Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn

--- Bài mới hơn ---

  • Thơ Trên Mạng Facebook Chế Hài Hước Vui Nhộn Hay Nhất
  • Tuyển Tập Những Bài Thơ Chế Facebook Hay Nhất
  • Cảm Nhận Bài Thơ Sang Thu Hay Nhất
  • Cảm Nhận Bài Thơ Sang Thu
  • Hãy Một Lần Chạm Tay Lên Đỉnh Fansipan, Để Cảm Nhận Sự Hùng Vĩ Của Đất Trời Mênh Mang
  • Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Nhàn.

    Bài làm

    Cảm nhận về bài thơ Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những nhà thơ nổi tiếng trong văn học trung đại Việt Nam. Ông là người có học vấn uyên thâm, từng ra làm quan nhưng chán cảnh quan trường nhiều bất công thối nát nên đã từ quan về ẩn ẩn, sống một cuộc sống an nhàn, thảnh thơi. Những sáng tác của ông bao gồm cả thơ chữ Hán và chữ Nôm, trong đó bài thơ Nhàn được rút ra từ tập Bạch Vân quốc ngữ thi, một trong hai tập thơ nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    Bài thơ Nhàn được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, viết bằng chữ Nôm. Được sáng tác vào khoảng thời gian ông rút về ở ẩn. Bài thơ là tiếng lòng của nhà thơ về một cuộc sống nhiều niềm vui, có sự an nhàn, thảnh thơi. Có thể nói xuyên suốt bài thơ là một tâm hồn tràn ngập niềm vui, sự thanh tịnh trong chính con người tác giả.

    “Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

    Câu thơ đầu bằng việc lặp lại số từ “một” để diễn tả cuộc sống dân dã của mình khi ở ẩn. Quan trường xô bồ, đen tối mà cuộc sống thì mệt mỏi trong sự ganh đua nhau, không biết nay sống mai chết mà lòng người thì đầy toan tính dối trá. Chính vì thế Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lựa chọn nơi thôn dã để lánh đời. Đó là sự hưởng thụ thú vui tao nhã, Ông đã học tập những bậc hiền triết xưa, những vị quan trước kia như lời trong thơ ca cổ. Đó là nói đến con người là nói đến “Ngư, tiều, canh, mục” và nhà thơ cũng đã lựa chọn thú hưởng nhàn cao quý theo hình tượng con người tượng trưng trong thơ ca. Sự hiện diện của mai, cuốc, cần câu là những vật dụng quen thuộc của những người lao động, người nông dân. Tác giả hiện lên như một lão nông dân bình dị, quen thuộc như bao người khác. Ông sống một cuộc sống trái ngược với cuộc sống trước kia, thảnh thơi, an nhàn. Sống lao động bằng chính đôi tay mình đó là cầm cuốc, cầm mai và thú vui tao nhã đó là câu cá, làm vườn. Có thể nói đây là cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người trong thời kỳ phong kiến mà đặc biệt là những vị quan thanh liêm nhưng không được vua trọng dụng nhưng cũng không dứt khỏi chốn quan trường được.

    Câu thơ thứ hai đã góp phần tạo nên nhịp điệu khoan thai, nhẹ nhàng cho người đọc: “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”. Có thể mỗi người có một quan điểm sống khác nhau, mỗi người có một thú vui khác nhau nhưng đối với ông không quan trọng. Nhà thơ cho rằng ngoài kia người ta có thể vui vẻ với một thú vui có thể là giản dị, có thể là xa hoa nào đó nhưng với ông thì điều đó chẳng ảnh hưởng gì. Sống mặc kệ sự đời, bỏ qua những xa hoa, phù phiếm để “an phận” với cuộc sống với thú vui của mình trong hiện tại. Chính vì thế nên cuộc sống của ông khi đó được nhiều người ngưỡng mộ, mơ ước.

    Từ đó cũng trở thành cơ sở để tác giả một lần nữa khẳng định quan niệm và thái độ sống của chính bản thân:

    “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

    Người không người đến chỗ lao xao”

    Hai câu thơ tiếp chứa đựng một phép đối rất chỉnh nói lên sự khác biệt giữa “ta” với “người” hay của chính nhà thơ với những người khác. Có thể nhiều người cho rằng đang sống làm quan mà bỏ về làm lão nông chi điền là “dại” và ông cũng tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ để ở mà bỏ quan công danh, sự nghiệp. Tuy nhiên cái “dại” này khi người ta nhìn nhận rõ sẽ cảm thấy ghen tỵ và ngưỡng mộ. Trái lại ông coi những người còn ở lại trốn quan trường là những người “khôn” tuy khen mà trong đó bao hàm cái sự chê cười. Ông coi quan trường là cái “chốn lao xao” mà ông không hợp với nó từ đó đối lập với nơi vắng vẻ. Từ đó cho thấy một cốt cách thanh cao và một tâm hồn đáng ngưỡng mộ dám nghĩ, dám làm của tác giả.

    Không chỉ dừng lại ở đó hai câu tiếp theo đã nói về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của nhà thơ khi sống ở vùng thôn dã:

    “Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”

    Chỉ bằng cặp thơ đã lột tả được hết thảy cuộc sống sinh hoạt thường ngày khi về ở ẩn của tác giả. Sánh với “Ngư, tiều, canh, mục” chính là “Xuân, hạ, thu đông”. Bốn mùa tạo nên một năm trọng vẹn mà mùa nào thức ấy, tuy không phải những sơn hào hải vị như khi còn ở quan trường nhưng lại khiến nhà thơ cảm thấy hài lòng. Cuối cùng tác giả còn đúc kết cốt cách thanh cao đó là:

    “Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

    Đây cũng chính là những triết lý của tác giả trong quãng thời gian ở ẩn. Đó là thái độ thờ ơ trước công danh, phú quý. Tất cả nó giống như một giấc chiêm bao để rồi khi tỉnh dậy sẽ tan biến vào hư vô

    Qua bài thơ ta có thể thấy con người, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm, một con người luôn hướng về “nơi vắng vẻ”, tránh xa nơi quan trường “lao xao”. Một người gần gũi với thiên nhiên, với cuộc sống của những người bình dân mà không ham vinh hoa, phú quý. Đây quả thật là một bậc đại tài đáng ngưỡng mộ khi dám nghĩ, dám làm trong thời đại xã hội phong kiến suy đồi, triều đình thối nát.

    Mai Du

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Của Phạm Tiến Duật
  • Nội Dung & Nghệ Thuật Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Với Những Câu Nói Hài Hước Trên Facebook Hay Nhất
  • Những Bài Viết Hay Về Mỹ Phẩm Giúp Bạn Bán Hàng Đắt Khách
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nhàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Thao Giảng Bài Nhàn
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 53 Đọc
  • Giáo Án Bài Nhàn Lớp 10 Nguyễn Bỉnh Khiêm Chi Tiết Nhất
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 38: Nhàn
  • Anh Chị Hãy Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    Bài làm

    Cảm nhận của em về bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm là một vị quan lỗi lạc, một nhà thơ nổi tiếng của văn học Trung đại Việt Nam. Giữa cái xã hội phong kiến thối nát, đã có biết bao người lựa chọn cuộc sống bon chen nơi thành đô để mong vinh hoa phú quý. Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm lại lựa chọn cuộc sống an nhàn nơi thôn quê dân giã. Bài thơ “Nhàn” là một sáng tác thể hiện rõ nhất tâm hồn thanh cao và lối sống tuyệt đẹp của một đấng quân tử.

    Là một vị quan lỗi lạc, tài trí hơn người nhưng không gặp thời. Ông đã dâng sớ để vạch tộ mười tám quan thần lộng hành nhưng không được chấp nhận. Giữa sự biến động và phức tạp của triều đình với các cuộc giao tranh Lê-Mạc và Trịnh Nguyễn phân tranh, ước nguyện mong muốn đem đến cuộc sống ấm no, yên bình cho nhân dân không thành, ông chán ghét cảnh thành đô nên đã lựa chọn về quê nhà sống ẩn dật cùng thiên nhiên để bảo vệ tâm hồn và lối sống thanh cao, trong sạch, tránh sự nhem nhuốc, tối tăm của triều đình phong kiến.

    Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    Hiện lên trước mắt bạn đọc là một bức tranh thanh bình với bóng dáng an nhàn của một lão nông thật sự. “Một mai, một cuốc, một cần câu” là hình ảnh của những dụng cụ quen thuộc và thân thương trong cuộc sống thôn quê. Ông lựa chọn chốn núi rừng để tránh những đao búa, thị phi chốn quan trường. Lựa chọn cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên để được tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên. Điều đó làm tâm hồn ống không bị vướng bận bởi những chuyện thị phi, khong bị nhiễm bẩn bởi sức mạnh của đồng tiền, của danh lợi. Tâm hồn người thi sĩ giờ đây trong sạch, thanh mát như cở cây, hoa lá và khí trời thiên nhiên. Cụm từ “thơ thẩn” như càng làm nổi bật lên vẻ đẹp của lối sống thanh cao. Người nông dân ấy ung dung, tự tại ngồi câu cá, cuốc vườn, đắm mình vào thiên nhiên đất trời. Dẫu cho ngoài kia có biết bao thú vui khác, hấp dẫn và náo nhiệt hơn nhưng ông lại chọn cho mình cuộc sống ẩn dật, bình yên chốn núi rừng.

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chỗ lao xao

    Ở những vần thơ theo của bài thơ “Nhàn”, một cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên lại hiện ra.

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    Cuộc sống chốn thôn quê không đầy đủ vật chất, không sơn hào hải vị nhưng lúc nào cũng đủ đầy những món ăn dân gia, đậm hương vị quê hương. Mùa nào thì có thức nấy. Mùa thu ăn măng trức, mừa đông lại ăn giá. Rồi thỉnh thoảng người nông dân lại trồng rau, trồng trái ở khu vườn. Quanh năm suốt tháng, hết món này lại có món chúng tôi những món ăn không cao sang nhưng lại thanh mát, tươi ngon. Với vài nét vẽ đơn giản “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phác họa lên một cuộc sống thanh cao vô cùng. Con người hòa hợp với thiên nhiên, tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên. Tâm hồn người thi sĩ cũng thanh cao như những đáo sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

    Hai câu thơ cuối bài thơ là sự đúc kết tất cả những suy nghĩ và tâm hồn của nhà thơ.

    Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp

    Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao

    Dưới gốc cây xanh mát, lão nông nhâm nhi chén rượu nồng. Vừa uống vừa thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên. Tác giả muốn say, muốn đắm chìm trong không gian vô tận của núi rừng, sông nước.Với ông, với một trạng nguyên có tài có đức thì tiền bạc, vinh danh là những thứ không bao giờ thiếu. Nhưng ông không cần, không quan tâm. Tất cả chỉ là hư vô, là giấc chiêm bao, tỉnh dậy sự tan biến không để lại dấu vết. Tiền tài danh vọng chưa bao giờ là mong muốn, là mục đích của nhà thơ. Ông thi đỗ Trạng nguyên vì muốn được cống hiến cho triều đình, mang lại cho người dân một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Quyền uy, phú quý đối với ông không có ý nghĩa gì cả. Nhưng ước mơ của vị quan thanh liêm không thành, ông lựa chọn về ở ẩn, hòa nhập với thiên nhiên để tâm hồn mình được giữ nguyên vẹn sự trong sách, sáng ngời.

    Với thể thơ thất ngôn bát cú, ngôn ngữ mộc mạc, chân thành trong bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm nổi bật lên tâm hồn thanh cao của một người quân tử. Vật chất sa hoa tất cả chỉ là phù phiếm, là giấc chiêm bao. Chính cốt cách và lối sống của ông đã để lại trong lòng người đọc cho đến tận bây giờ một sự tôn kính và khâm phục trước một vị quan thanh liêm nhưng không gặp thời để thể hiện cái tài cái đức của mình phục vụ Tổ quốc, cống hiến cho nhân dân.

    Seen

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Bài Thơ “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Lập Dàn Ý Phân Tích Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn
  • Soạn Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Mở Bài Kết Bài Nhàn Hay Nhất
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Học Bài Mau Thuộc Nhớ Cả Đời
  • Giới Thiệu Về Nhà Thơ Thế Lữ Và Bài Thơ Nhớ Rừng
  • Soạn Bài Nhớ Rừng Của Tác Giả Thế Lữ
  • Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà Ngắn Gọn Nhất
  • Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà Ngữ Văn 12
  • Cảm nhận về bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn trường THPT Lê Quý Đôn Quảng Bình

    Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam: Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân , vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho. Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi.

    Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong qui luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy.

    Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị :

    Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dù ai vui thú nào

    Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quí của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khác, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ thẩn được phác hoạ trong câu thơ thật độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc,cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đàng sau những liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền.

    Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh:

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người kiếm chốn lao xao

    Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai , những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực : một bên là nhà thơ xưng Ta một cách ngạo nghễ, một bên là Người ; một bên là dại của Ta, một bên là khôn của người ; một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao. Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dụng ích kỷ làm tầm thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao . Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất Nguyên thuở xưa ” Người đời tỉnh cả, một mình ta say ” đầy u uất, Trạng Trình đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử không bận tâm những trò khôn – dại . Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản :

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong bả vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hoà hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư . Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát tục, tiêu biểu cho quan niệm ” độc thiện kỳ thân ” của các nhà nho . đồng thời có nét gần gũi với triết lí ” vô vi ” của đạo Lão, ” thoát tục ” của đạo Phật. Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hoà hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình . Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hoà hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang phu tử đang sống đúng với thiên lương của mình. Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định :

    Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

    Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gắn với đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình :

    Ở thế mới hay người bạc ác

    Giàu thì tìm đến, khó thì lui

    (Thói đời)

    Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ Tăng thử (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhân cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân.

    Bài thơ Nhàn bao quát toàn bộ triết trí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vi thối nát. Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính.

    Cảm nhận về bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 2

    Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện còn để lại khoảng 1.000 bài thơ chữ Hán và trên dưới 200 bài thơ Nôm trong “Bạch Vân am tập” và “Bạch Vân Quốc ngữ thi tập”. Nhận xét về thơ Trạng Trình, nhà sử học Phạm Huy Chú trong thế kỉ XIX có viết:

    “Văn chương ông tự nhiên, nói ra là thành, không cần gọt giũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị, đều có quan hệ đến việc dạy đời”.

    Mảnh thơ viết về thiên nhiên và vịnh nhàn chiếm một tỉ lệ sang trọng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ Nôm số 73 của Tiên sinh mà người soạn sách Ngữ văn đặt cho cái nhan đề “Nhàn” tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật và tâm hồn thanh cao của “ông Tiên giữa cõi trần” này.

    “Nhàn” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật, đó là những vần thơ “giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị”:

    “Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn, người đến chỗ lao xao

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp

    Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao”.

    Nhịp thơ rất biến hóa, gợi lên một tâm thế đủng đỉnh khoan thai của một lão nông sống ung dung thanh thản nơi vườn quê thân thuộc thể hiện ở hai câu đề:

    “Một mai, một cuốc, một cần câu,

    Thơ thẩn, dầu ai vui thú nào”.

    Mai, cuốc, cần câu, những nông cụ ấy, vật dụng ấy với ta cũng chỉ có “một” mà thôi; hằng ngày ta vẫn cùng “Một mai, một cuốc, một cần câu” ấy vui vầy giữa “chốn nước non”, thảnh thơi với dòng xanh sông Tuyết Giang quê nhà. Cái gia tài có 3 thứ, thứ nào cũng chỉ có “một” nhưng với Bạch Vân cư sĩ thì vô cùng giàu có và sang trọng. Dù ai có cách vui thú nào mặc, riêng ta cứ thơ thẩn, nhởn nhơn ung dung giữa cuộc đời. Có tự ý thức được mình thì mới có tâm thế “thơ thẩn” ấy. Cách sống ấy của Nguyễn Bỉnh Khiêm có khác nào cách sống cần cù, thanh bạch của Ức Trai trong thế kỉ 15 sau khi đã thoát vòng danh lợi:

    “Ao cạn vớt bèo cấy muống,

    Đìa thanh phát cỏ mương sen.

    Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,

    Thuyền chở yên hà nặng vạy then”.

    (Thuật hứng – 24)

    Hai câu ba, bốn trong phần thực đối nhau: “ta dại” đối với “người khôn”; “ta tìm” đối với “người đến”, “nơi vắng vẻ” đối với “chốn lao xao”. Nghệ thuật đối ấy đã tương phản và đối lập hai quan niệm sống, hai nhân cách trong cuộc đời. “Nơi vắng vẻ” với Nguyễn Bỉnh Khiêm là đất tổ quê cha, là am Bạch Vân, là làng Trung Am, huyện Vĩnh Lai (nay là xã Lý Học, Vĩnh Bảo, Hải Phòng), là sông Tuyết Giang, là quán Trung Tân. Đó là nơi “hằng mến” đối với Tuyết Giang phu tử:

    “Ba gian am quán, lòng hằng mến,

    Đòi chốn sơn hà, mặt đã quen.

    Thanh vắng thú quê giàu mấy nả,

    Dữ lành miệng thế mặc chê khen”.

    “Chốn lao xao” theo Nguyễn Bỉnh Khiêm là chốn bon chen danh lợi, là nơi bạn cơ hội vênh vang tự đắc, lên mặt đạo đức dạy đời, là nơi đồng tiền hôi tanh đã trở thành “sức mạnh của cán cân công lí”:

    “Đạo nọ nghĩa này trăm tiếng bướm,

    Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền”.

    (Thơ Nôm, bài số 50)

    Sau nhịp thơ 2/5 và các điệp ngữ “ta”, “người”, chúng ta cảm thấy ánh mắt của ông Trạng nheo lại với nụ cười mỉm:

    “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

    Người khôn, người đến chốn lao xao”.

    Hai câu trong phần luận đăng đối hài hòa, làm hiện rõ một cách sống giản dị, bình dị, thanh bạch của kẻ sĩ cao khiết đã lánh tìm trong, đã thoát “chốn lao xao” đầy bụi trần:

    “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”.

    Trúc và giá thơm ngon hơn cao lương Mĩ vị ở “chốn lao xao”. Tắm hồ sen mùa xuân, tắm ao về mùa hạ đối với Bạch Vân Cư Sĩ là để thanh sạch tâm hồn, để di dưỡng tinh thần cho thêm phần thanh cao. “Xuân tắm hồ sen” là thú quê, là niềm vui dân dã không phải ai cũng tìm thấy, ai cũng được tận hưởng:

    “Rủ nhau ra tắm hồ sen

    Nước trong bóng mát hương chen cạnh mình.

    Cứ chi vườn ngọc ao quỳnh,

    Thôn quê vẫn thú hữu tình xưa nay”.

    (Ca dao)

    Hai câu kết thể hiện một cốt cách thanh cao, ung dung tự tại của bậc cao sĩ phong lưu. Ở trên đã nói “ta tìm nơi vắng vẻ” thì khi uống rượu, “ta” lại “đến cội cây”. Trong lúc “người đến chốn lao xao” thì với “ta” lại “nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Xưa nay, đã mấy ai có cách sống đẹp như thế:

    “Rượu đến cội cây ta sẽ uống,

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

    Xưa kia, Nguyễn Trãi đã từng “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén”. Uống rượu và uống cả ánh trăng thanh. Thì giữa am Bạch Vân, Trạng Trình lại ung dung “Rượu đến cội cây, ta sẽ uống”. Rượu ấy là rượu đế, rượu tăm, đâu phải là Mĩ tửu. Có dị bản ghi: “Rượu đến cội cây, ta sẽ nhấp”; chữ “nhấp” mới thể hiện đầy đủ cốt cách của kẻ sĩ yêu nhàn và sống nhàn.

    Có người cho rằng hai câu kết “tác giả có ý dẫn điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe, rồi thấy mình ở nước Hòe An, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng…”. Chúng tôi không nghĩ thế. Một là, Thuẩn Vu Phần chưa có chút danh vọng gì, giấc mộng của ông ta chỉ là “giấc Nam Kha” mà thôi! Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi bước lên tới đỉnh cao danh vọng mới lui về quê cũ dựng am Bạch Vân để vui thú trong cảnh nhàn:

    “Rượu đến cỗi cây, ta sẽ uống,

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

    Hai là, trong thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm có nhiều điển tích, còn trong thơ Nôm của ông rất ít điển tích, mà sử dụng nhiều tục ngữ, ca dao. Thuẩn Vu Phần là một người bất đắc chí, say sưa, mộng hão, còn Bạch Vân cư sĩ là một con người đã từng đứng trên đỉnh cao danh vọng, ung dung tự tại, cao khiết nên mới có tâm thế “nhìn xem phú quý tựa chiêm bao?”. Con người ấy đã chan hòa với thiên nhiên, từng coi gió mát trăng thanh là “cố trí”, là “tương thức”:

    “Trăng thanh gió mát là tương thức,

    Nước biếc non xanh ấy cố tri”.

    Với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì sống nhàn là coi phú quý danh lợi, có sống nhàn mới tận hưởng được mọi vẻ đẹp của thiên nhiên. Một chén rượu, một chén trà đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm là để sống đẹp hơn, an nhàn hơn, hạnh phúc hơn:

    “Hoa trúc tay tự giồng

    Gậy, dép bén mùa hoa

    Chén, cốc ánh sắc hồng

    Rửa nghiêng cá nuốt mực

    Pha trà, chinh lánh khỏi…”

    (Ngụ hứng ở quán Trung Tân)

    “Nhàn” là một bài thơ tuyệt tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ có ngôn ngữ bình dị, giọng điệu khoan thai, thể hiện một tâm thế thanh cao, coi thường danh lợi phú quý bon chen trong cuộc đời. Có sống trong sạch mới có tâm hồn thanh cao, mới có lối sống nhân tuyệt đẹp.

    Hình ảnh Tuyết Gia phu tử hiện lên thấp thoáng sau vần thơ đã làm cho ta kính phục và ngưỡng mộ kẻ sĩ quân tử thời loạn.

    Học bài “Nhàn” để chúng ta hiểu rõ hơn cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và trong thơ văn trung đại.

    Có điều ta nên biết, các bạn trẻ nên biết là Nguyễn Bỉnh Khiêm đi thi cả ba lần đều đỗ thủ khoa, đã đổ Trạng Nguyên. Cái tài học ấy, bảng vàng ấy không thể sống “Nhàn” mà có được!

    Cảm nhận về bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 3

    Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lí giáo huấn, ngợi ca chí khí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, đồng thời cũng phê phán những điều sống trong xã hội. Khi mất ông để lại tập thơ bằng tập viết thơ bằng chữ Hán là Bạch Vân am thi tập; tập thơ viết bằng chữ Nôm là Bạch Vân quốc ngữ thi và “Nhàn” là bài thơ tiêu biểu trong tập thơ Bạch Vân quốc âm thi tập, được viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật.

    Bài thơ ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhàn. Qua đó ta có thể thấy được vẻ đẹp chân chính của ông, nét mộc mạc của làng quê. ” Một mai một cuốc , một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào Ta dại , ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người dến chốn lao xao Thu ăn năng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao Rượu đến cội cay ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”

    Hai câu đề đã khắc họa dược như thế nào 1 cuộc sống nhàn rỗi ” Một mai , một cuốc, một cần câu Thơ thẫn dầu ai vui thú nào.” Ở câu thơ đầu câu thơ đã khắc họa hình ảnh 1 ông lão nông dân sống thảnh thơi .Bên cạnh đó tác giả còn dùng biện pháp điệp số từ ” một “thêm vào là 1 số công cụ quen thuộc của nhà nông nhằm khơi gợi trước mắt người đọc 1 cuộc sống rất tao nhãn và gần gũi nhưng không phải ai mún là có . Từ ” thơ thẩn” trong câu hai lại khắc họa dáng vẻ của 1 người đang ngồi ung dung chậm rãi và khoan thai .Đặt hình ảnh ấy vào cuộc đời của tác giả ta có thể thấy được lúc nhàn rỗi nhất của ông chính là lúc ông cáo ông về ở ẩn . Và từ ” vui thứ nào” cũng 1 lần nữa nói lên đề tài của bài thơ là về cảnh nhàn dẫu cho ai có ban chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn thư thái . Hai câu thơ đầu đã không chỉ giới thiệu được đề tài mà còn khắc họa tư thái ung dung nhàn hạ , tâm trang thoải mái nhẹ nhàng vui thú điền viên. “. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người dến chốn lao sao”

    Hai câu thực của bài thơ ý tác giả muốn nhắm đến cảnh nhàn và sử dụng các từ đối nhau như ” ta “_ ” người” ; ” dại” _ ” khôn” ; ” nơi vắng vẻ”_ ” chốn lao xao” từ 1 loạt những từ đối lập đó đã thể hiện được quan niệm sống của tác giả . Nhân vật trữ tình đã chủ động tìm đến nơi vắng vẻ đến với chốn thôn quê sống cuộc sống thanh nhàn mặc cho bao người tìm chốn “phồn hoa đô hội”. hai câu thơ đã đưa ra được hai lối sống độc lập hoàn toàn trái ngược nhau. Tác giả tự nhận mình là ” dại” vì đã theo đuổi cuộc sống thanh đạm thoát khỏi vòng danh lợi để giữ cho tâm hồn được thanh nhàn .Vậy lối sống của NBK có phải là lối sống xa đời và trốn tránh trách nhiệm ?”

    Điều đó tất nhiên là không vì hãy đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác chỉ có thể làm như vậy mới có thể giữ được cốt cách thanh cao của mình . Do NBK có hoài bảo muốn giúp vua làm cho trăm dân ấm no hạnh phúc nhưng triều đình lúc đó đang tranh giành quyền lực , nhân dân đói khổ tất cả các ước mơ hoài bảo của ông không được xét tới .

    Vậy nên NBK rời bỏ ” chốn lao xao ” là điều đáng trân trọng. ” . Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao.” Hai câu luận đã dùng biện pháp liệt kê những đồ ăn quanh năm có sẵn trong tự nhiên . Mùa nào thức ăn nấy , mùa thu thường có măng tre và măng trúc quanh nhà , mùa đông khi vạn vật khó đâm chồi thì có giá thay . Câu thơ ” xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” gợi cho ta cuộc sống sinh hoạt nơi dân dã .Qua đó ta có thể cảm nhận được tác giả đã sống rất thanh thản , hòa hợp với thiên nhiên tận hưởng mọi vẻ đẹp vốn có của đất trời mà không bon chen , tranh giành .

    Đặt bài thơ vào hoàn cảnh lúc bấy giờ thì lối sống của NBK thể hiện được vẻ đẹp của tâm hồn thanh cao đó là lối sống tích cực thể hiện rõ thái độ của Bạch Vân cư sĩ. “. Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.” Hai câu luận đã thể hiện dược cái nhìn của 1 nhà trí tuệ lớn , có tính triết lí sâu sắc , vận dụng ý tượng sáng tạo của điện tích Thuần Vu . Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm phú quí không phải là 1 giấc chiêm bao vì ông đã từng đỗ Trạng Nguyên , giữ nhiều chức vụ to lớn của triều đình nên cuộc sống phú quí vinh hoa ông đã từng đi qua nhưng ông đã không xem nó là mục đích sống của ông. Mà ông đã xem đó chỉ là 1 giấc chiêm bao không có thực và ông đã tìm đến với cuộc sống thanh thản để luôn giữ được cốt cách thanh cao của mình. Như vậy qua bài thơ ta đã hiểu được quan niệm sống nhàn và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm coi thường danh lợi , luôn giũ dược tâm hồn thanh cao hòa hợp với thiên nhiên , dề cao lối sống của những nhà nho giáo giàu lòng yêu nước nhưng do hoàn cảnh nên phải sống ẩn dật . Bên cạnh đó Nguyễn Bỉnh Khiêm còn sử dụng ngôn ngữ gần gũi mộc mạc nhưng giàu chất triết lí . Sử dụng khéo léo thể thơ thất ngôn đường luật , điện tích điện cố và cách phép đối thường gặp ở thể thơ Nôm 1 cách linh hoạt.

    Bài “Nhàn” là 1 bông hoa viết bằng chữ Nôm tuyệt đẹp của văn học trung đại Việt Nam. Quan niệm sống đề cao vẻ đẹp tâm hồn , lối sống trong sạch của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sưu Tầm Những Nhận Định Hay Về Các Tác Phẩm Thơ Lớp 12
  • 110 Nhận Định Hay Về Thơ Ca Cần Nhớ Để Trích Dẫn Vào Bài Làm Văn
  • Sưu Tầm Những Nhận Định Hay Về Văn Học
  • Đề Thi Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 10 Quảng Trị
  • Vẻ Đẹp Tâm Hồn Và Triết Lí Sống “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn
  • Thơ Trên Mạng Facebook Chế Hài Hước Vui Nhộn Hay Nhất
  • Tuyển Tập Những Bài Thơ Chế Facebook Hay Nhất
  • Cảm Nhận Bài Thơ Sang Thu Hay Nhất
  • Cảm Nhận Bài Thơ Sang Thu
  • Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ Nhàn

    Cảm nhận của em về bài thơ Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là người có học vấn uyên thâm. Ông là một nhà thơ lớn đã có những đóng góp rất nhiều cho nền văn học nước nhà. Khi ông mất đã để lại hai tập thơ nổi tiếng đó là: “Bạch Vân am thi tập” và “Bạch Vân Quốc ngữ thi”. Trong đó, bài thơ để lại ấn tượng nhất đó chính là bài thơ “Nhàn” được trích từ tập “Bạch Vân Quốc ngữ thi”. Bài thơ đã ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhàn đồng thời qua đó ta có thể thấy được triết lí sống và nhân cách tốt đẹp của nhà thơ.

    Ngay đầu bài thơ, tác giả giới thiệu cho người đọc về hoàn cảnh, cuộc sống của mình ở Bạch Vân Am.

    Một mai một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    “Mai” để đào đất, “cuốc” để xới đất, “cần câu” – đây đều là những vật dụng rất quen thuộc với đời sống nhà nông. Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn là một quan lớn triều Mạc, được phong tới tước Trình Quốc công, vậy mà bây giờ qua về cuộc sống dân dã, tự cung tự cấp. Bên cạnh đó tác giả còn dùng biện pháp điệp số từ “một” thêm vào những công cụ trên. Cách đếm rất rành rọt cho thấy tất cả mọi thứ đã được thi nhân chuẩn bị sẵn sàng chu đáo cho cuộc sống nông điền này. Đến với cuộc sống mới với sự ung dung, thanh thản. Đồng thời từ ” thơ thẩn” trong câu thơ thứ hai càng nhấn mạnh, khắc họa rõ nét hơn dáng vẻ, tư thế của 1 người đang ngồi ung dung chậm rãi và khoan thai. Đặt hình ảnh ấy vào cuộc đời của tác giả ta có thể thấy được lúc nhàn rỗi nhất của ông chính là lúc ông cáo ông về ở ẩn. Và từ ” vui thứ nào” cũng 1 lần nữa nói lên đề tài của bài thơ là về cảnh nhàn dẫu cho ai có bon chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn muốn chọn cho mình sống nhàn không màng lợi danh. Thức ăn cuộc sống hằng ngày của nhà thơ vô cùng đạm bạc, sinh hoạt dân dã theo mùa: “thu ăn măng trúc”, “đông ăn giá” Trước mắt người đọc hiện ra là một bức tranh tứ bình về cảnh sinh hoạt với 4 mùa xuân – hạ – thu – đông, có mùi vị, có hương sắc, có nước trong, có hương thơm thanh quý. Cuộc sống tuy đạm bạc, giàn dị nhưng lại vô cùng thanh cao. Cuộc sống này gợi cho ta nhớ cuộc sống của Nguyễn Trãi ở Côn Sơn qua bài thơ “Côn Sơn ca”. Có thể tóm tắt nội dung “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi bằng một chữ “nhàn”. Chữ ấy hơn một trăm năm sau lại trở thành một phương châm, một lẽ sống, một thi đề của một lớp nhà nho mà Nguyễn Bỉnh Khiêm là một đại diện tiêu biểu. Hai nhà thơ sống cách nhau gần hai thế kỉ nhưng lại có một hoàn cảnh, một quãng đời, một tấm lòng, một lẽ nhân sinh rất gần nhau.

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người dến chốn lao xao

    Tác giả tự nhận mình là người “dại” bởi đã tìm tới “nơi vắng vẻ” trái hẳn với mọi người thông thường thích tìm tới chỗ “lao xao”. Chỗ “lao xao” mà nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn nhắc tới ở đây chính là chốn quan trường, đường danh huyên náo. Nơi con người chen chúc xô đẩy, vì giành giật những lợi danh mà không từ thủ đoạn hãm hại lẫn nhau, nhiều nguy hiểm khôn lường. Tác giả tự nhận mình là “dại” nhưng thực chất đó chính là cách nói ngược với giọng nói mỉa mai. Ông tự nguyện làm người “dại”, mặc kệ những ai cho mình “khôn”. Họ cứ lao mình bất chấp hiểm nguy vì những thứ danh lợi phù phiếm còn riêng tác giả vừa tỉnh táo vừa thông tuệ. “Dại” ở đây lại hóa thành “khôn” còn “khôn” ở đây lại hóa thành “dại”. Cái khôn của người thanh cao là quay lưng lại với danh lợi, tìm sự thư thái cho tâm hồn, sống ung dung hòa nhập với thiên nhiên. Nhưng có nhiều người nghĩ lối sống của nhà thơ là lối sống xa đời và vô trách? Thật sự có phải như vậy không? Điều đó là không đúng. Nếu như đặt mình trong hoàn cảnh của Nguyễn Bỉnh Khiêm ta có thể hiểu được điều này. Do Nguyễn Bỉnh Khiêm có hoài bão muốn giúp vua làm cho trăm dân ấm no hạnh phúc nhưng triều đình lúc đó đang đấu đá tranh giành quyền lực không màng tới cuộc sống của dân chúng. Nhân dân đói khổ lầm than, cơ cực. Còn tất cả các ước mơ hoài bão của ông mong sẽ giúp dân không được xét tới.Vậy nên Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết rời bỏ ” chốn lao xao ” là điều đáng trân trọng, là việc làm rất đúng đắn.

    Hai câu thơ kết:

    Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

    Nhà thơ đã rất taì tình khi sử dụng điển tích, điển cố với giọng điệu thơ nhẹ nhàng nhưng lại vô cùng thâm thúy. Tác giả nhận thức được công danh, của cải, phú quý chỉ là giấc mộng phù phiếm. Tư tưởng này của ông đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng của Lão Trang, ở cái vô vi của nó. Ở trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cuộc đời ông thì quan niệm sống ấy là tích cực, là cách chống lại chế độ đương thời. Cảm nhận quy luật của cuộc đời một cách tỉnh táo, uyên thâm để chọn cho mình một lẽ sống nhàn.

    Bài thơ là những trải lòng của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm về chiêm nghiệm cuộc sống, về triết lí “nhàn” – triết lí sống tìm yên vui, lạc thú cho bản thân tránh những sự đấu tranh, giành giật danh lợi phù phiếm xa hoa. Bài thơ cho người đọc cảm nhận được một nhân cách đẹp, một trí tuệ thông tuệ khiến cho người khác phải ngưỡng mộ.

    Họa Tâm

    Từ khóa tìm kiếm:

    • cam nhan cua em ve bai tho nha cua nguyen binh khiem
    • cảm nhận bài thơ nhàn
    • cam nhan em ve bai tho nhan
    • suy cua em bai nhan
    • cảm nhận bài nhàn
    • Cảm nhận của ảnh chỉ về bài thơ nhàn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Của Phạm Tiến Duật
  • Nội Dung & Nghệ Thuật Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Với Những Câu Nói Hài Hước Trên Facebook Hay Nhất
  • Những Bài Viết Hay Về Mỹ Phẩm Giúp Bạn Bán Hàng Đắt Khách
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Nhà Thơ Nguyễn Đình Thi Và Những Bài Thơ Đi Cùng Năm Tháng
  • Top 10 Bài Văn Cảm Nhận Bài Thơ “nhàn”

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Hiểu Văn Bản: “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Nghệ Thuật Thiền Qua Bài Thơ Cảnh Nhàn Của Nhà Nho Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Ii Phần Làm Văn (7 Điểm) Phân Tích …
  • Bài Soạn Lớp 10: Nhàn
  • Chuyện Tình Của Lớp 9B
    • Facebook

    • Twitter

    • LinkedIn

    • Pinterest

    Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 1

    Có thể nói rằng với bài thơ Nhàn được sáng tác trong hoàn cảnh tác giả về quê ở ẩn. Chữ “nhàn” của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện được thái độ sống, một triết lí sống của tác giả được bộc lộ rõ ràng rất. Với bài thơ mang bốn triết lí sâu sắc gói gọn trong chữ “nhàn” lúc này đây dường như cũng đã được phân chia bố cục chặt chẽ. Mở đầu bài thơ tác giả viết một câu kể như sau:

    Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dàu ai vui thú nào

    Người đọc có thể thấy được ngay hai câu mở tạo ấn tượng đầu tiên với điệp ngữ “một” được lặp lại ba lần ở trong một dòng thơ mang tính chất liệt kê các sự vật quen thuộc đó chính là hình ảnh “mai”, “cuốc”, “cần câu” và đây chính là những vật dụng rất đỗi quen thuộc mang bóng dáng nhà nông cứ vô cùng chân chất vừa mang bóng dáng của một tao nhân mặc khách vậy. Không cần nói nhiều mà chỉ cần vậy thôi là chúng ta cũng hoàn toàn có thể cảm nhận được đây chính là cuộc sống nhàn nhã của nhân vật trữ tình. Khi được kết hợp với điệp ngữ sử dụng đó là từ “một” là từ láy “thơ thẩn” tất cả miêu tả được trạng thái của tác giả. Chính với dáng người ung dung thoải mái, thêm vào đó là một trạng thái tâm hồn thanh nhàn an nhiên không vướng bận chút bụi trần.

    Có thể nhận thấy được câu thơ như một lời thách thức của tác giả đối với người đời, và cho dù ai vui thú nào đi chăng nữa thì ta đây vẫn vui thú an nhàn, vui cuộc sống thôn quê nhất. Cũng chính từ những lời thách thức đó dường như cũng đã ại toát lên được phong thái thật thanh thản trong tâm hồn và thật vui thứ điền viên của một lão nông.

    Khi đọc đến với hai câu thực tiếp theo đã khái quát chân dung nhân vật trữ tình và triết lí “nhàn” của thi nhân đã thể hiện qua câu:

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao

    Không khó khi nhận thấy được sự đối lập giữa các nhân vật trong hai câu thơ thể hiện đó chính là “nơi vắng vẻ” và chốn quê thật thanh bình vô cùng ăn nhà và vô lo vô nghĩ. Thực sự đó chính là tâm hồn của con người luôn luôn hòa nhập cùng với thiên nhiên. Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì “Chốn lao xao” cũng được ám chỉ đến nơi quan trường với những vòng danh lợi, ghen ghét và sự đố kỵ nữa. Và phải chăng tác giả “dại” cho nên ông mới tìm nơi thôn quê, còn người đời “khôn” tìm đến chốn quan trường. Thế nhưng thực chất ngược lại, xét trong câu thơ, “dại” có nghĩa là khôn, và từ “khôn” có nghĩa là dại. Người đọc có thể nhận thấy được chính lối nói ngược mang ý nghĩa mỉa mai: người khôn mà chọn chốn lao xao đầy rẫy những tham lam, dục vọng, luôn luôn phải suy nghĩ đắn đo, và ta như cảm nhận thấy được như thế liệu có sung sướng? Người đọc có thể nhận thấy được chính với phép đối hai câu thơ thực mang nghĩ mỉa mai chế giễu lũ người kia chỉ biết lao đầu vào tham vọng, chính vào vòng danh lợi. Còn đối với tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm ông dường như cũng đã phủ nhận vòng danh lợi ấy bằng cách thể hiện quan điểm, khí chất thanh cao trong sạch. Bài thơ “Nhàn” ở đây chính là cuộc sống thanh cao, tránh xa vòng danh lợi.

    Không những tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng luôn luôn chọn cuộc sống thanh cao, tránh xa tham vọng, tác giả cũng lại còn hòa nhập với thiên nhiên. Khi đọc đến hai câu luận cũng đã gợi mở cho người đọc về một cuộc sống vô cùng bình dị của nhân vật trữ tình.

    Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

    Chắc chẳn ai ai cũng sẽ biết măng, tre, trúc, giá được xem chính là đồ ăn dân dã từ thiên nhiên rất dễ tìm thấy. Những món ăn này dường như cũng đã gắn liền với cuộc sống của nhà nghèo nơi thôn dã đậm đà vị quê. Người ta cũng thấy được đây là những món ăn quen thuộc trong đời sống. Còn với câu thơ:

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    Câu thơ như đã phác họa hình ảnh quen thuộc ở làng quê, lối sinh hoạt dân dã. Khi trở về với thiên nhiên trở về với làng xóm. Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm thực sự hòa mình với thôn quê thuần hậu, người đọc có thể nhận thấy được cuộc sống thanh đạm, một cuộc sống dường như cũng đã mang lại thú vui an nhàn, thảnh thơi mùa nào thức đấy. Thực sự đó là một cuộc sống được nhiều người ngưỡng mộ mà chẳng mấy ai có được. Người đọc có thể nhận thấy được với chính cảnh sinh hoạt đời thường ấy đã thể hiện sự đồng điệu nhịp bước của thiên nhiên, đồng thời là của con người. Chắc hẳn rằng hắn như phải sống hết mình, sống hòa hợp với thiên nhiên mới có sự đồng điều kì diệu như vậy.

    Người đọc có thể nhận thấy được cũng chính từ những thứ sinh hoạt đời thường ở những câu thơ trên thì đến với hai câu kết, tác giả đúc kết tinh thần, triết lí sống cao đẹp nhất qua hai câu thơ:

    Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

    Tác giả có sử dụng điển tích “cội cây” như mang được ngụ ý muốn nói rằng phú quý công danh là thứ phù phiếm và đồng thời cũng chỉ là áng phù vân trôi nổi có rồi lại mất nhử một giấc mơ mà thôi. Và thông qua đây ta có thể nhận thấy đây cũng chính là một thái độ rất đáng trọng bởi Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống trong thời đại mà chế độ phong kiến bắt đầu khủng hoảng. Trong xã hội đó khi nền tảng đạo đức nho giáo bị phá vỡ, rạn nứt và thực sự đó là thời đại mà con người lấy tiền làm thước đo cho mọi giá trị khác.

    Tóm lại bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa triết lí và trữ tình thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân cách ẩn sĩ Nguyễn bỉnh Khiêm. Đồng thời tác phẩm cũng chính là một tâm hồn yêu thiên nhiên, hòa mình cùng thiên nhiên, tác giả như phủ nhận danh lợi. Bài thơ “Nhàn” cũng mang một triết lí sống đẹp đẽ đáng nể, làm gương cho bao thế hệ mai sau nữa.

    Cảm nhận bài thơ Nhàn

    Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 2

    Nền văn học trung đại đồ sộ đã mang đến cho chúng ta nhiều áng thơ hay, mang giá trị lớn lao. Trong số đó, không thể không nhắc đến bài thơ “Nhàn” của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ đề cao triết lí sống thanh cao của những vị danh nhơ đương thời:

    “Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn, người đến chỗ lao xao

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp

    Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao”

    Câu thơ đầu mở ra những hình ảnh quen thuộc: “mai, cuốc, cần câu” đều là những công cụ gắn liền với thôn dã, làm hiện lên nhân vật trữ tình với tư thế của một lão nông biết đến ruộng vườn, nhất định không phải tư thế đạo mạo của một bậc đại nho. Câu thơ ngắt nhịp thoải mái, sử dụng lặp lại từ “một” khiến lời thơ vang lên như một tiếng sấm rạch ròi, chứng tỏ nhà thơ đón lấy cuộc sống hết sức vui sướng, niềm vui vì được làm điều mình thích.  “Thơ thẩn” là trạng thái ung dung, nhàn nhã, thoải mái, tác giả cảm thấy tự tin vì sự lựa chọn của mình. “Ai” là đại từ phiếm chỉ, khẳng định người khác có thú vui riêng và tác giả cũng vậy. Hai câu đầu khẳng định nhàn không phải là lánh đời mà là sự lựa chọn cho mình có một không gian sống mà mình thấy thích thú, tự do tự tại

    Hai câu đầu là lối sống tự do tự tại, hòa mình vào cuộc sống chung thì hai câu sau là sự lí giải sâu sắc về sự lựa chọn ấy:

    Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao

    “Ta” là nhà thơ, “người” là ai, chắc chắn không phải là thiên hạ mà là những kẻ ham công danh lợi lộc. Hai câu thơ có thể hiểu nơi vắng vẻ không phải là nơi lánh đời mà là nơi bản thân mình cảm thấy thích thú, sống thoải mái khác hẳn với chốn quan trường. Chốn thiên nhiên nơi đây là nơi thích hợp nhất để Nguyễn Bỉnh Khiêm tránh xa thói đời ô tạp, để giữ cho tâm hồn mình luôn trong sáng và thanh sạch hơn. Bẳng cách nói ngược “dại” mà thực chất là “khôn”, còn “khôn” nhưng thực chất lại là “dại”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sáng suốt lựa chọn lối sống đối lập với bao người, thoái khỏi chốn lợi danh, ganh đua để sống an nhiên và tự tại. Cách nói nhún nhường, khiêm tốn của bậc đại nho là lối ứng xửa minh triết của một bậc chân nho:

    “Dụng chi tắc hành

    Xa chi tắc tàng”

    (Dùng thì sẽ ắt nên công,

    Nếu mà từ khước, hư không chẳng còn)

    Nhàn là trở về với cuộc sống tự nhiên, thoát khỏi vòng ganh đua lợi lộc, thói tục, không bị vướng vào tiền tài, địa vị và giữ cho tâm hồn mình luôn khoáng đạt bởi:

    “Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”

    Mùa nào thì gắn với sự vật ấy, đều có sẵn trong tự nhiên không phải vất vả kiếm tìm. Đây là hình ảnh của cuộc sống tự cung tự cấp nhưng vẫn hết sức đủ đầy và vui vẻ. Phải chăng tác giả đã đan xen vào đó triết lí vô vi của đạo giáo : Không làm gì can thiệp vào quy luật của tự nhiên mà để chúng tự phát triển, đề nghị con người có lối sống thuần theo tự nhiên hay sao? Thức ăn có sẵn trong tự nhiên tuy đạm bạc nhưng không phải là món ăn khoái khẩu, nhưng lại là cái nhàn thanh cao chứ không phải cái nhàn tục của hạng người phú quý, biếng nhác. Vì vậy câu thơ nghe nhẹ bẫng mà thanh thản, lâng lâng một niềm vui, cái nhẹ tênh của một cuộc sống không cần gắng gượng.

    Tuy nhiên đến với cuộc sống nhàn phần nào cũng bởi đời ô trọc mà thôi. Có vẻ nhà thơ nhàn mà chưa thực sự nhàn, vẫn nhắc đến chuyện công danh:

    “Rượu đến cội cây ta vẫn uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

    Hai câu thơ sử dụng điển Thuần Phong Vũ, thể hiện một cái nhìn bi quan về công danh khi thấy chúng chỉ tựa như một giấc chiêm bao, là áng phù vân, không có giá trị đích thực, không có ý nghĩa. Bởi vậy từ đó thi gia muốn nói con người coi thường phú quý, đứng cao hơn phú quý và không làm nô lệ cho nó. Với cái nhìn như thế, tác giả đã hoàn toàn quay lưng vào công danh, lấy nhàn làm chân lí sống. Vần thơ của cụ Nguyễn có sức cảnh tình với con người cần phải sáng suốt trước lợi lộc trước mắt.

    Tóm lại, “Nhàn” đề cao một nhân cách sống, một lối sống thanh cao, tránh xa lợi lộc tầm thường, hướng đến lối sống thiện tâm. Tuy nhiên, đặt trong hoàn cảnh thời đại mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đang sống, đó không phải là một giải pháp tốt để có thể cải tạo và thay đổi xã hội.

    Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 3

    Trong văn học trung đại, có nhiều bài thơ hay và ý nghĩa của các thi sĩ đương thời. Trong đó bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những bài thơ tiêu biểu, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân cách của tác giả, tôn cao triết lí sống.

    Bài thơ Nhàn được sáng tác trong hoàn cảnh tác giả về quê ở ẩn. Chữ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề tâm thường như trong câu “nhàn cư vi bất thiện” mà là thái động sống, một triết lí sống của tác giả được bộc lộ rõ ràng. Bài thơ mang bốn triết lí sâu sắc gói gọn trong chữ “nhàn” được phân chia bố cục chặt chẽ. Mở đầu bài thơ tác giả viết:

    Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    Hai câu mở tạo ấn tượng đầu tiên với điệp ngữ “một” được lặp lại ba lần trong một dòng thơ mang tính chất liệt kê các sự vật quen thuộc: “mai”, “cuốc”, “cần câu” những vật dụng rất đỗi quen thuộc mang bóng dáng nhà nông chân chất vừa mang bóng dáng của một tao nhân mặc khách. Chỉ cần vậy thôi, ta đã cảm nhận được đây là một cuộc sống thư thái an nhàn của nhân vật trữ tình. Kết hợp với điệp ngữ “một” là từ láy “thơ thẩn” miêu tả được tráng thái của tác giả. Với dáng người ung dung, thoải mái, trạng thái tâm hồn thanh nhàn an nhiên không vướng bận chút bụi trần. Câu thơ như một lời thách thức của tác giả đối với người đời, mặc dù ai vui thú nào, ta đây vẫn vui thú an nhàn, vui cuộc sống thôn quê. Từ lời thách thức ấy toát lên sự ung dung trong phong thái, thanh thản trong tâm hồn, vui thu điền viên.

    Đến với hai câu thực tiếp theo đã khái quát chân dung nhân vật trữ tình và triết lí “nhàn” của thi nhân:

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao

    Ở đây ta thấy rõ được sự đối lập giữa các sự vật trong hai câu thơ “nơi vắng vẻ” là chốn thôn quê thanh bình, an nhàn vô âu vô lo, ở đó tâm hồn con người hòa nhập với thiên nhiên, còn “chốn lao xao” là nơi quan trường với những đua tranh ghen ghét của danh lợi, ồn áo phiền não. Phải chăng tác giả “dại” nên tìm nơi thôn quê, còn người đời “khôn” tìm đến chốn quan trường, nhưng thật chất ngược lại, xét trong câu thơ, “dại” có nghĩa là khôn, “khôn” có nghĩa là dại. Lối nói ngược mang ý nghĩa mỉa mai: người khôn mà chọn chốn lao xao đầy rẫy những tham lam, dục vọng, luôn phải suy nghĩ đắn đo, và như thế liệu có sung sướng? Phép đối hai câu thơ thực mang nghĩ mỉa mai chế giễu lũ người kia chỉ biết lao đầu vào tham vọng, vào vòng danh lợi. còn tác giả, ông phủ nhận vòng danh lợi ấy bằng cách thể hiện quan điểm, khí chất thanh cao trong sạch. “Nhàn” ở đây chính là cuộc sống thanh cao, tránh xa vòng danh lợi.

    Không những tác giả chọn cuộc sống thanh cao, tránh xa tham vọng, tác giả còn hết mình hòa nhập với thiên nhiên, Đến với hai câu luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn của nhân vật trữ tình:

    Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

    Ai cũng biết măng, tre, trúc, giá là đồ ăn dân dã từ thiên nhiên rất dễ tìm thấy, gắn liền với cuộc sống của nhà nghèo nơi thôn dã đậm đà vị quê. Những thức ăn ấy trở nên quen thuộc mỗi ngày trong đời sống sinh hoạt, thu ăn măng trúc trên rừng, mùa đông về ăn giá. Đặc biệt câu thơ: “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” đã phác họa hình ảnh quen thuộc ở làng quê, lối sinh hoạt dân dã. Khi trở về với thiên nhiên, với làng xóm, Nguyễn Bỉnh Khiêm thực sự hòa mình với thôn quê thuần hậu. Cuộc sống thanh đạm, mang lại thú vui an nhàn, thảnh thơi mùa nào thức đấy, đó là một cuộc sống được nhiều người ngưỡng mộ mà chẳng mấy ai có được. chính cảnh sinh hoạt đời thường ấy đã thể hiện sự đồng điệu nhịp bước của thiên nhiên và của con người. Hẳn phải sống hết mình, sống hòa hợp với thiên nhiên mới có sự đồng điều kì diệu như vậy.

    Từ những thứ sinh hoạt đời thường ở những câu thơ trên thì đến với hai câu kết, tác giả đúc kết tinh thần, triết lí sống cao đẹp:

    Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

    Trong câu thơ, tác giả có sử dụng điển tích “cội cây” ý muốn nói rằng phú quý công danh là thứ phù phiếm ,chỉ là áng phù vân trôi nổi có rồi lại mất nhử một giấc mơ mà thôi. Đó là một thái độ rất đáng trọng bởi Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trong thời đại mà chế độ phong kiến bắt đầu khủng hoảng, nền tảng đạo đức nho giáo bị phá vỡ, rạn nứt, đó là thời đại mà con người lấy tiền làm thước đo cho mọi giá trị khác. Vậy, “nhàn” ở đây là coi thường vinh hoa phú quý. Và ta hiểu rằng “nhàn” ở đây là một triết lí sống chứ không phải quan niệm nhân sinh, không phải là cứu cánh mà chỉ là một phương thức tư duy. Bản chất chữ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải nhân tâm mà là nhân thân. Nhân mà vẫn phải âu lo việc nước. Nhàn là tìm kiếm sự thanh thản trong tâm hồn chứ không phải là lười nhác, suy cho cùng cũng là giữ gìn danh tiếng của mình, giữ tròn thanh giá của mình trong thời loạn, là lạc đạo vọng bần giữ những phần tử gian xảo tranh đua danh lợi. Nhàn là không để dục vọng xấu xa làm mờ ám lương tâm, làm vẩn đục tâm hồn, không tham dự vào vòng danh lợi, còn lòng ái quốc sẽ không bao giờ nguội lạnh.

    Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa triết lí và trữ tình thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân cách ẩn sĩ Nguyễn bỉnh Khiêm, là một tâm hồn yêu thiên nhiên, hòa mình cùng thiên nhiên, phủ nhận danh lợi. Bài thơ mang một triết lí sống đẹp đẽ đáng nể, làm gương cho bao thế hệ mai sau.

    Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 4

    Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam: Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân, vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho. Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi.

    Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hường nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong quy luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy.

    Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị.

    “Một mai, một cuốc, một cần câu,

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

    Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quý của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khá, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ được phác họa trong câu thơ độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc, cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đằng sau những liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền.

    Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh.

    “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

    Người khôn người đến chốn lao xao”

    Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai, những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực: một bên là nhà thơ xưng ta một cách ngạo nghề, một bên là người, một bên là dại của ta, một bên là khôn của người, một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao. Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống của Nguyễn Bĩnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dạng ích kỉ làm tầm thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất Nguyên thuở xưa “Người đời tỉnh cả, một minh ta say” đầy u uất, Trạng Trình đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử không bận tâm những trò khôn – dại. Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản:

    “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

    Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hòa hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư. Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát nét gần gũi với triết lí “vô vi” của đạo Lão. “Thoát tục” của đạo Phật. Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hòa hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình. Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hòa hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang Phu Tử đang sống đúng với thiên lương của mình. Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định:

    “Rượu đến cội cây, ta sẽ uống,

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

    Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gần với đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình:

    “Ơ thể mới hay người bạc ác,

    Giàu thì tìm đến, khó thì lui”

    (Thói đời)

    Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ ‘‘Tăng thử” (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhàn cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân.

    Bài thơ “Nhàn” bao quát toàn bộ triết lí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vong thối nát. Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính.

    Cảm nhận bài thơ Nhàn

    Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 5

    Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lí giáo huấn, ngợi ca chí khí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, đồng thời cũng phê phán những điều sống trong xã hội. Khi mất ông để lại tập thơ bằng tập viết thơ bằng chữ Hán là Bạch Vân am thi tập; tập thơ viết bằng chữ Nôm là Bạch Vân quốc ngữ thi và “Nhàn” là bài thơ tiêu biểu trong tập thơ Bạch Vân quốc âm thi tập, được viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật.

    Bài thơ ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhàn. Qua đó ta có thể thấy được vẻ đẹp chân chính của ông, nét mộc mạc của làng quê. “ Một mai một cuốc , một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào Ta dại , ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người dến chốn lao xao Thu ăn năng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao Rượu đến cội cay ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”

    Hai câu đề đã khắc họa dược như thế nào 1 cuộc sống nhàn rỗi “ Một mai , một cuốc, một cần câu Thơ thẫn dầu ai vui thú nào.” Ở câu thơ đầu câu thơ đã khắc họa hình ảnh 1 ông lão nông dân sống thảnh thơi .Bên cạnh đó tác giả còn dùng biện pháp điệp số từ “ một “thêm vào là 1 số công cụ quen thuộc của nhà nông nhằm khơi gợi trước mắt người đọc 1 cuộc sống rất tao nhãn và gần gũi nhưng không phải ai mún là có . Từ “ thơ thẩn” trong câu hai lại khắc họa dáng vẻ của 1 người đang ngồi ung dung chậm rãi và khoan thai .Đặt hình ảnh ấy vào cuộc đời của tác giả ta có thể thấy được lúc nhàn rỗi nhất của ông chính là lúc ông cáo ông về ở ẩn . Và từ “ vui thứ nào” cũng 1 lần nữa nói lên đề tài của bài thơ là về cảnh nhàn dẫu cho ai có ban chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn thư thái . Hai câu thơ đầu đã không chỉ giới thiệu được đề tài mà còn khắc họa tư thái ung dung nhàn hạ , tâm trang thoải mái nhẹ nhàng vui thú điền viên. “. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người dến chốn lao sao”

    Hai câu thực của bài thơ ý tác giả muốn nhắm đến cảnh nhàn và sử dụng các từ đối nhau như “ ta “_ “ người” ; “ dại” _ “ khôn” ; “ nơi vắng vẻ”_ “ chốn lao xao” từ 1 loạt những từ đối lập đó đã thể hiện được quan niệm sống của tác giả . Nhân vật trữ tình đã chủ động tìm đến nơi vắng vẻ đến với chốn thôn quê sống cuộc sống thanh nhàn mặc cho bao người tìm chốn “phồn hoa đô hội”. hai câu thơ đã đưa ra được hai lối sống độc lập hoàn toàn trái ngược nhau. Tác giả tự nhận mình là “ dại” vì đã theo đuổi cuộc sống thanh đạm thoát khỏi vòng danh lợi để giữ cho tâm hồn được thanh nhàn .Vậy lối sống của NBK có phải là lối sống xa đời và trốn tránh trách nhiệm ?”

    Điều đó tất nhiên là không vì hãy đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác chỉ có thể làm như vậy mới có thể giữ được cốt cách thanh cao của mình . Do NBK có hoài bảo muốn giúp vua làm cho trăm dân ấm no hạnh phúc nhưng triều đình lúc đó đang tranh giành quyền lực , nhân dân đói khổ tất cả các ước mơ hoài bảo của ông không được xét tới .

    Vậy nên NBK rời bỏ “ chốn lao xao “ là điều đáng trân trọng. “Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao.” Hai câu luận đã dùng biện pháp liệt kê những đồ ăn quanh năm có sẵn trong tự nhiên . Mùa nào thức ăn nấy , mùa thu thường có măng tre và măng trúc quanh nhà , mùa đông khi vạn vật khó đâm chồi thì có giá thay . Câu thơ “ xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” gợi cho ta cuộc sống sinh hoạt nơi dân dã .Qua đó ta có thể cảm nhận được tác giả đã sống rất thanh thản , hòa hợp với thiên nhiên tận hưởng mọi vẻ đẹp vốn có của đất trời mà không bon chen , tranh giành .

    Đặt bài thơ vào hoàn cảnh lúc bấy giờ thì lối sống của NBK thể hiện được vẻ đẹp của tâm hồn thanh cao đó là lối sống tích cực thể hiện rõ thái độ của Bạch Vân cư sĩ. “. Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.” Hai câu luận đã thể hiện dược cái nhìn của 1 nhà trí tuệ lớn , có tính triết lí sâu sắc , vận dụng ý tượng sáng tạo của điện tích Thuần Vu . Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm phú quí không phải là 1 giấc chiêm bao vì ông đã từng đỗ Trạng Nguyên , giữ nhiều chức vụ to lớn của triều đình nên cuộc sống phú quí vinh hoa ông đã từng đi qua nhưng ông đã không xem nó là mục đích sống của ông. Mà ông đã xem đó chỉ là 1 giấc chiêm bao không có thực và ông đã tìm đến với cuộc sống thanh thản để luôn giữ được cốt cách thanh cao của mình. Như vậy qua bài thơ ta đã hiểu được quan niệm sống nhàn và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm coi thường danh lợi , luôn giũ dược tâm hồn thanh cao hòa hợp với thiên nhiên , dề cao lối sống của những nhà nho giáo giàu lòng yêu nước nhưng do hoàn cảnh nên phải sống ẩn dật . Bên cạnh đó Nguyễn Bỉnh Khiêm còn sử dụng ngôn ngữ gần gũi mộc mạc nhưng giàu chất triết lí . Sử dụng khéo léo thể thơ thất ngôn đường luật , điện tích điện cố và cách phép đối thường gặp ở thể thơ Nôm 1 cách linh hoạt.

    Bài “Nhàn” là 1 bông hoa viết bằng chữ Nôm tuyệt đẹp của văn học trung đại Việt Nam. Quan niệm sống đề cao vẻ đẹp tâm hồn , lối sống trong sạch của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay

    Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 6

    Trước thế cuộc đảo điên, không ít người tài ba rời bỏ chốn quan trường lui về ở ẩn, một trong số đó phải kể đến Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không chỉ là một người tài hoa kiệt xuất với những tác phẩm để đời, những lời sấm truyền nổi danh mà còn là người có nhân cách cao thượng. Cũng bởi thế bài thơ “Nhàn” được ông sáng tác khi lui về ẩn cư đã để lại triết lý sâu xa về cuộc đời con người.

    Từ “Nhàn” đặt cho tiêu đề bài thơ không phải là sự rảnh rỗi, vô công rỗi nghề mà là cái nhàn của tâm thức, của con người lánh xa thế sự hỗn loạn, cái nhàn của người nhìn đời bằng cái nhìn thấu đáo. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm có viết

    Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    Trước hết, tác giả sử dụng điệp từ “một” với nghệ thuật liệt kê các sự vật “mai, cuốc, cần câu.” Đó là những vật dụng quen thuộc gắn với cuộc sống người nhà nông bình dị. Tuy rằng đó là những sự vật gợi nhắc đến công việc nặng nhưng qua ý thơ của thi nhân, nó như trở thành những món đồ để phục vụ cuộc sống bình đạm thường ngày. Cuộc sống của người thi nhân nơi thôn dã như trừ bỏ những thứ ồn ào, phiền loạn của thế giới xung quanh, yên bình với việc cày cấy, câu cá để tận hưởng sự an nhàn của tâm thức. Từ láy “thơ thẩn” xuất hiện đầu câu thứ hai như thả ý thơ vào trạng thái ung dung, tự tại, thoải mái và êm ái của cuộc sống. Khung cảnh yên bình nơi xóm núi hiện ra với sự vật, con người ở đó như một bức tranh cổ phong đẹp đẽ, thoáng đãng và phóng khoáng. Con người nơi ấy “thơ thẩn”, thơ thẩn trước thời cuộc, biến động và yên tâm với thú vui nhàn tản nơi thôn quê. “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”, câu thơ toát lên một sự thanh tao không nhuốm ý niệm của trần thế. Đó cũng là nghệ thuật đối lập đầy độc đáo được sử dụng, trong này người “thơ thẩn” ung dung mặc kệ cuộc sống ngoài kia phù phiếm, xa hoa, chìm đắm trong những hoan vui tầm thường, xa xỉ. Hai câu đề mở ra khung cảnh điền viên ấm cúng, con người nổi bật với thế giới ung dung, lạc quan và thanh thản nơi tâm hồn.

    Tiếp đó, hai câu thực khái quát rõ nét triết lý nhân sinh của thi nhân về cuộc đời về con người

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao

    Nghệ thuật tiểu đối, đối từ, đối ý, đối câu đã được thi nhân sử dụng tinh tế chỉ trong hai câu thơ “dại – khôn”, “vắng vẻ – lao xao”. Người với ta, hai đại từ xuất hiện ở hai câu thơ phân biệt đã là sự đối lập rõ ràng về tư tưởng. Người với ta khác biệt, cũng như quan niệm sống của hai phía không thể tương đồng. Nơi ta tìm tới là “nơi vắng vẻ” với thú vui điền viên, cuộc sống nhàn tản không tranh đoạt, nơi con người với thiên nhiên hòa cùng một nhịp. Còn nơi người đến là “chốn lao xao”, chốn quan trường tranh đua, cướp giật, của những danh lợi ghen ghét hãm hại lẫn nhau. Lối nói ngược của tác giả đã làm nên tiếng cười của sự châm biếm, mỉa mai, dại mà hóa khôn mà khôn lại thành dại. Khôn đâu mà tìm đến phiền não, khổ sở, suốt ngày đắm chìm trong những toan tính thiệt hơn để rồi nhúng bản thân vào những thói hư tật xấu, tham lam dục vọng không kể xiết, không biết đâu là đủ. Dại gì mà có thể an nhiên tự tại, không cần phiền não, không tính thiệt hơn, gột sạch được bản thân, đắm chìm với thiên nhiên không chút bùn nhơ thế tục. Hai câu thơ nhẹ nhàng mà thấm thía, như sự cảnh tỉnh con người trước những dục vọng của bản thân và lôi cuốn của cuộc đời. Đó còn là sự khẳng định cách sống thanh cao, xa lìa cám dỗ của danh lợi chốn quan trường, là triết lý sống nhàn thực sự mà thi nhân muốn gửi gắm.

    Triết lý ấy xuất phát từ sự giác ngộ về cuộc đời, tác giả còn muốn hướng đến cuộc sống hòa nhập với thiên nhiên sống thuận theo trời đất qua hai câu luận

    Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao.

    Nhắc tới “măng trúc, giá, sen, ao” người ta sẽ liên tưởng đến cuộc sống nơi thôn quê bình dị êm đềm. Những vật có sẵn, những hình ảnh đã ăn sâu vào cuộc đời của người nông thôn trở nên quen thuộc, là biểu trưng cho một cuộc sống thanh bình của con người. Xuân, hạ, thu, đông bốn mùa luân chuyển, mùa nào thức nấy. Mùa thu ăn măng trúc, mùa đông ăn giá. Cuộc sống “nhàn” yên bình nhẹ nhàng là thuận theo tự nhiên, không đòi hỏi về thức ăn, chốn ở, sinh hoạt hàng ngày. Dù tắm hồ sen hay tắm ao, sự thanh bạch của lòng người cũng không vì thế mà biến mất. Việc hòa nhập với thiên nhiên không chỉ hoàn thiện sự an nhàn trong cuộc sống mà con trong tư tưởng, không mong cầu, vu lợi, không đòi hỏi, sân si. Ý thơ nổi bật sự đồng điệu về tâm thức của con người với thiên nhiên. Bốn mùa tươi đẹp với những thức ăn bình dị là cuộc sống chan hòa với trời đất của con người. Hiếm ai có thể bỏ qua cám dỗ của kinh thành lui về ở ẩn như Nguyễn Bỉnh Khiêm, cũng vì thế mà cuộc sống “nhàn” không phải là thứ ai cũng dễ dàng làm được. Điều đó đã khẳng định nhân cách tuyệt vời của con người đang hướng tới một triết lý sống thanh cao, tự tại.

    Rượi đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

    Mượn điển tích về giấc mộng Nam Kha, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khẳng định một triết lý sâu xa về cuộc đời con người. Vạn vật phù phiếm, của cải, vật chất, công danh, quyền quý đều chỉ như một giấc mộng hoàng lương, đẹp đẽ đến mấy, rực rỡ đến mấy có được rồi cũng có lúc chúng phải suy tàn. Cũng như cuộc đời con người khi khi chết rồi không mang được thứ gì theo hết. Trải qua cả cuộc đời, cảm nhận được những được mất mà quan trường, phồn hoa đem lại, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới có thể có một cái nhìn đầy khách quan về cuộc đời như vậy. Mấy ai thoát được cám dỗ của thế gian mà thấu rõ lẽ đời, giữ được sự thanh khiết thuần túy của mình. Tìm đến cái say để có thể tỉnh lại, đó không chỉ là cái tài của thi nhân mà còn là nghệ thuật đặc sắc khi kết lại bài thơ. Những chiêm nghiệm trong cuộc đời muốn có được phải trải qua rồi ngộ ra, triết lý sống “nhàn” không phải là trốn tránh thế sự mà là sự mong mỏi tìm được lối thoát đúng đắn, sự “nhàn” thật sự trong tâm tưởng của con người.

    Cả bài thơ toát lên một vẻ đẹp hoàn mỹ trong thế giới của tao nhân mặc khách, triết lý nhân sinh hướng tới việc thoát khỏi vòng luẩn quẩn trong cám dỗ cuộc đời. Tác giả đã vô cùng thành công trong việc sử dụng nghệ thuật đối lập, ngôn từ giản dị nhưng không kém phần tinh tế, nhịp thơ linh hoạt, điển tích điển cố… đã làm nên cái riêng rất hoàn mỹ của bài thơ.

    Bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mang theo tư tưởng cá nhân và thế giới quan đầy mới lạ trong hàng loạt những tác phẩm thi ca trung đại hướng đến lòng yêu nước, trung thành… Đó là một hơi thở mới về triết lý sống thanh tao, giản dị trước thời cuộc hỗn loạn, đảo điên. Khép lại bài thơ, dư âm của nó vẫn âm vang đến muôn đời về quan niệm của một bậc đại trí, vinh hoa làm nhiễm bẩn nhân cách chỉ là phù du, phải biết tìm lấy hướng đi đúng giữ lại sự trong sạch cho chính mình.

    Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 7

    Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lí giáo huấn, ngợi ca chí khí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, đồng thời cũng phê phán những điều sống trong xã hội. Khi mất ông để lại tập thơ bằng tập viết thơ bằng chữ Hán là Bạch Vân am thi tập; tập thơ viết bằng chữ Nôm là Bạch Vân quốc ngữ thi và “Nhàn” làbài thơ tiêu biểu trong tập thơ Bạch Vân quốc âm thi tập, được viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật. Bài thơ ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhàn. Qua đó ta có thể thấy được vẻ đẹp chân chính của ông, nét mộc mạc của làng quê.

    Một mai một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    Ta dại , ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người dến chốn lao xao

    Thu ăn năng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

    Rượu đến cội cay ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

    Hai câu đề đã khắc họa dược như thế nào 1 cuộc sống nhàn rỗi

    Một mai , một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào…..”

    Ở câu thơ đầu câu thơ đã khắc họa hình ảnh 1 ông lão nông dân sống thảnh thơi. Bên cạnh đó tác giả còn dùng biện pháp điệp số từ “ một “thêm vào là 1 số công cụ quen thuộc của nhà nông nhằm khơi gợi trước mắt người đọc 1 cuộc sống rất tao nhãn và gần gũi nhưng không phải ai mún là có . Từ “ thơ thẩn” trong câu hai lại khắc họa dáng vẻ của 1 người đang ngồi ung dung chậm rãi và khoan thai .Đặt hình ảnh ấy vào cuộc đời của tác giả ta có thể thấy được lúc nhàn rỗi nhất của ông chính là lúc ông cáo ông về ở ẩn . Và từ “ vui thứ nào” cũng 1 lần nữa nói lên đề tài của bài thơ là về cảnh nhàn dẫu cho ai có ban chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn thư thái . Hai câu thơ đầu đã không chỉ giới thiệu được đề tài mà còn khắc họa tư thái ung dung nhàn hạ , tâm trang thoải mái nhẹ nhàng vui thú điền viên.

    “….. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người dến chốn lao sao……”

    Hai câu thực của bài thơ ý tác giả muốn nhắm đến cảnh nhàn và sử dụng các từ đối nhau như “ ta “_ “ người” ; “ dại” _ “ khôn” ; “ nơi vắng vẻ”_ “ chốn lao xao” từ 1 loạt những từ đối lập đó đã thể hiện được quan niệm sống của tác giả . Nhân vật trữ tình đã chủ động tìm đến nơi vắng vẻ đến với chốn thôn quê sống cuộc sống thanh nhàn mặc cho bao người tìm chốn “phồn hoa đô hội”. hai câu thơ đã đưa ra được hai lối sống độc lập hoàn toàn trái ngược nhau. Tác giả tự nhận mình là “ dại” vì đã theo đuổi cuộc sống thanh đạm thoát khỏi vòng danh lợi để giữ cho tâm hồn được thanh nhàn .Vậy lối sống của NBK có phải là lối sống xa đời và trốn tránh trách nhiệm ?” Điều đó tất nhiên là không vì hãy đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác chỉ có thể làm như vậy mới có thể giữ được cốt cách thanh cao của mình . Do NBK có hoài bảo muốn giúp vua làm cho trăm dân ấm no hạnh phúc nhưng triều đình lúc đó đang tranh giành quyền lực , nhân dân đói khổ tất cả các ước mơ hoài bảo của ông không được xét tới .Vậy nên NBK rời bỏ “ chốn lao xao “ là điều đáng trân trọng.

    “ ….. Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao………”

    Hai câu luận đã dùng biện pháp liệt kê những đồ ăn quanh năm có sẵn trong tự nhiên . Mùa nào thức ăn nấy , mùa thu thường có măng tre và măng trúc quanh nhà, mùa đông khi vạn vật khó đâm chồi thì có giá thay . Câu thơ “ xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” gợi cho ta cuộc sống sinh hoạt nơi dân dã .Qua đó ta có thể cảm nhận được tác giả đã sống rất thanh thản , hòa hợp với thiên nhiên tận hưởng mọi vẻ đẹp vốn có của đất trời mà không bon chen , tranh giành .Đăt bài thơ vào hoàn cảnh lúc bấy giờ thì lối sống của NBK thể hiện được vẻ đẹp của tâm hồn thanh cao đó là lối sống tích cực thể hiện rõ thái độ của Bạch Vân cư sĩ.

    “……. Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”

    Hai câu luận đã thể hiện dược cái nhìn của 1 nhà trí tuệ lớn , có tính triết lí sâu sắc , vận dụng ý tượng sáng tạo của điện tích Thuần Vu . Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm phú quí không phải là 1 giấc chiêm bao vì ông đã từng đỗ Trạng Nguyên , giữ nhiều chức vụ to lớn của triều đình nên cuộc sống phú quí vinh hoa ông đã từng đi qua nhưng ông đã không xem nó là mục đích sống của ông. Mà ông đã xem đó chỉ là 1 giấc chiêm bao không có thực và ông đã tìm đến với cuộc sống thanh thản để luôn giữ được cốt cách thanh cao của mình.

    Như vậy qua bài thơ ta đã hiểu được quan niệm sống nhàn và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm coi thường danh lợi , luôn giũ dược tâm hồn thanh cao hòa hợp với thiên nhiên , dề cao lối sống của những nhà nho giáo giàu lòng yêu nước nhưng do hoàn cảnh nên phải sống ẩn dật . Bên cạnh đó Nguyễn Bỉnh Khiêm còn sử dụng ngôn ngữ gần gũi mộc mạc nhưng giàu chất triết lí . Sử dụng khéo léo thể thơ thất ngôn đường luật , điện tích điện cố và cách phép đối thường gặp ở thể thơ Nôm 1 cách linh hoạt.

    Bài “Nhàn” là 1 bông hoa viết bằng chữ Nôm tuyệt đẹp của văn học trung đại Việt Nam. Quan niệm sống đề cao vẻ đẹp tâm hồn , lối sống trong sạch của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay.

    Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 8

    Trong chương trình Trung học Phổ thông, một tác giả mà đặc biệt với tác phẩm của ông là một ấn tượng, là một kho tàng trong văn học Việt Nam đó chính là tác giả – nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trong thế kỉ XV – XVI, ông sống trong một thế kỉ đầy biến động của lịch sử, đặc biệt với chế độ phong kiến Việt Nam. Bài thơ “Nhàn” của ông được giớ thiệu trong chương trình Trung học Phổ thông là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông.

    “Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai thú vui nào”

    Hai câu thơ mở đầu bằng hình ảnh con người  dân dã, hiên ngang giữa trời đất. Một hình ảnh ấn tượng, một người, một cuốc và một cần câu để làm công việc nông nhàn, đây là cách sống của nhà nho tìm về chốn nông nhàn – “Ngư, tiều, canh, mục” cuộc sống nông thôn làm bạn với cuốc với cày, những lúc nhàn rỗi có thể câu cá, dành thời gian suy ngẫm lại sự đời. Những vật dụng quen thuộc mang lại cho con người cảm giác thư thái, thoải mái hơn, cuộc sống nông thôn lao động tuy có vất vả nhưng nó giúp con người thêm sức khỏe, đầu óc thêm thư thái. Đằng sau sự xuất hiện đơn độc ấy là suy tư của tác giả một cách “Thơ thẩn”, tác giả đang ngẩn người ra trước suy nghĩ về cuộc sống về những điều mình hoặc người khác làm trong cuộc sống. Tác giả dường như đã chọn được con đường của mình, chọn cho mình một lối đi mới trong cuộc sống. Suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm của thân dân, một vẻ đẹp cao cả mà hầu khắp các nhà tư tưởng cũng như các nhà văn lớn đều có.

    “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao”

    Cái dại hay cái khôn được tác giả nhắc đến như là một sự biện minh, một lý do nhằm thuyết phục hay nói cách khác là bào chữa cho lựa chọn của mình. Xét trên phương diện nghĩa đen, tác giả khẳng định việc lựa chọn đi ngược lại xu hướng của mình nhưng xét trên phương diện nghĩa bóng, tác giả đã tạo nên các đối cực riêng biệt, thể hiện một ý nghĩa sâu xa. Cách định nghĩa ngược càng làm cho bài thơ thêm tính hấp dẫn, khẳng định thái độ sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông đã khéo léo mượn cách nói ngược dại – khôn để chứng tỏ vị thế cao hơn đối lập với bọn người nịnh bợ, mờ mắt vì bịu phù hoa giữa chốn lao xao, đông người.

    “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

    Đây là hai câu thơ tiếp cảu bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chọn cho mình cuộc sống gần gũi với tự nhiên, cuộc sống ấy thân thiện, hòa nhã biết bao nhiêu. Tác giả sống trong trời đất hưởng thụ bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, hòa tâm tư tình cảm của mình vào thiên nhiên để có cuộc sống êm đẹp và không vụ lợi. Ở điểm này, tác giả như muốn dung hòa với đất trời ta nhận ra những triết lý sâu xa một cách thích ứng của con người với môi trường, cách sống hòa hợp. Con người nếu sống trong tự nhiên sẽ dần hòa hợp với tự nhiên, chỉ có hòa hợp với tự nhiên mới khiến con người đạt đến đỉnh cao của tri thức, đỉnh cao của cuộc sống.

     “Rượu đến cội cây, ta sẽ uống

    Nhìn xem  phú quý tựa chiêm bao”

    Tác giả đã khéo léo mượn điển tích một cách tự nhiên, thể hiện thái độ sống dứt khoát. Thể hiện một sự thoát tục, sống cuộc sống của người bình thường không màng danh lợi.

    Đối với xã hội phong kiến ngày xưa, phú quý, tiền tài, danh vọng là những điều mà con người ai cũng mơ tới nhưng vì vinh hoa phú quý mà nhiều lúc con người giẫm đạp lên người khác hay thẳng tay làm những điều xấu ảnh hưởng tới mọi người xung quanh.

    Vinh hoa phú quý ai cũng mong muốn nhưng nó cũng chỉ như là một giấc mơ, chợt đến chợt đi lúc nào không hay. Cách lựa chọn của tác giả cũng khéo tài tình, nhìn mọi sự việc vận động theo lẽ tự nhiên của con người, cái gì đến sẽ đến, xem vinh hoa phú quý cũng chỉ như giấc chiêm bao, phú quý tiền tài chỉ là bên ngoài, là vật ngoài thân.

    Thi sĩ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan điểm sống của mình, bằng những trải nghiệm thực tế, những suy ngẫm được đúc kết từ ngàn đời với quan niệm đạo lý của nhân dân, thể hiện cách nhìn của một thi sĩ, một người nhạy cảm trước thế cuộc. Trong sự khắc nghiệt ấy, thi sĩ tìm đến những thú vui trong cây cỏ, luôn giữ mình trong sạch, đến với nhân dân cũng trong xu hướng ấy, đối lập với những người tầm thường thủ đoạn đa đoan một cách ngôn ngạo, thâm thúy.

    “Nhàn” được sáng tác với thể loại thơ Nôm nổi tiếng của dân tộc. Qua bài thơ, tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa vạch trần bộ mặt của những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống của nhân dân mà vừa bảo vệ trung thành những giá trị đạo lý tốt đẹp qua những lời thơ thấm đẫm tính triết lý, một quan niệm sống thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi.

    Bài thơ Nhàn

    Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 9

    Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi.

    Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong qui luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy. Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị :

    Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dù ai vui thú nào

    Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quí của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khác, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ thẩn được phác hoạ trong câu thơ thật độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc,cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đàng sau những liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền.

    Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh:

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người kiếm chốn lao xao

    Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai , những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực : một bên là nhà thơ xưng Ta một cách ngạo nghễ, một bên là Người ; một bên là dại của Ta, một bên là khôn của người ; một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao. Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dụng ích kỷ làm tầm thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao . Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất Nguyên thuở xưa « Người đời tỉnh cả, một mình ta say » đầy u uất, Trạng Trình đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử không bận tâm những trò khôn – dại . Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản :

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong bả vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hoà hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư . Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát tục, tiêu biểu cho quan niệm « độc thiện kỳ thân » của các nhà nho . đồng thời có nét gần gũi với triết lí « vô vi » của đạo Lão, « thoát tục » của đạo Phật. Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hoà hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình . Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hoà hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang phu tử đang sống đúng với thiên lương của mình. Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định :

    Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

    Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gắn với đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình :

    Ở thế mới hay người bạc ác

    Giàu thì tìm đến, khó thì lui

    (Thói đời)

    Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ Tăng thử (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhân cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân.

    Bài thơ Nhàn bao quát toàn bộ triết trí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vi thối nát. Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính.

    Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 10

    Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện còn để lại khoảng 1.000 bài thơ chữ Hán và trên dưới 200 bài thơ Nôm trong “Bạch Vân am tập” và “Bạch Vân Quốc ngữ thi tập”. Nhận xét về thơ Trạng Trình, nhà sử học Phạm Huy Chú trong thế kỉ XIX có viết: “Văn chương ông tự nhiên, nói ra là thành, không cần gọt giũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị, đều có quan hệ đến việc dạy đời”.

    Mảnh thơ viết về thiên nhiên và vịnh nhàn chiếm một tỉ lệ sang trọng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ Nôm số 73 của Tiên sinh mà người soạn sách Ngữ văn đặt cho cái nhan đề “Nhàn” tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật và tâm hồn thanh cao của “ông Tiên giữa cõi trần” này.

    “Nhàn” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật, đó là những vần thơ “giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị”:

    “Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn, người đến chỗ lao xao

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp

    Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao”.

    Nhịp thơ rất biến hóa, gợi lên một tâm thế đủng đỉnh khoan thai của một lão nông sống ung dung thanh thản nơi vườn quê thân thuộc thể hiện ở hai câu đề:

    “Một mai, một cuốc, một cần câu,

    Thơ thẩn, dầu ai vui thú nào”.

    Mai, cuốc, cần câu, những nông cụ ấy, vật dụng ấy với ta cũng chỉ có “một” mà thôi; hằng ngày ta vẫn cùng “Một mai, một cuốc, một cần câu” ấy vui vầy giữa “chốn nước non”, thảnh thơi với dòng xanh sông Tuyết Giang quê nhà. Cái gia tài có 3 thứ, thứ nào cũng chỉ có “một” nhưng với Bạch Vân cư sĩ thì vô cùng giàu có và sang trọng. Dù ai có cách vui thú nào mặc, riêng ta cứ thơ thẩn, nhởn nhơn ung dung giữa cuộc đời. Có tự ý thức được mình thì mới có tâm thế “thơ thẩn” ấy. Cách sống ấy của Nguyễn Bỉnh Khiêm có khác nào cách sống cần cù, thanh bạch của Ức Trai trong thế kỉ 15 sau khi đã thoát vòng danh lợi:

    “Ao cạn vớt bèo cấy muống

    Đìa thanh phát cỏ mương sen.

    Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,

    Thuyền chở yên hà nặng vạy then”.

    (Thuật hứng – 24)

    Hai câu ba, bốn trong phần thực đối nhau: “ta dại” đối với “người khôn”; “ta tìm” đối với “người đến”, “nơi vắng vẻ” đối với “chốn lao xao”. Nghệ thuật đối ấy đã tương phản và đối lập hai quan niệm sống, hai nhân cách trong cuộc đời. “Nơi vắng vẻ” với Nguyễn Bỉnh Khiêm là đất tổ quê cha, là am Bạch Vân, là làng Trung Am, huyện Vĩnh Lai (nay là xã Lý Học, Vĩnh Bảo, Hải Phòng), là sông Tuyết Giang, là quán Trung Tân. Đó là nơi “hằng mến” đối với Tuyết Giang phu tử:

    “Ba gian am quán, lòng hằng mến,

    Đòi chốn sơn hà, mặt đã quen.

    Thanh vắng thú quê giàu mấy nả,

    Dữ lành miệng thế mặc chê khen”.

    “Chốn lao xao” theo Nguyễn Bỉnh Khiêm là chốn bon chen danh lợi, là nơi bạn cơ hội vênh vang tự đắc, lên mặt đạo đức dạy đời, là nơi đồng tiền hôi tanh đã trở thành “sức mạnh của cán cân công lí”:

    “Đạo nọ nghĩa này trăm tiếng bướm,

    Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền”.

    (Thơ Nôm, bài số 50)

    Sau nhịp thơ 2/5 và các điệp ngữ “ta”, “người”, chúng ta cảm thấy ánh mắt của ông Trạng nheo lại với nụ cười mỉm:

    “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

    Người khôn, người đến chốn lao xao”.

    Hai câu trong phần luận đăng đối hài hòa, làm hiện rõ một cách sống giản dị, bình dị, thanh bạch của kẻ sĩ cao khiết đã lánh tìm trong, đã thoát “chốn lao xao” đầy bụi trần:

    “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”.

    Trúc và giá thơm ngon hơn cao lương Mĩ vị ở “chốn lao xao”. Tắm hồ sen mùa xuân, tắm ao về mùa hạ đối với Bạch Vân Cư Sĩ là để thanh sạch tâm hồn, để di dưỡng tinh thần cho thêm phần thanh cao. “Xuân tắm hồ sen” là thú quê, là niềm vui dân dã không phải ai cũng tìm thấy, ai cũng được tận hưởng:

    “Rủ nhau ra tắm hồ sen

    Nước trong bóng mát hương chen cạnh mình.

    Cứ chi vườn ngọc ao quỳnh,

    Thôn quê vẫn thú hữu tình xưa nay”.

    (Ca dao)

    Hai câu kết thể hiện một cốt cách thanh cao, ung dung tự tại của bậc cao sĩ phong lưu. Ở trên đã nói “ta tìm nơi vắng vẻ” thì khi uống rượu, “ta” lại “đến cội cây”. Trong lúc “người đến chốn lao xao” thì với “ta” lại “nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Xưa nay, đã mấy ai có cách sống đẹp như thế:

    “Rượu đến cội cây ta sẽ uống,

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

    Xưa kia, Nguyễn Trãi đã từng “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén”. Uống rượu và uống cả ánh trăng thanh. Thì giữa am Bạch Vân, Trạng Trình lại ung dung “Rượu đến cội cây, ta sẽ uống”. Rượu ấy là rượu đế, rượu tăm, đâu phải là Mĩ tửu. Có dị bản ghi: “Rượu đến cội cây, ta sẽ nhấp”; chữ “nhấp” mới thể hiện đầy đủ cốt cách của kẻ sĩ yêu nhàn và sống nhàn.

    Có người cho rằng hai câu kết “tác giả có ý dẫn điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe, rồi thấy mình ở nước Hòe An, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng…”. Chúng tôi không nghĩ thế. Một là, Thuẩn Vu Phần chưa có chút danh vọng gì, giấc mộng của ông ta chỉ là “giấc Nam Kha” mà thôi! Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi bước lên tới đỉnh cao danh vọng mới lui về quê cũ dựng am Bạch Vân để vui thú trong cảnh nhàn:

    “Rượu đến cỗi cây, ta sẽ uống,

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

    Hai là, trong thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm có nhiều điển tích, còn trong thơ Nôm của ông rất ít điển tích, mà sử dụng nhiều tục ngữ, ca dao. Thuẩn Vu Phần là một người bất đắc chí, say sưa, mộng hão, còn Bạch Vân cư sĩ là một con người đã từng đứng trên đỉnh cao danh vọng, ung dung tự tại, cao khiết nên mới có tâm thế “nhìn xem phú quý tựa chiêm bao?”. Con người ấy đã chan hòa với thiên nhiên, từng coi gió mát trăng thanh là “cố trí”, là “tương thức”:

    “Trăng thanh gió mát là tương thức,

    Nước biếc non xanh ấy cố tri”.

    Với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì sống nhàn là coi phú quý danh lợi, có sống nhàn mới tận hưởng được mọi vẻ đẹp của thiên nhiên. Một chén rượu, một chén trà đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm là để sống đẹp hơn, an nhàn hơn, hạnh phúc hơn:

    “Hoa trúc tay tự giồng

    Gậy, dép bén mùa hoa

    Chén, cốc ánh sắc hồng

    Rửa nghiêng cá nuốt mực

    Pha trà, chinh lánh khỏi…”

    (Ngụ hứng ở quán Trung Tân)

    “Nhàn” là một bài thơ tuyệt tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ có ngôn ngữ bình dị, giọng điệu khoan thai, thể hiện một tâm thế thanh cao, coi thường danh lợi phú quý bon chen trong cuộc đời. Có sống trong sạch mới có tâm hồn thanh cao, mới có lối sống nhân tuyệt đẹp. Hình ảnh Tuyết Gia phu tử hiện lên thấp thoáng sau vần thơ đã làm cho ta kính phục và ngưỡng mộ kẻ sĩ quân tử thời loạn.

    Học bài “Nhàn” để chúng ta hiểu rõ hơn cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và trong thơ văn trung đại. Có điều ta nên biết, các bạn trẻ nên biết là Nguyễn Bỉnh Khiêm đi thi cả ba lần đều đỗ thủ khoa, đã đổ Trạng Nguyên. Cái tài học ấy, bảng vàng ấy không thể sống “Nhàn” mà có được!

    Minh Nguyệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm Và Văn Bản Thơ Nôm – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng
  • Triết Lý Sâu Sắc Của Bài Thơ “Nhàn”
  • Bài Thơ Mưa Xuân Của Tác Giả Nguyễn Bính
  • Bài Văn: Cảm Nhận Bài Thơ “Mưa Xuân”
  • Junbaby: Các Bài Hát Về Mưa Cho Trẻ Mầm Non
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Cực Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Suy Nghĩ Về Bài Thơ Nhàn
  • Suy Nghĩ Về Bài Thơ “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Nội Dung, Nghệ Thuật Biện Pháp Tu Từ Sử Dụng Trong Bài Thơ Thú Nhàn
  • Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Hay Nhất
  • Tổng Hợp Các Bài Viết Về Bài Thơ “nhàn”
  • Cảm nhận về bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trí thức Nho học lỗi lạc của Việt Nam ở thế kỉ XVI. Ông là một con người có khí tiết, có nhân cách và trí tuệ hơn người. Nhắc đến ông, người ta thường nghĩ về triết lí sống “nhàn” như một kiểu phản ứng với thời thế đương thời. Triết lý sống cao đẹp ấy đã được nhà thơ khắc họa rõ nét trong thi phẩm cùng tên của mình- bài thơ Nôm nằm trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi. Bài thơ như lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với tự nhiên, giữ được cốt cách thanh cao, khí tiết cương trực, vượt lên trên những danh lợi tầm thường:

    Một mai, một cuốc, một cần câu,

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

    Người khôn, người đến chốn lao xao.

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

    Rượu đến cội cây ta sẽ uống,

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

    Có thể nói từ thế kỉ XV trở đi, thơ Nôm của Việt Nam đã có những thành tựu, đủ sức giữ thế song hành cũng văn học chữ Hán. Các trí thức Nho học, bên cạnh sáng tác chữ Hán thường dành phần ưu ái cho các tác phẩm chữ Nôm. Nếu như Nguyễn Trãi có “Quốc âm thi tập” thì Nguyễn Bỉnh Khiêm có “Bạch Vân quốc ngữ thi. Khi viết thơ Nôm Đường luật, cả Nguyễn Trãi lẫn Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn có ý thức Việt hóa triệt để:

    Một mai, một cuốc, một cần câu,

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    Hai câu thơ đầu phản ánh cuộc sống nhàn nhã, ung dung của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Quan Trạng về sống giữa chốn thôn quê nay giống như một “lão nông tri điền”, hằng ngày làm bạn với những công cụ lao. Xét về mặt ngôn ngữ cũng như hình tượng thơ, thơ xưa, nhất là thơ Đường luật thiên về sử dụng những hình ảnh ước lệ, trang nhã hơn là những hình ảnh cụ thể, bình dị như mai, cuốc, cần câu mà tác giả đưa vào tác phẩm của mình. Số từ trong câu thơ cũng là con số thực chứ không phải là những con số ước lệ. Cách điệp số từ “một” tạo cho những câu thơ nhịp điệu thật chậm rãi, qua đó đã thể hiện tư thế sẵn sàng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho một cuộc sống bình dị, giản đơn. Có thể gọi đây là hiện tượng phá vỡ tính quy phạm và là một cách Việt hóa thể thơ Đường luật. Nguyễn Bỉnh Khiêm chấp nhận cuộc sống cần lao của một lão nông tri điền, mặc cho người đua đòi chạy theo bao thú vui phù phiếm, ông vẫn giữ tâm thế bình thản, điềm nhiên với cuộc sống mình đã chọn. Trước hết ta phải hiểu cái “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là kiểu nhàn hưởng lạc, không quan tâm sự đời. Người xưa thường cho rằng “nhàn cư vi bất thiện”, người quân tử có học không bao giờ để thân mình được thảnh thơi. Nguyễn Bỉnh Khiêm hướng đến cái nhàn trong tâm, không vướng bận danh lợi đua chen, tâm nhàn chứ thân không nhàn. Là vị quan từ bỏ cân đai áo mão, ông trở về cuộc sống lao động vất vả, tự cung tự cấp rất lương thiện của những người nông dân nghèo, ông vẫn phải lao động để nuôi sống mình chứ không trông cậy vào bất kì ai, không mang theo vàng ngọc chốn quan trường để về quê hưởng lạc. Quan Trạng đang áo mũ xênh xang, chức lớn, bổng lộc nhiều, ấy vậy mà bỗng dưng rũ bỏ tất cả để trở về với đời sống “tự cung tự cấp” thì cũng đã là: một sự ngông ngạo trước thói đời hám danh, hám lợi. Ngông ngạo mà không ngang tàng, cứ thuần hậu, nguyên thủy, chân chất nông dân:

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    Hai chữ “Thơ thẩn” trong câu thơ đã phản ánh một cách tài tình phong cách ung dung và tâm trạng thảnh thơi của con người tự cho mình là đã xa lánh cõi trần tục đầy tham, sân, si; trong lòng không còn vướng bận những âm mưu, toan tính bon chen. Niềm vui như hiện lên trong từng bước đi thong thả, nhàn nhã. Niềm vui ấy dường như còn chi phối cả âm điệu bài thơ, cứ nhẹ nhàng, thanh thản một cách lạ kì. Cụm từ “dầu ai vui thú nào” còn nói lên lập trường kiên định của nhà thơ trước lối sống đã lựa chọn. Đại từ phiếm chỉ “ai” được tác giả sử dụng trong câu thơ này với một nghĩa rất rộng, càng suy ngẫm càng thấy thú vị. Nguyễn Bỉnh Khiêm cáo quan, trở về quê nhà tức là trở về với thiên nhiên. Sống hòa hợp với thiên nhiên có nghĩa là đã thoát khỏi vòng tranh đua của thói tục, không còn bị cuốn hút bởi tiền tài, địa vị, để tâm hồn được an nhiên, khoáng đạt:

    Ta dại, ta tìm nơi vắng vè,

    Người khôn, người đến chốn lao xao.

    Nhân cách thanh cao Nguyễn Bỉnh Khiêm đối lập với danh lợi như nước với lửa. “Vắng vẻ” đối lập với “lao xao”, “ta” đối lập với “người”. “Tìm nơi vắng vẻ” không phải là lánh đời mà là tìm nơi mình thích thú, được sống thoải mái, an nhiên, khác xa chốn quan trường hiểm hóc. “Nơi vắng vẻ” là nơi không có chuyện cầu cạnh, bon chen, là nơi thiên nhiên tươi xanh, mang lại sự thảnh thơi cho tâm hồn. “Chốn lao xao” là chốn quan trường công danh lợi lộc. Đến “chốn lao xao” là đến nơi con người chen chúc xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để mưu cầu lợi danh, nguy hiểm khôn lường.

    Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một bậc thức giả có trí tuệ vô cùng sáng suốt. Sáng suốt trong sự chọn lựa: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”, mặc cho: “Người khôn, người đến chốn lao xao”. Sáng suốt trong cách nói đùa vui hóm hỉnh, ngược nghĩa: dại mà thực chất là khôn, còn khôn mà hóa dại.

    Ở một bài thơ khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm viết:

    Khôn mà hiểm độc là khôn dại,

    Dại vốn hiền lành ấy dại khôn.

    Cuộc sống của bậc đại nhân ở am Bạch Vân đạm bạc mà thanh cao biết mấy:

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

    Hai câu thơ tạo nên bức tranh tứ bình bốn mùa tuyệt đẹp về cuộc sống thanh cao của một con người trở về với tự nhiên. Ở hai câu thực, phép đối tương phản tạo ra sự đối lập gay gắt thì ở hai câu luận, phép đối tương hỗ tạo ra một kết cấu cân xứng hoàn hảo. Cuộc sống giản dị ấy được thiên nhiên che chở, đất trời là tặng phẩm là nguồn sống có sẵn không cần phải đua đòi hay tranh giành mới có được. Nói một cách khác, ông sống thuận lẽ tự nhiên, mùa nào thức ấy, có chi dùng nấy, rất đơn giản, trong lành. Nguyễn Bỉnh Khiêm tả về cuộc sống bình dị của mình tuy nghèo mà không hèn, giọng điệu lại rất lạc quan, sắc thái vô cùng tươi sáng. Điều đó đủ thấy cuộc sống của ông là một chân trời tự do trong lành, ông thực hành đúng cái đạo của hiền nhân: “tri túc”. Cuộc sống này vốn không xa lạ với tâm thức của người xưa:

    Xuân du phương thảo địa,

    Hạ thưởng lục hà trì;

    Thu ẩm hoàng hoa tửu,

    Đông ngâm bạch tuyết thi.

    Nhãn quan tỏ tường và cái nhìn thông tuệ của nhà thơ thể hiện tập trung nhất ở hai câu thơ cuối. Nhà thơ tìm đến cái “say” là để “tỉnh” và ông tỉnh táo hơn bao giờ hết:

    Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

    Phần hai câu kết được viết theo lối dụng điển quen thuộc xưa nay. Ta liên tưởng đến câu chuyện Thuần Vu Phần uống rượu nằm ngủ dưới gốc cây hòe để thấy được thông điệp của tác giả: công danh chỉ là giấc mộng phù phiếm, tỉnh giấc mọi thứ sẽ tan biến thành hư ảo. Có lẽ điểm nổi bật nhất của hai câu kết là hiện tượng đảo cú pháp ở câu 7: “Rượu đến cội cây ta sẽ uống”. Từ rượu được đưa ra đầu câu, khi đọc phải nhấn mạnh, ngắt thành một nhịp thật sảng khoái để thấy được tư thế tiên phong đạo cốt của tác giả đứng ngoài vòng thế sự. Qua đó quan Trạng khẳng định một lần nữa sự lựa chọn lối sống nhàn của mình. Cuộc sống “nhàn” ấy là kết quả của một nhân cách, một trí tuệ khác thường. Trí tuệ sáng suốt nhận ra rằng công danh, của cải, quyền quý chỉ tựa chiêm bao.

    Chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện khá rõ nét qua bài thơ “nhàn”. Từ bức chân dung giản dị, mộc mạc ấy toát lên vẻ đẹp một nhân cách cao quý, một trí tuệ tuyệt vời. Năm tháng cứ trôi đi, thế nhưng có lẽ thi phẩm sẽ cùng với tên tuổi nhà thơ ấy sống mãi trong tâm hồn độc giả về một lối sống, một tâm hồn cao đẹp của một nhà Nho mẫu mực mà tên tuổi lưu danh muôn đời.

    Bích Hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vẻ Đẹp Lối Sống Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ Nhàn
  • Triết Lý Nhân Sinh Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ “nhàn”
  • Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Phân Tích Triết Lí Nhân Sinh Trong Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Anh Chị Hãy Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Luận Xã Hội Về Hiện Tượng Nghiện Facebook
  • Nghị Luận Xã Hội Về Nghiện Facebook
  • Nghị Luận Xã Hội Về Hiện Tượng Nghiện Facebook Trong Giới Trẻ Hiện Nay
  • Tương Tác Facebook Là Gì? 8 Cách Tăng Tương Tác Facebook Miễn Phí
  • Tăng Tương Tác Facebook Cá Nhân
  • Cảm nhận về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    Trước thế cuộc đảo điên, không ít người tài ba rời bỏ chốn quan trường lui về ở ẩn, một trong số đó phải kể đến Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không chỉ là một người tài hoa kiệt xuất với những tác phẩm để đời, những lời sấm truyền nổi danh mà còn là người có nhân cách cao thượng. Cũng bởi thế bài thơ “Nhàn” được ông sáng tác khi lui về ẩn cư đã để lại triết lý sâu xa về cuộc đời con người.

    Từ “Nhàn” đặt cho tiêu đề bài thơ không phải là sự rảnh rỗi, vô công rỗi nghề mà là cái nhàn của tâm thức, của con người lánh xa thế sự hỗn loạn, cái nhàn của người nhìn đời bằng cái nhìn thấu đáo. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm có viết

    Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    Trước hết, tác giả sử dụng điệp từ “một” với nghệ thuật liệt kê các sự vật “mai, cuốc, cần câu.” Đó là những vật dụng quen thuộc gắn với cuộc sống người nhà nông bình dị. Tuy rằng đó là những sự vật gợi nhắc đến công việc nặng nhưng qua ý thơ của thi nhân, nó như trở thành những món đồ để phục vụ cuộc sống bình đạm thường ngày. Cuộc sống của người thi nhân nơi thôn dã như trừ bỏ những thứ ồn ào, phiền loạn của thế giới xung quanh, yên bình với việc cày cấy, câu cá để tận hưởng sự an nhàn của tâm thức. Từ láy “thơ thẩn” xuất hiện đầu câu thứ hai như thả ý thơ vào trạng thái ung dung, tự tại, thoải mái và êm ái của cuộc sống. Khung cảnh yên bình nơi xóm núi hiện ra với sự vật, con người ở đó như một bức tranh cổ phong đẹp đẽ, thoáng đãng và phóng khoáng. Con người nơi ấy “thơ thẩn”, thơ thẩn trước thời cuộc, biến động và yên tâm với thú vui nhàn tản nơi thôn quê. “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”, câu thơ toát lên một sự thanh tao không nhuốm ý niệm của trần thế. Đó cũng là nghệ thuật đối lập đầy độc đáo được sử dụng, trong này người “thơ thẩn” ung dung mặc kệ cuộc sống ngoài kia phù phiếm, xa hoa, chìm đắm trong những hoan vui tầm thường, xa xỉ. Hai câu đề mở ra khung cảnh điền viên ấm cúng, con người nổi bật với thế giới ung dung, lạc quan và thanh thản nơi tâm hồn.

    Tiếp đó, hai câu thực khái quát rõ nét triết lý nhân sinh của thi nhân về cuộc đời về con người

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao

    Nghệ thuật tiểu đối, đối từ, đối ý, đối câu đã được thi nhân sử dụng tinh tế chỉ trong hai câu thơ “dại – khôn”, “vắng vẻ – lao xao”. Người với ta, hai đại từ xuất hiện ở hai câu thơ phân biệt đã là sự đối lập rõ ràng về tư tưởng. Người với ta khác biệt, cũng như quan niệm sống của hai phía không thể tương đồng. Nơi ta tìm tới là “nơi vắng vẻ” với thú vui điền viên, cuộc sống nhàn tản không tranh đoạt, nơi con người với thiên nhiên hòa cùng một nhịp. Còn nơi người đến là “chốn lao xao”, chốn quan trường tranh đua, cướp giật, của những danh lợi ghen ghét hãm hại lẫn nhau. Lối nói ngược của tác giả đã làm nên tiếng cười của sự châm biếm, mỉa mai, dại mà hóa khôn mà khôn lại thành dại. Khôn đâu mà tìm đến phiền não, khổ sở, suốt ngày đắm chìm trong những toan tính thiệt hơn để rồi nhúng bản thân vào những thói hư tật xấu, tham lam dục vọng không kể xiết, không biết đâu là đủ. Dại gì mà có thể an nhiên tự tại, không cần phiền não, không tính thiệt hơn, gột sạch được bản thân, đắm chìm với thiên nhiên không chút bùn nhơ thế tục. Hai câu thơ nhẹ nhàng mà thấm thía, như sự cảnh tỉnh con người trước những dục vọng của bản thân và lôi cuốn của cuộc đời. Đó còn là sự khẳng định cách sống thanh cao, xa lìa cám dỗ của danh lợi chốn quan trường, là triết lý sống nhàn thực sự mà thi nhân muốn gửi gắm.

    Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao.

    Nhắc tới “măng trúc, giá, sen, ao” người ta sẽ liên tưởng đến cuộc sống nơi thôn quê bình dị êm đềm. Những vật có sẵn, những hình ảnh đã ăn sâu vào cuộc đời của người nông thôn trở nên quen thuộc, là biểu trưng cho một cuộc sống thanh bình của con người. Xuân, hạ, thu, đông bốn mùa luân chuyển, mùa nào thức nấy. Mùa thu ăn măng trúc, mùa đông ăn giá. Cuộc sống “nhàn” yên bình nhẹ nhàng là thuận theo tự nhiên, không đòi hỏi về thức ăn, chốn ở, sinh hoạt hàng ngày. Dù tắm hồ sen hay tắm ao, sự thanh bạch của lòng người cũng không vì thế mà biến mất. Việc hòa nhập với thiên nhiên không chỉ hoàn thiện sự an nhàn trong cuộc sống mà con trong tư tưởng, không mong cầu, vu lợi, không đòi hỏi, sân si. Ý thơ nổi bật sự đồng điệu về tâm thức của con người với thiên nhiên. Bốn mùa tươi đẹp với những thức ăn bình dị là cuộc sống chan hòa với trời đất của con người. Hiếm ai có thể bỏ qua cám dỗ của kinh thành lui về ở ẩn như Nguyễn Bỉnh Khiêm, cũng vì thế mà cuộc sống “nhàn” không phải là thứ ai cũng dễ dàng làm được. Điều đó đã khẳng định nhân cách tuyệt vời của con người đang hướng tới một triết lý sống thanh cao, tự tại.

    Và rồi thi nhân kết lại hai câu với giọng thơ nhẹ tênh và sảng khoải

    Rượi đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

    Mượn điển tích về giấc mộng Nam Kha, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khẳng định một triết lý sâu xa về cuộc đời con người. Vạn vật phù phiếm, của cải, vật chất, công danh, quyền quý đều chỉ như một giấc mộng hoàng lương, đẹp đẽ đến mấy, rực rỡ đến mấy có được rồi cũng có lúc chúng phải suy tàn. Cũng như cuộc đời con người khi khi chết rồi không mang được thứ gì theo hết. Trải qua cả cuộc đời, cảm nhận được những được mất mà quan trường, phồn hoa đem lại, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới có thể có một cái nhìn đầy khách quan về cuộc đời như vậy. Mấy ai thoát được cám dỗ của thế gian mà thấu rõ lẽ đời, giữ được sự thanh khiết thuần túy của mình. Tìm đến cái say để có thể tỉnh lại, đó không chỉ là cái tài của thi nhân mà còn là nghệ thuật đặc sắc khi kết lại bài thơ. Những chiêm nghiệm trong cuộc đời muốn có được phải trải qua rồi ngộ ra, triết lý sống “nhàn” không phải là trốn tránh thế sự mà là sự mong mỏi tìm được lối thoát đúng đắn, sự “nhàn” thật sự trong tâm tưởng của con người.

    Cả bài thơ toát lên một vẻ đẹp hoàn mỹ trong thế giới của tao nhân mặc khách, triết lý nhân sinh hướng tới việc thoát khỏi vòng luẩn quẩn trong cám dỗ cuộc đời. Tác giả đã vô cùng thành công trong việc sử dụng nghệ thuật đối lập, ngôn từ giản dị nhưng không kém phần tinh tế, nhịp thơ linh hoạt, điển tích điển cố… đã làm nên cái riêng rất hoàn mỹ của bài thơ.

    Bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mang theo tư tưởng cá nhân và thế giới quan đầy mới lạ trong hàng loạt những tác phẩm thi ca trung đại hướng đến lòng yêu nước, trung thành… Đó là một hơi thở mới về triết lý sống thanh tao, giản dị trước thời cuộc hỗn loạn, đảo điên. Khép lại bài thơ, dư âm của nó vẫn âm vang đến muôn đời về quan niệm của một bậc đại trí, vinh hoa làm nhiễm bẩn nhân cách chỉ là phù du, phải biết tìm lấy hướng đi đúng giữ lại sự trong sạch cho chính mình.

    Ngọc Huyền

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương
  • Chùm Thơ Hay Viết Về Tình Bạn, Tình Yêu Trên Facebook
  • Top Bài Hát Chủ Đề Ước Mơ Của Bé Yêu
  • Cảm Nhận Của Em Về Bức Tranh “cảnh Ngày Xuân” Trong “truyện Kiều”
  • Hôm Qua Em Đi Chùa Hương
  • Dàn Ý Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Lớp 10

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 40: Đọc Văn Nhàn
  • Giáo Án Ngữ Văn 10
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 40 Đọc Văn: Nhàn
  • Văn Lớp 10: Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Qua 6 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Nhàn, Cảm Nhận Về Quan Niệm Sống Nhàn Của Tác Giả Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Trong cuộc sống của chúng ta, ai cũng có những niềm vui và nỗi buồn, những khổ cực và tủi nhục. có những lúc đối diện với khó khăn, chúng ta muốn một lần buông bỏ nó để cho đời thanh thản hay thoải mái hơn nhưng cuộc sống không cho phép, lương tâm chúng ta không cho phép. Chúng ta có tình yêu với cuộc sống, tình yêu với gia đình và yêu bản thân mình. Chúng ta sẽ tìm mọi cách để giải quyết những khó khăn mà ta cảm thấy yêu đời và thú vị hơn.

    Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông chán chường cuộc sống đời bao nhiều cạm bẩy và phù phiếm. cuộc sống làm quan của ông không được vui, không được như ý muốn của ông, chính vì thế mà ông muốn có cuộc sống giản dị và bình thường. để nói lên cuộc sống nhà hạ mà mình lựa chọn ông đã sáng tác nên bài thơ Nhàn, bài thơ là tất cả nỗi niềm và niềm hạnh phsuc với cuộc sống giản dị của ông.

    DÀN Ý:

    I. Mở bài: giới thiệu bài thơ Nhàn

    Ví dụ:

    Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông chán chường cuộc sống đời bao nhiều cạm bẩy và phù phiếm. cuộc sống làm quan của ông không được vui, không được như ý muốn của ông, chính vì thế mà ông muốn có cuộc sống giản dị và bình thường. để nói lên cuộc sống nhà hạ mà mình lựa chọn ông đã sáng tác nên bài thơ Nhàn, bài thơ là tất cả nỗi niềm và niềm hạnh phsuc với cuộc sống giản dị của ông.

    II. Thân bài: cảm nhận về bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    1. Hai câu thơ đầu: “Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

    • Mai, cuốc, những dụng cụ lao động hết sức giản dị vfa thô sơ
    • Một, một mình và lẻ loi
    • Câu thơ thể hiện rằng tác giả đã chuẩn bị đầy đủ dụng cụ lao động, dù một mình nhưng tác giả vẫn vui tươi
    • Dù có khó khăn hay khổ cực, tác giả vẫn vui thú với cuộc sống ấy

    2. Hai câu thực: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người đến chỗ lao xao”

    • Câu thơ thể hiện sự đối lập về cách chọn nơi sống, niềm vui của Nguyễn Bỉnh Khiêm với người đời
    • Qua đó thể hiện nhân cách cao quý của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    3. Hai câu luận “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

    • Thời gian thu hạ xuân đông, thể hiện sự chủ động của con người trước thiên nhiên
    • Sự giản dị trong ăn uống và sinh hoạt
    • Cuộc sống giản dị nhưng vui tươi và nhàn nhã của tác giả

    4. Hai câu kết “Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao”

    • Thể hiện sự vui thú, nhàn hạ của tác giả
    • Không màn đến sự đời

    III. Kết bài: nêu cảm nhận của em về bài thơ Nhàn

    Ví dụ:

    Bài thơ Nhàn là một bài thơ thể hiện phẩm cách của một con người, một con người yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thích những điều gainr dị và đơn sơ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Bài Thơ “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Vẻ Đẹp Của Cuộc Sống Và Tâm Hồn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Khổ Đầu Bài Thơ “Nhàn”
  • Vẻ Đẹp Tâm Hồn Và Triết Lí Sống “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Thơ Hay Tháng 9 – Chùm Thơ Về Mưa Buồn Mùa Thu Hay Thổn Thức Nỗi Lòng
  • Thơ Vui Về Mưa – Chùm Thơ Hài Hước Về Trời Mưa
  • Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Có Dàn Ý Chi Tiết)
  • Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Có Dàn Ý
  • Viết Đoạn Văn Nghị Luận Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nhà Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Đề bài: Cảm nhận bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, là một nhà thơ có cuộc sống vô cùng tự do phóng khoáng, một người từ bỏ mũ áo để có thể trở thành một ông lão nông dân và sống một cuộc sống vui thú điền viên, thể hiện một cuộc sống thanh thản, của nhà thơ khi cáo lão hồi hương.

    Trong bài thơ “Nhàn” tiêu đề của bài thơ đã thể hiện được toàn bộ nội dung của tác phẩm. Đó chính là sự thanh nhàn trong bài thơ, một cuộc sống ung dung tự tại của tác giả khi sống vui vẻ điền viên.

    Một mai, một cuốc một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    Mở đầu bài thơ thể hiện một bức tranh vô cùng vui vẻ của tác giả, dù điệp tư “một” được lặp đi lặp thể hiện một bức tranh ung dung tự tại của tác giả khi đứng cáo lão về quê để sống một cuộc sống nông dân. Trong bài thơ Nguyễn Bình Khiêm là một ông lão vui thú điền viên, hàng ngày cày cuốc sống vui vẻ thanh nhàn. Trong cuộc sông ông lão luôn thể hiện được tâm thế thanh thản của mình. Những chiếc cày, cuốc đã trở thành một điều vô cùng quen thuộc với người nông dân, mang tới cho tác giả một cuộc sống ẩn sĩ thanh nhàn.

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao

    Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

    Trong cuộc sống của người nông dân tác giả được hưởng những thú vui mà người khác không được hưởng. Đó là mùa nào thức ấy những thức ăn ngon tự bàn tay của tác giả làm ra khiến cho cuộc sống càng ý nghĩa hơn. Một người nông dân tuy cuộc sống không sa hoa, cao quý như một quan chức không có kẻ hầu người hạ nhưng sẽ mang lại cho con người nhiều cảm xúc khác nhau khi được hưởng thành quả lao động của chính bản thân mình.

    Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

    Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mượn điển tích xưa để nói lên những điều mà mình muốn nói. Tác giả đã rút ra mọt chân lý mà con người phải sống hết cuộc đời mình mới tự rút ra được ý nghĩa. Tiền bạc, vinh hoa phú quý chỉ tựa như một giấc mơ mà thôi khi tỉnh giấc thì chẳng còn lại được gì. Tác giả đã nói ra suy nghĩ của lòng mình, một cuộc sống vinh hoa từng làm quan chức có nhiều kẻ nịnh nọt nhưng giờ đây khi ông trở về làm ông lão nông dân thì mọi thứ chỉ là hư vô.

    Bài thơ “Nhàn” của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm cho người đọc một cảm nhận về cuộc sống thanh nhàn, vui thú điền viên của một ông lão nông dân khi cáo quan về ở ẩn, không còn vướng vấn việc đời. Một bài thơ hay thể hiện được tấm lòng trong sạch thanh cao của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiên trong thời kỳ phong kiến nhiễu nhương

    Mai Hoàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 10 Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Cảm Thụ Văn Học Lớp 4
  • Nội Dung Cảm Thụ Văn Học Lớp 4
  • Cảm Nhận Thơ: Mưa Tháng Sáu
  • Nguyên Sa Với Bài Thơ “tháng Sáu Trời Mưa”
  • Cảm Nhận Về Vẻ Đẹp Trong Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ Những Hiểu Biết Về Bài Thơ “vội Vàng” Của Xuân Diệu Anh (Chị) Hãy Trình Bày Những Suy Nghĩ Của Mình Về Nhận Định Tuổi Trẻ Một Đi Không Trở Lại
  • Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Tình Bạn
  • Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Mối Quan Hệ Tình Bạn
  • Hãy Nêu Lên Suy Nghĩ Của Em Về Lòng Dũng Cảm
  • Anh (Chị) Hãy Viết Một Bài Văn Ngắn Bàn Về Vấn Đề: Thanh Niên, Học Sinh Cần Làm Gì Để Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sống gần trọn thế kỉ XVI, giai đoạn có nhiều biến cố phức tạp, nội chiến tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra liên miên, nhân dân lầm than đói khổ trong cảnh “nồi da nấu thịt”. Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện thái độ phê phán những thói đời bạc bẽo, ham danh lợi mà bỏ đi tình nghĩa, là một biểu hiện thanh cao của một tấm lòng thiết tha với dân tộc.

    Cao khiết thuỳ vi thiên hạ sĩ ? An nhàn ngã thị địa trung tiên ! (Kẻ sĩ trong thiên hạ ai là người trong sạch, thanh cao? Yên vui nhàn nhã, ta đây đích thực là tiên trong đời!)

    Là tiên khách bởi được thoải mái cả về thân xác và tinh thần:

    Nội đắc tâm thân lạc, Ngoại vô hình dịch luỵ. (Bên trong được thú vui của tâm, của thân, Bên ngoài khỏi phải chạy vạy để phục dịch cho hình xác)

    Thú vui nhàn dật, tránh xa khỏi vòng danh lợi là một đề tài khá quen thuộc của văn học thế kỉ XVI. Nhiều tác giả ca ngợi cuộc sống miền thôn dã với thú vui điền viên sơn thuỷ:

    Yêu thay miền thôn tịch; Yêu thay miền thôn tịch! Cư xử dầu lòng; Ngao du mặc thích. Khéo chiều người mến cảnh sơn hà; Dễ quyến khách vui miền tuyền thạch. (Nguyễn Hàng, Tịch cư ninh thể phú)

    Cuộc sống tự nhiên, thanh tao miền tịch cư đã giúp các nhà nho tránh được những phiền phức chốn quan trường. Cuộc sống nhàn tịch miền thôn dã được tác giả miêu tả ở hai câu đề và hai câu thực:

    Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao.

    Câu thực được tạo nên bởi một lối đối rất chỉnh giữa quan niệm “dại” và “khôn”. Một lối nói chứa hàm ý mỉa mai, thể hiện sự kiên định của nhà thơ với lối sống nhàn dật. Tự nhận “ta dại” là một sự ngông ngạo của người ở ẩn, đó là cái dại của bậc đại trí trong thiên hạ. Cái dại của những người như Mạnh Hạo Nhiên, Đào Tiềm, Nguyễn Trãi:

    Cầm một chương, thơ mấy quyển, đủ tháng ngày ngâm ngợi, ấy thú mầu ông Mạnh Hạo Nhiên; Lan chín khóm, cúc ba hàng, dõi hôm sớm bù trì, này của báu ông Đào Bành Trạch. (Nguyễn Hàng, Tịch cư ninh thể phú)

    Họ tự hào với cuộc sống ấy bởi đó là cuộc sống thanh cao. Và họ kiên định với cách lựa chọn ấy:

    Dù ai cười thơ thẩn ngẩn ngơ; Thì ta cũng ngô nghê ngốc nghếch. (Nguyễn Hàng, Tịch cư ninh thể phú)

    Những bậc đại trí ấy tìm đến “vắng vẻ”, trước tiên không phải là trốn tránh trách nhiệm với cuộc đời, mà họ đều đến nơi thôn tịch khi họ đã không thể cứu nước cứu dân, họ chọn cuộc sống giữa thiên nhiên cây cỏ khi họ phải lựa chọn giữa lối sống luồn cúi và cuộc sống thanh sạch mà nghèo cực. Dù luôn nói đến cái thảnh thơi của một người nhàn tâm thản trí nhưng thực ra trong lòng họ vẫn mang những day dứt về cuộc đời. Về ở ẩn, họ dễ tránh được “chốn lao xao”, bởi theo nhà thơ, là nơi mọi người phải đua chen trong vòng danh lợi:

    Thành thị vốn đua tranh giành giật (Thơ Nôm, bài 19)

    Không nơi nào không có đua chen, tranh giành: “ở triều đình thì tranh nhau cái danh, ở chợ búa thì giành nhau cái lợi” (Bài bi kí quán Trung Tân). Ở câu thơ kết, một lần nữa tác giả khẳng định quan điểm sống của mình, đó là một cách thể hiện thái độ với cuộc đời của một nhà Nho:

    Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

    Phú quý ở đời chỉ là chuyện phù du. Câu thơ cuối có cách ngắt nhịp khác hẳn các câu thơ còn lại. Thủng thẳng nói về cái thú nhàn dật rồi buông ra một câu kết như thế, nhà thơ đã thể hiện một cách dứt khoát thái độ của mình đối với chuyện công danh phú quý. Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn nhưng khi được vời lại sẵn sàng ra giúp vua, giúp nước bởi tấm lòng luôn “cuồn cuộn nước triều dâng” khiến ông không thể yên tâm hưởng thanh nhàn nơi thông reo bốn mùa. Để rồi ông đã không thoát được cái án oan khiên thảm khốc. Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm, với một thế thời khác đã kiên định lối sống ở ẩn. Trong một chừng mực nào đó, cách lựa chọn của Trạng Trình chưa hẳn đã là đúng. Song vì thế thời, để giữ gìn phẩm giá thanh sạch của mình, việc lựa chọn cách sống ấy cũng là một điều đáng để chúng ta trân trọng họ – những nhà nho chân chính.

    Bài thơ nói về cái chí. Trước hiện thực xã hội rối ren thế kỉ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lựa chọn cách sống nhàn dật, đó chính là một cách thể hiện thái độ của nhà thơ đối với cuộc đời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Lớp 10
  • Dàn Ý Bài Nhàn Ngữ Văn 10 Ngắn Gọn Dễ Hiểu
  • Giới Thiệu Về Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Phân Tích Quan Niệm Sống Nhàn Và Vẻ Đẹp Nhân Cách Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Trong Bài Thơ Nhàn? Từ Bài Thơ Em Có Suy Nghĩ Gì Về Việc Lựa Chọn Lối Sống Hiện Nay?
  • Mấy “chấm Phá” Về Nguyễn Bỉnh Khiêm Và Bài Thơ “nhàn”
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×