Top #10 ❤️ Đọc Hiểu Bài Thơ Gánh Mẹ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Mẹ

Chùm Thơ Sưu Tầm Về Ngành Y Ý Nghĩa

Những Bài Thơ Hay Nhất Của Nhà Thơ Phạm Ngọc Cảnh

Lời Mẹ Dặn – Thơ Phùng Quán – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Tấm Lòng Của Mẹ

Giới Thiệu Tập Thơ “Quê Mẹ” Của Nhà Thơ Tố Hữu

Đề đọc hiểu về bài thơ Mẹ- Nguyễn Lê

Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi 

Trưa về đến sau đồi

Gọi con như mọi bận

Mà không nghe trả lời

Thì mẹ ơi đừng giận

Nhìn vở bài toán đố

Con làm còn dở dang

Bỏ quên bên cửa sổ

Đừng bảo con không ngoan

Sân nhà đầy lá rụng

Bản quyền bài viết này thuộc về https://thptxuyenmoc.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

Mẹ đừng trách con lười

Thấy áo con đẫm máu

Đừng, đừng khóc, mẹ ơi !

 Giặc Mĩ nó nhằm con

Mà bắn vào tim mẹ

Khóc sao hả căm thù !

(Mẹ, Nguyễn Lê, Dẫn theo Maxreading.com)

Câu 1. Chỉ ra những phương thức biểu đạt của bài thơ ? (0,25 điểm )

Câu 2. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? (0,25 điểm)

Câu 3. Nội dung chính của bài thơ ? (0,5 điểm)

Câu 4. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày cảm xúc của anh (chị) khi đọc bài thơ ? (0,5 điểm)

Đáp án :

1.Phương thức biểu đạt: biểu cảm, tự sự, miêu tả.

2.Thể thơ ngũ ngôn

3.Bài thơ là lời an ủi mẹ của một em bé bị giặc Mĩ sát hại, qua đó ngợi ca tình mẫu tử cao quý, thiêng liêng và lên án chiến tranh tàn khốc…

4. – Bày tỏ được cảm xúc và suy nghĩ chân thành, sâu sắc khi đọc bài thơ. (Chẳng hạn: xúc động, xót thương trước cái chết của em bé; cảm thông, chia sẻ với nỗi đau mất con của người mẹ; căm ghét súng đạn, chiến tranh, trân quý và nỗ lực gìn giữ hòa bình…)

– Diễn đạt trôi chảy, rõ ý, không mắc lỗi chính tả

Bộ đề thi thử THPT Quốc giac môn văn có đáp án

Bộ đề đọc hiểu môn văn

Top Những Bài Thơ Chủ Đề Gia Đình Cho Trẻ Mầm Non

Cuộc Đời Và Những Bài Thơ Bất Hủ Của Nguyễn Khuyến

Bật Khóc Với Bài Thơ ‘khi Mẹ Là Giáo Viên’

Chùm Thơ Cảm Động Về Mẹ Đã Khuất, Tưởng Tiếc Mẹ Nơi Xa…hay Nhất

Thơ Đỗ Công Luận

“Gánh Mẹ” Sẽ Thuộc Về Ai?

Quách Beem “Vừa Ăn Cắp Vừa La Làng” Khi Tố Ngược Tác Giả Bài Thơ “Gánh Mẹ”

Quyền Tác Giả: Đăng Ký Không Có Nghĩa Là Được Công Nhận !

Gọi Bạn – Thi Phẩm Ca Ngợi Tình Bạn Của Nhà Thơ Định Hải

Kế Hoạch Giáo Dục Lqvh Thơ “gà Mẹ Đếm Con”

Giáo Án Mầm Non Đề Tài Thơ Hoa Kết Trái

            Ngày 23/10/2019, tài khoản Facebook có tên là Trương Minh Nhật lên tiếng khẳng định bài thơ “Gánh mẹ” do mình sáng tác và đã bị nhạc sĩ Quách Beem (Đoàn Đông Đức) “đạo” để viết thành ca khúc cùng tên. Ngoài ra, ông Nhật còn tiếp tục chia sẻ biên bản viết tay giữa mình với nhạc sĩ Quách Beem ngày 11/10/2019 về việc nam nhạc sĩ muốn hợp tác với ông trong sản phẩm âm nhạc “Gánh mẹ 2” trên mạng xã hội, theo quan điểm của ông đây là hành động nhằm tránh tai tiếng đạo thơ trong ca khúc “Gánh mẹ” trước đó.  Đồng thời ông yêu cầu nhạc sĩ Đoàn Đông Đức phải đính chính lại tất cả các ấn phẩm có bài hát “Gánh mẹ” trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng nơi ông Đức phát hành ca khúc và trang cá nhân của mình theo đúng sự thật. 

Đứng trước những thông tin tố cáo mình từ phía ông Trương Minh Nhật, nhạc sĩ Quách Beem cho hay, bài hát “Gánh mẹ” được mình sáng tác, ký âm ngày 25/10/2013, được Cục Bản quyền tác giả của Bộ Văn hóa – thể thao du lịch cấp phép” và có đầy đủ giấy tờ hợp pháp về quyền tác giả đối với tác phẩm này. Bên cạnh đó, nhạc sĩ nói rằng ông Trương Minh Nhật vu khống mình và hình ảnh chụp màn hình trên Facebook vào 31/07/2014 là lấy lời bài hát của nhạc sĩ sau đó viết thành thơ của mình. Đồng thời, đã yêu cầu ông Nhật cung cấp bằng chứng hợp pháp về bản quyền nhưng ông không cung cấp được, hơn nữa, nhạc sĩ còn tố cáo ông đã có những hành vi xúc phạm, quấy rối, tống tiền mình. Tuy nhiên, theo như thông tin tra cứu trên website của Cục Bản quyền tác giả, tác phẩm “Gánh mẹ” mới chỉ được đăng ký vào ngày 26/03/2019, trước khi phim “Lật mặt 4: Nhà có khách” công chiếu ngay sau đó.

Khoản 2 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định, “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”.

            Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ như sau “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký”.

            Từ những căn cứ trên, người sáng tạo ra tác phẩm văn học bằng một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện ngôn ngữ đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký, đều phát sinh quyền tác giả đối với tác phẩm đó.

            Mặt khác, tác phẩm văn học là một trong những loại hình được bảo vệ quyền tác giả theo quy định tại Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ. Thời hạn được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết (Điều 27 LSHTT). Do đó, trong thời hạn được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm, người sáng tạo tác phẩm đó cần thực hiện thủ tục đăng ký bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại Điều 49 LSHTT.

            Như vậy, từ những căn cứ trên DTD nhận định, trong vụ việc tranh chấp giữa nhạc sĩ Quách Beem và nhà thơ Trương Minh Nhật. Trong trường hợp một trong hai bên khởi kiện ra Tòa án, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả của nhạc sĩ Quách Beem sẽ không còn được xem là căn cứ để chứng minh quyền tác giả của mình đối với “Gánh mẹ”nữa. Theo đó, Tòa án sẽ xem xét những giấy tờ, tài liệu được hai bên đưa ra để làm căn cứ chứng minh mình là người sáng tác ra lời bài hát “Gánh mẹ”.

            Trước khi có quyết định cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền – Tòa án, thì mọi nguồn thông tin cũng như những suy luận đều chỉ mang tính chất tham khảo. Vì vậy, DTD mong rằng, các cơ quan chức năng sớm điều tra và làm rõ vụ việc để có thể đưa “Gánh mẹ” trở về với đúng “chủ nhân” của mình, bởi tác phẩm này không chỉ là “linh hồn” đem lại dấu ấn sâu sắc cho bộ phim “Lật mặt 4: Nhà có khách” mà còn chứa đựng tình cảm yêu thương đối với người mẹ mà tác giả thực sự của “Gánh mẹ” gửi vào đó. 

Tác Giả Bài ‘gánh Mẹ’ Rốt Cuộc Là Ai?

Chỉ Vì Ghen Với Chồng Mà Trở Thành Nhà Thơ Nổi Tiếng?

“Ghen Ăn Tức Ở” Chỉ Tổ Làm Khổ Bản Thân!

Những Câu Nói Hay Về Sự Ghen Ăn Tức Ở Hay – Chất – Thấm Nhất Dành Cho Các Thành Phần Gato

Những Bài Thơ Về Tình Yêu Hay Nhất Thế Giới

Đề Đọc Hiểu Tích Hợp Nghị Luận Xã Hội : Bài Thơ Mẹ

Chùm Thơ Tặng Mẹ Chồng Hay Nói Thay Tiếng Lòng Của Nàng Dâu Thảo

Thơ Hay Về Mẹ Chồng Nàng Dâu

Những Bài Thơ Hay Về Tình Cảm Mẹ Chông & Nàng Dâu

Chùm Thơ Viết Về Mẹ Chồng Nàng Dâu Hay, Tình Cảm Nhất

100+ Bài Thơ Về Mẹ Chồng, Nàng Dâu Đặc Sắc Nhất Hiện Nay

Đề đọc hiểu tích hợp Nghị luận xã hội : Bài thơ Mẹ- Đỗ Trung Quân

ĐỀ THI KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG ÔN TẬP TỔ HỢP MÔN LỚP 11 NĂM HỌC 2022- 2022

MÔN NGỮ VĂN LỚP 11

( Thời gian 120 phút- không kể thời gian giao đề)

Ngày thi: 15/ 05/ 2022

Phần I: Đọc hiểu (3.0 điểm)

Đọc bài thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Con sẽ không đợi một ngày kia

khi mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc

Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?

Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt

Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua

mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ

ai níu nổi thời gian?

ai níu nổi?

Con mỗi ngày một lớn lên Cuộc hành trình thầm lặng phía hoàng hôn.

Mẹ mỗi ngày thêm cằn cỗi

…ta quên mất thềm xưa dáng mẹ ngồi chờ

giọt nước mắt già nua không ứa nổi

ta mê mải trên bàn chân rong ruổi

mắt mẹ già thầm lặng dõi sau lưng

Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân

mấy kẻ đi qua

mấy người dừng lại?

Sao mẹ già ở cách xa đến vậy

trái tim âu lo đã giục giã đi tìm

ta vẫn vô tình

ta vẫn thản nhiên?

( Mẹ – Đỗ Trung Quân)

Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2: Nêu tác dụng của biện pháp nhân hóa được sử dụng trong câu Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt/ Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua

Câu 3: Nhà thơ đã nhận ra được điều gì trong những câu thơ sau:

Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân

mấy kẻ đi qua

mấy người dừng lại?

Sao mẹ già ở cách xa đến vậy

trái tim âu lo đã giục giã đi tìm

Câu 4: Tình cảm, suy tư nào của nhà thơ được bộc lộ trong đoạn thơ trên khiến anh , chị đồng cảm sâu sắc nhất?

Phần II: Làm văn (7.0 điểm)

Câu 1( 2 điểm)

Từ lối sốngvô tình, thản nhiên của người con với mẹ trong văn bản trên, anh, chị hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ mình về lối sống thờ ơ vô cảm với những người thân xung quanh mình của giới trẻ trong cuộc sống hôm nay.

Đáp án :

Bài đọc hiểu :

Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do.

– Chỉ ra biện pháp nhân hóa: thời gian …chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua

– Nêu tác dụng:

+ Thể hiện thời gian trôi qua nhanh chóng

+ Làm nổi bật tâm trạng hoảng hốt của nhà thơ

Điều nhà thơ nhận ra trong những câu thơ là: Khi ta thất bại, vấp ngã trên đường đời, trong khi nhiều người xung quanh thờ ơ, dửng dưng thì mẹ dẫu ở cách xa vẫn dõi theo lo lắng.

– Nêu được một tình cảm suy tư của nhà thơ trong văn bản mà mình đồng cảm.

– Lí giải vì sao tình cảm suy tư đó lại khiến bản thân đồng cảm sâu sắc.

Bài nghị luận xã hội

Viết đoạn văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ về lối sống thờ ơ vô cảm với những người xung quanh của giới trẻ trong cuộc sống hôm nay.

Đảm bảo bố cục một đoạn văn nghị luận: có đủ các phần mở đoạn , thân đoạn , kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, thân đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Từ lối sống vô tình, thản nhiên của người con với mẹ trong văn bản trình bày suy nghĩ về lối sống thờ ơ vô cảm với những người thân xung quanh mình của giới trẻ trong cuộc sống hôm nay.

Triển khai vấn đề nghị luận thành các ý

-Giải thích và nêu biểu hiện của lối sống thờ ơ,vô cảm của giới trẻ trong cuộc sống hôm nay.

-Trình bày suy nghĩ về tác động ảnh hưởng, nguyên nhân của lối sống này

-Liên hệ bản thân, rút ra bài học

Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

(Đề sưu tầm )

Phân Tích Bài Thơ “mẹ” Của Nhà Thơ Đỗ Trung Quân

Thử Bình Bài Thơ ” Mẹ Của Anh” Của Nữ Thi Sĩ Xuân Quỳnh

Vẻ Đẹp Của Người Phụ Nữ Việt Nam Qua Bài Thơ “mẹ Của Anh” Của Nữ Sĩ Xuân Quỳnh

Nhà Thơ Phạm Ngà, Nguyễn Đình Kiên

Chùm Thơ Viết Về Các Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng Hay Nhất

Đọc Hiểu Bài Thơ “vội Vàng”

Tìm Hiểu Bài Thơ “vội Vàng” Của Xuân Diệu

4 Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Cảm Nhận Khổ 2 Bài Thơ Vội Vàng

Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “vội Vàng” Của Xuân Diệu

Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Đoạn 1

Vội vàng là một bài thơ rất Xuân Diệu. Xuân Diệu ở trái tim sôi sục, ở cặp mắt xanh non háo hức, ở sự khẳng định cái Tôi, trong quan hệ gắn bó với đời, ở nhịp thơ hăm hở, cuống quýt, ở hình ảnh rất táo bạo đầy rẫy cảm giác và có tính sắc dục, ở cú pháp rất Tây và lối qua hàng hết sức thoải mái…

Tất cả đều trở thành thơ và mỗi câu, mỗi chữ đều mang hơi thở nồng nàn say đắm của “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh).

(Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Sđd)

1. Xuân Diệu (1916 1985) tên đầy đủ là Ngô Xuân Diệu. Cha ông là thầy đồ xứ Nghệ (quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh), mẹ ông quê Bình Định. Xuân Diệu được thừa hưởng sự uyên thâm, cần cù của nhà nho ở người cha ; là trí thức Tây học, ông được hấp thụ những tinh hoa văn hoá phương Tây. Vì thế, thơ ca Xuân Diệu là sự kết hợp hài hoà hai yếu tố Đông Tây, trong đó yếu tố Tây học được tiếp thu trong nhà trường chính thức có ảnh hưởng đậm hơn. Sau một thời gian làm công chức ở Mĩ Tho, ông thôi việc ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn.

Xuân Diệu bí mật tham gia Hội Văn hoá cứu quốc năm 1943. Năm 1946 được bầu là Uỷ viên quốc hội khoá một của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Suốt từ đó cho đến khi mất, ông từng là Uỷ viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam nhiều khoá. Đóng góp lớn nhất của Xuân Diệu cho đất nước vẫn là sự nghiệp thơ văn. Ông đã từng đi nói chuyện thơ (hàng trăm buổi) cho nhiều đối tượng nghe. Năm 1983, ông được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà Dân chủ Đức. Ông được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1, năm 1996).

2. Vội vàng là bài thơ tiêu biểu nhất cho nét phong cách nổi bật trong thơ Xuân Diệu. Tác phẩm được rút trong tập Thơ thơ, tập thơ xuất sắc và tiêu biểu nhất cho thơ Xuân Diệu trước Cách mạng.

Bài thơ thể hiện một tình yêu cuộc sống tha thiết, qua đó thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống. So với thơ ca truyền thống, bài thơ mới mẻ về cả tư tưởng và thi pháp.

3. Tình yêu cuộc sống tha thiết mãnh liệt đã dẫn đến quan niệm sống hết mình, sống bằng mọi giác quan. Cái cuống quýt vội vàng trong cách sống mà Xuân Diệu thể hiện trong bài thơ không phải là lối sống vội vàng, hưởng thụ cá nhân, mà là sống hết mình. Có thể hiểu nội dung này theo bố cục hai phần của bài thơ :

 Phần 1 (30 câu thơ đầu) : tập trung luận giải các lí do vì sao phải vội vàng  ở đó chứa đựng một quan niệm triết học về vũ trụ, nhân sinh mới mẻ chưa thấy trong thơ ca truyền thống. Cuộc đời tươi đẹp và vô hạn, thời gian của con người là hữu hạn.

 Phần 2 (đoạn thơ còn lại) : giải pháp sống. Vì cuộc sống vô cùng tươi đẹp như vậy nên phải sống thật nhiệt thành, phải hết mình, hoà mình cùng thiên nhiên, cùng cuộc đời thì mới cảm nhận hết ý nghĩa của sự sống.

Quan niệm mới mẻ của nhà thơ thể hiện ở hệ thống hình ảnh thơ mới lạ, nhiều sắc màu và tràn đầy cảm xúc. Bài thơ là tiếng ca thúc giục mọi người, nhất là những người trẻ tuổi hãy hết mình với cuộc đời, sống thật nhiều và thật có ý nghĩa.

4.Đọc hiểu

“Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết”( ). Đó là nhận xét của hai nhà nghiên cứu Hoài Thanh và Hoài Chân về những cảm xúc về cuộc đời luôn mãnh liệt trong thơ Xuân Diệu. Xuân Diệu được coi là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, thơ ông luôn thể hiện một cách chân thực, nồng nàn và hiện đại nhất những trạng thái cảm xúc của con người trước cuộc sống. Vội vàng là tiếng nói sôi nổi, hăm hở của một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt và là tuyên ngôn cho một quan niệm sống, triết lí sống được thể hiện bằng những hình tượng thơ thấm đẫm cảm xúc. Đây là bài thơ tiêu biểu cho sự bùng nổ mãnh liệt của cái Tôi thơ mới nói chung mà lại in dấu khá đậm hồn thơ Xuân Diệu, vừa rất tiêu biểu cho sự cách tân táo bạo, độc đáo của nghệ thuật thơ ông.

Vội vàng là một bài thơ được xem là thành công và tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu. Bài thơ thể hiện khả năng cảm nhận tinh tế vẻ đẹp cuộc sống, đồng thời thể hiện một quan niệm sống, một triết lí nhân sinh tích cực. Trong không gian văn hoá và điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam những năm ba mươi của thế kỉ XX mà một người thanh niên đang ở tuổi đôi mươi có thể có những vần thơ rạo rực và triết lí sâu sắc như Vội vàng là một minh chứng thuyết phục cho tài năng được đánh giá là “một trong ba đỉnh cao của thơ mới”. Bài thơ đã mang đến cho bản nhạc đượm buồn và đậm chất đau thương, tuyệt vọng của thơ mới một khúc ca tràn đầy hi vọng.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất ;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

Khát vọng được nhấn mạnh bởi sự lặp lại cấu trúc “Tôi muốn…” trong một đoạn bốn câu thơ năm chữ. Nhịp thơ và cấu trúc ấy đã gợi vẻ cuống quýt, vội vàng. Nội dung của ý muốn ấy lại càng độc đáo, đó là “tắt nắng” và “buộc gió”. Đó là khát vọng níu giữ những vẻ đẹp của cuộc đời. “Màu” và “hương” là những tinh tuý của đất trời. Nhà thơ muốn níu giữ lại vẻ đẹp đó. Nhưng “tắt nắng”, “buộc gió” là điều không thể thực hiện. Ngay những dòng thơ đầu tiên đã phảng phất sự bất lực và nuối tiếc của nhân vật trữ tình. Và cũng ngay ở đây, cái Tôi cá nhân của thi sĩ đã xuất hiện với tư thế chủ động trước cuộc đời.

Những câu thơ tiếp theo lí giải cụ thể nguyên nhân dẫn đến khát vọng có vẻ “ngông cuồng” ở những câu đầu. Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp được miêu tả sinh động và đáng yêu :

Của ong bướm này đây tuần tháng mật,

Này đây hoa của đồng nội xanh rì,

Này đây lá của cành tơ phơ phất ;

Của yến anh này đây khúc tình si ;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa ;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần ;

Biện pháp điệp từ lại xuất hiện. Này đây có tính chất như một lời liệt kê, một sự xác nhận về sự hiện hữu của những sự vật được nói tới. Tất cả các sự vật ấy lại đều đang ở thì đẹp nhất, tươi non nhất : tuần tháng mật, đồng nội xanh rì, cành tơ, khúc tình si… Mùa xuân được hiện ra bằng vẻ đẹp của tháng giêng tràn trề sức sống xuân thì và tình tứ giao hoà quấn quýt. Ong bướm, hoa cỏ, chim muông, âm thanh và ánh sáng… hiện ra qua những hình ảnh nhân hoá đều tràn đầy hạnh phúc, tươi non mơn mởn, dạt dào sức sống trong một thế giới ngất ngây mộng ảo.

Trong con mắt xanh non háo hức của thi nhân, ngày tháng trở thành “tuần tháng mật”, âm thanh của thiên nhiên trở thành những giai điệu vô cùng tình tứ. Ta đã từng nghe đến “khúc nhạc hường”, “khúc nhạc thơm” (Này lắng nghe em khúc nhạc thơm  Say người như rượu tối tân hôn) và giờ đây là một “khúc tình si”. Còn ánh bình minh lại hiện lên độc đáo qua hàng mi dài của người thiếu nữ chớp mắt làm duyên  “ánh sáng chớp hàng mi”. Nhịp thơ dồn dập, điệu thơ, ý thơ không dứt đã diễn tả được sự vui mừng, niềm khao khát đến cuống quýt của nhân vật trữ tình trước vẻ hấp dẫn của thiên nhiên. Và bức tranh thiên nhiên muôn màu muôn vẻ hiện lên đẹp và tràn đầy sức sống. Xuân Diệu đã chọn từ ngữ, hình ảnh và cách diễn đạt giàu tính hình tượng, gợi cảm và rất hiện đại để bộc lộ những cảm nhận tinh tế của mình về cuộc sống. Cao trào của cảm xúc đã giúp nhà thơ sáng tạo nên một hình ảnh thật đắt về vẻ đẹp của thiên nhiên :

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần

Đây là một hình ảnh so sánh táo bạo và độc đáo, nó cũng thể hiện được quan điểm thẩm mĩ hiện đại của Xuân Diệu. Quan điểm này trái ngược với quan điểm của thơ ca truyền thống. Nhà thơ đã dùng vẻ đẹp của con người, thậm chí rất con người (cặp môi gần) để diễn tả vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhà thơ đã cụ thể hoá cái khao khát của con người và vẻ đẹp của tự nhiên với từ ngon. Chữ ngon được dùng rất tài hoa. Nhà thơ cảm nhận cái đẹp của mùa xuân không phải bằng thị giác mà bằng cả vị giác, xúc giác, bằng cả tâm hồn luôn “thức nhọn giác quan” để sáng tạo nên một hình ảnh thơ khoẻ khoắn đầy sức sống không chỉ biểu thị niềm vui say ngất ngây trước thiên nhiên mà còn thể hiện một quan điểm mĩ học mới : Con người là thước đo thẩm mĩ của vũ trụ, vẻ đẹp con người trần thế là tác phẩm kì diệu của hoá công, thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất là vì có con người giữa tuổi trẻ, mùa xuân, tình yêu. Tháng giêng là mùa xuân, mùa của sự đâm chồi nảy lộc, của sự hồi sinh, và đây là thời gian vạn vật sinh sôi nảy nở. Cho nên với thi sĩ, xuân luôn là thời gian đẹp nhất trong năm. Và để thể hiện điều đó, Xuân Diệu đã chọn một hình ảnh so sánh thật đắt. Bức tranh thiên nhiên ấy đã đủ cho thấy nhà thơ yêu cuộc sống đến nhường nào ! Nhà thơ viết tiếp :

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa :

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Câu thơ đượm màu triết lí. Sau phút giây để cảm xúc thăng hoa cùng vẻ đẹp của đất trời, xúc cảm của nhân vật trữ tình tạm lắng xuống và chuyển sang chiều hướng suy tư. Nhà thơ đã hình ảnh hoá triết lí ấy : không thể để những điều tốt đẹp (xuân) qua đi rồi mới thấy nuối tiếc. Tâm trạng “nắng hạ mới hoài xuân” là tâm trạng rất phổ biến của con người. Bởi thông thường, trong cuộc sống, con người thường không coi trọng những gì mình đang có, chỉ khi nó đã qua đi mới thấy nó có ý nghĩa quan trọng và lại nuối tiếc. Vậy “xuân” không chỉ là hình ảnh khái quát cho những vẻ đẹp của thiên nhiên đã được nhà thơ nói đến ở đoạn thơ trên mà có ý nghĩa khái quát chỉ tất cả những gì mà tạo hoá ban tặng cho con người.

Mỗi bài thơ của Xuân Diệu bao giờ cũng là một mạch cảm xúc liên tục. Ý thơ nọ gọi và nối với ý thơ kia bằng một mối liên kết tinh tế. Sau triết lí rất khái quát ấy là những dòng lí giải tại sao phải vội vàng :

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Và xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Những câu thơ là lời bộc bạch chân thành của chủ thể trữ tình. Đoạn thơ tập trung thể hiện và lí giải quan niệm mới của nhà thơ về thời gian. Theo đó, thời gian trôi đi thì không bao giờ trở lại. Nhà thơ đặt thời gian của vũ trụ trong mối quan hệ với thời gian của đời người để giảng giải quan niệm về sự không tuần hoàn của vạn vật :

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !

Đúng vậy, có thể trời đất còn mãi nhưng con người không thể sống hai lần nên sự tuần hoàn ấy là vô nghĩa. Mọi người vẫn nói, Xuân Diệu là nhà thơ của “cảm thức về thời gian” quả không sai. Nhà thơ rất nhạy cảm với những bước đi vô hình của thời gian. Vì thế, mỗi thời khắc qua đi là một cuộc chia li đầy nuối tiếc và cảm giác mất mát tràn ngập trong tâm hồn thi sĩ. Nhạy cảm về sự mất mát đến mức cảm nhận được cả “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi  Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”. Tâm trạng của con người đã thấm sang cả cảnh vật. Thiên nhiên được nhân hoá, cũng biết hờn, biết sợ như con người.

Tình yêu thiết tha đối với cuộc sống đã khiến chủ thể vội vàng, cuống quýt đến gần như bị ám ảnh. Nó cho thấy con người ấy yêu cuộc sống và quý trọng những giây phút của cuộc đời đến nhường nào. Thái độ ấy của thi nhân thể hiện một quan điểm sống rất tích cực và tiến bộ. Vội vàng không có nghĩa là chỉ lo hưởng thụ, là sống gấp, mà là sống hết mình, sống tốt, nghĩa là phải biết quý trọng những giây phút của cuộc đời mình để khi thời gian trôi đi không còn phải nuối tiếc quá nhiều. Nhà thơ đã cất tiếng giục giã :

Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm

Thời gian vẫn còn, cuộc sống vẫn luôn rất đáng yêu vì thế hãy sống bằng mọi giác quan, bằng cả trái tim và khối óc, để hưởng tụ cuộc sống quý giá này. Khổ thơ cuối cùng đã diễn tả đặc biệt thành công khát vọng sống đang sôi trào mạnh mẽ trong trái tim thi sĩ trẻ :

Ta muốn ôm…

Từ Tôi muốn đã chuyển thành Ta muốn, thể hiện sự tăng tiến của khát vọng. Lúc đầu còn e dè, là “tắt nắng”, “buộc gió”. Khát vọng lớn nhưng còn trừu tượng và chung chung. Và dường như chỉ mới dừng lại ở khát vọng níu giữ vẻ đẹp cuộc sống. Còn bây giờ là khát khao hưởng thụ. Và khao khát đó trào dâng rất mãnh liệt. Cảm xúc đó được thể hiện ở việc chọn dùng từ, cấu trúc, biện pháp tu từ trong đoạn thơ cuối cùng :

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn ;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi ;

 Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

Đoạn thơ xuất hiện hàng loạt động từ và đều là động từ mạnh cùng với những tính từ có khả năng biểu hiện cảm xúc mạnh đã bộc lộ được trạng thái cảm xúc cao trào của nhân vật trữ tình. Dường như anh muốn hoà tan mình vào đất trời cây cỏ. Niềm khao khát sống, khao khát giao cảm với đất trời và cuộc đời được bộc lộ mạnh mẽ nhất ở câu thơ cuối :

 Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

Có lẽ chỉ có Xuân Diệu với một tình yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt say mê mới có thể táo bạo và tạo được sự thăng hoa cảm xúc tới mức này. Không còn là ôm, là riết nữa mà là cắn. Xuân Diệu đã sáng tạo cho thơ Việt Nam một hình ảnh thơ vô cùng độc đáo và đã chứng minh rằng tình yêu cuộc sống có thể đẩy cảm xúc của thi nhân đến đỉnh cao của sáng tạo.

Vội vàng là một dòng cảm xúc chân thành thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết của nhà thơ. Giọng điệu, hình thức câu thơ thay đổi linh hoạt với một thế giới hình ảnh đa dạng và phong phú đã tạo nên sức hấp dẫn của thi phẩm. Xuân Diệu đã sáng tạo một hình thức độc đáo để thể hiện những triết lí nhân sinh và quan niệm sống tích cực và sâu sắc. Đặt bài thơ trong không khí của Thơ mới thì mới cảm nhận được tình yêu cuộc sống của nhà thơ mãnh liệt đến chừng nào.

Những sáng tạo của Xuân Diệu trong Vội vàng đã góp phần đánh dấu bước phát triển mới của thơ ca Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX. Cái Tôi cá nhân vốn còn xuất hiện dè dặt trong thơ ca truyền thống, đến Xuân Diệu đã có những bước đi đàng hoàng và chắc chắn lên văn đàn văn học Việt Nam.

Những Yếu Tố Mới Mẻ Qua Thi Phẩm “vội Vàng”

Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu Của Học Sinh Giỏi

Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng (Cực Hay)

Bài Văn Của Học Sinh Giỏi: Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Để Chứng Minh Nhận Định

Xuân Diệu Và Quan Niệm Sống Qua Vội Vàng

🌟 Home
🌟 Top