Top 18 # Những Bài Thơ Về Quê Mẹ / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Về Quê Mẹ, Cảm Nhận Về “Quê Mẹ” / 2023

Hồi nhỏ, khi đang học tiểu học trường làng, một ngôi trường nhỏ vách đất mái tranh sát bờ sông Bồ, chỉ dạy học sinh từ lớp Năm đến lớp Tư (như lớp 1, 2 bây giờ), nỗi thắc mắc lớn nhất của mình là tên gọi của cái xóm nơi mình được mạ sinh ra, bà ngoại chôn nhau cắt rốn và nuôi dạy khôn lớn về sau. Khi thì nghe các cậu các dì gọi tên Xóm Nhì (lớn lên một chút thì biết thêm tên Lai Trung Nhì, tên đầy đủ là Xóm Nhì làng Lai Trung, dù chưa biết cái làng Lai Trung ấy ở đâu cả). Khi khác lại nghe gọi là Xóm Phù Lai Cà, còn nghe thêm có làng Phù Lai Chè, Phù Lai Ớt ở đâu đó. Rồi một hôm nghe được cái tên làng dài lòng thòng, đọc mỏi miệng: Tân Xuân Lai Thượng Thọ. Cái tên này được hình thành bởi tên của 5 xóm (được tách ra từ 5 làng gốc: Lai Thành, Xuân Tùy, Lai Trung, La Vân Thượng, và Cao Xá) hợp thành làng mới, gồm Tân Thành (một xóm của làng Lai Thành ở thị xã Hương Trà), Xuân Tùy (của làng Xuân Tùy ở xã Quảng Phú), Lai Trung Nhì (của làng Lai Trung ở xã Quảng Vinh), La Vân Thượng (của làng La Vân Thượng cùng xã Quảng Thọ) và Tân Thọ (còn gọi là Xóm Chuối, một xóm của làng gốc Cao Xá ở Phong Điền). Cái tên có ý nghĩa thật đẹp, ai biết sơ từ Việt gốc Hán đều đoán ra. Nhưng chẳng may, cái tên dài ngoằng ấy không “thượng thọ”, sau năm 1975 đã được gọi gọn là Tân Xuân Lai, hay và đẹp. Và mình luôn mơ “mùa xuân mới lại về” trên quê ngoại.

Làng Tân Xuân Lai Thượng Thọ tuy rộng dài vậy nhưng đôi bàn chân nhỏ bé của mình đã chạy khắp, từ xóm La Vân Thượng, Xuân Tùy, Tân Thành (còn gọi là Xóm Bàu vì có cái bàu nước) đến Xóm Chuối, đâu cũng có bạn học. Xóm Bàu có Dương Văn Trình, con ông De, về sau tham gia cách mạng, làm trợ lý quân lực Huyện đội Quảng Điền; Xuân Tùy có bạn Bửu, sau này làm Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Quảng Điền; Xóm Chuối có bạn Hồ Lai Hải, Hồ Lai Thủy, con của ông Hồ Trình, một tay chèo đua khét tiếng toàn huyện, hai bạn ấy sau này lên Huế học rồi trở thành giáo viên, có anh Hoàng Ngọc Vĩnh, lớn lên tham gia cách mạng, lần lượt làm Bí thư Chi bộ xã Quảng Ninh, sau năm 1975 làm Bí thư Huyện ủy Quảng Điền, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế rồi về hưu, cùng lứa với một bạn học khác là Nguyễn Đình Sắc (học rất giỏi, sau này vào Nam làm giáo viên) và Nguyễn Đình Sau cùng làng Phước Yên (khi tham gia cách mạng đổi tên là Nguyễn Thất Sáu, từng là Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy Quảng Điền, hiện là Chủ tịch Hội CCB huyện). Riêng Phe Nhì (một tên gọi khác của Xóm Nhì làng Lai Trung) thì toàn là bà con nội ngoại và hàng xóm cả nên bạn học cũng là anh em bạn cũ lưu tồn từ thuở “chia trộm sẻ quà” (chia nhau đồ ăn trộm như ổi, xoài, mía, dái mít…, san sẻ cho nhau những món quà vặt của người lớn từ Huế về cho mà bọn trẻ lau hau chúng tôi thích vô cùng như bánh quy, kẹo nu-ga, mè xửng). Đôi chân mình còn chạy khắp xã Quảng Thọ, không tránh làng nào vì làng nào cũng có bạn học. Và điều quan trọng nhất lôi kéo những bước chạy của tôi là nhà bạn nào cũng có… trái cây ngọt dịu ngọt thanh, không cần ăn cắp, tranh giành với ai. Mặc dù sau mỗi buổi chạy chơi nhà bạn, ăn no ổi xoài chuối, thế nào cũng bị mạ cho ăn no đòn roi mây gác bếp, đau quắn mông nhưng lạ thay, ngày mai quên hết. Nhớ bạn, thèm chơi, ta lại chạy. Chiều no xoài ổi, tối no đòn! Sau mỗi trận đòn, mạ lại đem rượu thuốc ra xoa bóp chỗ đau rồi ngồi ru cho mình ngủ, khi thì ca dao, lúc là những bài thơ nghe hay lạ lùng, nghe là thuộc… vài câu của “cậu Tố”. Cậu Tố, cậu Lành chỉ là một trong nhiều cách gọi về Nguyễn Kim Thành – nhà thơ Tố Hữu. Có người gọi là anh Tố, anh Lành hoặc chú Tố, chú Lành, tùy theo mối quan hệ của từng người với ông. Trong bài này, tôi xác lập mối quan hệ giữa nhà thơ với người yêu thơ nêu ra những đồng cảm với bài “Quê Mẹ”.

Lên Trung học đệ nhất cấp (THĐNC, tương đương THCS bây giờ), mình lên Huế học trường Hàm Nghi, lên lớp Đệ Ngũ được chuyển qua trường Gia Hội mới thành lập nên tụi mình là lứa học sinh đầu tiên của trường này. Hồi ấy, học sinh THĐNC được học ngày hai buổi từ thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ sáu, riêng thứ năm chỉ học một buổi. Thứ bảy và chủ nhật nghỉ học, về nhà. Đường về nhà có khi được đi xe đò Huế – Hương Cần, thường gặp và đi xe chú Phò. Từ chợ Hương Cần về nhà dài chừng 3km toàn đi bộ, qua hai bãi tha ma, sợ chết khiếp! Chân chạy tít mù, tay nắm quyết định tâm ấn, miệng niệm Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, cứ thế về nhà mỗi tuần. Có một hôm về sớm, qua khỏi cầu Hương Cần, gặp ngay ông Cai Bân, một chức việc của xã Quảng Thọ. Ông này dữ dằn khét tiếng, dân làng xã rất sợ, còn mình mỗi lần gặp lại bị ông xách vành tai!” Lần này, biết khó thoát, ráng giữ bình tĩnh, mình đi tới trước mặt ông ta, vòng tay thưa chú. Không như mọi khi, lần này ông cười rất tươi, đưa cho mình trái quýt Hương Cần, một thứ trái cây mà trẻ già quê mình đều thích vì vị ngọt thanh. Mình cám ơn rồi chạy vù đi, qua khỏi bãi tha ma nối giữa Phe Kiền và làng La Vân Thượng khi nào chẳng hay, không cần bắt ấn, niệm Phật. Thở phào hết sợ, bèn bóc trái quýt ra ăn. Vị ngọt dịu thanh của nó làm mát tận ruột gan. Bỗng dưng trong đầu mình vang lên câu thơ “Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt”. Bây giờ có nhiều loại quýt khắp trong nước, quýt ngoại tràn lan thị trường trái cây bán dịp ngày rằm, mồng một âm lịch. Có loại ngọt như đường, loại ngọt ngọt chua chua, nhưng không có vị ngọt dịu thanh nào bằng quýt Hương Cần mình được ăn từ thuở nhỏ. Chắc chắn nhà thơ cũng từng, như hàng vạn người ở Thừa Thiên Huế từng thưởng thức hương vị tuyệt vời của trái quýt Hương Cần trồng ở Phe/ Giáp Kiền ngày xưa, nhưng chỉ có ông mới rung cảm viết nên câu thơ Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt. Còn nữa, trên câu ấy là câu Mà đất Phù Lai vẫn tốt cà.

Ơ mà ngon thật món mắm cà quê ta! Cà ở làng Phù Lai có hai loại: loại to như cái chén (bát) ăn cơm là cà bát, loại này mạ không dùng làm mắm, chỉ dùng để hấp chín rồi dằm với nước mắm chanh tỏi pha chút đường, ăn nhức răng. Thầy Phú, thầy Quý dạy ở trường tiểu học, buổi trưa ở lại ăn cơm tháng tại nhà mình, trưa nào cũng đòi ăn món cà bát chấm nước mắm chanh tỏi ớt đường của mạ làm. Riêng món mắm cà được làm từ loại cà nhỏ cỡ hột mít, tròn thúc lúc. Hái cà về, mạ chăm chút cắt bỏ cuống cà rồi đem phơi nắng, độ vài hôm cà khô dần. Khi cà khô vừa độ, mạ đem bỏ vô rổ, đậy vải lên cho cà dịu nắng. Mắm cá nục mạ đã làm sẵn từ mấy tháng trước, loại cá nhỏ chỉ bằng ngón tay người lớn ăn mới ngon. Mình rất thích hít mùi mắm cá nục mỗi khi mạ mở hũ mắm ra để chuẩn bị làm mắm cà. Mắm cà mạ làm ngon nức tiếng không chỉ trong huyện mà còn lan lên Dinh (hồi đó dân quê gọi vùng Huế là Dinh, dấu vết còn sót lại đến chừ là Chợ Dinh), ông tỉnh rất thích món mắm cà o Tư, lan tới tận Sài Gòn do cậu ruột em mạ là cậu Trình về quê mang vô thết đãi mấy vị quan chức, sĩ quan chính quyền Sài Gòn hồi ấy. Nghe nói là đến cả mấy ông cấp cao của chính quyền Sài Gòn cũng thích ăn mắm cà do mạ làm, mỗi năm mạ phải làm vài ba bốn hũ gửi vô cho họ. Có lẽ vì thế nên mạ mới hoàn thành trót lọt những chuyến lên Huế nhận hàng về cho Cách mạng. Và có lẽ cũng vì thế nên năm 1967, mạ bị vu cáo tội làm gián điệp cho địch, suýt chút nữa bị cách mạng xử tử hình nếu không có chú Côi du kích kịp báo tin cho mạ thoát thân lên Huế, sau này một cán bộ lãnh đạo của huyện hồi đó xác nhận mạ bị vu oan… thì có lẽ đời mình sẽ mồ côi mẹ từ khi còn nhỏ (!). Thôi, không nói chuyện suýt buồn nữa, nói chuyện vui thôi!

Nhớ món mắm cà mạ làm, lại càng thấm hương vị đồng quê, niềm tự hào muốn khoe đặc sản quê nhà và hơn hết muốn khẳng định sức sống bền vững của Đất và Người quê mình, cho dù bom đạn giặc đã bao lần cày xới. Chỉ những người ở quê, thụ hưởng đặc sản quê nhà, máu thắm hồn quê mới cảm được tận tim gan những câu thơ này: Làng ta giặc đốt mấy lần qua. Mà đất Phù Lai vẫn tốt cà. Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt…

Bom đạn cày xới quê mình dữ dội nhất là sau trận Xuân Mậu Thân 1968. Địch tung toàn bộ hỏa lực dội xuống toàn xã, ác liệt nhất là 3 thôn Niêm Phò, Phò Nam và Tân Xuân Lai. Chưa hết, chúng còn đem xe ủi xe cày về ủi hất nhà cửa, tre pheo của các hộ dân 3 làng sống sát bờ sông Bồ, trong đó có nhà mình xuống sông hết. Mục đích chúng làm là tìm cho được các căn hầm bí mật thường được người dân cơ sở của Cách mạng đào ở dưới hoặc sát các bụi tre sau nhà, sát bờ sông, nhà mình cũng có hai cái. Năm 1975, sau ngày 30 tháng 4, mình dẫn cô vợ mới cưới trên rừng về quê chồng. Trời ơi! Một vùng quê xanh tươi trù phú ngày nào, nay chỉ còn đất đá, cỏ dại ngổn ngang, rắn bò lúc nhúc. Lại nhớ đến bài thơ “Núi Đôi” của Vũ Cao:

Từ núi qua thôn, đường nghẽn lối Xuân Dục, Đoài Đông cỏ ngút dày Sân biến thành ao, nhà đổ chái Ngổn ngang bờ bụi, cánh dơi bay

Nhà thơ tả thực, không thêm bớt chút nào cảnh hoang tàn đổ nát của chiến tranh do bom đạn giặc Pháp cày phá. Tiếc là mình không có tài thơ như Vũ Cao để tả lại cảnh bom đạn giặc Mỹ hủy hoại đất quê mình. Bây giờ nhiều nhà phê bình và cả những bạn thơ trẻ, bạn trẻ yêu thơ cũng phê phán trào lưu sáng tác văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa lắm. Nhưng chắc họ chưa tận thấy cảnh bom đạn giặc ngoại xâm tàn phá làng quê, cày nát chính ngôi nhà của mình… nên họ không thể rung cảm thật lòng khi đọc những dòng thơ tả thực của Tố Hữu và Vũ Cao chăng? Thế thật thì nên cảm thông cho họ, những người may mắn sinh ra khi đất nước đã thanh bình, quê hương không còn bóng giặc ngoại xâm. Nếu họ phải sinh ra sớm hơn, vào thời kháng chiến thì sao nhỉ? Thì mình đã trải qua rồi cái cảnh:

Ôi những đêm xưa tối mịt mùng Con nằm bên mẹ, ấm tròn lưng. Ngoài hiên nghe tiếng giày đi rỏn. Mẹ bấm con: Im! Chúng nó lùng. Con hỏi: Vì sao chúng nó tìm? Tìm ai? Con hỏi. Mẹ rằng: Im! Mẹ ơi! Đời mẹ buồn lo mãi! Thắt ruột, mòn gan, héo cả tim!

Với Tố Hữu, cảnh đó diễn ra vào thời điểm trước sau 1930, khi nhà thơ còn ở độ tuổi chín, mười: Huế ơi! Quê mẹ của ta ơi! Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mười. Khi những toán lính của địch đêm đêm đi lùng sục khắp các làng quê ở xã Quảng Thọ, khắp làng Phù Lai vào những năm chống Mỹ, mình cũng ở độ tuổi đó, lớn hơn tí nhưng bé choắt bé teo như một con mèo đói, nằm gọn trong lòng mạ, nghe rõ tiếng tim mạ đập thình thịch mỗi khi có tiếng giày đinh đạp trên lá khô sau vườn. Mạ đã bao lần Thắt ruột, mòn gan, héo cả tim! Như mẹ của nhà thơ và bao bà mẹ khác cô đơn bảo vệ con mình, khi chồng đi xa, lính áp sát nhà!

Mình nhớ cậu Dọc, cậu Nhơn người làng, dượng Mo chồng dì Gái, dượng Lỗ chồng dì Hòa… toàn những người nông dân thật thà như đất. Nhớ anh Toàn thiếu úy quê “Quảng Nôm” mỗi lần về làng lại cho mình và lũ bạn ăn kẹo nu-ga, vuốt đầu khen học giỏi, lại còn kỳ công bày cho mình cách làm diều, làm đèn ông sao 5 cánh. Ban đêm, khi không gian yên ắng, mấy o mấy chú du kích mặc áo đen, trong đó có o Thuấn Em, về vai vế bà con phải gọi mình bằng anh, khoác súng cạc-bin vô nhà nói chuyện chi thì thầm với mạ, xong rồi quay sang mình vỗ vai, bảo “Lớn mau lên!” Có một chú có vẻ làm to, vai đeo xắc-cốt đen khi nào vô nhà nói chuyện với mạ xong lại vuốt đầu dặn “Ráng học giỏi cháu hí!” Lại nhớ nhà thơ Hoàng Cát hồi ấy vào miền Nam chiến đấu, trú trong hầm bí mật làng mình, đã chép cho mình mấy bài thơ tình của Xuân Diệu! Ôi, nhớ quá, nhớ biết bao người! Nhìn cảnh nhớ người, gặp người nhớ chuyện… những người những chuyện xảy ra trong hoàn cảnh ôi những đêm xưa tối mịt mùng nhưng lòng người lại sáng trong, đậm đà tình nghĩa!

Ngày ấy, Tố Hữu không còn mẹ, nhưng còn quê hương, đất nước: Mẹ không còn nữa, còn đây Huế. Mình vẫn còn mạ ở nhà ngóng trông mỗi ngày thứ bảy con về. Nhưng mình cũng thế: Con lớn lên con biết lẽ rồi. Nước mất nhà tan, đời khổ thế! Không làm nô lệ, đứng lên thôi! Ông nhà thơ thì: Con lớn lên, con làm cách mạng. Còn mình chỉ đi theo cách mạng thôi, khác chút đó. Ông ấy có anh Lưu, anh Diểu dạy con đi, mình cũng có anh Hoàng Cát, anh Thắng, anh Hồng bày đường chỉ lối, cũng là người trước bảo người sau, khác chi đâu. À! Có khác, ông ấy mất mẹ khi chưa làm cách mạng, mình vẫn còn mạ và chính mạ là người đầu tiên báo tin vui cho mình được kết nạp vào Đảng.

Khi thoát ly lên rừng tham gia Giải phóng quân, mình cứ nhẩm hoài câu hát thể hiện lòng mong nhớ gia đình, nhớ mẹ và lời thề “Ra đi, ước hẹn ngày về thăm quê. Rằng chưa tan hết giặc, ta chưa về”. Ngày ấy, ở chiến trường nhớ mạ, mình cũng đã làm thơ lúc xuân về: Tết đến con cùng chốn chiến trường. Một cành mai nhỏ, nhớ quê hương. Mạ ơi! Thêm một ngày xa cách. Ray rứt lòng con đau nhớ thương. Nhưng chỉ đến khi trở về thăm quê ngoại sau ngày thống nhất đất nước, nhìn cảnh làng xã tan hoang, vườn nhà nát bét, ngôi nhà thân yêu không còn, chỉ trơ cái móng nhà nham nhở vì bom đạn giặc Mỹ, mình mới thấm được nỗi đau xương máu. Đau cả lòng sông, đau cỏ cây! Thấm tận xương tủy, không thể nào quên! Đọc và ngấm thêm vậy: Từ ấy, xa quê mẹ đến rày. Lắng nghe từng buổi, nhớ từng ngày. Giặc về giặc chiếm, đau xương máu. Đau cả lòng sông, đau cỏ cây!

Tố Hữu là nhà thơ, không phải nhà tiên tri. Nhưng trong Quê Mẹ, có một khổ thơ chứng tỏ tài tiên tri của ông: Chúng bay không thể có ngày mai. Chết dưới chân bay vạn bẫy gài. Chết xuống đầu bay từng hốc núi. Hải Vân thăm thẳm huyệt đêm ngày. Bẫy gài, hầm chông đã có từ thời xưa, khi dân ta tiến hành chiến tranh chống giặc ngoại xâm thời quân Tần xâm lược, tiếp tục đến thời chống Mỹ, không nói làm gì. Nhưng Chết xuống đầu bay từng hốc núi. Hải Vân thăm thẳm huyệt đêm ngày là chuyện có thật xảy ra trong thời chống Mỹ: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trịnh Tố Tâm và tiểu đoàn 14 công binh của quân chủ lực Quân khu Trị Thiên đã làm như vậy, khiến quân thù kinh hồn táng đởm. Trong khổ thơ này, nhà thơ dùng một từ rất “nặng ký”: Bay, chúng bay. Không phải là bây, chúng bây. Đọc thầm, đọc to lên, không thấy gì khác. Đọc gằn giọng giận dữ, thấy có chút khác. Đọc với giọng căm hờn và khinh miệt, thấy rõ sức nặng của bay, chúng bay. Ở khổ thơ cuối cùng, nhà thơ mong ước, hy vọng và xác định vững chắc niềm tin chứ không tiên tri:

Ơi Huế ngàn năm, Huế của ta Đường vào sẽ nối lại đường ra Như con của mẹ về quê mẹ Huế lại về vui giữa Cộng hòa.

Niềm mong ước, hy vọng và niềm tin ấy từ năm 1955 nhưng phải đến 20 năm sau – 1975 mới thành sự thật. Đó cũng là niềm ước mong, hy vọng của cả dân tộc Việt Nam và bao nhiêu cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954, như Nguyễn Bính từng thổ lộ nỗi nhớ người vợ đang ở miền Nam: Trời còn có bữa sao quên mọc. Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em! Mình và bao người đồng đội khác thoát ly lên rừng tham gia cách mạng, làm người chiến sĩ Giải phóng quân cũng ước mong, hy vọng và tin tưởng như thế. Chỉ khác là mình đợi điều đó hơn 7 năm. Còn ông, nhà thơ Tố Hữu ấy, ông phải đợi ròng rã 20 năm mới được về thăm quê cha đất tổ, quê mẹ cắt rốn chôn nhau. Có niềm nhớ thương nào đau đáu hơn chăng?

*

Trong bài “Phía mẹ, phía quê nhà” được viết năm 1986, trước ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và được tác giả yêu cầu Nhà xuất bản Thuận Hóa đưa vào in cuối tập thơ Tố Hữu “Từ ấy… chào năm 2000” (Nxb. Thuận Hóa – Huế, 1991, tr 438 – 448 , cố thi sĩ Chế Lan Viên đã nhận xét về thơ Tố Hữu như sau:

“Nhà thơ này sử dụng đôi mắt tinh tường, nhà thơ khác sử dụng bộ óc kỳ ảo. Còn Tố Hữu, anh chỉ sử dụng những tình cảm của trái tim trần:

Trái tim ta đó Tiếng đập thình thình muốn vỡ làm đôi Ta biết em rất khỏe tim ơi Không khóc đấy. Nhưng sao mà nóng bỏng  

Đọc thơ anh là nghe cho được trái tim này. Và trái tim ư, nó cũng có những cái tinh tường kỳ ảo của riêng nó”. Và nhất là đoạn kết bài viết “Thơ Tố Hữu là thơ trái tim (có biết chuyện này thì câu thơ cũng chả vì thế mà hay hơn, nếu nó đã hay; hoặc bớt dở đi, nếu nó vốn dở. Nhưng hiểu thơ trái tim, lại cần phải có bộ óc. Thế mới là hiểu cho tác giả. Do đó, tôi muốn các độc giả Thừa Thiên Huế chúng ta sẽ dần dần tìm đọc toàn tập Tố Hữu. Anh là nhà thơ của phía Mẹ, phía Quê hương. Và cũng là nhà thơ lớn của dân tộc”.

Với riêng tôi, chỉ mong trước hết các con, các cháu bên nội của nhà thơ Tố Hữu hiện ở trong nước, tại quê hãy tìm đọc và thuộc (hiểu và cảm được càng tốt) nhiều bài thơ nổi tiếng của ông, trong đó có Quê Mẹ.

P.X.P   (SHSDB36/03-2020)

Về Quê Mẹ, Cảm Nhận Về “Quê Mẹ” / 2023

Làng Tân Xuân Lai Thượng Thọ tuy rộng dài vậy nhưng đôi bàn chân nhỏ bé của mình đã chạy khắp, từ xóm La Vân Thượng, Xuân Tùy, Tân Thành (còn gọi là Xóm Bàu vì có cái bàu nước) đến Xóm Chuối, đâu cũng có bạn học. La Vân Thượng có Chế Văn Thông, con ông Chế Văn Quýnh, lớn lên đi lính VNCH rồi đi đâu không rõ; Xóm Bàu có Dương Văn Trình, con ông De, về sau tham gia cách mạng, làm trợ lý quân lực Huyện đội Quảng Điền; Xuân Tùy có bạn Bửu, sau này làm Trường Phòng Lao động- TB&XH huyện Quảng Điền; Xóm Chuối có bạn Hồ Lai Hải, Hồ Lai Thủy, con của ông Hồ Trình, một tay chèo đua khét tiếng toàn huyện, hai bạn ấy sau này lên Huế học rồi trở thành giáo viên, có anh Hoàng Ngọc Vĩnh, lớn lên tham gia cách mạng, lần lượt làm Bí thư chi bộ xã Quảng Ninh, sau năm 1975 làm Bí thư huyện ủy Quảng Điền, Trưởng Ban nội chính Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế rồi về hưu, cùng lứa với một bạn học khác là Nguyễn Đình Sắc (học rất giỏi, sau này vào Nam làm giáo viên) và Nguyễn Đình Sau cùng làng Phước Yên (khi tham gia cách mạng đổi tên là Nguyễn Thất Sáu, từng là Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy Quảng Điền, hiện là Chủ tịch Hội CCB huyện). Riêng Phe Nhì (một tên gọi khác của Xóm Nhì làng Lai Trung) thì toàn là bà con nội ngoại và hàng xóm cả nên bạn học cũng là anh em bạn cũ lưu tồn từ thuở “chia trộm sẻ quà” (chia nhau đồ ăn trộm như ổi, xoài, mía, dái mít…, san sẻ cho nhau những món quà vặt của người lớn từ Huế về cho mà bọn trẻ lau hau chúng tôi thích vô cùng… như bánh quy, kẹo nu- ga, mè xửng). Đôi chân mình còn chạy khắp xã Quảng Thọ, không tránh làng nào vì làng nào cũng có bạn học. Và điều quan trọng nhất lôi kéo những bước chạy của tôi là nhà bạn nào cũng có…trái cây ngọt dịu ngọt thanh, không cần ăn cắp, tranh giành với ai. Mặc dù sau mỗi buổi chạy chơi nhà bạn, ăn no ổi xoài chuối, thế nào cũng bị Mạ cho ăn no đòn roi mây gác bếp, đau quắn mông… nhưng lạ thay, ngày mai quên hết. Nhớ bạn, thèm chơi, ta lại chạy. Chiều no xoài ổi, tối no đòn! Sau mỗi trận đòn, Mạ lại đem rượu thuốc ra xoa bóp chỗ đau rồi ngồi ru cho mình ngủ, khi thì ca dao, lúc là những bài thơ nghe hay lạ lùng, nghe là thuộc…vài câu của “Cậu Tố”. Cậu Tố, cậu Lành chỉ là một trong nhiều cách gọi về Nguyễn Kim Thành- Nhà thơ Tố Hữu. Có người gọi là anh Tố, anh Lành hoặc chú Tố, chú Lành.v.v. tùy theo mối quan hệ của từng người với ông. Trong bài này, tôi xác lập mối quan hệ giữa nhà thơ với người yêu thơ nêu ra những đồng cảm với bài Quê Mẹ.

Lên Trung học đệ nhất cấp (THĐNC, tương đương THCS bây giờ), mình lên Huế học trường Hàm Nghi, lên lớp Đệ Ngũ được chuyển qua trưởng Gia Hội mới thành lập nên tụi mình là lứa học sinh đầu tiên của trường này. Hồi ấy, học sinh THĐNC được học ngày hai buổi từ thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư và Thứ Sáu, riêng Thứ năm chỉ học một buổi. Thứ Bảy và Chủ nhật nghỉ học, về nhà. Đường về nhà có khi được đi xe đò Huế- Hương Cần thường gặp và đi xe chú Phò, từ chợ Hương Cần về nhà dài chừng 3 km toàn đi bộ, qua hai bãi tha ma, sợ chết khiếp! Chân chạy tít mù, tay nắm quyết Định tâm ấn, miệng niệm Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, cứ thế về nhà mỗi tuần. Có một hôm về sớm, qua khỏi cầu Hương Cần, gặp ngay ông Cai Bân, một chức việc của xã Quảng Thọ, lính cũ của cha mình thời Việt Minh. Ông này dữ dằn khét tiếng, dân làng xã rất sợ ông này, còn mình mỗi lần gặp ông ta lại bị ông xách vành tai rồi cười gằn “Thằng Việt Cộng con!”. Lần này, biết khó thoát, ráng giữ bình tĩnh, mình đi tới trước mặt ông ta, vòng tay thưa chú. Không như mọi khi, lần này ông cười rất tươi, đưa cho mình trái quýt Hương Cần, một thứ trái cây mà trẻ già quê mình đều thích vì vị ngọt thanh. Mình cám ơn rồi chạy vù đi, qua khỏi bãi tha ma nối giữa Phe Kiền và làng La Vân Thượng khi nào chẳng hay, không cần bắt ấn, niệm Phật. Thở phào hết sợ, bèn bóc trái quýt ra ăn. Vị ngọt dịu thanh của nó làm mát tận ruột gan. Bỗng dưng trong đầu mình vang lên câu thơ “Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt“. Bây giờ có nhiều loại quýt khắp trong nước, quýt ngoại tràn lan thị trường trái cây bán dịp ngày rằm, mồng một âm lịch. Có loại ngọt như đường, loại ngọt ngọt chua chua, nhưng không có vị ngọt dịu thanh nào bằng quýt Hương Cần mình được ăn từ thuở nhỏ. Chắc chắn nhà thơ cũng từng, như hàng vạn người ở Thừa Thiên Huế từng thưởng thức hương vị tuyệt vời của trái quýt Hương Cần trồng ở Phe /Giáp Kiền ngày xưa, nhưng chỉ có ông mới rung cảm viết nên câu thơ Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt. Còn nữa, trên câu ấy là câu mà đất Phù Lai vẫn tốt cà.

Ơ mà ngon thật món mắm cà quê ta! Cà ở làng (gọi thế cho oai) Phù Lai có hai loại: loại to như cái chén (bát) ăn cơm là cà bát, loại này Mạ không dùng làm mắm, chỉ dùng để hấp chín rồi dằm với nước mắm chanh tỏi pha chút đường, ăn nhức răng. Thầy Phú, thầy Quý dạy ở trường tiểu học, buổi trưa ở lại ăn cơm tháng tại nhà mình, trưa nào cũng đòi ăn món cà bát chấm nước mắm chanh tỏi ớt đường của Mạ làm. Riêng món mắm cà được làm từ loại cà nhỏ cỡ hột mít, tròn thúc lúc. Hái cà về, Mạ chăm chút cắt bỏ cuống cà rồi đem phơi nắng, độ vài hôm cà khô dần. Khi cà khô vừa độ, Mạ đem bỏ vô rổ, đậy vải lên cho cà dịu nắng. Mắm cá nục Mạ đã làm sẵn từ mấy tháng trước, loại cá nhỏ chỉ bằng ngón tay người lớn ăn mới ngon. Mình rất thích hít mùi mắm cá nục mỗi khi Mạ mở hũ mắm ra để chuẩn bị làm mắm cà. Mắm cà Mạ làm ngon nứt tiếng không chỉ trong huyện mà còn lan lên Dinh (hồi đó dân quê gọi vùng Huế là Dinh, dấu vết còn sót lại đến chừ là Chợ Dinh), Tỉnh trưởng- Trung tá Phan Văn Khoa rất thích món mắm cà O Tư, lan tới tận Sài Gòn do cậu ruột em Mạ là cậu Trình về quê mang vô thết đãi mấy vị quan chức, sĩ quan chính quyền Sài Gòn hồi ấy. Nghe nói là đến cả Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu quê miền Bắc cũng thích ăn mắm cà do Mạ làm, mỗi năm Mạ phải làm vài ba bốn hũ gửi vô cho ông ta. Có lẽ vì thế nên Mạ mới hoàn thành trót lọt những chuyến lên Huế nhận hàng về cho Cách mạng. Và có lẽ cũng vì thế nên năm 1967, Mạ bị vu cáo tội làm gián điệp cho địch, suýt chút nữa bị cách mạng xử tử hình nếu không có chú Côi du kích kịp báo tin cho Mạ thoát thân lên Huế, sau này một cán bộ lãnh đạo của huyện hồi đó xác nhận Mạ bị vu oan… thì có lẽ đời mình sẽ mồ côi mẹ từ khi còn nhỏ (!). Thôi, không nói chuyện suýt buồn nữa, nói chuyện vui thôi!

Nhớ món mắm cà Mạ làm, lại càng thấm hương vị đồng quê, niềm tự hào muốn khoe đặc sản quê nhà và hơn hết muốn khẳng định sức sống bền vững của Đất và Người quê mình, cho dù bom đạn giặc đã bao lần cày xới. Chỉ những người ở quê, thụ hưởng đặc sản quê nhà, máu thắm hồn quê mới cảm được tận tim gan những câu thơ này: Làng ta giặc đốt mấy lần qua. Mà đất Phù Lai vẫn tốt cà. Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt…

Bom đạn cày xới quê mình dữ dội nhất là sau trận Xuân Mậu Thân 1968. Địch tung toàn bộ hỏa lực dội xuống toàn xã, ác liệt nhất là 3 thôn Niêm Phò, Phò Nam và Tân Xuân Lai. Chưa hết, chúng còn đem xe ủi xe cày về ủi hất nhà cửa, tre pheo của các hộ dân 3 làng sống sát bờ sông Bồ, trong đó có nhà mình xuống sông hết. Mục đích chúng làm là tìm cho được các căn hầm bí mật thường được người dân cơ sở của Cách mạng đào ở dưới hoặc sát các bụi tre sau nhà, sát bờ sông, nhà mình cũng có hai cái. Năm 1975, sau ngày 30 tháng 4, mình dẫn cô vợ mới cưới trên rừng về quê chồng. Trời ơi! Một vùng quê xanh tươi trù phú ngày nào, nay chỉ còn đất đá, cỏ dại ngổn ngang, rắn bò lúc nhúc. Lại nhớ đến bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao:

Nhà thơ tả thực, không thêm bớt chút nào cảnh hoang tàn đổ nát của chiến tranh do bom đạn giặc Pháp cày phá. Tiếc là mình không có tài thơ như Vũ Cao để tả lại cảnh bom đạn giặc Mỹ hủy hoại đất quê mình một cách “văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa” nhất. Bây giờ nhiều nhà phê bình và cả những bạn thơ trẻ, bạn trẻ yêu thơ cũng phê phán trào lưu sáng tác văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa lắm. Nhưng chắc họ chưa tận thấy cảnh bom đạn giặc ngoại xâm tàn phá làng quê, cày nát chính ngôi nhà của mình… nên họ không thể rung cảm thật lòng khi đọc những dòng thơ tả thực của Tố Hữu và Vũ Cao chăng? Thế thật thì nên cảm thông cho họ, những người may mắn sinh ra khi đất nước đã thanh bình, quê hương không còn bóng giặc ngoại xâm. Nếu họ phải sinh ra sớm hơn, vào thời kháng chiến thì sao nhỉ? Thì mình đã trải qua rồi cái cảnh:

Với Tố Hữu, cảnh đó diễn ra vào thời điểm trước sau 1930, khi nhà thơ còn ở độ tuổi chín, mười: Huế ơi! Quê mẹ của ta ơi! Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mười. Khi những toán lính sư đoàn Một bộ binh- Quân lực VNCH đêm đêm đi lùng sục khắp các làng quê ở xã Quảng Thọ, khắp làng Phù Lai, mình cũng ở độ tuổi đó, lớn hơn tí nhưng bé choắt bé teo như một con mèo đói, nằm gọn trong lòng Mạ, nghe rõ tiếng tim Mạ đập thình thịch mỗi khi có tiếng giày đinh đạp trên lá khô sau vườn. Mạ đã bao lần Thắt ruột, mòn gan, héo cả tim! Như mẹ của nhà thơ và bao bà mẹ khác cô đơn bảo vệ con mình, khi chồng đi xa, lính áp sát nhà!

Nói thật, hồi ấy mình chưa hề có chút căm thù và sợ sệt nào với mấy chú lính sư đoàn Một bộ binh, nghĩa quân, dân vệ…vì trong đó có cậu Dọc, cậu Nhơn người làng, dượng Mo chồng dì Gái, dượng Lỗ chồng dì Hòa… toàn những người nông dân thật thà như đất, bị bắt đi lính; có anh Toàn thiếu úy quê “Quảng Nôm” mỗi lần về làng lại cho mình và lũ bạn ăn kẹo nu- ga, vuốt đầu khen học giỏi, lại còn kỳ công bày cho mình cách làm diều, làm đèn ông sao 5 cánh. Ô hay! Sao hồi ấy anh thiếu úy Toàn lại vừa làm vừa hát nho nhỏ “Vàng vàng ơi! Đẹp lắm, sao sao ơi!” nhỉ? Hồi ấy mình không hiểu, bây giờ thì hiểu rồi, tiếc là anh Toàn đã đi xa! Vì thế, nếu vào ban ngày, hễ gặp mấy chú mấy anh lính sư đoàn Một vô nhà, bọn trẻ con làng Phù Lai mình luôn hí hửng chạy ra chờ kẹo. Bù lại, mình luôn có sẵn mấy con chim rôộc rôộc trong lồng để chú nào, anh nào xin thì cho, anh Toàn được phần con chim to nhất biết hót líu lo. Ban đêm, khi không gian yên ắng, mấy o mấy chú du kích mặc áo đen, trong đó có O Thuấn Em, về vai vế bà con phải gọi mình bằng anh, khoác súng cạc- bin vô nhà nói chuyện chi thì thầm với Mạ, xong rồi quay sang mình vỗ vai, bảo “Lớn mau lên!”. Có một chú có vẻ làm to, vai đeo xắc- cốt đen khi nào vô nhà nói chuyện với Mạ xong lại vuốt đầu dặn “Ráng học giỏi cháu hí!”. Lại nhớ nhà thơ Hoàng Cát hồi ấy vào miền Nam chiến đấu, trú trong hầm bí mật làng mình, đã chép cho mình mấy bài thơ tình của Xuân Diệu! Ôi, nhớ quá, nhớ biết bao người! Nhìn cảnh nhớ người, gặp người nhớ chuyện…những người những chuyện xảy ra trong hoàn cảnh ôi những đêm xưa tối mịt mùng nhưng lòng người lại sáng trong, đậm đà tình nghĩa!

Chỉ đến khi quân Mỹ và sau đó đám quân chư hầu kéo vào miền Nam, tình hình khác hẳn. Lòng người bỗng rõ trắng đen: Địch là địch mà Ta là ta. Lòng người bỗng hoang mang: ai là Ta, ai là Địch? Ngụy quân ngụy quyền là ai? Là những người như chú Dọc, chú Nhơn, dượng Mo, dượng Lỗ? Là ông cai Bân, người thời Việt Minh làm lính của cha mình, sau năm 1954 quay về làm cán bộ xã Quảng Thọ, hay dọa nạt dân kháng chiến? Là anh thiếu úy Toàn luôn hát líu lo “Vàng vàng ơi! Đẹp lắm, sao sao ơi!”? Hẳn rồi, đó là những kẻ như đại úy Tôn Thất Trực, tên sĩ quan hung bạo khét tiếng luôn đeo một chuỗi lỗ tai người quanh cổ, đó là những lỗ tai Việt Cộng mà hắn ta giết được, coi như một “vòng hoa chiến tích”? Hẳn nhiên rồi, đó là bọn xâm lược Mỹ đã kéo quân vào, đem bom đạn tàn phá quê ta, giết dân ta.

Không thể khác, không thể hành động khác! Ngày ấy, Tố Hữu không còn Mẹ, nhưng còn quê hương, đất nước: Mẹ không còn nữa, còn đây Huế. Mình vẫn còn Mạ ở nhà ngóng trông mỗi ngày thứ Bảy con về. Nhưng mình cũng thế: Con lớn lên con biết lẽ rồi. Nước mất nhà tan, đời khổ thế! Không làm nô lệ, đứng lên thôi!. Ông nhà thơ thì: Con lớn lên, con làm cách mạng. Còn mình chỉ đi theo cách mạng thôi, khác chút đó. Ông ấy có anh Lưu, anh Diểu dạy con đi, mình cũng có anh Hoàng Cát, anh Thắng, anh Hồng bày đường chỉ lối, cũng là người trước bảo người sau, khác chi đâu. À! Có khác, ông ấy mất mẹ khi chưa làm cách mạng, mình vẫn còn Mạ và chính Mạ là người đầu tiên báo tin vui cho mình được kết nạp vào Đảng.

Khi thoát ly lên rừng tham gia Quân giải phóng miền Nam, mình cứ nhẩm hoài câu hát thể hiện lòng mong nhớ gia đình, nhớ mẹ và lời thề “Ra đi, ước hẹn ngày về thăm quê. Rằng chưa tan hết giặc, ta chưa về”. Ngày ấy, ở chiến trường nhớ Mạ, mình cũng đã làm thơ lúc xuân về: Tết đến con cùng chốn chiến trường. Một cành mai nhỏ, nhớ quê hương. Mạ ơi! Thêm một ngày xa cách. Ray rứt lòng con đau nhớ thương. Nhưng chỉ đến khi trở về thăm quê ngoại sau ngày thống nhất đất nước, nhìn cảnh làng xã tan hoang, vườn nhà nát bét, ngôi nhà thân yêu không còn, chỉ trơ cái móng nhà nham nhở vì bom đạn giặc Mỹ, mình mới thấm được nỗi đau xương máu. Đau cả lòng sông, đau cỏ cây! Thấm tận xương tủy, không thể nào quên! Đọc và ngấm thêm vậy: Từ ấy, xa quê mẹ đến rày. Lắng nghe từng buổi, nhớ từng ngày. Giặc về giặc chiếm, đau xương máu. Đau cả lòng sông, đau cỏ cây! Cám ơn nhà thơ Tố Hữu đã giúp mình hiểu tận nỗi đau này!

Tố Hữu là nhà thơ, không phải nhà tiên tri. Nhưng trong Quê Mẹ, có một khổ thơ chứng tỏ tài tiên tri của ông: Chúng bay không thể có ngày mai. Chết dưới chân bay vạn bẫy gài. Chết xuống đầu bay từng hốc núi. Hải Vân thăm thẳm huyệt đêm ngày. Bẫy gài, hầm chông đã có từ thời xưa, khi dân ta tiến hành chiến tranh chống giặc ngoại xâm thời quân Tần xâm lược, tiếp tục đến thời chống Mỹ, không nói làm gì. Nhưng Chết xuống đầu bay từng hốc núi. Hải Vân thăm thẳm huyệt đêm ngày là chuyện có thật xảy ra trong thời chống Mỹ: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trịnh Tố Tâm và tiểu đoàn 14 công binh của quân chủ lực Quân khu Trị Thiên đã làm như vậy, khiến quân thù kinh hồn táng đởm. Trong khổ thơ này, nhà thơ dùng một từ rất “nặng ký”: Bay, chúng bay. Không phải là bây, chúng bây. Đọc thầm, đọc to lên, không thấy gì khác. Đọc gằn giọng giận dữ, thấy có chút khác. Đọc với giọng căm hờn và khinh miệt, thấy rõ sức nặng của bay, chúng bay. Chợt nhớ lại lần viết bài thơ Trung Quốc, hãy nhớ, có một khổ thơ mình dùng từ bây, chúng bây. Đem tặng hai người bạn học thời Hàm Nghi- Gia Hội, sau này một đứa đi học Trường Võ bị quốc gia Đà Lạt, một đứa học trường sĩ quan trù bị Thủ Đức, khi giải phóng miền Nam, tụi hắn mới là sinh viên, chưa đeo lon nên chỉ bị đi cải tạo 1 năm rồi trả quyền công dân, cho về đoàn tụ gia đình, bạn bè lâu lâu lại gặp nhau cụng vài ly, hàn huyên tâm sự chuyện đời. Tưởng được bạn khen, ai ngờ thằng bạn cựu sinh viên sĩ quan Thủ Đức chê ngay: Dùng chữ bây, chúng bây, tau không thỏa, đọc không đã! Ủa! Thì dùng chữ gì? Bay, chúng bay đọc lên nghe mới đã! Dừng một lát để ngẫm nghĩ, vẫn chưa đồng ý. Hắn thủng thẳng: Mi chưa đọc bài thơ Quê Mẹ của Tố Hữu à? Ngớ cả người. Chừ về quê ngoại, đọc và ngẫm lại mới hay…bạn mình sâu!

Nhưng ở khổ thơ cuối cùng, nhà thơ mong ước, hy vọng và xác định vững chắc niềm tin chứ không tiên tri:

Trong bài PHÍA MẸ, PHÍA QUÊ NHÀ, được viết năm 1986, trước ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và được tác giả yêu cầu Nhà xuất bản Thuận Hóa đưa vào in cuối tập thơ Tố Hữu TỪ ẤY….CHÀO NĂM 2000 (Nxb Thuận Hóa- Huế, 1991, tr 438- 448, cố thi sĩ Chế Lan Viên đã nhận xét về thơ Tố Hữu như sau:

Tiếng đập thình thình muốn vỡ làm đôi

Ta biết em rất khỏe tim ơi

Không khóc đấy. Nhưng sao mà nóng bỏng

Đọc thơ anh là nghe cho được trái tim này. Và trái tim ư, nó cũng có những cái tinh tường kỳ ảo của riêng nó”. Và nhất là đoạn kết bài viết ” Thơ Tố Hữu là thơ trái tim (có biết chuyện này thì câu thơ cũng chả vì thế mà hay hơn, nếu nó đã hay; hoặc bớt dở đi, nếu nó vốn dở. Nhưng hiểu thơ trái tim, lại cần phải có bộ óc. Thế mới là hiểu cho tác giả. Do đó, tôi muốn các độc giả Thừa Thiên Huế chúng ta sẽ dần dần tìm đọc toàn tập Tố Hữu. Anh là nhà thơ của phía Mẹ, phía Quê hương. Và cũng là nhà thơ lớn của dân tộc”.

Không như Chế Lan Viên, tôi thì chỉ mong trước hết các con, các cháu bên nội của nhà thơ Tố Hữu hiện ở trong nước, tại quê hãy tìm đọc và thuộc (hiểu và cảm được càng tốt) nhiều bài thơ nổi tiếng của ông, trong đó có Quê Mẹ.

Những Bài Thơ Hay Về Những Cô Gái Quê / 2023

Những bài thơ hay về những cô gái quê, cô gái nhà nông. Đó là những vần thơ ca ngợi vẻ đẹp mộc mạc, thật thà, và tình yêu thủy chung của những cô gái vùng quê, nông thôn Việt Nam.

PHẬN EM LÀ GÁI CHÂN QUÊ

Tác giả: Cỏ Hoang Tình Buồn

Thương nhiều rồi cũng chia xa

Bởi em chẳng được mặn mà đâu anh

Chân quê đâu phải thị thành

Nên đôi mắt chẳng long lanh đưa tình.

Trời vừa ló dạng bình minh

Chân chầm chậm bước một mình vườn rau

Đời lam lũ chẳng được giàu

Quanh năm sớm tối ôm đau thương hoài.

Bao giờ mới được nguôi ngoai

Phận duyên ngang trái…lạc loài hai nơi

Nhớ thương chưa nói cạn lời

Tiếng yêu dang dở tình chơi vơi tình.

Gượng cười nuốt lệ lặng thinh

Đào chôn kỷ niệm chúng mình ngày xưa

Nợ duyên nay cũng hóa thừa

Quay lưng cúi mặt…như chưa lần nhìn.

GÁI QUÊ

Thơ: Đỗ Luyên

Không điệu đà chẳng một chút phấn son

Chân nứt nẻ tay vẫn còn bùn lấm

Biết phơi thóc khi vừa đi lẫm chẫm

Lúc gặt mùa áo bạc đẫm mồ hôi

Cùng lũ bạn chăn trâu ngồi vắt vẻo

Nghe sáo diều dây nhẹ kéo thật vui

Trộm ối xanh chua và chát lại bùi

Trăng sáng tỏ cùng trò chui ẩn nấp

Tết lại về cũng tất bật cùng Cha

Quét vôi trắng cho cửa nhà đẹp đẽ

Treo tranh mới bữa nào con vừa vẽ

Rộn rã cười mai đào hé nụ xinh.

CON GÁI QUÊ MIỀN TÂY

Thơ: Châu Lê

Quê em sông nước miền tây

Gái quê chơn chất đắm say nghĩa tình

Bà ba nón lá đẹp xinh

Nghiêng che trong nắng cho mình nhớ thương

Dẫ̀u cho dãi nắng dầm sương

Gái quê vẫn đẹp ngát hương cho đời

Hồn nhiên vẻ mặt rạng ngời

Siêng năng giỏi vắn tuyệt vời đáng yêu

Lòng anh lưu luyến liêu xiêu vì nàng

Ngóng trông mỗi lúc đò sang

Mơ mình sánh bước kiệu mang đón người.

Thơ: Thanh Nga

Tôi thương chiếc áo bà ba

Đẹp xinh duyên dáng mặn mà em ơi

Thương em thanh thoát nụ cười

Em mang phẩm chất của người nhà quê

Nhưng mà nhan sắc chẳng hề kém xa

Tiểu thư khuê các phồn hoa

Mặt hoa da phấn ngọc ngà đáng yêu

Dung nhan diễm lệ yêu kiều

Nhưng tôi không thấy những điều giống em

Đơn sơ bình dị nhưng em thật thà

Chỉ mong vui vẻ nếp nhà ấm êm

Cầu cho hạnh phúc êm đềm chân quê.

THƠ LỤC BÁT GÁI QUÊ

Tác giả: Tuyên Nguyễn

Sớm hôm chỉ biết mãi mê ruộng đồng

Thương con với lại chiều chồng

Việc nhà vất vả vẫn không nề hà !

Kính yêu cha mẹ , thật thà , chăm ngoan

“Công – dung – ngôn – hạnh” lo toan

Dày công vun đắp phượng loan , gia đình

Gái quê rất trọng chữ Tình

Chẳng màng dành giật riêng mình cái chi

Vì nhau chẳng tiếc xuân thì cho nhau !

Miếng ngon chỉ muốn hưởng sau

Nhưng mà chấp nhận buồn đau riêng mình

Sớm hôm thấp thoáng bóng hình

Gái quê duyên dáng đẹp xinh trên đồng

Thoáng nhìn trai đã đem lòng say mê

Em khoe nét đẹp duyên quê

Thương em thì chớ có chê em nghèo !

EM LÀ CON GÁI NHÀ QUÊ

Tác giả: Cỏ Hoang Tình Buồn

Thăm em gái nhỏ tuổi vừa tròn Trăng

Đời em thân phận thấp hèn

Hương đồng gió nội bao phen dải dầu.

Cho dù anh lạc nơi đâu?

Một lòng em đứng bên cầu chờ nhau

Nhìn hoa lóng lánh sắc màu

Như duyên mình đẹp trước sau một lòng.

Hay sầu nước mắt lưng tròng chẳng phai

Vẫn yêu…không tiếng thở dài

Nhớ thương không để chia hai đường về.

Thủy chung giữ trọn lời thề khó quên

Gió đưa hoa cải bồng bềnh

Bên nhau hạnh phúc không quên chữ tình.

ÁO CÁNH NÂU

Tác giả: Lãng Du Khách

Bữa nay chợ tỉnh mua về cánh phin

Mảnh mai đằm thắm ưa nhìn thật duyên

Chân quê vốn tính dịu hiền

Tay chân đồng áng triền miên tháng ngày

Cánh phin đẹp dáng rất say

Thoạt trông tinh khiết đắm say mắt chồng

Ôi thôi bùn đất trắng không còn gì

Tiếc ngơ tiếc ngẩn làm chi

Mang đi nâu nhuộm đen sì hợp quê

Vì cảnh em bỏ đam mê nâu sòng

Phin kia cũng xót xa lòng

Nâu sòng tô thắm lưng ong duyên thầm

Cùng em khuya sớm thăng trầm

Cho em đẹp nét duyên ngầm ai ơi.

GÁI NHÀ NÔNG

Tác giả: Tuyên Nguyễn

Quanh năm lăn lộn ruộng đồng sớm hôm

Em dành những hạt dẻo thơm cho đời

Giàu nghèo phó thác cho Trời

Ngày đêm vất vả chẳng rời tay chân

Lời khen , em thật chuyên cần

Nhưng mà kinh tế thì…lần khó ra !

Gái nhà nông rất thật thà

Nét duyên thiên phú mặn mà dễ thương

Nhiều anh lòng dạ vấn vương

Bởi vì môi thắm , má hường của em

Dù còn thiếu thốn chẳng thèm bon chen

Hàng ngày vẫn cứ lối quen

Trăng lên đi cấy , chong đèn ăn cơm

Nhà nông cày cuốc , rạ rơm,

Trâu bò , gà lợn,….sớm hôm miệt mài

Thì em vẫn muốn làm hài lòng anh !

DUYÊN QUÊ

Tác giả: Lãng Du Khách

Tags: thơ về những cô gái quê

“Tôi Lại Về Quê Mẹ Nuôi Xưa”… / 2023

“Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa”…

Thầy Đào Thanh Hương, giáo viên dạy sử Trường THCS Đa Lộc truyền đạt kiến thức lịch sử cho các em trong đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử tại nhà mẹ Tơm. Ảnh: Lê Hà

Sau 19 năm ra đi, năm 1961, nhà thơ Tố Hữu có dịp quay trở lại thăm nhà mẹ Tơm. Mọi kỷ niệm ùa về trong ký ức người chiến sĩ cách mạng để rồi ngay sau đó bài thơ “Mẹ Tơm” ra đời được nhà thơ tái hiện đầy sinh động và cũng rất đời thường, trở thành bà mẹ huyền thoại được nhiều người biết đến.

Chúng tôi về quê Mẹ Tơm, thôn Đông Thành, xã Đa Lộc (Hậu Lộc), nắng hạ miền ven biển năm nay thật gay gắt, bỏng rát. Cùng đi với chúng tôi về thăm nhà mẹ có thầy Đào Thanh Hương, giáo viên lịch sử, Trường THCS Đa Lộc và cán bộ văn phòng đảng ủy xã. Ngôi nhà gỗ thoáng mát với vườn cây xanh trĩu quả đã nhanh chóng làm dịu đi cái nóng nực ngày hè. Qua câu chuyện các anh kể về lịch sử quê mình, về câu chuyện mẹ Tơm, chúng tôi cảm nhận được tình yêu và niềm tự hào của các anh, của thế hệ con cháu vùng quê cách mạng hiện lên chân thực.

Đó là sau khi chiến khu du kích Ngọc Trạo (Thạch Thành) thất bại, năm 1942, Tỉnh ủy lâm thời Thanh Hóa chuyển về Nga Sơn củng cố tổ chức và in báo “Đuổi giặc nước”. Thấy có báo của Việt Minh, bọn mật thám và quan lại truy lùng ráo riết. Tình thế nguy cấp, Tỉnh ủy lâm thời phải chuyển sang Hậu Lộc tiếp tục hoạt động. Ngôi nhà ba gian lợp bằng mái rơm trên cồn cát hoang vắng của gia đình mẹ Tơm được chọn làm căn cứ. Lúc bấy giờ, hai người con trai đầu của mẹ làm nghề cắt tóc dạo đã được cách mạng giác ngộ và sẵn sàng đi theo cách mạng. Hai anh đã đưa các đồng chí Tố Hữu, Lê Tất Đắc cùng một số đồng chí khác về gia đình thuyết phục mẹ Tơm đồng ý cho các đồng chí trú ẩn và hoạt động. Thời đó không có điều kiện tiếp xúc với tầng lớp trí thức nên không hiểu nhiều về thời cuộc, chỉ có lòng căm thù giặc sâu sắc là thể hiện rõ trong tâm trí của mẹ nên khi nghe các đồng chí nói về đây tìm cách đánh Pháp, đuổi Nhật là mẹ đồng ý ngay. Từ đây, cả gia đình mẹ bắt đầu làm cách mạng. Nhà mẹ trở thành cơ quan Tỉnh ủy lâm thời, mỗi thành viên trong gia đình đều là chiến sĩ.

Ngày ngày chồng mẹ ở nhà đan rá, rổ canh chừng người lạ đến nhà. Còn mẹ mỗi ngày tần tảo trồng rau, mò cua bắt ốc bán để mua gạo. Trước khi nấu cơm, mẹ đều bớt lại một ít để dành đến khi cần dùng. Những lần đi chợ, phía dưới chiếc rổ của mẹ thường có cả xấp truyền đơn. Khi có điều kiện là mẹ rải truyền đơn. Hai người con trai của mẹ ngày ngày đi cắt tóc dạo, số tiền gom được đưa mẹ để dành một ít cất đi phòng có lúc cần giúp cách mạng. Ngôi nhà của mẹ lúc nào cũng có bọn quan lại dòm ngó, nghi vấn, nhưng không vì thế mà mẹ run sợ, nhà mẹ chia nhau canh gác cửa trước, cửa sau để đề phòng, bảo đảm bí mật, an toàn cho các chiến sĩ hoạt động.

Những người chiến sĩ cách mạng đều được mẹ nuôi giấu bằng tình yêu thương của một người mẹ. Ai cho gì mẹ cũng để dành phần các chiến sĩ cách mạng thay cho để phần cho các con của mình. Nhiều đêm mẹ phải thức trắng đêm chăm sóc chiến sĩ cách mạng bị ốm, bị sốt rét… tình cảm đó khắc sâu trong tâm khảm mỗi chiến sĩ cách mạng. Những năm sau đó, khi bị giặc phát hiện, nhà mẹ bị đốt cháy, hai con trai của mẹ bị giặc bắt, tra tấn, tù đày. Cán bộ phải dời địa điểm sang nơi khác. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, chồng của mẹ Tơm qua đời trong một cơn bạo bệnh ở tuổi 62. Không lâu sau đó, giữa trưa hè bỏng rát đầu năm 1953, mẹ Tơm cũng trở về cát bụi.

Sau 19 năm ra đi, năm 1961, nhà thơ Tố Hữu có dịp quay trở lại thăm nhà mẹ Tơm. Mọi kỷ niệm ùa về trong ký ức người chiến sĩ cách mạng để rồi ngay sau đó bài thơ “Mẹ Tơm” ra đời được nhà thơ tái hiện đầy sinh động và cũng rất đời thường, trở thành bà mẹ huyền thoại được nhiều người biết đến. Nhưng đặc biệt hơn là bài thơ được xuất bản trong tập Gió lộng. Toàn bộ nhuận bút của tập thơ đã được nhà thơ Tố Hữu gửi tặng để xây dựng Trạm Y tế xã Đa Lộc. Năm 1961, túp lều tranh của mẹ Tơm bị bão lụt đánh sập hoàn toàn. Con cháu của mẹ đã dựng lại ngôi nhà ngói. Năm 2009, nhà mẹ được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng. Đến năm 2011, căn nhà gỗ tinh tươm đã được hoàn thành, là nơi lưu giữ những kỷ niệm về mẹ Tơm và gia đình. Nơi đây, giờ là địa chỉ cách mạng để thế hệ trẻ nhiều nơi tìm về và trong mỗi tiết giảng dạy lịch sử địa phương, thầy Đào Thanh Hương lại say sưa truyền đạt cho các thế hệ học sinh hiểu thêm về truyền thống cách mạng để các em ý thức hơn vai trò, trách nhiệm của mình trong giữ gìn, phát huy truyền thống của quê hương.

Lấy truyền thống làm nền tảng để phát triển, nhiều thế hệ cán bộ, lãnh đạo và người dân Đa Lộc đã nỗ lực vượt khó, năng động, sáng tạo trong lao động, sản xuất để xây dựng quê hương. Đặc biệt, nhiều năm gần đây, xã Đa Lộc là một trong những địa phương sớm thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa đạt hiệu quả. Xã đã chuyển đổi 14,51 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi tôm công nghiệp; 4,36 ha sang trang trại chăn nuôi công nghiệp; 16,68 ha cá – lúa và trang trại tổng hợp; 3 ha trồng rau an toàn; cải tạo gần 15 ha vườn tạp trồng cây ăn quả… Nhờ vậy, nhiều hộ dân đã có thu nhập tốt và ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống. Toàn xã đã có 16 trang trại, các trang trại đều đạt tiêu chí theo Thông tư 27 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; 75 phương tiện khai thác biển với tổng công suất 1.566 CV, sản lượng khai thác năm 2019 đạt 407 tấn, tăng 27,63% về giá trị so với năm 2015; 323 hộ kinh doanh, buôn bán; 2 HTX, 11 doanh nghiệp, giải quyết việc làm cho nhiều lao động. Tuy nhiên, xuất khẩu lao động vẫn là nguồn thu lớn với khoảng 300 lao động gửi về đã góp phần thúc đẩy sản xuất địa phương phát triển, cơ sở hạ tầng được đầu tư khang trang, kiên cố thúc đẩy xây dựng nông thôn mới trên quê hương cách mạng. Qua rà soát, xã Đa Lộc còn 61 hộ nghèo, 184 hộ cận nghèo, thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 42 triệu đồng/năm, vượt chỉ tiêu đại hội 5,8%, cao gấp 2,6 lần so với năm 2015. Xã Đa Lộc phấn đấu hoàn thành xã nông thôn mới cuối năm 2020. Thành công đó là sự đoàn kết, thống nhất, phát huy truyền thống quê hương cách mạng của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân, khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương, chủ động, sáng tạo vượt qua khó khăn, thách thức.

Lê Hà