ hay về dừa 15: Hàng dừa canh giữ biển

    Bao năm canh giữ biển

    Bền bỉ và dẻo dai

    Vẫn không quên kết trái

    Dâng sữa ngọt cho đời.

    Bài thơ miêu tả về hình ảnh “hàng dừa canh giữ biển”, dừa chỉ đứng sừng sững thế thôi, nhưng tác giả lại dùng nghệ thuật nhân hóa để nói lên lợi ích của cây dừa là canh giữ biển và còn kết trái để “dâng sữa ngọt cho đời”.

    Thơ hay về dừa 16: Lời cây dừa

    Thơ hay về dừa 17: Nhớ dừa

    Nhớ cả sớm cả trưa

    Mẹ đứng xe từng sợi

    Em ngồi bên em đợi

    Vòng dây dừa cuộn nhanh

    Thơ hay về dừa 18: Tặng đảo dừa

    Cuộc sống vừa ra khỏi ngổn ngang,

    Trưa nay lắng lại chuyến đò ngang.

    Trời xanh là của bờ yên tĩnh,

    Cho những niềm vui biết ngỡ ngàng.

    Thơ về dừa 19: Thơ treo trên cây dừa vườn mạ

    ôi gốc dừa tuổi thơ tôi

    nơi Mạ thức giã trầu đợi biển

    mạ thức đếm sương rơi

    chăn mỏng quá nên trời lâu sáng

    thương bóng dừa ngả phía đơn côi…

    vườn Mạ bây giờ cát xoá

    chỉ còn cây dừa như dây neo kiên nhẫn nối biển bờ

    như dây diều mong manh thả lên trời

    những cánh rách bươm và chúm trái ngọt

    như hoang vu tiếng cát gọi người

    Mạ ơi

    vườn mạ tháng năm góc trời trắng xoá

    chỉ còn cây dừa như ngọn đuốc xanh…

    Thơ hay về dừa 20: Vỏ dừa xanh, cái trắng phau

    Thơ hay về dừa 21: Vườn dừa

    Xa xôi nhớ mãi vườn dừa,

    Thương về nàng ấy bây giờ thương ai?

    Thơ hay về dừa 22: Xem tranh hứng dừa

    Người ấy, cảnh ấy chắc mùa xuân:

    Dừa căng tròn, váy một vạt

    Dừa căng tròn, váy nâng ngược

    Ánh mắt kia, nụ cười kia

    Và kiểu dạng chân thách thức:

    – Thả đi nào, em chấp!

    Những chàng trai với hai quả dừa

    Đã nhận ra váy kia quá mỏng

    Da mịn thế, dừa thì quá nặng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 Bài Văn Mẫu Hay Tả Cây Dừa Lớp 2 Chọn Lọc
  • Thuyết Minh Cây Dừa Có Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả, Biểu Cảm Và Biện Pháp Nghệ Thuật
  • Biểu Cảm Về Cây Dừa
  • Một Vài Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “cây Dừa” Của Trần Đăng Khoa
  • Lời Bài Hát Quên Cây Cầu Dừa
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ “bác Ơi!” Của Tố Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Giáo Án Bài Thơ Ảnh Bác
  • Bài Thơ ” Viếng Lăng Bác” Là Nén Hương Thơm Viễn Phương Kính Dâng Lên Bác Hồ Kính Yêu. Anh/ Chị Hãy Phân Tích Bài Thơ Để Làm Sáng Tỏ Ý Kiến Trên
  • Giáo Án Thơ “bác Hồ Của Em”
  • Nhà Thơ Tố Hữu Và Những Bài Thơ Viết Về Bác Hồ
  • Ngày 2-9-1969, Hồ Chủ tịch tạ thế. Cả một rừng thơ khóc Bác xuất hiện, trong đó bật lên cây đại thụ Tố Hữu với bài thơ “Bác ơi!”

    Bốn khổ thơ đầu nói cái đau xót tột cùng của thi sĩ trước sự kiện Bác ra đi:

    Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

    Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…

    Khi Bác đi xa, Tố Hữu đang nằm điếu trị ở bệnh viện. Nghe tin, nhà thơ hoảng hốt chạy về phủ Chủ tịch, nơi nhà sàn của Người:

    Chiều nay con chạy về thăm Bác

    Từ “chạy”được dùng rất tài, nói lên sự nóng gan nóng ruột của người con khi nghe tin cha mất.

    Con lại lần theo lối sỏi quen

    Đến bên thang gác đứng nhìn lên

    Chuông ôi, chuông nhỏ còn reo nữa

    Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!

    Ta thấy tác giả rất ý tứ cho nên “đến bên thang gác đứng nhìn lên” mà chưa vào nhà vội. Vì sao vậy? Vì đến thăm một người tạ thế là thăm vợ goá, con côi. Còn Bác không có gia đình thì xử lí như Tố Hữu là rất tinh tế. Nhà Bác hôm nay đã khác xưa rồi: Chuông không còn reo để báo tin với Người có khách đến. Đặc biệt câu thơ: “Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn “, bị cắt ra làm ba nhịp như muốn diễn tả nỗi nghẹn ngào của Tố Hữu.

    Nhìn vườn cây Bác từng vun trồng, tác giả bâng khuâng:

    Trái bưởi kia vàng, ngọt với ai

    Thơm cho ai nữa hỡi hoa nhài!

    Hai câu này làm cho một số độc giả thắc mắc: Chẳng lẽ Bác trồng cây chỉ cho một mình Bác thôi ư? Tôi đã có dịp hỏi nhà thơ Xuân Diệu; thi sĩ bảo: Ai lại đi thẩm định văn chương như vậy! Đây chỉ là một cách nói của thi ca để biểu lộ tình thương sâu sắc của con đối với Cha mà thôi. Cha chết không thương Cha hay sao?

    Nhìn ao cá, nhà thơ bỗng tiếc nuối:

    Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm

    Quanh mặt hồ in mây trắng bay…

    Bác hiện lên trong kí ức đẹp như một ông Tiên trong thần thoại. Đúng! Trong tâm trí nhà thơ cũng như trong tâm trí dân tộc ta, Bác là một “Ông tiên Mác-xít”

    Sau những ngày bàng hoàng đau xót, nhà thơ bình tâm lại, khắc hoạ hình tượng Bác. Tố Hữu đã viết nhiều bài thơ về Bác nhưng bài này hay hơn cả vì đây là thơ tổng kết một cuộc đời.

    Hình ảnh bao trùm là: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế”. Đó là một trái tim giàu tình thương: “Ôm cả non sông, mọi kiếp người”

    Một trái tim thương nước, thương dân bao la, mênh mông. Từ “ôm “được dùng rất gợi cảm: ôm là nâng niu, che chở, giữ gìn.

    Thương bao nhiêu thì đau bấy nhiêu:

    Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau

    Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu

    Từ đau là lấy lại chữ dùng của Bác trong di chúc. Đau dân nước vì dân nước đang bị đế quốc xâm lược; đau năm châu vì có sự bất hoà trong phong trào cộng sản quốc tế. Chỉ con người vĩ đại mới có nỗi đau đớn lớn lao như thế.

    Có một câu thơ tuyệt hay nói về cuộc đời của lãnh tụ:

    Bác sống như trời đất của ta

    Bác vui như ánh buổi bình minh

    Vui mỗi mầm non, trái chín cành

    Vui tiếng ca chung hoà bốn biển

    Nâng niu tất cả, chỉ quên mình

    Vì sao vậy? Vì giải phóng miền Nam là trung tâm của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Nhiều người gặp Bác đều kể lại mỗi khi trò chuyện, thế nào Người cũng nhắc đến miền Nam. Trong phòng của Bác có treo bản đồ miền Nam về sự bố trí binh lực của địch. Có lần phát biểu trước Quốc hội, Người nói: “Miền Nam, luôn trong trái tim tôi”

    Đạo đức của Bác thật cao khiết:

    Một đời thanh bạch, chẳng vàng son

    Mong manh áo vải, hồn muôn trượng

    Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

    Bác là vị lãnh tụ kiểu mới; khác với những người ưa sùng bái cá nhân. Vì tâm hồn Bác giàu quá (hồn muôn trượng) nên bề ngoài Bác rất giản dị (mong manh áo vải). Bác không cần tượng đồng vì nhân dân đã đúc cho Người hàng triệu tượng trong tim.

    Trong ba khổ cuối, nhà thơ nói lên cảm nghĩ của nhân dân ta trước sự ra đi của Bác.

    Trước hết là nhớ lời Dì chúc:

    Ra đi Bác dặn: “Còn non nước… ”

    Nghĩa nặng lòng không dám khóc nhiều

    Câu thơ nhắc lại lời Người:

    “Còn non còn nước còn người

    Thằng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

    Vậy thì thương Bác tức là phải làm theo lời Bác dặn, tập trung sức để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

    Bác Hồ nay đã nhập vào một thế giới đặc biệt:

    Mác-Lê nin thế giới Người Hiền

    Hiền ở đây là hiền minh, hiền triết – tức là những vĩ đức cao cả. Chính những con người đó đã dẫn dắt lịch sử tiến lên không ngừng.

    Kết thức thi phẩm này, Tố Hữu có một câu thơ rất hay:

    Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn.

    Yêu Bác là noi theo tấm gương trong suốt như pha lê của Người; sẽ có sức mạnh tẩy sạch những vết mờ đục trong lòng ta, nâng chúng ta lên tầm cao mới.

    Chúng ta quyết biến đau thương thành sức mạnh:

    “Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi

    Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn”.

    Bài thơ “Bác ơi” là một điếu vãn bi hùng. Lối thơ thất ngôn tạo nên một nhạc điệu trang trọng, cùng với hình ảnh thơ kì vĩ đã diễn đạt rất tài tình những cảm xúc cao đẹp của toàn thể dân tộc ta trong những ngày quốc tang năm 1969.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Ca Ngợi Bác Hồ Mà Tôi Tâm Đắc Nhất
  • Chùm Thơ Hay Ca Ngợi Tổ Quốc Việt Nam Nhân Ngày 30
  • Bài Thuyết Trình Về Chiếc Áo Dài
  • Thuyết Minh Về Chiếc Áo Dài Việt Nam
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bầm Ơi!

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu)
  • Dạy Bé Chúc Tết Ông Bà Bằng Những Bài Thơ Hay Ngộ Nghĩnh
  • Tuyển Tập Những Bài Thơ Hay Về Chú Bộ Đội
  • Bài Thơ Cây Dây Leo
  • Giáo Án Thơ Cô Giáo Của Em
  • Hoàn cảnh ra đời bài thơ Bầm ơi!

    Xã Gia Điền là một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa (Phú Thọ), là nơi mà người dân quê gọi mẹ là bầm, là bủ. Và ở chính mảnh đất nghĩa tình này, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Bầm ơi” nổi tiếng.

    Vào những năm 1947, 1948, đoàn văn nghệ sỹ trong hành trình “nhận đường” đã chọn Gia Điền làm nơi dừng chân và hoạt động văn học nghệ thuật. Khi ấy, các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân đã ở lại thôn Gốc Gạo xã Gia Điền. Ngôi nhà mà các nhà văn chọn để ở trọ là nhà bà cụ Nguyễn Thị Gái. Khi các văn nghệ sỹ đến ở, bủ Gái đã dọn xuống bếp để nhường giường và không gian nhà trên cho khách. Cũng từ chính ngôi mà mái cọ bình yên này, vào khoảng thời gian ấy, bài thơ Bầm ơi được “khai sinh”.

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

    Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

    Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

    Con đi đánh giặc mười năm

    Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

    Con ra tiền tuyến xa xôi

    Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.

    Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.

    Con đi xa cũng như gần

    Anh em đồng chí quây quần là con.

    Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí

    Bầm quý con, bầm quý anh em.

    Bầm ơi, liền khúc ruột mềm

    Có con có mẹ, còn thêm đồng bào

    Con đi mỗi bước gian lao

    Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

    Bao bà cụ từ tâm như mẹ

    Yêu quý con như đẻ con ra.

    Cho con nào áo nào quà

    Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.

    Con đi, con lớn lên rồi

    Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con!

    Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.

    Mẹ già tóc bạc hoa râm

    Chiều nay chắc cụng nghe thầm tiếng con…

    1948

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Thơ Làm Bác Sĩ
  • Phân Tích Bài Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Bình Ngô Đại Cáo (Ngô Tất Tố Dịch)
  • Bài Thơ Bàn Tay Cô Giáo Của Nguyễn Trọng Hoàn Và Định Hải
  • Tuyển Chọn 222 Bài Thơ Anh Yêu Em Chế Hài Hước, Dí Dỏm Nhất
  • Biểu Cảm Về Cây Dừa

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Cây Dừa Có Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả, Biểu Cảm Và Biện Pháp Nghệ Thuật
  • Top 10 Bài Văn Mẫu Hay Tả Cây Dừa Lớp 2 Chọn Lọc
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Bài Thơ Hay Về Dừa Và Cây Dừa Hay
  • Đề Tài Thơ Cây Dừa
  • Tả Cây Dừa Văn Lớp 4
  • [Văn lớp 7] Biểu cảm về cây dừa – loài cây em yêu – bài viết số 2

    Bài làm:

    “Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ Cứ mỗi chiều nghe dừa reo trước gió Tôi hỏi nội tôi: Dừa có tự bao giờ?

    Có một khoảng thời gian tôi được sống trong vùng quê nghèo giản dị, hình bóng cây dừa là loại cây gắn liền với một giai đoạn tuổi thơ tôi. Loài cây mang đến biết bao nhiêu cảm giác thân thương, quen thuộc, nồng ấm biết bao nhiêu tình.

    Nhìn từ xa, câu dừa cứ như chiếc chổi khổng lồ được dựng ngược lên, với bao nhiêu là tàu lá xanh tua tủa. Thân dừa có cây cao đến hàng chục mét cơ, không phải ai cũng có thể trèo dừa được, cái thân hình tròn lẳng, trơn tuột, không cành nhánh, chỉ có những vết vằn sậm màu do di tích của những bẹ dừa khô để lại, những vết ấy, cứ như là vết hằng của thời gian đổ bóng xuống thân dừa. Dừa có chùm rễ rất đồ sộ, to lớn, đan bện vào nhau rất chặc, nhìn xa xa cứ như những con rắn li ti đang thu về 1 tổ duy nhất. Nơi cao nhất của cây dừa chính là nơi xuất hiện hoa dừa màu trắng sữa mỗi khi trổ hoa, những quầy dừa tí hon như những quả cam, rồi lớn dần to như quả dưa hấu, chuyển màu sang nâu sậm và sau cùng là rụng xuống đất, chờ điều kiện thích hợp thì mầm non lại đâm thủng lớp vỏ khô ráp, vươn lên tiếp tục dòng đời mới của mình, dòng đời gần cả trăm năm.

    Cây dừa gần như gắn bó vô cùng mật thiết với người dân Việt Nam, đi đến đâu trên bất cứ nơi nào của dải đất hình chữ S này, chúng ta điều thấy bóng dáng của những ngọn dừa cao chót. Dừa gắn bó với chúng ta từ chiếc đũa bếp xới cơm, chiếc muỗng lớn để ăn canh, chiếc ráo dừa múc nước cho đến những gian nhà dài nhà lớn được lớp bằng lá dừa mát mẻ, thân dừa làm kèo làm cột, làm những chiếc cầu tre gắn với câu hát của mẹ, chiếc ấm trà thanh lịch mà hoài cổ bằng trái dừa của ông…Ngay cả những chiếc rạp cưới cũng được trang trí công phu bằng dừa. Không những thế, chúng ta có thể ăn tất cả từ dừa, củ dừa non xào dầu, sữa dừa luôn là nguyên liệu không bao giờ thiếu của các món bánh dân gian từ bánh ngọt đến bánh mặn và đặc biệt là nước dừa, vừa có giá trị trong ẩm thực, vừa có tác dụng trong y học. Tôi từng nghe bà kể, ngày xưa các anh bộ đội bị thương đã nhờ nước dừa làm nước biển để truyền vào người tránh mất nước.

    Dừa đã không còn là loài cây mang nhiều giá trị về mặt vật chất nữa mà nó còn mang đầy ý nghĩa về mặt tinh thần. Cây dừa đã được rất nhiều nhà văn, nhà thơ và cả nhạc sĩ lấy làm ý tưởng sáng tác không biết bao nhiêu là tác phẩm hay, ngày ấy khi thấy bóng ngoại ngồi dưới gốc dừa gội đầu tôi hay hát trêu chọc ngoại “Ai đứng như bóng dừa, tóc dài bay trong gió, có phải người còn đó là con gái của Bến Tre”, ngoại cười hà hà rồi chữi yêu “hết sức”.

    Tôi yêu thích cây dừa như chính sự yêu thích dành cho quê hương đất nước, với tôi cây dừa chính là những hình ảnh gần gũi thân thương mộc mạc nhưng thấm đầy nghĩa tình như chính con người Việt Nam, dừa là khoảng trời tuổi thơ, là quê ngoại thân yêu mà mỗi ngày hè tôi điều muốn về. Ngày nay những cơ sở sản xuất nước dừa và các quà lưu niệm bằng dừa được bày bán khắp nơi, tôi hi vọng hình ảnh cây dừa ngày càng được nhiều người biết đến, yêu mến và trân trọng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Vài Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “cây Dừa” Của Trần Đăng Khoa
  • Lời Bài Hát Quên Cây Cầu Dừa
  • Thuyết Minh Về Cây Dừa (Bài Mẫu Hay)
  • Hoạt Động Lqtpvh Thơ “cây Dừa”
  • Dàn Ý, Bài Thuyết Minh Về Cây Dừa Việt Nam Quê Em Lớp 9
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Trăng Ơi … Từ Đâu Đến (Trần Đăng Khoa)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Ngôn Ngữ Thơ: Xòe Tay
  • Giáo Án Dạy Lớp Chồi
  • Đề Tài Thơ Xoè Tay
  • Báo Giá Đồ Chơi Xe Cứu Hỏa Cầm Tay Thổi Bong Bóng, Trò Chơi Thổi Bong Bóng Hình Chiếc Xe, Thổi Bong Bóng, Xe Thổi Bong Bóng, Trò Chơi Tuổi Thơ Thổi Bong Bóng, Đồ Chơi, Trò Chơi, Đồ Chơi Cầm Tay, Xe Thoi Bong Bong Chỉ 69.000₫
  • Báo Giá Đồ Chơi Xe Cứu Hỏa Cầm Tay Thổi Bong Bóng, Trò Chơi Thổi Bong Bóng Hình Chiếc Xe, Thổi Bong Bóng, Xe Thổi Bong Bóng, Trò Chơi Tuổi Thơ Thổi Bong Bóng, Đồ Chơi, Trò Chơi, Đồ Chơi Cầm Tay, Xe Thoi Bong Bong Chỉ 61.000₫
  • 1968

    Nguồn: Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hóa dân tộc, 1999

    Bài thơ Trăng Ơi … từ đâu đến là một bài thơ hay của nhà thơ Trần Đăng Khoa, bài thơ với nội dung miêu tả ánh trăng vô cùng gần gũi, rất giàu trí tưởng tượng.

    Bài thơ tác giả đã sử dụng điệp khúc “Trăng ơi.. từ đâu đến” từ khổ thơ đầu đến khổ thơ cuối của bài thơ. Điệp khúc “Trăng ơi.. từ đâu đến” như là một câu hỏi, gợi lên bao cảm xúc thật bâng khuâng và mênh mang.

    Cái không gian mà vầng trăng xuất hiện thật bao la, mênh mông: “Hay từ cánh đồng xa”, “Hay biển xanh diệu kì”, “Hay từ một sân chơi”, “Hay từ lời mẹ ru” Hay từ đường hành quân”, hay “Trăng đi khắp mọi miền”, ở đây, trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ thần đồng đã thắp sáng vần thơ kì diệu, bay bổng.

    Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ đã không còn không còn là lá lúa, chiếc câu liêm vàng, chiếc đĩa bạc… nữa, mà Trần Đăng Khoa đã cảm nhận một cách tinh tế bằng tình yêu trăng của tâm hồn trẻ thơ, rất hồn nhiên, trong sáng.

    “Trăng hồng như quả chín

    Lửng lơ lên trước nhà”.

    Hai chữ “lửng lơ” gợi tả vầng trăng nhẹ, từ từ bay lên “trước nhà” thật gần gũi thân thương. Đối với lứa tuổi trẻ em ở vùng nông thôn thì vầng trăng khi nào cũng thật đẹp, thật gần gũi

    Trăng từ biển xanh diệu kì đến, nơi có lắm cá nhiều tôm. Trăng tròn lung linh được, so sánh với mắt cá “chẳng bao giờ chớp mi” là một hình tượng ngộ nghĩnh, giàu chất thơ:

    “Trăng tròn như mắt cá

    Chẳng bao giờ chớp mi”.

    Trăng được ví như quả bóng từ một sân chơi của nhi đồng đã được “Bạn nào đá lên trời”. Thật hóm hỉnh!

    Trăng từ lời ru của mẹ: “Chú Cuội ngồi gác cây da – Thả trâu ăn lúa, gọi cha ời ời….” đã nhập vào tâm hồn tuổi thơ khi còn nằm trên nôi. Ngắm trăng, bé Khoa hỏi Cuội và thương Cuội biết bao nhiêu:

    “Thương Cuội không được học

    Hú gọi trâu đến giờ!”.

    Hai khổ thơ cuối, vầng trăng gợi mở tâm hồn tuổi thơ. Trần Đăng Khoa viết bài thơ này vào năm 1967, khi đất nước đang kháng chiến chống Mĩ. Trăng không chỉ soi sáng sân nhà em mà con soi sáng đường cho chú Giải phóng quân hành quân ra trận:

    “Hay từ đường hành quân

    Trăng soi chú bộ đội

    Và soi vàng góc sân”.

    Nước Việt Nam chúng ta đã đẹp, quê hương chúng ta đã đẹp: “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!” (Tố Hữu). Dưới vầng trăng sáng, đất nước ta càng thêm đẹp:

    “Trăng ơi, có nơi nào

    Sáng hơn đất nước em”.

    Đó là niềm tự hào và tình yêu đất nước quê hương.

    “Trăng ơi… từ đâu đến?” là một bài thơ đẹp và hay. Giọng thơ nhẹ nhàng thanh tao; tình yêu trăng chan hòa dào dạt với tình yêu đất nước, quê hương. Lời thơ trong sáng, hình tượng đẹp và mới lạ. Trăng đã trở thành một phần nhỏ trong tâm hồn của tuổi thơ mỗi người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trăng Trong Thơ Hàn Mặc Tử
  • Biểu Tượng “trăng” Trong Thơ Hàn Mặc Tử
  • Hàn Mặc Tử Và Giai Điệu Thơ Trăng
  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Ánh Trăng Lớp 9 Cua Nguyễn Duy
  • Cảm Nghĩ Về Đêm Trăng Trung Thu Lớp 7 Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Về Dừa, Cây Dừa Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Chùm Thơ Hay Nói Về Duyên Nợ Trong Tình Yêu
  • Những Bài Thơ Hay Nói Về Duyên Nợ Trong Tình Yêu
  • Lời Bài Thơ Duyên Kỳ Ngộ (Hàn Mặc Tử)
  • Bài Thơ Duyên Kỳ Ngộ Của Tác Giả Hàn Mặc Tử
  • Phân Tích Bài Thơ Trao Duyên Trích Truyện Kiều
  • Những bài thơ về dừa, cây dừa hay? Thơ về cây dừa? Thơ về dừa? Bài thơ về dừa? Thơ về dừa Bến Tre? Thơ về dừa Tam Quan?

    Thơ hay về cây dừa 1: Dừa non ơi hỡi dừa non

    Dừa non ơi hỡi dừa non

    Đến khi dừa lớn anh còn tương tư

    Thời gian đâu thể chần chừ

    Người ta dạm hỏi hững hờ em xa

    Qua nhà mời thiệp cho ta

    Lòng như quả ớt làm ra nụ cười.

    Trong thời bình, dừa mang lại cho quê hương ta vẻ thơ mộng, trù phú. Dừa làm dịu mát cái nắng ban trưa khắc nghiệt; dừa xuất hiện ở hai đầu cánh võng ru giấc ngủ ban trưa; dừa tô điểm cho thôn quê những mái ngói xinh xắn; dừa tạo không gian cho tình yêu phát triển…

    nếu tôi là quả dừa

    không lừa dối miệng người đang khát

    đập tôi ra anh sẽ thấy nước ngọt

    giấu trong hai lần vỏ khác nhau

    Cái hay của bài thơ không chỉ ở chỗ tá giả so sánh mình với quả dừa, liên tưởng với nhiều hình ảnh khác nhau trong cuộc sống, mà cái hay, cái độc đáo của bài thơ còn là ở chỗ thông qua việc miêu tả lợi ích cây dừa, Tác giả đã tái hiện một vẻ đẹp và lợi ích cua quả dừa.

    Thơ hay về dừa 7: Anh về bẻ trăm khuôn dừa

    Anh về bẻ trăm khuôn dừa

    Gói trăm bánh nếp sang nhà hỏi em

    Đã yêu nhau bong bóng khó chìm

    Gỗ lim khó nổi, anh với em khó rời

    Bài thơ này nói về ngưới con trái “bẻ tram khuôn dừa” để “gói tram bánh nếp” sau đó đi hỏi cưới người con gái. Hình ảnh dừa lại một lần nữa tái hiện trong tình yêu đôi lứa.

    Giã ơn ai có cây dừa

    Cho tôi nghỉ mát đợi chờ người thương

    Giã ơn câycửu lý hương

    Hai đứa hai họ, ta thương nhau đời

    Bài thơ là lời cảm ơn của tác giả đến với những ai có cây dừa. Tác giả nghỉ mát đợi “người thương” và nhờ bóng mát của cây dừa mà tác giả có một cái kết thật đẹp là “hai đứa hai họ, ta thương nhau đời”.

    Lúc trẻ người hút nước

    Khi già người xơi cùi

    Cả đời tôi ăn đất

    Mấy ai người thương tôi

    Vỏ dừa xanh, cái trắng phau

    Má hồng em ướp đỏ au bằng gì?

    Yêu em xây núi tình si

    Ngẩn ngơ bụng dạ đòi đi chẳng về.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Bài Văn Tả Mẹ Hay Nhất Nên Tham Khảo
  • Chùm Thơ Cảm Ơn Đời Và Cuộc Sống Này
  • Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Câu Nói: “cảm Ơn Đời Mỗi Sớm Mai Thức Dậy. Ta Có Thêm Ngày Mới Để Yêu Thương”
  • Suy Nghĩ Về Câu Nói: Cảm Ơn Đời Mỗi Sớm Mai Thức Dậy Ta Có Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương
  • Bí Quyết Giúp Bạn Dậy Sớm Tập Thể Dục
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Cảm Nhận Về Bài Thơ Trăng Ơi … Từ Đâu Đến (Trần Đăng Khoa) Mới Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Bài Thơ 4 Chữ Hay Về Trăng, Về Mưa
  • Trăng Trong Thơ Văn Việt Nam
  • Những Bài Thơ Tình Yêu Biển Và Trăng Hay Nhất
  • Trăng Trong Thơ Của Hai Thi Nhân Kiệt Xuất Nhất Thời Đường
  • Những Câu Chuyện Và Thơ Ca Về Trăng Của Trung Quốc
  • Trăng Ơi Từ Đâu Đến

    1968

    Nguồn: Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hóa dân tộc, 1999

    Cảm nhận về bài thơ Trăng Ơi … Từ đâu đến

    Bài thơ Trăng Ơi … từ đâu đến là một bài thơ hay của nhà thơ Trần Đăng Khoa, bài thơ với nội dung miêu tả ánh trăng vô cùng gần gũi, rất giàu trí tưởng tượng.

    Bài thơ tác giả đã sử dụng điệp khúc “Trăng ơi.. từ đâu đến” từ khổ thơ đầu đến khổ thơ cuối của bài thơ. Điệp khúc “Trăng ơi.. từ đâu đến” như là một câu hỏi, gợi lên bao cảm xúc thật bâng khuâng và mênh mang.

    Cái không gian mà vầng trăng xuất hiện thật bao la, mênh mông: “Hay từ cánh đồng xa”, “Hay biển xanh diệu kì”, “Hay từ một sân chơi”, “Hay từ lời mẹ ru” Hay từ đường hành quân”, hay “Trăng đi khắp mọi miền”, ở đây, trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ thần đồng đã thắp sáng vần thơ kì diệu, bay bổng.

    Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ đã không còn không còn là lá lúa, chiếc câu liêm vàng, chiếc đĩa bạc… nữa, mà Trần Đăng Khoa đã cảm nhận một cách tinh tế bằng tình yêu trăng của tâm hồn trẻ thơ, rất hồn nhiên, trong sáng.

    “Trăng hồng như quả chín

    Lửng lơ lên trước nhà”.

    Hai chữ “lửng lơ” gợi tả vầng trăng nhẹ, từ từ bay lên “trước nhà” thật gần gũi thân thương. Đối với lứa tuổi trẻ em ở vùng nông thôn thì vầng trăng khi nào cũng thật đẹp, thật gần gũi

    Trăng từ biển xanh diệu kì đến, nơi có lắm cá nhiều tôm. Trăng tròn lung linh được, so sánh với mắt cá “chẳng bao giờ chớp mi” là một hình tượng ngộ nghĩnh, giàu chất thơ:

    “Trăng tròn như mắt cá

    Chẳng bao giờ chớp mi”.

    Trăng được ví như quả bóng từ một sân chơi của nhi đồng đã được “Bạn nào đá lên trời”. Thật hóm hỉnh!

    Trăng từ lời ru của mẹ: “Chú Cuội ngồi gác cây da – Thả trâu ăn lúa, gọi cha ời ời….” đã nhập vào tâm hồn tuổi thơ khi còn nằm trên nôi. Ngắm trăng, bé Khoa hỏi Cuội và thương Cuội biết bao nhiêu:

    “Thương Cuội không được học

    Hú gọi trâu đến giờ!”.

    Hai khổ thơ cuối, vầng trăng gợi mở tâm hồn tuổi thơ. Trần Đăng Khoa viết bài thơ này vào năm 1967, khi đất nước đang kháng chiến chống Mĩ. Trăng không chỉ soi sáng sân nhà em mà con soi sáng đường cho chú Giải phóng quân hành quân ra trận:

    “Hay từ đường hành quân

    Trăng soi chú bộ đội

    Và soi vàng góc sân”.

    Nước Việt Nam chúng ta đã đẹp, quê hương chúng ta đã đẹp: “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!” (Tố Hữu). Dưới vầng trăng sáng, đất nước ta càng thêm đẹp:

    “Trăng ơi, có nơi nào

    Sáng hơn đất nước em”.

    Đó là niềm tự hào và tình yêu đất nước quê hương.

    “Trăng ơi… từ đâu đến?” là một bài thơ đẹp và hay. Giọng thơ nhẹ nhàng thanh tao; tình yêu trăng chan hòa dào dạt với tình yêu đất nước, quê hương. Lời thơ trong sáng, hình tượng đẹp và mới lạ. Trăng đã trở thành một phần nhỏ trong tâm hồn của tuổi thơ mỗi người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ “trăng Ơi… Từ Đâu Đến” Của Trần Đăng Khoa
  • Trăng Trong Thơ Bác Hồ
  • Em Hãy Viết Một Bài Văn Cảm Nhận Về Ngày Tết Cổ Truyền Việt Nam
  • 1001 Bài Thơ Hay Viết Về Tết & Những Lời Chúc Ý Nghĩa Cho Ngày Tết
  • Tổng Hợp Những Bài Thơ Hay Về Tết Trung Thu
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu)

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản, Thơ Chi Tiết Cùng Ví Dụ
  • Soạn Văn Bài: Luyện Tập Vận Dụng Kết Hợp Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Bài Văn Nghị Luận
  • Mấy Ý Kiến Về Việc Thưởng Thớc, Đánh Giá Thơ Tố Hữu
  • Giáo Án Tập Đọc Lớp 5
  • Thơ Chúc Mừng Năm Mới 2022
  • Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Cảm nhận hình ảnh người mẹ trung du qua Bầm ơi

    Bài thơ Bầm ơi được sáng tác kể về người mẹ Nguyễn Thị Gái. Đây là nơi một số nhà thơ trong đó có Tố Hữu đã dừng chân. Địa điểm nhắc tới trong bài chính là xã Gia Điền – một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa ( Phú Thọ). Cảm nhận sâu sắc tình cảm bầm dành cho những thi sĩ, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Bầm ơi

    Bầm ơi – một lá thư bằng thơ

    Đây chính là câu chuyện về người mẹ hết lòng thương con. Khi các thi sĩ dừng chân ở nhà bầm, bầm đã dành giường cho họ và chuyển xuống bếp ngủ. Tối về cụ dùng lá chuối khô bện lại để nàm nệm nằm cho đỡ lạnh. Tuy nhiên khi ấy cứ đêm đêm mọi người lại nghe thấy tiếng khóc nỉ non của cụ. Hỏi ra mới vỡ lẽ rằng, cụ nhớ đứa con trai của mình. Con trai của cụ tham gia vệ quốc quân nhưng lâu ngày không có tin tức. Chính vì vậy khi ấy các nhà thơ đã đề nghị Tố Hữu sáng tác một bài thơ như là một bức thư của người con trai để cụ an lòng. Đó cũng chính là hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Khi sáng tác xong nhà thơ dã đọc cho cụ nghe và bảo đó chính là bài thơ mà con trai cụ gửi về nhà. tin là như vậy cụ mừng lắm và cũng hết lo lắng và cũng không còn nghe tiếng khóc thầm mỗi đêm. Và cụ luôn miệng nói với nhà thơ Tố Hữu rằng con trai của cụ nó thương cụ thế đấy. Từ đó hôm nào cụ cũng nhờ nhà thơ Tố Hữu đọc lại bài thơ nghe ít nhất một lần.

    Về sau bài thơ Bầm ơi được nhiều người biết tới hơn và các chiến sĩ đã chép bài thơ này vào lá thư để gửi cho mẹ của mình và báo rằng họ vẫn bình an. Sau này năm 1981 khi đang ở Hà Nội thì anh đại tá quân đội là con trai của cụ Gái đến thăm. Anh rất cảm kích bài thơ của nhà thơ đã làm vơi bớt sự nhớ nhung của mẹ. Và nhà thơ đã gửi 3m lụa làm quà để anh mang về làm quà cho mẹ của mình.

    Câu chuyện gia tài của người chiến sĩ

    Bài thơ Bầm ơi không chỉ là tình cảm riêng tư của một chàng trai nào đối với mẹ của mình nữa. Mà nó có sức lan tỏa và cũng chính là tình cảm thủy chung sâu nặng của những người chiến sĩ xa quê. Đó cũng chính là một cách báo bình an cho những người thân ở nhà. Qua đó ta có thể cảm nhân được hình ảnh người mẹ trung du bình dị nhưng lại có tình cảm sâu nặng dành cho đứa con đang chiến đấu cho Tổ quốc hôm nay.

    Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

    Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

    Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

    Con đi đánh giặc mười năm

    Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

    Hình ảnh người bầm hiện lên thật xúc động. Từng câu chữ như làm sống lại hình ảnh bà mẹ trung du nghèo khó nhọc. Nhất là trong một buổi sáng mưa phùn mẹ tay run cắm từng mảnh mạ xuống bùn mà làm con người ta thêm phần xót xa, quặn đau. Qua đó như muốn khuyên nhủ người mẹ hãy bớt những lo toan và bộn bề. Bởi rằng những khốc liệt nơi chiến trường cũng không thể nào đo được những nỗi vất vả của cuộc đời bầm. Và cũng không đổi lại được tình cảm mà bầm dành cho con.

    Con đi mỗi bước gian lao

    Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

    Bao bà cụ từ tâm như mẹ

    Yêu quý con như đẻ con ra.

    Tình cảm ấy đã nâng bước chân của những người con nơi chiến trường. Và cũng chính tình yêu đồng chí, yêu ước, hậu phương đã hòa thành một tình cảm lớn lao giúp người chiến sĩ vượt qua những thử thách và gian lao của cuộc chiến. Đó chính là giá trị mà bài Bầm ơi muốn nhắn nhủ. Bởi nó cũng thể hiện được những quyết tâm của các chiến sĩ luôn sẵn sàng vượt lên phía trước để tiêu diệt kẻ thù. Bởi vì sau lưng họ có bầm luôn theo dõi và dành tình cảm sâu nặng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Nhân Nghĩa Được Thể Hiện Trong Suốt Bài Bình Ngô Đại Cáo
  • Nghị Luận “bình Ngô Đại Cáo” Một Tác Phẩm Của Nguyễn Trãi
  • Văn Mẫu Nghị Luận Tác Phẩm Bình Ngô Đại Cáo
  • Bài Viết Phân Tích “bình Ngô Đại Cáo”
  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn 1 2 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Việt Nam Đất Nước Ta Ơi (Nguyễn Đình Thi)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Nội Dung Nghệ Thuật & Cảm Nhận Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó
  • Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Của Nhà Thơ Tế Hanh
  • Đề Kiểm Tra Bài Viết Số 3 Năm Học 2022
  • 1001 Bài Thơ Viết Về Bình Định, Tình Yêu & Con Người Quê Tôi
  • Việt Nam quê hương ta

    Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    Cánh cò bay lả rập rờn

    Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều

    Quê hương biết mấy thân yêu

    Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau

    Mặt người vất vả in sâu

    Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn

    Đất nghèo nuôi những anh hùng

    Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên

    Đạp quân thù xuống đất đen

    Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa

    Việt Nam đất nắng chan hoà

    Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh

    Mắt đen cô gái long lanh

    Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung

    Đất trăm nghề của trăm vùng

    Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem

    Tay người như có phép tiên

    Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ

    Nước bâng khuâng những chuyến đò

    Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi

    Đói nghèo nên phải chia ly

    Xót xa lòng kẻ rời quê lên đường

    Ta đi ta nhớ núi rừng

    Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ

    Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô

    Bữa cơm rau muống quả cà giòn tan…

    Trích từ trường ca Bài thơ Hắc Hải (1958).

    Cảm nhận về bài thơ Việt Nam quê hương ta

    Việt Nam quê hương ta là bài thơ được viết dưới thể lục bát, âm điệu nhẹ nhàng, bay bổng nhưng cũng không kém phần sôi nổi, trầm hùng. Câu thơ mở đầu như câu hát ca ngợi da diết.

    Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    Nhà thơ đã tinh tế vẽ nên một bức tranh màu sắc hài hòa, tươi đẹp, rất đặc trưng của làng quê Việt. Giữa nền xanh biếc “biển lúa” là hình ảnh đàn cò trắng chao nghiêng rập rờn. Cánh cò ấy không cao vút tầng không mà “bay lả” giữa cánh đồng, dưới những đám mây mờ bị che phủ bởi đỉnh núi, mở ra khung cảnh về một đất nước thanh bình.

    Để có được sự thanh bình ấy, dân tộc ta đã phải trải qua bao đau thương, mất mát, chịu bao gông xiềng của phong kiến, đế quốc. Hình ảnh “mảnh áo nâu nhuộm bùn” như minh chứng cho sự gian lao, tảo tần, cho đức hy sinh của những con người thật thà, chất phác.

    Trước muôn vàn khổ đau, mảnh đất nghèo biến những con người bé nhỏ thành những anh hùng bất khuất, không chịu lùi bước trước bạo tàn mà “chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên”. Trong mọi hoàn cảnh, lòng yêu nước luôn được đặt lên trên hết.

    Đất nước ngày một khang trang, đời sống nhân dân cũng đổi thay rõ rệt. Vậy nhưng, hình ảnh hào hùng trong quá khứ và niềm vui của con người những năm đầu hòa bình sẽ mãi trường tồn với thời gian. Để mỗi chúng ta có thể tự hào rằng,

    Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Việt Nam Đất Nước Ta Ơi…
  • Việt Nam Quê Hương Ta
  • Phân Tích Bài Thơ “quê Hương” Của Tế Hanh Lớp 8 Hay Nhất
  • Soạn Bài: Quê Hương (Tế Hanh)
  • Cảm Nhận Bức Tranh Làng Quê Qua Bài Thơ “quê Hương” Của Tế Hanh Tài Liệu Học Tập
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×