Đến Với Bài Thơ Hay: Dáng Đứng Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Thơ “Em Yêu Nhà Em”
  • Tổng Hợp Chia Sẻ Hình Ảnh, Tranh Vẽ, Biểu Mẫu Trong Lĩnh Vực Giáo Dục
  • Ai Cũng Biết Bài “Em Đi Chùa Hương”, Nhưng Không Phải Ai Cũng Biết Chuyện Tình Ngang Trái Của Thi Sĩ Trong Bài Hát Này
  • Nhà Thơ Của “đi Chùa Hương”
  • “Emily, Con…” – Một Bài Thơ Bất Diệt – Chúngta.com
  • Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất

    Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

    Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

    Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

    Chợt thấy Anh giặc hốt hoảng xin hàng

    Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

    Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

    Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công.

    Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

    Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

    Như đôi dép dưới chân Anh dẫm lên bao xác Mỹ

    Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

    Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

    Anh chẳng để gì lại cho riêng Anh trước lúc lên đường

    Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

    Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.

    Tên Anh đã thành tên đất nước

    Ơi Anh Giải phóng quân

    Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất

    Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

    Lê Anh Xuân 

    Lê Anh Xuân thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong máu lửa đấu tranh ở miền Nam. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, anh đã để lại thi phẩm tiêu biểu “Dáng đứng Việt Nam” từng khắc tạc vào lòng bao thế hệ.

    “Dáng đứng Việt Nam” đúng như tên gọi của bài thơ, tác giả đã chớp được, bắt được hình ảnh thật tuyệt vời của người chiến sỹ anh hùng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Chỉ mấy câu đầu thôi mà hình ảnh người chiến sỹ ấy đã hiện lên thật oai hùng:

    Anh ngã xuống trên đường băng

    Tân Sơn Nhất

    Nhưng anh gượng đứng lên tì súng

    trên xác trực thăng

    Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

    Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

    Người chiến sĩ giải phóng đã trúng đạn khi đang ôm súng truy đuổi giặc trên sân bay. Trúng đạn, trong khoảnh khắc “anh ngã xuống”, anh biết mình không đủ sức nâng khẩu súng, anh đã dùng ngay xác trực thăng giặc làm chỗ dựa, làm bệ tỳ để bắn tiếp. Khí thế oai hùng quyết chiến đó khiến bao tên giặc hoảng hốt tột cùng:

    Chợt thấy Anh giặc hốt hoảng xin hàng

    Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

    Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

    Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công.

    Sự quả cảm của anh khiến bao người nể phục. Hành trang anh để lại trước lúc đi xa chỉ có đôi dép vẫn “một màu bình dị sáng trong”. Nét phi thường hòa trong những gì bình thường nhất. Đôi dép anh mang trong ngày tử trận cũng đơn sơ, giản dị như chính cuộc đời anh vậy:

    Không một tấm hình, không một dòng

    địa chỉ

    Anh chẳng để lại gì cho riêng anh

    trước lúc lên đường

    Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam

    tạc vào thế kỷ

    Điệp từ “không” nhấn mạnh phẩm chất cao cả của một người lính dũng cảm. Một sự xả thân không hề tính toán vụ lợi, vì vậy “tên anh đã thành tên đất nước”, máu anh đã hoà trong máu của đồng đội tô thắm màu cờ Tổ quốc Việt, để cho hôm nay “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”. Dáng đứng của anh và cuộc đấu tranh sôi sục của nhân dân miền Nam đã “tạc” vào lịch sử một dấu son chói lọi. Sự ra đi của người chiến sĩ trên đường băng Tân Sơn Nhất năm nào là bệ phóng đưa đất nước lên tầm cao mới.

    Tổ quốc hôm nay đang bay lên trong mùa xuân mới: Mùa xuân của hoà bình, hợp tác và hữu nghị. Thắng lợi của ngày nay được vun trồng bởi máu xương của biết bao thế hệ cha anh hôm qua. Trong những ngày tháng Tư lịch sử này, bài thơ như lời nhắc nhở thế hệ trẻ phải luôn nỗ lực học tập, làm việc, cống hiến cho đất nước, đáp đền công ơn những người đã ngã xuống cho bầu trời Tổ quốc thêm xanh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tôi Viết Bài Thơ “Dặn Con”
  • Qua Hai Bài Thơ Cảnh Khuya Và Rằm T…
  • Bài Thơ Cây Đào
  • Chùm Bài Thơ Về Chú Bộ Đội
  • Bài Thơ “Cảnh Ngày Hè” Của Nguyễn Trãi
  • Nhân Vật Trong Thơ: Dáng Đứng Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Vợ Của Nhà Thơ (Nhà Khoa Học, Nhà Dân Chủ, Nhà Dấn Thân, Nhà Nhà…)
  • Nguyen Huy Thiep: Tuoi Hai Muoi Yeu Dau
  • Phân Tích Bài Thơ “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Câu Thơ: Cảm Ơn Đời Mỗi Sớm Mai Thức Dậy/ta Có Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương Của Ai?
  • Cảm Ơn Đời Mỗi Sớm Mai Thức Dậy
  • “Anh tên gì hỡi anh yêu quý!”

    “Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt

    Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

    Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

    Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

    Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng

    Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

    Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

    Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công”

    (trích bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân)

    Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” là một trong những tác phẩm cuối cùng của nhà thơ Lê Anh Xuân. Trong di sản của mình, có lẽ đây là tác phẩm đã làm nên tên tuổi Lê Anh Xuân trở thành một cây đại thụ trong làng thơ ca Việt Nam cận hiện đại. “Dáng đứng Việt Nam” cũng đã trở thành hình tượng người anh hùng, đại diện cho chí khí chiến đấu bất khuất của bộ đội cụ Hồ cho đến ngày hôm nay.

    Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, rất nhiều thế hệ đã yêu và say mê những câu từ chân chất mà đầy hình tượng bi tráng của bài thơ, đặc biệt là với người lính. Thế nhưng, ít ai biết hình tượng ấy có nguyên mẫu từ đâu, đến chính nhà thơ Lê Anh Xuân khi viết bài thơ này cũng không biết người chiến sĩ bất khuất, kiên cường ấy là ai. Bởi thế, nhà thơ mới viết:

    “Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

    Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

    Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ

    Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

    Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

    Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường

    Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ”

    (trích bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân)

    Cựu chiến binh Vũ Chí Thành – nguyên Trung đội phó Trung đội đại liên – Tiểu đoàn 16, tiết lộ: “Nguyên mẫu của người chiến sĩ trong bài thơ này là anh Nguyễn Công Mẹo, nguyên quán ở thôn Đồng Vinh 1, xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa và 1 chiến sĩ nữa mà anh em chứng kiến không biết tên”.

    Theo ông Thành, sau trận đánh vào Tân Sơn Nhất, 2 đại đội đánh sâu vào sân bay chỉ còn vài người còn sống và bị thương nặng. Sau khi về đến bộ chỉ huy có kể lại tình hình chiến đấu cho chỉ huy, trong đó có nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ đang theo đoàn quân chiến dịch.

    Trận đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất tết Mậu Thân đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam như 1 trong những trận đánh ác liệt nhất

    Dựa vào lời kể của các chiến sĩ vừa về từ chiến địa, nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ viết bài ký “Thư Tân Sơn Nhứt” vào ngày 2/2/1968 với nhiều câu chuyện chiến đấu quả cảm của các đơn vị tham chiến như Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 267, Tiểu đoàn 12 đặc công, Biệt động thành Gò Môn…

    Trong bài ký này có đoạn miêu tả về 2 người chiến sĩ kiên cường, đã chết nhưng vẫn tì thân trên xác xe thiết giáp M41 đã bị bắn cháy. 2 anh đã chết nhưng tay vẫn ôm chặt súng, thân tì trên xác xe nên không ngã xuống.

    Sau đó, từ cảm hứng này, nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết thành bài thơ về hình tượng 2 người chiến sĩ trên vào tháng 3/1968. Ban đầu, bài thơ có tên là “Anh giải phóng quân” được lưu truyền rộng rãi trong anh em bộ đội và nhân dân Long An, sau đó mới được đổi tên thành “Dáng đứng Việt Nam” khi in thành sách. Chỉ chưa đầy 2 tháng sau khi viết bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”, ngày 5/6/1968, nhà thơ Lê Anh Xuân hy sinh tại chiến trường Cần Đước, Long An.

    Còn sống còn hy vọng đi tìm đồng đội…

    Ông Vũ Chí Thành chia sẻ: “Trận chiến đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất dịp Tết Mậu Thân quá ác liệt, 2 đại đội của Tiểu đoàn 16 đánh sâu vào sân bay chỉ còn 6, 7 người còn sống nên thông tin rất ít. Các đồng chí còn sống kể có thấy hình ảnh 2 đồng đội mình hy sinh như thế nhưng không biết là ai vì tình hình chiến đấu quá ác liệt, không còn thời gian để quan sát người nào còn sống, người nào đã chết nữa. Mãi sau này, một số đồng chí bị thương nên không rút lui được, bắn hết đạn nên không thể chống trả và bị địch bắt, đày đi Côn Đảo được giao trả về mới biết được lai lịch 2 đồng đội là nguyên mẫu trong bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”.

     

    Cựu chiến binh Vũ Chí Thành là người dành nhiều công sức để sưu tầm sử liệu về Tiểu đoàn 16 vì tiểu đoàn đã xóa phiên chế nên không còn bộ phận làm truyền thống đơn vị

         

     Theo ông Thành, 2 chiến sĩ này tì trên xác chiếc thiết giáp M41 chứ không phải xác trực thăng như trong bài thơ. Lúc này, liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo ôm khẩu AK, còn 1 chiến sĩ thì tì khẩu 12 ly 7 lên xác chiến xa làm điểm tựa. Tên lính Mỹ theo đoàn xe tăng phản kích bị xác chiến xa che khuất nên không thấy, khi vượt qua chiến xa thì thấy bóng dáng 2 khẩu súng chỉa thẳng về phía mình nên giật mình ngã ngữa về sau, súng rơi khỏi tay nên tên Mỹ vội vàng ôm đầu để đầu hàng. Mãi không thấy động tĩnh, khi tên lính Mỹ đứng dậy đến gần mới phát hiện 2 anh giải phóng quân đã chết, chỉ là chưa ngã xuống và súng vẫn trên tay…

    Những chiếc thiết giáp bị bắn cháy tại Tân Sơn Nhất trong trận Tết Mậu Thân (ảnh tư liệu)

     

    Ông Thành cho biết: “Do người chứng kiến đứng gần liệt sĩ Mẹo hơn nên nhận ra anh, còn chiến sĩ còn lại bị khuất sau lưng liệt sĩ Mẹo nên người này không nhận ra. 1 phần vì ở xa, 1 phần anh Mẹo là Chính trị viên phó Đại đội 1 nên nhiều người quen thuộc với anh, nhận ra anh. Còn anh chiến sĩ còn lại thì hơi lạ mặt nên anh em không nhận ra. Đến nay tôi tìm hiểu khắp lượt vẫn chưa hỏi ra được anh tên gì”.

    Trong những năm qua, ông Thành cũng đã cất công đi tìm hiểu, viết lại chiến tích của liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo, tìm về quê quán của liệt sĩ để xác minh lý lịch nhân thân gia đình, xin xác nhận của địa phương để làm hồ sơ xin truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo.

     

    Quyển sách cũ có in “Thư Tân Sơn Nhứt” là tư liệu mà ông thường xem

    Bản tài liệu thành tích của liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo mà ông dày công sưu tập, tìm hiểu, chấp bút để xin truy tặng danh hiệu Anh hùng cho đồng đội mình

    Cựu chiến binh Vũ Chí Thành nói: “Trường hợp hy sinh của đồng chí Nguyễn Công Mẹo là rất anh dũng, xứng đáng được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Riêng bản thân tôi và nhiều cựu chiến binh Tiểu đoàn 16 – Phân khu 2 còn sống ở cả 2 miền Nam – Bắc đều nhất trí đề nghị các cấp thẩm quyền xem xét. Anh em chúng tôi đang cố gắng liên hệ với các cơ quan chức năng để làm việc này. Rất tiếc là chiến sĩ còn lại chưa rõ tên tuổi, quê quán nên chúng tôi chưa làm được gì cho anh!”.

    Ước nguyện cả đời của người lính già này là được thấy các đồng đội được về bên nhau và truy tặng Anh hùng cho những đồng đội xứng đáng là anh hùng

    Theo cựu chiến binh Vũ Chí Thành, việc đi các nơi để thu thập thông tin, giấy tờ, xác nhận để truy tặng danh hiệu cho các đồng đội đã ngã xuống cũng quan trọng như việc đi tìm kiếm di hài của các anh đưa về quê hương bản quán. Bởi đó là trách nhiệm, là nghĩa tình của người còn sống đối với người đã khuất. Bởi thế, ông hy vọng khi mình còn sống sẽ được thấy tất cả 380 anh em của Tiểu đoàn 16 đã mất trong trận đánh Tân Sơn Nhất được quy tập về 1 nơi, ít ra cũng có cái tên cùng nhau trên bia kỷ niệm. Ông cũng hy vọng mình đủ sức khỏe để đi làm thủ tục xin truy tặng danh hiệu anh hùng cho những đồng đội xứng đáng là anh hùng đã ngã xuống của ông…

    Những ước nguyện đó của ông vẫn còn đầy trắc trở. Bởi các đồng đội của ông cũng như rất nhiều chiến sĩ anh hùng khác đã hy sinh mà “… chẳng để lại gì cho anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ!”.

    Bài: Tùng Nguyên – Quốc Anh

    Ảnh & Clip: Phạm Nguyễn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Bài: Đọc – Hiểu Về Chủ Đề Vẻ Đẹp Người Lính
  • Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Nhân Vật Trong Thơ : Dáng Đứng Việt Nam
  • Thơ Chọn Lời Bình: Dung Dăng Dung Dẻ
  • Viết Đoạn Văn Nghị Luận 200 Chữ Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Bài Thơ “Dặn Con” Của Trần Nhuận Minh
  • Nhân Vật Trong Thơ : Dáng Đứng Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Đề Bài: Đọc – Hiểu Về Chủ Đề Vẻ Đẹp Người Lính
  • Nhân Vật Trong Thơ: Dáng Đứng Việt Nam
  • Vợ Của Nhà Thơ (Nhà Khoa Học, Nhà Dân Chủ, Nhà Dấn Thân, Nhà Nhà…)
  • Nguyen Huy Thiep: Tuoi Hai Muoi Yeu Dau
  • Từ hình ảnh 2 người lính Tiểu đoàn 16 hi sinh, thi thể tì trên xác thiết giáp, tay vẫn ôm chặt súng hướng nòng về phía địch, nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết nên bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ.

    Từ hình ảnh 2 người lính Tiểu đoàn 16 hi sinh, thi thể tì trên xác thiết giáp, tay vẫn ôm chặt súng hướng nòng về phía địch, nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết nên bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ.

    “Anh tên gì hỡi anh yêu quý!”

    “Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt

    Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

    Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

    Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

    Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng

    Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

    Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

    Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công”

    (trích bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân)

    Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” là một trong những tác phẩm cuối cùng của nhà thơ Lê Anh Xuân. Trong di sản của mình, có lẽ đây là tác phẩm đã làm nên tên tuổi Lê Anh Xuân trở thành một cây đại thụ trong làng thơ ca Việt Nam cận hiện đại. “Dáng đứng Việt Nam” cũng đã trở thành hình tượng người anh hùng, đại diện cho chí khí chiến đấu bất khuất của bộ đội cụ Hồ cho đến ngày hôm nay.

    Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, rất nhiều thế hệ đã yêu và say mê những câu từ chân chất mà đầy hình tượng bi tráng của bài thơ, đặc biệt là với người lính. Thế nhưng, ít ai biết hình tượng ấy có nguyên mẫu từ đâu, đến chính nhà thơ Lê Anh Xuân khi viết bài thơ này cũng không biết người chiến sĩ bất khuất, kiên cường ấy là ai. Bởi thế, nhà thơ mới viết:

    “Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

    Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

    Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ

    Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

    Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

    Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường

    Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ”

    (trích bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân)

    Cựu chiến binh Vũ Chí Thành – nguyên Trung đội phó Trung đội đại liên – Tiểu đoàn 16, tiết lộ: “Nguyên mẫu của người chiến sĩ trong bài thơ này là anh Nguyễn Công Mẹo, nguyên quán ở thôn Đồng Vinh 1, xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa và 1 chiến sĩ nữa mà anh em chứng kiến không biết tên”.

    Theo ông Thành, sau trận đánh vào Tân Sơn Nhất, 2 đại đội đánh sâu vào sân bay chỉ còn vài người còn sống và bị thương nặng. Sau khi về đến bộ chỉ huy có kể lại tình hình chiến đấu cho chỉ huy, trong đó có nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ đang theo đoàn quân chiến dịch.

    Trận đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất tết Mậu Thân đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam như 1 trong những trận đánh ác liệt nhất

    Dựa vào lời kể của các chiến sĩ vừa về từ chiến địa, nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ viết bài ký “Thư Tân Sơn Nhứt” vào ngày 2/2/1968 với nhiều câu chuyện chiến đấu quả cảm của các đơn vị tham chiến như Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 267, Tiểu đoàn 12 đặc công, Biệt động thành Gò Môn…

    Trong bài ký này có đoạn miêu tả về 2 người chiến sĩ kiên cường, đã chết nhưng vẫn tì thân trên xác xe thiết giáp M41 đã bị bắn cháy. 2 anh đã chết nhưng tay vẫn ôm chặt súng, thân tì trên xác xe nên không ngã xuống.

    Sau đó, từ cảm hứng này, nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết thành bài thơ về hình tượng 2 người chiến sĩ trên vào tháng 3/1968. Ban đầu, bài thơ có tên là “Anh giải phóng quân” được lưu truyền rộng rãi trong anh em bộ đội và nhân dân Long An, sau đó mới được đổi tên thành “Dáng đứng Việt Nam” khi in thành sách. Chỉ chưa đầy 2 tháng sau khi viết bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”, ngày 5/6/1968, nhà thơ Lê Anh Xuân hy sinh tại chiến trường Cần Đước, Long An.

    Còn sống còn hy vọng đi tìm đồng đội…

    Ông Vũ Chí Thành chia sẻ: “Trận chiến đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất dịp Tết Mậu Thân quá ác liệt, 2 đại đội của Tiểu đoàn 16 đánh sâu vào sân bay chỉ còn 6, 7 người còn sống nên thông tin rất ít. Các đồng chí còn sống kể có thấy hình ảnh 2 đồng đội mình hy sinh như thế nhưng không biết là ai vì tình hình chiến đấu quá ác liệt, không còn thời gian để quan sát người nào còn sống, người nào đã chết nữa. Mãi sau này, một số đồng chí bị thương nên không rút lui được, bắn hết đạn nên không thể chống trả và bị địch bắt, đày đi Côn Đảo được giao trả về mới biết được lai lịch 2 đồng đội là nguyên mẫu trong bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”.

    Cựu chiến binh Vũ Chí Thành là người dành nhiều công sức để sưu tầm sử liệu về Tiểu đoàn 16 vì tiểu đoàn đã xóa phiên chế nên không còn bộ phận làm truyền thống đơn vị

    Theo ông Thành, 2 chiến sĩ này tì trên xác chiếc thiết giáp M41 chứ không phải xác trực thăng như trong bài thơ. Lúc này, liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo ôm khẩu AK, còn 1 chiến sĩ thì tì khẩu 12 ly 7 lên xác chiến xa làm điểm tựa. Tên lính Mỹ theo đoàn xe tăng phản kích bị xác chiến xa che khuất nên không thấy, khi vượt qua chiến xa thì thấy bóng dáng 2 khẩu súng chỉa thẳng về phía mình nên giật mình ngã ngữa về sau, súng rơi khỏi tay nên tên Mỹ vội vàng ôm đầu để đầu hàng. Mãi không thấy động tĩnh, khi tên lính Mỹ đứng dậy đến gần mới phát hiện 2 anh giải phóng quân đã chết, chỉ là chưa ngã xuống và súng vẫn trên tay…

    Những chiếc thiết giáp bị bắn cháy tại Tân Sơn Nhất trong trận Tết Mậu Thân (ảnh tư liệu)

    Ông Thành cho biết: “Do người chứng kiến đứng gần liệt sĩ Mẹo hơn nên nhận ra anh, còn chiến sĩ còn lại bị khuất sau lưng liệt sĩ Mẹo nên người này không nhận ra. 1 phần vì ở xa, 1 phần anh Mẹo là Chính trị viên phó Đại đội 1 nên nhiều người quen thuộc với anh, nhận ra anh. Còn anh chiến sĩ còn lại thì hơi lạ mặt nên anh em không nhận ra. Đến nay tôi tìm hiểu khắp lượt vẫn chưa hỏi ra được anh tên gì”.

    Trong những năm qua, ông Thành cũng đã cất công đi tìm hiểu, viết lại chiến tích của liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo, tìm về quê quán của liệt sĩ để xác minh lý lịch nhân thân gia đình, xin xác nhận của địa phương để làm hồ sơ xin truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo.

    Quyển sách cũ có in “Thư Tân Sơn Nhứt” là tư liệu mà ông thường xem

    Bản tài liệu thành tích của liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo mà ông dày công sưu tập, tìm hiểu, chấp bút để xin truy tặng danh hiệu Anh hùng cho đồng đội mình

    Cựu chiến binh Vũ Chí Thành nói: “Trường hợp hy sinh của đồng chí Nguyễn Công Mẹo là rất anh dũng, xứng đáng được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Riêng bản thân tôi và nhiều cựu chiến binh Tiểu đoàn 16 – Phân khu 2 còn sống ở cả 2 miền Nam – Bắc đều nhất trí đề nghị các cấp thẩm quyền xem xét. Anh em chúng tôi đang cố gắng liên hệ với các cơ quan chức năng để làm việc này. Rất tiếc là chiến sĩ còn lại chưa rõ tên tuổi, quê quán nên chúng tôi chưa làm được gì cho anh!”.

    Ước nguyện cả đời của người lính già này là được thấy các đồng đội được về bên nhau và truy tặng Anh hùng cho những đồng đội xứng đáng là anh hùng

    Theo cựu chiến binh Vũ Chí Thành, việc đi các nơi để thu thập thông tin, giấy tờ, xác nhận để truy tặng danh hiệu cho các đồng đội đã ngã xuống cũng quan trọng như việc đi tìm kiếm di hài của các anh đưa về quê hương bản quán. Bởi đó là trách nhiệm, là nghĩa tình của người còn sống đối với người đã khuất. Bởi thế, ông hy vọng khi mình còn sống sẽ được thấy tất cả 380 anh em của Tiểu đoàn 16 đã mất trong trận đánh Tân Sơn Nhất được quy tập về 1 nơi, ít ra cũng có cái tên cùng nhau trên bia kỷ niệm. Ông cũng hy vọng mình đủ sức khỏe để đi làm thủ tục xin truy tặng danh hiệu anh hùng cho những đồng đội xứng đáng là anh hùng đã ngã xuống của ông…

    Những ước nguyện đó của ông vẫn còn đầy trắc trở. Bởi các đồng đội của ông cũng như rất nhiều chiến sĩ anh hùng khác đã hy sinh mà ”… chẳng để lại gì cho anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ!”.

    Tùng Nguyên – Quốc Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thơ Chọn Lời Bình: Dung Dăng Dung Dẻ
  • Viết Đoạn Văn Nghị Luận 200 Chữ Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Bài Thơ “Dặn Con” Của Trần Nhuận Minh
  • Bài Thơ Dặn Con – Chất Chứa Nỗi Lòng Của Bậc Sinh Thành
  • Nhà Toán Học Bắc Chiếc Cầu Thơ…
  • Mười Bài Thơ Dạy Con Của Nguyễn Khuyến
  • Nhớ Lê Anh Xuân Với Bài Thơ ‘dáng Đứng Việt Nam’

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Dáng Đứng Việt Nam Của Lê Anh Xuân
  • Thơ Triết Lý Về Dại Khôn
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dừa Ơi
  • Soạn Bài Dòng Sông Mặc Áo
  • Câu Chuyện Về Nhà Thơ Tố Hữu Và Emily
  • Nhưng các thế hệ người Việt Nam, nhất là những người yêu Văn học không bao giờ quên nhà thơ, liệt sĩ Lê Anh Xuân với bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” và các văn nghệ sĩ đã cùng với các anh hùng liệt sĩ ngã xuống trên các chiến trường để Tổ quốc trọn niềm vui.

    “Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất Tổ quốc bay lên bát ngát mủa xuân”.

    Lê Anh Xuân tên khai sinh là Ca Lê Hiến, ông sinh ngày 05 tháng 6 năm 1940 trong một gia đình giàu truyền thống Văn học, quê ở Bến Tre. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc và học ở trường học sinh miền Nam, sau đó là trường cấp 3 Nguyễn Trãi (Hà Nội). Tốt nghiệp phổ thông Ca Lê Hiến thi đậu vào khoa sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Là một sinh viên có tố chất thông minh, thiên về Văn học sử và có tâm hồn thi sĩ, Ca Lê Hiến học giỏi và làm thơ rất sớm. Tốt nghiệp Đại học, ông được trường giữ lại làm cán bộ giảng dạy nhưng Tổ quốc đang còn bóng giặc, quê hương ông đang bị giày xéo dưới gót giày đinh của Mĩ Ngụy, cuối năm 1964 ông trở về miền Nam với lý tưởng cao đẹp, là một văn nghệ sĩ, chiến sĩ để cùng với quê hương và nhân dân miền Nam đánh đuổi chế độ Mĩ Ngụy, đưa lại hạnh phúc cho đồng bào.

    Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân miền Nam đã làm rung chuyển, lung lay các cơ quan đầu não của Mĩ Ngụy. Trong một lần nhà thơ Lê Anh Xuân đi thực tế tại chiến trường sân bay Tân Sơn Nhất, ông tận mắt chứng kiến một chiến sĩ quân giải phóng đã anh dũng hi sinh, khi bị trúng đạn, người chiến sĩ ấy đã gượng dậy, tỳ súng lên xác trực thăng, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và anh đã chết trong tư thế đứng bắn.

    Cảm xúc, thương tiếc, kính phục sự hi sinh của người chiến sĩ, tất cả dâng trào lên ngòi bút của nhà thơ rồi ông đã thốt lên:

    “Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng Và anh chết trong khi đang đứng bắn”.

    Là một thi sĩ, chiến sĩ cầm bút, không một thi nhân nào trong trái tim mình không có những giây phút tình ca, lãng mạn nhưng khi tiếp xúc với tư thế của người chiến sĩ bị thương rồi vẫn gượng dậy đứng bắn. Ông đã đọc được chí khí trong trái tim của người chiến sĩ lúc này: “Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng”.

    Với tâm hồn cao thượng, đẹp đẽ và nhân văn, ông dồn tất cả cho người chiến sĩ giải phóng quân. Trong cuộc trường chinh vệ quốc vĩ đại, từ anh vệ quốc đoàn, người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam, hay anh giải phóng quân từ lúc quân đội ta đang trong trứng nước cho đến giai đoạn mà cuộc kháng chiến ở Miền Nam bước vào giai đoạn quyết liệt, nếu nói về tương quan lực lượng, vũ khí, trang bị kĩ thuật quân sự và số lượng… thì kẻ địch mạnh hơn ta gấp bội nhưng sức mạnh của ta là cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại, quân đội ta từ nhân dân mà ra, chiến đấu và chiến thắng vì lý tưởng cao đẹp: “Đối diện với quân đội Mĩ là cả một dân tộc vững chắc như quả núi đá, có một tâm hồn cao thượng đáng khâm phục, một tinh thần dũng cảm vô song không hề biết sợ trước kẻ thù nào” (Báo Pháp “Thế giới”).

    Còn cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mĩ Mắc-Na-Ma-Ra đã phải thốt lên rằng: “Những cuộc ném bom hủy diệt của Mĩ đã không thể nào tiêu diệt được ý chí của cả một dân tộc”. Chính ý chí đó, đã làm cho kẻ thù phải khiếp sợ:

    “Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng Có thằng sụp xuống chân anh tránh đạn/ Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công”.

    Trong trận chiến đấu quyết liệt đó, địch và ta dành nhau từng tấc đất, từng ngôi nhà, từng ngõ phố, Lê Anh Xuân không thể biết nổi người chiến sĩ giải phóng quân dũng cảm ấy là tên gì, quê hương anh ở đâu mà chỉ biết yêu thương, tôn kính và quý trọng. Ôi! Anh giải phóng quân là hình tượng của cả một Miền Nam thành đồng Tổ quốc, của quê hương Đồng Khởi Bến Tre, với đôi dép cao su mòn gót lăn lộn khắp các chiến trường miền Đông, miền Tây Nam Bộ, với sự giản dị khiêm nhường của dân tộc Việt Nam. Cái triết lý sức mạnh của một dân tộc mà Lê Anh Xuân đã dùng hình ảnh tương phản ở đây:

    “Anh tên gì hỡi anh yêu quý Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng Như đôi dép dưới chân anh giẫm lên bao xác Mĩ Mà vẫn một màu bình dị sáng trong”.

    Viết đến đây, tôi chợt nhớ những vần thơ của Tố Hữu vẫn chân chất như hai tâm hồn đồng điệu khi nghĩ về người chiến sĩ giải phóng quân:

    “Kính chào anh con người đẹp nhất Lịch sử hôn anh chàng trai chân đất Sống hiên ngang bất khuất trên đời? Như Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi Một dây ná, một cây chông cũng tiến công giặc Mĩ Không tự ngắm mình anh chẳng hay đâu hỡi chàng dũng sĩ”.

    Tôi muốn xin phép độc giả nhắc lại một lần nữa, trong cuộc chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc ta, biết bao những chàng trai, những cô gái đã anh dũng hi sinh tuổi thanh xuân của mình giữa mười tám đôi mươi, cái tuổi đầy sinh khí nhất của đời người và cũng là thời điểm mà tình yêu chớm nở và mãnh liệt nhất, những mơ ước về nghề nghiệp, về tình yêu, tương lai hay tổ ấm gia đình đều có trong tâm tưởng của mỗi một thanh niên, bởi vì họ cũng là người, là xương, là thịt và họ có quyền sống, quyền được hưởng những gì cao quý mà thượng đế ban cho họ.

    Nhưng mỗi một dân tộc đều có quyền tự quyết, hạnh phúc lúc này không phải là thứ hạnh phúc để làm nô lệ dưới gót giày của lũ thực dân kiểu mới ở miền Nam. Vì hạnh phúc của dân tộc mà thế hệ trẻ lúc bấy giờ phải gác lại tất cả không để cho mình một chút riêng tư, danh vọng, của cải và tình yêu để làm nên một Tổ quốc Việt Nam thiêng liêng và vĩ đại, Tổ quốc Việt Nam của thế kỉ hai mươi:

    “Anh chẳng để gì lại cho riêng anh trước lúc lên đường Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ”.

    Hình ảnh anh giải phóng quân trên đường băng Tân Sơn Nhất mà Lê Anh Xuân cảm phục vẻ thành bức tranh đáng kính với giá trị thiêng liêng ở trên là dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ. Bởi thế kỉ hai mươi là thế kỉ mà Đất nước Việt Nam, một dân tộc nhỏ bé đã dũng cảm chiến thắng hai đế quốc hùng mạnh đó là Pháp và Mĩ:

    “Anh là chiến sĩ giải phóng quân Tên anh đã thành tên Đất nước”.

    Kết thúc bài thơ, tác giả muốn dồn hết tâm thức của mình để nâng giá trị hiện thực của anh giải phóng quân trên đường băng Tân Sơn Nhất và anh giải phóng quân trên đường băng Tân Sơn Nhất là đại diện cho hàng triệu triệu người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam mãi mãi những mùa xuân:

    “Ơi anh giải phóng quân Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”.

    Bài thơ “Dáng đứng Viêt Nam” của Lê Anh Xuân giàu tính nhạc, là khúc tráng ca giàu tình cảm, giàu tính lãng mạn cách mạng. Năm 1970, nhạc sĩ Nguyễn Chí Vũ phổ nhạc cho bài thơ. Từ đó, bài thơ trở thành một ca khúc được bạn bè trên thế giới, các tầng lớp của dân tộc Việt Nam yêu quý, trân trọng, cũng như thân thế, sự nghiệp và mơ ước của Lê Anh Xuân. Bài thơ được Lê Anh Xuân viết vào tháng 3 năm 1968 thì đến ngày 21 tháng 5 năm 1968, ông hi sinh ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An khi tuổi đời vừa tròn hai tám. Đại thắng Mùa Xuân năm 1975 đúng như ước mơ cao đẹp của Lê Anh Xuân toàn bộ miền Nam được giải phóng, dân tộc Việt Nam đã nở rộ một mùa xuân mới. Đó là độc lập tự do và vĩnh viễn tươi đẹp những mùa xuân:

    “Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”.

    Trong suốt quảng thời gian học tập và chiến đấu của ông, nhất là thời gian ở chiến trường, ông đã để lại cho nền văn học Việt Nam ba tập thơ, một trường ca, một tập văn xuôi nhưng “Dáng đứng Việt Nam” đã đi vào huyền thoại của lịch sử dân tộc Việt Nam. Lê Anh Xuân và “Dáng đứng Việt Nam” còn sống mãi trong lòng dân tộc, nhất là những độc giả, khán giả, thính giả yêu Văn học, Nghệ thuật và Âm nhạc.

    Chuẩn bị chào mừng ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, với tấm lòng thành kính, tôi xin gửi tới các anh hùng, liệt sĩ, thương bệnh binh, cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong lời biết ơn sâu sắc nhất, những người đã xả thân vì sự sống còn của dân tộc và các anh chị là “…Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ”.

    Tháng 12/2019

    Dương Chí Sỹ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dặn Con
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Dặn Con
  • Phân Tích Bài Thơ Con Cò
  • Phân Tích Bài Thơ “con Cò” Của Nhà Thơ Chế Lan Viên
  • Phân Tích Bài Thơ Cảnh Khuya Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Bài Thơ Dáng Đứng Việt Nam Của Lê Anh Xuân

    --- Bài mới hơn ---

  • Thơ Triết Lý Về Dại Khôn
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dừa Ơi
  • Soạn Bài Dòng Sông Mặc Áo
  • Câu Chuyện Về Nhà Thơ Tố Hữu Và Emily
  • Chùm Thơ Vui, Hài Hước Về Những Người Đang Ế, Fa
  • Dáng đứng Việt Nam là thi phẩm cuối cùng của nhà thơ – chiến sĩ Lê Anh Xuân, được viết tháng 3/1968 trong những ngày khói lửa của cuộc Tổng tiến công mùa xuân Mậu Thân. Tác giả hi sinh hai tháng sau đó tại vùng phụ cận Sài Gòn vào lúc tuổi đời còn rất trẻ, để lại mùa xuân của cuộc đời cho mùa xuân đất nước.

    Viết về sự hi sinh của người lính trong cuộc chiến đấu, nhưng bao trùm lên Dáng đứng Việt Nam không phải là âm hưởng bi thương của nỗi đau và sự mất mát mà vượt lên trên, bài thơ tôn vinh cái đẹp và sự cao cả, trở thành biểu tượng chiến thắng của lí tưởng cách mạng. Hình ảnh người chiến sĩ giải phóng quân hi sinh trên sân bay Tân Sơn Nhất với tư thế hiên ngang, lẫm liệt trong Dáng đứng Việt Nam đã trở thành một bức tượng đài đầy tính biểu cảm:

    Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất

    Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

    Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

    Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

    Hình ảnh bi tráng về tư thế hi sinh của người chiến sĩ giải phóng quân đã làm cho quân giặc vô cùng khiếp sợ:

    Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đoàng hoàng nổ súng tiến công.

    Việc kết hợp hai phạm trù thẩm mĩ tương phản trong cùng một khổ thơ đã tạo cho tác phẩm sức gợi tả đặc biệt, đó là sự đốì lập giữa tư thế hiên ngang của người chiến sĩ giải phóng quân và nỗi đớn hèn, khiếp sợ của giặc Mĩ. Những câu thơ được viết lên bằng một trường liên tưởng hết sức mãnh liệt của tác giả khiến hình ảnh người chiến sỹ giải phóng quân trở nên lớn lao và kì vỹ.

    Anh tên gi hỡi Anh yêu quý

    Anh vẫn đứng lặng im như bức tường đồng

    Như đôi dép dưới chân Anh dẫm lên bao xác Mĩ

    Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

    Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

    Anh chẳng để lại gì cho Anh trước lúc lên đường

    Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ:

    Anh là chiến sỹ giải phóng quân.

    Tên Anh đã thành tên đất nước Ôi anh Giải phóng quân!

    Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất

    Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

    Với những câu thơ mang đầy cảm xúc sử thi và chất trữ tình đậm đà, tư thế hi sinh của người chiến sĩ đã trở biểu tượng của cái đẹp và sự cao cả, hình ảnh của anh là hình ảnh của những thế hệ tuổi trẻ Việt Nam rùng rùng ra trận với niềm tin lớn lao mãnh liệt về một ngày độc lập tự do của đất nước. Nhiều người đã ngã xuống, và cũng như người chiến sĩ giải phóng quân kia, họ không để lại tuổi tên, địa chỉ, nhưng họ không bao giờ vô danh trong trái tim dân tộc, bởi thân thể và máu xương của họ đã hòa vào đất mẹ, làm nên dáng hình của đất nước, tạo dựng một Dáng đứng Việt Nam sừng sững trong thế kỉ.

    Lê Anh Xuân hi sinh trong chiến dịch Mậu Thân nãm 1968 khi chưa kịp chứng kiến mùa xuân thắng lợi, khi chưa kịp thấy những điều anh mong đợi – “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” – đã trở thành sự thực vào năm 1975. Nhưng những vần thơ của người chiến sĩ – nhà thơ ấy vẫn sông mãi, trở thành một khúc tráng ca vượt qua năm tháng để gửi tới muôn thế hệ những khoảnh khắc lịch sử về một mùa xuân bất diệt của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhớ Lê Anh Xuân Với Bài Thơ ‘dáng Đứng Việt Nam’
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dặn Con
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Dặn Con
  • Phân Tích Bài Thơ Con Cò
  • Phân Tích Bài Thơ “con Cò” Của Nhà Thơ Chế Lan Viên
  • Nhà Thơ Liệt Sĩ Lê Anh Xuân: Dáng Đứng Việt Nam Tạc Vào Thế Kỷ

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 10 Bài Thơ Hay Của Nhà Thơ Lê Anh Xuân (2021) ▶️ Wiki 1 Phút ◀️
  • Liệt Sĩ Lê Anh Xuân: Nhà Thơ, Người Chiến Sĩ
  • Nụ Tầm Xuân Nở Ra Xanh Biếc
  • “Nụ Tầm Xuân Nở Ra Xanh Biếc”
  • Nhớ Mùa Xuân Đầu Tiên Cao Bằng Đón Bác Hồ Về Nước
  • Lê Anh Xuân tên khai sinh là Ca Lê Hiến, sinh ngày 05 tháng 06 năm 1940 tại xã An Hội, thị xã Bến Tre. Anh chào đời đúng vào những ngày Nam Kì khởi nghĩa trên mảnh đất nóng bỏng truyền thống cách mạng.

                                                                                                  Nhà thơ Lê Anh Xuân

    Nguyễn Thị Ngọc Diệp – Quỳnh Linh- Đoàn Đức Phương – Diêu Lan Phương

     

    Lê Anh Xuân tên khai sinh là Ca Lê Hiến, sinh ngày 05 tháng 06 năm 1940 tại xã An Hội, thị xã Bến Tre. Anh chào đời đúng vào những ngày Nam Kì khởi nghĩa trên mảnh đất nóng bỏng truyền thống cách mạng.

    Lê Anh Xuân lớn lên trong một gia đình trí thức yêu nước. Anh là con trai thứ của nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học – GS. Ca Văn Thỉnh. Lúc nhỏ Lê Anh Xuân sống với cha mẹ ở vùng kháng chiến miền Tây Nam Bộ. Cuối năm 1952, anh vào làm việc ở nhà in Trịnh Bình Trọng của Sở Giáo dục Nam Bộ. Lúc này Lê Anh Xuân mới 12,13 tuổi nhưng đã bắt đầu làm thơ đăng báo tường của nhà in.

    Năm 1954, Lê Anh Xuân theo gia đình tập kết ra Bắc, học ở trường học sinh miền Nam (Hải Phòng), Trường cấp 3 phổ thông Nguyễn Trãi (Hà Nội) rồi thành sinh viên khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tốt nghiệp đại học, Lê Anh Xuân được giữ lại làm phụ giảng một thời gian ngắn rồi được cử đi học tập, nghiên cứu thêm ở Liên Xô, nhưng anh tình nguyện trở về quê hương miềnNam(cuối 1964). Ban đầu, anh công tác ở Tiểu ban Giáo dục thuộc Ban tuyên huấn Trung ương cục, sau đó, tháng 07 năm 1965, anh chuyển sang công tác ở Hội Văn nghệ giải phóng.

    Lê Anh Xuân hi sinh ngày 24 tháng 05 năm 1968 trong đợt II chiến dịch Mậu Thân tại ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (phụ cận Sài Gòn).

    Những tác phẩm đã xuất bản của Lê Anh Xuân gồm có: Tiếng gà gáy (thơ, 1965), Có đâu như ở miền Nam(thơ, in chung, Nxb Thanh niên,1968), Hoa dừa (thơ, Nxb Giải phóng, 1969), Nguyễn Văn Trỗi (trường ca, 1969), Chào anh giải phóng quân (tập thơ, in chung, Nxb Quân đội nhân dân, 1972), Thơ Lê Anh Xuân(tuyển thơ, 1981). Ngoài ra anh còn có tập văn xuôi Giữ đất (1966). Lê Anh Xuân đã được nhận giải nhì cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ năm 1960 với bài Nhớ mưa quê hương. Với những đóng góp to lớn, anh đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.  

     

    Hồ sơ của Nhà thơ Lê Anh Xuân tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.

    Trong hàng vạn bộ hồ sơ của cán bộ đi B đang được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III có một bộ hồ sơ giản dị, mã số 1429 mang tên Ca Lê Hiến. Đây chính là hồ sơ của nhà thơ, liệt sĩ Lê Anh Xuân, tác giả của bài thơ nổi tiếng “Dáng đứng Việt Nam” từng được đưa vào sách giáo khoa phổ thông đồng thời được phổ nhạc thành một khúc tráng ca ngập tràn xúc động:

    “Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

    Anh chẳng để lại gì cho riêng anh trước lúc lên đường

    Chỉ có dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

    Anh là chiến sĩ Giải phóng quân”…

    Bộ hồ sơ này gồm 61 trang, trong đó có Chứng minh thư, Lý lịch cán bộ, Lý lịch sinh viên, các quyết định qua các thời kỳ và một số giấy tờ khác. Tuy chỉ chứa những thông tin hết sức cơ bản và ngắn gọn nhưng người đọc cũng có thể hình dung rõ nét về một nhà thơ chiến sĩ mang trong lòng tình yêu Tổ quốc lớn lao, cháy bỏng  đặc biệt là với quê hương Miền Nam kiên cường anh dũng.

    Sinh năm 1940 trong một gia đình trí thức tại Bến Tre – Nam Bộ, lúc còn nhỏ đi học trong kháng chiến và theo cha là Ca Văn Thỉnh ở cơ quan của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, Ca Lê Hiến sớm nhận thức được tư tưởng cách mạng và có ý chí rèn luyện, phấn đấu.

    Tháng 11/1954 Ca Lê Hiến có mặt trong đoàn tập kết ra Bắc rồi theo học trường học sinh Miền Nam, cho tới năm 1959 thì vào học tại khoa Sử – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau đó tốt nghiệp và trở thành Giảng viên Đại học Tổng hợp Hà Nội.

    Trong những năm sống, học tập và làm việc ở miền Bắc, Ca Lê Hiến luôn mang nặng trong lòng nỗi nhớ thương đối với miền Nam, với mảnh đất Bến Tre quê hương ông. Được cử đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài nhưng Ca Lê Hiến đã một mực từ chối, quyết tâm trở về Nam chiến đấu.

    “Nguyện vọng và cũng là quyết tâm của tôi là được về Nam Bộ tham gia kháng chiến cùng bà con quê hương trong ấy.

    Hiện nay chuyên môn của tôi là giảng dạy môn Lịch sử thế giới cổ đại ở Trường Đại học Tổng hợp nhưng về miền Nam tôi có thể dạy các môn khoa học xã hội cả Văn, Sử… Ngoài chuyên môn ra, tôi có khả năng tham gia công tác báo chí hoặc sáng tác thơ. Ngoài công tác giáo dục, tôi rất muốn được tham gia công tác về văn học nghệ thuật ở miền Nam, tôi có thể đi bất cứ nơi nào Đảng cần đến.

    Nguyện vọng và quyết tâm của tôi là được về miền Nam, về lại quê hương tôi” (Tờ 25- Hồ sơ 1429, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, TTLTQGIII)

    Trong Lý lịch Cán bộ, phần khai về gia đình, Ca Lê Hiến còn ghi rõ: “ Tôi có vợ chưa cưới tên là Bùi Xuân Lan hiện đang học năm thứ ba Học viện Kinh tài Thượng Hải (Trung Quốc). Bùi Xuân Lan con gia đình liệt sĩ quê ở Cần Thơ, có anh ruột là nhà văn Bùi Đức Ái, hiện đang công tác ở trong Nam. Cả hai chúng tôi đều quyết tâm đi về Nam” ( Tờ 23- Hồ sơ 1429, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, TTLTQGIII)

    Sau tất cả sự nỗ lực và quyết tâm ấy, ngày 16/9/1964, Ca Lê Hiến nhận được Quyết định điều động về Ủy ban Thống nhất Trung ương để lên đường về Nam công tác và chiến đấu. Từ đây, Ca Lê Hiến làm việc tại Ban Tuyên huấn Trung ương Cục Miền Nam sau đó là Hội Văn  nghệ Giải phóng Miền Nam; Nhà thơ sử dụng bút danh Lê Anh Xuân.

    Những bài thơ hay nhất của Lê Anh Xuân là những bài thơ viết về miền Nam như: Tiếng gà gáy, Nhớ mưa quê hương, Trở về quê nội…

    “Ơi quê hương xanh mát bóng dừa

    Có ngờ đâu hôm nay ta trở lại

    Quê hương ta tất cả vẫn còn đây!”

    Rồi:

    “ Quê nội ơi, mấy năm trời xa cách

    Đêm nay ta nằm nghe mưa rơi

    Nghe tiếng trời gầm xa lắc

    Cớ sao lòng thấy nhớ thương”…

    Khi trở về giữa lòng miền Nam yêu dấu và khói lửa, nhà thơ lại viết “Gửi miền Bắc” thể hiện nỗi khát khao về một đất nước thống nhất, hòa bình.

    Năm 1966, được kết nạp vào Đảng, Lê Anh Xuân càng hăng hái công tác, nhà thơ liên tục xung phong đi khắp Nam Bộ tìm hiểu sâu sát thực tế để sáng tác. Mùa xuân năm 1968, lấy cảm hứng từ chiến dịch Mậu Thân, Lê Anh Xuân viết “Dáng đứng Việt Nam”:

    “ Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất

    Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

    Và anh chết trong khi đang đứng bắn

    Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng…

    Anh tên gì hỡi anh yêu quý

    Anh vẫn đứng lặng yên như bức thành đồng

    Như đôi dép dưới chân anh dẫm lên bao xác Mỹ

    Mà vẫn một màu bình dị sáng trong! …”

    Bài thơ ngay lập tức nổi tiếng bởi cái “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” ấy. Nhưng như là định mệnh, chưa đầy hai tháng sau, nhà thơ hy sinh khi quân đội Mỹ tổ chức một trận tấn công càn quét  tại Long An.

    Hai mươi tám tuổi thanh xuân, chưa lập gia đình, có một người yêu xa xứ, nhà thơ chiến sĩ đã nằm lại chiến trường. Bảy năm sau, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hòa bình, thống nhất, độc lập.

     Hồ sơ của nhà thơ Lê Anh Xuân, người con của quê hương Nam Bộ được lưu cùng với những hồ sơ đồng đội của anh. Vẫn còn đó nét chữ nghiêng nghiêng mà rắn rỏi “quyết về Nam”, vẫn còn đó tấm hình anh trong cuốn Chứng minh thư với gương mặt trẻ trung và đôi mắt thẳm sâu như đang dõi về ngày chiến thắng. Còn đó những người ở lại, nhớ anh và yêu mến thơ anh nên viết về anh.

    Ths. Nguyễn Thị Ngọc Diệp – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III

     

     

    THƠ LÊ ANH XUÂN

     

    Nhớ cơn mưa quê hương

     

    Quê nội ơi

    Mấy năm trời xa cách

    Đêm nay, ta nằm nghe mưa rơi

    Nghe tiếng trời gầm xa lắc…

    Cớ sao lòng thấy nhớ thương.

    Ôi cơn mưa quê hương

    Đã ru hát hồn ta thuở bé,

    Đã thấm nặng lòng ta những tình yêu chớm hé.

    Nghe tiếng mưa rơi trên tàu chuối, bẹ dừa,

    Thấy mặt trời lên khi tạnh những cơn mưa.

    Ta yêu quá như lần đầu mới biết

    Ta yêu mưa như yêu gì thân thiết

    Như tre, dừa, như làng xóm quê hương.

    Như những con người biết mấy yêu thương.

    Ôi tuổi thơ, ta dầm mưa ta tắm.

    Ta lội tung tăng trên mặt nước mặt sông

    Ta lặn xuống, nghe vang xa tiếng sấm

    Nghe mưa rơi, tiếng ấm tiếng trong.

    Ôi đâu rồi những trò chơi tuổi trẻ

    Những tàu chuối bẹ dừa, những mảnh chòi nhỏ bé

    Những vết chân thơ ấu buổi đầu tiên

    Mấy tấm mo cau là mấy chiếc thuyền

    Mưa cuốn đi rồi.

    Mưa chảy xuống dòng sông quê nội

    Sóng nước quê hương dào dạt chảy về khơi,

    Chở những kỷ niệm xưa, chìm lắng bốn phương trời.

    Và ta lớn tình yêu hòa bể rộng

    Cơn mưa nhỏ của quê hương ta đã sống

    Nay vỗ lòng ta rung động cả trăm sông,

     

    Ôi cơn mưa quê hương.

    Mưa là khúc nhạc của bài ca êm mát.

    Những đêm ta nằm nghe mưa hát mưa ơi

    Nghe mưa đập cành tre, nghe mưa rơi tàu lá,

    Thầm thì rào rạt vang xa…

    Có lúc bỗng phong ba dữ dội

    Mưa đổ ào như thác dồn trăm lối.

    Giấc mơ xưa có chớp giật, sấm gầm,

    Trang sử nhỏ nhà trường bỗng hóa mưa giông.

    Nghe như tiếng của Cha Ông dựng nước,

    Truyền con cháu phải ngẩng cao mà bước

    Nghe như lời cây cỏ gió mưa.

    Đang hát tiếp bài ca bất khuất ngàn xưa…

    Mưa tạnh rồi, như mùa xuân nhẹ trổi

    Thấy sánh xanh trên những cành xanh nắng rọi

    Mưa ơi mưa, mưa gội sạch những cành non

    Mang đến mùa xuân những quả ngọt tươi ngon.

    Ôi vui quá không thấy chim đâu cả

    Mà bờ tre nghe giọng hót trong lành.

    Nhà ai đấy nhịp chày ba rộn rã,

    Làm hạt mưa trên cành lá rung rinh.

    * * *

     

    Mấy cô gái bên kia sông giặt áo

    Tay rẩy nước. Bỗng mưa rào nho nhỏ

    Cánh tay cô hay cánh gió nhẹ đưa

    Rung cành tre rơi nhỏ một cơn mưa…

    Ôi yêu quá mấy hàng dừa trước ngõ

    Rễ dừa nâu, muờn mượt gân tơ

    Đường tạnh ráo, đất lên màu tươi mởn

    Đã yêu rồi sao bổng thấy yêu hơn…

     

    Quê hương ơi, mấy năm trời xa cách

    Đêm nay ta nằm nghe mưa rơi,

    Nghe tiếng trời gầm xa lắc…

    Cớ sao lòng lại xót đau…

    Ta muốn về quê nội

    Ta muốn trở lại tuổi thơ

    Ta muốn nằm trên mảnh đất ông cha

    Nghe mưa đập cành tre, nghe mưa rơi tàu lá…

    Ôi tiếng sấm từ xa, bỗng gầm vang rộn rã…

     

     

    Dừa ơi

     

    Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ

    Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ

    Cứ mỗi chiều nghe dừa reo trước gió

    Tôi hỏi nội tôi: “Dừa có tự bao giờ?”

     

    Nội nói: “Lúc nội còn con gái

    Đã thấy bóng dừa mát rượi trước sân

    Đất này xưa đầm lầy chua mặn

    Đời đói nghèo cay đắng quanh năm”

     

    Hôm nay tôi trở về quê cũ

    Hai mươi năm biết mấy nắng mưa

    Nội đã khuất rồi xanh rì đám cỏ

    Trên thân dừa vết đạn xác xơ.

     

    Dừa ơi dừa! Người bao nhiêu tuổi

    Mà lá tươi xanh mãi đến giờ

    Tôi nghe gió ngàn xưa đang gọi

    Xào xạc lá dừa hay tiếng gươm khua.

     

    Ôi có phải nhà thơ Đồ Chiểu

    Từng ngâm thơ dưới rặng dừa này

    Tôi tưởng thấy nghĩa quân đuổi giặc

    Vừa qua đây còn lầy lội đường dây.

     

    Tôi đứng dưới hàng dừa cao vút

    Cạnh hàng dừa tơ lá mướt xanh màu

    Những công sự còn thơm mùi đất

    Cạnh những chiến hào chống Pháp năm nao.

     

    Vẫn như xưa vườn dừa quê nội

    Sao lòng tôi vẫn thấy yêu hơn

    Ôi thân dừa đã hai lần máu chảy

    Biết bao đau thương, biết mấy oán hờn.

     

    Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút

    Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng

    Rễ dừa bám sâu vào lòng đất

    Như dân làng bám chặt quê hương.

     

    Dừa bị thương dừa không cúi xuống

    Vẫn ngẩng lên ca hát giữa trời

    Nếu ngã xuống dừa ơi không uổng

    Dừa lại đứng lên thân dựng pháo đài.

     

    Lá dừa xanh long lanh ánh nắng

    Theo đoàn quân thành lá nguỵ trang

    Nếu rụng xuống dừa ơi không uổng

    Dừa lại cháy lên ánh đuốc soi đường.

     

    Đất quê hương nát bầm vết đạn

    Đã nuôi dừa năm tháng xanh tươi

    Ôi có phải dừa hút bao cay đắng

    Để trổ ra những trái ngọt cho đời.

     

    Nghe vườn dừa rì rào tiếng nhạc

    Lòng nao nao tôi nhớ nội xiết bao

    Tuổi thơ xưa uống nước dừa dịu ngọt

    Tôi biêt đâu thuở chua xót ban đầu.

     

    Tôi ngước nhìn mùa xuân nắng dọi

    Bốn mặt quê hương giải phóng rồi

    Tôi bỗng thấy nội tôi trẻ lại

    Như thời con gái tuổi đôi mươi

    Như hàng dừa trước ngõ nhà tôi.

                                                             1.1966

     

     

     

    Trở về quê nội

     

    Ôi quê hương xanh biếc bóng dừa

    Có ngờ đâu hôm nay ta trở lại

    Quê hương ta tất cả vẫn còn đây

    Dù người thân đã ngã xuống đất này

    Ta lại gặp những mặt người ta yêu biết mấy

    Ta nhìn, ta ngắm, ta say

    Ta run run nắm những bàn tay

    Thương nhớ dồn trong tay ta nóng bỏng.

     

    Đây rồi đoạn đường xưa

    Nơi ta vẫn thường đi trong mộng

    Kẽo kẹt nhà ai tiếng võng trưa

    Ầu ơ… thương nhớ lắm

    Ơi những bông trang trắng, những bông trang hồng

    Như tấm lòng em trong trắng thủy chung

    Như trái tim em đẹp màu đỏ thắm

    Con sông nhỏ tuổi thơ ta đã tắm

    Vẫn còn đây nước chẳng đổi dòng

    Hoa lục bình tím cả bờ sông.

     

    Mẹ lưng còng tóc bạc

    Ngậm ngùi kể chuyện ta nghe

    Tám em bé chết vì bom xăng đặc

    Trên đường đi học trở về

    Giặc giết mười người trong một ấp

    Bà con khiêng xác chất đầy ghe

    Chở lên Bến Tre đấu tranh với giặc

    Làng ta mấy lần bom dội nát

    Dừa ngã ngổn ngang, xơ xác bờ tre,

    Mẹ dựng tạm mái lêu che mưa che gió.

    Ta có ngờ đâu mái lều của mẹ

    Dưới lớp đất kia ngọn lửa vẫn còn

    Mẹ ta tần tảo sớm hôm

    Nuôi các anh ta dười hầm bí mật

    Cả đời mẹ hy sinh gan góc

    Hai mươi năm giữ đất, giữ làng

    Ôi mẹ là bà mẹ miền Nam.

     

    Ta có ngờ đâu em ta đấy

    Dưới mái lều kia em đã lớn lên

    Em đẹp lắm như mùa xuân bừng dậy

    Súng trên vai cũng đẹp như em

    Em ơi! Sao tóc em thơm vậy

    Hay em vừa đi qua vườn sầu riêng?

    Ta yêu giọng em cười trong trẻo

    Ngọt ngào như nước dừa xiêm

    Yêu dáng em đi qua cầu tre lắt lẻo

    Dịu dàng như những nàng tiên

    Em là du kích, em là giao liên

    Em chính là quê hương ta đó

    Mười một năm rồi ta nhớ, ta thương

     

    Đêm đầu tiên ta ngủ giữa quê hương

    Sao thấy lòng ấm lạ

    Dù ngoài trời tầm tã mưa tuôn

    Tiếng đại bác gầm rung vách lá

    Ôi quê hương ta đẹp quá!

    Dù trên đường còn những hố bom

    Dù áo em vẫn còn mảnh vá

    Chỉ có trái tim chung thủy, sắt son

    Và khẩu súng trong tay cháy bỏng căm hờn.

                                                                             9.1965

     

     

     Nguyễn Văn Trỗi

     

    Khi Anh gọi Bác ba lần

    Lòng anh như thấy được gần Bác thêm

    Anh chưa được tận mắt nhìn

    Nhưng hình ảnh Bác trong tim vẫn ngời

    “Cháu yêu Bác lắm, Bác ơi!

    Những năm kháng chiến từ hồi còn thơ

    Trung thu gặp Bác trong mơ

    Kính yêu cháu hát: “Bác Hồ Chí Minh”…

    Giờ đây trước phút tử hình

    Cháu như thấy Bác đang nhìn cháu đây

    Bác hôn cháu, Bác cầm tay

    Cháu hôn lại Bác sáng nay ba lần”

    Muôn năm! Muôn năm! Muôn năm!

    Triệu người đáp lại ầm ầm bốn phương

    Tiếng hô gặp núi, núi vang

    Gặp sông, sông hát, gặp rừng, rừng ca

    Bác Hồ khi hiện vào ta

    Như tên bật ná, thác sa khỏi ghềnh

    Ôi ba tiếng Hồ Chí Minh!

    Đã thành vũ khí, đã thành niềm tin

    Đã thành lời hứa thiêng liêng

    Lửa thiêu chẳng cháy, đá nghiền chẳng tan

    Cổ gông cổ vẫn thét vang

    Tay còng tay vẫy vẫn ngàn cánh tay

    Bác là non nước, trời mây

    Việt Nam có Bác mỗi ngày đẹp hơn

    Còn cao hơn đỉnh Thái Sơn

    Nghìn năm chung đúc tâm hồn ông cha

    Điệu lục bát, khúc dân ca

    Việt Nam là Bác, Bác là Việt Nam

    “Việt Nam muôn năm!”

    Việt Nam, Tổ quốc muôn năm

    Nơi ta yêu quý muôn vàn của ta

    Dù đây trường bắn Chí Hòa

    Đất chân ta đứng vẫn là của ta

    Sau lưng ta cả quê nhà

    Nơi lưng ta tựa ấy là Trường Sơn

    Là bờ ruộng, lối cỏ mòn

    Đỏ tươi bông gạo, biếc rờn ngàn dâu

    Là Thu Bồn mặt nước xao

    Dòng sông tuổi nhỏ rì rào hát ca

    Là hàng ớt đã ra hoa

    Đám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông

    Là trưa tiếng mẹ ru nồng

    Tiếng thoi lách cách bên nong dâu tằm

    Là Việt Nam! Là Việt Nam!

    Biển Đông một dải xanh lam cõi bờ

    Việt Nam đất nhạc, đất thơ

    Chân mây điểm trắng cánh cò quê hương

    Đầm sen nở trắng, nở hường

    Đêm trăng thơm dịu những đường sầu riêng

    Việt Nam xứ sở thần tiên

    Bốn mùa một sắc trời riêng đất này

    Xóm làng, đồng ruộng, rừng cây

    Non cao gió dựng, sông đầy nắng chan

    Sum sê xoài biếc, cam vàng

    Dừa nghiêng cau thẳng hàng hàng nắng soi

    Có nơi đâu đẹp tuyệt vời

    Như sông, như núi, như người Việt Nam

    Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang

    Cà Mau cuối đất mỡ màng phù sa

    Trường Sơn chí lớn ông cha

    Cửu Long lòng mẹ bao la sóng trào

    Mặt trời ánh sáng tự hào

    Dáng đi cũng lấp lánh màu tự do

    Bốn ngàn năm dựng cơ đồ

    Vạn năm từ thuở ấu thơ loài người

    Ôi Việt Nam! Việt Nam ơi!

    Việt Nam, ta gọi tên Người thiết tha.

     

     

     

    Dáng đứng Việt Nam

     

    Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất

    Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

    Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

    Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

     

    Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng

    Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

    Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

    Vẫn đứng đoàng hoàng nổ súng tiến công

    Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

    Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

    Như đôi dép dưới chân Anh dẫm lên bao xác Mỹ

    Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

    Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

    Anh chẳng để lại gì cho Anh trước lúc lên đường

    Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ:

    Anh là chiến sĩ giải phóng quân.

    Tên Anh đã thành tên đất nước

    Ôi anh Giải phóng quân!

    Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất

    Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

     

    3.1968

    Ngay khi mới gặp bà Ca Lê Du, tôi đã muốn gọi ngay là má, “má Bến Tre”. Cái gợi rất xứ sở từ má đã đến không phải bởi hình ảnh mái tóc dài vì má không còn búi tóc, hay vì giọng nói đặc Bến Tre. Nó đến từ chính bộ bà ba đen cùng chiếc khăn rằn quen thuộc mà má đã mặc và đặc biệt là những ký ức và nỗi nhớ khôn nguôi về người em ruột tên Ca Lê Hiến, có bút danh là Lê Anh Xuân. Nhà thơ Lê Anh Xuân là tác giả tác phẩm “Tiếng gà gáy”,  đặc biệt nổi tiếng với bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”.

     

     

     

    Tôi tên là Ca Lê Du, đến từ tỉnh Bến Tre, quê hương Đồng Khởi. – Má giới thiệu rõ là vậy khi bắt đầu trò chuyện cùng tôi. – Từ năm 1950, mới 16 tuổi, tôi đã tham gia hoạt động phụ nữ ở cơ quan phụ nữ Nam Bộ. Dòng máu cách mạng, tinh thần cách mạng ở sẵn trong tôi. Ba mẹ tôi cũng đều hoạt động cách mạng. Năm 1954, dù cả nhà đã tập kết ra Bắc, nhưng tôi còn trẻ, đang sôi sục, hừng hực, ham tiến bộ, ham đấu tranh nên sẵn sàng tình nguyện ở lại chiến đấu, không suy nghĩ. Tôi có thuận lợi là hội trưởng hội phụ nữ một xã của huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre nên trong các cuộc đấu tranh quy mô luôn có mặt. Tôi tham gia đấu tranh trong đội quân tóc dài. Gia đình của tôi, chồng cũng thoát ly tham gia cách mạng, ở nhà tôi vừa hoạt động vừa nuôi ba đứa con, phải làm sao vừa công tác được vừa sản xuất được. Tôi tính toán, sắp xếp trong ngày, ví dụ đi đấu tranh buổi sáng thì buổi chiều tôi ra đồng lao động làm 3 công ruộng, hoặc ngược trở lại. Nhờ vậy, tôi vừa nuôi con vừa đóng góp nuôi quân, nuôi bộ đội.

    Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, má Ca Lê Du đã mất đi người chồng và một người em trai. Má đã vượt qua nỗi đau để tiếp tục chiến đấu. Người em trai đó là nhà thơ Lê Anh Xuân. Má tâm sự: Ca Lê Hiến là đứa em tôi thương nhiều nhất. Hai chị em đã cùng chứng kiến, cùng vượt qua bom đạn của kẻ thù. Năm 1965 em tôi về, đến năm 1968, em tham gia Chiến dịch Mậu Thân và hy sinh. Khi biết tin mất mát, tôi đau lắm. Sau 10 năm đi tập kết, khi đã là giảng viên đại học, chuẩn bị đi nghiên cứu sinh, nhưng em tôi đã kiên quyết trở lại miền Nam chiến đấu. Khi về tiểu ban văn nghệ ở quê hương, em đã tìm về quê nội ở tận Tân Thành Bình, tỉnh Bến Tre thăm nhà, thăm chị. Tôi không thể nào quên buổi chị em gặp nhau lần đầu tiên sau 10 năm xa cách ấy. Hồi đó, tôi là cán bộ phụ nữ, đi công tác, không có mặt ở nhà lúc em nó về. Đang làm thì có người gọi: Chị Ba ơi, chị về có khách. Tôi vội vã về liền. Về đến nhà, thấy nó đang đứng trước cửa, tôi sững lại. Rồi hai chị em tiến đứng cạnh nhau, không nói được tiếng nào. Một lúc sau, tôi mới nói: Hiến! Lúc ấy, hai chị em mới ôm nhau khóc. Vẫn biết là em nó về miền Nam rồi nhưng mình đâu có biết lúc nào được gặp. Người gọi tôi cũng không báo là ai đến nhà nữa nên tôi vừa thấy vui vừa xúc động. Nỗi xúc động quá đột ngột. Nó nhìn thấy ba đứa con của tôi, biết tôi vừa hoạt động vừa nuôi con nhỏ thì rất thương. Tính đến giờ đã là 50 năm mà sao kỷ niệm đó vẫn làm tôi nhớ hoài.

    Hồi nhỏ, hai chị em tôi cũng rất gắn bó. Năm 1945, ba má tôi đi thoát ly, tham gia kháng chiến, để năm chị em tôi ở với ông bà nội, mà Hiến là nhỏ nhất, lúc ấy mới 5 tuổi. Hiến sinh năm 1940. Tôi khi ấy 12 tuổi. Chị em quấn quýt với nhau, thương nhau lắm. Chúng tôi thường cùng nhau leo trèo hái trái cây, nào là vú sữa, nào là khế, là dừa… Hiến là con trai nhưng hiền lắm, hiền nhất nhà, như con gái. Tôi thương và nhớ Hiến nhất trong số các em. Hiến từng làm bài thơ “Trở về quê nội” chính là từ tình cảm trong thời gian ở chung với ông bà nội đó. Sau khi thoát ly đi hoạt động về gặp ba tôi, năm 1949, má tôi mới sinh thêm một em nữa. Vậy là nhà tôi có 6 anh chị em. Anh hai là Ca Lê Dân, dưới tôi là Ca Lê Thuần (nhạc sĩ), Ca Lê Hồng (đạo diễn, NSƯT), đến Ca Lê Hiến (chính là nhà thơ Lê Anh Xuân) và út là Ca Lê Thắng. 

    Dịp Hiến về, đồn bốt giặc giăng đầy, đêm đến, chúng tôi đi phá. Lần chúng tôi đi phá lộ cho giao thông đứt đoạn, Hiến bảo tôi: Chị Ba ơi, chị Ba dắt em đi phá với! Thấy em hăng hái quá, tôi đã đưa em đi cùng. Sau lần đó, Hiến đã sáng tác bài thơ “Phá hoại đêm trăng”. Tiếc là giờ tôi không còn nhớ câu nào của bài đó, nhưng những bài thơ khác Hiến đã làm thì tôi nhớ. Như bài “Dừa ơi!”. Tại sao phải nhớ là vì, chị em tôi ở quê hương có toàn dừa không à. Nên tôi nhớ dữ lắm. Hiến đã đọc cho tôi nghe bài này và tôi nhớ”.

    Nói rồi má Ca Lê Du đưa tay xoắn lấy chiếc khăn rằn đang khoác ở cổ, đọc chậm, vẻ rất xúc động: Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ/Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ/Cứ mỗi chiều dừa reo trước gió/Tôi hỏi nội tôi: Dừa có tự bao giờ? Tôi cũng nhớ bài thơ cuối cùng Hiến làm, đó là bài “Dáng đứng Việt Nam”. Bài thơ có đoạn thế này: Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất/Nhưng anh gượng đứng lên, tì súng trên xác trực thăng/Và anh chết khi đang đứng bắn/Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng…

    Tại sao tôi nhớ bài thơ đó nhiều biết không? Má Du hỏi tôi câu này, khi tôi cũng đang trôi mình trong hình ảnh oai hùng, bi tráng mà bài thơ mang lại. Má hỏi mà không đợi trả lời và giải thích ngay rằng, vì bài thơ này ca ngợi anh chiến sĩ Giải phóng quân đã chết trên đường băng Tân Sơn Nhất cho nên má nghĩ đến người em, cũng là chiến sĩ, là nhà thơ đã ngã xuống vì Tổ quốc… Má cũng nhớ chồng, người đã hy sinh năm 1970, sau nhà thơ Lê Anh Xuân 2 năm. Khi đó, chồng má là ủy viên Ban công vận tỉnh Bến Tre. Trên đường đi công tác, ông đã bị trúng rốc-két từ máy bay địch. Hai nỗi đau thương mất mát của gia đình má đã khiến má chảy không biết bao nhiêu nước mắt. Nhưng rồi má suy nghĩ lại rằng: “Ba đã tập kết ra Bắc, là một chiến sĩ cách mạng, còn tôi cũng tham gia phong trào Đồng Khởi, hoạt động phụ nữ, giờ phải gạt nước mắt, cố gắng kiên định lập trường cách mạng của bản thân. Tôi tham gia lực lượng đấu tranh chính trị, làm công tác chỉ huy, cái kiên cường đã có sẵn trong lòng rồi. Tôi nghĩ phải ráng giữ vững để khi đất nước thống nhất, ba má trở về, sẽ hãnh diện khi có một đứa con trai, là nhà thơ Lê Anh Xuân, đã đóng góp xương máu cho đất nước, còn con gái, 20 năm ở lại miền Nam, công tác chiến đấu, không bị gục ngã trước bom đạn của kẻ thù… ”.

    Trước khi chia tay, má Du có nhắc đến người yêu từ ngày còn ở miền Bắc của nhà thơ Lê Anh Xuân. Đó là Bùi Xuân Lan, em của nhà văn Bùi Đức Ái (Anh Đức), tác giả tác phẩm “Hòn đất”. Hai người xa nhau khi Lê Anh Xuân trở về Nam, Xuân Lan đi học ở Trung Quốc. Trong nhật ký của Lê Anh Xuân có nhắc đến mối tình này. Giờ đây, mỗi năm vào dịp làm đám giỗ cho người em, má Ca Lê Du luôn nhận được cuộc gọi hỏi thăm của bà Xuân Lan. Và cũng ngày ấy, hằng năm, bà Xuân Lan vẫn đến viếng mộ nhà thơ Lê Anh Xuân ở Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh.

    QUỲNH LINH (BÁO QĐND)

     

    Vào những ngày cuối năm 1964, có một giảng viên sử học của Đại học Tổng hợp Hà Nội cùng đoàn cán bộ gồm các ngành văn hoá, giáo dục, y tế, điện ảnh… lên đường vào Nam. Trong đoàn cán bộ dân sự đi B năm ấy, anh thuộc số trí thức tình nguyện cầm súng lên đường nhưng không phải “xếp lại bút nghiên”. Ba lô vào trận của anh nặng vì sách giáo trình, chuyên luận. Anh lên đường với tư cách một nhà sư phạm, một nhà sử học để cùng các chuyên gia trong đoàn đảm nhận một trọng trách chung, là: Phát triển giáo dục cho các địa phương vùng giải phóng và xây dựng đội ngũ giảng viên cho một trường đại học chuẩn bị thành lập trên căn cứ địa của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Nhiều người nhận ra anh. Đó là Ca Lê Hiến – tác giả bài thơ Nhớ mưa quê hương, năm 1960 đã đoạt giải Nhì cuộc thi thơ báo Văn Nghệ. Con đường đi bộ vượt Trường Sơn vào Nam cheo leo, trùng điệp nhưng chính là con đường trở về quê mẹ. Cuộc chiến đấu gian lao và hi sinh phía trước buộc mỗi người phải chọn một mật danh hoặc một bút danh và anh đã chọn Lê Anh Xuân làm bút danh cho mình. Là người con của quê hương Bến Tre, theo cha tập kết ra Bắc, được học hành, đào tạo chu đáo, Lê Anh Xuân rất sớm trưởng thành. Tốt nghiệp khoa Lịch sử, anh được giữ lại trường, trong bộ môn Lịch sử thế giới. Là một cán bộ giảng dạy trẻ, thông minh, tài hoa thiên bẩm, anh đã được Nhà nước chọn đi nghiên cứu sinh nước ngoài. Con đường thành đạt cá nhân và một sự nghiệp khoa học đã mở ra thênh thang trước mặt, nhưng Lê Anh Xuân lại từ chối. Anh chọn con đường thứ hai bí mật vượt Trường Sơn, trở về quê mẹ. Đường ra trận, trong lòng anh, đã thành con đường hội tụ của hai tình yêu lớn: Tình yêu quê hương và tình yêu đất nước. Năm 1965, Mĩ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, châm ngòi cho một cuộc chiến tranh cục bộ hết sức khốc liệt. Cục diện chiến trường thay đổi, Trung ương Cục Miền Nam quyết định gác lại kế hoạch xây dựng trường đại học. Từ Tiểu ban Giáo dục, Lê Anh Xuân chuyển sang Tiểu ban Văn nghệ, bắt đầu làm việc với tư cách một nhà báo, một phóng viên mặt trận. 

    Từ năm ấy, những nẻo đường giao liên, những lòng thông hào chiến trận bắt đầu in dấu giày nhà báo Bến Tre yêu nước. Nhờ cảm quan sử học và trái tim thi sĩ, Lê Anh Xuân nắm bắt được rất nhanh cái chiều sâu triết học và chiều sâu thơ ca của hiện thực cách mạng miền Nam. Viết báo, làm thơ, viết kí, kể chuyện các anh hùng, bút danh Lê Anh Xuân đã thành cái tên quen thuộc, yêu thương đối với độc giả Tạp chí Văn nghệ giải phóng và đồng bào hai miền Nam, Bắc. Các tập thơ Tiếng gà gáy (1965), Không có đâu như ở miền Nam (1965), trường ca Nguyễn Văn Trỗi (1968) tập truyện kí Giữ đất, các bài thơ sau này in trong tập Hoa dừa (1971)… đã làm đồng bào và chiến sĩ cả nước xúc động và nhận ngay ra phong cách của một tài năng đã từng báo hiệu qua Nhớ mưa quê hương năm xưa. Lê Anh Xuân vẫn rong ruổi trên các nẻo đường chiến trận. Các bài thơ Dừa ơi, Về Bến Tre, Trở về quê nội, Không đâu như ở miền Nam… liên tục được phát trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam đã lay động tâm hồn đồng bào, chiến sĩ cả nước. Khát khao cống hiến, khát khao khám phá hiện thực và sáng tạo nghệ thuật, nhà thơ không chịu ngồi yên trong căn cứ địa. Anh tìm mọi cơ hội tham gia các trận đánh, không bằng lòng với chỗ đứng an toàn, tuy rất chính đáng của một nhà thơ. Anh không muốn chỉ làm người đứng ở đằng xa, làm chứng nhân lịch sử. Năm 1968, Lê Anh Xuân lên đường, bước vào đợt II của chiến dịch Tổng tấn công Mậu Thân. Trước khi xuất phát, anh gửi lại cho Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Giải phóng một bài thơ anh đã thức viết thâu đêm. Đó là bài thơ viết về cái chết anh hùng, hiên ngang và bi tráng của một chiến sĩ vô danh trên sân bay Tân Sơn Nhất: Bài thơ Dáng đứng Việt Nam. Thật đau lòng, tác giả đã không bao giờ trông thấy bài thơ của mình in trên mặt báo nữa. Ngày 24 tháng 5 năm 1968, Lê Anh Xuân đã hi sinh trên mặt trận phía tây Sài Gòn. Lê Anh Xuân ra đi nhưng Dáng đứng Việt Nam của anh ở lại. Bài thơ nhanh chóng trở thành bài ca yêu thích đầu lòng của lớp lớp những người cầm súng. Khi hình dung, tưởng tượng về người giải phóng quân hi sinh trong tư thế đứng bắn ở đường băng, ra đi không để lại tên tuổi…, nhiều cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đồng khoa thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lại tưởng nhớ tới dáng người thanh mảnh, khuôn mặt tươi sáng của thầy Ca Lê Hiến năm nào trên đất Bắc. Vì Tổ quốc cần, anh đã gác lại một sự nghiệp khoa học. Nhưng bù vào đó anh đã tạo cho mình một sự nghiệp thi ca. Và điều quan trọng nhất, là bằng thơ ca và bằng tấm gương chiến đấu hi sinh, anh đã góp mình “làm nên lịch sử”. Nửa thế kỉ qua, trong tâm niệm của hàng triệu học sinh, sinh viên và độc giả thơ Việt Nam, Lê Anh Xuân là một anh hùng. Để tri ân và lưu giữ những kỉ vật tinh thần vô giá của các liệt sĩ vốn là cán bộ, sinh viên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm xưa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã xuất bản cuốn Còn lại với thời gian. Trong danh sách tiểu sử và các trang văn liệt sĩ, bên cạnh các tên tuổi: Nhà văn, Anh hùng LLVT – Liệt sĩ Chu Cẩm Phong, Nhà báo – Liệt sĩ Hồng Tân (người hi sinh bên cạnh Lê Anh Xuân), Nhà thơ – Liệt sĩ Nguyễn Trọng Định, Nhà thơ – Liệt sĩ Vũ Dũng … tên tuổi Lê Anh Xuân đã khai trang, sáng lên với tư cách một nhà giáo – nhà thơ chiến trận. Ngày 18 tháng 5 năm 2011, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức cuộc toạ đàm về cuộc đời và sự nghiệp Lê Anh Xuân. Tại diễn đàn văn hoá và thi ca này, cán bộ và sinh viên Nhà trường rất xúc động và phấn khởi khi biết tin Thành uỷ và UỶ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ đạo Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Thành phố xây dựng hồ sơ để đề nghị Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho Liệt sĩ Lê Anh Xuân. Cũng chính từ cuộc toạ đàm này, những trang nhật kí của Lê Anh Xuân, qua giọng đọc của nhà giáo, NSUT Ca Lê Hồng (người chị gái của Liệt sĩ) đã làm hội trường xúc động. Các cán bộ khoa học, cán bộ giảng dạy, sinh viên và Lãnh đạo nhà trường ý thức ngay rằng, Nhật kí Lê Anh Xuân là một kỉ vật vô giá. Công việc được khẩn trương triển khai. Nhờ những nỗ lực sưu tầm, tìm kiếm, liên lạc của Hội Cựu chiến binh, của Ban Giám hiệu Nhà trường, nhờ sự hợp tác giúp đỡ của gia đình Liệt sĩ, của Bảo tàng tỉnh Bến Tre, bản thảo Nhật kí Lê Anh Xuân đã lên khuôn chữ ấn loát. Việc xuất bản Nhật kí là đáp ứng nguyện vọng, mong mỏi chung của nhiều cơ quan văn hoá, khoa học, các tổ chức chính quyền địa phương và độc giả yêu thơ cả nước. Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tình nguyện xuất bản cuốn nhật kí này. Ngoài mục tiêu giới thiệu một di sản văn hoá – tư tưởng, đối với Nhà xuất bản, cuốn sách còn có ý nghĩa như một sự tri ân đồng nghiệp. Bởi vì Tạp chí Văn nghệ Giải phóng, nơi nhà thơ Lê Anh Xuân làm việc, chính là tổ chức văn hoá tiền thân của Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay. 

    Trong lần xuất bản này, chúng tôi chưa thật yên tâm về phương diện văn bản học. Lí do là vì trong nguyên bản Nhật kí còn rất nhiều quãng thời gian bỏ trống (có thể do cuộc chiến đấu căng thẳng mà việc ghi nhật kí bị gián đoạn hoặc cũng có thể những khoảng thời gian này được ghi ở những cuốn sổ khác?). Bên cạnh đó, còn khá nhiều câu chữ tác giả viết theo kiểu kí hiệu, không thể giải mã. Khi ghi nhật kí, tác giả không thể biết những chuyện riêng tư, “độc thoại” của mình lại có ngày ra ngoài ánh sáng, thành chuyện chung cho triệu người cùng biết. Tuân thủ quy luật đặc thù của thể loại nhật kí và tôn trọng tính chân thực của nguyên tác, chúng tôi đề nghị Nhà xuất bản giữ nguyên nội dung hiện trạng. Nhân dịp Nhật kí Lê Anh Xuân ra mắt bạn đọc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn xin trân trọng cảm ơn Nhà xuất bản Văn hoá văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh vì sự thịnh tình hợp tác, chân thành cảm ơn gia đình Liệt sĩ đã hết sức giúp đỡ, cảm ơn sự phối hợp, hỗ trợ thông tin và các tư liệu lịch sử của các nhà văn: Anh Đức, Lê Văn Thảo, Viễn Phương, Từ Sơn, Lê Quang Trang, đặc biệt là các cán bộ Bảo tàng Bến Tre – tỉnh Bến Tre trong quá trình biên tập cuốn sách này. Nhân dịp xuất bản cuốn nhật kí, chúng tôi thiết tha mong mỏi tiếp tục được nhận về phòng Truyền thống Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội) các kỉ vật, ảnh lưu niệm, các trang văn di cảo của Liệt sĩ Lê Anh Xuân có thể còn đang được lưu giữ rải rác trong sổ tay các nhà văn, nhà báo và các đồng chí, đồng nghiệp cùng công tác, chiến đấu với Liệt sĩ năm xưa. Trong khi chờ đợi cơ hội sẽ được bổ sung thêm những tư liệu và những trang nhật kí mới, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn xin trân trọng giới thiệu Nhật kí Lê Anh Xuân với các cán bộ, sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội và bạn đọc gần xa.

     

    LIỆT SĨ LÊ ANH XUÂN: NHÀ THƠ, NGƯỜI CHIẾN SĨ

    Trong những lớp nhà thơ trẻ xuất hiện từ những năm tháng chống Mỹ cứu nước, Lê Anh Xuân là một tác giả được đông đảo bạn đọc yêu thơ chăm chú theo dõi với một cảm tình đặc biệt.

    Vốn xuất thân trong một gia đình giàu truyền thống, yêu văn học và làm thơ từ nhỏ, ngay từ những bài thơ đầu tiên ra mắt người đọc Lê Anh Xuân đã được đánh giá cao. Bài thơ “Nhớ mưa quê hương” được giải Nhì cuộc thi thơ do tạp chí Văn nghệ tổ chức năm 1960 đã đánh dấu những thành công bước đầu của anh.

    Lê Anh Xuân đại diện cho một thế hệ thanh niên say mê lý tưởng, chiến đấu hy sinh vô điều kiện cho sự nghiệp cách mạng. Mặc dù chỉ sống vỏn vẹn 28 năm, nhưng 28 năm đó anh đã cùng dân tộc nếm trải hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp rồi chống đế quốc Mỹ. Những biến động của lịch sử góp phần hoàn thiện thêm hồn thơ và lòng yêu nước trong người thanh niên trẻ tuổi. Thơ anh và chính cuộc đời anh đều thể hiện sự gắn bó máu thịt với quê hương đất nước, với nhân dân, với đồng đội. Có thể nói anh là người ghi lại lịch sử bằng thơ. Lịch sử đấu tranh anh hùng của dân tộc trong kháng chiến chống Mỹ được anh phản ánh một cách sinh động, trong đó nổi bật là hình ảnh quê hương Bến Tre và những người đã dũng cảm ngã xuống vì sự trường tồn của Tổ quốc. Dù chưa đủ thời gian và điều kiện để rèn luyện, gọt giũa, tạo nên những đột phá mới cho thơ nhưng với hai tập thơ chính “Tiếng gà gáy”, “Hoa dừa” và tập trường ca “Nguyễn Văn Trỗi” đã đủ để chúng ta thấy được một phong cách riêng, một tiếng thơ say sưa trong trẻo ngợi ca đất nước, một giọng điệu nhỏ nhẹ tâm tình mà không kém phần sâu sắc.

    Năm 1954, Lê Anh Xuân theo gia đình tập kết ra Bắc. Có thể nói 10 năm sống ở miền Bắc đã để lại dấu ấn sâu sắc trong anh. Miền Bắc thân yêu cũng là chất liệu và là cảm hứng chính để anh viết nên tập thơ đầu tiên – “Tiếng gà gáy”, tập thơ chủ yếu viết về miền Bắc đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lê Anh Xuân có những cảm xúc say sưa, ngỡ ngàng trước cuộc sống bộn bề sôi động, trước bao đổi thay nhanh chóng của cuộc sống. Hiện lên trong thơ anh là những công trường, những con đường, những vùng đất, những mùa gặt… cuộc sống mới đang thay da đổi thịt từng ngày. Sự chuyển mình của miền Bắc thật mạnh mẽ và đầy chất thơ. Bất cứ nơi nào đặt chân đến ta cũng có thể nhìn thấy sự “bừng nở” của cuộc sống mới:

    “Thái Nguyên bừng nở khu gang thép

    Việt Trì khói trắng như mây trôi…”

    Anh “Lên Bắc Sơn” chứng kiến sự đổi thay nhanh chóng, xuống “Đêm Uông Bí” tưng bừng ánh điện công trường, vui mừng trước “Con đường cũ” giờ thênh thang rộng mở, tấp nập những đoàn xe qua lại… Tình yêu của Lê Anh Xuân với miền Bắc được thể hiện trực tiếp, rất sôi nổi và hào hứng:

    “Miền Bắc ơi! Sao tôi yêu quá!

    Như yêu em, yêu má, yêu ba

    Xa quê hương miền Bắc là nhà

    Tôi như lá xanh chen trong cành biếc”.

    (Mười năm)

    Có thể nói tình cảm trong trẻo, trẻ trung đã tạo nên sức lôi cuốn đặc biệt cho tập thơ đầu tay, cũng như cho bài thơ được giải báo Văn Nghệ – “Nhớ mưa quê hương” của anh. Bài thơ tuy giản dị, nhưng là những tình cảm tha thiết và chân thực, thuần khiết và sâu sắc về quê hương:

    “Mưa cuốn đi rồi

    Mưa chảy xuống dòng sông quê nội

    Sóng nước quê hương dào dạt chảy về khơi

    Chở những kỷ niệm xưa, chìm lắng bốn phương trời

    Và ta lớn tình yêu hoà bể rộng

    Cơn mưa nhỏ của quê hương ta đã sống

    Nay vỗ lòng ta rung động cả trăm sông.”

    Trong tập “Tiếng gà gáy”, ngoài hình ảnh miền Bắc luôn thường trực, hồn thơ Lê Anh Xuân còn luôn hoài niệm, nhớ nhung, ưu tư về miền Nam, về quê nội, về hàng dừa trước ngõ, về những đêm mưa, những dòng sông mà tuổi thơ anh đã từng tắm mát. Nỗi nhớ thương miền Nam vô hạn đã được thể hiện ngay trong những bài thơ day dứt viết trên quê hương miền Bắc:

    “Mưa vẫn đang trút nước

    Gió vẫn đạp cửa phòng

    Quê hương có mưa không?”

    (Đêm mưa)

    Lòng thương miền Nam chưa được giải phóng đã khiến anh khao khát được “Trở về quê nội” để tham gia chiến đấu (“Ôi ta thèm được cầm khẩu súng. Đi giữa đoàn quân cùng với bạn bè. Nằm chờ giặc trên quê hương anh dũng. Ta say nồng mùi lá rụng bờ tre”). Tập thơ “Hoa dừa” được anh viết trong thời gian làm việc và chiến đấu ở miền Nam. Trực tiếp cọ xát với hiện thực, trực tiếp tham dự, chứng kiến hiện thực khốc liệt mà anh dũng, cảm hứng về quê hương đất nước của Lê Anh Xuân được phát triển lên một tầm độ mới. Không còn là những tưởng tượng, nhớ nhung trong xa cách, những bài thơ giờ đây có khói lửa của cuộc chiến, có cái chết của những anh hùng, có sự gồng mình lên của toàn dân tộc. Những nghĩ suy, những ý tưởng được trải nghiệm qua thực tế trở nên sâu sắc và chín chắn hơn. Tập thơ ghi lại những chặng đường mà nhà thơ đã đi qua, đó là những miền đất (“Qua ấp Bắc”; “Nhìn về An Đức”, “Anh đứng giữa Tháp Mười”, “Mùa xuân Sài Gòn”, “Mùa xuân chiến thắng”…); những người anh hùng mà nhà thơ đã gặp, đã nghe thấy (“Gửi anh Tư”, “Gặp những anh hùng”, “Bài thơ Áo trắng”, “Em gái đưa đò”, “Lão du kích”, “Người mẹ trồng bông”…). Tập thơ bộc lộ sự ngỡ ngàng, khâm phục, tự hào trước những đổi thay kỳ diệu và sự anh dũng của miền Nam.

    Là một nhà thơ – chiến sĩ, thơ Lê Anh Xuân thể hiện cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Anh tốt nghiệp Khoa Lịch sử, và có thể đó là một lý do để giải thích cảm hứng lịch sử nồng đậm trong thơ anh. Những vùng đất, những con người dù vô danh hay hữu danh đều mang tư thế và tầm vóc lịch sử. Trong thơ anh không có hình ảnh của cá nhân, tất cả những tình cảm tốt đẹp nhất nhà thơ đều dành cho đất nước. Dù có “ta yêu em”, có hình ảnh anh, em, có bao cung bậc cảm xúc của tình yêu …thì tất cả đều là hiện thân của hình ảnh đất nước:

    “Yêu biết mấy khi nghe em hát

    Tiếng của em – tiếng quê hương bát ngát

    Tiếng của đồng bào đồng chí chúng ta

    Trong đau thương vẫn cất lời ca.”

    (Ta yêu em)

    Cái tôi nhà thơ đã hoà chung với cái ta dân tộc. Anh muốn dựng lên những dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ. Hình ảnh anh giải phóng quân hy sinh trên sân bay Tân Sơn Nhất trong bài thơ cuối cùng “Dáng đứng Việt Nam” như một tượng đài hùng vĩ hiện lên trên cái nền bát ngát của không gian Tổ quốc và thời gian thế kỷ. Anh là biểu tượng của dáng đứng Việt Nam:

    “Anh tên gì hỡi anh yêu quý

    Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

    Như đôi dép dưới chân anh giẫm lên bao xác Mỹ

    Mà vẫn một màu bình dị sáng trong

    Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

    Anh chẳng để lại gì cho riêng anh trước lúc lên đường

    Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

    Anh là chiến sĩ giải phóng quân”.

    Cũng như anh chiến sĩ trong thơ, ngoài khẩu súng và một tập nhật ký chiến trường, Lê Anh Xuân không mang theo gì cho riêng mình. Đồng đội liệm anh trong cánh võng, cánh võng theo anh đi suốt chặng đường Nam Bắc vượt Trường Sơn. Ngoài anh giải phóng quân, ta còn bắt gặp rất nhiều anh hùng trong thơ Lê Anh Xuân. Đó là một mảng đề tài anh tâm huyết và dành rất nhiều tình cảm. Đến dự Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ I (5.1965) anh viết “Gặp những anh hùng”. Bài thơ tuy còn dàn trải nhưng cảm xúc hồ hởi, trẻ trung, tự hào, say mê yêu nước thì như muốn tràn ra khỏi con chữ:

    “Tôi ngồi giữa bốn bề đỏ rực

    Giữa những chiếc hoa trên ngực anh hùng

    Thấy mặt mình hồng thêm sắc đỏ

    Thấy ngày mai rực rỡ trời hồng”.

    Sau “Gặp những anh hùng”, Lê Anh Xuân còn khắc họa các anh hùng như Nguyễn Văn Tư (“Gửi anh Tư”), anh hùng Huỳnh Việt Thanh (“Anh đứng giữa Tháp Mười”), chị Nguyễn Thị Châu (“Bài thơ áo trắng”), “Em gái đưa đò”, “Ông lão du kích”, “Người mẹ trồng bông”, mười hai cô gái Bến Tre lấy vai đỡ cầu cho bộ đội qua sông (“Qua cầu”), “Cô xã đội”… Có thể nói, Lê Anh Xuân biết ơn và khâm phục tất cả những con người đã cống hiến sức mình cho đất nước. Anh biết chính những con người anh dũng vô song, chính tầm vóc của miền Nam, của dân tộc ta trong thời đại đánh Mỹ ấy đã nâng cánh cho hồn thơ anh. Anh làm thơ về họ như một sự tri ân, như sự ghi chép hối hả cho kịp với những chiến công để “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”, để dáng đứng của họ được tạc vào lịch sử. Vậy nên, anh làm thơ trước hết không phải để cho thơ, thơ với anh là vũ khí, là sự cổ vũ chiến đấu, là sự ghi nhận công lao của tất cả những con người Việt Nam anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

    Trên cơ sở cảm hứng lãng mạn sử thi, Lê Anh Xuân rất có ý thức phát hiện, khái quát những phẩm chất cao đẹp của dân tộc. Một số bài ở tập “Hoa dừa” đã mang giọng “trữ tình lớn”, thể hiện khá rõ xu hướng này trong thơ anh (“Không ở đâu như ở miền Nam”, “Gửi miền Bắc”, “Chào Hà Nội”, “Chào Thăng Long”). Bài thơ cuối đời “Dáng đứng Việt Nam” có lẽ là bài thơ tiêu biểu trong quá trình vận động tư duy nghệ thuật đó. Mặt khác, Lê Anh Xuân luôn tìm tòi những hình thức thể loại để cố gắng thể hiện khái quát nhất, xứng đáng với tầm vóc của con người Việt Nam vĩ đại trong chiến đấu. “Trường ca Nguyễn Văn Trỗi” là một thể nghiệm thành công của anh trong thể loại trường ca – thể loại có khát vọng ghi lại những chiến công, những con người anh hùng mang tầm dân tộc. Chất hùng ca và tình ca trong tập trường ca này đã hoà quyện và được thể hiện một cách xúc động. Tuy thuật lại câu chuyện có thật nhưng bút pháp của tác giả ở đây thiên về lãng mạn hoá; và dù chưa thật đa dạng, biến hoá trong giọng điệu thơ, dù có những đoạn kể lể dài dòng nhưng bản trường ca về người anh hùng đã lôi cuốn người đọc bởi chính cuộc đời anh, cũng như bởi cảm xúc dạt dào, tình cảm chân thành của tác giả. Chúng ta hiểu vì sao hay nhất trong bản trường ca là những đoạn ca ngợi Tổ quốc giàu đẹp, những đoạn viết về mối tình trong sáng, thuỷ chung, về tình yêu quê hương Thu Bồn của người anh hùng bất tử. Trường ca “Nguyễn Văn Trỗi” là tác phẩm chứng tỏ sự tìm tòi sáng tạo nghệ thuật không ngừng của Lê Anh Xuân ngay cả trong hoàn cảnh chiến đấu gian khổ. Hơn nữa, nó thể hiện tư duy có xu hướng khái quát hoá về nội dung và hình thức trong thơ anh cũng như trong nền thơ ca chống Mỹ nói chung.

    Từ “Tiếng gà gáy” đến “Hoa dừa”, từ truyện ký “Giữ đất” đến trường ca “Nguyễn Văn Trỗi”, cảm hứng chủ đạo của Lê Anh Xuân vẫn là tình yêu quê hương đất nước quyện chặt với tình yêu nhân dân và lý tưởng cách mạng. Trong thơ Lê Anh Xuân có lúc trong nỗi nhớ (“Nhớ dừa”), có lúc trên đường chiến đấu (“Dừa ơi”, “Đuốc lá dừa”), có lúc trong suy tưởng (“Hoa dừa”), nó cho ta thấy tình cảm sâu sắc của nhà thơ với mảnh đất mà mình đã sinh ra. Hình ảnh dòng sông và mưa quê hương gắn với hồn thơ trong trẻo đầy sức sống của Lê Anh Xuân. Đó là những kỷ niệm, là những giọt nước tắm mát tâm hồn, là những niềm hy vọng đang thắp sáng.

    Lê Anh Xuân là nhà thơ tiêu biểu cho cảm hứng sử thi cách mạng. Anh đã cất tiếng ca tươi trẻ ngợi ca Tổ quốc anh hùng. Dù chưa đủ thời gian để hoàn thiện thêm, để những bài thơ mang tầm triết lý cao hơn, dù sự nghiệp vẫn còn dang dở, anh vẫn chưa nói hết được những gì muốn nói, nhưng trong dòng văn học cách mạng nói riêng và văn học Việt Nam nói chung, anh vẫn có một vị trí không thể thay thế. Anh đã đặt nền móng vững chắc cho một lớp nhà thơ hùng hậu sau này như Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Thanh Thảo có được những cách tân mới cho thơ. Đồng thời, cùng với hình tượng con người Việt Nam anh dũng, thông điệp của anh đã đến được với nhân loại. Theo bài báo “Thơ Việt Nam khởi sắc ở châu Á”(1), Lê Anh Xuân đã được giới thiệu trên tạp chí Shi Phyeong (Thi bình), một tạp chí chuyên về thơ và các thành tựu thi ca châu Á cấp tiến ở Hàn Quốc. Trong các từ điển và các công trình nghiên cứu văn học Việt Nam anh cũng luôn có một chỗ đứng xứng đáng. Khi nhớ về Lê Anh Xuân, GS. Vũ Dương Ninh đã nói: Nếu kể đến một người học trò cụ thể mà tôi nhớ nhất, đó là trường hợp Ca Lê Hiến, tức nhà thơ – liệt sĩ Lê Anh Xuân. Lê Anh Xuân học rất giỏi, thông minh, được giữ lại làm giảng viên Bộ môn Lịch sử thế giới, chuyên về lịch sử văn hoá Hy Lạp, La Mã. Những năm 60, Anh Xuân vào Nam công tác theo nhiệm vụ được phân công và hy sinh trong đó. Đến nay, Khoa Lịch sử vẫn tự hào vì có người học trò – nhà thơ – liệt sĩ này.

    Đoàn Đức Phương – Diêu Lan Phương

    Từ Wb. Đại học Quốc gia Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • 【Top 6 Bài Thơ Hay Của Nhà Thơ Lê Anh Xuân】Danhsachtop.net
  • Những Bài Thơ Hay Nhất Của Nhà Thơ Lê Anh Xuân
  • Dạy Trẻ Đọc Thuộc, Diễn Cảm Thơ
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam 22
  • Kỷ Niệm Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Dân Vn
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Thơ Việt Nam Quê Hương Ta

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếng Đồng Quê (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5
  • 1001 Bài Thơ Viết Về Hưng Yên Hay, Thơ Ca Ngợi Hưng Yên Quê Tôi
  • Hưng Yên Quê Tôi: Lời Gọi Mời Của Một Trái Tim Tha Thiết Yêu Quê
  • Soạn Bài: Viết Đoạn Văn Trong Văn Bản Thuyết Minh Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Lời Bài Hát Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt
  • Bộ đề đọc hiểu luyện thi THPT Quốc gia môn văn,Tuyển tập đề đọc hiểu văn bản thơ ngoài chương trình. Đọc hiểu văn bản Việt Nam quê hương ta của nhà thơ Nguyễn Đình Thi.

    Đề bài : Đọc văn bản sau và trả lời cân hỏi:

    Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    Cánh cò bay lả rập rờn

    Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều

    Quê hương biết mấy thân yêu

    Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau

    Mặt người vất vả in sâu

    Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn

    Đất nghèo nuôi những anh hùng

    Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên

    Đạp quân thù xuống đất đen

    Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa

    Việt Nam đất nắng chan hoà

    Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh

    Mắt đen cô gái long lanh

    Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung

    Đất trăm nghề của trăm vùng

    Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem

    Tay người như có phép tiên

    Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ

    Câu 1: Chỉ ra thể thơ của bài thơ trên.

    Câu 2: Chỉ ra 01 biện pháp nghệ thuật sử dụng trong đoạn trích trên,

    Câu 3: Đoạn trích trên được viết bởi những phương thức biểu đạt nào? Phương thức biểu đạt đó có biểu hiện như thế nào?

    Câu 4: Phân tích nội dung chính của đoạn trích trên, có học sinh viết: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là những người anh hùng trong gian khó vẫn luôn kiên cường, nhẫn nại, làm nên vẻ đẹp của đất nước muôn đời. Hãy chi ra lỗi sai trong diễn đạt của lời phân tích đó. ” ■

    HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾT

    Câu 1: thể thơ lục bát.

    Học sinh lưu ý chi cần chỉ ra tên gọi của thể thơ, không cần giải thích những đặc điểm của ngôn ngữ thể hiện thể’ thơ đó nếu đề bài không yêu cầu.

    Câu 2: Học sinh có thể chỉ ra một trong số những biện pháp nghệ thuật sau:

    Biện pháp so sánh: Tay người như có phép tiên

    Biện pháp nói quá: Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên

    Câu 3: Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích là biểu cảm và miêu tả.

    Biểu hiện của phương thức biếu cảm là bộc lộ cảm xúc tự hào, tâm thế hào sảng của tác giả về hình tượng đất nước.

    Miêu tả khi tác giả nói về những vẻ đẹp của đất nước về cảnh vật, thiên nhiên và con người: Đó là cảnh vật Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn/ Cánh cò bay lả rập rờn/ Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều, là những tấm gương anh hùng Đấi nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên, là những người lao động làm nghề thù công Đất trăm nghề của trăm vùng/ Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem.

    Câu 4: Lời phân tích Nhân vật trữ tình trong bài thơ là những người anh hùng trong gian khó vẫn luôn kiên cường, nhẫn nại, làm nên vẻ đẹp của đất nước muôn đời sai ở chỗ đã hiểu sai về bản chất của nhân vật trữ tình. Nhân vật trữ tình không phải là nhân vật được miêu tả trong tác phẩm mà là nhân vật bộc lộ những cảm xúc, tình cảm trong tác phẩm.Ở đoạn trích trên, nhân vật trữ tình là một người yêu nước, tự hào với vẻ đẹp của đất nước.

    Nguyễn Thế Hưng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Các Bài Thơ Quê Hương Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Quê Hương Là Gì Hở Mẹ?
  • Sách Giáo Khoa Lớp 3: 1 Bài Thơ Đề Tên 2 Tác Giả, Chủ Biên Xin Lỗi
  • Giáo Án Mầm Non Lớp 3 Tuổi
  • Bài Văn Cảm Nghĩ Của Em Về Quê Hương
  • Mẹ Tôi (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 7
  • Cảm Nghĩ Về Người Mẹ Của Em
  • Lời Bài Hát Xin Đừng Làm Mẹ Khóc
  • Ám Ảnh Màu Khăn Tang Trắng Của 3 Bé Thơ Khi Bố Chết Vì Tai Nạn, Mẹ Mất Bởi Bệnh Ung Thư
  • Bao Quang Tri : Nơi Để Nhớ Về Chế Lan Viên
  • Đọc thầm bài văn rồi trả lời câu hỏi bên dưới:

    Mẹ tôi

    Có lẽ với ai đó khi nghĩ về mẹ, về những món ăn mẹ nấu sẽ nhớ nhiều đến thứ ngon vật lạ, còn tôi đơn giản chỉ là món canh rau mồng tơi thuở ấy. Ngày đó bố mất, mẹ một mình nuôi ba anh em ăn học, bữa cơm của mấy mẹ con chẳng bao giờ có đủ thịt cá. Cơm dọn ra chỉ bát nước mắm, vài quả cà với nồi canh rau mồng tơi, gần như là ngày nào cũng vậy. Rau mẹ hái ở ngoài vườn rửa sạch, nước đổ vào nồi nổi lửa, đợi sôi lên thì thả rau, thêm ít muối trắng, bắc xuống thế là thành canh. Bữa nào mẹ đi chợ mua ít thịt bỏ vào nồi canh trở nên ngọt lạ, hôm đó tôi ăn nhiều hơn, đưa bát liên tục. Mẹ bảo: “Nấu canh có thịt dễ ăn hơn phải không con?”. Tôi ngoan ngoãn gật đầu. Thế là từ bữa đó nồi canh rau mồng tơi thay vì chỉ có nước lã đã có thêm thịt. Tôi lớn dần bên mẹ cùng với món sở trường là canh rau mồng tơi, ăn hoài thành nghiền. Mà lạ một nỗi vườn nhà tôi trồng rau gì cũng không thể phát triển được trừ rau này. Ngày tôi vào đại học, mẹ cũng ăn mừng bằng nồi canh rau mồng tơi, nhưng lần này là nấu bằng nước luộc gà. Trước hôm tôi đi, mẹ dặn đủ điều sợ con điều gì cũng không biết. Lúc mẹ tiễn ra xe, tôi chẳng dám ngoái lại nhìn nhưng qua gương chiếu hậu tôi thấy mẹ khóc. Hình ảnh mẹ gầy ốm, đứng lẻ loi cuối con đường cứ bám riết lấy tôi suốt chặng đường dài… Thời gian trôi nhanh quá! Giờ ngồi nhớ lại tất cả tôi không nghĩ gia đình mình đã trải qua những tháng ngày vất vả như thế. Niềm hạnh phúc lớn nhất của tôi lúc này là hằng ngày đi làm về nhìn thấy mẹ, cất tiếng gọi “mẹ ơi” và để tôi có thời gian bù đắp vào khoảng thời gian trước đó – khoảng thời gian mà tôi biết mẹ đã thắt lưng buộc bụng nuôi các con thành người.

    (Theo “Diễn đàn những câu chuyện cảm động về mẹ”.)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Đọc Hiểu Ngữ Văn 12
  • Một Vài Cảm Nhận Về Tập Thơ “tháng Bảy”* Của Hoàng Minh Đức
  • Trang Thơ Chủ Nhật: Mẹ Hiền Ơi, Con Đã Về Thăm
  • Chùm Thơ Mùa Đông Nhớ Thương Về Mẹ Hay Nhất
  • Lời Bài Hát Thương Nhớ Mẹ Già
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Tố Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Khổ 7 Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Hay Nhất
  • Soạn Văn Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Khổ 1
  • Phân Tích Khổ 5 Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Cảm Nhận Khổ 3 Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Hay Nhất
  • Phân Tích Khổ 3 Bài Thơ Việt Bắc Của Tác Giả Tố Hữu
  • Đề đọc hiểu về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

    Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

    “- Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

    ( việt bắc – Tố Hữu)

    Câu 1 (0.5điểm):

    Đoạn thơ trên tập trung làm nổi bật điều gi?

    Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    1. Khung cảnh chia li
    2. Tâm trạng nhớ thương của người ở lại
    3. Thiên nhiên Việt Bắc

    Câu 2 (0.5điểm):

    “Mười lăm năm” là khoảng thời gian nào?

    1. Từ Cách mạng tháng Tám đén khi người kháng chiến trở về thủ đô
    2. Từ thời kỳ kháng Nhật( khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940) đến khi người kháng chiến trở về thủ đô
    3. Từ khi giặc Pháp đến xâm lược đến khi người kháng chiến trở về thủ đô.

    Câu 3 (0.5điểm):

    Trong đoạn thơ ai là người lên tiếng trước?

      Đáp án đúng A / Khung cảnh chia li

    Câu 2: (0.5 điểm)

    – Đáp án đúng B / Từ thời kỳ kháng Nhật( khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940) đến khi người kháng chiến trở về thủ đô

    Câu 3: (0.5 điểm):

    – Đáp án đúng B / Người ở lại

    Mức không đạt(0 điểm):

    Câu 4: (0.5 điểm):

      HS nêu được : Hình ảnh diễn tả nỗi nhớ nhung, lưu luyến, bịn rịn giữa kẻ ở và người đi

    Mức chưa tối đa: (0.25 điểm):

      HS nêu được: + Bộc lộ những tình cảm , cảm xúc dạt dào

    + Bộc lộ những xúc động khó nói bằng lời

    Câu 5(1.0điểm):

    – HS nêu được 2 biện pháp: + Điêp từ “nhớ”: diễn tả nỗi nhớ tràn đầy, tha thiết

    + Hoán dụ “áo chàm”: Chỉ người Việt Bắc, diễn tả tình cảm quân dân gắn bó, tha thiết

    Mức chưa tối đa: (0.5 điểm):

    • HS nêu được một trong hai biện pháp tu từ và giá trị của biện pháp đó
    • Hoặc HS chỉ nêu được các biện pháp tu từ

    Câu 6: (1.0 điểm):

    – HS nêu được : + Hình thức đối đáp của ca dao dân ca với cặp đaị từ” mình – ta”

    + Tố Hữu vận dụng sáng tạo vào việc thể hiện những tính cảm cách mạng lớn lao

    Mức chưa tối đa: (0.5 điểm):

    • HS nêu được hình thức đối đáp của ca dao dân ca
    • Hoặc HS chỉ ra hình thức này được sử dụng để thể hiện tình cảm Cách mạng

    --- Bài cũ hơn ---

  • “việt Bắc Cũng Rất Tiêu Biểu Cho Giọng Thơ Tâm Tình Ngọt Ngào Tha Thiết Của Tố Hữu Và Nghệ Thuật Biểu Hiện Giàu Tính Dân Tộc Của Thơ Ông”. (Sách Giáo Viên Văn 12, 1992, Tr.108). Hãy Chứng Minh Điều Đó Qua Đoạn Trích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu (Văn 12)
  • Phân Tích 8 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Lớp 12
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu
  • Gia Sư Giỏi Tphcm Cảm Nhận Bài Thơ Việt Bắc
  • Đọc Hiểu Văn Bản: “Việt Bắc” (Tố Hữu)

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu
  • Tính Dân Tộc Trong Bài Thơ “Việt Bắc” Của Nhà Thơ Tố Hữu
  • Cảm Nhận Khổ 5 Bài Thơ Việt Bắc
  • Phân Tích Khổ Thơ 3 Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Việt Bắc Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca Về Cuộc Kháng Chiến Và Con Người Kháng Chiến
  • Đọc – hiểu văn bản: “Việt Bắc” (Tố Hữu) – Phần tác phẩm

    I. Đọc – Hiểu chú thích:

    1. Tác giả: Xem TẠI ĐÂY

    2. Tác phẩm:

    – Hoàn cảnh sáng tác: Việt Bắc là khu căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp. Tháng 10 – 1954, ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, các cơ quan trung ương của Đảng từ Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội.Tố Hữu cũng là một trong số cán bộ kháng chiến từng sống gắn bó nhiều năm ở Việt Bắc, nay từ biệt chiến khu về xuôi. Nhân sự kiện có tính thời sự ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc trong buổi chia tay đầy lưu luyến đó

    – Thể loại: Thể thơ lục bát.

    – Nội dung: Khúc hồi tưởng ân tình về Việt Bắc trong những năm cách mạng và kháng chiến gian khổ; bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến; bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến. Đoạn trích thuộc phần 1 của tác phẩm, tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến.

    – Bố cục (2 phần)

    + Phần 1 (20 câu đầu): Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi.

    + Phần 2 (còn lại): Lời của người ra đi với nỗi nhớ Việt Bắc.

    II. Đọc – hiểu văn bản.

    1. Những phút giây đầu tiên của buổi chia tay đầy bâng khuâng, lưu luyến giữa kẻ ở – người đi (8 câu thơ đầu).

    – Bốn câu đầu là lời ướm hỏi của người ở lại: “Mình về…..nhìn sông nhớ nguồn?”. Bốn câu sau là tiếng lòng của người cán bộ về xuôi: “Tiếng ai tha thiết….hôm nay”.

    + Câu hỏi tu từ ngọt ngào, khéo léo.

    – Cách xưng hô mình – ta và giọng điệu ngọt ngào của những câu ca dao, những câu hát giao duyên gợi nên khung cảnh chia tay bịn rịn, lưu luyến.

    – Từ ngữ mến thương, gần gũi:

    + Điệp từ “mình về”, “mình có nhớ” gợi lên một khoảng không gian, thời gian đầy ắp kỉ niệm

    + 15 năm ấy: khoảng thời gian dài của cách mạng và sự gắn bó thủy chung, tình nghĩa của người dân Việt bắc với những người kháng chiến.

    + Các tính từ: Thiết tha, mặn nồng, bâng khuâng, bồn chồn gợi lên tâm trạng xúc động, luyến lưu, bồi hồi, chưa xa đã nhớ của người về, tình cảm đậm sâu, gắn bó, ân tình.

    + Điệp từ “nhớ”gợi tả nỗi nhớ triền miên, kết hợp với lối đối đáp mình – ta trong ca dao → tình cảm thân mật, gần gũi.

    – Hình ảnh thắm đượm nghĩa tình:

    + “núi”, “sông”, “nguồn” những hình ảnh tiêu biểu của núi rừng Việt Bắc.

    + áo chàm (hoán dụ): chỉ người dân Việt Bắc Với hình ảnh chiếc áo chàm bình dị, chân thành cảm xúc của người ra đi – kẻ ở dâng trào không nói nên lời.

    + Cử chỉ: Cầm tay nhau…hôm nay, câu thơ bỏ lửng giữa chừng bằng phép tu từ im lặng→ sự luyến lưu, bịn rịn, nghẹn ngào không nói thành lời của người về.

    → Không trả lời trực tiếp vào câu hỏi của người ở lại mà chỉ qua cử chỉ, thái độ của người về đã khẳng định nghĩa tình thuỷ chung, thắm thiết của người về với người ở lại. Chuyện ân tình cách mạng đã được Tố Hữu khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu lứa đôi → nét độc đáo trong cách thể hiện. Tám câu đầu như khúc dạo đầu của bản tình ca về nỗi nhớ.

    ⇒ Tám câu đầu là khung cảnh chia tay đầy tâm trạng, bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng của kẻ ở người đi

    2. Lời của người ở lại: gợi nhớ những kỉ niệm chiến khu gian khổ mà nghĩa tình (12 câu tiếp theo)

    – Nhớ một thiên nhiên khắc nghiệt: Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù

    – Nhớ một chiến khu gian khổ, nhưng sẵn lòng căm thù giặc: bát cơm…nặng vai

    – Nhớ những sản vật của rừng: trám bùi, măng mai→ để rụng, để già→ lấy cái thừa để nói cái thiếu ( hình bóng của cán bộ, chiến sĩ)

    – Nhớ những mái nhà nghèo nhưng ấm áp tình người, tình CM: Hắt hiu…lòng son

    – Nhớ những năm đầu kháng Nhật với những địa danh lịch sử: Tân Trào, Hồng Thái

    * Với điệp khúc lặp lại ở các câu lục : mình về – mình đi, thể thơ lục bát đậm chất dân gian, biện pháp liệt kê, tiểu đối trong các câu bát. Sự phối hợp thanh điệu hài hòa giữa Bằng và Trắc giữa các câu lục – bát tạo nên giọng điệu ngân nga, trầm bổng, nhẹ nhàng, khoan thai…

    ⇒ 12 câu thơ gợi nhớ những kỉ niệm về thiên nhiên, chiến khu gian khổ và tình người Việt Bắc.

    3. Lời của người về: Nỗi nhớ những kỉ niệm sinh hoạt nghèo khổ mà ấm áp tình người (từ câu 25 đến 42)

    * Nhớ về khung cảnh Việt Bắc:

    “ Nhớ gì như nhớ người yêu

    …………………………….

    Ngòi Thia sông Đáy, suối Lê vơi đầy”

    – Biện pháp so sánh: như nhớ người yêu

    – Kết hợp điệp từ“nhớ” nhiều lần→ thể hiện nỗi nhớ da diết, quay quắt, khắc khoải về từng hình ảnh cụ thể của thiên nhiên: “trăng, núi, khói, sương…”, đến từng địa danh: “ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê – Nin…)

    → Cảnh Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp vừa hiện thực , vừa thơ mộng, thi vị, độc đáo. Tất cả đã trở thành những khoảng thời gian và không gian lung linh kỉ niệm

    * Nhớ về con người Việt Bắc:

    “Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi

    ……………………………….

    Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”.

    → Biện pháp liệt kê, điệp từ “nhớ” tiếp tục vang lên da diết: nhớ về những con người lam lũ, nghèo khổ, họ đã từng chia bùi sẻ ngọt, đồng cam cộng khổ với cán bộ, bộ đội. Nhớ đến cuộc sống sinh hoạt nghèo khổ, nhớ đến hình ảnh đồng đội, đồng chí…

    ⇒ Đoạn thơ gợi ra khung cảnh bản làng, tình người, tình quân dân của chiến khu Việt Bắc trong những năm kháng Pháp với tất cả tình cảm trìu mến, nồng hậu yêu thương của tác giả

    4. Bức tranh tứ bình (Câu 43 đến 52)

    * Sự hoà quyện giữa cảnh và người Việt Bắc:

    “ Ta về mình có nhớ ta

    ……………………………

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”.

    * Mùa đông:

    + Rừng xanh, hoa chuối đỏ → thiên nhiên thật tươi tắn, ấm áp lạ thường.

    + Người đi làm rẫy “đèo cao…thắt lưng”→ bình dị, khoẻ khoắn.

    * Mùa xuân:

    + Mơ nở trắng rừng→ màu trắng miên man, tinh khiết, trữ tình.

    + Người đan nón: dịu dàng, cần mẫn, chút chăm.

    * Mùa hè:

    + Tiếng ve, rừng phách đổ vàng → âm vang sôi động, náo nhiệt, ồn ã, màu sắc rực rỡ.

    + cô gái hái măng: cần mẫn, xinh tươi.

    * Mùa thu:

    + Ánh trăng hoà bình → không khí bình yên.

    + Tiếng hát ân tình của con người → không còn tiếng súng, mà hạnh phúc đã trở về với họ.

    → Cảnh vật thiên nhiên đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng mùa và tràn đầy sức sống. Còn con người Việt Bắc thì cần mẫn trong lao động, thuỷ chung trong tình nghĩa. Tất cả như hoà quyện với nhau tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp và nên thơ

    ⇒ Âm hưởng trữ tình tha thiết của đoạn thơ đã tạo nên một khúc ca ngọt ngào, đằm thắm về tình đồng chí, nghĩa đồng bào, tình yêu thiên nhiên, đất nước và yêu đời

    5. Khung cảnh của chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến, lập nhiều chiến công, vai trò của VB trong Cách mạng và kháng chiến (từ câu 54 đến hết)

    – Khung cảnh chiến khu:

    “Những đường Việt Bắc của ta

    ……………………………..

    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”

    → Khổ thơ với những từ láy, điệp từ, nhịp thơ vui, hình ảnh thơ hào hùng, lối thậm xưng đã làm nổi bật được không khí sôi nổi, dồn dập, náo nức, tấp nập của cuộc kháng chiến→ một khung cảnh thật hùng tráng, một khí thế vô cùng mạnh mẽ của quân và dân ta đứng lên chiến đấu vì Tổ quốc độc lập, tự do

    Những chiến công: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên …

    → những địa danh gắn với những kì tích, những chiến công mà dân tộc ta đã vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ hi sinh để lập nên

    – Cội nguồn của sức mạnh:

    + Đó là sức mạnh của lòng căm thù: “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”;

    + Sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: “Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”;

    + Sức mạnh của khối đại đoàn kết, của sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên:

    “Nhớ khi giặc đến giặc lùng

    ………………………………

    Đất trời ta cả chiến khu một lòng”

    → Tất cả tạo thành hình ảnh ‘Đất nước đứng lên”

    – Vai trò của Việt Bắc:

    “Mình về có nhớ núi non

    ………………………..

    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”

    → Việt Bắc là một chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc.

    – “Trung ương chính phủ luận bàn việc công” → Việt Bắc là,đầu não của cuộc kháng chiến, nơi có cụ Hồ soi sáng.

    “Ở đâu đau đớn giống nói

    ……………………………

    Quê hương cách mạng dụng nên Cộng hoà”.

    → Việt Bắc còn là nơi mang lại niềm tin, sức mạnh và niềm hy vọng cho mọi người dân Việt Nam.

    ⇒ Việt Bắc đã trở thành quê hương cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ bao tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng cho mọi người dân yêu nước.

    • Ghi nhớ (sgk)

    III. Tổng kết:

    1. Giá trị nội dung:

    – Việt Bắc là khúc ca hùng tráng và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước trong niềm tự hào dân tộc…

    – Việt Bắc là khúc hát ân tình chung của những người cách mạng, những người kháng chiến, của cả dân tộc qua tiếng lòng của nhà thơ. Bên cạnh đó, bài thơ còn cất lên âm hưởng anh hùng ca vang dội, đưa ta về với một thời kì lịch sử hào hùng, trọng đại của đất nước.

    2. Giá trị nghệ thuật:

    – Sử dụng sáng tạo hai đại từ “mình, ta” với lối đối đáp giao duyên trong dân ca, để diễn đạt tình cảm cách mạng

    – Bài thơ Việt Bắc thể hiện tính dân tộc đậm đà:

    + Sử dụng thành công thể thơ lục bát truyền thống.

    + Ngôn ngữ, hình ảnh mộc mạc, giản dị, quen thuộc, gần gũi, đậm sắc thái dân gian.

    + Sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật tài hoa như điệp từ, liệt kê, so sánh, ẩn dụ tượng trưng…

    + Nhịp điệu thơ uyển chuyển ngân vang, giọng điệu thay đổi linh hoạt.

    + Lối đối đáp giao duyên của ca dao dân ca (nhưng qua lớp đối thoại của kết cấu bên ngoài chính là lời độc thoại của tâm trạng).

    + Cách xưng hô mình – ta; phép điệp giàu tính truyền thống.

    + Tố Hữu phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ “Việt Bắc” Của Tố Hữu
  • Thơ Về Cafe Và Những Nỗi Buồn Tình Yêu Chất Chứa
  • Giáo Án Ptnn “ếch Con Học Bài”
  • Giáo Án: Dạy Trẻ Đọc Thơ “đèn Giao Thông”
  • Giáo Án Mầm Non Thơ Đèn Giao Thông
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100