Top #10 ❤️ Đọc Hiểu Bài Thơ Dáng Đứng Việt Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Đến Với Bài Thơ Hay: Dáng Đứng Việt Nam

Giáo Án Thơ “Em Yêu Nhà Em”

Tổng Hợp Chia Sẻ Hình Ảnh, Tranh Vẽ, Biểu Mẫu Trong Lĩnh Vực Giáo Dục

Ai Cũng Biết Bài “Em Đi Chùa Hương”, Nhưng Không Phải Ai Cũng Biết Chuyện Tình Ngang Trái Của Thi Sĩ Trong Bài Hát Này

Nhà Thơ Của “đi Chùa Hương”

“Emily, Con…” – Một Bài Thơ Bất Diệt – Chúngta.com

Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất

Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy Anh giặc hốt hoảng xin hàng

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công.

Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

Như đôi dép dưới chân Anh dẫm lên bao xác Mỹ

Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để gì lại cho riêng Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.

Tên Anh đã thành tên đất nước

Ơi Anh Giải phóng quân

Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

Lê Anh Xuân 

Lê Anh Xuân thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong máu lửa đấu tranh ở miền Nam. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, anh đã để lại thi phẩm tiêu biểu “Dáng đứng Việt Nam” từng khắc tạc vào lòng bao thế hệ.

“Dáng đứng Việt Nam” đúng như tên gọi của bài thơ, tác giả đã chớp được, bắt được hình ảnh thật tuyệt vời của người chiến sỹ anh hùng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Chỉ mấy câu đầu thôi mà hình ảnh người chiến sỹ ấy đã hiện lên thật oai hùng:

Anh ngã xuống trên đường băng

Tân Sơn Nhất

Nhưng anh gượng đứng lên tì súng

trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Người chiến sĩ giải phóng đã trúng đạn khi đang ôm súng truy đuổi giặc trên sân bay. Trúng đạn, trong khoảnh khắc “anh ngã xuống”, anh biết mình không đủ sức nâng khẩu súng, anh đã dùng ngay xác trực thăng giặc làm chỗ dựa, làm bệ tỳ để bắn tiếp. Khí thế oai hùng quyết chiến đó khiến bao tên giặc hoảng hốt tột cùng:

Chợt thấy Anh giặc hốt hoảng xin hàng

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công.

Sự quả cảm của anh khiến bao người nể phục. Hành trang anh để lại trước lúc đi xa chỉ có đôi dép vẫn “một màu bình dị sáng trong”. Nét phi thường hòa trong những gì bình thường nhất. Đôi dép anh mang trong ngày tử trận cũng đơn sơ, giản dị như chính cuộc đời anh vậy:

Không một tấm hình, không một dòng

địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho riêng anh

trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam

tạc vào thế kỷ

Điệp từ “không” nhấn mạnh phẩm chất cao cả của một người lính dũng cảm. Một sự xả thân không hề tính toán vụ lợi, vì vậy “tên anh đã thành tên đất nước”, máu anh đã hoà trong máu của đồng đội tô thắm màu cờ Tổ quốc Việt, để cho hôm nay “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”. Dáng đứng của anh và cuộc đấu tranh sôi sục của nhân dân miền Nam đã “tạc” vào lịch sử một dấu son chói lọi. Sự ra đi của người chiến sĩ trên đường băng Tân Sơn Nhất năm nào là bệ phóng đưa đất nước lên tầm cao mới.

Tổ quốc hôm nay đang bay lên trong mùa xuân mới: Mùa xuân của hoà bình, hợp tác và hữu nghị. Thắng lợi của ngày nay được vun trồng bởi máu xương của biết bao thế hệ cha anh hôm qua. Trong những ngày tháng Tư lịch sử này, bài thơ như lời nhắc nhở thế hệ trẻ phải luôn nỗ lực học tập, làm việc, cống hiến cho đất nước, đáp đền công ơn những người đã ngã xuống cho bầu trời Tổ quốc thêm xanh.

Tôi Viết Bài Thơ “Dặn Con”

Qua Hai Bài Thơ Cảnh Khuya Và Rằm T…

Bài Thơ Cây Đào

Chùm Bài Thơ Về Chú Bộ Đội

Bài Thơ “Cảnh Ngày Hè” Của Nguyễn Trãi

Nhân Vật Trong Thơ: Dáng Đứng Việt Nam

Vợ Của Nhà Thơ (Nhà Khoa Học, Nhà Dân Chủ, Nhà Dấn Thân, Nhà Nhà…)

Nguyen Huy Thiep: Tuoi Hai Muoi Yeu Dau

Phân Tích Bài Thơ “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Câu Thơ: Cảm Ơn Đời Mỗi Sớm Mai Thức Dậy/ta Có Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương Của Ai?

Cảm Ơn Đời Mỗi Sớm Mai Thức Dậy

“Anh tên gì hỡi anh yêu quý!”

“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công”

(trích bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân)

Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” là một trong những tác phẩm cuối cùng của nhà thơ Lê Anh Xuân. Trong di sản của mình, có lẽ đây là tác phẩm đã làm nên tên tuổi Lê Anh Xuân trở thành một cây đại thụ trong làng thơ ca Việt Nam cận hiện đại. “Dáng đứng Việt Nam” cũng đã trở thành hình tượng người anh hùng, đại diện cho chí khí chiến đấu bất khuất của bộ đội cụ Hồ cho đến ngày hôm nay.

Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, rất nhiều thế hệ đã yêu và say mê những câu từ chân chất mà đầy hình tượng bi tráng của bài thơ, đặc biệt là với người lính. Thế nhưng, ít ai biết hình tượng ấy có nguyên mẫu từ đâu, đến chính nhà thơ Lê Anh Xuân khi viết bài thơ này cũng không biết người chiến sĩ bất khuất, kiên cường ấy là ai. Bởi thế, nhà thơ mới viết:

“Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ

Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ”

(trích bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân)

Cựu chiến binh Vũ Chí Thành – nguyên Trung đội phó Trung đội đại liên – Tiểu đoàn 16, tiết lộ: “Nguyên mẫu của người chiến sĩ trong bài thơ này là anh Nguyễn Công Mẹo, nguyên quán ở thôn Đồng Vinh 1, xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa và 1 chiến sĩ nữa mà anh em chứng kiến không biết tên”.

Theo ông Thành, sau trận đánh vào Tân Sơn Nhất, 2 đại đội đánh sâu vào sân bay chỉ còn vài người còn sống và bị thương nặng. Sau khi về đến bộ chỉ huy có kể lại tình hình chiến đấu cho chỉ huy, trong đó có nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ đang theo đoàn quân chiến dịch.

Trận đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất tết Mậu Thân đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam như 1 trong những trận đánh ác liệt nhất

Dựa vào lời kể của các chiến sĩ vừa về từ chiến địa, nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ viết bài ký “Thư Tân Sơn Nhứt” vào ngày 2/2/1968 với nhiều câu chuyện chiến đấu quả cảm của các đơn vị tham chiến như Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 267, Tiểu đoàn 12 đặc công, Biệt động thành Gò Môn…

Trong bài ký này có đoạn miêu tả về 2 người chiến sĩ kiên cường, đã chết nhưng vẫn tì thân trên xác xe thiết giáp M41 đã bị bắn cháy. 2 anh đã chết nhưng tay vẫn ôm chặt súng, thân tì trên xác xe nên không ngã xuống.

Sau đó, từ cảm hứng này, nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết thành bài thơ về hình tượng 2 người chiến sĩ trên vào tháng 3/1968. Ban đầu, bài thơ có tên là “Anh giải phóng quân” được lưu truyền rộng rãi trong anh em bộ đội và nhân dân Long An, sau đó mới được đổi tên thành “Dáng đứng Việt Nam” khi in thành sách. Chỉ chưa đầy 2 tháng sau khi viết bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”, ngày 5/6/1968, nhà thơ Lê Anh Xuân hy sinh tại chiến trường Cần Đước, Long An.

Còn sống còn hy vọng đi tìm đồng đội…

Ông Vũ Chí Thành chia sẻ: “Trận chiến đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất dịp Tết Mậu Thân quá ác liệt, 2 đại đội của Tiểu đoàn 16 đánh sâu vào sân bay chỉ còn 6, 7 người còn sống nên thông tin rất ít. Các đồng chí còn sống kể có thấy hình ảnh 2 đồng đội mình hy sinh như thế nhưng không biết là ai vì tình hình chiến đấu quá ác liệt, không còn thời gian để quan sát người nào còn sống, người nào đã chết nữa. Mãi sau này, một số đồng chí bị thương nên không rút lui được, bắn hết đạn nên không thể chống trả và bị địch bắt, đày đi Côn Đảo được giao trả về mới biết được lai lịch 2 đồng đội là nguyên mẫu trong bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”.

 

Cựu chiến binh Vũ Chí Thành là người dành nhiều công sức để sưu tầm sử liệu về Tiểu đoàn 16 vì tiểu đoàn đã xóa phiên chế nên không còn bộ phận làm truyền thống đơn vị

     

 Theo ông Thành, 2 chiến sĩ này tì trên xác chiếc thiết giáp M41 chứ không phải xác trực thăng như trong bài thơ. Lúc này, liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo ôm khẩu AK, còn 1 chiến sĩ thì tì khẩu 12 ly 7 lên xác chiến xa làm điểm tựa. Tên lính Mỹ theo đoàn xe tăng phản kích bị xác chiến xa che khuất nên không thấy, khi vượt qua chiến xa thì thấy bóng dáng 2 khẩu súng chỉa thẳng về phía mình nên giật mình ngã ngữa về sau, súng rơi khỏi tay nên tên Mỹ vội vàng ôm đầu để đầu hàng. Mãi không thấy động tĩnh, khi tên lính Mỹ đứng dậy đến gần mới phát hiện 2 anh giải phóng quân đã chết, chỉ là chưa ngã xuống và súng vẫn trên tay…

Những chiếc thiết giáp bị bắn cháy tại Tân Sơn Nhất trong trận Tết Mậu Thân (ảnh tư liệu)

 

Ông Thành cho biết: “Do người chứng kiến đứng gần liệt sĩ Mẹo hơn nên nhận ra anh, còn chiến sĩ còn lại bị khuất sau lưng liệt sĩ Mẹo nên người này không nhận ra. 1 phần vì ở xa, 1 phần anh Mẹo là Chính trị viên phó Đại đội 1 nên nhiều người quen thuộc với anh, nhận ra anh. Còn anh chiến sĩ còn lại thì hơi lạ mặt nên anh em không nhận ra. Đến nay tôi tìm hiểu khắp lượt vẫn chưa hỏi ra được anh tên gì”.

Trong những năm qua, ông Thành cũng đã cất công đi tìm hiểu, viết lại chiến tích của liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo, tìm về quê quán của liệt sĩ để xác minh lý lịch nhân thân gia đình, xin xác nhận của địa phương để làm hồ sơ xin truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo.

 

Quyển sách cũ có in “Thư Tân Sơn Nhứt” là tư liệu mà ông thường xem

Bản tài liệu thành tích của liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo mà ông dày công sưu tập, tìm hiểu, chấp bút để xin truy tặng danh hiệu Anh hùng cho đồng đội mình

Cựu chiến binh Vũ Chí Thành nói: “Trường hợp hy sinh của đồng chí Nguyễn Công Mẹo là rất anh dũng, xứng đáng được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Riêng bản thân tôi và nhiều cựu chiến binh Tiểu đoàn 16 – Phân khu 2 còn sống ở cả 2 miền Nam – Bắc đều nhất trí đề nghị các cấp thẩm quyền xem xét. Anh em chúng tôi đang cố gắng liên hệ với các cơ quan chức năng để làm việc này. Rất tiếc là chiến sĩ còn lại chưa rõ tên tuổi, quê quán nên chúng tôi chưa làm được gì cho anh!”.

Ước nguyện cả đời của người lính già này là được thấy các đồng đội được về bên nhau và truy tặng Anh hùng cho những đồng đội xứng đáng là anh hùng

Theo cựu chiến binh Vũ Chí Thành, việc đi các nơi để thu thập thông tin, giấy tờ, xác nhận để truy tặng danh hiệu cho các đồng đội đã ngã xuống cũng quan trọng như việc đi tìm kiếm di hài của các anh đưa về quê hương bản quán. Bởi đó là trách nhiệm, là nghĩa tình của người còn sống đối với người đã khuất. Bởi thế, ông hy vọng khi mình còn sống sẽ được thấy tất cả 380 anh em của Tiểu đoàn 16 đã mất trong trận đánh Tân Sơn Nhất được quy tập về 1 nơi, ít ra cũng có cái tên cùng nhau trên bia kỷ niệm. Ông cũng hy vọng mình đủ sức khỏe để đi làm thủ tục xin truy tặng danh hiệu anh hùng cho những đồng đội xứng đáng là anh hùng đã ngã xuống của ông…

Những ước nguyện đó của ông vẫn còn đầy trắc trở. Bởi các đồng đội của ông cũng như rất nhiều chiến sĩ anh hùng khác đã hy sinh mà “… chẳng để lại gì cho anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ!”.

Bài: Tùng Nguyên – Quốc Anh

Ảnh & Clip: Phạm Nguyễn

Đề Bài: Đọc – Hiểu Về Chủ Đề Vẻ Đẹp Người Lính

Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh

Nhân Vật Trong Thơ : Dáng Đứng Việt Nam

Thơ Chọn Lời Bình: Dung Dăng Dung Dẻ

Viết Đoạn Văn Nghị Luận 200 Chữ Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Bài Thơ “Dặn Con” Của Trần Nhuận Minh

Phân Tích Bài Thơ Dáng Đứng Việt Nam Của Lê Anh Xuân

Thơ Triết Lý Về Dại Khôn

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dừa Ơi

Soạn Bài Dòng Sông Mặc Áo

Câu Chuyện Về Nhà Thơ Tố Hữu Và Emily

Chùm Thơ Vui, Hài Hước Về Những Người Đang Ế, Fa

Dáng đứng Việt Nam là thi phẩm cuối cùng của nhà thơ – chiến sĩ Lê Anh Xuân, được viết tháng 3/1968 trong những ngày khói lửa của cuộc Tổng tiến công mùa xuân Mậu Thân. Tác giả hi sinh hai tháng sau đó tại vùng phụ cận Sài Gòn vào lúc tuổi đời còn rất trẻ, để lại mùa xuân của cuộc đời cho mùa xuân đất nước.

Viết về sự hi sinh của người lính trong cuộc chiến đấu, nhưng bao trùm lên Dáng đứng Việt Nam không phải là âm hưởng bi thương của nỗi đau và sự mất mát mà vượt lên trên, bài thơ tôn vinh cái đẹp và sự cao cả, trở thành biểu tượng chiến thắng của lí tưởng cách mạng. Hình ảnh người chiến sĩ giải phóng quân hi sinh trên sân bay Tân Sơn Nhất với tư thế hiên ngang, lẫm liệt trong Dáng đứng Việt Nam đã trở thành một bức tượng đài đầy tính biểu cảm:

Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Hình ảnh bi tráng về tư thế hi sinh của người chiến sĩ giải phóng quân đã làm cho quân giặc vô cùng khiếp sợ:

Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đoàng hoàng nổ súng tiến công.

Việc kết hợp hai phạm trù thẩm mĩ tương phản trong cùng một khổ thơ đã tạo cho tác phẩm sức gợi tả đặc biệt, đó là sự đốì lập giữa tư thế hiên ngang của người chiến sĩ giải phóng quân và nỗi đớn hèn, khiếp sợ của giặc Mĩ. Những câu thơ được viết lên bằng một trường liên tưởng hết sức mãnh liệt của tác giả khiến hình ảnh người chiến sỹ giải phóng quân trở nên lớn lao và kì vỹ.

Anh tên gi hỡi Anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng im như bức tường đồng

Như đôi dép dưới chân Anh dẫm lên bao xác Mĩ

Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ:

Anh là chiến sỹ giải phóng quân.

Tên Anh đã thành tên đất nước Ôi anh Giải phóng quân!

Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

Với những câu thơ mang đầy cảm xúc sử thi và chất trữ tình đậm đà, tư thế hi sinh của người chiến sĩ đã trở biểu tượng của cái đẹp và sự cao cả, hình ảnh của anh là hình ảnh của những thế hệ tuổi trẻ Việt Nam rùng rùng ra trận với niềm tin lớn lao mãnh liệt về một ngày độc lập tự do của đất nước. Nhiều người đã ngã xuống, và cũng như người chiến sĩ giải phóng quân kia, họ không để lại tuổi tên, địa chỉ, nhưng họ không bao giờ vô danh trong trái tim dân tộc, bởi thân thể và máu xương của họ đã hòa vào đất mẹ, làm nên dáng hình của đất nước, tạo dựng một Dáng đứng Việt Nam sừng sững trong thế kỉ.

Lê Anh Xuân hi sinh trong chiến dịch Mậu Thân nãm 1968 khi chưa kịp chứng kiến mùa xuân thắng lợi, khi chưa kịp thấy những điều anh mong đợi – “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” – đã trở thành sự thực vào năm 1975. Nhưng những vần thơ của người chiến sĩ – nhà thơ ấy vẫn sông mãi, trở thành một khúc tráng ca vượt qua năm tháng để gửi tới muôn thế hệ những khoảnh khắc lịch sử về một mùa xuân bất diệt của dân tộc.

Nhớ Lê Anh Xuân Với Bài Thơ ‘dáng Đứng Việt Nam’

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dặn Con

Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Dặn Con

Phân Tích Bài Thơ Con Cò

Phân Tích Bài Thơ “con Cò” Của Nhà Thơ Chế Lan Viên

Mẹ Tôi (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5

Giáo Án Ngữ Văn 7

Cảm Nghĩ Về Người Mẹ Của Em

Lời Bài Hát Xin Đừng Làm Mẹ Khóc

Ám Ảnh Màu Khăn Tang Trắng Của 3 Bé Thơ Khi Bố Chết Vì Tai Nạn, Mẹ Mất Bởi Bệnh Ung Thư

Bao Quang Tri : Nơi Để Nhớ Về Chế Lan Viên

Đọc thầm bài văn rồi trả lời câu hỏi bên dưới:

Mẹ tôi

Có lẽ với ai đó khi nghĩ về mẹ, về những món ăn mẹ nấu sẽ nhớ nhiều đến thứ ngon vật lạ, còn tôi đơn giản chỉ là món canh rau mồng tơi thuở ấy. Ngày đó bố mất, mẹ một mình nuôi ba anh em ăn học, bữa cơm của mấy mẹ con chẳng bao giờ có đủ thịt cá. Cơm dọn ra chỉ bát nước mắm, vài quả cà với nồi canh rau mồng tơi, gần như là ngày nào cũng vậy. Rau mẹ hái ở ngoài vườn rửa sạch, nước đổ vào nồi nổi lửa, đợi sôi lên thì thả rau, thêm ít muối trắng, bắc xuống thế là thành canh. Bữa nào mẹ đi chợ mua ít thịt bỏ vào nồi canh trở nên ngọt lạ, hôm đó tôi ăn nhiều hơn, đưa bát liên tục. Mẹ bảo: “Nấu canh có thịt dễ ăn hơn phải không con?”. Tôi ngoan ngoãn gật đầu. Thế là từ bữa đó nồi canh rau mồng tơi thay vì chỉ có nước lã đã có thêm thịt. Tôi lớn dần bên mẹ cùng với món sở trường là canh rau mồng tơi, ăn hoài thành nghiền. Mà lạ một nỗi vườn nhà tôi trồng rau gì cũng không thể phát triển được trừ rau này. Ngày tôi vào đại học, mẹ cũng ăn mừng bằng nồi canh rau mồng tơi, nhưng lần này là nấu bằng nước luộc gà. Trước hôm tôi đi, mẹ dặn đủ điều sợ con điều gì cũng không biết. Lúc mẹ tiễn ra xe, tôi chẳng dám ngoái lại nhìn nhưng qua gương chiếu hậu tôi thấy mẹ khóc. Hình ảnh mẹ gầy ốm, đứng lẻ loi cuối con đường cứ bám riết lấy tôi suốt chặng đường dài… Thời gian trôi nhanh quá! Giờ ngồi nhớ lại tất cả tôi không nghĩ gia đình mình đã trải qua những tháng ngày vất vả như thế. Niềm hạnh phúc lớn nhất của tôi lúc này là hằng ngày đi làm về nhìn thấy mẹ, cất tiếng gọi “mẹ ơi” và để tôi có thời gian bù đắp vào khoảng thời gian trước đó – khoảng thời gian mà tôi biết mẹ đã thắt lưng buộc bụng nuôi các con thành người.

(Theo “Diễn đàn những câu chuyện cảm động về mẹ”.)

Bài Tập Đọc Hiểu Ngữ Văn 12

Một Vài Cảm Nhận Về Tập Thơ “tháng Bảy”* Của Hoàng Minh Đức

Trang Thơ Chủ Nhật: Mẹ Hiền Ơi, Con Đã Về Thăm

Chùm Thơ Mùa Đông Nhớ Thương Về Mẹ Hay Nhất

Lời Bài Hát Thương Nhớ Mẹ Già

🌟 Home
🌟 Top