Top 10 # Lập Dàn Ý Thuyết Minh Về Bài Thơ Nhàn Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Lập Dàn Ý Về Thuyết Minh Thể Thơ Lục Bát Lớp 8.

Lập dàn ý về thuyết minh thể thơ lục bát lớp 8.

Giới thiệu về thể thơ lục bát: là thể thơ dân tộc, thường gọi là thể thơ ” sáu, tám”. Ngày nay, trong thơ hiện đại, thơ lục bát vẫn chiếm một địa vị quan trọng, được nhiều thơ sử dụng và quần chúng yêu thích.

Thân bài.

Nếu đặc điểm về thơ lục bát.

Thể thơ lục bát có số câu không hạn định, bài ngắn thì 2 câu 4 câu, bài dài thì hàng trăm, hàng ngàn câu.

-Câu trên có sáu chữ, câu dưới là tám chữ

-Luật bằng chắc dễ nhận biết

+Các chữ số lẻ (1,3,5) có thể trắc và bằng đều được

+Chữ thứ bảy câu bát phần lớn là trắc

+Chữ thứ hai của thơ lục bát và chữ thứ sáu bắt buộc phải mang luật

+Chữ thứ tư của thơ bắt buộc bằng luật trắc

-Vần thơ: thơ lục bát vừa có vần chân vừa có vần lưng, tất cả đều là vần bằng, cách gieo vần.

+Chữ thứ 6 câu lục với chữ thứ sáu câu bát

+Chữ thứ 8 câu bát vần với chữ thứ sáu câu lục

-Cách ngắt nhịp: nhịp thơ chủ yếu là nhịp chẵn 2/2/2, 2/2/2/2 hoặc 4/4. Trường hợp đặc biệt mới có nhịp lẻ. Lúc đọc thơ lục bát cần chú ý thể hiện đúng để biểu cảm.

**Những nhận xét đánh giá chung.

-Thơ lục bát dễ làm, hầu như người làm thơ nào cũng có thể sáng tác ra câu thơ lục bát.

-Thường thường phần lớn ca dao viết về quê hương đất nước, tình yêu thương con người, thiên nhiên, những câu hát than thân, châm biếm được làm bằng thơ lục bát

-Tuy nhiên, thơ lục bát cũng cần làm đúng, đôi lúc số câu, số chữ mang tính chất bắt buộc.

-Một số câu thơ theo thể lục bát.

” Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời

Cầu cho cha mẹ sống đời với con”

Kết bài:

Nêu vị trí của thể thơ.

Tìm kiếm:

Lập dàn ý về văn thuyết minh thể thơ lục bát

Dàn ý về thuyết minh thể thơ lục bát

Thuyết minh về thể loại văn học – thể thơ lục bát lập dàn ý

Nguồn: https://chuyenvan.net/lap-dan-y-ve-thuyet-minh-tho-luc-bat-lop-8.html

Lập Dàn Ý Phân Tích Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn

– Nói đến vẻ đẹp thiên nhiên chắc hẳn ai cũng say mê, ai cũng hứng thư skhi nói về vẻ đẹp tựa chiêm bao đó. Nếu như Nguyễn Trãi thể hiện một tâm hồn khôn khéo trước thiên nhiên “Tình như một bức phong còn kín /Gió nơi đâu gượng mở xem” thì Nguyễn Bình Khiêm lại với những nét an nhàn trước thời cuộc “một mai, một cuốc, một cần câu”

– Những vẻ đẹp thiên nhiên vùng quê thanh bình, an yên được Nguyễn Bỉnh Khiêm vẻ nên thật đơn sơ những cũng đầy chất lạ lầm trong các câu thơ được thể hiện trong bài thơ”Nhàn”

b) Triển khai

– Nếu như các nhà thơ khác vẽ nên thiên nhiên bằng ngòi bút với ngôn từ cầu kì, sắc nét diễn tả hết vẻ đẹp thiên nhiên mà người mẹ trời đất ban cho một cách cầu kì, đặc tả

Thì Nguyễn BỈnh Khiêm lại khác, ông vẻ nên một chân dung thiên nhiên thật đẹp bằng ngôn từ giản dị đến lạ thường nhưng cũng không kém phần đặc sắc

– Đọc những câu thơ đầu tiên trong bài thơ này, người đọc cảm thấy lạ, thích thú với các nét vẻ mà tác gải vẻ ra đầu tiên

+ Đầu tiên là bức tranh hiện lên với những cái được nhìn thấy hằng ngày của một con người như biết chiếm lĩnh thiên nhiên:

” một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Bức tranh đơn sắc một màu hiện lên một cách phong đãng nhất, bình yên nhất, hài hòa nhất

+ Tác giả đã dùng điệp từ để nhấn mạnh mỗi cảnh vật, tô thêm chút sắc nét tỉ mỉ của bức tranh phong cảnh ấy

+ Đừng trước nó là một con ngưởi thông thái, yêu đời, yêu cuộc sông

+ Nếu như với người thường họ thấy đó là cảnh rất chi là bình thường mà mỗi ngày có thể đi qua, có thể nhìn thấy hoặc họ không cảm nhận hết vẻ đẹp của nó nhưng đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm một vị quan truốt bỏ công danh về với cảnh vật yên lành đó

+ Thì cảnh vật đó luôn đpẹ trước mắt ông, ông làm bạn với những thứ đơn sơ ấy để làm lòng mình lắng đọng lại

– Hai câu thơ tiếp như đi vào các trang viết của những người yêu thơ văn”ta dại… lao xao ”

+ Ông cho ông dại khi tìm nơi vắng vẻ này mà sống, một nơi không có phù hoa, một nơi không sung sướng như chốn lao xao kia nhưng người đọc ngầm hiểu được rằng cái nơi ông cho lao xao đó là nơi ông từng trải qua ông đã nếm đủ mùi vị đắng cay nơi đó

Ông không dại làm ngược lại ông rất biết tìm nơi nào là nơi cho ông cảm giác yên bình, đẹp đẽ để hưởng thụ những năm tháng còn lại cuộc đời

– Ông hòa mình vào thiên nhiên từng chút một, đồ ăn từ thiên nhiên đến sinh hoạt cũng gắn với thiên nhiên cây cỏ

– Ông nhìn phú quý bằng ánh mắt coi thường, khinh bỉ, không đáng ông suy nghĩ, bận tâm tới

Nhàn là bài thơ hay và đặc sắc của Nguyễn BỈnh Khiêm, ông viết ra với những dòng thơ từ đáy lòng mình, một người yêu thiên nhiên.

Nguồn: chúng tôi

Lập Dàn Ý Kể Lại Một Truyện Đã Biết (Truyền Thuyết, Cổ Tích) Lớp 6

Lập dàn ý Kể lại một truyện đã biết (truyền thuyết, cổ tích) lớp 6

Lập dàn ý Kể lại một truyện đã biết (truyền thuyết, cổ tích) bằng lời văn của em

Lập dàn ý Kể lại một truyện đã biết (truyền thuyết, cổ tích) bằng lời văn của em lớp 6 bao gồm các dàn ý chi tiết cho từng đề bài giúp các em học sinh củng cố kỹ năng cách làm bài kể chuyện cổ tích bằng lời văn, chuẩn bị cho bài viết văn lớp 6 số 1. Mời các em học sinh tham khảo chi tiết.

1. Truyền thuyết Thánh Giónglớp 6

I. Mở bài

“Thánh Gióng” là một truyện dân gian đáng yêu nhất (trong kho tàng văn học Việt Nam).

– Anh hùng Gióng tiêu biểu cho lòng yêu nước, quyết tâm thắng giặc ngoại xâm của nhân dân ta, đặc biệt của thỉếu niên Việt Nam.

II. Thân bài

1) Cậu bé làng Gióng ra đời

– Đời Hùng Vương thứ 6

– Cha mẹ cậu Gióng: chăm làm ăn, phúc đức, ao ước có con.

– Mẹ cậu Gióng ra đồng, đặt chân mình lên vết chân khổng lồ trên đường ướm thử, về nhà thụ thai mười hai tháng.

– Cậu bé làng Gióng ra đời: Mặt mũi khôi ngô, ba tuổi vẫn không biết đi, biết nói, biết cười.

2) Sự lớn lên kì diệu của cậu bé Gióng

– Giặc Ân, thế rất mạnh, đến xâm chiếm nước ta. Vua truyền sứ giả tìm người tài giỏi cứu nước.

– Cậu Gióng nói lời đầu tiên với mẹ: Mời sứ giả, lời thứ hai: tâu vua sắm ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt, mũ sắt.

– Cậu Gióng lớn nhanh như thổi (ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ), cha mẹ Gióng nhờ bà con, làng xóm gom góp thóc gạo nuôi Gióng, ai cũng sẵn lòng.

3) Chàng trai làng Gióng xung trận

– Thế nước rất nguy, giặc đến chân núi Trâu, người người hoảng hốt, sứ giả đem ngựa, roi, áo giáp sắt đến cho Gióng.

– Cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ, mặc giáp sắt, cầm roi sắt, cưỡi ngựa sắt: vỗ vào mông ngựa, ngựa hí vang.

– Tráng sĩ phi ngựa tiến thẳng tới nơi có giặc; đánh đón đầu giặc; giết hết lớp này đến lớp khác; giặc chết như rạ. Roi sắt gẫy, tráng sĩ nhổ tre cạnh đường quật vào giặc; ngựa phun lửa. Giặc tan tác.

4) Tráng sĩ Gióng bay lên trời

– Đuổi giặc đến núi Ninh Sóc, tráng sĩ cởi bỏ giáp sắt, cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời.

– Nhớ ơn cứu nước, Vua phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ tại quê nhà.

5) Vết tích còn lại

– Làng Gióng và đền thờ Phù Đổng Thiên Vương. Hội Gióng vào tháng tư hàng năm.

– Những bụi tre đằng ngà, bị ngựa phun lửa cháy, ngả màu vàng óng, ở huyện Gia Bình.

– Những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp; lửa do ngựa phun ra thiêu cháy một làng nay gọi là làng Cháy.

III. Kết bài

Niềm ao ước được một lần về dự hội Gióng, về thăm quê hương Phù Đổng Thiên Vương, niềm tự hào củà nhân dân nước Việt, của thiếu niên Viêt Nam.

Tham khảo chi tiết các bài văn mẫu: Văn mẫu lớp 6: Kể lại truyện Thánh Gióng bằng lời văn của em

2. Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh

I. Mở bài

Giới thiệu chung về sự việc và nhân vật. Thời vua Hùng Vương thứ mười tám có con gái tên là Mị Nương, vua truyền lệnh kén rể.

II. Thân bài

Kể lại diễn biến của sự việc, theo trình tự:

– Có hai chàng trai đến cầu hôn Mị Nương: một người ở vùng núi Tản Viên, tên gọi là Sơn Tinh. Một người ở vùng biển, tên gọi là Thủy Tinh. cả hai đều tài giỏi hơn người. Vua phân vân không biết chọn ai nên ra điều kiện: ai đem lễ vật đến trước thì người đó là chồng Mị Nương.

– Sơn Tinh đến trước lấy được Mị Nương.

– Thủy Tinh đến sau không lấy được Mị Nương nên nổi giận.

– Thủy Tinh và Sơn Tinh giao chiến với nhau.

III. Kết bài

– Hằng năm, Thủy Tinh làm mưa gió đánh Sơn Tinh. Đây là chi tiết mà người xưa muốn giải thích về hiện tượng lũ lụt thường xảy ra trong năm.

Tham khảo chi tiết các bài văn mẫu: Văn mẫu lớp 6: Kể lại câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh bằng lời văn của em

3. Truyện cổ tích Thạch Sanh lớp 6

A. Mở bài

– Giới thiệu truyện cổ tích “Thạch Sanh”.

B. Thân bài (diễn biến sự việc)

– Mở đầu

– Ngọc Hoàng sai Thái tử xuống đầu thai làm con.

– Thắt nút

– Lý thông gạ cùng Thạch Sanh kết nghĩa anh em để lợi dụng.

– Phát triển

– Thạch Sanh dùng búa chém chết chằn tinh. Lý Thông cướp công.

– Thạch Sanh dùng tên bắn bị thương đại bàng, cứu công chúa.

– Mở nút

– Khi nghe tiếng đàn văng ra từ trong ngục, công chúa bỗng cười nói vui vẻ. Vua tìm ra sự thật, kết tội Lý Thông.

– Kết thúc

– Nhà vua gả công chúa cho Thạch Sanh. Chư hầu đến cầu hôn không được, kéo sang đánh …

C. Kết bài.

– Ý nghĩa câu chuyện: “Ở hiền gặp lành” và “ác giả ác báo”.

4. Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên

I. Mở bài

– Tập trung kể về nguồn gốc dân tộc và đất nước, về công cuộc dựng nước và giữ nước là truyền thuyết dân gian về thời các vua Hùng.

– Truyện “Con Rồng cháu Tiên” giới thiệu với mọi người nguồn gốc thật đẹp, thật đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.

II. Thân bài

1) Sự xuất hiện của Thần Lạc Long Quân

– Thuở xưa đất Lạc Việt có nhiều yêu quái (Ngư Tinh, Mộc Tinh, Hồ Tinh…) quấy nhiễu, dân lành không yên ổn làm ăn.

– Thần Lạc Long Quân nòi Rồng, thường ở dưới Thủy cung, thinh thoảng lên giúp dân trừ yêu quái, dạy dân chăn nuôi, trồng trọt và cách àn ở.

2) Cuộc gặp gỡ Rồng Tiên

– Nàng Âu Cơ dòng họ Thần Nông, đẹp tuyệt trần, từ vùng núi cao phương Bắc nghe đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, đến thăm.

– Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu nhau, kết nghĩa vợ chồng, chung sống ở cung điện Long Trang.

3) Bọc trứng kì diệu

Âu cơ có thai, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm con trai hồng hào, khôi ngô, tự lớn lên như thổi.

4) Cuộc chia tay hùng vĩ

– Lạc Long Quân ở dưới nước, Âu Cơ ở trên cạn nên không thể sống với nhau mãi, đành phải chia tay với lời hẹn: “Khi có việc phải giúp đỡ lẫn nhau”.

– Lạc Long Quân mang 50 người con xuống biển, Âu Cơ mang 50 người con lên núi, các con chia nhau cai quản các phương.

5) Vị vua Hùng đầu tiên của nước Văn Lang

– Người con cả làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Từ đấy, lệ truyền ngôi: Con trưởng thay cha, danh hiệu Hùng Vương không thay đổi.

– Triều đình có tướng văn, tướng võ. Con trai vua là quan lang con gái là mẹ nàng.

III. Kết luận

Người Việt Nam luôn tự hào là con Rồng cháu Tiên.

5. Truyện cổ tích “Cây tre trăm đốt”

1. Mở bài

– Giới thiệu câu chuyện

2. Thân bài

– Mở đầu

+ Giới thiệu anh trai cày hiền lành và lão nhà giàu tham lam, lừa lọc.

– Thắt nút:

+ Lão lừa dối “sẽ gả con gái” cho anh.

– Phát triển

+ Anh quần quật làm giàu cho lão suốt ba năm.

+ Lão nhà giàu gả con gái với diều kiện anh phải đi tìm được cây tre trăm đốt

+ Anh trai cày không tìm được nhưng nhờ có Bụt ra tay giúp đỡ, anh đã thành công và mừng rỡ gánh về.

– Mở nút: Khi thấy hai họ ăn uống linh đình và sửa soạn đón dâu, anh mới hiểu âm mưu thâm độc của lão nhà giàu và anh ra tay trừng phạt.

– Kết thúc: Lão nhà giàu phải gả con gái cho anh trai cày. Hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc.

3. Kết bài

– Nêu cảm nghĩ

– Rút ra bài học

Theo chúng tôi

Văn Mẫu Và Dàn Ý Thuyết Minh Bài Phú Sông Bạch Đằng

I. Dàn ý thuyết minh “Phú sông Bạch Đằng”

1, Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Trương Hán Siêu (những nét chính về tiểu sử, cuộc đời, con người, sự nghiệp sáng tác,…)

– Giới thiệu chung về bài “Phú sông Bạch Đằng”

– Sau chiến thắng của Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán và Trần Quốc Tuấn đánh tan giặc Mông – Nguyên xâm lược, dòng sông này đã trở thành nguồn cảm hứng thi ca với nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng nhưng “Phú sông Bạch Đằng” là tác phẩm nổi tiếng và để lại nhiều dấu ấn hơn cả.

b, Đặc điểm thể loại của tác phẩm – thể phú

– Phú là một thể văn cổ có nguồn gốc từ Trung Quốc, du nhập vào Việt Nam từ rất sớm.

– Thể văn có vần hoặc xen lẫn vào trong nó văn vần hoặc văn xuôi.

– Được dùng để miêu tả cảnh vật, phong tục, bàn về các sự việc hay kể chuyện đời,…

c, Bố cục của bài phú

– Đoạn mở đầu: tái hiện một cách chân thực và sâu sắc những cảm xúc của nhân vật khách trước vẻ đẹp của sông Bạch Đằng

– Đoạn hai: tái hiện lại lời kể của các bô lão với nhân vật khách về các chiến công trên sông Bạch Đằng

– Đoạn kết: cất lên lời ngợi ca sâu sắc công ơn, đức độ của con người. Lời ca kết thúc bài phú luôn khắc sâu vào trái tim của mỗi người bởi nó không chỉ thể hiện niềm tự hào, lòng tự tôn dân tộc mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

d, Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài phú

+ Thể hiện lòng yêu nước và tự hào sâu sắc của con người Việt Nam về những chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng

+ Bài ca ca ngợi truyền thống anh hùng, bất khuất, trọng đạo nghĩa của con người Việt Nam

+ Hình tượng nghệ thuật độc đáo, giàu ý nghĩa

+ Lời văn biến hóa linh hoạt

+ Ngôn từ lắng đọng, giàu chất suy tư

+ Hệ thống các điển tích điển cố được sử dụng chọn lọc và mang lại hiệu quả to lớn.

Khái quát lại giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của bài phú và nêu cảm nghĩ của bản thân về bài “Phú sông Bạch Đằng”

II. Bài viết thuyết minh về “Phú sông Bạch Đằng”

Trương Hán Siêu là người có tính tình thẳng thắn, học vấn uyên thâm, được sự tín dụng, tin cậy của các vua Trần và đồng thời, ông cũng là một trong số những tác giả tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam. Những tác phẩm của ông hiện còn lại không nhiều song chúng đều thể hiện tinh thấn yêu nước, lòng tự hào truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc và có thể nói, tác phẩm “Phú sông Bạch Đằng” là một trong số những sáng tác tiêu biểu nhất của ông cũng như của nền văn học Việt Nam thời Lí – Trần.

“Phú sông Bạch Đằng” được viết bằng thể phú – một thể loại lớn trong văn học trung đại. Như chúng ta đã biết, phú là một thể văn cổ có nguồn gốc từ Trung Quốc, du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Thêm vào đó, phú là một thể văn có vần hoặc xen lẫn vào trong nó văn vần hoặc văn xuôi. Nếu như cáo được dùng để vua, chúa ban hành, tuyên bố rộng rãi một vấn đề nào đấy thì phú lại được dùng để miêu tả cảnh vật, phong tục, bàn về các sự việc hay kể chuyện đời,… Và với những đặc điểm ấy, chúng ta có thể thấy rằng “Phú sông Bạch Đằng” mang đầy đủ những đặc điểm của thế phủ.

Thêm vào đó, có thể nói, bài “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu có giá trị to lớn về mặt nội dung và nghệ thuật. Trước hết, bài cáo đã thể hiện lòng yêu nước và tự hào sâu sắc của con người Việt Nam về những chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng, đồng thời, nó cũng là bài ca ca ngợi truyền thống anh hùng, bất khuất, trọng đạo nghĩa của con người Việt Nam. Đồng thời, ở bài phú, chúng ta thấy rõ những nét đặc sắc về nghệ thuật. Có thể nói, tác phẩm là đỉnh cao của nghệ thuật phú trong nền văn học trung đại Việt Nam bởi nó có những hình tượng nghệ thuật độc đáo, giàu ý nghĩa, lời văn biến hóa linh hoạt, ngôn từ lắng đọng, giàu chất suy tư cùng hệ thống các điển tích điển cố được sử dụng chọn lọc và mang lại hiệu quả to lớn.

Tóm lại, “Phú sông Bạch Đằng” là một trong số những tác phẩm xuất sắc của nền văn học thời Trần nói riêng và văn học trung đại Việt Nam nói chung. Đọc bài phú, người đọc như được sống lại những năm tháng vẻ vang, hào hùng với những chiến công vang dội của dân tộc, để từ đó, thêm yêu, thêm tự hào về đất nước của chúng ta.

Bình Luận Facebook

.