Đọc Hiểu Văn Bản: “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

--- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Thiền Qua Bài Thơ Cảnh Nhàn Của Nhà Nho Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Ii Phần Làm Văn (7 Điểm) Phân Tích …
  • Bài Soạn Lớp 10: Nhàn
  • Chuyện Tình Của Lớp 9B
  • Nhại Thơ Thế Lữ “Hổ Nhớ Rừng “
  • Đọc – hiểu văn bản: “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    I. Tác giả, tác phẩm:

    1. Tác giả: Nguyễn Bỉnh Khiêm

    – Nguyễn Bỉnh Khiêm (1591 – 1585). Quê: Hải Phòng.

    – Học giỏi, đỗ Trạng nguyên 1535, làm quan dưới triều Mạc.

    – Dâng sớ xin chém lộng thần, không được chấp thuận; cáo quan về ở ẩn; lấy hiệu Bạch Vân Cư Sĩ.

    – Nguyễn Bỉnh Khiêm có học vấn uyên thâm; được phong Trình Tuyền hầu, Trình Quốc công, Trạng Trình.

     Sự nghiệp văn học:

    – Thơ chữ Hán: Bạch Vân am thi tập.

    – Thơ chữ Nôm: Bạch Vân quốc ngữ thi.

    + Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đậm chất triết lý, ngợi ca cảnh nhàn, phê phán thói xấu trong xã hội…

    + Ông là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc.

    2. Bài thơ Nhàn:

    Là bài thơ viết bằng chữ Nôm, rút trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi.

    II. Đọc – hiểu văn bản:

    1. Vẻ đẹp cuộc sống:

    “Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”.

    – Nhịp điệu thơ thong thả + liệt kê + số đếm cụ thể.

    – “Thơ thẩn” → gợi trạng thái thảnh thơi của con người

    – Giới thiệu việc làm của một lão nông : (đào đất, xới đất, câu cá); lao động tay chân nhưng rất thư thái, thảnh thơi trong tâm hồn

    “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”.

    – Âm điệu nhịp nhàng, hình ảnh đẹp tạo nên bức tranh tứ bình về cuộc sống đạm bạc mà thanh cao qua 4 mùa xuân, hạ, thu, đông ⇒ sống giữa thiên nhiên thanh thản, thơ mộng

    ⇒ Cuộc sống thư thái, thanh nhàn, chan hòa với thiên nhiên

    2. Vẻ đẹp nhân cách:

    “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn, người đến chốn lao xao”.

    ⇒ Cách nói đùa vui, ngược nghĩa: Nguyễn Bỉnh Khiêm tự nhận mình là dại nhưng thực ra ông đang rất tỉnh táo trong sự lựa chọn của mình. Ông tìm được sự thư thái của tâm hồn, sự thanh cao của nhân cách: Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

    ⇒ Vẻ đẹp của nhân cách và của trí tuệ.

    – Bài thơ như lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định một quan niêm sống cao đẹp: sống nhàn tản, hoà hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao vượt lên trên danh lợi, trí tuệ tỉnh táo, sáng suốt.

    – Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị.

    • Mở bài:

    Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là người thông minh, uyên bác, chính trực, coi thường danh lợi, “chí để ở nhàn dật”. Bài thơ Nhàn thể hiện vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm, một bậc hiền triết suốt đời phụng sự cho đạo học nước nhà, chẳng màng danh lợi. Nhan đề do người đời sau đặt nhưng cũng là một sự tri âm với tác giả. Chữ “nhàn” trong bài nhằm chỉ một quan niệm, một lối sống, một cách xử thế.

    • Thân bài:

    – Nhàn thể hiện sự ung dung trong phong thái, thảnh thơi, vô sự trong lòng, vui với thú điền viên.

    – Nhàn là nhận dại về mình, nhường khôn cho người, xa lánh chốn danh lợi bon chen, tìm về “ nơi vắng vẻ”, sống hoà nhập với thiên nhiên để “ di dưỡng tinh thần.

    – Nhàn là sống thuận theo lẽ tự nhiên, hưởng những thức có sẵn theo mùa ở nơi thôn dã mà không phải mưu cầu, tranh đoạt.

    – Nhàn có cơ sở từ quan niệm nhìn cuộc đời là giấc mộng, phú quý tự chiêm bao. Từ đó, cảm nhận được trí tuệ uyên thâm, tâm hồn thanh cao của nhà thơ thể hiện qua lối sống đạm bạc, nhàn tản, vui với thú điền viên thôn dã

    Nghệ thuật: Sử dụng phép đối, điển cố. Ngôn từ mộc mạc, tự nhiên mà ý vị, giàu chất triết lí.

    Ý nghĩa văn bản: Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm: thái độ coi thường danh lợi, luôn giữ cốt cách thanh cao trong mọi cảnh ngộ đời sống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 Bài Văn Cảm Nhận Bài Thơ “nhàn”
  • Danh Nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm Và Văn Bản Thơ Nôm – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng
  • Triết Lý Sâu Sắc Của Bài Thơ “Nhàn”
  • Bài Thơ Mưa Xuân Của Tác Giả Nguyễn Bính
  • Bài Văn: Cảm Nhận Bài Thơ “Mưa Xuân”
  • Tìm Hiểu Bài Thơ “nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nhàn
  • Giáo Án Thao Giảng Bài Nhàn
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 53 Đọc
  • Giáo Án Bài Nhàn Lớp 10 Nguyễn Bỉnh Khiêm Chi Tiết Nhất
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 38: Nhàn
  • Đề bài: Tìm hiểu về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    -Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), hiệu Bạch Vân cư sĩ. Là ông quan thanh liêm , chính trực.Là nhà thơ lớn của dt.

    – Cuộc đời :

    + Nhỏ: ông được cho theo học người thầy nổi tiếng là Bảng Nhãn Lương Đắc Bằng.

    2.Sáng tác

    -“Bạch Vân am thi tập”

    -“Bạch Vân quốc ngữ thi tập”

    3.Văn bản

    a. Xuất xứ: lấy trong Bạch Vân Quốc Ngữ Thi “

    b. Bố cục: đề ,thực, luận, kết.

    II.Đọc hiểu 1.Hai câu đề

    “Một mai một cuốc , một cần câu ,

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào “

    – mai, cuốc, cần câu : vật dụng quen thuộc của nhà nông.

    -“thơ thẩn”:ung dung, điềm nhiên, thanh thản., trạng thái,thoải mái, không vướng bận,tha hồ dong duỗi, không để điều gì làm ưu tư, phiền muộn.Đó là sự nhàn tản, thư thái ,thảnh thơi, lòng không vướng bận chút cơ mưu, tự dục.

    2.Hai câu thực

    “Ta dại ta ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao “

    – NBK đã tạo nên hệ thống từ ngữ đối lập nhau nhằm bộc lộ rõ thái độ của mình: cho thấy sự khác biệt giữa ông & những người khác đó là cách lựa chọn cho mình một cuộc sống” lánh đục tìm trong”.

    Như vậy “Dại ” ở đây thể hiện một lối sống cao đẹp , một tư tưởng , nhân cách thanh cao, k màng danh lợi , k nuôi cơ mưu, không chịu luồn cúi, mua danh , bán tước, tham những điều phù phiếm.Đây là cách nói ngược , dại thực chất là khôn , còn khôn thực ra lại là dại .

    ” Khôn mà khôn độc là khôn dại

    Dại vốn hiền lành ấy dại khôn”

    (Thơ Nôm-94)

    Mỗi từ , mỗi chữ được NBK sử dụng rất đắt, rất tinh tế, hiệu quả .

    Trở về với thiên nhiên, về nơi vắng vẻ là tìm đến cuộc sống bình dị ,thanh tao. Ở đó con người và tn hòa vào nhau.Đó cũng một lần nữa thể hiện sâu sắc hơn vẻ đẹp tâm hồn của NBK

    3.Hai câu luận

    “Thu ăn măng trúc , đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen , hạ tắm ao “

    Nguyễn Bỉnh Khiêm hòa cùng sinh hoạt của người nông dân. Ta không còn thấy một Trạng Trình,không thấy tư thế cao ngạo , chiễm trệ của một ông quan mà chỉ hiện lên ở đây một lão nông tri điền

    Liên hệ với những bài thơ khác của các nhà thơ cùng thời ta thấy được đây là cái nhìn tích cực của một thời đại và cho đến hôm nay nó vẫn còn nguyên giá trị.

    * Nhận xét :

    Quan điểm “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm :

    – là không tranh đua,không màng danh lợi, không bon chen, không cơ mưu, tự dục.

    – là sống thanh thản, an nhiên, tự tại bởi những thú vui riêng của mình.

    Như vậy “nhàn” ở đây không đơn thuần là nhàn hạ về thể xác hay đúng hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm không nói về cái nhàn thể xác, là không làm gì mà ông muốn đề cao cái nhàn trong tâm hồn con người, cái thanh thản , an nhiên.

    – Bài thơ dựng lên bức chân dung cuộc sống , nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm: xa rời danh lợi , hòa hợp với tự nhiên , giữ gìn cốt cách thanh cao , trong sạch .

    – Đặt trong hoàn cảnh xã hội phong kiến có những biểu hiện suy vi , quan điểm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang những yếu tố tích cực .

    2/Nghệ thuật .

    – Bài thơ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt mộc mạc , giản dị , kết hợp chất trữ tình và triết lí sâu xa , phát huy cao độ tác dụng của nghệ thuật đối trong thơ thất ngôn Đường luật.

    Từ khóa tìm kiếm:

    • bài thơ nhàn (42)
    • giới thiệu bài thơ nhàn (28)
    • thuyet minh bai tho nhan cua nguyen binh khiem (23)
    • thuyet minh bai tho nhan (19)
    • thuyết minh về bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm (17)
    • thuyet minh bai nhan cua nguyen binh khiem (16)
    • nhan nguyen binh khiem (14)
    • bố cục bài nhàn (13)
    • thuyết minh về bài nhàn (12)
    • thuyết minh bài nhàn (12)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lập Dàn Ý Phân Tích Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn
  • Soạn Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Mở Bài Kết Bài Nhàn Hay Nhất
  • Lời Bài Hát Vị Quê Nhà
  • Tìm Hiểu Về Bài Thơ “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Lớp 10
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 40: Đọc Văn Nhàn
  • Giáo Án Ngữ Văn 10
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 40 Đọc Văn: Nhàn
  • Văn Lớp 10: Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Tìm hiểu về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 1

    Loading…

    Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có học vấn uyên thâm, từng làm quan nhưng vì cảnh quan trường nhiều bất công nên ông đã cáo quan về ở ấn; sống cuộc sống an nhàn, thanh thơi. Ông còn được biết đến là nhà thơ nổi tiếng với hai tập thơ tiếng Hán “Bạch Vân am thi tập” và tập thơ tiếng Nôm “Bạch Vân  quốc ngữ thi”. Bài thơ “Nhàn “được rút trong tập thơ “ Bạch Vân quốc ngữ thi”. Bài thơ đựợc viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật, là tiếng lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về một cuộc sống nhiều niềm vui , an nhàn và thanh thản nơi đồng quê.

    Xuyên suốt bài thơ “Nhàn” là tâm hồn tràn ngập niềm vui và sự thanh tịnh trong tâm hồn tác giả. Có thể xem đây là điểm nhấn, là tinh thần chủ đạo của bài thơ. Chỉ vơi 8 câu thơ đường luật nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mang đến cho người đọc một cuộc sống an nhàn nơi đồng quê êm ả.

    Mở đầu bài thơ là hai câu thơ đề rất mộc mạc:

    Một mai một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    Với phép lăp “một”-“một” đã vẽ lên trước mắt người đọc một khung cảnh bình dị, đơn sơ nơi quê nghèo, dù một mình nhưng không hề đơn độc. Hai câu thơ toát lên sự thanh tịnh của tâm hồn và êm đềm của thiên nhiên ở vùng quê Bắc Bộ. “Một cuốc”, “một cần câu” gợi lên sự bình dị, mộc mạc của một người nông dân chất phác. Hình ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một lão nông an nhàn, thảnh thơi với thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn. Đây có thể nói là cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người ở thời kỳ phòng kiến ngày xưa nhưng không phải ai cũng có thể dứt bỏ được chốn quan trường về với đồng quê như thế này. Động từ “thơ thẩn” ở câu thơ thứ hai đã tạo nên nhịp điệu khoan thai, êm ái cho người đọc. Dù ngoai kia người ta vui vẻ nơi chốn đông người thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mặc kệ, vẫn bỏ mặc để “an phận” với cuộc sống của mình hiện tại. Cuộc sống của ông khiến nhiều người ngưỡng mộ.

    Đến hai câu thơ thực tiếp theo càng khắc họa rõ nét hơn chân dung của “lão nông Nguyễn Bỉnh Khiêm”.

    Loading…

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người đến chốn lao xao

    Đây có thể xem là tuyên ngôn sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm những năm tháng sau khi cáo quan về ở ẩn. Ông tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ đến sống, nhưng đây là cái “dại” khiến nhiều người ghen tỵ và ngưỡng mộ. Ông rất khéo léo trong việc dùng từ ngữ độc đáo, lột tả được hết phong thái của ông. Ông bảo rằng những người chọn chốn quan trường là những người “khôn”. Một cách khen rất tinh tế, khen mà chê, cũng có thể là khen mình và chê người. Tứ thơ ở hai câu này hoàn toàn đối lập nhau từ ngôn ngữ đến dụng ý “dại” –“khôn”, “vắng vẻ” – “lao xao”. Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về nơi vắng vẻ để ở có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước hay không? Với thời thế như vậy giờ và với cốt cách của ông thì “nơi vắng vẻ” mới thực sự là nơi để ông sống đến suốt cuộc đời. Một cốt cách thanh cao, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ.

    Hai câu thơ luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

    Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

    Một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo”. Mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy không có sơn hào hải vị nhưng những thức ăn có sẵn này lại đậm đà hương vị quê nhà, khiến tác giả an phận và hài long. Mùa thu có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá. Chỉ với vài nét chấm phá Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất Bắc rất hào phòng, đầy đủ thức ăn. Đặc biệt câu thơ “Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vài đường nét nhẹ nhàng, đơn giản nhưng toát lên sự thanh tao không ai sánh được. Một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòa hợp nhau.

    Đến hai câu thơ kết dường như đúc kết được tinh thần, cốt cách cũng như suy nghĩ của Nguyễn Bình Khiêm:

    Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

    Hai câu thơ này là triết lý và sự đúc rút Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thời gian ở ẩn. Đối với một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như thế này thì thực sự phú quý không hề là giấc chiêm bao. Ông từng đỗ Trạng nguyên thì tiền bạc, của cải đối với ông thực ra mà nói không hề thiếu nhưng đó lại không phải là điều ông nghĩ đến và tham vọng. Với ông phú quý chỉ “tựa chiêm bao”, như một giấc mơ, khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết mà thôi. Có thể xem đây chính là cách nhìn nhận sâu sắc, đầy triết lý nhất. Với một con người thanh tao và ưa sống an nhàn thì phú quý chỉ như hư vô mà thôi, ông yêu nước nhưng yêu theo một cách thầm lặng nhất. Cách so sánh độc đáo đã mang đến cho hai câu kết một tứ thơ hoàn hảo nhất.

    Như vậy với 8 câu thơ, bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt cách, tinh thần và phong thái của ông. Là một người yêu nước, thích sự thanh bình và coi trọng cốt cách xứng đáng là tấm gương đáng học hỏi. Bài thơ đường luật kết cấu chặt chẽ, tứ thơ đơn giản nhưng hàm ý sâu xa đã làm toát lên tâm hồn và cốt cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cho đến bây giờ, ông vẫn được rất nhiều người ngưỡng mộ.

    Tìm hiểu về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 2

    Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là người có học vấn uyên thâm . Tuy nhiên khi nhắc đến ông là làm mọi người phải nghĩ đến việc , lúc ông còn làm quan ông đã từng dâng sớ vạch tội và xin chém đầu mười tám lộng thần nhưng đã không thành công nên ông đã cáo quan về quê . Do học trò của ông đều là những người nổi tiếng nên được gọi là Tuyết Giang Phu Tử . Ông là người có học vấn uyên thâm ,là nhà thơ lớn của dân tộc . Thơ của ông mang đậm chất triết lí giáo huấn , ngợi ca chí khí của kẻ sĩ ,thú thanh nhàn , đồng thời cũng phê phán những điều sống trong xã hội . Khi mất ông để lại tập thơ bằng tập viết thơ bằng chữ Hán là Bạch Vân am thi tập ; tập thơ viết bằng chữ Nôm là Bạch Vân quốc ngữ thi và “ Nhàn” làbài thơ tiêu biểu trong tập thơ Bạch Vân quốc âm thi tập , được viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật . Bài thơ ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhàn .Qua đó ta có thể thấy được vẻ đẹp chân chính của ông, nét mộc mạc của làng quê .

    “ Một mai một cuốc , một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào 

    Ta dại , ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người dến chốn lao xao

    Thu ăn năng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

    Rượu đến cội cay ta sẽ uống 

    Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”

    Hai câu đề đã khắc họa dược như thế nào 1 cuộc sống nhàn rỗi

    “ Một mai , một cuốc, một cần câu

    Thơ thẫn dầu ai vui thú nào…..”

    Ở câu thơ đầu câu thơ đã khắc họa hình ảnh 1 ông lão nông dân sống thảnh thơi .Bên cạnh đó tác giả còn dùng biện pháp điệp số từ “ một “thêm vào là 1 số công cụ quen thuộc của nhà nông nhằm khơi gợi trước mắt người đọc 1 cuộc sống rất tao nhãn và gần gũi nhưng không phải ai mún là có . Từ “ thơ thẩn” trong câu hai lại khắc họa dáng vẻ của 1 người đang ngồi ung dung chậm rãi và khoan thai .Đặt hình ảnh ấy vào cuộc đời của tác giả ta có thể thấy được lúc nhàn rỗi nhất của ông chính là lúc ông cáo ông về ở ẩn . Và từ “ vui thứ nào” cũng 1 lần nữa nói lên đề tài của bài thơ là về cảnh nhàn dẫu cho ai có ban chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn thư thái . Hai câu thơ đầu đã không chỉ giới thiệu được đề tài mà còn khắc họa tư thái ung dung nhàn hạ , tâm trang thoải mái nhẹ nhàng vui thú điền viên.

    “….. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người dến chốn lao sao……”

    Hai câu thực của bài thơ ý tác giả muốn nhắm đến cảnh nhàn và sử dụng các từ đối nhau như “ ta “_ “ người” ; “ dại” _ “ khôn” ; “ nơi vắng vẻ”_ “ chốn lao xao” từ 1 loạt những từ đối lập đó đã thể hiện được quan niệm sống của tác giả . Nhân vật trữ tình đã chủ động tìm đến nơi vắng vẻ đến với chốn thôn quê sống cuộc sống thanh nhàn mặc cho bao người tìm chốn “phồn hoa đô hội” . hai câu thơ đã đưa ra được hai lối sống độc lập hoàn toàn trái ngược nhau. Tác giả tự nhận mình là “ dại” vì đã theo đuổi cuộc sống thanh đạm thoát khỏi vòng danh lợi để giữ cho tâm hồn được thanh nhàn .Vậy lối sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm có phải là lối sống xa đời và trốn tránh trách nhiệm ?” Điều đó tất nhiên là không vì hãy đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác chỉ có thể làm như vậy mới có thể giữ được cốt cách thanh cao của mình . Do Nguyễn Bỉnh Khiêm  có hoài bảo muốn giúp vua làm cho trăm dân ấm no hạnh phúc nhưng triều đình lúc đó đang tranh giành quyền lực , nhân dân đói khổ tất cả các ước mơ hoài bảo của ông không được xét tới .Vậy nên Nguyễn Bỉnh Khiêm  rời bỏ “ chốn lao xao “ là điều đáng trân trọng .

    “ ….. Thu ăn măng trúc đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao………”

    Hai câu luận đã dùng biện pháp liệt kê những đồ ăn quanh năm có sẵn trong tự nhiên . Mùa nào thức ăn nấy , mùa thu thường có măng tre và măng trúc quanh nhà, mùa đông khi vạn vật khó đâm chồi thì có giá thay . Câu thơ “ xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” gợi cho ta cuộc sống sinh hoạt nơi dân dã .Qua đó ta có thể cảm nhận được tác giả đã sống rất thanh thản , hòa hợp với thiên nhiên tận hưởng mọi vẻ đẹp vốn có của đất trời mà không bon chen , tranh giành .Đăt bài thơ vào hoàn cảnh lúc bấy giờ thì lối sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm  thể hiện được vẻ đẹp của tâm hồn thanh cao đó là lối sống tích cực thể hiện rõ thái độ của Bạch Vân cư sĩ .

    “……. Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”

    Hai câu luận đã thể hiện dược cái nhìn của 1 nhà trí tuệ lớn , có tính triết lí sâu sắc, vận dụng ý tượng sáng tạo của điện tích Thuần Vu . Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm  phú quí không phải là 1 giấc chiêm bao vì ông đã từng đỗ Trạng Nguyên , giữ nhiều chức vụ to lớn của triều đình nên cuộc sống phú quí vinh hoa ông đã từng đi qua nhưng ông đã không xem nó là mục đích sống của ông. Mà ông đã xem đó chỉ là 1 giấc chiêm bao không có thực và ông đã tìm đến với cuộc sống thanh thản để luôn giữ được cốt cách thanh cao của mình .

    Như vậy qua bài thơ ta đã hiểu được quan niệm sống nhàn và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm  coi thường danh lợi , luôn giũ dược tâm hồn thanh cao hòa hợp với thiên nhiên , dề cao lối sống của những nhà nho giáo giàu lòng yêu nước nhưng do hoàn cảnh nên phải sống ẩn dật . Bên cạnh đó Nguyễn Bỉnh Khiêm còn sử dụng ngôn ngữ gần gũi mộc mạc nhưng giàu chất triết lí . Sử dụng khéo léo thể thơ thất ngôn đường luật , điện tích điện cố và cách phép đối thường gặp ở thể thơ Nôm một cách linh hoạt .

    Bài “Nhàn” là một  bông hoa viết bằng chữ Nôm tuyệt đẹp của văn học Việt Nam . Quan niệm sống đề cao vẻ đẹp tâm hồn , lối sống trong sạch của Nguyễn Bỉnh Khiêm  vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay.

    Tìm hiểu về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 3

    guyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam: Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân, vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho. Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi.

    Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hường nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong quy luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy.

    Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị.

    “Một mai, một cuốc, một cần câu,

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

    Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quý của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khá, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ được phác họa trong câu thơ độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc, cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đằng sau những liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền.

    Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh.

    “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

    Người khôn người đến chốn lao xao”

    Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai, những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực: một bên là nhà thơ xưng ta một cách ngạo nghề, một bên là người, một bên là dại của ta, một bên là khôn của người, một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao. Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống cùa Nguyễn Bĩnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dạng ích kỉ làm tầm thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất Nguyên thuở xưa “Người đời tỉnh cả, một minh ta say” đầy u uất, Trạng Trình đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử không bận tâm những trò khôn – dại. Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản:

    “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

    Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hòa hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư. Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát nét gần gũi với triết lí “vô vi” của đạo Lão. “Thoát tục” của đạo Phật. Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hòa hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình. Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hòa hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang Phu Tử đang sống đúng với thiên lương của mình. Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định:

    “Rượu đến cội cây, ta sẽ uống,

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

    Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đă nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gần với đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình:

    “Ơ thể mới hay người bạc ác,

    Giàu thì tìm đến, khó thì lui”

    (Thói đời)

    Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ ‘‘Tăng thử” (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhàn cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân.

    Bài thơ “Nhàn” bao quát toàn bộ triết lí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vong thối nát. Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính.     

    Tìm hiểu về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 4

    Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) quê ở làng Trưng Âm, xã Lí Học, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng, ông đỗ Trạng nguyên năm 1535 và ra làm quan dưới triều nhà Mạc. Ông đã để lại cho đời tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập (khoảng 700 bài) và tập thơ chữ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi (khoảng trên 170 bài). Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lí, giáo huấn, ca ngợi ý chí thành cao của kẻ sĩ và biểu dương quan niệm sống nhàn, đồng thời phê phán những điều xấu xa trong xã hội đương thời.

    Nhàn là bài thơ Nôm nằm trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi. Nhan đề bài thơ là do người đời sau đặt. Bài thơ như lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với tự nhiên, giữ được cốt cách thanh cao, khí tiết cương trực, vượt lên trên những danh lợi tầm thường.

    Hai câu thơ đầu phản ánh cuộc sống nhàn nhã, ung dung của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

    Một mai, một cuốc, một cần câu,

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    Quan Trạng về sống giữa chốn thôn quê nay đã giống như một “lão nông tri điền”, hằng ngày làm bạn với những công cụ lao động như mai để đào đất, cuốc để xới đất, cần câu để câu cá,.;., Cách dùng số từ tính đếm rành rọt cho thấy tất cả đã trở nên gần gũi, quen thuộc trong cuộc sống của ông.

    Câu thơ đưa ta trở về với cuộc sống chất phác đơn sơ của cái thời “tạc tỉnh canh điền ” (đào giếng lấy nước uống, cày ruộng lấy cơm ăn) xa xưa. Quan Trạng đang áo mũ xênh xang, chức lớn, bổng lộc nhiều, ấy vậy mà bỗng dưng rũ bỏ tất cả để trở về với đời sống “tự cung tự cấp” thì cũng đã là: một sự ngông ngạo trước thói đời hám danh, hám lợi. Ngông ngạo mà không ngang tàng, cứ thuần hậu, nguyên thủy, chân chất nông dân:

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    Hai chữ Thơ thẩn phản ánh một cách tài tình phong cách ung dung và tâm trạng thảnh thơi của con người tự cho mình là đã xa lánh cõi trần tục đầy tham, sân, si; trong lòng không còn vướng bận những âm mưu, toan tính bon chen. Niềm vui như hiện lên trong từng bước đi thong thả, nhàn nhã. Niềm vui chi phối cả âm điệu bài thơ, cứ nhẹ nhàng, lâng lâng, thanh thản một cách lạ kì. Cụm từ dầu ai vui thú nào còn nói lên lập trường kiên định của nhà thơ trước lối sống đã lựa chọn. Chữ ai vốn là một đại từ phiếm chỉ, được tác giả sử dụng trong câu thơ này với một nghĩa rất rộng, càng suy ngẫm càng thấy thú vị.

    Nguyên Bỉnh Khiêm cáo quan, trở về quê nhà tức là trở về với thiên nhiên. Sống hòa hợp với thiên nhiên có nghĩa là đã thoát khỏi vòng tranh đua của thói tục, không còn bị cuốn hút bởi tiền tài, địa vị, để tâm hồn được an nhiên, khoáng đạt:

    Ta dại, ta tìm nơi vắng vè,

    Người khôn, người đến chốn lao xao.

    Nhân cách thanh cao Nguyễn Bỉnh Khiêm đối lập với danh lợi như nước với lửa. Vắng vẻ đối lập với lao xao, ta đối lập với người. Tìm nơi vắng vẻ không phải là lánh đời mà là tìm nơi mình thích thú, được sống thoải mái, an nhiên, khác xa chốn quan trường hiểm hóc vinh liền nhục. Nơi vắng vẻ là nơi không có chuyện cầu cạnh, bon chen. Nơi vắng vẻ là nơi thiên nhiên tươi xanh, mang lại sự thảnh thơi cho tâm hồn. Chốn lao xao là chốn cửa quyền trống giong cờ mở, là đường hoạn lộ tấp nập ngựa xe… Đến chốn lao xao là đến chốn chợ lợi đường danh huyên náo, nơi con người chen chúc xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để giành giật quyền lợi, để vinh thân phì gia. Đây là nơi có nhiều nguy hiểm khôn tường.

    Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một bậc thức giả có trí tuệ vô cùng sáng suốt. Sáng suốt trong sự chọn lựa: Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, mặc cho: Người khôn, người đến chốn lao xao. Sáng suốt trong cách nói đùa vui hóm hỉnh, ngược nghĩa: dại mà thực chất là khôn, còn khôn mà hóa dại.

    Ở một bài thơ khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm viết:

    Khôn mà hiểm độc là khôn dại,

    Dại vốn hiền lành ấy dại khôn.

    (Thơ Nôm)

    Như vậy là quan niệm dại, khôn của Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất phát từ trí tuệ, triết lí dân gian: Ở hiền gặp lành; ở ác gặp ác.

    Cuộc sống của bậc đại nhân ở am Bạch Vân đạm bạc mà thanh cao biết mấy:

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

    Hai câu thơ tả cảnh sinh hoạt giản dị mà không kém phần thú vị nơi thôn dã với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhà thơ nói về chuyện sinh hoạt hằng ngày như chuyện ăn, chuyện tắm,… tuy cực kì đơn sơ nhưng thích thú ở chỗ mùa nào cũng sẵn, chẳng phải nhọc công tìm kiếm về mặt tinh thần, cuộc sống giản dị như thế cho phép con người được tự do, tự tại, không cần phải luồn cúi, cầu cạnh kẻ khác, không cần phải theo đuổi công danh, phú quý, không bị gò bó, ràng buộc vào bất cứ khuôn phép nào.

    Những thức ăn quê mùa, dân dã như măng trúc, giá… đều là cây nhà lá vườn, do mình tự làm ra, là công sức của chính mình. Ăn đã vậy, còn ở, còn sinh hoạt? Quan Trạng giờ đây cũng tắm hồ sen, tắm áo như bao người dân quê khác.

    Là bậc triết gia với trí tuệ uyên thâm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nắm vững lẽ biến dịch, hiểu thấu quy luật của Tạo hóa và của xã hội. Theo ông, cái khôn của bậc chính nhân quân tử là quay lưng lại với danh lợi, tìm sự thư thái cho tâm hồn, sống ung dung hòa hợp với thiên nhiên thuần khiết.

    Nhãn quan tỏ tường và cái nhìn thông tuệ của nhà thơ thể hiện tập trung nhất ở hai câu thơ cuối. Nhà thơ tìm đến cái “say” là để “tỉnh” và ông tỉnh táo hơn bao giờ hết:

    Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

    Quan Trạng khẳng định một lần nữa sự lựa chọn lối sống nhàn của mình. Cuộc sống nhàn dật này là kết quả của một nhân cách, một trí tuệ khác thường. Trí tuệ sáng suốt nhận ra rằng công danh, của cải, quyền quý chỉ tựa chiêm bao. Trí tuệ nâng cao nhân cách, làm cho lập trường thêm kiên định để nhà thơ có đủ quyết tâm từ bỏ chốn quan trường lao xao danh lợi, tìm đến nơi thiên nhiên vắng vẻ mà trong sạch, thanh cao để di dưỡng tinh thần, giữ vững hai chữ thiện lương.

    Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải nhằm mục đích trốn tránh vất vả, cực nhọc về thể chất, quay lưng với xã hội, chỉ lo cho cuộc sống nhàn tản của bản thân, ông cho rằng sống nhàn là xa lánh nơi quyền quý, danh lợi mà ông gọi là chốn lao xao. Nhàn là sống hoà hợp với tự nhiên, về với tự nhiên để tu tâm dưỡng tính. Nguyễn Bĩnh Khiêm nhàn thân mà không nhàn tâm, lúc nào cũng canh cánh nỗi niềm thương nước lo dân. Đặt trong hoàn cảnh xã hội phong kiến đương thời đã có những biểu hiện suy vi về đạo đức thì quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang nhiều yếu tố tích cực.

    Chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện khá rõ nét qua bài thơ nhàn. Từ bức chân dung giản dị, mộc mạc ấy toát lên vẻ đẹp nhân cách caơ quý, vẻ đẹp trí tuệ tuyệt vời của bậc đại Nho mà tên tuổi lưu danh muôn thuở.

    Tìm hiểu về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 5

    Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là người có học vấn uyên thâm. Ông là nhà thơ lớn của dân tộc. Ông để lại cho dân tộc hai tập thơ chữ Hán và chữ Nôm đó là: Bạch vân am thi tập (chữ Hán khoảng 700 bài) và Bạch vân quốc ngữ thi (chữ Nôm khoảng 170 bài). Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lí, giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ si, thú thanh nhàn đồng thời phê phán những điều xấu xa trong xã hội. Nhàn là bài thơ Nôm trích từ Bạch vân quốc ngữ thi. 

    Một mai, môt cuốc, môt cần câu

    Thơ thẩn dầu ai, vui thú nào 

    Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ 

    Người khôn, người đến chốn lao xao.

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

    Rượu đến cội cây, ta sẻ uống,

    Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

    Tâm lí Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những biểu hiện tích cực và tiêu cực.

    Yếu tố tích cực của chữ Nhàn là ở chỗ: Nhàn là sông theo lẽ tự nhiên, sống hoà hợp với thiên nhiên để cho tâm hồn được thanh thản.

    Chúng ta sẽ thấy rất rõ những điều trên qua việc đi sâu phân tích bài thơ Nhàn của ông trong Bạch vân quốc ngữ thi.

    Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng liên tiếp số từ một nhằm mục đích nhấn mạnh hoàn cảnh sống của ông khi cáo quan về quê. Với những dụng cụ quen thuộc, một mai, một cuốc, một cần câu và có thể là cả một con người, một cuộc đời ở đó. Số từ một biểu hiện sự cô đơn, một mình của Nguyễn Bỉnh Khiêm chốn quê nghèo, ông làm bạn cùng với những vật dụng quen thuộc của nhà nông là mai đào đất, xắn đất, cuốc lật đất, đi kèm phía sau là một cần câu để nhằm chỉ ra rằng sau những lúc làm lụng vất vả, ông vẫn giữ được các thú chơi tao nhã, thanh đạm của người Việt Nam đó là đi câu cá. Số từ một thể hiện sự cô đơn, trong một câu thơ nhà thơ đã sử dụng tơi ba số từ một nhằm nhấn mạnh sự cô đơn, trống vắng của một con người mang đầy chí lớn đang phải sống cuộc đời ẩn dật. Nhưng đứng sau ba số từ một cũng lại là một loạt các danh từ mai, cuối, cần câu, chắc gì sau ba từ một đứng trước… không có một từ một đứng sau. Chắc gì sau ba danh từ đó không có thểm một danh từ ẩn sau đó. Đó là một cuộc đời, một con người chính các công việc của nhà nông ấy, tuy vất vả nhưng lại rất ấm áp và gần gũi. Để rồi chỉ có gần gũi, vui bên thú chơi câu cá tao nhã, thanh đạnt mới làm cho nhân vật trữ tình của chúng ta phải thơ thẩn mà không cần bận tâm đến người khác nói gì, nghĩ gì, làm gì. Chỉ cần những điều khiển ta được vui vẻ, được hoà hợp được.

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    Nhịp thơ của câu đầu 2/2/3 thể hiện sự khẳng định, quyết tâm có thể cả sự thách thức.

    Một mai / một cuốc / một cần câu

    Nhịp thơ đã tạo cho câu thơ có sức chuyển mạnh mẽ, không chỉ là lời nói khẳng định thông thường những gì mình trải qua mà táe giả qua đó muốn khẳng định sự quyết tâm vượt qua những khó khăn, vất vả trong cuộc đời đầy xô bồ, đổi thay. Và từ đó thấy rằng nhân vật trữ tình rất yêu quí, gắn bó thanh đạm mà gần gũi, ấm áp tình người. Cũng chính vì thế mà có sự chuyển nhịp ở câu sau:

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    Nhịp thơ 4/3 là sự chậm lại của cảm xúc tâm trạng và nó đem lại một hơi ấm, niềm vui cho nhân vật trữ tình đến đây đã tìm thấy phương thức sống của cuộc đời mình. Với ước muốn sống hoà hợp với thiên nhiên để cho tâm hồn được thanh thản, yên vui, vì thế nhà thơ của chúng ta đã rời xa chốn lao xao để về nơi vắng vẻ.

    Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ 

    Người không, người đến chốn lao xao. 

    Tự nhận mình là dại, tác giả dại vì đã rời xa chốn phồn hoa đô hội, lấp lánh trở về sống ẩn nấp, vất vả nơi vùng quê nghèo. Nhưng có phải vì thê mà dại chăng? Và thế nào là khôn, không là đến sống ở nơi sung sướng, đầy đủ lụa là gấm vóc, ấm êm, cung phụng lẽ vì thế mà mới không. Và khôn, dại như thê nào mà tìm đến ở chôn lao xao và nơi vắng vẻ.

    Đặt câu thơ trong hoàn cảnh sống của tác giả, chúng ta sẽ thấy quan niệm về nơi vắng vẻ và chôn lao xao hay quan niệm dại và khôn. Nơi vắng vẻ ở đây chính là cuộc sống đạm bạc với thôn quê còn nhiều khó khăn và thiếu thốn. Chỉ có người dám coi thường danh lợi, coi thường vật chất, coi của cải chỉ là phù phiếm mới có thể dại mà đến ở nơi vắng vẻ. Còn chốn lao xao chính là nơi tấp nập ngựa xe, nơi sung sướng và đầy đủ, là cuộc sống hoàn toàn đối lập với nơi vắng vẻ và nơi đó chỉ đành cho những ai biết khôn, những ai coi danh lợi, vật chất là cuộc sống thì mới sống và muốn sống ở đó. Tác giả đã sử dụng hai từ láy vắng vẻ và lao xao để miêu tả hai chốn ở khác nhau. Vắng vẻ từ láy tạo nên đậm nét sức bình dị, yên bình của thôn quê. Còn từ láy lao xao nó như có cả tiếng reo vui, tiếng náo nhiệt và tấp nập của chốn đô thành. Và từ đây ta có thể hiểu nơi vắng vè là thôn quê, yên lành, còn chốn lao xao là vùng kinh đô đầy náo nhiệt. Nhưng còn không là thế nào và dại là ra sao? Chon nơi vắng vẻ là để tránh xa cuộc sống xô bồ của cuộc đời đầy bon chen, toan tính và không ít hiểm nguy. Và khi tránh xa những điều đó thì tác giả dại hay khôn. Còn khôn sống ở nơi đô thị tránh xa sự yên bình, thanh sạch khi đó là khôn hay dại khi bước chân vào chốn xô bồ. Nguyễn Binh Khiêm đã dùng biện pháp nghệ thuật sóng đôi ở hai câu thơ này để diễn tả sự đối lập, tương phản, thậm chí là trái ngược hoàn toàn tới xung khắc của hai nơi sống, hai quan điểm sống và hai sự lựa chọn.

    Ta dai / ta tìm nơi vắng vẻ 

    Người khôn / người đến chốn lao xao.

    Ta đối với người, dại đối với khôn, ta tìm đối với người đến (thể hiện sự lựa chọn qua hai từ tìm và đển) nơi vắng vẻ đối với chốn lao xao. Có lẽ đây là hai câu thơ hay nhất của bài thơ. Bởi nghệ thuật đối, bởi ý nghĩa tư tưởng của hai câu muốn nói đến. Hai câu thơ đối xứng nhau rất chuẩn cả về từ và cả về dấu thanh tạo nên sự khác biệt và đối lập nhằm khẳng định một lần nữa cách sống và cách lựa chọn của tác giả?

    Hai câu tiếp theo miêu tả cuộc sống của Nguyễn Bình Khiêm nơi thôn quê nghèo thanh đạm với những sản vật riêng chỉ có nơi thôn quê.

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá 

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

    Mặc dù sống ở nơi thôn quê còn nhiều khó khăn vất vả, nhưng ở đó lại cos các thú vui riêng và được thưởng thức những món ăn rất tầm thường nhưng lại ngon vô cùng. Chỉ có măng trúc và giá thôi, mà nào thức nấy, những thứ ấy dù rất bình thường vì lúc nào cũng có sẵn trong nhà. Thế nhưng khi ăn chúng ta sơ cảm nhận được vị ngon của nó nhờ vào sự hoà hợp, cảm thông của tấm lòng với tấm lòng. Bởi vì đã không ít lần Nguyễn Bỉnh Khiêm nói rằng:

    Câu thanh nhàn đọc qua ngày tháng.

    Hay:  

    Thanh nhàn ấy ắt là tiên khách

    Qua hai câu thơ thứ 5 và 6 này, chúng ta thấy cuộc sống của tác giả nơi thôn quê thaajt đạm bạc mà thanh nhàn. Đạm bạc hỏi món ăn chỉ măng và giá nhưng thanh nhàn, hoà hợp với thiên nhiên.

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

    Chỉ có vùng nông thôn người ta nói có thể được vùng vẫy, thoải mãi thả hồn mình vào trong thiên nhiên hoà mình với thiên nhiên để cảm hết niềm hạnh phúc, thú vui lạc quan ở đời.

    Nếu mới đọc qua chúng ta chỉ thấy đó là hai câu thơ tả cuộc sống nơi thôn quê của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhưng chiều sâu trong đó lý tưởng sống cùa ông, là khát vọng được sống hoà hợp với thiên nhiên. Được ăn những món ăn mà chỉ do thiên nhiên hoà quyện với thiên nhiên mới khiến ta mở rộng lòng mình, vùng vẫy ôm thiên nhiên vào lòng và cũng chính thiên nhiên ôm ta vào lòng nâng dậy sức sống và khơi mát tâm hồn. Chỉ có thiên nhiên tươi đẹp mới làm cho tâm hồn ta thanh thản, ấm áp mà thôi. Là nếu cần đánh đổi thì Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ sẵn sàng đánh đối phú quí để được tận hưởng cuộc sống này, tận hưởng các nhàn.

    Để rẻ công danh muốn được nhàn.

    Dường như bất kì thi nhân nào cũng không tránh được một thú vui, không thể thiếu của cuộc đời đó là rượu và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không tránh khỏi niềm đam mê với các thú vui ấy:

    Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống 

    Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

    Đây là hai câu thơ có lấy điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say và nằm dưới gốc cây hoè ngủ. Ông ta mơ thấy mình ở nước Hoè An được công danh phú quí, vinh huấn. Nhưng khi tỉnh dậy thì đó chỉ là giấc mộng, thấy cành hoè phía nam chỉ có một tấc kiến mà phơi. Điển tích này để chỉ phú quí chỉ là giấc chiêm bao.

    Chính vì quan điểm này Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không màng đến danh lợi bởi danh lợi, phú quí chỉ là phù phiếm và chỉ như một giấc mộng rồi sẽ qua đi.

    Để rẻ công danh muốn được nhàn.

    Hay:

    Thấy dặm thanh vân lại bước chen Được nhàn ta sá dường thân nhàn. 

    Chữ nhàn ở thơ Nguyễn Bình Khiêm đôi lập với tất cả chữ nhàn ở thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhàn than chức không phải là nhàn tâm. Dù nhàn nhưng vẫn lo âu việc nước việc đời.

    Hai câu kết tác giả muốn khẳng định rằng tiền bạc của cải chỉ là phù phiếm, nó sẽ nhanh chóng tan biến theo bước đường thời gian, vì vậy mà phương châm sống đừng chỉ lúc nào cũng mong về tiền tài, danh vọng.

    Nhàn là một triết lí sống để bảo toàn nhân phẩm trước sự đua chen danh lợi, trước sự băng hoại về đạo đức:

    Có thuở được thời mèo đuổi chuột 

    Đến khi thất thế kiến tha bò.

    Và:

    Hoa càng khoe nở hoa càng rữa 

    Nước chứa cho đầy nước ắt vơi. 

    Toàn bộ bài thơ nhàn là một lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hoà hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi. Nhàn là triết lí sống chi phối nhiều sáng tác của Nguyễn Binh Khiêm. Tuy có lúc nó có mang yếu tốt tiêu cực nhưng nó lại là triết lí sống giúp con người ta sống đẹp hơn, đúng hơn với đời.

    Tìm hiểu về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Bài làm 6

    Chốn quan trường thời xưa ai cũng mong hòng có một chân trong những chức phận trong cung, người muốn thì nhiều mà người không muốn rời bỏ chốn quan trường thì ít. Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm một bậc quân thần trung quân ái quốc và một nhà nho đại tài đã trở về quê ở ẩn. Trong khoảng thời gian ở ẩn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sáng tác bài thơ Nhàn thể hiện sự nhàn rỗi của mình khi rời bỏ chốn quan trường, đồng thời nói lên những quan điểm của mình về chốn quan trường ấy, “dại” hay “khôn” chỉ có thể đọc thơ của ông mới hiểu hết được quan điểm ấy.

    Cái tên của bài thơ thật độc đáo và đặc biệt. Nhan đề ấy chỉ có một câu nhưng đã nói lên tất cả những gì mà nhà thơ muốn gửi gắm. Một tiếng nhàn thể hiện sự nhàn dỗi của con người trong cuộc sống thực tại. Theo thông thường thì nhàn thì sẽ chỉ có ngồi mát ăn bát vàng thôi vậy thì nhàn mà Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn nói đến là gì?. Nhan đề độc đáo như có tác dụng hấp dẫn người đọc hơn khi vào những tâm tư chia sẻ của nhà thơ ấy.

    Trước hết là hai câu thơ đầu với những hình ảnh quen thuộc của làng quê đồng ruộng Nguyễn Bỉnh Khiêm giới thiệu cuộc sống mà ông coi là nhàn hạ cho mọi người biết:

    “Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

    Hình ảnh những vật dụng quen thuộc của công việc làm đồng cho thấy được những không gian êm ả yên tĩnh của làng quê. Có thể mỗi nhà nho nghỉ quan về ở ẩn đều tìm đến chốn làng quê để cho tâm hồn mình thanh tịnh chứ không ở trên kinh thành. Làng quê ấy không chỉ có những cảnh vật quen thuộc như cây đa bến nước mái đình mà ở đây làng quê hiện lên trên những vật dụng công cụ của đồng áng. Nào mai, nào cuốc những thứ ấy đều là công việc mệt nhọc của nhà nông. Cái công việc mà làm quần quật cả ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời, một nắng hai sương. Ấy thế mà ở đây tác giả lại noi đây là việc nhàn tại sao vậy. có thể nói so với Nguyễn Bỉnh khiêm thì đó là một công việc tuy mệt mỏi chân tay nhưng lại không mệt trí óc hay tâm hồn. Chí ít ra thì ở đây ông có thể “thẩn thơ” với thú vui câu ca cảnh vật làng quê, tận hưởng sự bình yên không khí nơi đây.

    Tiếp đến hai câu thơ sau thì chúng ta thấy được những quan niệm của nhà thơ về sự “khôn” “dại” trong việc làm quan hay nghỉ hưu về quê làm một anh nông dân quèn để giữ cho mình một khí tiết trong sạch:

    “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn, người đến chỗ lao xao”

    Chắc hẳn trước sự lựa chọn của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì nhiều người có thể nói ông là dại chính vì thế mà ông đã nói lên chính những tâm sự của mình để bày tỏ quan điểm sống. Tác giả nói ta dại cho nên ta về nơi thôn quê vắng vẻ hẻo lánh để ở còn người khôn người đến những chốn lao xao như quan trường. có thể thấy rằng ở đây tác giả đã thể hiện cách nói đối lập để làm rõ quan điểm của mình. Đồng thời cũng qua đó ta thấy được lẽ sống của những bậc nho gia thời xưa. Người nhà nho không gì quý hơn là thanh danh và sự trong sạch của mình chính vì thế mà ai cũng hết sức lắng đục tìm trong để bảo vệ cho khí tiết của mình. Nơi vẳng vẻ ở đây chính là chốn làng quê, chốn lao xao chính là nơi quan trường nhiều hiểm độc.

    Tưởng chừng những nơi vắng vẻ kia nguy hiểm nhưng chính chôn lao xao kia mới là đáng sợ. bởi vì sao?, vì trong cái chốn thâm cung nhiều người âm mưu nghiệp lớn hãm hại lẫn nhau, đấu đá dành phần hơn và có thể bất chấp mọi thủ đoạn để tiến lên. Chính vì thế mà nhà thơ chán ghét và đặc biệt nói cách ở trên thì nhà thơ như muôn người đọc tự hiểu được như thế nào mới là dại mới là khôn thật sự.

    Cảnh sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện rất rõ trong hai câu thơ tiếp theo. Đó bức tranh của xuân hạ thu đông, bốn mùa của đất trời và khi ấy con người nhàn hạ kia đã có những thực phẩm thể hiện sự nhàn của mình:

    “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

    Mùa thu tác giả ăn măng trúc trong rừng, mùa đông thì ăn giá đỗ, mùa xuân tắm hồ sen, mùa hạ tắm ao. Cảnh sinh hoạt của nhà thơ nơi thôn dã thật sự rất bình thường thế nhưng qua đó ta thấy được một tâm hồn đồng điệu với thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên, ăn, uống, tăm những gì của thiên nhiên. Có thể nói nhà thơ như đang hòa mình vào đất trời. Mùa đông ăn giá là giá đỗ hay cũng chính là cái giá lạnh của gió mùa đông bắc. thế nhưng cuộc sống như thế nhà thơ không cần phải lo nghĩ gì và theo quan điểm của nhà thơ thì đó chính là “nhàn”.

    Cuộc sống nhàn ấy với một nhà nho không chỉ hòa hợp với thiên nhiên mà còn phải có cả rượu:

    “Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp

    Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao”

    Đến rượu cũng thật sự là thiên nhiên qua hình ảnh rượu đến gốc cây. Cái “nhắp” kia như vẽ lên một hình ảnh nhà nho già tây cầm ly rượu mà đưa lên môi nhắp lấy một cái ngâm trong miệng cái nồng nàn hơi men của rượu. Thế rồi mắt đưa ra khung cảnh bầu trời mà mơ màng ngắm vịnh. Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đó chính là cuộc sống thanh đạm của nhà thơ song đối với ông thì đó chính là phú quý như một giấc chiêm bao vậy.

    Bài thơ đã vẽ lên một nhà nho về quê ở ẩn với những thú vui lao động như bao nhiêu người nông dân khác. nếu như những người nông dân coi việc đó là chán ngắt thì với Nguyễn Bỉnh Khiêm đó lại chính là thú vui. Cuộc sống đạm bạc giản dị mà thanh cao cùng với quan điểm “khôn- dại” ta thấy hiện lên một nhà nho đạm bạc và một tâm hồn cao đẹp yêu thiên nhiên biết bao nhiêu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vẻ Đẹp Của Cuộc Sống Và Tâm Hồn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Khổ Đầu Bài Thơ “Nhàn”
  • Vẻ Đẹp Tâm Hồn Và Triết Lí Sống “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Thơ Hay Tháng 9 – Chùm Thơ Về Mưa Buồn Mùa Thu Hay Thổn Thức Nỗi Lòng
  • Thơ Vui Về Mưa – Chùm Thơ Hài Hước Về Trời Mưa
  • Chia Sẻ 15 Bài Thơ Tứ Tuyệt Về Mưa Càng Đọc Càng Hay
  • Đọc Hiểu Bài Thơ “vội Vàng”

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Bài Thơ “vội Vàng” Của Xuân Diệu
  • 4 Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu
  • Cảm Nhận Khổ 2 Bài Thơ Vội Vàng
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “vội Vàng” Của Xuân Diệu
  • Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Đoạn 1
  • Vội vàng là một bài thơ rất Xuân Diệu. Xuân Diệu ở trái tim sôi sục, ở cặp mắt xanh non háo hức, ở sự khẳng định cái Tôi, trong quan hệ gắn bó với đời, ở nhịp thơ hăm hở, cuống quýt, ở hình ảnh rất táo bạo đầy rẫy cảm giác và có tính sắc dục, ở cú pháp rất Tây và lối qua hàng hết sức thoải mái…

    Tất cả đều trở thành thơ và mỗi câu, mỗi chữ đều mang hơi thở nồng nàn say đắm của “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh).

    (Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Sđd)

    1. Xuân Diệu (1916 1985) tên đầy đủ là Ngô Xuân Diệu. Cha ông là thầy đồ xứ Nghệ (quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh), mẹ ông quê Bình Định. Xuân Diệu được thừa hưởng sự uyên thâm, cần cù của nhà nho ở người cha ; là trí thức Tây học, ông được hấp thụ những tinh hoa văn hoá phương Tây. Vì thế, thơ ca Xuân Diệu là sự kết hợp hài hoà hai yếu tố Đông Tây, trong đó yếu tố Tây học được tiếp thu trong nhà trường chính thức có ảnh hưởng đậm hơn. Sau một thời gian làm công chức ở Mĩ Tho, ông thôi việc ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn.

    Xuân Diệu bí mật tham gia Hội Văn hoá cứu quốc năm 1943. Năm 1946 được bầu là Uỷ viên quốc hội khoá một của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Suốt từ đó cho đến khi mất, ông từng là Uỷ viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam nhiều khoá. Đóng góp lớn nhất của Xuân Diệu cho đất nước vẫn là sự nghiệp thơ văn. Ông đã từng đi nói chuyện thơ (hàng trăm buổi) cho nhiều đối tượng nghe. Năm 1983, ông được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà Dân chủ Đức. Ông được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1, năm 1996).

    2. Vội vàng là bài thơ tiêu biểu nhất cho nét phong cách nổi bật trong thơ Xuân Diệu. Tác phẩm được rút trong tập Thơ thơ, tập thơ xuất sắc và tiêu biểu nhất cho thơ Xuân Diệu trước Cách mạng.

    Bài thơ thể hiện một tình yêu cuộc sống tha thiết, qua đó thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống. So với thơ ca truyền thống, bài thơ mới mẻ về cả tư tưởng và thi pháp.

    3. Tình yêu cuộc sống tha thiết mãnh liệt đã dẫn đến quan niệm sống hết mình, sống bằng mọi giác quan. Cái cuống quýt vội vàng trong cách sống mà Xuân Diệu thể hiện trong bài thơ không phải là lối sống vội vàng, hưởng thụ cá nhân, mà là sống hết mình. Có thể hiểu nội dung này theo bố cục hai phần của bài thơ :

     Phần 1 (30 câu thơ đầu) : tập trung luận giải các lí do vì sao phải vội vàng  ở đó chứa đựng một quan niệm triết học về vũ trụ, nhân sinh mới mẻ chưa thấy trong thơ ca truyền thống. Cuộc đời tươi đẹp và vô hạn, thời gian của con người là hữu hạn.

     Phần 2 (đoạn thơ còn lại) : giải pháp sống. Vì cuộc sống vô cùng tươi đẹp như vậy nên phải sống thật nhiệt thành, phải hết mình, hoà mình cùng thiên nhiên, cùng cuộc đời thì mới cảm nhận hết ý nghĩa của sự sống.

    Quan niệm mới mẻ của nhà thơ thể hiện ở hệ thống hình ảnh thơ mới lạ, nhiều sắc màu và tràn đầy cảm xúc. Bài thơ là tiếng ca thúc giục mọi người, nhất là những người trẻ tuổi hãy hết mình với cuộc đời, sống thật nhiều và thật có ý nghĩa.

    4.Đọc hiểu

    “Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết”( ). Đó là nhận xét của hai nhà nghiên cứu Hoài Thanh và Hoài Chân về những cảm xúc về cuộc đời luôn mãnh liệt trong thơ Xuân Diệu. Xuân Diệu được coi là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, thơ ông luôn thể hiện một cách chân thực, nồng nàn và hiện đại nhất những trạng thái cảm xúc của con người trước cuộc sống. Vội vàng là tiếng nói sôi nổi, hăm hở của một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt và là tuyên ngôn cho một quan niệm sống, triết lí sống được thể hiện bằng những hình tượng thơ thấm đẫm cảm xúc. Đây là bài thơ tiêu biểu cho sự bùng nổ mãnh liệt của cái Tôi thơ mới nói chung mà lại in dấu khá đậm hồn thơ Xuân Diệu, vừa rất tiêu biểu cho sự cách tân táo bạo, độc đáo của nghệ thuật thơ ông.

    Vội vàng là một bài thơ được xem là thành công và tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu. Bài thơ thể hiện khả năng cảm nhận tinh tế vẻ đẹp cuộc sống, đồng thời thể hiện một quan niệm sống, một triết lí nhân sinh tích cực. Trong không gian văn hoá và điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam những năm ba mươi của thế kỉ XX mà một người thanh niên đang ở tuổi đôi mươi có thể có những vần thơ rạo rực và triết lí sâu sắc như Vội vàng là một minh chứng thuyết phục cho tài năng được đánh giá là “một trong ba đỉnh cao của thơ mới”. Bài thơ đã mang đến cho bản nhạc đượm buồn và đậm chất đau thương, tuyệt vọng của thơ mới một khúc ca tràn đầy hi vọng.

    Tôi muốn tắt nắng đi

    Cho màu đừng nhạt mất ;

    Tôi muốn buộc gió lại

    Cho hương đừng bay đi.

    Khát vọng được nhấn mạnh bởi sự lặp lại cấu trúc “Tôi muốn…” trong một đoạn bốn câu thơ năm chữ. Nhịp thơ và cấu trúc ấy đã gợi vẻ cuống quýt, vội vàng. Nội dung của ý muốn ấy lại càng độc đáo, đó là “tắt nắng” và “buộc gió”. Đó là khát vọng níu giữ những vẻ đẹp của cuộc đời. “Màu” và “hương” là những tinh tuý của đất trời. Nhà thơ muốn níu giữ lại vẻ đẹp đó. Nhưng “tắt nắng”, “buộc gió” là điều không thể thực hiện. Ngay những dòng thơ đầu tiên đã phảng phất sự bất lực và nuối tiếc của nhân vật trữ tình. Và cũng ngay ở đây, cái Tôi cá nhân của thi sĩ đã xuất hiện với tư thế chủ động trước cuộc đời.

    Những câu thơ tiếp theo lí giải cụ thể nguyên nhân dẫn đến khát vọng có vẻ “ngông cuồng” ở những câu đầu. Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp được miêu tả sinh động và đáng yêu :

    Của ong bướm này đây tuần tháng mật,

    Này đây hoa của đồng nội xanh rì,

    Này đây lá của cành tơ phơ phất ;

    Của yến anh này đây khúc tình si ;

    Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

    Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa ;

    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần ;

    Biện pháp điệp từ lại xuất hiện. Này đây có tính chất như một lời liệt kê, một sự xác nhận về sự hiện hữu của những sự vật được nói tới. Tất cả các sự vật ấy lại đều đang ở thì đẹp nhất, tươi non nhất : tuần tháng mật, đồng nội xanh rì, cành tơ, khúc tình si… Mùa xuân được hiện ra bằng vẻ đẹp của tháng giêng tràn trề sức sống xuân thì và tình tứ giao hoà quấn quýt. Ong bướm, hoa cỏ, chim muông, âm thanh và ánh sáng… hiện ra qua những hình ảnh nhân hoá đều tràn đầy hạnh phúc, tươi non mơn mởn, dạt dào sức sống trong một thế giới ngất ngây mộng ảo.

    Trong con mắt xanh non háo hức của thi nhân, ngày tháng trở thành “tuần tháng mật”, âm thanh của thiên nhiên trở thành những giai điệu vô cùng tình tứ. Ta đã từng nghe đến “khúc nhạc hường”, “khúc nhạc thơm” (Này lắng nghe em khúc nhạc thơm  Say người như rượu tối tân hôn) và giờ đây là một “khúc tình si”. Còn ánh bình minh lại hiện lên độc đáo qua hàng mi dài của người thiếu nữ chớp mắt làm duyên  “ánh sáng chớp hàng mi”. Nhịp thơ dồn dập, điệu thơ, ý thơ không dứt đã diễn tả được sự vui mừng, niềm khao khát đến cuống quýt của nhân vật trữ tình trước vẻ hấp dẫn của thiên nhiên. Và bức tranh thiên nhiên muôn màu muôn vẻ hiện lên đẹp và tràn đầy sức sống. Xuân Diệu đã chọn từ ngữ, hình ảnh và cách diễn đạt giàu tính hình tượng, gợi cảm và rất hiện đại để bộc lộ những cảm nhận tinh tế của mình về cuộc sống. Cao trào của cảm xúc đã giúp nhà thơ sáng tạo nên một hình ảnh thật đắt về vẻ đẹp của thiên nhiên :

    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần

    Đây là một hình ảnh so sánh táo bạo và độc đáo, nó cũng thể hiện được quan điểm thẩm mĩ hiện đại của Xuân Diệu. Quan điểm này trái ngược với quan điểm của thơ ca truyền thống. Nhà thơ đã dùng vẻ đẹp của con người, thậm chí rất con người (cặp môi gần) để diễn tả vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhà thơ đã cụ thể hoá cái khao khát của con người và vẻ đẹp của tự nhiên với từ ngon. Chữ ngon được dùng rất tài hoa. Nhà thơ cảm nhận cái đẹp của mùa xuân không phải bằng thị giác mà bằng cả vị giác, xúc giác, bằng cả tâm hồn luôn “thức nhọn giác quan” để sáng tạo nên một hình ảnh thơ khoẻ khoắn đầy sức sống không chỉ biểu thị niềm vui say ngất ngây trước thiên nhiên mà còn thể hiện một quan điểm mĩ học mới : Con người là thước đo thẩm mĩ của vũ trụ, vẻ đẹp con người trần thế là tác phẩm kì diệu của hoá công, thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất là vì có con người giữa tuổi trẻ, mùa xuân, tình yêu. Tháng giêng là mùa xuân, mùa của sự đâm chồi nảy lộc, của sự hồi sinh, và đây là thời gian vạn vật sinh sôi nảy nở. Cho nên với thi sĩ, xuân luôn là thời gian đẹp nhất trong năm. Và để thể hiện điều đó, Xuân Diệu đã chọn một hình ảnh so sánh thật đắt. Bức tranh thiên nhiên ấy đã đủ cho thấy nhà thơ yêu cuộc sống đến nhường nào ! Nhà thơ viết tiếp :

    Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa :

    Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

    Câu thơ đượm màu triết lí. Sau phút giây để cảm xúc thăng hoa cùng vẻ đẹp của đất trời, xúc cảm của nhân vật trữ tình tạm lắng xuống và chuyển sang chiều hướng suy tư. Nhà thơ đã hình ảnh hoá triết lí ấy : không thể để những điều tốt đẹp (xuân) qua đi rồi mới thấy nuối tiếc. Tâm trạng “nắng hạ mới hoài xuân” là tâm trạng rất phổ biến của con người. Bởi thông thường, trong cuộc sống, con người thường không coi trọng những gì mình đang có, chỉ khi nó đã qua đi mới thấy nó có ý nghĩa quan trọng và lại nuối tiếc. Vậy “xuân” không chỉ là hình ảnh khái quát cho những vẻ đẹp của thiên nhiên đã được nhà thơ nói đến ở đoạn thơ trên mà có ý nghĩa khái quát chỉ tất cả những gì mà tạo hoá ban tặng cho con người.

    Mỗi bài thơ của Xuân Diệu bao giờ cũng là một mạch cảm xúc liên tục. Ý thơ nọ gọi và nối với ý thơ kia bằng một mối liên kết tinh tế. Sau triết lí rất khái quát ấy là những dòng lí giải tại sao phải vội vàng :

    Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

    Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

    Và xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

    Những câu thơ là lời bộc bạch chân thành của chủ thể trữ tình. Đoạn thơ tập trung thể hiện và lí giải quan niệm mới của nhà thơ về thời gian. Theo đó, thời gian trôi đi thì không bao giờ trở lại. Nhà thơ đặt thời gian của vũ trụ trong mối quan hệ với thời gian của đời người để giảng giải quan niệm về sự không tuần hoàn của vạn vật :

    Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

    Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !

    Đúng vậy, có thể trời đất còn mãi nhưng con người không thể sống hai lần nên sự tuần hoàn ấy là vô nghĩa. Mọi người vẫn nói, Xuân Diệu là nhà thơ của “cảm thức về thời gian” quả không sai. Nhà thơ rất nhạy cảm với những bước đi vô hình của thời gian. Vì thế, mỗi thời khắc qua đi là một cuộc chia li đầy nuối tiếc và cảm giác mất mát tràn ngập trong tâm hồn thi sĩ. Nhạy cảm về sự mất mát đến mức cảm nhận được cả “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi  Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”. Tâm trạng của con người đã thấm sang cả cảnh vật. Thiên nhiên được nhân hoá, cũng biết hờn, biết sợ như con người.

    Tình yêu thiết tha đối với cuộc sống đã khiến chủ thể vội vàng, cuống quýt đến gần như bị ám ảnh. Nó cho thấy con người ấy yêu cuộc sống và quý trọng những giây phút của cuộc đời đến nhường nào. Thái độ ấy của thi nhân thể hiện một quan điểm sống rất tích cực và tiến bộ. Vội vàng không có nghĩa là chỉ lo hưởng thụ, là sống gấp, mà là sống hết mình, sống tốt, nghĩa là phải biết quý trọng những giây phút của cuộc đời mình để khi thời gian trôi đi không còn phải nuối tiếc quá nhiều. Nhà thơ đã cất tiếng giục giã :

    Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm

    Thời gian vẫn còn, cuộc sống vẫn luôn rất đáng yêu vì thế hãy sống bằng mọi giác quan, bằng cả trái tim và khối óc, để hưởng tụ cuộc sống quý giá này. Khổ thơ cuối cùng đã diễn tả đặc biệt thành công khát vọng sống đang sôi trào mạnh mẽ trong trái tim thi sĩ trẻ :

    Ta muốn ôm…

    Từ Tôi muốn đã chuyển thành Ta muốn, thể hiện sự tăng tiến của khát vọng. Lúc đầu còn e dè, là “tắt nắng”, “buộc gió”. Khát vọng lớn nhưng còn trừu tượng và chung chung. Và dường như chỉ mới dừng lại ở khát vọng níu giữ vẻ đẹp cuộc sống. Còn bây giờ là khát khao hưởng thụ. Và khao khát đó trào dâng rất mãnh liệt. Cảm xúc đó được thể hiện ở việc chọn dùng từ, cấu trúc, biện pháp tu từ trong đoạn thơ cuối cùng :

    Ta muốn ôm

    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn ;

    Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

    Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

    Và non nước, và cây, và cỏ rạng

    Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

    Cho no nê thanh sắc của thời tươi ;

     Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

    Đoạn thơ xuất hiện hàng loạt động từ và đều là động từ mạnh cùng với những tính từ có khả năng biểu hiện cảm xúc mạnh đã bộc lộ được trạng thái cảm xúc cao trào của nhân vật trữ tình. Dường như anh muốn hoà tan mình vào đất trời cây cỏ. Niềm khao khát sống, khao khát giao cảm với đất trời và cuộc đời được bộc lộ mạnh mẽ nhất ở câu thơ cuối :

     Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

    Có lẽ chỉ có Xuân Diệu với một tình yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt say mê mới có thể táo bạo và tạo được sự thăng hoa cảm xúc tới mức này. Không còn là ôm, là riết nữa mà là cắn. Xuân Diệu đã sáng tạo cho thơ Việt Nam một hình ảnh thơ vô cùng độc đáo và đã chứng minh rằng tình yêu cuộc sống có thể đẩy cảm xúc của thi nhân đến đỉnh cao của sáng tạo.

    Vội vàng là một dòng cảm xúc chân thành thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết của nhà thơ. Giọng điệu, hình thức câu thơ thay đổi linh hoạt với một thế giới hình ảnh đa dạng và phong phú đã tạo nên sức hấp dẫn của thi phẩm. Xuân Diệu đã sáng tạo một hình thức độc đáo để thể hiện những triết lí nhân sinh và quan niệm sống tích cực và sâu sắc. Đặt bài thơ trong không khí của Thơ mới thì mới cảm nhận được tình yêu cuộc sống của nhà thơ mãnh liệt đến chừng nào.

    Những sáng tạo của Xuân Diệu trong Vội vàng đã góp phần đánh dấu bước phát triển mới của thơ ca Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX. Cái Tôi cá nhân vốn còn xuất hiện dè dặt trong thơ ca truyền thống, đến Xuân Diệu đã có những bước đi đàng hoàng và chắc chắn lên văn đàn văn học Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Yếu Tố Mới Mẻ Qua Thi Phẩm “vội Vàng”
  • Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu Của Học Sinh Giỏi
  • Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng (Cực Hay)
  • Bài Văn Của Học Sinh Giỏi: Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Để Chứng Minh Nhận Định
  • Xuân Diệu Và Quan Niệm Sống Qua Vội Vàng
  • Đọc Hiểu Bài Thơ Cảnh Ngày Hè

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Cảnh Ngày Hè Của Đại Thi Hào Dân Tộc Nguyễn Trãi
  • Ôn Tập Học Kì 1 Văn 10: Nghị Luận Văn Học Cảnh Ngày Hè
  • Top 10 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Về Bài Thơ Cảnh Ngày Hè Nguyễn Trãi Lớp 10 Chọn Lọc
  • Cảm Nhận Bài Thơ Cảnh Ngày Hè Của Nguyễn Trãi
  • Cảm Nhận Về Con Người Nguyễn Trãi Qua Bài Thơ Cảnh Ngày Hè
  • II. Rèn kỹ năng phân tích cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi

    1. Mạch cảm xúc của bài thơ :

    Từ thư thái, thanh thản pha sắc thái bất đắc dĩ, có phần chán ngán đến hứng khởi, phấn chấn đó là mạch cảm xúc của Cảnh ngày hè.

    2. Bức tranh mùa hè :

    Cảnh ngày hè hiện ra thật đẹp, đầy sức sống với những chi tiết cụ thể, sinh động : tán hoè xanh thẫm che rợp, thạch hựu bên hiên nhà còn phun màu đỏ, sen hồng trong ao ngát mùi hương, tiếng lao xao vọng lại từ làng chài, tiếng ve như tiếng đàn vang dội lên. Bức tranh cho thấy sức sống sinh sôi, rạo rực khắp nơi nơi.

    3. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ :

    Miêu tả cảnh ngày hè, tác giả đã sử dụng các động từ, tính từ, từ láy giàu sức gợi hình tượng và cảm giác. Ở câu 2, 3, 4, 5, 6 là các từ : đùn đùn, giương, phun, đỏ, tiễn, lao xao, dắng dỏi. Từ đùn đùn gợi tả sắc xanh thẫm của tán hoè lớp lớp, liên tiếp tuôn ra, giương rộng ra ; từ phun gợi sự nổi bật, bắt mắt của màu đỏ hoa lựu ; tiễn (ngát, nức) gợi tả sức lan toả của hương sen ; từ lao xao, dắng dỏi đảo lên trước chợ cá, cầm ve làm nổi bật âm sắc rộn ràng, râm ran rất riêng của mùa hè. Dưới cái nhìn của tác giả, những sự vật vốn tĩnh trở nên động. Chuyển tĩnh thành động, sự cảm nhận cảnh ngày hè của nhà thơ bộc lộ rõ tình yêu sự sống sinh sôi, cái động của thiên nhiên, cảnh vật phản ánh cái động trong lòng người.

    4. Nhịp điệu và tiết tấu giàu sức gợi tả :

    Bức tranh ngày hè sinh động không những được gợi tả bằng hình ảnh màu sắc, âm thanh, sự chuyển động tinh tế của sự vật mà còn thể hiện ở nhịp điệu, tiết tấu. Với đặc điểm về số câu (8 câu), cách gieo vần (cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8), lối đối ngẫu ở hai liên giữa (cặp câu 3 – 4, 5 – 6) thì vẫn thấy đây là bài thơ thất ngôn bát cú. Nhưng bài thơ có một số điểm khác so với thất ngôn bát cú Đường luật :

    – Câu 1 và câu 8 chỉ có sáu chữ nên chúng thành những câu độc lập, không gắn với câu 2 và câu 7 thành liên như thể thơ Đường luật.

    – Đa dạng hơn về nhịp điệu :

    Câu 1 : 1 / 2 / 3

    Câu 2 : 4 / 3 (hoặc 1 / 3 / 3

    Câu 3 : 3 / 4

    Câu 4 : 3 / 4

    Câu 5 : 2 / 2 / 3

    Câu 6 : 2 / 2 / 3

    Câu 7 : 3 / 4

    Câu 8 : 3 / 3.

    5. Tâm sự của nhà thơ :

    Sắc thái của cảnh vật trong bức tranh về sự sống mùa hè đã cho thấy tâm trạng phấn chấn trước vẻ đẹp của cuộc sống đã “phá vỡ” cái tĩnh tại của cuộc sống nhàn dật thuần tuý, qua đó bộc lộ niềm quyến luyến, thiết tha lớn với cuộc đời. Nỗi lòng của nhà thơ đối với đời, với cuộc sống nhân dân hiện ra rõ nét ở hai câu cuối bài. Ông nói đến cây đàn của Ngu Thuấn với mong ước thanh bình, no đủ cho muôn dân. Niềm tha thiết, gắn bó với đời được cụ thể bằng niềm mong mỏi giàu đủ cho nhân dân. Ngay cả trong không gian nhàn dật, ý thức nhập thế, giúp đời luôn thường trực trong tâm hồn Nguyễn Trãi.

    6. Cảnh và tình trong bài thơ được kết hợp hài hoà. Tả cảnh ngày hè, bài thơ là một bức tranh tràn đầy sức sống. Sức sống của sự vật trong trong bức tranh tả cảnh mùa hè cũng thể hiện cảm xúc, niềm yêu đời trong tâm hồn nhà thơ. Cảnh gợi cảm xúc, cảm xúc chi phối cái nhìn và tái hiện cảnh vật.

    Nhận xét

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Cảnh Ngày Hè Của Nguyễn Trãi Rất Hay
  • Phân Tích Bài Thơ “cảnh Ngày Hè” Của Nguyễn Trãi
  • Phân Tích Bức Tranh Mùa Hè Trong Bài Thơ “cảnh Ngày Hè”
  • Bình Giảng Về Bức Tranh Thiên Nhiên Mùa Hè Trong Bài Thơ Cảnh Ngày Hè Của Nguyễn Trãi
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 48: Cảnh Ngày Hè ( Bảo Kính Cảnh Giới
  • Dàn Ý Bài Nhàn Ngữ Văn 10 Ngắn Gọn Dễ Hiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Lớp 10
  • Cảm Nhận Về Vẻ Đẹp Trong Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Từ Những Hiểu Biết Về Bài Thơ “vội Vàng” Của Xuân Diệu Anh (Chị) Hãy Trình Bày Những Suy Nghĩ Của Mình Về Nhận Định Tuổi Trẻ Một Đi Không Trở Lại
  • Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Tình Bạn
  • Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Mối Quan Hệ Tình Bạn
  • Dàn ý bài Nhàn ngữ văn 10 ngắn gọn dễ hiểu

    I. Mở bài: Dàn ý cảm nhận về bài thơ Nhàn

    – Giới thiệu về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và tập thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập: Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn nhất Việt Nam thế kỉ XVI với những sáng tác ghi dấu mốc lớn trên con đường phát triển lịch sử văn học. Bạch vân quốc ngữ thi tập là tập thơ Nôm nổi tiếng của ông.

    – Giới thiệu bài thơ Nhàn (xuất sứ, hoàn cảnh sáng tác, nội dung): là bài thơ Nôm số 73 trong tập Bạch vân quốc ngữ thi tập, làm khi tác giả cáo quan về ở ẩn, nói về cuộc sống thanh nhàn nơi thôn dã và triết lí sống của tác giả.

    1. Hai câu đề: Hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    – Mai, quốc, cần câu: Là những dụng cụ lao động cần thiết, quen thuộc của người nông dân.

    – Phép liệt kê kết hợp với số từ “một”: Gợi hình ảnh người nông dân đang điểm lại công cụ làm việc của mình và mọi thứ đã sẵn sàng.

    – Nhịp thơ 2-2-3 thong thả đều đặn

    → Cuộc sống ở quê nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn bó với công việc nặng nhọc, vất vả, lam lũ của một lão canh điền. Nhưng tác giả rất yêu và tự hào về thú vui điền viên ấy

    – Trạng thái “thơ thẩn”: chăm chú vào công việc, tỉ mẩn

    → Tâm trạng hài lòng, vui vẻ cùng trạng thái ung dung, tự tại của nhà thơ.

    – Cụm từ phủ định “dầu ai vui thú nào”: Phủ nhận những thú vui mà người đời thường hay theo đuổi.

    ⇒ Hai câu thơ khái quát hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quê nhà vất vả, lam lũ, mệt nhọc nhưng tâm hồn lúc nào cũng thư thái, thanh thản.

    2. Hai câu thực: Quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    – Nghệ thuật ẩn dụ:

    – Nghệ thuật đối: ta – người, dại – khôn: Nhấn mạnh quan niệm sống mang tính triết lí, thâm trầm của nhà thơ.

    + “Nơi vắng vẻ”: Tượng trưng cho chốn yên tĩnh, thưa người,nhịp sống yên bình, êm ả. Ở đây ngụ ý chỉ chốn quê nhà

    + “Chốn lao xao”: Tượng trưng cho chốn ồn ào, đông đúc huyên náo, tấp nập, cuộc sống xô bồ, bon chen, giành giật, đố kị. Ở đây chỉ chốn quan trường.

    – Cách nói ngược: Ta dại – người khôn:

    + Ban đầu có vẻ hợp lí vì ở chốn quan trường mới đem lại cho con người tiền tài danh vọng, còn ở thôn dã cuộc sống vất vả, cực khổ.

    + Tuy nhiên, dại thực chất là khôn bởi ở nơi quê mùa con người mới được sống an nhiên, thanh thản. Khôn thực chất là dại bởi chốn quan trường con người không được sống là chính mình

    ⇒ Thể hiện quan niệm sống “lánh đục về trong” của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    3. Hai câu luận: Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở chốn quê nhà.

    – Sự xuất hiện của bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông.

    – Cuộc sống gắn bó, hài hòa với tự nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Việc ăn uống: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá.

    – Chuyện sinh hoạt: Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    – Cách ngắt nhịp 4/3 nhịp nhàng, kết hợp với cách điệp cấu trúc câu. → Gợi sự tuần hoàn, nhịp nhàng thư thái, thong thả.

    ⇒ Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.

    – Là những món ăn thôn quê dân giã, giản dị thanh đạm và có nguồn gốc tự nhiên, tự cung tự cấp

    – Thói quen sinh hoạt tự nhiên, thoải mái, có sự giao hòa, quấn quýt giữa con người với thiên nhiên.

    ⇒ Sự hài lòng về cuộc sống đạm bạc, giản dị, hòa hợp với tự thiên mà vẫn thanh cao, tự do thoải mái của Nguyễn Bỉnh Kiêm.

    4. Hai câu kết: Triết lí sống nhàn

    – Sử dụng điển tích giấc mộng đêm hòe: Coi phú quý tựa như một giấc chiêm bao

    → Thể hiện sự tự thức tỉnh, tự cảnh tỉnh mình và đời, khuyên mọi người nên xem nhẹ vinh hoa phù phiếm.

    – Động từ “nhìn xem”: Tô đậm thế đứng cao hơn người đầy tự tin của Nguyễn Bỉnh Khiêm

    ⇒ Triết lí sống Nhàn: Biết từ bỏ những thứ vinh hoa phù phiếm vì đó chỉ là một giấc mông, khi con người nhắm mắt xuôi tay mọi thứ trử nên vô nghĩa, chỉ có tâm hồn, nhân cách mới tồn tại mãi mãi.

    ⇒ Thể hiện vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Coi khinh danh lợi, cốt cách thanh cao, tâm hồn trong sáng.

    5. Nghệ thuật

    – Ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, dễ cảm

    – Cách kể, tả tự nhiên, gần gũi

    – Các biện pháp tu từ: Liệt kê, đối lập, điển tích điển cố. – Nhịp thơ chậm, nhẹ nhàng, hóm hỉnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Về Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Phân Tích Quan Niệm Sống Nhàn Và Vẻ Đẹp Nhân Cách Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Trong Bài Thơ Nhàn? Từ Bài Thơ Em Có Suy Nghĩ Gì Về Việc Lựa Chọn Lối Sống Hiện Nay?
  • Mấy “chấm Phá” Về Nguyễn Bỉnh Khiêm Và Bài Thơ “nhàn”
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Nhân Cách Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ Nhàn
  • Vẻ Đẹp Của Cuộc Sống Và Tâm Hồn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Khổ Đầu Bài Thơ “nhàn”
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Mẹ

    --- Bài mới hơn ---

  • Chùm Thơ Sưu Tầm Về Ngành Y Ý Nghĩa
  • Những Bài Thơ Hay Nhất Của Nhà Thơ Phạm Ngọc Cảnh
  • Lời Mẹ Dặn – Thơ Phùng Quán – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng
  • Tấm Lòng Của Mẹ
  • Giới Thiệu Tập Thơ “Quê Mẹ” Của Nhà Thơ Tố Hữu
  • Đề đọc hiểu về bài thơ Mẹ- Nguyễn Lê

    Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi 

    Trưa về đến sau đồi

    Gọi con như mọi bận

    Mà không nghe trả lời

    Thì mẹ ơi đừng giận

     

    Nhìn vở bài toán đố

    Con làm còn dở dang

    Bỏ quên bên cửa sổ

    Đừng bảo con không ngoan

     

    Sân nhà đầy lá rụng

    Bản quyền bài viết này thuộc về https://thptxuyenmoc.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    Mẹ đừng trách con lười

    Thấy áo con đẫm máu

    Đừng, đừng khóc, mẹ ơi !

     

     Giặc Mĩ nó nhằm con

    Mà bắn vào tim mẹ

    Khóc sao hả căm thù !

    (Mẹ, Nguyễn Lê, Dẫn theo Maxreading.com)

    Câu 1. Chỉ ra những phương thức biểu đạt của bài thơ ? (0,25 điểm )

    Câu 2. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? (0,25 điểm)

    Câu 3. Nội dung chính của bài thơ ? (0,5 điểm)

    Câu 4. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày cảm xúc của anh (chị) khi đọc bài thơ ? (0,5 điểm)

    Đáp án :

    1.Phương thức biểu đạt: biểu cảm, tự sự, miêu tả.

    2.Thể thơ ngũ ngôn

    3.Bài thơ là lời an ủi mẹ của một em bé bị giặc Mĩ sát hại, qua đó ngợi ca tình mẫu tử cao quý, thiêng liêng và lên án chiến tranh tàn khốc…

    4. – Bày tỏ được cảm xúc và suy nghĩ chân thành, sâu sắc khi đọc bài thơ. (Chẳng hạn: xúc động, xót thương trước cái chết của em bé; cảm thông, chia sẻ với nỗi đau mất con của người mẹ; căm ghét súng đạn, chiến tranh, trân quý và nỗ lực gìn giữ hòa bình…)

    – Diễn đạt trôi chảy, rõ ý, không mắc lỗi chính tả

    1. Bộ đề thi thử THPT Quốc giac môn văn có đáp án
    2. Bộ đề đọc hiểu môn văn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Những Bài Thơ Chủ Đề Gia Đình Cho Trẻ Mầm Non
  • Cuộc Đời Và Những Bài Thơ Bất Hủ Của Nguyễn Khuyến
  • Bật Khóc Với Bài Thơ ‘khi Mẹ Là Giáo Viên’
  • Chùm Thơ Cảm Động Về Mẹ Đã Khuất, Tưởng Tiếc Mẹ Nơi Xa…hay Nhất
  • Thơ Đỗ Công Luận
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Bầm Ơi

    --- Bài mới hơn ---

  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ
  • Tổng Hợp Những Bài Thơ Chúc Tết Ý Nghĩa, Dễ Thuộc Ba Mẹ Có Thể Dạy Cho Trẻ
  • Ngày Xuân Đọc Lại Bài Thơ Năm Mới Chúc Nhau
  • Cái Cười Tết Của Tú Xương
  • “hiệu Lệnh” Của Bác Hồ Trong Bài Thơ Chúc Tết Mậu Thân 1968
  • Đề bài : đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi ở dưới

    … Bầm ơi có rét không bầm,

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn.

    Bầm ra ruộng cấy bầm run,

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non.

    Mạ non bầm cấy mấy đon,

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân,

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu…

    (Trích Bầm ơi – Tố Hữu, tập thơ Việt Bắc, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2005)

    Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của  văn bản ? (0,25 điểm)

    Câu 2: Nội dung của văn bản ? (0,25 điểm)

    Câu 3: Tìm và phân tích hiệu quả của những từ ngữ thể hiện nỗi vất vả của người mẹ trong đoạn thơ?  (0,5 điểm)

    Câu 4: Anh/chị  hãy viết một đoạn văn ngắn từ  5 -7 dòng thể hiện tình cảm của mình đối với mẹ? (0,5 điểm)

    Đáp án :

    Phong cách ngôn ngữ của đoạn thơ: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật/ Nghệ thuật

    .

     

    1. Nội dung của đoạn thơ: Khắc họa hình ảnh người mẹ vất vả và tình cảm của người con đối với mẹ.

    2. Các từ ngữ thể hiện nỗi vất vả của người mẹ: Bầm run, chân lội dưới bùn, ướt áo tứ thân.

    3. Hiệu quả: Diễn tả chân thật, sinh động về hình ảnh người mẹ lam lũ, vất vả.

    4. Học sinh viết đoạn văn thể hiện được tình cảm và thái độ đối với mẹ.

    Các em có thể tham khảo đoạn văn sau:

    “Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!“. Trong mỗi nhịp đập của trái tim mình, ta luôn thấy  hình bóng của mẹ yêu. Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta không thể nói hết bằng lời. Và cho dù có đi đâu về  đâu , dù thành công hay thất bại thì mẹ vẫn luôn bên ta, che chở, bảo vệ, động viên ta vững bước trên đường đời. Từ tận đáy lòng   tôi luôn mong ước được nằm trong vòng tay âu yếm, trìu mến của mẹ, của gia đình! Thương mẹ, con nguyện sẽ gắng học thật tốt để rèn luyện bản thân , góp một phần nhỏ bé cho xã hội, đem lại nguồn vui, niềm hy vọng cho mẹ, cho gia đình thương yêu của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bầm Ơi! – Tố Hữu
  • Lĩnh Vực: Phát Triển Ngôn Ngữ Đề Tài Thơ: Làm Bác Sĩ
  • Chuyên Đề Nghề Nghiệp Cho Bé
  • Cậu Bé 10 Tuổi Đọc Vanh Vách Bình Ngô Đại Cáo
  • Phân Tích Bài Thơ Bình Ngô Đại Cáo Chi Tiết 2 Đoạn Đầu
  • Bài Tập Đọc Hiểu Đất Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Mở Bài Kết Bài Bài Thơ Đất Nước Hay Nhất
  • Mở Bài Kết Bài Cho Bài Thơ Đất Nước
  • Mở Bài Đất Nước Cùng 7 Đoạn Hay Nhất
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm Hay Nhất
  • Cảm Nhận 9 Câu Đầu Bài Thơ “đất Nước”
  • Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm ngát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa Nước chúng ta Nước những người chưa giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về… ( Đất nước – Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr.125) Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi sau:

    1. 1. Đoạn thơ thể hiện tâm tư, tình cảm gì của tác giả ?
    2. 2. Nêu ý nghĩa tu từ của từ láy “rì rầm” trong đoạn thơ
    3. 3. Xác định các dạng phép điệp trong đoạn thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật của chúng.

    Trả lời:

    1. 1. Đoạn thơ thể hiện niềm vui lớn về quyền làm chủ đất nước, niềm tự hào về tinh thần bất khuất của con người Việt Nam
    2. 2. Ý nghĩa tu từ của từ láy “rì rầm”: vừa có tính tả thực vừa có tính tượng trưng, gợi tiếng nói cha ông xưa luôn hiện diện cùng con cháu hôm nay, nhắc nhở về truyền thống bất khuất của dân tộc.

    3.

    – Các dạng của phép điệp: điệp từ (của, những, nước, chúng ta,…); điệp ngữ (đây là của chúng ta); điệp cấu trúc cú pháp (Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta; Những cánh đồng…/ Những ngả đường…/ Những dòng sông…).

    – Hiệu quả nghệ thuật: góp phần tạo nên nhịp thơ dồn dập, âm hưởng hào hùng, giọng điệu hùng biện; tạo sự xuất hiện liên tiếp của hình ảnh, mở ra bức tranh toàn cảnh một giang sơn giàu đẹp; khẳng định mạnh mẽ quyền làm chủ và bộc lộ mãnh liệt niềm tự hào của tác giả.

    Bài 2: Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tài ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà này đến nhà khác, ngựa chỉ biết ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên nuí hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một cái cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng, Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi. ( Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo Dục, 2008, tr.6) Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi sau:

    1. 1. Anh (chị) hãy phân tích nghệ thuật khắc họa hình tượng nhân vật của tác giả.
    2. 2. Theo anh (chị), giọng trần thuật của nhà văn có gì đặc biệt ?
    3. 3. Hãy phân tích chuỗi hình ảnh so sánh: Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa…; Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày; Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.
    4. 4. Nêu cảm nhận của anh (chị) về chi tiết căn buồng Mị ở có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay, trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.?

    Suy nghĩ ấy cho thấy điều gì trong thái độ sống của Mị ?

      5. Từ văn bản, viết một đoạn văn ngắn (khoảng 10-12 câu), nêu cảm nhận của anh (chị) về tấm lòng nhân đạo của nhà văn đối với nhân vật.

    – Tô Hoài chủ yếu khắc họa nhân vật thông qua ý nghĩ và hành động. Điều đáng nói là các ý nghĩ và hành động của Mị đều lặp đi lặp lại, quẩn quanh, nhàm chán. Trong đầu Mị chỉ xuất hiện một ý nghĩ duy nhất: Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa hay không bằng con trâu, con ngựa. Còn hành động, quanh năm suốt tháng Mị vùi đầu vào chuỗi công việc giống nhau: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Mị hiện lên như một công cụ lao động sống lặng lẽ, cam chịu bị bóc lột, đọa đày về thân xác.

    – Với thủ pháp so sánh ( Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa)– Chi tiết căn buồng Mị ở + Khắc họa cuộc sống tù túng, tăm tối, quẩn quanh, bế tắc của Mị. + Tố cáo sâu sắc tội ác của chế độ xã hội miền núi Tây bắc Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. – Suy nghĩ – Viết đoạn văn hoàn chỉnh, khoảng 10 – 12 câu. – Nêu được những cảm nhận về tấm lòng nhân đạo của nhà avn8 dành cho nhân vật, ví dụ: Tấm lòng nhân đạo của Tô Hoài được thể hiện ở sự thấu hiểu, cảm thông, yêu thương ,sẻ chia với tình cảnh cực khổ, đau đớn của nhân vật; Tấm lòng nhân đạo còn được thể hiện ở việc tố cáo tội ác của thế lực cường quyền, thần quyền đã áp bức bóc lột, đè nén, đàn áp thể xác và tâm hồn Mị. cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi. Trong Mị cho thấy thái độ cam chịu, chấp nhận, buông xuôi theo số phận của Mị. Thái độ sống này chứng tỏ tâm hồn Mị đã bị tê liệt, đóng băng. có một cái cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay, trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng mang ý nghĩa hiện thực sâu sắc: Tác dụng: Nghệ thuật so sánh sâu sắc hơn ấn tượng về nhân vật, một công cụ lao động sống hoàn toàn không có ý thức về sự sống. Chuổi hình ảnh so sánh có sự tăng cấp, từ so sánh ngang bằng ( Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa…) đến so sánh hơn (Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.); từ sự đè nén, áp bức về thể xác đến sự chèn áp nặng nề về tinh thần khiến Mị trở thành con người bị tê liệt hoàn toàn về ý thức sống (Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.). và chi tiết chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay đầy ám ảnh, nhà văn Tô Hoài đã khắc họa đậm nét sự tê liệt về ý thức, về tâm hồn trong Mị. Là con rùa ( xuống sông đội đá, lên chùa đội bia – ca dao). Mị suốt đời câm lặng, chịu đựng bì đè nén, áp bức, không còn ý niệm về thời gian, không hy vọng, không mong đợi cái gì, lúc nào cũng quẩn quanh, bế tắc trong căn buồng âm u như một nhà tù chật hẹp.

      2. Tô Hoài đã lựa chọn một nhịp kể chậm với giọng kể trầm lắng đầy cảm thông, yêu mến. Có những lúc tưởng như giọng kể hòa vào dòng ý nghĩ, hòa với tiếng nói bên trong của nhân vật, vừa bộc lột trực tiếp đồi sống nội tâm nhân vật vừa tạo được sự đồng cảm ( ví dụ: Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tài ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà này đến nhà khác, ngựa chỉ biết ăn cỏ, biết đi làm mà thôi.; Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.; Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.).

    --- Bài cũ hơn ---

  • “đất Nước Hình Tia Chớp”
  • Bài Thơ “đất Nước (Trích Đoạn)” Của Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm
  • Phân Tích Tư Tưởng Đất Nước Của Nhân Dân Trong Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Tư Tưởng Đất Nước Của Nhân Dân Trong Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Dàn Ý Cảm Nhận 9 Câu Thơ Đầu Bài Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Dặn Con

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dặn Con
  • Nhớ Lê Anh Xuân Với Bài Thơ ‘dáng Đứng Việt Nam’
  • Phân Tích Bài Thơ Dáng Đứng Việt Nam Của Lê Anh Xuân
  • Thơ Triết Lý Về Dại Khôn
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dừa Ơi
  • Đọc hiểu: DẶN CON

    Chẳng ai muốn làm hành khất

    Tội trời đày ở nhân gian

    Con không được cười giễu họ

    Dù họ hôi hám úa tàn

    Nhà mình sát đường họ đến

    Có cho thì có là bao

    Con không bao giờ được hỏi

    Quê hương họ ở nơi nào

    Con chó nhà mình rất hư

    Cứ thấy ăn mày là cắn

    Con phải răn dạy nó đi

    Nếu không thì con đem bán

    Mình tạm gọi là no ấm

    Ai biết cơ trời vần xoay

    Lòng tốt gửi vào thiên hạ

    Biết đâu nuôi bố sau này.

    (Trần Nhuận Minh)

    1. Xác định trong văn bản trên ?

    2. Nêu ý nghĩa của cách dùng từ “hành khất” mà không phải là “người ăn mày” trong câu đầu ?

    3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp cấu trúc “Con không…” ?

    4. Lời dặn con của người cha qua hai câu thơ:

    “Con không bao giờ được hỏi

    Quê hương họ ở nơi nào?”

    5. Anh/chị có suy nghĩ gì về bài học rút ra mà người cha nói với con qua bài thơ ?

    Hướng dẫn:

    1. Phương thức biểu đạt: biểu cảm, tự sự. Từ “Hành khất” là một từ Hán Việt thể hiện thái độ tôn trọng của tác giả đối với những người không may cơ nhỡ trong cuộc sống.

    2. “Hành khất”, “ăn mày”: đều chỉ người kém may mắn trong cuộc sống, phải đi lang thang xin ăn. 3. Tác dụng:

    + Phép điệp Thể hiện sự giáo dục nghiêm khắc của người cha với con, mong muốn con mình thấu hiểu và sống đúng với đạo lí làm người: trân trọng, không chế nhạo những người cơ nhỡ.

    + Nhấn mạnh ý, tạo nhịp điệu, âm hưởng cho bài thơ

    4. Quê hương là nơi chôn rau cắt rốn của mỗi người, những người hành khất vì cơ nhỡ mà có người phải bỏ quê hương đi tha hương cầu thực, thậm chí còn có những người không có quê hương. Người cha dặn dò con không nên hỏi quê hương của họ bởi vì nhắc đến quê hương là nhắc đến nỗi nhớ, nhắc đến niềm đau.. Từ đó, người cha muốn con hiểu được, đồng cảm, sẻ chia trong cuộc sống, quan tâm giúp đỡ những người tha hương cầu thực, không chỉ về mặt vật chất mà trên hết vẫn là sự đồng cảm về mặt tinh thần.

    5. Bài học rút ra: Cần tôn trọng ,đồng cảm, sẻ chia, giúp đỡ nhau trong cuộc sống.

    ***********Hết**********

    Nguyễn Thế Anh – 12C – THPT Hoa Lư A – Ninh Bình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Con Cò
  • Phân Tích Bài Thơ “con Cò” Của Nhà Thơ Chế Lan Viên
  • Phân Tích Bài Thơ Cảnh Khuya Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Giáo Án Thơ Cô Giáo Của Em
  • Bài Thơ Cây Dây Leo
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×