Top #10 ❤️ Câu Thơ Hay Lục Bát Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Cách Làm Thơ Lục Bát

Chùm Thơ Hay Nhất Về Tình Cảm Gia Đình: Tình Cha Mẹ, Tình Anh Em, Tình Ông Bà

Tổng Hợp Cách Làm Thơ Lục Bát. Các Mẫu Thơ Lục Bát Về Tình Yêu Lãng Mạn Nhất 2022

+688 Bài Thơ Lục Bát Mùa Xuân Cực Vui Và Ý Nghĩa

+333 Bài Thơ Lục Bát Mùa Đông Yêu Thương Hay Nhất

Thơ Về Mùa Đông – Những Câu Thơ Lục Bát Tự Sáng Tác Về Mùa Đông Lạnh

Bạn đang quan tâm tới cách để có thể tự học & làm thơ lục bát. Chỉ cần đọc hết bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thể thơ lục bát nổi tiếng của Việt Nam. Cách gieo vần, có những luật thanh như thế nào? Từ đó tự mình có thể sáng tác ra những đoạn thơ, gieo vần với từng con chữ…

Thơ Lục Bát Là Gì?

Theo tiếng Hán, Lục = 6 (sau âm tiết một câu), Bát = 8 (8 âm tiết một câu). Từ đó ghép lại tại thành thể thơ lục bát.

Thể thơ lục bát (六八) là một thể thơ của Việt Nam, đúng như tên gọi, một cặp câu thơ cơ bản gồm một câu 6 âm tiết và 1 câu 8 âm tiết, phối vần với nhau. Một bài thơ lục bát gồm nhiều câu tạo thành không hạn chế số câu.

Niêm, luật, vần của thể thơ lục bát?

Các tiếng mang thanh huyền và thanh ngang được gọi là thanh bằng; mang thanh sắc, hỏi, ngã, nặng được gọi là thanh trắc. Quy tắc cơ bản của cặp câu lục bát là các tiếng thứ 2, 6, 8 mang thanh bằng, tiếng thứ 4 mang thanh trắc, còn lại có thể tùy ý. Đuôi câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát, đuôi câu bát vần với đuôi câu lục sau. Nếu tiếng thứ sáu của câu bát là thanh ngang (dương bình) thì tiếng thứ 8 phải là thanh huyền (âm bình) và ngược lại.

Vần của thơ lục bát cũng giống như vần trong thơ nói chung, bao gồm hai loại là vần chính (giống nhau phụ âm cuối, khác phụ âm đầu) và vần thông (âm na ná nhau).

Ví dụ câu 3241-3244 trong truyện Kiều:

Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Các biến thể của thơ lục bát?

Biến thể lục bát rất đa dạng, có thể chia làm ba loại là sai khác về số âm tiết, về niêm luật và về vần hoặc tổ hợp của 2, ba loại trên.

Ví dụ sai khac số âm tiết: Câu thơ của Hồ chủ tịch thừa một tiếng ở câu bát.

Trẻ em như búp trên cành,

Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan.

Ví dụ về sai khác niêm luật: Câu ca dao có âm tiết thứ 2 và thứ 4 sai luật bằng-trắc

Lươn ngắn lại chê trạch dài,

Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.

Ví dụ về sai khác phối vần: Hình thức phối vần ở đuôi câu sáu và giữa câu 8 khá phổ biến.

Con vua thì được làm vua

Con sãi ở chùa, thì quét lá đa.

Cách làm thơ lục bát, tìm hiểu về cách gieo vần?

Luật thanh

Hai câu lục và câu bát là không thể thiếu để có thể tạo nên một bài thơ lục bát chuẩn chỉnh. Giống thể thơ Đường luật nó rất cần được được tuân hành luật thanh giống như sau: nhất, tam, ngũ bất bàn luận, nhị, tứ, lục phân minh.

Trong các số đó các tiếng thứ một, ba và năm có thể là những tiếng chính còn tiếng thứ hai, bốn, sáu phải làm theo quy tắc. Quy luật:

Tại câu lục: ta gieo theo trình tự những tiếng hai – bốn – sáu là Bằng (B) – Trắc (T) – Bằng

Tại câu bát: ta gieo theo trình tự các tiếng hai – bốn – sáu – tám là Bằng -Trắc -Bằng -Bằng (BTBB).

Ví dụ:

Tháng ba nhớ người quân nhân  Bằng – Trắc – Bằng

Ruột đau như cắt, thương thân chiều buồn Bằng -Trắc -Bằng -Bằng

Quy tắc

 về gieo vần

Mẹo gieo vần của thể thơ này khác hoàn toàn so với những thể thơ khác. Ta rất dễ dàng gieo nhiều vần trong câu chứ không nhất thiết là chỉ được gieo một vần duy nhất.

Đây được cho là một trong những phần linh hoạt của thể thơ này, không trở nên đặt nặng chủ đề gieo vần mà còn làm bài thơ hay hơn và rất dễ nghe hơn.

Ví dụ (những từ in nghiêng hay đậm là vần với nhau):

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Trong thể thơ biến thể vẫn gieo vần như thế, nhưng trường hợp câu bát của cặp câu có thanh là t-b-t-b thì tiếng thứ sáu câu lục bên trên nó vần với tiếng thứ tư của câu đó.

Hướng dẫn

 ngắt nhịp

Thơ phổ biến được ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, nhưng thỉnh thoảng để nhấn mạnh nên người đọc đổi thành nhịp lẻ là 3/3.

Mẹo đơn giản để làm thơ lục bát

Bước 1 – Phương pháp Gieo Vần – Chữ: Mẹo Gieo Vần-Chữ cuối của câu trên (tức câu 6) phải vần với chữ thứ sáu của câu dưới (tức câu 8). Cứ mỗi hai câu thì đổi vần, & bao giờ cũng gieo vần bằng (còn gọi là bằng hoặc bình, tức có dấu huyền hoặc không dấu).

Ví dụ: hòn, non, mòn, con… Nếu gieo vần mưa với mây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận.

Bước 2 – Luật Bằng Trắc: Luật Bằng Trắc-Cách sử dụng mẫu tự & viết tắt giống như sau: B là Bằng, T là Trắc, V là Vần.

Câu 6: B B T T B B

Câu 8: B B T T B B T B

Ví dụ:

(Kiều)

Ghi chú: Chữ là và đau là yêu vận (tức là vần đặt ở trong câu); chữ nhau và lòng là cước vận (tức là vần đặt ở cuối câu). Chữ thứ 6 của câu 6 (ta) hiệp vận (V) với chữ thứ 6 của câu 8 (là), chữ thứ 8 (nhau) của câu 8 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (dâu) của câu 6, chữ thứ 6 (dâu) của câu 6 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (đau) của câu 8.

Bước 3 – Thanh: Thanh bao gồm Trầm Bình Thanh & Phù Bình Thanh. Trầm Bình Thanh là các tiếng hay chữ có dấu huyền. Ví dụ: là, lòng, phòng… Phù Bình Thanh là những tiếng hay chữ không có dấu. Ví dụ: nhau, đau, mau…

Trong câu 8, hai chữ thứ 6 và thứ 8 luôn luôn ở vần Bằng, nhưng không được có cùng một thanh. Có như thế, âm điệu mới êm ắng và dễ nghe. Nếu chữ thứ 6 thuộc Phù Bình Thanh thì chữ thứ 8 phải thuộc Trầm Bình Thanh, & trái lại.

Ví dụ:

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

(Ghi chú: là thuộc Trầm Bình Thanh, nhau thuộc Phù Bình Thanh).

Các điều trông thấy mà cực khổ lòng.

(Ghi chú: đau thuộc Phù Bình Thanh, lòng thuộc Trầm Bình Thanh).

Bước 4 – Phá Luật: Phá Luật – nhiều lúc bọn họ gặp người sử dụng thơ like phá luật ở chữ thứ hai câu 6, thay vì vần bằng thì lại đổi ra vần trắc; còn chữ thứ tư thì có khi đổi thành vần bằng thay vì vần trắc như tầm thường lệ. Câu 6 cũng rất được ngắt ra sử dụng hai vế.

Tổng hợp các bài thơ lục bát hay nhất

Hạ Về Nhớ Anh

Chiều nay nhìn phượng đỏ cây

Ngoài hiên gió thoảng lắt lay bên thềm

Ve ngân bất chợt lặng im

Tim nghe giá buốt rũ mềm mi cay

Sao anh không đến chốn này

Cho em hờ hững vòng tay dại khờ

Anh đừng nhốt gió vào thơ

Chua cay em cứ thẫn thờ đan xen

Thơ say đem ủ thành men

Ngu ngơ uống cạn đời đen mất rồi

Ngoài kia phượng đỏ rực trời

Lao xao tim cứ bồi hồi quặn đau

(Hoàng Mai)

Biết

Biết anh đã có vợ nhà

Biết mình không thể yêu mà vẫn yêu

Biết lòng rồi khổ đau nhiều

Biết ngang trái đó vẫn liều nhớ nhung

Biết vô duyên thế là cùng

Biết có son sắt cũng chung chồng người

Biết tình qua phút si mê

Biết nhau bởi những hẹn thề vu vơ

Biết sầu rối nhịp đường tơ

Biết sau say đắm mộng mơ sẽ tàn

Biết mưa có tạnh, trời quang

Biết chắc chắn bão lại tràn qua tim

Biết càng yêu, luỵ từng đêm

Biết càng nhớ sẽ càng thêm đoạ đày

Biết không đi trọn ngày mai

Biết trăm năm chỉ ván bài…

em thua!

(Trường Phi Bảo)

Giấc Mơ Hoa

Đêm qua trong giấc mộng vàng

Bóng anh nhẹ lướt nhẹ nhàng giấc say

Chúng mình tay lại cầm tay

Mắt môi chờ đợi bao ngày dấu yêu

Đan tay đi giữa rừng chiều

Heo may lạnh buốt đìu hiu nắng tàn

Giật mình nuối giấc mơ tan

Ngoài kia nắng đã ươm vàng rồi anh

(Hoàng Mai)

Bài Quê Hương – Nguyễn Đình Huân

Quê hương là một tiếng ve

Lời ru của mẹ trưa hè à ơi

Dòng sông con nước đầy vơi

Quê hương là một góc trời tuổi thơ

Quê hương ngày ấy như mơ

Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu

Quê hương là tiếng sáo diều

Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê

Quê hương là phiên chợ quê

Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa

Quê hương là một tiếng gà

Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng

Quê hương là cánh đồng vàng

Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều

Quê hương là dáng mẹ yêu

Áo nâu nón lá liêu siêu đi về

Quê hương nhắc tới nhớ ghê

Ai đi xa cũng mong về chốn xưa

Quê hương là những cơn mưa

Quê hương là những hàng dừa ven kinh

Quê hương mang nặng nghĩa tình

Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời

Quê hương ta đó là nơi

Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

Bài Quê Hương Nỗi Nhớ – Hoàng Thanh Tâm

Trở về tìm mái nhà quê

Tìm hình bóng mẹ bộn bề nắng mưa

Tìm nắng xuyên ngọn cây dừa

Tìm hương mạ mới gió lùa thơm tho

Tìm đàn trâu với con đò

Áo bà ba mẹ câu hò trên sông

Nón lá nghiêng nắng nước ròng

Miền quê khó nhọc con còng con cua

Lục bình tim tím mùa mưa

Bồng bềnh một khúc sông khua mái chèo

Khói lên cháy bếp nhà nghèo

Con gà cục tác con mèo quẫy đuôi

Heo gà chạy ngược chạy xuôi

Chân bùn tay lấm nụ cười chân quê

Cánh cò trắng xóa vọng về

Ngân nga vọng cổ bốn bề thiên nhiên

Đậm đà ký ức giao duyên

Xương cha máu mẹ dịu hiền ca dao

Con dù biền biệt phương nào

Quê hương một dạ dạt dào khó phai.

Bài Thơ Lục Bát Miền Quê – Đức Trung

Tôi thầm nhớ một miền quê

Ước mơ thăm lại trở về tuổi thơ

Đồng xanh bay lả cánh cò

Hương sen tỏa ngát mộng mơ những chiều

Vi vu gió thổi sáo diều

Bóng ai như bóng mẹ yêu đang chờ?

Dòng sông, bến nước, con đò

Có người lữ khách bên bờ dừng chân

Xa xa vẳng tiếng chuông ngân

Bờ tre cuối xóm trong ngần tiếng chim

Tuổi thơ thích chạy trốn tìm

Cây đa giếng nước còn in trăng thề

Xa rồi nhớ mãi miền quê

Trong tim luôn nhắc trở về ngày xưa…

Nguồn bài viết: cách làm thơ lục bát

Thơ Lục Bát Là Gì? Cách Làm Thơ Lục Bát Tự Sáng Tác

Những Bài Thơ Hay Lớp 3

Dàn Ý Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát

Học Tiếng Anh Qua Thơ Lục Bát Của Gs Toán Ngô Bảo Châu

Top Những Bài Thơ Hay Nhất Của Tố Hữu

Thơ Lục Bát Biến Thể

Học Nhanh 214 Bộ Thủ Chữ Hán Bằng Thơ

Học Nhanh 214 Bộ Thủ Bằng Thơ Lục Bát: Đọc 1 Nhớ 10

Học Nhanh 214 Bộ Thủ Chữ Hán Bằng Thơ — Kanji Latest Documentation

Cách Nhớ 214 Bộ Thủ Tiếng Trung Thông Qua Thơ Văn – Diễn Ca Bộ Thủ

Những Bài Thơ Lục Bát Chế Hay Nhất Về Tình Yêu Cuộc Sống, Bạn Bè Mái Trường

* Trong bài “Có một Hoàng Sa trong đất liền” đăng trên báo Đà Nẵng cuối tuần số ra ngày 20-3 vừa qua có câu: “Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn/ Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây”. Về thơ lục bát tôi chỉ biết đến Truyện Kiều của Nguyễn Du nên thấy hai câu này hơi lạ, không biết có phải phạm luật thơ lục bát không? (Phan Phan, Sơn Trà, Đà Nẵng).

* Thơ lục bát có mấy loại biến thể? (Tập thể những người yêu thơ ở Khu du lịch thắng cảnh Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng).

– Hai câu thơ “Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn/ Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây” đã được viết theo thể thơ lục bát biến thể.

Nhà thơ Nguyễn Đình Trọng (Đại diện của website chúng tôi tại thành phố Hồ Chí Minh) trong bài “Biến thể vần bằng, trắc trong thơ Lục Bát?” đăng trên trang này ngày 10-3-2010 đã định nghĩa: Biến thể nghĩa là thể văn có biến đổi đi. Thể này tức cũng là thể lục bát, nhưng thỉnh thoảng có xen vào một ít câu mà cách hiệp vần và luật bằng trắc khác với thể lục bát thông thường.

Theo nhà thơ, có hai cách biến thể trong thơ lục bát như sau:

1- Biến thể vần bằng: Thay đổi cách gieo vần ở câu Bát: Chữ cuối của câu Lục cùng vần với chữ thứ tư của câu Bát thay vì vần với chữ thứ sáu (như luật thông thường). Theo lối biến thể này, các chữ thứ hai và thứ sáu trong câu Bát phải chuyển sang thanh trắc thay vì thanh bằng theo luật gieo vần. Ví dụ: Khâu rồi anh sẽ trả công/ Ít nữa lấy chồng anh lại giúp cho (bài ca dao “Tát nước”)

2- Biến thể vần trắc: Chữ cuối của câu Lục và chữ thứ sáu của câu Bát cùng là âm trắc và hiệp vần với nhau. Thông thường, cách biến thể này chỉ được sử dụng trong hai câu dẫn nhập của bài. Những câu kế tiếp sẽ theo đúng luật thơ. Chẳng hạn như bài ca dao: Tò vò mà nuôi con nhện/ Đến khi nó lớn, nó quện nhau đi/ Tò vò ngồi khóc tỉ ti/ Nhện ơi nhện hỡi, mày đi đằng nào?.

Một số tác giả khác đưa ra 3 loại lục bát biến thể như sau:

1- Biến đổi cấu trúc bằng trắc:

a. Câu Lục giữ nguyên, câu Bát biến đổi chữ thứ hai thành thanh trắc: Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra (ca dao).

b. Cả câu Lục và câu Bát đều biến đổi chữ thứ hai thành thanh trắc: Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con (ca dao).

3- Biến đổi cách gieo vần: Chữ thứ tư câu Bát hiệp vần với chữ cuối câu Lục:

a. Câu Lục giữ nguyên, câu Bát biến đổi cấu trúc bằng trắc: Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non (ca dao). (Tương tự Biến thể vần bằng của nhà thơ Nguyễn Đình Trọng nói trên).

b. Cả câu Lục và câu Bát đều biến đổi cấu trúc bằng trắc: Cưới vợ thì cưới liền tay/ Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha (ca dao)

Nói thêm, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du không phải là không có những câu lục bát biến thể. Ví dụ: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần/ Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười” (câu 17); “Đau đớn thay, phận đàn bà!/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” (câu 83).

ĐNCT

Top 99+ Bài Thơ Lục Bát Về Cô Đơn Thiêu Đốt Triệu Con Tim

Huyễn Tưởng Về Tính Đích Thực: Đọc Bài Thơ “Lá Diêu Bông” Của Hoàng Cầm Từ Góc Độ Phê Bình Phân Tâm Học (Hoàng Phong Tuấn)L

Lá Diêu Bông – Trần Tiến Và Hoàng Cầm

Hoàng Cầm Trong Tôi (Chuyện Tình Lá Diêu Bông)

Thơ “lấy Tăm Cho Bà”

Thơ Lục Bát Là Gì, Cách Gieo Vần Thơ Lục Bát

Phân Tích Khổ Thơ 5, 6 Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh Và Liên Hệ Đến Khổ Cuối Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử

Kết Quả Ngày 31/3 Của “thi Thơ Vui Chiến Cô Vy”

Ca Khúc “đánh Giặc Corona” Vừa Ra Đời…

Cảm Nhận Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Những Bài Thơ Viết Về Tà Áo Dài Việt Nam Hay Nhất

Trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 có đề cập đến luật thơ, sự hình thành luật thơ và một số thể thơ tiêu biểu. Trong đó có thể thơ lục bát. Vậy thể thơ lục bát là gì, cách gieo vần thế nào và cách làm một bài thơ lục bát ra sao? Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết chúng tôi cung cấp bên dưới.

Thơ lục bát là thể loại thơ nằm trong thể loại thơ dân tộc của Việt Nam.

Thơ lục bát là thể loại thơ dân gian gồm các cặp câu thơ kết thành một bài. Thường thì câu đầu là 6 chữ, câu sau là 8 chữ, cứ nối tiếp cho tới hết bài.

Thơ lục bát có nguồn gốc từ rất lâu. Cho tới ngày nay nó vẫn được kế thừa và phát huy, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nguồn văn học dân gian của dân tộc. Ở Việt Nam, thơ lục bát tồn tại dưới nhiều hình thức. Chúng ta thường được nghe những bài ca dao, dân ca, những bài đồng dao thấm đượm tình cảm và nồng nàn hồn quê con người. Thơ lục bát vì vậy mà trở thành thể loại đặc trưng trong những sáng tác của người dân quê.

Người dân lao động làm việc vất vả, để quên đi mệt nhọc họ trở thành những nhà sáng tác thơ. Thể thơ trong các sáng tác của họ thường là lục bát. Vì vậy nó chân chất, giản dị, diễn tả đúng tâm trạng và các cung bậc cảm xúc trong tâm hồn người dân lao động. Thể loại thơ của dân tộc này còn có nguồn gốc từ những câu ru hời của bà, của mẹ nồng nàn tình cảm thương yêu; những bài đồng dao đi vào lòng người.

– Số tiếng trong bài thơ lục bát: mỗi cặp lục bát gồm có 2 dòng (lục: 6; bát: 8). Bài thơ lục bát là sự kế tiếp của các cặp như thế. Số câu trong bài không giới hạn.

– Nhịp: nhịp chẵn dựa vào tiếng có thanh không đổi (trừ 2,4,6), nhịp 2/2/2 tạo sự hài hòa, nhịp nhàng cho các cặp lục bát trong bài.

– Hài thanh:

+ Có sự đối xứng luân phiên B – T – B ở các tiếng 2,4,6 trong dòng thơ, đối lập âm vực trầm bổng ở tiếng thứ 6 và thứ 8 dòng bát.

Ví dụ:

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Trong cặp lục bát trên có sự đối xứng nhau trong các thanh ở các tiếng 2,4,6. Câu lục là B – T – B “năm – cõi – ta”; câu bát là B – T – B – B “tài – mệnh – là – nhau”

+ Thơ lục bát có sự chặt chẽ về cách phối thanh: tiếng thứ 4 bắt buộc là trắc, các tiếng 2,6,8 phải là bằng. Trong đó trong câu bát tiếng thứ 6 và 8 cùng là bằng nhưng phải khác dấu, nghĩa là tiếng thứ 6 là dấu huyền thì tiếng thứ 8 phải không có dấu hoặc ngược lại.

Ví dụ:

(Trích Kiều thăm mộ Đạm Tiên – Nguyễn Du)

Các từ “qua – cuộc – dâu/ điều – thấy – đau – lòng” tuân thủ luật B – T – B

Ta thấy câu bát tiếng 6 và 8 đều là vần bằng nhưng có sự ngược nhau: tiếng 6 thanh bằng, tiếng 8 thanh huyền.

Cách gieo vần thơ lục bát

Thơ 6 – 8 cũng có quy định nghiêm ngặt về cách gieo vần: hiệp vần ở tiếng thứ 6 của 2 dòng và giữa tiếng thứ 8 của dòng bát với tiếng thứ 6 của dòng lục.

+ Vần bằng: là các vần có thanh huyền và thanh ngang (không dấu)

Ví dụ: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”.

“Trang – da” là vần bằng các tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

+ Vần trắc: là các vần có các dấu còn lại: sắc, hỏi, nặng, ngã

Ví dụ: “Tò vò mà nuôi con nhện

Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi”

“Nhện – quện” là vần trắc.

+ Vần chân: hiệp vần ở tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

Ví dụ: “Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

“Quanh – ngang” là vần chân cuối các câu lục và bát.

+ Vần yêu: là vần ở cuối câu lục hiệp với tiếng thứ 6 câu lục.

Ví dụ: “Thanh minh trong tiết tháng Ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”

“Ba – là” gọi là vần yêu hiệp ở tiếng thứ 6 của 2 dòng.

Thơ lục bát là loại thơ đơn giản, dễ làm. Người làm thơ cần tuân thủ đúng luật thơ về hài thanh và cách gieo vần là đã hoàn thành một bài thơ lục bát. Câu đầu 6 tiếng, câu sau 8 tiếng tạo thành một cặp lục – bát.

+ Làm câu lục trước tuân thủ luật thơ ở các tiếng 2,4,6 là B – T -B, các tiếng còn lại tự do

+ Tiếp đến câu bát: cân chỉnh cho có sự đối xứng ở các tiếng 2,4,6 là B – T – B – B, các tiếng còn lại tự do

+ Cách gieo vần: sau khi hoàn chỉnh 2 câu thơ thì xem lại cách hiệp vần trong cặp câu. Để ý tiếng thứ 6 của 2 dòng xem đã hiệp vần chưa nếu chưa thì đổi lại đảm bảo cùng là vần bằng. Hoặc cách hiệp vần ở cuối mỗi câu.

+ Đọc lại hai câu thơ đảm bảo nhịp 2/2/2 hoặc 3/3 cho cân đối và nhịp nhàng.

+ Nếu thấy chưa hài hòa về mặt từ ngữ lúc này mới tìm các từ tương ứng có thể thay thế được để câu thơ được tự nhiên, tránh gò ép về cách hiệp vần.

Thể song thất lục bát (gián thể, song thất)

– Số tiếng: cặp song thất và cặp lục bát luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài.

– Vần: hiệp vần ở mỗi cặp, cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vần bằng. Giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền.

– Nhịp: 3/4 ở hai câu thất và 2/2/2 ở cặp lục bát.

– Hài thanh: Cặp song thất lấy tiếng thứ ba làm chuẩn, có thể có thanh bằng hoặc trắc nhưng không bắt buộc; cặp lục bát sự đối xứng B – T chặt chẽ hơn.

Các thể ngũ ngôn đường luật

– Gồm: ngũ ngôn tứ tuyệt (5 tiếng, 4 dòng) và ngũ ngôn bát cú (5 tiếng, 8 dòng)

– Bố cục: 4 phần đề, thực, luận, kết

– Số tiếng: 5 tiếng, số dòng: 8 dòng (4 dòng)

– Vần: 1 vần, gieo vần cách

– Nhịp lẻ: 2/3

– Hài thanh: có sự luân phiên B – T hoặc niêm B – B, T – T ở tiếng thứ hai và thứ tư

Các thể thất ngôn đường luật

Gồm:

Thất ngôn tứ tuyệt

– Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 4 dòng

– Vần: vần chân, độc vận, gieo vần cách

– Nhịp: 4/3

Thất ngôn bát cú

– Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 8 dòng ( chia 4 phần: đề, thực, luận, kết)

– Vần: vần chân, độc vận

– Nhịp: 4/3

Những Bài Thơ Lục Bát Tự Làm, Thơ 6 8 Học Sinh Tự Sáng Tác

Cuộc Thi “nét Chữ Từ Trái Tim”: “em Yêu Tổ Quốc” Là Bài Thơ Được Các Em Thiếu Nhi Viết Nhiều Nhất

1001 Bài Thơ Nói Với Con, Lời Yêu Thương & Dạy Bảo Của Cha Mẹ

Top Những Bài Thơ Chủ Đề Quê Hương Đất Nước Cho Con Yêu

Bài Thơ Của Một Người Yêu Nước Mình

Thơ Lục Bát Là Gì? Cách Làm Thơ Lục Bát Tự Sáng Tác

Cách Làm Thơ Lục Bát

Chùm Thơ Hay Nhất Về Tình Cảm Gia Đình: Tình Cha Mẹ, Tình Anh Em, Tình Ông Bà

Tổng Hợp Cách Làm Thơ Lục Bát. Các Mẫu Thơ Lục Bát Về Tình Yêu Lãng Mạn Nhất 2022

+688 Bài Thơ Lục Bát Mùa Xuân Cực Vui Và Ý Nghĩa

+333 Bài Thơ Lục Bát Mùa Đông Yêu Thương Hay Nhất

I)Luật Thanh trong thể thơ

Đầu tiên mình sẽ nói về luật thanh trong làm thơ lục bát :

Như các bạn đã biết thơ lục bát sẽ có cấu tạo gồm 2 câu ,câu đầu với 6 tiếng và tiếp theo là câu 8 tiếng .Những câu này sẽ phải tuân theo quy tắc của thơ đó là nhất, tam, ngũ bất luận, nhị, tứ, lục phân minh.Có nghĩa là quy luật này đòi hỏi bài thơ khi sáng tác ra có những chữ trong câu thơ mang số lẻ tức 1,3,5 sẽ có thể tự do về thanh.Nhưng những chữ mang số chẵn là 2,4,6.. các bạn sẽ tuân theo luật quy luât bằng trắc để gieo vần cho chính xác như sau:

Câu lục: theo thứ tự chữ thứ 2(B)-4(T)-6(B) sẽ là Bằng – Trắc – Bằng

Câu bát: theo thứ tự chữ thứ 2(B)-4(T)-6(B)-8(B) sẽ là Bằng -Trắc-Bằng -Bằng

Ví dụ minh họa:

Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân 2(B) – 4(T) – 6(B)

Bâng khuâng nhớ cụ, thương thân nàng Kiều 2(B)-4(T)-6(B)-8(B)

Thế nhưng khi theo nguyên tắc sách vở quá thì bài thơ sẽ bị lặp và gây cảm giác chán các bạn cũng có thể sáng tạo hơi khác một chút bằng cách là bạn sẽ thay Thanh Bằng của chữ thứ hai bằng thanh Trắc để làm mới bài thơ hơn chút hoặc cũng có thể biến thể hơn là giữ nguyên câu lục và câu bát của bạn sẽ theo quy luật T-B-T-B

Ví dụ minh họa

Có sáo thì sáo nước trong 2(T)-4(T)-6(B)

Đừng sáo nước đục đau lòng cò con 2(T)-4(T)-6(B)-8(B)

Hay

Con cò lặn lội bờ sông (Giữ nguyên quy luật thanh)

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non 2(T)-(4)B-(6)T-(8)B

II )Cách Gieo Vần trong thơ

Thơ lục bát sẽ có cách gieo vần rất đa dạng và các bạn sẽ gieo vần liên tục trong nhiều câu số lượng vần được gieo cũng tương đối là nhiều.Cách gieo vần sẽ là chữ thứ 6 của câu lục sẽ vần với chữ thứ 6 của câu bát kế tiếp nó.Và chữ thứ 8 của câu bát đó các bạn sẽ tiếp tục làm cho vần với chữ thứ 6 của câu lục tiếp theo .

Để dễ hiểu hơn sẽ có ví dụ:

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Các bạn hãy để ý các từ mà mình in đậm lần lượt theo thứ tự sẽ nghe rất xuôi tai và vần với nhau tạo nên sự hài hòa cho bài thơ.

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Tương tự vậy các chữ in đậm sẽ là từ mà các bạn sẽ cho nó vần với nhau

Một lưu ý nữa đó là đối thanh của chữ thứ 6 (hoặc thứ 4) của câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Hai chữ này sẽ bắt buộc khác thanh với nhau nếu chữ này mang thanh huyền thì chữ kia sẽ là thanh ngang và ngược lại

Ví dụ:

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

III )Cách ngắt nhịp của thể thơ :

Ngâm thơ cũng như trong âm nhạc nhịp phách sẽ là một điều rất quan trọng dù bài thơ có hay đến mấy nếu cách ngắt nhịp sai thì sẽ phá hỏng tất cả và nghe sẽ không xuôi tai không có cảm xúc vì thế nhịp thơ thường sử dụng trong thơ lục bát sẽ là nhịp chẵn,là nhịp 2/2/2 những đôi khi để nhấn mạnh hơn nội dung bài thơ cũng có thể đổi thành nhịp lẻ 3/3.

Những Bài Thơ Hay Lớp 3

Dàn Ý Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát

Học Tiếng Anh Qua Thơ Lục Bát Của Gs Toán Ngô Bảo Châu

Top Những Bài Thơ Hay Nhất Của Tố Hữu

Trọn Bộ Thơ Lục Bát Chế Bậy Hài Hước Nhất

🌟 Home
🌟 Top