Top 17 # Nội Dung Bài Thơ Mùa Xuân Chín / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Nội Ơi, Gấc Đã Chín Rồi! / 2023

(GLO)- Những năm cuối đời ngắn ngủi, nội gần như đã dành hết quãng thời gian này để trồng một giàn gấc ngay trước mảnh sân. Vừa để có bóng cây cho hiên nhà râm mát, cũng là để có chỗ để đêm đêm nội ra sân mắc võng, nằm ngâm thơ bên ánh đèn dầu leo lét. Đó cũng là nơi mấy đứa cháu nhỏ xa quê bao năm trở về, túm tụm dưới giàn gấc um tùm lá mà chơi những trò dân dã ấu thơ. Còn nội thì ngồi bên chiếc võng đung đưa suy ngẫm, mỉm cười nhìn những đứa cháu ngày một khôn lớn. Chẳng phải cần mẫn tưới tiêu, gấc cũng ngùn ngụt vươn ngọn, trổ bông trắng cả giàn cây được nội kỳ công giăng mắc từ mấy thân tre, thân ổi thẳng đuột.  

Những trái gấc đầu tiên cũng hình thành sau mùa ong bướm gọi bầy về góp mật. Mới đầu chúng chỉ nhỏ như những hòn bi ve, sau rồi lớn hơn gấp năm, gấp mười lần. Trái bắt đầu nổi những đụn gai xù xì, rồi ngày càng dày chi chít hơn. Vườn gấc của nội sai trĩu quả ngay từ mùa đầu tiên. Những trái gấc to đều nhau, treo lủng lẳng ngay ở trên đầu. Khi chín, trái gấc chuyển sang màu hơi rám vàng rồi trở mình au đỏ, nổi bật trên nền lá xanh tươi tựa như những trái bóng bay tụi con nít chúng tôi vẫn thường hà hơi thổi cho thật căng rồi treo lên những cành đào, cành mai mỗi dịp xuân đến. Mùa gấc chín cũng là khi cơn gió đông phe phẩy bên thềm nhà, trên khóm cây cải vàng đang mùa trổ nụ. Gấc chín, nội thường không vội thu hoạch mà để trái nào chuyển màu thật đỏ rồi mới cho người hái xuống, sau đó nội sẽ cần mẫn vào bếp thổi vội nồi xôi gấc chín thơm lừng cho mấy đứa cháu về thăm quê. Xôi gấc được nội nấu thủ công bằng nồi đất, ăn kèm với ít hành khô nội chao qua với mỡ nên béo ngầy ngậy. Đủ để vung nồi xôi gấc vừa được he hé mở ra là đã nghe thấy mùi của gạo nếp đầu mùa quyện cùng mùi của trái gấc chín đỏ au thơm lừng khó cưỡng. Phố mùa này cũng nhiều lắm những chõ xôi nấu từ gạo nếp dẻo thơm với gấc, bán rong trên khắp các ngả đường. Người ở phố tự khi nào xem xôi như một món ăn sáng nhanh gọn, đơn giản, no lâu nhưng không phải ai cũng có những hoài niệm riêng với món ăn dân dã ấy. Tôi về thăm lại chốn quê xưa một ngày tháng Chạp miên man gió chướng. Ngôi nhà của nội giờ đã phủ một màu rêu phong bén lên những bức tường thuở xưa, bén vào luôn ký ức của những kẻ tha hương một nỗi nhớ thương diết da đến cháy lòng. Tôi ngồi ôn lại bao hoài niệm đã qua trong một đêm hiu hiu gió ngay dưới hiên nhà. Nơi phía trước là giàn gấc nội đã dành hết tình yêu thương mà chăm sóc, tưới tiêu. Nhìn đâu đâu cũng chỉ thấy dáng nội hiện hữu cùng nụ cười dịu hiền ấm áp. Tôi thì thầm nhắn với nội rằng: “Nội ơi, mùa này đang là mùa gấc chín, con đã trở về mà nội thì mãi khuất núi mù khơi”.

Song Ninh

“Mùa Xuân Chín” – Những Rung Cảm Về Xuân Chín Để Tiếc Xuân Thì / 2023

Ngay nhan đề “Mùa xuân chín” đã gợi những liên tưởng rất lạ, rất đẹp và rất mới về xuân sắc cũng như xuân tình trong thi phẩm. Thông thường nhắc đến mùa xuân ta thường nghĩ ngay mùa xuân xanh (Mùa xuân là cả một mùa xanh – Nguyễn Bính) hay mùa xuân thắm của muôn hoa, của lộc biếc, của chồi non, của sức sống căng tràn…

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già…

– Xuân Diệu –

Trên bước đường phiêu lãng của khách hồ hải, có những lúc dừng chân bên một vùng quê yên bình trong khung cảnh mùa xuân tươi mới, rực rỡ và thơ mộng, kẻ tha hương hốt nhiên chợt dâng trong lòng một nỗi niềm sực nhớ những hình ảnh xa, hình ảnh xưa của kỷ niệm dấu yêu. Dòng hoài cảm miên man của sực nhớ khiến tâm hồn người lữ khách rung lên, rồi cuộn trào những cảm xúc xốn xang trước vẻ mọng mòi, tươi mát, lộng lẫy của mùa xuân đang ở độ chín. Ngắm xuân sắc lòng ta rạo rực xuân tình. Cảm mùa xuân viên mãn trong vẻ đẹp chín mọng ta thấy hoài tiếc xuân qua và thoáng gợn chút âu lo về sự phôi pha của xuân thì, xuân sắc. Lòng ngập tràn cảm xúc vởi ngoại cảnh đã chuyển hóa thành tâm cảnh. Và lòng ta cũng như lòng khách hồ hải phiêu du kia gặp nỗi lòng của thi sĩ Hàn Mặc Tử trong thi phẩm “Mùa xuân chín”:

Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử   Trong làn nắng ửng khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.   Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời. Bao cô thôn nữ hát trên đồi; – Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…   Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây… Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng. – Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

           

Ngay nhan đề “Mùa xuân chín” đã gợi những liên tưởng rất lạ, rất đẹp và rất mới về xuân sắc cũng như xuân tình trong thi phẩm. Thông thường nhắc đến mùa xuân ta thường nghĩ ngay mùa xuân xanh (Mùa xuân là cả một mùa xanh – Nguyễn Bính) hay mùa xuân thắm của muôn hoa, của lộc biếc, của chồi non, của sức sống căng tràn. Và cái động thái “chín” của cây trái khi kết hợp với danh từ mùa xuân mở ra nhiều kênh liên tưởng mới và lạ. Nó chính là mùa xuân đang ở độ chín, chín nục, chín thơm, tức là mang sức sống căng mọng nhất, vẻ đẹp viên mãn nhất, sắc màu rực rỡ nhất, xuân tình phơi phới nhất, khao khát mãnh liệt nhất… Thiên nhiên, tạo vật, trời đất, vũ trụ, con người với bao xúc cảm ngập tràn đang say nồng trong giấc xuân, đang phơi lộ tất cả nét đẹp ngời sáng, huy hoàng, trong khiết, nồng thắm, rạng rỡ của mình. Cái sắc điệu chín dẫn dụ mỗi người đọc lần tìm vào thế giới nghệ thuật của xuân sắc, xuân tình, xuân trẻ, xuân non, xuân tươi mới mà thi sĩ họ Hàn tạo dựng.  

Cho nên, vừa nhẹ chạm bước chân vào thế giới nghệ thuật của “Mùa xuân chín” ta đã bắt gặp một sắc vàng mơ, vàng xanh lơ lung linh, choán ngợp thị giác:  

Trong làn nắng ửng khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.  

Khổ thơ được mở ra với những hình ảnh đẹp, tươi mới, trong trẻo. Nó tạo một ấn tượng thị giác mạnh mẽ về màu sắc. Làn nắng ửng – nắng mới – vàng ươm, trong ngần hòa quyện trong làn khói mơ tan – phiêu lãng, rơi rắc, bảng lảng. Trong thứ ánh sáng tinh khôi, lung linh ấy, đôi mái nhà tranh cũng sáng bừng lên như đượt dát vàng. Động từ “lấm tấm” tạo nên sắc thái động cho tạo vật. Nó vừa gợi lên sự phân bố rải rác của những hạt vàng lấm tấm trên mái nhà, lại vừa tạo ấn tượng thị giác về những hạt vàng như đang được rắc từ từ trên mái nhà tranh. Cái sắc vàng ấy ánh lên lung linh khiến cho mái nhà và khung cảnh tạo vật quen thuộc mang một diện mạo mới, một sắc điệu mới của xuân chín. Hình ảnh mái nhà tranh đưa ta về với không gian quen thuộc của quê hương xứ Việt muôn đời của:  

– Năm gian nhà cỏ thấp le te

(Nguyễn Khuyến)

– Mơ mơ mấy xóm tranh chìm trong mây

(Tố Hữu)

– Mái gianh ơi hỡi mái gianh Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương

(Trần Đăng Khoa)

Song cái mái gianh lấm tấm vàng của Hàn Mặc tử không hẳn mộc mạc như năm gian nhà cỏ thấp le te của Nguyễn Khuyến, cũng không chìm lấp trong cõi đời tăm tối thời cũ của Tố Hữu, và không nhọc nhằn, cơ cực, lam lũ như mái gianh quê hương của Trần Đăng Khoa. Đó là cái mái gianh vàng ửng, mơ phai, bồng bềnh, lãng mạn, mộng mơ. Tự nó như đang khởi phát những xuân tình rạo rực, những cảm xúc đắm say của một cái tôi lãng mạn, yêu đời, say tình xuân, cảm mến sắc xuân. Cho nên, mái tranh ấy đẹp hơn, thơ hơn, tình hơn và lấm tấm hạt vàng của tình say đắm, của cảnh lung linh.  

Xuân tươi, xuân thắm của “Mùa xuân chín” không chỉ mang màu vàng đặc trưng của nắng ửng, của khói mơ, của mái nhà tranh lấm tấm vàng mà xuân còn chín trong sắc xanh muôn đời của mình. Đó là màu xanh xủa giàn thiên lý xuân. Giàn thiên lý ấy soi mình duyên dáng trong nắng, trong khói như một tà áo biếc của xuân thì. Cả hình bóng mùa xuân như soi mình, kết tụ nơi giàn thiên lý thềm nhà đơn sơ. Cái sắc xanh được nhuộm đầy nắng vàng mang một màu lơ, sáng, ngời lên sức sống thanh tân, vẻ non tơ, óng ả, đầy quyến rũ và khêu gợi của nàng xuân. Những nét mỹ miều mang độ chín ấy đã hớp hồn bao kẻ đa tình. Bởi xuân sắc là sự biểu hiện, thăng hoa của xuân tình dồn ứa, căng tràn.  

Sự quyến rũ nồng nàn của xuân tình khiến làn gió không thể kìm lòng, cất tiếng khẽ khàng trêu tà áo biếc nơi giàn thiên lý tạo nên cái âm ba sột soạt. Câu thơ “Sột soạt gió trêu tà áo biếc” thật gợi hình, gợi cảm. Chỉ một từ “sột soạt” mà tác giả đã tả được cái chuyển động của gió, cái âm vang từ tà áo, cái rạo rực của lòng người. Cách miêu tả ấy khiến cơn gió xuân hiện lên thật phong tình, và cũng là đang say tình. Xuân thì mang xuân tình ứa đầy phát lộ từ bên trong ra. Tình xuân lai láng  khắp không gian, hiển hiện trên mỗi cảnh, mỗi sắc, mỗi vật. Những hình ảnh thơ vừa tinh tế, mơ màng, lại vừa táo bạo, tình tứ. Thời điểm xuân chín cũng là tình chín, là lúc sức sống căng, ái tình mọng. Bởi chính thi sĩ Hàn Mặc Tử cũng đã có lần từng viết:

“Vui thay cảnh sáng trăng Ái tình bắt đầu căng Hoa thơm thì nín lặng Hương thơm thì bay lan Em tôi thì hổn hển Áo xiêm lấm tấm vàng Em tôi đã hiểu chưa? Đó là khúc tình ca Nẩy theo hơi thở nhẹ Ở trên làn dây tơ Của lòng em rộn rã…”

(Sáng trăng)

Xuân thắm tươi, tình lai láng, cảnh chín và tình chín hòa vào nhau tỏa ra bất tận theo chiều rộng không gian. Không gian “Mùa xuân chín” được mở ra mênh mông. Tình xuân thắm thiết, rạo rực theo đó cũng mở ra vô cùng theo mọi chiều kích:  

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời. Bao cô thôn nữ hát trên đồi; – Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…  

Theo ánh mắt dõi nhìn, theo tấm lòng cảm của khách đường xa, không gian xuân thành một không gian xanh của sóng cỏ. Câu thơ “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời” cho người đọc những cảm nhận bất tận về sắc xanh ngút ngát của cỏ cũng là sức sống, vẻ đẹp phồn thịnh của xuân chín, xuân thì. Màu xanh ấy như cân bằng lại, cộng hưởng với sắc vàng ở khổ thơ trên tạo nên sắc điệu non tơ, trinh khiết, mới mẻ riêng của mùa xuân trong thơ Hàn Mặc Tử. Đọc câu thơ này, ta bắt gặp một sự đồng điệu nhất định của Hàn với cụ Nguyễn Du thuở xưa khi rung cảm với cảnh xuân, sắc xuân:  

“Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

                                                                     (Truyện Kiều)  

Tuy nhiên, những câu Kiều của Tố Như chủ yếu nhằm làm nổi bật sắc xanh của cỏ non trải rộng đến tận chân trời. Còn câu thơ của Hàn Mặc Tử lại chủ yếu nhấn vào cái sóng cỏ đang gợn – tức là nhấn vào động thái bên trong của sự vật chứ không chỉ thuần tả sắc màu sự vật. Cái động thái “gợn” của sóng cỏ chính là sự rung động bên trong của cỏ trước vẻ đẹp mướt mà, toàn thiện của xuân – tức xuân tình. Những rung động đó khởi phát tự thân, từ bên trong thôi thúc mà ra rồi vươn lên cao tới trời. Sóng cỏ đó cũng là sóng lòng, là sóng tình của con người trước xuân sắc, xuân thì, xuân tươi, xuân non tơ. Cảnh xuân tràn trề, sức xuân ứa tràn làm lòng người lai láng tình yêu đời, chứa chan bao nỗi niềm, bao cảm xúc rưng rưng. Tình và cảnh đã chuyển hóa, hòa quyện, cùng tôn nhau lên, cùng đẩy tính chất lên đến cạn cùng. Cái nhìn của nhà thơ đã xuyên thấm vào tận đáy sâu của chân tâm sự vật để cảm nghe tất cả từ bên trong. Và từ đó soi ngắm thêm bên ngoài. Xuân ngoại cành và xuân tâm cành hòa làm một trong những rung động tha thiết tận đáy lòng.  

Và xuân tình đã chuyển hóa, hay nói đúng hơn đã được cụ thể hóa, hữu hình hóa thành âm thanh, thành hình ảnh, thành xuân thì của người gái xuân. Hình ảnh “Bao cô thôn nữ hát trên đồi”  như một nét vẽ để hoàn thiện bức tranh “Mùa xuân chín”. Đồng thời, tiếng hát thôn nữ ấy cũng là sự biểu lộ rõ ràng nhất, tha thiết nhất của tình xuân trong sắc xuân. Âm vang của lời hát vọng mãi trong không gian tạo vật bởi sức ngân vang, bởi sự trong trẻo, bởi sức sống và bao khao khát trong tiếng hát ấy. Tiếng hát của bao cô gái xuân mang cái rạo rực muôn đời của vẻ đẹp, của sức sống, của khao khát tình yêu, của lòng ham sống mãnh liệt. Bởi mùa xuân luôn là mùa đẹp nhất của năm và tuổi trẻ là phần ngon nhất của cuộc đời. Do đó, hình ảnh cô gái xuân đi vào thơ ca như một hình ảnh biểu trưng cho vẻ đẹp, sức sống và tình yêu mùa xuân. Hãy đọc những vần thơ của Nguyễn Bính để ta có thêm những cảm nhận rõ hơn về hình ảnh gái xuân – cũng là xuân thì, xuân tình:  

Em như cô gái hãy còn xuân, Trong trắng thân chưa lấm bụi trần, Xuân đến, hoa mơ, hoa mận nở. Gái xuân giũ lụa trên sông Vân.

                                                (Nguyễn Bính – Gái xuân)  

Thế nhưng chính lúc con người say đắm với xuân thắm, xuân tươi cũng là lúc cảm nhận được từng bước xuân qua; khi con người đang ở xuân thì, đang sống trong men say tình ái thì cũng là thời điểm họ nhận ra tuổi đời hư hao, xuân thì mong manh, xuân tình chóng tàn. Giống như bao cái Tôi thơ mới khác, Hàn Mặc Tử cũng tiếc xuân thì ngay chính khi xuân chín, thương xuân rụng khi xuân đang tươi. Đọc kỹ câu thơ “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy/ Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…” ta thấy một giọng nghẹn ngào, buồn vương, tiếc nuối thanh sắc, xuân sắc của thời tươi. Bởi “đỉnh điểm cũng là giao điểm. Xuân chín cũng là xuân mãn” (Chu Văn Sơn). Sắc xuân phai tàn theo thời gian trổi chảy. Tình xuân phôi pha theo sự héo úa tuổi đời. Cái ngày xuân chín cũng là dấu hiệu bắt đầu của xuân thì rơi rụng. Cái hay và sự tinh tế của Hàn là mượn cái quy luật của đời người để nói quy luật của tình cảm, của tạo vật: Khi người thiếu nữ theo chồng cũng chính là lúc kết thúc xuân thì, chấm  hết đời con gái. Cô bỏ cuộc chơi và bỏ xuân tình đời mình lại. Tuổi xuân của cô cũng hết. Cái ngày cô ca bài ca tình ái bất tận về xuân chín cũng là lúc cô chuẩn bị ca  khúc xuân tàn cho đời con gái của mình. Và từ đây, mạc thơ, cảm xúc thơ chuyển sang tiếc xuân thì, lo xuân rụng. Cảm xúc của thi sĩ họ Hàn cũng gần với quan niệm dân gian:  

Chơi xuân kẻo hết xuân đi Cái già sồng sộc nó thì theo sau

(Ca dao)

Hay quan  niệm của Nguyễn Bính:

Tuổi xuân má đỏ môi hồng Bước chân về đến nhà chồng là thôi  

Đồng thời cảm xúc này cũng rất đồng điệu với những cảm thức thời gian thường trực ám ảnh trong thơ Xuân Diệu, khi nhà thơ “mới nhất trong những nhà Thơ mới” này giục giã người ta:  

Mau lên chứ vội vàng lên với chứ! Em! Em ơi! Tình non đã già rồi Con chim hồng trái tim nhỏ của tôi Mau với chứ thời gian  không đứng đợi Tình thổi gió màu yêu lên phấp phới Nhưng đôi ngày tình mới đã thành xưa Nắng mọc chưa tin hoa rụng  không ngờ Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt Những vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài…

Và:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất…  

Bản thân Hàn Mặc Tử cũng có nhiều mặc cảm với việc đi lấy chồng của người con gái. Với ông, khi tiễn người con gái đi lấy chồng là kết thúc tất cả, là một mất mát không gì sánh được, là dấu chấm hết cho xuân sắc, xuân thì, xuân tình, xuân tươi. Em đi lấy chồng để lại một sự hụt hẫng, một nỗi trống vắng lớn lao. Tất cả sẽ thành vô nghĩa. Đọng lại chỉ còn là mất mát, bi sầu – nàng mất ước mơ, tôi mất hồn thơ:  

Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ

Em lấy chồng rồi hết ước mơ Tôi sẽ đi tìm mỏm đá trắng Ngồi lên để thả cái hồn thơ

                                                                                                            (Em lấy chồng)  

Như thế là ở giữa mùa xuân chín mọng, giữa lúc vẻ đẹp viên mãn, lúc tiếng ca ngất ngây, rạo rực, nhà thơ đã thấy trước cái tương lai buồn, tàn, úa. Đây là một dự báo se sót, mang chút thảng thốt sầu não về mai hậu của xuân chín. Đó là cái nhìn của con người hiện thời về cái kết cục không thể khác ở tương lai. Nhưng cái tôi Hàn Mặc Tử không thiết tha, rạo rực, băn khoăn hay bồng bột như cái Tôi Xuân Diệu tự giục giã mình, giục giã người sống vội vàng để tận hưởng và tận hiến. Cái Tôi Hàn Mặc Tử lắng lại, thu vào trong thành những u uẩn, nuối tiếc pha chút xót xa. Cho nên “Gặp xuân chín mà tiếc xuân thì, ngha xuân ca mà buồn xuân mãn” (Chu Văn Sơn).

Mặc dầu vậy, cái buồn của Hàn không phải cái buồn của người trong vị trí của kẻ khách xa phải từ bỏ cuộc chơi giữa xuân chín. Nỗi buồn của niềm tiếc xuân thì kia sâu sắc hơn, mang tính phổ quát hơn. Nó là nỗi buồn của cái tôi nhưng cũng là nỗi sầu nhân thế. Nó mang tâm thế buồn của kẻ du ca đi qua cuộc đời này để cảm nhận được xuân sắc, xuân tình trong “Mùa xuân chín”, để hát vang ca ngợi cuộc sống đẹp viên mãn, cũng lầ để tấu lên những linh cảm về cái đẹp hư hao, hạnh phúc phù du, tuổi trẻ nhanh tàn giữa cõi đời vô thường, vô tận. Có phải vì thế chăng mà tiếng ca cành cất cao, càng ngân vang thì càng não nề, càng se sót và nhiều u uẩn đến u uất:  

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây… Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây…

 

Khổ thơ giống như một sự cụ thể hóa cho những hoài tiếc về một xuân chín, xuân thì. Tất cả vẻ đẹp, sức sống và độ chín của mùa xuân được thể hiện qua tiếng hát. Tiếng hát trong trẻo của những cô gái xuân xanh vắt vẻo lưng chừng núi. Cách dùng động từ “vắt vẻo” rất độc đáo khiến câu thơ giàu chất tạo hình. Tiếng hát xuân thì hiện ra như có hình, có sắc, đang vắt vẻo lưng chừng núi, lan vào không gian làm say đắm, ngất ngây lòng người. Dường như lời ca ấy tự nó mang trong mình một sức quyến rũ không sao cưỡng lại được của xuân thì. Đây là cách miêu tả và cảm nhận rất quen thuộc trong thơ Hàn Mặc Tử – mỗi sự vật đều ánh lên màu sắc dục trong vầng hào quang của xuân sắc, xuân thì. Trong bài thơ “Bẽn lẽn”, thi nhân cũng đã viết:  

“Trăng nằm sõng soải trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi”

Cảm nhận như vậy cũng đúng thôi bởi xuân tình dào dạt, rực cháy bên trong sẽ thôi thúc con người tìm đến với nhau trong mối giao hòa, giao cảm, trong cảm giác ái ân, tình tự. Vì thế, nhà thơ đã sử dụng hình ảnh so sánh rất gợi tiếng ca “hổn hển như lời của nước mây”. Âm thanh “hổn hển” mang trong mình cái say đắm, thỏa thuê, mãn nguyện của mối tình đã vào độ chín. Nó là tình yêu và sự giao hòa hoàn toàn của thân thể và tâm thể. Và giống như thi sĩ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử cũng nhìn cả vũ trụ, thiên nhiên như đang ở trong một cuộc giao hòa lớn, trong cảm giác ân ái mặn nồng. Bởi tiếng ca kia là của cô thôn nữ, cũng là lởi của nước mây, lời của mùa xuân chín hôm nay và cũng là lời của muôn đời. Vẻ đẹp và sức sống của mùa xuân mãi mãi là bản tình ca bất diệt thêu dệt cho con người những ước mơ, những khát vọng để con người tận hưởng, tận hiến ngay trong cuộc đời trần thế – cuộc đời đẹp như vườn địa đàng, cuộc đời hiện ra như chốn thiên đường ở ngay trên mặt đất như cách cảm của Xuân Diệu:  

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần vui thầm gõ cửa Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”

Để rồi tiếng ca ấy thành lời tình tự, lời tỏ tình với cuộc đời:  

Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc Nghe ra ý vị và thơ ngây  

Cái tình ở đây là tình xuân lai láng, là tình chín nhưng lời tỏ tình cũng chỉ là thầm thĩ – nhẹ nhàng, với người tình nhân ngồi dưới trúc – kín đáo. Nó vẫn là cái tình ngây thơ, e ấp, trinh khiết quen thuộc trong thơ Hàn Mặc Tử. Trong cái thân mật, trong cái viễn mãn vẫn còn cái tình tứ, tinh tế, hồn nhiên. Chút ngây thơ ấy là nét duyên quê đặc trưng của những mỗi tình quê, của những cô thôn nữ “má đỏ môi hồng”. Dù chỉ là khách đường xa gặp mùa xuân chín nhưng thi nhân đã bắt được cái mạch nguồn, cái hồn riêng của xuân quê, xuân thôn dã. Lời tỏ tình của ai đó hay chính là lời tỏ tình của nhà thơ với cuộc đời, với con người xinh tươi, đẹp rạng ngời xuân chín. Bởi tất cả ngày mai chỉ còn lại là kỷ niệm. Bởi xuân chín cũng là xuân tàn, xuân lạc khiến lòng người se sót, hoài tiếc, hoài thương.  

Những sợi dây cảm xúc đã căng đầy, con người đã “sống toàn thân và thức nhọn giác quan” với mùa xuân chín để vươn tới đỉnh điểm cuộc chơi, để được thỏa thuê trong cảm xúc của ái ân. Nhưng chính lúc người ta sống trên đỉnh của hiện tại ấy, tâm hồn lại xao động để sực nhớ về một hình bóng xa. Và khác đường xa gặp mùa xuân chín cũng trả qua những phút giây rạo rực để rồi sực nhớ như thế:  

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng. – Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Đứng tại mùa xuân nay để lo lắng cho ngày mai và cũng là lúc kẻ tha hương hoài nhớ ngày xưa. Cái rạo rực, ngấy ngây trong lời ca hổn hển của hiện tại thoắt chuyển sang cái bâng khuâng, xao xuyến khi nhớ làng, nhớ về mái nhà xưa, nhớ về một cố nhân xa. Điểm sáng chói lòa bừng lên trong nỗi niềm bâng khuâng sực nhớ ấy là hình ảnh của:

 

– Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?  

Có lẽ đây là những câu thơ xuất thần và hay nhất trong bài thơ. Bao năm nay tôi vẫn ấn tượng mạnh mẽ với cái sắc trắng nắng chang chang ấy! Bao năm nay hình ảnh người chị gánh thóc trên bờ sông trắng nắng chang chang vẫn hằn in lên tâm hồn tôi một hình ảnh thật đẹp và mộng mơ. Tất cả cảnh và người đều mơ, đều mộng trong màu hoài niệm huyền diệu. Sắc trắng tinh khôi của nắng mới bao trọn không gian, tỏa khắp bờ sông, phủ lên hình ảnh người chị gánh thóc một màu sắc lãng mạn của cái đẹp huyền ảo, lung linh trong cõi nhớ. Đó là sự tỏa sáng của cái đẹp hài hòa, đan quyện phả ra từ xuân sắc, xuân tình, từ tạo vật và con người khi ở độ xuân chín.  

Tuy nhiên, tất cả xuân sắc, xuân thì đẹp huy hoàng ấy chỉ là một ánh chớp kỷ niệm thoáng qua mà thôi. Đó là cái ký ức về xuân thì của “chị ấy” của ngày xa xưa. Cho nên, ở hiện tại, người khách xa sực nhớ cũng là để ngậm ngùi, tiếc thương – tiếc thương cho cái đẹp không biết bây giờ có còn không – chị ấy năm nay có còn gánh thóc dọc bờ sông trắng nắng chang chang không? – chị ấy giờ này có còn như xưa nữa không? Nỗi lòng ấy là chút bất an, một nỗi niềm thảng thốt, lo âu cho hiện tại từ những dĩ vãng dội về. Vì cái phút chín, cái xuân thì của xuân, của đời đâu có là vĩnh viễn. Tất cả hằng thường, hữu hạn, mong manh trong đời sống vô thường, bất biến. Nó là cái bâng khuâng, nhớ tiếc, pha chút xót xa của con người khi ý thức về sự trôi chảy của thời gian, về sự hữu hạn của cuộc đời, về những vô thường của đời sống thế nhân. Sau này, người nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã cảm nhận rõ nỗi mất mát của xuân sắc, xuân thì cũng là xuân lòng trong dòng chảy thời gian vô tận:

 

“Mười năm xưa đứng bên bờ dậu Đường xanh hoa muối bay rì rào Có người lòng như khăn mới thêu Mười năm sau áo bay đường chiều Bàn chân trên phố xa lạ nhiều Có người lòng như nắng qua đèo”

(Có một dòng sông đã qua đời)

Thế đấy, bước vào thế giới nghệ thuật của “Mùa xuân chín” là ta bước vào thế giới của mọi vẻ đẹp đang ở độ chín. Cảnh đi từ chớm chín đến chín nục, chín muồi, chín mẩy, chín mòng mọng… Và cái chín mọng mòi của cảnh ấy là hình sắc thể hiện bên ngoài của tình chín, của xuân thì thắm tươi. Đó là cái khao khát tình tự, ái ân muôn đời của bài ca xanh bất tận, trong leo lẻo của xuân lòng. Nhà thi sĩ  như khách hồ hải đi ngang qua một bến xuân quê để rung động, để cảm nhớ, để hoài thương trong một nỗi lòng đầy u uẩn. Cảm xuân chín, thưởng xuân sắc, thấu xuân tình để tiếc xuân thì, thương xuân tàn, tuổi mãn. Đó là cái mạch cảm xúc sâu xa, xuyên suốt dọc bài thơ trong một tứ thơ tưởng như đầu ngô mình sở. Cái chín của xuân sắc, xuân thì trong bài thơ cũng là sự biểu hiện rạng rỡ nhất của tài năng thơ đang độ chín, của cảm xúc chín trong lòng thi nhân với cuộc đời, với con người.          

Sự quyến rũ nồng nàn của xuân tình khiến làn gió không thể kìm lòng, cất tiếng khẽ khàng trêu tà áo biếc nơi giàn thiên lý tạo nên cái âm ba sột soạt. Câu thơ “Sột soạt gió trêu tà áo biếc” thật gợi hình, gợi cảm. Chỉ một từ “sột soạt” mà tác giả đã tả được cái chuyển động của gió, cái âm vang từ tà áo, cái rạo rực của lòng người. Cách miêu tả ấy khiến cơn gió xuân hiện lên thật phong tình, và cũng là đang say tình. Xuân thì mang xuân tình ứa đầy phát lộ từ bên trong ra. Tình xuân lai láng khắp không gian, hiển hiện trên mỗi cảnh, mỗi sắc, mỗi vật. Những hình ảnh thơ vừa tinh tế, mơ màng, lại vừa táo bạo, tình tứ. Thời điểm xuân chín cũng là tình chín, là lúc sức sống căng, ái tình mọng. Bởi chính thi sĩ Hàn Mặc Tử cũng đã có lần từng viết:Hay quan niệm của Nguyễn Bính:

Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Chín Của Hàn Mặc Tử / 2023

Phân tích bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử – Bài làm 1

Hàn Mạc Tử là nhà thơ đã có nhiều sáng tác hay viết vào mùa thu, một trong những tác phẩm nổi bật của ông đó là bài thơ Mùa Xuân Chín, tác phẩm này để lại cho tác giả nhiều cảm xúc.

Mùa xuân chín là một tác phẩm viết về mùa thu với những độ chín của mùa màng, hình ảnh đó thể hiện một tình cảm đặc biệt mà người đọc đã hướng tới, đầu tiên tác giả đã sử dụng những hình ảnh để báo hiệu rằng mùa thu đã tới, hình ảnh những cơn sướng mùa, những tiếng gió sột soạt trên mái nhà, và những giàn thiên lý đang báo hiệu mùa thu đã sang, những hình ảnh đó đã mang lại cho người đọc một cái nhìn sâu sắc và có nhiều ấn tượng nhất cho người đọc:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm thấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc,

Trên giàn thiên lý- đón xuân sang

Những làn nắng đang dần nhẹ đi bởi thu đang tới hình ảnh của nắng không còn nắng gắt như mới mùa hè, trên những mái nhà đã đang lấm thấm vàng, ở đây hình ảnh vàng có thể được xem như là hình ảnh của những chiếc lá vàng rơi, và những làn gió sột soạt trên mái nhà, đó là những hình ảnh đầy tính sáng tạo nó gợi mở cho người đọc một cái nhìn sâu sắc, rằng mùa thu đang tới:

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời

Ba cô thôn nữ hát trên đồi

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

Những hình ảnh bầu trời xanh đang dần gợi lại những hình ảnh tươi đẹp, nó đang dần lan tỏa và bom trùm lên toàn bộ không gian ở nơi đây, nó thể hiện một tình cảm đặc biệt nhất, với những hình ảnh của cánh đồng đang hát vang và vang và đám xuân xanh, ở đây ẩn dụ để nói những người con gái đang đến tuổi xuân thì, sắp bỏ những người yêu thương để đi lấy chồng, hình ảnh của bầu trời xanh, với các cô gái đang hát trong cánh đồi, và hình tượng đó biểu hiện cho ngay nhan đề, mùa xuân chín, hình ảnh đó đã thể hiện những độ nở rộ, nó đang tràn trề bao nhiêu nhựa sống, tất cả mọi vật đang dần sinh sôi và nảy nở:

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi

Hổn hển như lời của nước mây

Thầm thì với ai ngồi dưới gốc trúc

Nghe ra ý vị và thơ ngây.

Trên lưng chừng núi, những tiếng ca của những cô thôn nữ, đang ca hát, tiếng ca trong trẻo, và nó đang vắt vẻo trong khoảng không gian của núi rừng, hình ảnh của những tiếng ca, như đang hòa nhập vào cùng với không gian của thiên nhiên, đó là hình ảnh của núi mây, với rất nhiều những hình ảnh đẹp và mang nhiều màu sắc đặc biệt nhất cho con người, giá trị đó để lại cho mỗi chúng ta cái nhìn mới mẻ và sâu sắc nhất. Hình ảnh của những người đang trên lưng chừng núi, với những làn điệu của những âm vang, thì thầm bên khóm trúc, nó gợi ra một cảm giác thi vị và hòa nhập với thiên nhiên, tình cảm đó đang thể hiện một cái nhìn mới mẻ, và đầy ý nghĩa cho người đọc, tình cảm đó da diết và thể hiện một nỗi nhớ căng tràn, nó mang lại cho người đọc một cảm xúc lưu luyến và đầy ý vị nhất.

Hình ảnh của những cô thôn nữ, hòa cùng với làn điệu trong những âm vang của cuộc sống, điều đó để lại cho người đọc một cái nhìn mới mẻ, về mùa thu, với sự tươi tắn và căng tràn trong khung cảnh thiên nhiên, tình cảm đó đặc biệt sâu sắc, với những ý thơ đầy tế nhẹ và uyển chuyển biết bao:

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín

Cảnh trí bâng khuâng sực nhớ làng

Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông nắng trắng chang chang.

Và hình ảnh của người khách đang lưu luyến trước cảnh sắc của mùa xuân, họ đang lưu luyến trước những cảnh sắc tươi đẹp hình ảnh đó làm cho tâm hồn của họ bâng khuâng một nỗi nhớ da diết, tình cảm đặc biệt và vô cùng sâu sắc đang dần thể hiện trong tác phẩm, những hình ảnh đó đã mang lại cho người khách một cảm giác quen thuộc, hình ảnh của chị ấy năm nay gánh thóc, và bên bờ sông nắng vẫn đang chang chang soi rọi vào tâm trí của con người, hình ảnh đó đã để lại cho con người biết bao nhiêu cảm xúc lưu luyến trước hình ảnh của cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng và đẹp tuyệt mỹ.

Bài thơ đã để lại cho người đọc nhiều cảm xúc sâu sắc nhất, đó là hình ảnh của một mùa xuân đang độ nở rộ thể hiện một tình cảm sâu sắc, mà tác giả đang muốn hướng tới, hình ảnh đó đang dần khắc sâu vào tâm trí của người đọc, giá trị đó đã thể hiện được một cái nhìn mới mẻ, và đầy giá trị nhất. Hình ảnh mùa xuân hòa nhập vào dòng tâm trạng của người đọc và những người khách đang tới, nó tạo nên một cảm xúc mãnh liệt và đang đẩy họ đến những cảm giác lưu luyến trước cảnh sắc của thiên nhiên đất trời.

Phân tích bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử – Bài làm 2

Hàn Mặc Tử, với cuộc đời ngắn ngủi, tâm hổn đa cảm, mong manh đã để lại cho đời những bài thơ rất đặc sắc. “Mùa xuân chín” là một trong số đó. Trong không gian của buổi giao mùạ, một góc tâm tình của tác giả: Nhớ làng, nhớ quê… và một cái gì đó rất mơ hồ, gợi trong lòng ta biết bao suy nghĩ. “Mùa xuân chín” một khoảng trời riêng của cảm xúc đang “chín” trong lòng nhà thơ, trong lòng người đọc.

Đọc tựa bài, ta hầu như đã cảm nhận được cái “ngon lành”, cái đỉnh cao tận cùng của “Mùa xuân chín”. Nếu có “xuân chín” thì hẳn cũng có “xuân xanh” ; “xuân già”. Nằm giữa ranh giới của cái “non trẻ”, cái “già nua”, “Mùa xuân chín” trở nên giá trị nhưng cũng ngắn ngủi, mong manh vô cùng. Để lòng say đắm trong giây phút hoàn hảo nhất của vũ trụ ấy thì còn gì bằng!

“Trong Tan nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lẫm tấm vàng.

“Nắng ửng”. Từ “ửng” mang một ý nghĩa đặc biệt. Ta có thể liên tưởng đến ngay cái “chín ửng” của quả đào, quả hồng, cái “ưng ửng” hây hây của đôi má các cô gái trong tiết lạnh đầu xuân. Cũng như vậy, xuân đang “chín” lên trong cái “ửng” của nắng. Dấu hai chấm sau đó nhắc nhở ta cái gì sẽ hiện nhiên xẩy ra như quả chín thì chuyển từ xanh sang hồng. Những làn khói sương tan trong nắng, lượn lờ, bồng bềnh nâng tâm hồn thi sĩ lên khỏi mặt đất, khỏi thực tại, bước vào cõi “mơ”. “Đôi mùi nhả tranh lẫm tấm vàng”. Những “lấm tấm vàng” đó là hạt nắng hay chính là những ảo ảnh trong đôi mắt của người đang say Không phải cái say “quên trời, quên đất”, cái say của nhà thơ là những phút giây đắm chìm, mê mải, chăm chú, cả âm thanh, cả hình ảnh, màu sắc cũng hòa làm một: khói tan, mái nhà lấm tấm vàng, gió sột soạt tà áo, giàn thiên lí. Đó là “bóng xuân”. Chỉ là “bóng”, rất mơ hồ, huyền ảo, mùa xuân cô gái đẹp, đẹp như trong mơ, đẹp như quả chín, đẹp hoàn hảo lướt qua trong tâm hồn nhà thơ.

“Bao cô thôn nữ hát trên đồi”. Tiếng hát của những cô gái đánh thức Hàn Mặc Tử, đưa nhà thơ trở lại với thực tại. Toàn khổ thơ là tâm trạng tiếc nuối, ngậm ngùi :

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy Có kẻ theo chồng bò cuộc chơi…

Nhà thơ nghĩ đến ngày mai đây, cảnh vật, con người sẽ đỗi khác, những cô gái sẽ không còn những giây phút hồn nhiên, vô tư ca hát với mùa xuân, cũng như xuân rồi cũng sẻ qua, “xuân chín” rồi thì xuân sẽ tàn. Tâm hồn đa cảm ấy, không thể không rung lên xúc động. “Đám xuân xanh ấy” Mùa xuân tươi đẹp của đời người, cũng là mùa xuân tươi đẹp của thiên nhiên mà thi sĩ vẽ ra trước mắt người đọc làm ta không khỏi suy tư. Thế thì ta hãy tận hưởng cho hết những giờ khắc tuyệt vời ấy.

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi ,

Hổn hển như lời của nước máy… Thầm thi với ai ngồi dưới trúc

Nghe ra ý vị và thơ ngây…

Trí tưởng tượng của tác giả đã lên đến tột độ, tiếng hát thánh thót như đang “vắt vẻo lưng chừng núi”, đang “hổn hển như lời của nước máy”. Những âm thanh không bay cao, bay xa mà vẫn “thầm thì với ai ngồi dưới trúc”. Từ “ai” rối rắm nghịch lý ấy cho ta thấy những cảm xúc vô cùng tinh tế trong tâm hồn thi sĩ. Tiếng hát bay khắp không gian, thi sĩ “thu”lại chỉ riêng cho “ai”. Chính là mình rồi tự thốt lên:

Nghe ra ý vị và thơ ngây

Có mấy ai cảm nhận hết cả đất trời như vậy! Nghĩ đến đất trời, về những cuộc đổi thay, về mùa xuân, tác giả lại nghĩ về mình Khác xa gặp lúc mùa xuân chín

Thì ra mình chỉ là một người tha phương, lẻ loi, cô độc gặp “Mùa xuân chín” mới có được giây phút ấm lòng. Hàn Mặc Tử nhớ về làng xưa trí bâng khuâng sực nhớ làng”.

Cái “sực nhớ” bất ngờ, dồn dập, tên tác giả, cái têu mà cha mẹ anh em vẫn gọi đối với Hàn Mặc Tử thân thương biết mấy, gần gũi biết mấy. Ngẫu nhiên, đó cũng là một từ rất phú hợp với nỗi nhớ của tác giả. Nhớ về quê xưa, hình ảnh đầu tiên đến với cái “sực nhớ” của tác giả là hình ảnh của người con gái. “Chị ấy” là chị ruột, chị họ hàng hay chí là một người quen hay là… ? Ta không thể biết được. Nhưng ta hiểu được rằng tác giả đã dành sẵn một tình cảm rất trân trọng, rất tha thiết cho người con gái ấy. Tại sao hình ảnh đầu tiên mà tác giả nhớ không phải là cha mẹ, anh em, mái nhà xưa ‘! Bởi vì đây là cái “sực nhớ”, điều mà ý thức không kiêm soát được mà là của con tim đang dồn dập, nóng bỏng vì nỗi nhớ điều khiển. Những từ, tiếng vần liền “trắng, nắng”, “chang chang” tạo cho người đọc cảm giác rõ rệt về một bờ sông cát trắng, nắng chói rất thật rất rõ ràng tạo thành hình ảnh con người thật đẹp.

Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang

Mùa xuân luôn cảm hứng của bao nhiêu thi sĩ. Thế nhưng trong “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử vẫn rất đặc sắc vẫn rất sâu đậm, không những chỉ có “Mùa xuân chín” mà còn “chín” cả lòng người thi sỉ, “chín” cả nỗi nhớ làng, nhớ người xưa trong thơ Hàn Mặc Tử.

Bài thơ dạt dào cảm xúc khiến lòng người bâng khuâng. Với tâm hồn lãng mạn cùng những lời thơ trữ tình đặc sắc, Hàn Mặc Tử đã để lại cho đời một bức tranh xuân, một hình ảnh xuân một nét xuân đầm thắm dịu dàng. Người thì đã đi xa nhưng tình người còn vương vấn mãi. Bài thơ ấy cùng với cái tôn Hàn Mặc Tử vẫn tồn tại muôn đời.

Nội Dung Bài Thơ Sông Núi Nước Nam / 2023

Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được coi là bản tuyên ngôn về độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Bài thơ không những khẳng định chủ quyền về lãnh thổ của đất nước mà còn nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược.

Mở đầu bài thơ, Lý Thường Kiệt đã khẳng định một cách mạnh mẽ chủ quyền của nước Đại Việt. Đó là ranh giới được định sẵn, được quy định bởi “sách trời”:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

(Sông núi nước Nam, vua Nam ở

Rành rành định phận tại sách trời)

Hai câu thơ nhấn mạnh một chân lý hiển nhiên không ai có thể chối cãi được: chủ quyền về lãnh thổ Đại Việt đã được trời đất quy định, chứng giám, không thể thay đổi được. “Sông núi” ở đây là hình ảnh biểu tượng không chỉ nói về sông núi nói chung mà còn là ranh giới lãnh thổ, chủ quyền của nước ta. Cặp từ “Nam” nằm song song tương ứng với nhau trên cùng một câu thơ “nước Nam – vua Nam” như ngầm nêu ra một nghịch lý không thể tồn tại: nước Nam vua Bắc. Tác giả cố ý sử dụng từ “đế” để chỉ vua nhằm khẳng định “vua Nam” không phải bề tôi của “vua Bắc” và “nước Nam” không phải chư hầu của “nước Bắc”. Lãnh thổ của nước Nam thuộc về người Nam, do vua Nam cai quản. Câu thơ như khẳng định sự bình đẳng và độc lập tuyệt đối của nước Nam đối với nước Bắc. Do đó, nước Nam có quyền có chủ quyền riêng biệt. Đây là lần đầu tiên mà vấn đề dân tộc được đề cập một cách chắc chắn, mạnh mẽ trong một tác phẩm thơ văn như vậy. Điều này là hoàn toàn có cơ sở, bởi đã được định trong “sách trời”. Từ “tiệt nhiên” với cách hiểu là hiển nhiên, rành rành biểu thị thái độ hoàn toàn tin tưởng của người nói vào “sách trời”. Từ đó, tác giả như ngầm báo trước sự thắng bại giữa ta và địch. Qua hai câu thơ đầu, bằng giọng điệu hào hùng, đanh thép, lời lẽ rõ ràng, Lý Thường Kiệt đã khẳng định quyền làm chủ về lãnh thổ của nước ta, không một thế lực nào có thể phủ định, xâm phạm được, đồng thời cũng thể hiện niềm tự tôn của tác giả đối với dân tộc.

Nếu như hai câu đầu khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc thì hai câu cuối lại là bản cáo trạng và lời cảnh cáo đối với kẻ thù nếu như chúng dám đến xâm phạm nước ta:

“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

(Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)

Lãnh thổ nước Nam đã được quy định bởi “sách trời” là của người Nam, nhưng bọn giặc không màng đến điều ấy, chúng đã phản lại ý trời, đến xâm phạm để thỏa mãn lòng tham khôn cùng của chúng. Lý Thường Kiệt hết sức khinh bỉ, căm phẫn và tức giận trước lòng tham ngu xuẩn của giặc. Câu thơ bắt đầu bằng từ “Cớ sao nhưng dường như không nhằm để hỏi mà như kể lại, vạch trần tội ác của chúng đã làm đối với dân tộc ta. Với những tội ác như thế, Lý Thường Kiệt đã có đầy đủ cơ sở để bắt kẻ thù nhận lấy hậu quả không thể tránh khỏi “bị đánh tơi bời”. Đây đồng thời cũng là quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ trước mọi kẻ thù xâm lược. Hai câu thơ với nhịp thơ chậm, giọng thơ mạnh góp phần biểu hiện tâm trạng phẫn nộ của nhà thơ khi tổ quốc bị xâm lăng, lòng căm thù giặc sâu sắc và niềm tin sẽ chiến thắng kẻ thù.

Tóm lại, “Nam quốc sơn hà” là một bài thơ khẳng định rõ ràng quyền độc lập tự chủ của dân tộc ta, đồng thời cũng nêu lên bản cáo trạng và hình phạt thích đáng dành cho kẻ thù nếu chúng muốn xâm lược nước ta. Qua đó, bài thơ không chỉ thể hiện niềm tự hào của người Việt Nam về chủ quyền dân tộc mà còn đề cao ý chí đấu tranh, sức mạnh của nhân dân trong phong trào giải phóng dân tộc.

TU KHOA TIM KIEM: NOI DUNG NOI DUNG BAI SONG NUI NUOC NAM SONG NUI NUOC NAM TRINH BAY NOI DUNG BAI SONG NUI NUOC NAM Theo chúng tôi