Top 11 # Những Bài Thơ Về Di Chúc Bác Hồ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Cảm Nhận Của Tôi Về Bản Di Chúc Của Bác Hồ

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.

Bác là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Bác tượng trưng cho những tinh hoa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Người con của làng Sen xứ Nghệ sinh 19/5/1890 trong một gia đình Nho học yêu nước. Từ nhỏ Bác rất thông minh, chăm chỉ. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp cai trị, chứng kiến biết bao cảnh đau thương tàn ác dã man của quân thù lòng người đau như cắt. Năm 1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước. Để tìm ra con đường giải phóng dân tộc, Bác đã trải qua biết bao gian khổ trên con đường hoạt động cách mạng. Cuộc hành trình qua 3 đại dương, 4 châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ và gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố lớn, nhỏ, tiếp xúc với nhiều dân tộc, nhiều nền văn hóa đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam – con đường cách mạng vô sản.

Luận cương đến Bác Hồ.

Và Người đã khóc

Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin

Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp

Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc

“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”

Hình của Đảng lồng trong hình của Nước

Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười

Cả cuộc đời của Bác Hồ kính yêu là một cuộc hành trình không mệt mỏi vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Bác đã dẫn dắt Cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm chấn động bạn bè năm châu thế giới: “Chín năm là một Điện Biên – Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”. Thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong suốt 21 năm kiên trì đấu tranh kết thúc với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi vĩ đại này, là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc, là sự kiện có tầm quốc tế và có tính chất thời đại sâu sắc, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của nước Việt Nam độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cuộc đời của Bác không chỉ gắn liền với cách mạng mà Bác còn là nhà thơ, nhà văn kiệt xuất. Bác được phong tặng danh hiệu danh nhân văn hóa thế giới. Danh nhân văn hóa là người có kiến thức uyên thâm về mọi mặt có cống hiến to lớn cho đất nước về tinh thần vật chất, có ý nghĩa cả thế giới.

Sự ra đời và nội dung di chúc của Bác

Vào năm1965, Bác chọn tháng 5 để viết Di chúc, chọn ngày 10/5 bắt đầu đặt bút viết những dòng đầu tiên. Đề tài liệu mật lúc 9 giờ, theo y học từ 9 giờ sáng là thời gian minh mẫn sáng suốt nhất của con người, viết hoàn thành vào ngày 14/5 hẹn đ/c Lê Duẩn lúc 16 giờ ngày 14/5/1965 ký vào tài liệu, Bác đã đưa tài liệu cho đ/c Vũ Kỳ cất giữ và dặn rằng ngày này năm sau đưa lại cho Bác.

Bác dặn dò công việc trước hết là nói về Đảng, nhờ đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân nên từ ngày thành lập đến nay Đảng ta đã tổ chức lãnh đạo nhân dân giành được thắng lợi này đến thắng lợi khác. Bác dặn dò … sợ mất đoàn kết trong Đảng ; mất đoàn kết dân tộc nên Bác dặn dò phải giữ gìn sự thống nhất đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng phải thực hiện dân chủ, rộng rãi, thực hiện tự phê bình và phê bình; phải có tình đồng chí, thương yêu nhau.

Bác nói đến nhân dân lao động, Bác dặn dò Đảng phải có kế hoạch thật tốt để cho đời sống nhân dân. Từ đầu Bác đã khẳng định vị trí của nhân dân là gốc Cách Mạng.

Nói về phong trào cộng sản thế giới, cách nói của Bác hết sức khiêm tốn. Tự hào về sự lớn mạnh của phong trào công nhân Quốc tế bao nhiêu thì càng đau lòng sự bất hòa của các Đảng anh em bấy nhiêu.

Về việc chung hết sức phục vụ nhân dân, chỉ tiếc là không thể phục vụ lâu hơn thế.

Mở đầu nội qui luật sinh tử là cốt yếu tự nhiên cho nên đón nhận chớ nên phúng điếu linh đình để tốn kém tiền bạc cho dân. Lúc sống Bác nêu gương về tiết kiệm chống lãng phí, Bác kêu gọi toàn dân tộc tiết kiệm.

Ý nghĩa giá trị sâu sắc của Di chúc tôi học được.

Bản Di chúc này thể hiện 1 bản cương lĩnh chính trị tóm tắt Bác để lại cho Đảng ta, cho nhân dân ta, đã đề cập được mấy vấn đề sau:

Xác định mục tiêu, phương hướng chiến lược lâu dài cho dân tộc Việt Nam; biểu hiện sự kế thừa cương lĩnh chính trị đầu tiên và phát triển lâu dài đó là mong muốn hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người, thống nhất đất nước. Hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc xong; tiến lên chủ nghĩa xã hội xây dựng nước Việt Nam độc lập dân chủ, thống nhất, giàu mạnh.

Chăm lo thực hiện thắng lợi mục tiêu ấy, Bác lại nói đến Đảng ta là lực lượng lãnh đạo cách mạng, chăm lo đến mọi tầng lớp nhân dân; Chăm lo xây dựng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm quan trọng, rất cần thiết.

Bác để lại gì? Theo lẽ thông thường người ra đi để lại tài sản, tiền bạc cho con cháu nhưng Bác ra đi để lại vô vàn lòng thương yêu cho toàn Đảng, toàn dân, cho các cháu thanh thiếu niên nhi đồng; mong muốn xây dựng nước ta vững mạnh, to đẹp hơn, giàu mạnh hơn.

Trong cuộc vận động học tập và làm theo lời Bác, tôi học tập tấm gương của Bác.

Mỗi người chúng ta, nhất là cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống lại những căn bệnh: “Kiêu ngạo, công thần, địa vị, chuyên quyền độc đoán, cục bộ, bản vị, ích kỷ, bè phái, mất đoàn kết, cá nhân chủ nghĩa, tham nhũng, hối lộ, vi phạm pháp luật…”; vì đó là nguy cơ làm biến chất Đảng. Do đó, học tập và rèn luyện theo đạo đức Hồ Chí Minh sẽ giúp xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đất nước giàu đẹp.

Bác Hồ thương yêu con người với một tình cảm sâu sắc, vừa bao la rộng lớn, vừa gần gũi thân thương đối với từng số phận con người. Người quan tâm đến tư tưởng, công tác, đời sống của từng người, việc ăn, việc mặc, việc ở, học hành, giải trí của mỗi người dân. Tình yêu thương con người của Bác Hồ luôn gắn liền

với hành động cụ thể, phấn đấu vì độc lập của Tổ quốc, tự do hạnh phúc của con người. Chính vì thế, hình ảnh Bác Hồ kính yêu vẫn sống mãi trong lòng mỗi người chúng ta. “Những ai muốn biết thế nào là con người chân chính, đâu là vẻ đẹp của thế giới, đâu là sự thắng lợi của lý tưởng trên trái đất này, đâu là mùa xuân, thì phải tìm hiểu cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tìm hiểu cuộc sống mẫu mực của người anh hùng này của thời đại chúng ta”.

Noi gương Bác, mỗi người cán bộ, Đảng viên, mỗi quần chúng tốt của Đảng, luôn luôn ghi nhớ: “Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chủ Tịch. Noi gương Người, toàn thể nhân dân ta, thanh niên ta nguyện ra sức trau dồi mình thành những người con mới, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội mới, mang lá cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ tịch tới đích cuối cùng”.

Hôm nay đây cả nước kỷ niệm hướng đến 129 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 50 năm thực hiện theo di chúc của Bác, tôi cùng giáo viên, học viên trường Đoàn Lý Tự Trọng quyết tâm thi đua dạy tốt, học tốt, nguyện xứng đáng với ngôi trường mang tên người anh hùng Lý Tự Trọng.

Trưởng Khoa Công tác Đội, trường Đoàn Lý Tự Trọng

50 Trước, Tôi Viết Bài Thơ “Lời Di Chúc Của Bác Hồ”

Tôi sinh ở Hải Dương năm 1944 và sống ở Quảng Ninh từ 1962 đến nay, nhưng những sự kiện lớn nhất của đất nước diễn ra, thì tôi đều có mặt ở Hà Nội, và thậm chí trực tiếp được tham gia tại Hà Nội, do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Cuối tháng 8 năm 1969, nhà thơ Yến Lan, biên tập viên thơ Nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội, gọi tôi về để chữa tập thơ của tôi gửi Nhà xuất bản, dưới sự hướng dẫn của ông, để ông chọn in trong tập thơ dành cho 5 tác giả về đề tài công nhân. Đêm 2/9, tôi ngồi chờ ở bờ hồ Gươm để xem bắn pháo hoa. Đến hơn 11 g đêm mới báo hoãn, vì có tin sức khỏe Bác Hồ không được tốt. Về Hà Nội,  tôi thường ở tại gia đình một lão thành cách mạng mà tôi quen và rất kính trọng, ở phố Ngô Thời Nhiệm, ông rất quí tôi, coi tôi như con. Sau này tôi có câu thơ “Mái phố trăng vàng Ngô Thời Nhiệm / Tiếng lá sấu rơi làm em giật mình…”.

Vì thế, tôi có mặt trong đoàn người của khu phố đi viếng Bác, tập trung từ 5 giờ sáng tại đường Hoàng Diệu, rồi từ từ tiến vào đường Bắc Sơn, đường Hoàng Văn Thụ và nán lại chờ rất lâu tại cửa phía sau bên phải nhà Quốc hội. Thi hài Bác quàn tại đó. Trời mưa, bữa trưa và chiều, khu phố chỉ phát cho mỗi người một chai nước và 2 cái bánh mì, mà không ai thấy đói, thấy khát. Đến hơn 11 giờ đêm thì đến lượt đoàn chúng tôi – đoàn cuối cùng được vào viếng – sau đó, thì linh cữu Bác được chuyển đi, đồng bào chỉ viếng chỗ Bác đã từng nằm trong những ngày tang lễ.

Sáng sau dự lễ truy điệu Bác tại Quảng trường Ba Đình và chúng tôi, từng nhóm một,  được lần lượt vào thăm nhà sàn Bác Hồ,  cứ thế mà đi liên tục theo dòng người. Tất cả đều làm tôi vô cùng xúc động, không thấy đói, không thấy lạnh vì mưa, cũng không thấy mệt mỏi vì chờ đợi quá lâu và hoàn toàn không ngủ. Lúc đã xong các việc, mọi người trong đoàn tự ý ra về hoặc tham gia các hoạt động tưởng nhớ Bác  ở quanh đó, tùy ý. Tôi ngồi trên bờ hè xây nghiêng bằng gạch chỉ đỏ, trong khu vườn nhà sàn, lấy  quyển lịch túi mỏng và nhỏ, cùng mẩu bút chì trong túi áo, chép luôn  bài thơ, hình như đã có sẵn trong đầu,  chỉ khoảng 10 – 15 phút là xong.  Đoạn kết bài thơ:

Tiểu sử Người không ghi có Huân chương

Cả đất nước Người trao ta làm chủ

Rồi ra đi

Với chiếc áo ka ki đã cũ

Đôi dép cao su

Và mái tóc thương yêu thêm bạc tự  trong tù…

Em ơi, đừng quên

Đó cũng là Lời Di chúc của Bác Hồ

Mà Người không viết trong Di chúc…

Tôi đề đúng thời gian nó được ra đời, 9 g ngày 9 tháng 9 năm 1969 và nhận ra có đến 5 con số 9 liền nhau.

Bài thơ đã nhiều lần đăng báo, tạp chí rồi in sách trong các tập phong trào về toàn dân kính yêu và nhớ ơn Bác Hồ.  Sau đó in trong tập thơ đầu tay của tôi Đấy là tình yêu, Hội Văn nghệ Quảng Ninh xuất bản đầu năm 1971 – cũng là tập sách giành cho 1 tác giả đầu tiên ở Quảng Ninh. Rồi sau đó vài lần in trong các tuyển tập thơ về Bác Hồ, và dăm năm trước đây, in trong bộ sách rất đồ sộ và sang trọng Bác Hồ với Văn nghệ sĩ – Văn nghệ sĩ với Bác Hồ.

Bài thơ  “Lời di chúc Bác Hồ” của Nhà thơ Trần Nhuận Minh đăng trên Báo Sự thật Kôngxômôn Liên Xô, số ra ngày 19/5/1990.

Nhớ lại những kỉ niệm đó, tôi vẫn thấy rất xúc động, thêm một lần nhận chân những giá trị lớn lao của Cách mạng,  mà vì nó, tôi đã sống và sáng tác đến suốt cả cuộc đời mình.

Nhà thơ TRẦN NHUẬN MINH (Quảng Ninh)

Những Bài Thơ Chúc Tết Của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh có lẽ là vị lãnh tụ của một đất nước duy nhất trên thế giới thường xuyên có thơ Xuân, thơ chúc Tết vào mỗi dịp Tết cổ truyền của dân tộc.

Kể từ bài thơ chúc Tết đầu tiên khi Người trở về nước sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước năm 1942 cho đến lúc ra đi, Người đã sáng tác tổng cộng 24 bài thơ chúc Tết. Dễ nhớ, dễ thuộc là điều dễ nhận thấy trong các bài thơ chúc Tết của Bác, nhưng điều khiến cho mỗi bài thơ Tết của Bác trở lên đặc biệt hơn những lời chúc Tết thông thường là bởi đó không chỉ là tấm lòng của Bác với nhân dân, đất nước mà còn là lời hiệu triệu, cổ vũ, động viên và cả sự tiên đoán thần kỳ tiền đồ tươi sáng của cách mạng.

Có một món quà luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tặng đồng bào mình vào mỗi dịp Tết cổ truyền, đó là những bài thơ chúc Tết giản dị nhưng rất đỗi thân thương của Người. Mỗi bài thơ không chỉ là sự tổng kết thành quả của cách mạng trong năm cũ mà còn là chỉ dẫn cho những chặng đường tiếp theo của cách mạng. Bài thơ chúc Tết năm 1969 cũng là bài thơ chúc Tết Người đã tự đọc – món quà cuối cùng cũng lời tiên đoán thần kỳ về con đường giải phóng đất nước trước lúc Người đi xa.

Nghệ sỹ Linh Nhâm, nguyên diễn viên đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị, người từng ngâm thơ Bác xúc động nhớ lại, kỷ niệm lớn nhất trong cuộc đời của bà chính là được ngâm những bài thơ chúc Tết của Bác. Ở vào cái tuổi xưa nay hiếm, người nghệ sỹ gạo cội vẫn không thể giấu được xúc động khi nhớ đến giây phút ngâm bài thơ chúc Tết cuối cùng của Bác trên sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam Tết năm ấy.

“Bài thơ Xuân 1969 của Bác là bài thơ gắn với kỷ niệm rất sâu sắc mà tôi đang biểu diễn ở Hải Phòng được triệu về để ngâm bài thơ cuối cùng của Bác. Tất cả các bài thơ mà tôi đã được ngâm thơ của Bác tôi đều rất trân trọng, từng câu, từng chữ của Bác đều là những hiệu lệnh, những lời kêu gọi của Bác với Tổ quốc”, nghệ sỹ Linh Nhâm nói.

Từ bài thơ chúc Tết đầu tiên viết trên chiếc bàn đá ở Hang Pắc Pó (Cao Bằng) cho đến lúc về cõi vĩnh hằng, Người đã viết tổng cộng 24 bài thơ Xuân, thơ chúc Tết. Những bản thảo còn lưu giữ tại bảo tàng Hồ Chí Minh cho thấy, viết mỗi bài thơ Người cũng dày công và kỹ lưỡng như thế nào. Có thể vì thế, những bài thơ chúc Tết của Người luôn vượt qua khuôn khổ những bài thơ chúc Tết đơn thuần.

Bà Nguyễn Thúy Đức, Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh chia sẻ: “Tôi có nhớ câu nói của một nhà cách mạng Cuba về Bác là: Bác Hồ lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chính bằng thơ. Tiếc thay, kẻ thù của dân tộc Việt Nam lại không đọc những vần thơ đó. Đấy là điều có lẽ rất đặc biệt, đặc biệt chính là lãnh đạo bằng thơ. Nếu như chúng ta phân tích và hiểu thì thấy rằng lãnh đạo bằng thơ không chỉ là chất thép của người chiến sỹ, mà còn là cái gì đó rất đỗi dung dị, nhân văn của một con người, của một dân tộc”.

Những mùa xuân kháng chiến của dân tộc dường như luôn có sự khởi đầu bằng những vần thơ chúc Tết của Bác… Thành quả cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc đã không nằm ngoài sự tiên đoán trong bài thơ chúc Tết cuối cùng của Người. Đó là khi Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!

Tác giả : Quang Đông

Thơ Chúc Tết Của Bác Hồ Những Năm Ngọ

Thơ chúc Tết của Bác Hồ những năm Ngọ

Mỗi độ Tết đến Xuân về, lòng dân cả nước lại hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã đem mùa Xuân hòa bình, độc lập, hạnh phúc về cho đất nước. Gần 45 năm trôi qua, chúng ta đã không còn được nghe thơ chúc Tết – món quà mừng tuổi đồng bào cả nước vào dịp giao thừa đầu năm mới của Bác kính yêu. Song âm vang những bài thơ chúc Tết của Bác vẫn còn mãi trong lòng mọi người, vẫn ngân vang khi đất trời sang Xuân.

Kể từ năm 1942 – năm đầu tiên có Thơ Chúc Tết, đến năm 1969 – năm Bác Hồ qua đời, đã có tất cả 26 Bài thơ chúc Tết (trừ 3 năm 1943, 1944 và 1945). Trong số đó có 3 bài thơ chúc Tết vào năm Ngọ: Xuân Nhâm Ngọ 1942, Xuân Giáp Ngọ 1954 và Xuân Bính Ngọ 1966.

Bác Hồ chúc Tết. Ảnh Internet

Tết Nhâm Ngọ năm 1942

Tết Nhâm Ngọ năm 1942 là Tết thứ hai của Bác ở quê nhà sau tròn 30 năm xa Tổ quốc, bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm đường cứu nước. Gần một phần ba thế kỷ nơi xứ người, nay Bác đã trở về để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nước nhà, lại được đón Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc ngay trên Đất Mẹ thân yêu. Nhân dịp năm mới đến, Bác đã viết bài thơ “Mừng Xuân năm 1942” đăng trên Báo “Việt Nam Độc lập” số 114, ra ngày 01/01/1942.

“CHÚC NĂM MỚI

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,

Năm cũ qua rồi, chúc năm mới:

Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong!

Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi;

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!

Chúc Việt Minh ta càng tấn tới!

Chúc toàn quốc trong năm này,

Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!

Năm này là năm rất vẻ vang,

Cách mệnh thành công khắp thế giới.(1)

Chỉ 3 năm sau đó, ngày 19/8/1945, nhân dân ta đã nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, “Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới” trên khắp mọi miền Tổ quốc đúng như ý nguyện của Người. Ngày 2/9/1945, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử rợp bóng cờ, hoa, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính thức mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam – Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Tết Giáp Ngọ năm 1954

Lúc này, nhân dân ta đã trải qua 8 năm kháng chiến kiến quốc, lực lượng kháng chiến ngày càng lớn mạnh và giành được nhiều thắng lợi. Trước sự thay đổi của cục diện chiến tranh ở Đông Dương và trên cơ sở nhận định âm mưu mới của Pháp – Mĩ, tháng 9/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp và đề ra kế hoạch tác chiến Đông – Xuân 1953 – 1954. Năm 1954 cũng là năm thứ 2 tiến hành cải cách ruộng đất tại miền Bắc để dân cày có ruộng, tạo thành hậu phương vững chắc để chi viện cho chiến trường lập nên chiến công.

Nhân Tết Giáp Ngọ 1954, Bác Hồ đã gửi thơ chúc Tết quân dân cả nước đăng trên báo Nhân Dân số 163 từ ngày 1-5/2/1954.

THƠ CHÚC TẾT

Ngày Nguyên đán năm Giáp Ngọ

Năm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành:

– Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do,

– Cải cách ruộng đất là công việc rất to.

Dần dần làm cho người cày có ruộng, khỏi lo nghèo nàn.

Quân và dân ta nhất trí kết đoàn,

Kháng chiến, kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công.

Hòa bình dân chủ thế giới khắp Nam Bắc Tây Đông,

Năm mới, thắng lợi càng mới, thành công càng nhiều.

HỒ CHÍ MINH”(2).

Với tinh thần đoàn kết, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã lập được nhiều chiến công vang dội. Thắng lợi của cuộc tiến công Đông – Xuân 1953 – 1954 và đặc biệt là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954 gây chấn động địa cầu, đã đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở thực lực về quân sự cho cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ. Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam.

Tết Bính Ngọ năm 1966

Đến năm 1965, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân miền Nam đã chiến đấu với tinh thần anh dũng, vượt qua khó khăn, liên tiếp đánh bại mọi âm mưu thâm độc của địch, giành những thắng lợi có ý nghĩa quan trọng. “Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của địch phát triển đến mức cao nhất đã căn bản bị thất bại”. Trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, từ giữa năm 1965, đế quốc Mỹ trong thế bị động đã đưa vào miền Nam một lực lượng lớn quân đội viễn chinh Mỹ, đồng thời tiếp tục mở rộng chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân ở miền Bắc nước ta. Cách mạng Việt Nam đứng trước những thử thách cực kỳ nghiêm trọng. Lúc này miền Bắc đã thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

Bác Hồ về chúc Tết nhân dân, xã viên HTX Văn Phúc, Văn Khê, Hoài Đức, Hà Tây nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 1966. Ảnh Internet

Tháng 12/1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 12 và ra Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ mới cho cách mạng hai miền.

Tết Xuân Bính Ngọ 1966,  Bác Hồ đã viết thư chúc Tết năm 1966 đăng trên báo Nhân Dân số 4289 ngày 1/1/1966:

“THƠ CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Mừng miền Nam rực rỡ chiến công,

Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plâyme, Đà Nẵng…

Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng,

Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng.

Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng,

Tiền tuyến hậu phương, toàn dân cố gắng.

Thi đua sản xuất, chiến đấu xung phong,

Chống Mỹ, cứu nước, ta nhất định thắng.

Xuân 1966

HỒ CHÍ MINH”(3)

Cũng trong năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ cứu nước, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược nêu cao tinh thần yêu nước và bảo vệ chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Thực hiện lời kêu gọi của Bác, quân và dân ta ở cả 2 miền, hậu phương thi đua cùng tuyền tuyến cố gắng lập chiến công. Bác đặt niềm tin vào thắng lợi cuối cùng “Chống Mỹ, cứu nước ta, nhất định thắng”. Và sự thật là đúng 9 Xuân sau, nhân dân ta đã thực hiện thành công Chiến dịch mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, xứng với niềm tin của Bác kính yêu.

Thơ chúc Tết là một phần quan trọng trong kho tàng thơ Xuân của Bác. Những lời thơ ngắn gọn, ngôn từ và cách diễn đạt dễ hiểu, chứa chan tình cảm nồng ấm của Bác đã đi sâu vào trái tim đồng bào cả nước. Bác dùng thơ làm quà “mừng Xuân” và cũng mượn thơ để “kêu gọi”, khích lệ đồng bào và khẳng định niềm tin vào một tương lai rạng ngời của dân tộc như lời Người tâm sự: “Mấy lời thân ái nôm na/ Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”(4).

Bác đã đi xa về thế giới người hiền được gần 45 mùa Xuân, Xuân Giáp Ngọ này, đọc lại những vần thơ chúc Tết của Bác để nhớ mãi ơn Người, nguyện học tập và làm theo lời Bác, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu mạnh hơn./.

ThS. Hoàng Thị Thu Hiền (Tổng hợp)

1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tập 3, tr. 249.

2. Sđd, Tập 8, tr.400.

3. Sđd, Tập 15, tr.1.

4. Sđd, Tập 14, tr.224.