Chùm Thơ Về Quê Hương Bắc Ninh Của Nguyễn Tất Đình Vân

--- Bài mới hơn ---

  • Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Bắc Ninh
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Quê Hương Đất Nước, Con Người
  • Những Vần Thơ Còn Lại
  • Trần Hà Nam Bình Văn Thơ
  • 3 Bài Tứ Tuyệt Về Châu Mộc
  •  

    Nguyễn Tất Đình Vân

     

    VỀ NƠI   KINH BẮC

     

    Về nơi Kinh Bắc sông Cầu

    Câu ca sóng vỗ, trăng thâu xuôi dòng

    Tượng đài vua Lý Thái Tông

    Đứng bên chiến tuyến* giữa dòng dân ca

     

    Liền chị mặt phấn môi hoa

    Liền anh trai tráng những là giai nhân

    Sông Cầu sóng sánh mùa xuân

    Qua cầu giải yếm đến gần bờ tim

     

    Mơ say ba sáu tiếng chim

    Bổng trầm giọng cổ ,giọng kim bổng trầm

    *chiến tuyến sông Như Nguyệt ngày xưa nay là sông Cầu

     

     

    THIÊN SỬ

     

    Nguyên khí ngàn năm tụ núi sông

    Lắng vào Xuân thắm – rực cờ hồng

    Nước non thống nhất rạng danh Việt

    Thiên sử vẻ vang lừng chiến công

     

     

    DI SẢN NGÀN NĂM

     

    Dân ca Quan Họ gốc quê mình*

    Di sản ngàn năm thắm nghĩa tình

    Vũ trụ vọng vang hồn đất Việt

    Lại lên đến hẹn nhớ  “Trúc xinh” .

    ( *quê Bắc Ninh)

                    

    HOÀNG HÔN

    Hoàng hôn lơ lửng cánh diều

    Tiểu đồng sáo trúc vọng chiều quê hương

    Mãi còn một thuở vấn vương

    Chênh chao lem lấm đoạn đường mưu sinh

    Hội mùa em hát trúc xinh

    Cái ngày soi bóng giếng đình chung đôi

    Nụ cười em hút hồn tôi

    Hương xuân ấm áp đôi môi ngỡ ngàng

    Bóng em lộng bóng trăng vàng

    Trên đồng cấy lúa những hàng mạ xanh

    Ánh trăng lấp lánh xung quanh

    Đã mơ ngày gặt ngọt lành cơm quê

    Hoàng hôn tím đậm chiều về

    Nghe hàng cây hát gió vê nhịp đàn

    Nhớ ngày đánh đuổi giặc tan

    Nhớ em cô gái chứa chan tình đời,,,

     

     

    HỘI XUÂN

     

    Hội xuân áo thắm yếm hồng

    Tóc thề buông xõa hương đồng vương theo

    Câu ca lúng liếng mái chèo

    Ba tầm em đựng trong veo tiếng cười

     

    “Đùng về… Người ở… Người ơi !”

    Trầu têm cánh phượng em mời người ăn

    Trầu này trầu ái trầu ân

    Ô đen nón thúng tình thân muôn đời

     

    Mùa xuân non nước đẹp tươi

    Nụ hoa muôn sắc đất trời thêm xanh

    Lời ca rót mật ngọt lành

    Hội xuân giã bạn… hẹn anh… thăm nhà …

     

    CHỢ DÂU

     

    Phiên chợ Dâu tháng mấy lần ?

    Háo hức những quang cùng gánh

    Chen chúc câu hỏi lời chào

    Như say như tỉnh giấc chiêm bao

     

    Một tháng mấy lần phiên chợ Dâu ?

    Đâu rồi chợ phiên của “làng bầu”  (làng Công Hà)

    Xưa có hai làng sen nhau họy còn chợ Dâu ngồi … mãi cầu …

     

    hà tầng chen chúc mãi bên nhau

    Còn đâu lán chợ của “làng bầu”

    Vành đai chợ Dâu không giữ nổi

    Bán mua , mua bán … bờ sông Dâu

     

    “Dù ai đi đẩu đi đâu 

    Cứ trông cái tháp chùa Dâu thì về !”

    Tôi về tìm lại đam mê

    Hội Dâu rước hội tổng quê phật bà

     

    “Tứ Pháp”nay bóng nhạt nhòa

    Luy Lâu đâu có còn là trăng soi

    Sông Dâu con nước đầy vơi 

    Trôi qua năm tháng…  bao đời cỏ xanh ?

     

     

    NHỚ ĐÊM

    Nhớ đêm toàn thắng cờ bay

    Lời em hẹn ước anh nay mang về

    Mà em ở lại sơn khê

    Tuổi xuân xanh mãi,  không về miền quê !!!

    Nhớ đêm trăng sáng bờ đê

    Hương tình ngây ngất vai kề bên nhau

    Nhớ đêm bay áo qua cầu

    Nồng nàn trao nụ hôn đầu say mê

    Nhớ đêm thuyền lướt sông quê

    Câu ca Quan Họ theo về cùng anh

    Nhớ đêm gió mát trăng thanh 

    Chẻ tre vót đũa… so thành một đôi

    Nhớ đêm trăng đã lặn rồi

    Em về anh vẫn còn ngồi mộng mơ

    Vẳng nghe sóng vỗ đôi bờ

    Trái tim đỗi nhịp đợi chờ ngày vui…

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Bài Hát, Bài Thơ, Truyện Chủ Đề ” Quê Hương
  • +777 Bài Thơ 4 Câu Về Quê Hương, Đất Nước, Con Người
  • Thủ Tướng Khen Cô Giáo Ở Gia Lai Làm Thơ Hay Cổ Vũ Chống Dịch Covid
  • Những Vần Thơ Thấm Đượm Nỗi Nhớ Của Cô Giáo Mầm Non
  • Những Bài Thơ Xúc Động Về Nghề Gvmn
  • Phân Tích Bài Thơ Nhớ Con Sông Quê Hương Phần Mở Đầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhà Thơ Tế Hanh Qua Đời
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Ca Dao Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà…
  • Về Bài Ca Dao “khăn Thương Nhớ Ai…”
  • Cảm Nghĩ Về Hình Tượng Phụ Nữ Trong Bài Ca Dao “khăn Thương Nhớ Ai…”
  • Phân Tích Bài Ca Dao Khăn Thương Nhớ Ai
  • Tế Hanh rất thật thà, rất hiền lành trong sáng tác, cho nên thơ của ông không uyên bác suy tưởng như Chế Lan Viên hay trau chuốt sang trọng như thơ Bích Khê, không đắm say bồng bột như Xuân Diệu hay thăng hoa biến ảo như Hàn Mặc Tử, nhưng nó vẫn có một phong cách riêng đủ ghi dấu ấn một tấm lòng, khiến ông chinh phục được cả những bạn đọc khó tính.

    Cái làng quê nghèo ở một cù lao trên sông Trà Bồng đã nuôi Dưỡng tâm hồn Tế Hanh, trở thành nguồn cảm xúc vô tận để ông viết nên những vần thơ tha thiết, lai láng như : “Nhớ con sông quê hương”, “Quê hương”, “Trở lại con sông quê hương”. Trong dó có đoạn mở bài của Bài văn Nhớ con sông quê hương

    Quê hương tôi có con sông xanh biếc

    Nước gương trong soi tóc những hàng tre

    Tâm hồn tôi là buổi trưa hè

    Tỏa sáng dưới dòng sông láp loáng

    Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất miền Trung – Quãng Ngãi, một vùng đất cằn cỗi, quanh năm chỉ có gió và cát, một vùng quê nghèo. Do hoàn cảnh bắt buộc, ông rời xa quê hương từ thuở thiếu thời. Trong thời gian xa quê ông viết rất nhiều tác phẩm, chủ yếu là về quê hương, bằng tất cả những tình yêu, nỗi nhớ của mình. Một vùng đất đầy thơ mộng và rất đẹp trong thơ Tế Hanh. Trong đó có phần

    Quê hương tôi có con sông xanh biếc

    Nước gương trong soi tóc những hàng tre

    Xa quê, xa cả con sông. Có thể nói đó là nỗi đau của ông.

    Qua những kỉ niệm, hồi tưởng về con sông trong “nỗi nhớ con sông quê hương”, Tế Hanh đã thể hiện một tình yêu quê hương tha thiết, mãnh liệt, một hình ảnh quê hương thân thiết, ruột rà.

    Tâm hồn tôi là buổi trưa hè

    Tỏa sáng dưới dòng sông láp loáng

    Và cũng thật tự nhiên khi những hồi tưởng của tác giả lại có sức lay động thật mãnh liệt đến độc giả. Khi không gian kỷ niệm hiện lên trong ngần, tỏa nắng và mát rượi, đó cũng là lúc quê hương hiện hữu gần gũi, quyện hòa với hồn người.

    Đối với Tế Hanh, quê hương luôn là bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa.. Dù ở phương trời nào lòng ông vẫn nhớ quê hương, nó luôn dạt dào, cháy bỏng trong ông khiến nhà thơ thấy được hình ảnh quê hương liên tục hiện ra. Quê hương chính là sức sống của ông, ở một khía cạnh nào đó, ta lại thấy tình yêu quê hương của Tế Hanh rất đa chiều và phức tạp. Lúc da diết, ngập tràn với “Nhớ con sông quê hương”, nhưng lúc khác lại cho người đọc thấy một hồn thơ trẻ trung phơi phới của “Quê hương”. Nhưng dù ở góc độ, khía cạnh nào thì nó đều ẩn chứa một tình yêu, nỗi khát khao đoàn tụ, bày tỏ khát vọng gặp gỡ cụ thể. Không như thơ Huy Cận, Lưu Trọng Lư đầy chất mộng ảo, không như thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên hun hút sầu thương, thơ Tế Hanh trong sáng, khoẻ mạnh, đắm đuối rất thực. Bởi ông có một vùng quê bằng xương, bằng thịt, mà ông luôn dõi theo bằng đôi mắt rất thực, bằng trái tim có địa chỉ rõ ràng.

    Có thể nói những bài thơ về quê hương trước và hai mươi năm sau Cách mạng Tháng Tám của Tế Hanh đã cất lên một tiếng ca trong trẻo, nồng nàn, thơ mộng về con sông hiền hòa đã. Mỗi chúng ta một lần nữa vui mừng khi được giao tiếp với một hồn thơ khoẻ mạnh, trong sáng song lại rất đỗi bình dị mà sâu sắc. Nó không hề làm nặng đầu ta với những bóng dáng siêu hình hay những vô thức u minh, nó chấp cánh mộng mơ, bồi đắp cho mỗi chúng ta tình yêu quê hương thắm thiết, là điểm trở về bình yên của ta trong cuộc đời nhiều bươn trải, cũng là sự thôi thúc ta vươn lên.

    (Tác giả: Nguyễn Văn Dinh)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhớ Lời Di Chúc, Theo Chân Bác
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Theo Chân Bác (Tố Hữu)
  • “nhớ Lời Di Chúc, Theo Chân Bác”
  • Bài Thơ Cháu Nhớ Bác Hồ Hay Và Ấn Tượng Nhất Của Nhà Thơ Thanh Hải
  • Ấn Tượng Từ Đêm Nhạc, Thơ “tháng 5 Nhớ Bác”
  • “bài Thơ Quê Hương”, Một Bài Thơ Ít Biết Của Nguyễn Bính

    --- Bài mới hơn ---

  • Vài Lời Về Bài: Trao Đổi Về “quê Nghèo” Với Cô Nguyễn Bích Thủy
  • Những Bài Thơ Viết Về Nỗi Nhớ Quê Hương Của Người Xa Xứ
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 1001 Bài Thơ Quê Hương, Tình Yêu Làng Quê & Nỗi Nhớ
  • Chùm Thơ Nhớ Nhà, Nhớ Quê Của Người Tha Phương
  • Quê Hương Nghĩa Nặng Tình Sâu
  • vanhaiphong – ” Bài thơ quê hương” của Nguyễn Bính là một bài thơ mà ít người biết đến, thậm chí ngay cả các nhà phê bình cũng ít khi nói về nó, mặc dù tên tuổi của Nguyễn Bính đã nổi danh thi đàn Việt đến tận hôm nay. Nhằm cung cấp thêm tư liệu học tập cho sinh viên, học sinh và nhân ngày lễ Quốc Khánh 2/9, chúng tôi xin giới thiệu bài viết này.

    Tuy vậy, ở thi phẩm lại có rất nhiều khổ thơ tuyệt vời đúng là Nguyễn Bính và chỉ Nguyễn Bính mà thôi. Bài thơ cấu tạo hình thức là câu chuyện về quê hương “Để tôi xin kể nốt chuyện quê hương”, tác giả kể cho người bạn “Trải nghìn dặm” tới thăm Việt Nam.

    Ấn tượng sâu đậm nhất tôi gặp là những dòng thơ mà Nguyễn viết về mạch nguồn dân tộc. Dường như ông gửi vào đó cả một vốn kiến thức dân gian và khát khao cái khí quyển dân gian nghìn đời ấy. Những khổ thơ này tràn ngập một thế giới cổ tích ca dao. Dường như trong mỗi câu thơ đều chất chứa một thứ “Điển tích” nào đó.

    Cây bầu, Cây nhị, hai loại nhạc cụ dân gian đặc biệt của Việt Nam, riêng cây đàn bầu với một sợi dây (Độc huyền) đã làm rung động nhiều tâm hồn người trên thế giới. Thanh âm của nó trong thơ Nguyễn là cả một không gian chuyện cổ Thạch Sanh. Chàng trai dũng cảm nhân hậu như một biểu tượng văn hóa Việt cổ. Là câu chuyện về Cô Tấm dịu hiền quằn quại hóa thân khẳng định mình chống cái ác. Đó cũng là phẩm chất cao đẹp của con người Việt cổ xa xưa biết tiết chế dục vọng từ bỏ lòng tham “Có người em may túi đúng ba gang”. Câu chuyện cổ tích “Cây khế” hiện diện trọng xã hội xưa như một câu chuyện tiêu biểu, còn câu thơ Nguyễn nói về nó trong một dòng thơ. Rất thú vị khi Nguyễn dùng từ “Đúng”. Đó là một từ biểu thị lý tính. Ở đây diễn tả sự khiêm tốn, về thói không tham phúc lộc trời ban tặng của người em trai khi chim nói ” Ta ăn một quả, ta trả cục vàng/May túi ba gang, mang đi mà đựng”. Nó cũng là bài học Khổng Khâu dạy các đệ tử khi lý giải cái lọ đựng nước vì sao mà đứng vững “Nhiều quá thì đổ, ít quá cũng đổ, nhưng vừa thì đứng”.

    Vẫn là mạch dân gian chảy, ở đây là những áng ca dao đậm đà ý vị, là những câu tục ngữ sáng lên lý trí Việt, những bài đồng giao con trẻ đêm trăng. Thiên nhiên hòa quyện với cuộc sống con người. Và thiên nhiên như trang sách vĩnh cửu ghi lại trên mình, trong mình những câu chuyện nồng nàn tình yêu chung thủy.

    Không chỉ có mạch dân gian, hình ảnh dân tộc còn ngời sáng trong những áng văn thơ lấp lánh tình người trong đó. Những câu thơ của Vua Trần sau trận mạc như niềm cảm khái một thưở non sông chinh chiến và niềm tự hào chiến thắng, niềm tin vào bền vững trường tồn. Đó là nỗi khắc khoải hoài vọng quá khứ của Bà Huyện Thanh Quan mà giờ đây là Nguyễn Bính:

    Con chim nhỏ cũng đau hồn nước mất

    “Cuốc cuốc – kêu nhỏ máu những đêm vàng

    Chân ngựa đá cũng dính bùn trận mạc

    Theo người đi cứu nước chống xâm lăng.

    Và tình yêu cũng rất Việt. Nguyễn dùng bốn câu nói về tình yêu của người con gái. Thật phi thường. Chấp nhận gian khổ và chấp nhận những thách thức tưởng chừng không thể vượt qua. Cái không thể được người con gái biến thành cái có thể nhờ ở sức mạnh phi vật chất; đó tình yêu phi thường chân thật mà lại mềm mại ý vị:

    Một không gian Quê hương hiện dậy ngọt ngào với những mảnh tâm hồn quê kiểng nhưng bay bổng tiếng thơ và mênh mông câu hát dân ca:

    “Sen tàn cúc lại nở hoa

    Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân “

    Năm 2006, khi dự hội nghị APEC, Tổng thống Mỹ chúng tôi khi nói về Việt Nam đã có kinh tế thị trường từ lâu và ông đọc hai câu thơ:

    ” Đợi ngày nạp thái vu quy

    Tiền lưng sẵn có việc gì chẳng xong”

    Câu chuyện mà tác giả kể cho bạn trong bài thơ dài này là cả một câu chuyện về đất nước con người Việt xa xưa và hiện tại những năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Đọc bài thơ, so sánh với phong cách của Nguyễn như nhận xét của Giáo sư Lê Đình Kỵ: “Nổi bật lên ở Nguyễn Bính là ca dao, ở cảm xúc lẫn tư duy, ở cả ý, tình, và điệu,…” thì có gì chưa ổn.

    Nguyễn Bính làm chủ bút báo Trăm hoa. Ông mất ngày 20 tháng 1 năm 1966 (chiều 30 Tết) tại Hà Nội. Nguyễn Bính có những sự thay đổi trong cách viết sau vụ Nhân văn giai phẩm và Báo Trăm hoa của ông bị giải tán. Ở thời kỳ này ông vẫn có nhiều bài thơ rất hay. Trường hợp những tác phẩm như “Bài thơ quê hương” rất hiểm gặp ở Nguyễn Bính. Tuy nhiên, đọc lại chúng ta vẫn tìm thấy trong đó những mảnh hồn của ông sáng lên, lấp lánh một thứ hồn Việt đậm sắc màu đồng quê, xao xác một bầu trời chuyện cổ, rì rầm một dòng sông ca dao trong tâm thức.

    NĐM

    Nguyễn Bính

    Khi có Đảng, có Bác Hồ lãnh đạo;

    Có truyền thống cha ông để lại tự bao đời.

    Thì đánh Mỹ nhất định là phải thắng

    Chuyện ấy, quê tôi, thành chuyện dĩ nhiên rồi.

    ***

    Câu chuyện quê tôi, sơ sài mấy nét.

    Bạn trở về xin kể mọi người hay.

    Riêng phần tôi có thơ này tặng bạn,

    Tặng quê mình, nhân dịp tết năm nay.

    (Tết Bính Ngọ, 1966)

    Nguồn:

    1. Báo Văn nghệ Nam Hà, tết Bính Ngọ (1966), trang 3

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một
  • “…quê Hương Mỗi Người Chỉ Một/ Như Là Chỉ Một Mẹ Thôi…” Từ Những Câu Thơ Trên Viết Một Bài Văn Nghị Luận Bày Tỏ Suy Nghĩ Của Mình Về Vai Trò Và Ý Nghĩa Của Quê Hương Đối Với Cuộc Đời Mỗi Con Người
  • Hãy Nói Về Quê Hương Em Hoặc Nơi Em Đang Ở
  • Giáo Án Lớp Mầm Đề Tài: Bài Thơ Về Quê
  • Lời Bài Hát Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt
  • Bài Thơ Nhớ Của Nguyễn Đình Thi

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Đình Thi
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 1001 Bài Thơ Nhớ Cha Mẹ Khi Tết Đến Xuân Về Của Người Xa Quê
  • Chùm Thơ Nhớ Cha Mẹ Của Người Con Gái Lấy Chồng Xứ Lạ
  • Chùm Thơ Tình Lục Bát Nhớ Người Dưng Hay Nhất
  • Rung Động Trước Những Bài Thơ Nhớ Một Người Ngọt Ngào Nhất
  • Nhà văn Nguyễn Đình Thi

    BÀI THƠ NHỚ VÀ SỰ CÁCH TÂN TRONG THƠ TÌNH CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI

    Nguyễn Đình Thi là người đã khởi xướng cách tân thơ bằng việc làm thơ không vần, gây một cuộc tranh luận sôi nổi trong giới văn nghệ sĩ ở Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp. Không chỉ nói lí thuyết, nhà thơ còn thể nghiệm bằng những bài thơ của chính mình. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi bàn đến sự cách tân thơ tình trong một bài thơ cụ thể. Bài Nhớ của Nguyễn Đình Thi được công bố năm 1954.

    a) Từ nỗi nhớ hẹp trong ca dao đến nỗi nhớ rộng của người chiến sĩ

    Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh

    Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây

    Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh

    Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây

    Rõ ràng, về cách nhìn sự vật qua tâm trạng nhớ, bằng con mắt nhớ, khổ thơ gợi cho ta liên tưởng ngay đến cách nói của ca dao:

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Đèn thương nhớ ai

    Mà đèn không tắt

    Nhưng tác giả bài Nhớ không hề lặp lại ca dao. Tiếp thu cách nói ấy, người viết đã đổi mới nó, nâng lên tầm vóc mới, tương xứng với tầm hoạt động của người chiến sĩ của cách mạng và kháng chiến.

    Ngôi sao và ngọn lửa không chỉ được nhìn bằng tâm trạng nhớ, là cái cớ để bộc lộ nỗi nhớ. Sao và lửa mang nỗi nhớ CHÁY SÁNG để tham gia vào cuộc chiến đấu này, để “soi đường”, để “sưởi ấm” cho người chiến sĩ chứ không phải chỉ là người thuần túy tương tư. Như vậy là người yêu, người nhớ và người chiến sĩ gắn bó hài hòa. Người chiến sĩ đem đến cho người đang yêu trong mình, tạo cho anh một tư thế, một tầm vóc lớn, gắn với không gian rộng dài hơn không gian của tình yêu bình thường.

    Trong các bài ca dao tình yêu, không gian nhớ thường bó hẹp trong phạm vi căn nhà. Thời ấy nhớ ai thì “ra ngẩn vào ngơ” hoặc là ra ngõ mà trông, ra đứng ngõ sau, ra đứng bờ ao…Cuộc cách mạng đem đến cho người chiến sĩ một tầm hoạt động rộng lớn : trên đèo mây, giữa ngàn cây. Và nỗi nhớ của anh do đó cũng rộng hơn, lớn hơn, có kích thước vũ trụ hơn. Nỗi nhớ ấy có thể cháy bỏng, gần gũi như ngọn lửa, nhưng cũng có thể lấp lánh, xa vời như ngôi sao.

    b) Từ ngôi sao và ngọn lửa riêng lẻ đến ngôi sao và ngọn lửa cùng chung tượng trưng cho sức mạnh tình yêu

    Trước đây, trong ca dao, nỗi nhớ đã từng được ví với lửa:

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

    Như đứng đống lửa, như ngồi đống than

    Trong ca dao, nhớ đã từng được vọng tới sao :

    Buồn trông chênh chếch sao mai

    Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ

    Ở bài NHỚ này, hình ảnh ngôi sao và ngọn lửa lần đầu tiên cùng được nhắc trong một bài, để diễn tả một tâm trạng. Sao và Lửa không chỉ là khách thể, là một cái cớ để bộc lộ nội tâm, mà chính Sao và Lửa tham gia vào đời sống nội tâm, dẫn lối soi đường ( soi sáng đường), sưởi ấm (sưởi ấm lòng) người chiến sĩ. Vậy là lần đầu tiên, tình yêu riêng tư có chức năng dẫn đường, sức mạnh của tình yêu riêng tư được thừa nhận như sức mạnh của giác ngộ lí tưởng. Nó không chỉ sưởi ấm, mà còn soi đường, vừa là con đường cụ thể cũng là con đường chiến đấu, con đường đi tới lí tưởng.

    c) Đất nước lần đầu được ví với người yêu say đắm

    Trong khổ thơ thứ nhất đang xét ở trên, diễn tả nỗi nhớ nên đại từ nhân xưng đều có tính phiếm chỉ: ai và người chiến sĩ. Nhưng nỗi nhớ đó là nỗi nhớ của trai gái yêu nhau chứ không phải nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ ông bà, cha mẹ, nhớ bạn phương trời hay nỗi nhớ vợ con. Đã là nỗi nhớ của tình yêu gái trai thì phải được nói bằng ngôn ngữ của tình yêu. Cho nên đến khổ thơ thứ hai người chiến sĩ và ai được gọi bằng cách xưng hô muôn thuở của tình yêu – Anh và Em:

    Anh yêu em như anh yêu đất nước

    Có lẽ chưa bao giờ có một tuyên bố táo bạo và mạnh mẽ như trong câu thơ tưởng chừng rất đỗi hiền lành này. Người yêu- Em được trang trọng đặt ngang hàng với đất nước, được ví với đất nước. Tình yêu riêng ( thường được coi là nhỏ bé) đặt ngang hàng với lí tưởng chung. Trong khi các thi sĩ của Việt Nam cũng như của nhiều nước trên thế giới thường ví đất nước như người mẹ ( Mẹ-tổ quốc; Đất nước-mẹ hiền) có được mấy ai ví đất nước như người yêu? Nói ra điều ấy ở một xứ sở mà người ta mang nặng tinh thần phong kiến, coi chuyện “yêu đương” là chuyện nhỏ, cần phải quên đi, phải dẹp đi ( hoặc giả nếu có được thừa nhận thì trong trái tim, nó cũng chỉ đáng được nhận một phần bé nhỏ, khiêm tốn nhất so với phần dành cho lí tưởng); nói ra điều ấy vào những năm mà tuyển tập thơ Việt Nam không có một bài thơ tình nào thì quả là một cách tân lớn trong nhận thức. Hơn thế nữa, nói ra điều ấy mà không làm cho ai thấy bất bình thường thì thật là một cách tân ngoạn mục.

    Anh yêu em như anh yêu đất nước

    Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần

    Có người đã bình rất hay về câu thơ này, đã chỉ ra sự vô ngần vất vả, vô ngần thương đau, vô ngần tươi thắm của em, và cũng là những em, những người phụ nữ Việt Nam. Sở dĩ người ta không thấy bất bình thường chính là vì người chiến sĩ không chỉ yêu em, mà còn yêu đất nước. Anh có hai người yêu : EM và ĐẤT NƯỚC. Em vất vả đau thương tươi thắm vô ngần. Đất nước cũng vất vả đau thương tươi thắm vô ngần. Em gắn chặt với Đất nước, em hòa trong Đất nước. Anh yêu Em là anh yêu Đất nước, anh nhớ Em cũng là anh nhớ Đất nước, nhớ đến nhiệm vụ giải phóng Đất nước. Những câu thơ bộc lộ hết sức đẹp đẽ sự hài hòa, thống nhất, gắn bó giữa tình yêu và lí tưởng, giữa tình riêng và tình chung, thống nhất đến mức khó mà tách bạch ra được. Vì thế, khi nhớ riêng về em thôi thì tình cảm ấy cũng không hoàn toàn mang tính chất riêng tư vì đó là nỗi nhớ trên đường làm nhiệm vụ với đất nước:

    Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước

    Mỗi tối anh nằm, mỗi miếng anh ăn

    Có ba chữ “mỗi” nhưng đã chỉ toàn bộ thời gian 24 trên 24 giờ trong một ngày của một con người. Hành quân, dừng chân, lại hành quân- đó là toàn bộ hoạt động của người chiến sĩ. Chữ “mỗi” như là thừa số chung của vô tận những bước đường, những tối nằm và những bữa ăn. Tất cả những hoạt động đó đều gắn liền với một nỗi nhớ da diết. Bởi vậy mà có thể nói rằng nỗi “nhớ” đã được nhân với vô tận những hoạt động của người chiến sĩ, nói theo ngôn ngữ toán thì “nhớ” được nâng lũy thừa không phải với số mũ “3” ( ba lần chữ “mỗi”), mà là số mũ “n”.

    d) Cách xưng hô “Chúng ta” đầy kiêu hãnh

    Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt

    Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời

    Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực

    Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người

    Ngọn lửa và Ngôi sao trong khổ thơ thứ nhất được nhắc lại ở đây với mục đích nhắc lại sự vững bền, trường cửu, nồng nàn của tình yêu ( Không bao giờ tắt, bập bùng đỏ rực). “Ai” với “chiến sĩ”, “em” với “anh” đồng nhất vào trong một cách xưng hô mới đầy kiêu hãnh : “Chúng ta”! Lại một cách xưng hô rất lạ, rất mới mẻ. Thống kê toàn bộ thơ tình của Xuân Diệu trong Tuyển tập Xuân Diệu tập một ( Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1983), chúng tôi thấy thi sĩ chỉ có hai lần xưng “chúng tôi” ở hai bài:

    Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ

    Trăng

    Chúng tôi ngồi vây phủ vởi trăng thâu

    Biệt li êm ái

    Chưa một lần thi sĩ viết “chúng ta”. Ngay tác giả Nguyễn Đình Thi trong ba tập thơ: Người chiến sĩ, Dòng sông trong xanh, Tia nắng cũng chỉ viết “chúng ta” cả thảy 4 lần, chưa một lần nào viết “chúng mình”. Phải chăng, khi viết về tình yêu nam nữ đơn thuần, người ta dễ dàng xưng hô “chúng mình”. Còn trong bài thơ Nhớ này, Em và Đất nước hòa quyện trong nhau, tình yêu trai gái khăng khít với tình yêu đất nước; mặt khác, bài thơ như một lời tuyên ngôn về tình yêu và lí tưởng của người chiến sĩ, vì thế phải vang lên kiêu hãnh hai tiếng “Chúng ta”? Chúng ta gồm chúng tôi và mọi người đứng về phía chúng tôi. Có thể là một suy diễn chăng, nhưng nếu nếu thay “Chúng ta” bằng “chúng tôi” hoặc “chúng mình” thì chắc chắn vẻ đẹp của bài thơ không còn như cũ được nữa.

    Như vậy, trong một bài thơ tình, Nguyễn Đình Thi đã thể hiện bốn điểm cách tân như đã phân tích.

    Thời đại đã đem đến cho người chiến sĩ, nhà thơ một tầm vóc mới, một cách nhìn mới đối với thơ nói chung và thơ tình nói riêng. Diễn đạt tình yêu do đó cũng đòi hỏi một sự đổi mới, cách tân tương xứng. Bài thơ Nhớ của Nguyễn Đình Thi được yêu mến bởi rất nhiều lí do, nhưng theo chúng tôi, sự cách tân thành công của nhà thơ là một lí do quan trọng cần được ghi nhận.

    Bài đăng trên tạp chí NHÀ VĂN số tháng 9/2010

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đến Với Bài Thơ Hay: “nhớ Con”
  • Nhớ Nhà Thơ Phạm Tiến Duật
  • Bình Bài Thơ “nhớ” Của Phạm Tiến Duật
  • Bình Bài Thơ “nhớ”của Phạm Tiến Duật
  • Phân Tích Bài Thơ Nhớ Con Sông Quê Hương
  • Phân Tích Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Đình Thi

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 1001 Bài Thơ Nhớ Cha Mẹ Khi Tết Đến Xuân Về Của Người Xa Quê
  • Chùm Thơ Nhớ Cha Mẹ Của Người Con Gái Lấy Chồng Xứ Lạ
  • Chùm Thơ Tình Lục Bát Nhớ Người Dưng Hay Nhất
  • Rung Động Trước Những Bài Thơ Nhớ Một Người Ngọt Ngào Nhất
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 1001 Bài Thơ Nhớ Người Dưng Hay Với Chút Buồn Man Mác
  • Nguyễn Đình Thi – một tâm hồn, một con người đa tài với những tác phẩm, bài viết đủ mọi thể loại. Văn học, soạn nhạc, triết học, lí luận phê bình… mặt nào cũng rất tài hoa. Về thơ ca, ông đã có những đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt Nam với giọng thơ sôi nổi, đằm thắm và sâu lắng nhưng lại tao nhã, giản dị gần gùi với mọi người. Tác phẩm nổi bật trong thời kì này là bài thơ Đất nước. Được sáng tác từ 1948 – 1955, sự kết hợp hai bài thơ Đêm mít tinh và Sáng mát trong như sáng năm xưa đã giúp tác giả hình thành thái độ trân trọng, một cái nhìn đầy đủ về hình ảnh đất nước. Đất nước thực sự là cuốn biên niên sử bằng thơ hào hùng, oanh liệt, vinh quang và rực rỡ của dân tộc.

    Mở đầu bài thơ, Nguyễn Đình Thi đã lấy hình ảnh mùa thu đã xa, một mùa thu với những kí ức và hình ảnh đã thuộc về quá khứ:

    Sáng mát trong như sáng năm xưa

    Gió thổi mùa thu hương cốm mới

    Tôi nhớ những ngày thu đã xa

    Chỉ với một câu thơ giỏ thổi mùa thu hương cốm mới đã đánh thức trong lòng người đọc hình ảnh mùa thu Hà Nội với vẻ đẹp truyền thống, tao nhã, bền vững và cổ xưa. Một chút gió heo may, một chút hương cốm thơm nức. Một hình ảnh quen thuộc kéo dài từ năm này qua năm khác không đổi thay.

    Câu thơ tôi nhớ những mùa thu đã xa giống như câu thơ bản lề, chuyển hướng, đẩy tâm sự người đọc hướng về hiện tại:

    Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

    Những phố dài xao xác hơi may

    Người ra đi đầu không ngoảnh lại

    Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

    Khổ thơ sau vẫn là nhịp điệu chậm rãi, tràn đầy nhung nhớ. Nguyễn Đình Thi lại nhắc lại hình ánh sáng. Nhưng ảnh thu Hà Nội của hiện tại đẹp mà buồn, gợi bao sự thương nhớ. Sáng mùa thu chớm lạnh trong lòng Hà Nội, hay đúng hơn là cái chớm lạnh của lòng người trước mỗi đợt, mỗi khoảnh khắc thu về. Cái tinh tế của nhà thơ được thể hiện qua câu chữ trong lòng Hà Nội. Liệu có phải đây thực ra là nỗi nhớ qua những câu thơ đầy khắc khoải và ám ảnh?

    ở đây, còn gợi thêm một hình ảnh nữa về đặc trưng của Hà Nội: những phổ dài và, thêm một nét tinh tế nữa của nhà thơ, đó là việc sử dụng từ láy xao xác. Tất cả đều gợi ra sự vắng vẻ, hiu quạnh. Sự xao xác của lá thu hay là nỗi tâm sự đong đầy. Hình ảnh gió xao xác kết hợp với hình ảnh con phố dài đã tạo ra sự thu hút, sự sâu thẳm.

    Và thật đột ngột, mạch cảm xúc của tác giả thay đổi, với hình ảnh người ra đi. Câu thơ thứ ba như một cái hất đầu ngạo nghễ, một sự quyết tâm đầy kiêu hãnh với chí lớn mang trong người. Nhưng câu thơ cuối lại là một tình cảm sâu lắng, trực tiếp, cảm xúc được dàn trải đều qua trang giấy qua cách ngắt nhịp của tác giả.

    Có người nói, hình ảnh của Hà Nội đã thu lại trong câu thơ cuối: thềm nắng lá rơi đầy. Câu thơ đẹp và giàu sắc thái thẩm mĩ. Bức tranh thu Hà Nội thấm đầy nắng, gợi nên sắc thái quyến rũ trong tâm trí người ra đi. Mà có khi làm sao mà đi nổi khi một Hà Nội đẹp thế, quyến rũ như thế cứ níu chân chẳng cho đi, làm sao không khỏi mềm lòng.

    Đó là mùa thu của quá khứ, còn mùa thu của bây giờ, của hiện tại rực rỡ hơn, tươi mát hơn. Và tự hào hơn trong lòng tác giả:

    Mùa thu nay khác rồi

    Tôi đứng vui nghe giữa, núi đồi

    Gió thổi rừng tre phấp phới

    Trời thu thay áo mới

    Trong biếc nói cười thiết tha

    Một lời khẳng định đầy kiêu hãnh, gợi mở cho người đọc hướng về hình ảnh mùa thu trong sự đổi mới với mùa thu xưa. Chữ khác dường như không chỉ là sự khác biệt về thời gian, không gian như xưa, nay mà còn là sự khác biệt trong nhận thức và tư tưởng của con người. Vì một lẽ đơn giản là muôn đời thu vẫn thế, vẫn gió heo may cùng hương cốm. Vấn đề là cảm nhận của con người mà thôi. Mùa thu xưa là mùa thu của dân tộc nô lệ. Kiếp người khổ đau, vì vậy mà thu có vẻ ảm đạm và thê lương. Khi đã độc lập, mùa thu như rạng rỡ hơn, chan hoà hơn. Giữa sự thay đổi của đất trời, của cuộc đời mới, mỗi người cùng hoà vào tiếng vui chung. Con người giao hoà với đất trời và vũ trụ. Con người lắng nghe được âm hưởng vui mừng của niềm vui độc lập, đó là niềm hạnh phúc tột độ.

    Ở đây, không gian thu được mở rộng khoáng đạt hơn. Với tiếng gió thổi rừng tre phấp phới, vẫn là gió thu, nhưng không phải lặng lẽ, buồn bã, mà là tiếng gió (thổi vào rừng tre) phấp phới như muốn giữ trọn niềm vui của con người vào thiên nhiên, vũ trụ. Hình ảnh rừng tre tượng trưng cho sức mạnh Viêt Nam, vẻ đẹp của Việt Nam, niềm vui của thu độc lập. Tất cả như muốn cất lên tiếng reo ca tột độ.

    Và trong xúc cảm thăng hoa, Nguyễn Đình Thi có những câu thơ hết mực tài hoa:

    Trời thu thay áo mới

    Trong biếc nói cười thiết tha

    Mùa thu ở đây vừa có nét tươi trong trẻo của một mùa thu muôn đời, lại vừa có sự phấn khởi, vui mừng. Câu thơ đã gợi ra tất cả xúc cảm, sâu lắng, huyên náo… tạo ra sự giao hoà giữa niềm vui của con người và niềm vui của đất trời trong ngày độc lập.

    Và cảm xúc của nhà thơ như trải dài qua khổ thơ:

    Trời xanh đây là của chúng ta

    Núi rừng đây là của chúng ta

    Những cánh đồng thơm mát

    Những ngả đường bát ngát

    Những dòng sông đỏ nặng phù sa

    Các câu thơ như cuốn vào nhau. Với cách ngắt nhịp mạnh mẽ, ngắn đã tạo ra âm hưởng hùng tráng, tràn đầy niềm tự hào. Nguyễn Đình Thi bây giờ như đang là một hướng dẫn viên, giới thiệu và tỏ bày với mọi người về cảnh sắc quê hương. Đây là núi rừng, trời xanh, kia là cánh đồng, ngả đường, xa hơn nữa là dòng sông. Tất cả như đang phơi bày vẻ đẹp, sự mỹ lệ vốn có của bản thân. Hay nói đúng hơn, đây là sự háo hức, tất cả sự hãnh diện, vinh dự với tư cách là người làm chủ. Tác giả nhấn mạnh vào quan hệ từ của như muốn khẳng định sự sở hữu và quyền tự chủ của bản thân.

    Ở đây đã có sự thay đổi về cách xưng hô, có sự hoà nhập giữa cái tôi của Nguyễn Đình Thi, của người nghệ sĩ với cái chung của cả dân tộc. Nguyễn Đình Thi không chỉ nói tiếng nói chung của mình mà con nói tiếng nói chung của cả dân tộc, của mọi người bằng hai tiếng chúng ta đầy kiêu hãnh.

    Vào thời Pháp thuộc, không hề có chuyên quan niệm chúng ta. Tất cả đều đặt dưới sự kiểm duyệt gắt gao của bọn thực dân. Chỉ có thời đại mới, chỉ có xã hội và cái chung của chúng ta, chỉ có thời đại mới, chúng ta mới có thể hít thở không khí mát lành của thu tự do, chứ không còn bức bối ngột ngạt như trước. Nguyễn Đình Thi như muốn khẳng định tính ưu biệt của xã hội mới.

    Cảm xúc dâng trào khi nghĩ về sự tự do, độc lập, niềm vui mừng hân hoan bỗng nhiên trầm lắng trong sự suy tưởng:

    Nước chúng ta

    Nước những người chưa bao giờ khuất

    Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

    Những buổi ngày xưa vọng nói về.

    Nhịp thơ bỗng thay đổi, mang xúc cảm trầm lắng, ẩn chứa thái độ thành kính thiêng liêng, hướng người đọc trở về quá khứ lịch sử của quê hương. Khi con người ta vui mừng, hân hoan về một chiến thắng thì bao giờ, sau đó cùng sẽ là những giây phút trầm mặc suy nghĩ về cái giá của chiến thắng đó. Tứ thơ của Nguvền Đình Thi về đất nước tạo nên một chiều sâu không cùng. Đất nước ở đây không chỉ được cảm nhận ở hiện tại mà được nhìn nhận trong chiều sâu quá khứ. Quá khứ là bệ phóng, điểm tựa của hiện tại. Theo ông, đất nước ở đây là đất nước của những con người bất tử, chưa bao giờ khuất phục. Chữ rì rầm kết hợp với từ vọng tạo ra sự hô hứng, cộng hưởng kì diệu. Như thể người cảm nhận được cái cao cả, thiêng liêng, sự gần gũi và thân thiết.

    Nguyên Đình Thi như muốn nêu lên bài học lịch sử cha ông, đạo lý của cha ông được nghi tạc lại trong tâm khảm mỗi con người Việt Nam, ngỡ như lời trò chuyện, tâm tình, thú vị của những người xưa. Tạo nên xúc cảm thiêng liêng thành kính nhưng lại thân thiết và gần gũi. Khổ thơ như khúc nhạc trầm trong bản Instrumental (hoà tan) của Đất nước.,

    Khi suy nghĩ về tự do độc lập, về bài học lịch sử của cha ông, Nguyễn Đình Thi hướng dòng suy nghĩ của mình về quá khứ đấu tranh của dân tộc, với những khốc liệt vốn có của nó:

    Ôi nhưng cảnh đồng quê chảy máu

    Dây thép gai đâm nát trời chiều

    Những đêm dài hành quân nung nấu

    Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu

    Những câu thơ tràn ngập cảm xúc đau thương sâu lắng. Hai câu đầu, có thể coi là hai câu đặc sắc thể hiện tài hoa của nghệ sĩ. Thơ của Nguyễn Đình Thi không chỉ giàu hình ảnh mà đầy ắp tính nhạc và hội hoạ. Các hình ảnh thơ mang giá trị hiện thực cao, sử dụng biện pháp tu từ đặc sắc: cánh đồng quê chảy máu, dây thép gai đâm nát trời… gợi ra một nỗi đau khôn cùng, vẻ đẹp bình yên của làng quê đã bị lãng quên, cái yên ả của không gian không còn. Thay vào đó là hình ảnh dây thép gai với tội ác chồng chất của kẻ thù và cánh đồng máu đầy sự đau thương. Câu thơ diễn tả sự khốc liệt của chiến tranh và tội ác ghê ghớm của quân thù, bộc lộ một nỗi đau lên đến tận cùng. Nỗi đau càng lớn, niềm căm thù càng sâu sắc.

    Cái tài của tác giả là tự gửi vào thơ chất điện ảnh và hội hoạ đặc tả. Đọc thơ, người đọc như thấy trước mắt mình là cả hiện thực khốc liệt của những năm tháng khổ đau một cách tường tận và chi tiết. Ngòi bút của Nguyễn Đình Thi như một máy quay phim tài ba và đặc biệt giúp cho người đọc nhận ra một bức tranh ngập đầy máu của chiến tranh. Nỗi đau của con người và màu của ráng chiều đổ xuống gợi nên một màu tang tóc, đau thương. Màu máu đỏ là thay thế hoàn toàn cho sắc xanh của bầu trời, màu vàng óng của cánh đồng lúa. Nhưng ở hai câu sau, mạch cảm xúc có sự chuyển đổi. Tác giả nói tới hình ảnh của người chiến sĩ ra trận từ trong đau thương, đã quyết tâm nung nấu một ý chí mạnh mẽ. Câu thơ giàu chất hiện thực và chất lãng mạn. Vẽ nên hình ảnh sống động của người lính kiên cường bất khuất, lại vừa sâu lắng và lãng mạn của bài thơ.

    Và ở khổ thơ tiếp, Nguyễn Đình Thi đã lí giải sâu xa về sức sống, tinh thần ý chí chiến đấu của người dân:

    Từ những năm đau thương chiến đấu

    Đã ngời lên nét mặt quê hương

    Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

    Đã bật lên những tiếng căm hờn

    Câu thơ ngắt nhịp khoẻ, rắn rỏi, thể hiện sâu sắc niềm tự hào, kiêu hãnh của tác giả về sức sống và vẻ đẹp của cả dân tộc. Từ ngời và bật được dùng rất hay, sự trỗi dậy, hồi sinh kỳ diệu, sự toả sáng, sức sống của dân tộc.

    Bát cơm chan đầy nước mắt

    Bay còn giằng khỏi miệng ta

    Thằng giặc Tây thằng chúa đất

    Đứa đè cổ, đứa lột da

    Khổ thơ này đã khắc hoạ trực tiếp tội ác của kẻ thù với niềm căm thù, nỗi đau tột cùng của nhân dân. Hình ảnh bát cơm chan đầy nước mắt là hình ảnh mang tính biểu tượng. Mồ hôi hoà quyện với nước mắt. Câu thơ gợi ra nỗi đau, sự xót xa của con người trong nô lệ. Cách xưng hô đối lập giữa một bên là chính nghĩa: ta, cùng với một bên là sự phi nghĩa: bọn thằng, đứa., như bao căm thù và uất hận được dồn lại.

    Nhưng cho dù chiến tranh có khốc liệt như thế nào, dù quân thù tàn bạo đến đâu, chúng ta vẫn mang trong mình một khí phách anh hùng:

    Xiềng xích chúng bay không khóa được

    Trời đầy chim và đất đầy hoa

    Súng đạn chúng bay không bắn được

    Lòng dân ta yêu nước thương nhà

    Cấu trúc không, đầy như muốn phủ định lại những gì mà quân đội Pháp đang cố gắng làm ở Vỉệt Nam và khẳng định khí phách ngạo nghễ rất cao của dân tộc. Nhịp thơ mạnh mẽ, đanh thép làm cho câu thơ trở nên giàu sức biểu tượng. Sự đối lập giữa hai hình ảnh thơ xiềng xích và trời đầy chim, đất đầy hoa đã thể hiện tinh thần lạc quan của nhân dân, khí phách anh hùng của dân tộc bất chấp sự tàn khốc của chiến tranh và quân thù. Thể hiện sự tin tưởng vào chiến thắng sau này. Nguyễn Đình Thi đã chạm đến mạch nguồn sâu xa của truyền thống dân tộc và đã khẳng định rằng: dân tộc Việt Nam không chỉ có khí phách anh hùng mà còn có khát vọng tự do và hoà bình.

    Ở hai khổ tiếp theo, Nguyễn Đình Thi đã miêu tả cuộc chiến đấu của nhân dân ta:

    Khói nhà máy cuộn trong sương núi

    Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng

    Ôm đất nước những người áo vải

    Đã đứng lên thành những anh hùng

    Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội

    Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh

    Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

    Lòng ta bát ngát ánh bình minh

    Đó là niềm tin và hi vọng chiến thắng mạnh mẽ trong lòng tác giả. Nhịp thơ như giục giã, vẫy gọi mỗi con người trên con đường ra trận, tạo ra âm hưởng hào hùng của những con người anh hùng trong một đất nước anh hùng. Đó còn là sự tự hào của tác giả, những câu thơ đậm chất lãng mạn và sử thi. Thể hiện một cảm xúc tươi mới đầy tin tưởng. Tràn đầy âm hưởng hào hùng. Hai hình ảnh nắng đốt và mưa dội là quá trình gian khổ thăng trầm của dân tộc. Song từ trong gian khổ, khó khăn ấy, dân tộc vẫn đứng lên. Hai câu thơ kết giàu hình ảnh tráng lệ. Hình ảnh trán cháy rực và bát ngát ánh bình minh gợi lên nét vẽ rạng ngời về những đứa con của Tổ quốc Dù có hi sinh, vất vả thì vẫn quyết tâm giành lại độc lập. Hình ảnh rất độc đáo, diễn tả sự tháng hoa của cảm xúc, niềm tin được thắp sáng. Người đọc hình dung được hình ảnh ngọn lửa của thất vọng. Câu thơ cuối tràn đầy kiêu hãnh, niềm vui, khát vọng bùng nở hi vọng. Sự bát ngát của trời đất là sự bát ngát của niềm tin con người.

    Và giờ đây, qua bao nhiêu khó khăn, khốc liệt, bao hi sinh, đất nước ta đã được độc lập:

    Súng nổ rung trời giận giữ

    Người lên như nước vỡ bờ

    Nước Việt Nam từ máu lửa

    Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

    Hai câu đầu tái hiện sinh động không khí của cuộc chiến, cùng với khí phách anh hùng của con người Việt Nam. Câu thơ thứ nhất ngập tràn tiếng rung, khiến người đọc cảm nhận được sự dữ dội. Động từ rung được dùng khá chính xác, không chỉ là sự rung chuyển, khuynh đảo mạnh mẽ mà còn diễn tả niềm căm thù tột cùng đối với quân thù.

    Nguyễn Đình Thi đã sử dụng biện pháp nhân hoá và so sánh tài tình, ông khiến cho người đọc, ngay lập tức sau khi đọc song hai câu đầu, cảm nhận được sự khốc liệt và sự mạnh mẽ, khí thế của quân đội ta phải ngập trời đất. Đến tận cuối bài thơ, tác giả mới gọi tên Việt Nam với sự tự do, tự chủ, sự kiêu hãnh. Ông cảm nhận được hình ảnh đất nước trong lòng. Từ máu lửa và bùn đen đã bật dậy và sáng loà, rực rỡ huy hoàng. Câu thơ giàu giá trị biểu tượng và tính khái quát, cộng với tính nghệ thuật rất cao. Nhịp thơ 2/2/2 vận động khoẻ khoắn, sự vươn lên của dân tộc bởi một sức sống kì vĩ và bất tử.

    Bài thơ kết thúc bằng ánh sáng, thể hiện niềm tin và khát vọng mạnh mẽ, vinh quang. Đất nước đã ghi lại và vẽ nên một hình ảnh đất nước Việt Nam với bao thăng trầm, khói lửa để đến được ngày độc lập. Đất nước xứng đáng được coi là cuốn biên niên sử nước ta bằng thơ. Đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sử thi và sáng tạo nghệ thuật tài năng của Nguyễn Đình Thi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Nhớ Của Nguyễn Đình Thi
  • Đến Với Bài Thơ Hay: “nhớ Con”
  • Nhớ Nhà Thơ Phạm Tiến Duật
  • Bình Bài Thơ “nhớ” Của Phạm Tiến Duật
  • Bình Bài Thơ “nhớ”của Phạm Tiến Duật
  • Quê Hương Trong Thơ Tạ Bá Hương. Nguyễn Hữu Dực

    --- Bài mới hơn ---

  • Chùm Thơ Viết Cho Quảng Ninh – Vũ Đan Thành
  • Những Bài Thơ Ngắn Hay Về Hạ Long
  • Mấy Bài Thơ Hay Về Mùa Xuân
  • Thơ 7 Chữ Về Mùa Xuân, Tập Làm Bài Thơ 7 Chữ Về Mùa Xuân
  • Top 15 Bài Thơ Hay Về Mưa Xuân
  • QUÊ HƯƠNG TRONG THƠ TẠ BÁ HƯƠNG. Nguyễn Hữu Dực

    Thứ 2, ngày 3 tháng 4 năm 2022 – 8:16

    Trong mỗi chúng ta ai cũng có một quê hương, với tuổi thơ đầy kỷ niệm. Nhớ đến quê hương, ta thường nhớ đến hình ảnh quen thuộc như: Cây đa, bến nước, sân đình, bờ tre, bụi chuối, hay con đường đi học về với cánh diều vi vút ngân nga.

    Những người quen biết và từng đọc thơ Tạ Bá Hương đều cảm nhận ở nhà thơ trẻ này nguồn cảm xúc từ tình yêu quê hương, mảnh đất nơi anh sinh ra và nuôi anh lớn khôn, cho anh một tâm hồn, cái khiếu để làm thơ. Trong thơ anh có thiên nhiên, con người chuyển động đa chiều gắn với kỷ niệm. Mượn thơ anh bộc bạch tâm tư, tâm trạng, lúc thì xót xa, khi thì đằm thắm tình người, ở đấy mỗi chữ, mỗi vần động chạm tới tâm hồn bao người xa quê.

    Tạ Bá Hương quê ở xã Thái Hòa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Như anh tâm sự: Quê mình nghèo lắm, đất ruộng thì ít đất đồi thì nhiều “đất cằn cỗi hiếm hoi từng cơn gió”. Nơi cha mẹ mưu sinh giành giật từng hạt lúa, hạt ngô, mong sao qua “tháng ngày khao khát”. Từ những trăn trở ấy tạo nên mạch nguồn cảm xúc:

    “Con thả thơ mình về với sông Lô

    Xếp đôi vần làm con thuyền mơ ước”

    Viết thơ chỉ làm con thuyền mơ ước thôi, mong sao quê hương qua nhanh những tháng ngày gian khổ. Tôi nghĩ đấy là những câu thơ đầu tiên Tạ Bá Hương viết về quê hương mà đã day dứt quặn lòng. Sau này thoát ly ra với cơ chế thị trường “phồn hoa”, viên sỏi Tạ Bá Hương bị va đập. Tác giả có điều kiện nhìn nhận, so sánh, anh càng yêu quý quê mình, chỉ có nơi ấy mới hiểu mình “người chen chúc phố vẫn nghèo tri âm” là thế.

    Mặc dù cuộc sống hôm nay, chưa phải ngày một ngày mai đã đủ đầy, song quê hương với tác giả và bao người vẫn là “nợ lần” nhân nghĩa phải trả.

    “Với quê ta nguyện đa mang nợ lần”

    Viết được những câu thơ như thế, nhất là ở người trẻ phải tư duy, động não lắm. Tạ Bá Hương đã cắt nghĩa tại sao mình phải dành những vần thơ cho đất mẹ.

    Trong thơ Tạ Bá Hương người ta gặp người bà, người mẹ, một nắng hai sương tảo tần sớm hôm chăm lo cho con cháu, từng miếng ăn manh áo “trong bữa ăn âm thầm ngoại khóc/Dành cơm cho con ngô sắn nhận riêng mình”. Trong bài thơ “Mẹ” tác giả viết:

    “Câu thơ cũ lời ru mẹ hát

    Thương thân cò một nắng hai sương

    Mồ hôi mẹ sớm chiều lại đổ

    Cho xanh đồng hạt lúa thêm hương”

    Câu thơ thấu hiểu nỗi đau, nhọc nhằn của mẹ. Lời ru ấy vẫy gọi về một thời không thể nào quên. Ca dao có câu “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Tạ Bá Hương trôi theo cảm xúc ấy nhưng anh có suy tưởng của riêng mình.

    “Chiều xuống rồi nhập nhoạng dáng hoàng hôn

    Câu hát xưa gọi con về một thuở

    Giữa quê hương vẫn thấy mình bé nhỏ

    Muốn òa lên nức nở chiều nay”

    Trong cái “nhập nhoạng” của hoàng hôn nghe câu hát cũ, chao ôi! buồn đến nao lòng, phát khóc lên được, câu thơ thật lòng mà day dứt.

    Khi cảm hứng dạt dào, sức sáng tạo phong phú. Những góc cạnh của quê hương cũng được tác giả nâng niu trau chuốt trong từng câu chữ. Nghe Tạ Bá Hương viết về rừng, xưa thì “Những mảnh nương như cái quần chắp vá/Gieo vào lòng hốc đá từng vốc mồ hôi” nay thì “Rừng ưỡn vồng ngực tròn căng che chở xóm làng”. Những ký ức ngày xưa, bây giờ pha trộn, so sánh, làm câu thơ sinh động, nó như một bức tranh quê, mà những nét vẽ bật lên từ những câu thơ của tác giả vậy.

    Ta bắt gặp mái trường nơi “Kỷ niệm tươi nguyên màu mực tím/Như thấp thoáng đâu đây tiếng nô đùa” chỉ hai dòng thơ đấy thôi mà ngày đi học bỗng nhiên hiện về với phấn trắng, bảng đen với đùa nghịch của tuổi học trò nên “Vệt thời gian còn hằn trên bậc cửa” nỗi nhớ không nguôi như tiếng ve óng ả bao mùa hè đi qua.

    Tạ Bá Hương nhớ về người thầy của mình, đẹp lắm, từ mái tóc, nụ cười đều sưởi ấm lòng chúng con. Tôn sư trọng đạo nét đẹp của mỗi người Việt Nam. Tác giả mượn câu: “Ăn quả nhớ người trồng cây” để nhớ ơn thầy, đồng thời với riêng mình gọi thầy là ngọn lửa. Câu thơ trân trọng với bao thế hệ khi thăm lại trường xưa nơi chắp cánh vào tương lai cho mình.

    Cảm hứng về quê hương, phải xuất phát từ tấm lòng yêu quê hương. Khi tất cả những chấm phá được vẽ lên trong các gam màu cung bậc. Gặp một câu thơ đẹp, thấy nhớ, nhập tâm khi khác muốn đọc lại. Tạ Bá Hương có những câu thơ nhân hậu gieo vào lòng người đọc không ít suy nghĩ.

    “Cánh đồng gieo hạt mồ hôi

    Đường cày cha dạy cho tôi lần đầu

    Đói nghèo biết sẻ san nhau

    Giếng làng đêm thức tiếng gầu lâm râm”

    Đi qua tuổi thơ, nhiều người giật mình với quá khứ, lúc thăng lúc trầm, cũng là lẽ thường tình. Tôi thích cái “nao nao” của Tạ Bá Hương trong bài thơ “Ngoảnh lại” cái ngày gian khổ qua rồi, nghĩ lại còn toát mồ hôi. Nhưng nó nuôi cho anh tiếng thơ chững chạc, không sợ gian nan thử thách, một giọng thơ tâm tình nhẹ nhàng, sâu lắng, ân nghĩa thủy chung.

    “Bết bùn dính lấm bàn tay

    Đất quê mộc mạc hồn đầy trăng treo

    Ngả đời đếm bước gieo neo

    Tôi như hạt thóc mẹ gieo ngoài đồng

    Cứ hồn nhiên cứ âm thầm

    Tự thân tách vỏ đội mầm lớn lên”

    Sau tất cả những vần thơ hay nhất viết về quê hương từng “chùm khế ngọt”, đã khắc họa một Tạ Bá Hương trong lòng người đọc. Bên cạnh thể thơ tự do, những bài hay thường ở thể thơ lục bát. Thơ lục bát dễ làm, nhưng cũng rất khó nếu không tìm tòi, gọt dũa, chắt lọc. Thơ lục bát anh viết có hồn, có sự gợi cảm trong lòng người đọc. Bạn thơ chờ đón ở anh những vần thơ viết về mảng đề tài dân tộc, câu thơ chắc sẽ xúc động và hay hơn nhiều.

    Tạ Bá Hương, đường đời, đường thơ đang vào độ chín. Con người mảnh đất vùng cao nên thơ lắm. Ai cũng muốn nạp vào hành trang của mình những tư liệu quý. Mỗi người mỗi quê, về quê như về nhà mình vậy. Viết về quê hương là ta trả nghĩa cho mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình. Làm nên những câu thơ chân thật, chất núi, nồng say của rừng, đằm thắm tình người.

     

    N.H.D

    Lượt xem:858

    Bản in

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiến Văn Tái Xuất Bình Bài Thơ Tuyên Quang Của Phan Nguyễn
  • Những Bài Thơ Nặng Nghĩa Tình
  • Vẻ Đẹp Lôi Cuốn Của Xứ Tuyên
  • Vĩnh Phúc Quê Em…! (Thơ Kim Giang)
  • Bài Thơ Ca Ngợi Đất Nước
  • Phân Tích Bài Thơ “quê Hương” Của Tế Hanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Số 28 Của Tago
  • Phân Tích Bài Thơ Số 28 Của R.tago
  • Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Đạt 9.5 Điểm
  • Những Bài Thơ Hay Viết Về Ngày Tết
  • Bài làm

    Quê hương luôn là đề tài không bao giờ cạn kiệt đối với các thi sĩ. Mỗi người có một cách nhìn, cách cảm nhận riêng, đặc trưng về quê hương của mình. Chúng ta bắt gặp những bài thơ viết về quê hương của Đỗ Trung Quân, Giang Nam, Tế Hanh. Trong đó sự nhẹ nhàng, mộc mạc của bài “Quê hương” tác giả Tế Hanh khiến người đọc xốn xang khi nhớ về nơi đã chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng tâm hồn của mình.

    “Quê hương” là hai tiếng thân thương, được tác giả dùng làm nhan đề của bài thơ. Mở đầu bài thơ bằng sự mộc mạc, chân thành mà sâu sắc:

    Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

    Nước bao vây cách biển nửa ngày sông

    Hai câu thơ như một lời kể tâm tình rất đỗi bình dị nhưng đã khiến người đọc hình dung được mảnh đất mà tác giả đáng sống là một vùng một biển, làm nghề chài lưới. Một ngôi làng giản dị, chân chất. Hình ảnh “nước”, “biển” rất đặc trưng cho một vùng quê làng biển. Có lẽ những điều bình dị đó khiến cho tác giả vẫn luôn mong ngóng, nhớ nhung khi xa quê hương.

    Những câu thơ tiếp theo gợi tả lên một khung cảnh tuyệt đẹp mỗi khi sáng mai thức dậy. Sự tinh tế của ngôn từ và cảm xúc khiến cho vần thơ trở nên trữ tình, tuyệt đẹp:

    Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng

    Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

    Một loạt từ ngữ mang tính chất liệt kê khung cảnh, không gian thanh bình, tươi đẹp của cảnh biển vào buổi sáng. “Gió nhẹ”, “sớm mai hồng” là những gì còn neo giữ trong lòng của tác giả khi nhớ về quê hương. Và một hoạt động vẫn diễn ra đầu ngày là “bơi thuyền đi đánh cá” được tác giả vẽ nên rất nhẹ nhàng nhưng khỏe khoắn.

    Chiếc thuyền hăng như con tuấn mã

    Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

    Nếu những câu thơ trên nhẹ nhàng, tinh tế bao nhiêu thì hai câu thơ này càng mạnh mẽ , quyết liệt và khỏe khoắn bao nhiêu. Với hai động từ “hăng”, “phăng” kết hợp với phép so sánh độc đáo khiến cho bức tranh đi đánh cá trở nên giàu chất tạo hình, giàu đường nét và giáu cá tính mạnh. Với động từ “phăng” đã phần nào gợi tả lên sự khéo léo kết hợp sự tinh tế và khỏe mạnh của những người dân vùng chài lưới.

    Hai câu sau lại trở về với vẻ lãng mạn đến bất ngờ:

    Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

    Rướn thân trắng bao la thâu góp gió

    Một hình ảnh bình dị, thân quen như cánh buồm nhưng trong thơ của Tế Hanh lại có hồn, đậm chất thơ. Phép so sánh cánh buồn “như mảnh hồn làng” có sức gợi rất sâu sắc, bởi rằng đối với những người làm nghề chài lưới thì cánh buồm chính là biểu tượng cho cuộc sống của họ. Một sự so sánh hữu hình và vô hình đã làm nên sự sáng tạo nghệ thuật tuyệt vời. Con thuyền đã mang theo cả tin yêu, hạnh phúc và hi vọng của những người dân nơi đây.

    Câu thơ khỏe khoắn và tự nhiên đã phần nào làm toát lên được khí thế hào hùng trong công cuộc chinh phục biển khơi.

    Tế Hanh đã miêu tả nên một bức tranh thiên nhiên và bức tranh lao động sáng tạo tuyệt vời nhất. Đó là niềm tự hào, sự ca ngợi quê hương, đất nước.

    Đặc biệt, khung cảnh dân chài lưới chào đón thành quả sau một ngày căng thẳng vất vả được miêu tả chân thực và đầy niềm vui:

    Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ

    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về

    Nhờ ơn giời biển lặng cá đầy ghe

    Những con cá tươi ngon thân bạc trắng

    Hình ảnh dân làng “ồn áo”, “tấp nập” đã phần nào tái hiện được không khí vui tươi và phấn khởi của người dân chài sau một ngày hoạt động hết công suất. Những con cá “tươi ngon” nằm im lìm là những thành quả mà họ đạt được.

    Và có lẽ hình ảnh con người mạnh mẽ, khỏe khoắn là hình ảnh trung tâm không thể thiếu trong bức tranh ấy

    Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

    Cả thân hình nồng thở vị xa xăm

    Hình ảnh thơ mặn mòi, đậm chất biển, vừa khỏe khoắn, vừa chân chất vừa mộc mạc toát lên được vẻ đẹp của những con người vùng biển quanh năm vất vả. Tế Hanh đã phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn đó như một điều bình dị trong cuộc sống này.

    Và có lẽ những hình ảnh thân quen nơi làng quê ấy đã khiến cho Tế Hanh dù đi xa nhưng vẫn không thể nào quên, vẫn nhớ về đau đáu:

    Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

    Màu nước xanh cá bạc chiếc buồm vôi

    Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi

    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá.

    Một khổ thơ dạt dào tình cảm, nghèn nghẹn ở trong trái tim tác giả khi nhớ về mảnh đất thân yêu một thời. Nỗi nhớ quê dạt dào không nguôi khi những hình ảnh thân quen ấy cứ ùa về.

    Thật vậy bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh không chỉ là riêng tình cảm của tác giả giành cho quê hương; mà bài thơ này còn nói hộ rất nhiều tấm lòng khác đang ở xa quê hương. Chúng ta càng trân trọng hơn nữa mảnh đất chân rau cắt rốn, yêu hơn nữa những điều bình dị nhưng thiêng liêng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Quê Hương Lớp 8
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh Văn Hay Chọn Lọc Lớp 8
  • Giáo Án Bài Thơ Ông Mặt Trời
  • Chùm Thơ Nỗi Nhớ Cha Mẹ Của Người Con Xa Xứ Thật Hay
  • 1001 Bài Thơ Tiếc Thương Cha Mẹ Đã Mất, Nhớ Hơi Ấm Ngày Xưa!
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Đỗ Trung Quân

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Lớp 7 Cực Hay
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Của Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Bài Thơ Rằm Tháng Giêng (Nguyên Tiêu) Của Hồ Chí Minh
  • Ðọc Lại Bài Thơ “nguyên Tiêu” Của Bác Hồ
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng
  • Số lượt đọc bài viết: 40.913

    • 1 Bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân – tác giả và tác phẩm
      • 1.1 Đôi nét về tác giả Đỗ Trung Quân
      • 1.2 Giới thiệu bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân
    • 2 Phân tích bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân
      • 2.1 Lời đề từ trong bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân
      • 2.2 Quê hương qua hai khổ thơ tiếp theo
      • 2.3 Quê hương qua ba khổ thơ cuối
    • 3 Nhận xét về bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân

    Bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân – tác giả và tác phẩm

    Trước khi phân tích về bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân, chúng ta cùng tìm hiểu về những thông tin cơ bản về tác giả và tác phẩm.

    • Nhà thơ Đỗ Trung Quân sinh ngày 19 tháng 1 năm 1955 là một nhà thơ Việt Nam. Nhiều bài thơ của ông được phổ nhạc và được nhiều người yêu thích như Quê hương, Phượng hồng
    • Năm 1979, ông tham gia phong trào Thanh niên xung phong và bắt đầu sáng tác. Một số bài thơ do ông sáng tác trở thành nổi tiếng như (1978).

    Giới thiệu bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân

    • Bài thơ được đăng lần đầu vào năm 1986 với tên gọi là Bài học đầu cho con.
    • Vào đầu thập niên 1990, bài thơ này được phổ nhạc và trở nên nổi tiếng, được rất nhiều người yêu mến.

    Phân tích bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân

    “Quê hương là gì hả mẹ Mà cô giáo dạy hãy yêu? Quê hương là gì hả mẹ Ai đi xa cũng nhớ nhiều?”

    Để hiểu hơn về bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân, chúng ta cùng tìm hiểu, phân tích và cảm nhận qua từng khổ thơ.

    Lời đề từ trong bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân

    Những vần thơ giản dị nhẹ nhàng cất nghe sao nghe quá đỗi thân thương. Một câu hỏi yêu của một cháu nhỏ mà nặng lòng đến thế. Quê hương là gì? Là những nỗi nhớ mong, là những điều giản dị mà ai đi xa cũng nhớ nhiều. Hai câu hỏi tu từ kết thúc câu sao nhẹ nhàng thắm thiết như chính những lời bỏ ngỏ cho những vần thơ sau.

    Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học con về rợp bướm vàng bay”

    “Quê hương là chùm khế ngọt” – chùm khế ngọt nhỏ bé, ngọt mát, êm dịu, một thứ quà quê thanh đạm, bình dị, quá đỗi bình dị mà sao day dứt và ám ảnh ? Có lẽ vị ngọt thanh của khế làm mát dịu lòng ta, trái khế ngọt mang hương vị của ca dao cổ tích, dư vị thắm thiết của tình nghĩa con người.

    Đấy là quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ta sinh ra và lớn lên, nơi những người thân yêu của ta ở đó, nơi ta đã đi qua thời thơ dại với con đường đến trường rợp bướm vàng bay.

    Tuổi thơ con thả trên đồng Quê hương là con đò nhỏ Êm đềm khua nước ven sông”

    Hình ảnh con bướm vàng cũng là một hình ảnh thực và đặc sắc của làng quê mà ở thành phố không bao giờ thấy được. Nhà thơ Giang Nam nhớ về tuổi thơ “Có những ngày trốn học đuổi bướm cạnh cầu ao – Mẹ bắt được chưa đánh roi nào đã khóc”, nhà thơ Huy Cận nhớ “Một buổi trưa không biết ở thời nào – Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao – Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ”.

    “Quê hương là cầu tre nhỏ Mẹ về nón lá nghiêng che Là hương hoa đồng cỏ nội Bay trong giấc ngủ đêm hè”

    Và nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa viết bài thơ đầu tiên của mình là bài Con bướm vàng. Ở bài thơ Quê hương nêu trên, hình ảnh con đường đi học “rợp bướm vàng bay” đẹp như một giấc mơ, đẹp như trong truyện cổ tích vậy.

    “Quê hương là vàng hoa bí Là hồng tím giậu mồng tơi Là đỏ đôi bờ dâm bụt Màu hoa sen trắng tinh khôi Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ…..”

    Quê hương xuất hiện với định nghĩa bình dị như con diều biếc chao nghiêng trên bầu trời tuổi thơ. Quê hương còn là những cánh đồng bát ngát hương lúa, là con đò nhỏ khua nước bên dòng sông thơ mộng. Những hình ảnh được nhà thơ sử dụng thật bình dị mà vô cùng tinh tế.

    Hình ảnh quê hương đẹp đẽ, lung linh, trọn vẹn và thiêng liêng qua những kỉ niệm bình dị và ngọt ngào với cầu tre nhỏ, với nón lá mẹ đội, với hoa cỏ đồng nội và với những giấc ngủ đêm hè.

    Những điều thân thuộc, những kỉ niệm dung di và những ký ức giản đơn chính là quê hương, là nơi chôn rau cắt rốn của mỗi người. Bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân cũng đẹp tựa như thế với hoa bí vàng, giậu mồng tơi, là những cánh hoa râm bụt, là đóa sen trắng tinh khiết.

    Ba câu thơ kết bài như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng – một hình ảnh so sánh mang ý nghĩa sâu sắc. Quê hương được so sánh với mẹ vì đó là nơi ta được sinh ra, được nuôi dưỡng lớn khôn, giống như người mẹ đã sinh thành nuôi ta khôn lớn trưởng thành. Vì vậy, nếu ai không yêu quê hương, không nhớ quê hương mình thì không trở thành một người tốt được. Lời thơ nhắc nhở mỗi chúng ta hãy luôn sống và làm việc có ích, hãy biết yêu quê hương xứ sở, vì quê hương là mẹ và mẹ chính là quê hương, vì “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn” (nhà thơ Chế Lan Viên).

    Dù có đi đâu xa, hơi thở của quê hương vẫn bên ta, để ta luôn có một góc nhỏ bình yên với tâm hồn. Khi ta lớn lên, ta ra đi, bon chen, lặn lội trên đường đời. Bao nhiêu mệt mỏi, bao nhiêu tủi hờn, ấm ức, ta vẫn cố chịu, để rồi khi trở về nhìn thấy rặng tre đầu làng, con đê trước sông và nhận ra mái nhà thân quen của ta đâu đó trong xóm, ta lại bật khóc, tiếng khóc vỡ òa ra vì để trú hết tủi hờn, đau buồn, tiếng khóc vờ vì một niềm hạnh phúc vô bờ bến. Ôi ! Sao mà yêu thương thế!

    Về với quê hương, như về với ký ức, như về với bản chất con người thuần túy, quê hương cho ta sự yên ả, tĩnh lặng, sự bình dị, thanh tịnh. Ta như điên cuồng muốn ôm lấy quê hương mà hôn, mà yêu. Ta như muốn chạm tay vuốt ve tất cả mọi thứ, rồi hét lên rằng “Quê hương ơi! Con đã về”. Ta chỉ muốn nhìn hết, thu hết mọi sự yêu thương ấy để vào trong tim, cho nó cùng sống, cùng chết với ta. Như vậy ta sẽ chẳng còn cô đơn, chẳng còn thương nhớ nữa.

    Mọi sự vật nơi đây đều có một linh hồn riêng biệt. Linh hồn ấy mãi mãi chẳng đổi thay. Mọi linh hồn ấy đều sẵn sàng dang tay chào đón ta trở về. Cái đụn rơm này, cái cây đa già này, cả cái mùi ẩm mốc của đất quê này… Tất cả, tất cả đều vây lấy ta, trò chuyện với ta, hơn hết chúng đã giúp ta chữa lành mọi vết thương lòng.

    Với ta, quê hương luôn gắn với vòng tay của bà, của mẹ, là nụ hôn, là giọt nước mắt. Quê hương thơm mùi canh cà chua, tròn như quả cà, xanh như màu rau muống luộc. Đâu phải vì chưa từng ăn những thứ đó, mà sao giờ đây, nó lại ngon đến thế!. Quê hương sôi nổi và mộc mạc trong những câu chuyện vui rôm rả của làng xóm mỗi buổi tối trăng sáng, là nụ cười ngây thơ đến mê hồn của lũ trẻ con. Ta muốn yêu, yêu hết tất cả mọi thứ của mảnh đất này.

    Quê hương là một cái gì đó như rằng buộc, như một thứ kỳ diệu khiến ngày ta phải ra đi, tiến một bước nhưng muốn lùi hai bước. Phải ra bến xe nhưng lại chạy ra sông ngồi ngẩn ngơ một lúc, ngắm nhìn dòng suối bạc lấp lánh đến chói mắt khi mặt trời chiếu xuống. Quê hương ơi là quê hương!

    Nhận xét về bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân

    Trong bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân, nhà thơ đã sử dụng biện pháp lặp từ ngữ, lặp cấu trúc ngữ pháp câu, biện pháp liệt kê, cấu trúc thơ vắt dòng rất đặc sắc. Khung cảnh làng quê trên mọi miền Tổ quốc Việt Nam hiện lên thân thương, giản dị mà xúc động lòng người.

    Những cặp câu thơ dần hiện lên như những thước phim quay chậm, cảnh vật có gần có xa, có mờ có tỏ, có lớn có nhỏ. Nhịp thơ đều đặn, nhịp nhàng, gần như cả bài thơ chỉ có một nhịp 2/4.

    Cả ba khổ thơ với những câu thơ cùng một nhịp, kết cấu giống nhau nhưng vẫn nhẹ nhàng, thanh thoát vô cùng. Phải chăng, vẻ đẹp của những hình ảnh thơ đã làm cho người đọc quên đi hình thức bên ngoài của ngôn ngữ? Nhà thơ đã biến cái không thể thành cái có thể, và được độc giả nồng nhiệt đón nhận bằng một sự đồng cảm rất tự nhiên.

    Người xưa nói “hãy xúc động hồn thơ để ngọn bút có thần”. Với lòng yêu quê hương thiết tha, nhà thơ đã vẽ lên bức tranh quê hương mang hồn quê, cảnh quê, người quê bằng một ngọn bút có thần…

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Luận Xã Hội Về Lòng Yêu Quê Hương
  • Thơ Thiếu Nhi Chọn Lời Bình: Mít Thơm
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Vịnh Quả Mít (Hồ Xuân Hương)
  • Tả Quả Dưa Hấu, Quả Mít Lớp 5 Ngắn Gọn Hay Nhất 3 Bài Văn Mẫu
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Quạt Cho Bà Ngủ Đặc Sắc Chứa Đựng Nhiều Tình Cảm Của Nhà Thơ Thạch Quỳ
  • Tình Cảm Gia Đình, Tình Yêu Quê Hương Hòa Quện

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn: Bình Luận Bài Thơ “Bếp Lửa”
  • Người Thiếu Niên Dũng Cảm
  • Ngữ Văn 11 Bài Thơ: Tôi Yêu Em (A. X. Pu
  • Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Từ Thuở Yêu Em”, “Anh Còn Yêu Em”, “Anh Còn Nợ Em” – Phạm Thành Tài & Anh Bằng
  • Em Ngược Đường Ngược Nắng Để Yêu Anh – Câu Thơ Chất Chứa Sự Xót Xa
  • Chỉ là một tiếng gà mái nhảy ổ cục tác trong nắng trưa, chỉ là một bếp lửa chờn vờn trong s­ương sớm,… mà có biết bao nghĩa tình, mà sao tha thiết, lắng sâu đến thế! Thì ra, có khi những điều nhỏ nhoi, giản dị nhất lại ẩn chứa tâm tình, chắt đọng những điều thiêng liêng, là hiện hình của những tình cảm thiết tha, chân thành, không thể nào quên. Tiếng gà trư­a đánh thức trong Xuân Quỳnh những kỉ niệm về một thời ấu thơ sống trong tình thương yêu của bà. Còn với Bằng Việt, trong bài thơ Bếp lửa (1963), như chính nhan đề của nó (cũng như­ nhan đề của bài thơ của Xuân Quỳnh: Tiếng gà trưa), “Bếp lửa” đã trở thành một hình ảnh biểu trưng cho sự ấm áp, nồng đư­ợm của tình bà cháu. “Bếp lửa” khơi gợi, làm nhen lên, lan toả, cháy mãi dòng hồi ức tuổi ấu thơ, thao thức, đ­ượm buồn.

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đư­ợm

    Cháu thương bà biết mấy nắng m­ưa.

    Bài thơ đã bắt đầu như thế. Bắt đầu bằng hình ảnh bếp lửa “chập chờn trong sương sớm, chập chờn trong kí ức. Hơi ấm của bếp lửa bắt đầu truyền thấm, bắt đầu nhen nhóm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc thương yêu của cháu khi nhớ về bà. Hình ảnh “Một bếp lửa” điệp lại hai lần như­ nhắc nhớ, nh­ư hơi thổi vào bếp lửa đang “ấp iu”, để nhịp hồi t­ởng bắt đầu… Để trong những dòng thơ tiếp theo, bao kỉ niệm thân thư­ơng ùa về:

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    (…)

     Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    Cháu nhớ, từ lúc cháu mới lên bốn tuổi, sống bên bà “tám năm ròng”… Nhớ quê mình ngày ấy, những ngày “đói mòn đói mỏi”, những ngày “bố đánh xe khô rạc ngựa gầy”, nhớ “khói hun nhèm mắt”, “sống mũi còn cay” đến tận bây giờ… Nhớ bà kể chuyện Huế trong tha thiết tiếng tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu từ cánh đồng xa, da diết, khắc khoải vọng về, nghe chộn rộn, nao nao, lại như­ se sắt, xa xăm. Nhớ khi vắng bố mẹ, “bà bảo cháu nghe”, “dạy cháu làm”, “chăm cháu học”. Nhớ “Năm giặc đốt làng”, cháu giúp bà dựng lại nhà. Nhớ lời bà dặn khi viết thư­ để bố yên tâm,… Cứ thế, trong dòng hồi nhớ nôn nao, những sự việc cụ thể hiện về nguyên vẹn từng chi tiết như­ thể vừa mới xảy ra hôm qua đây thôi. Và thấm đẫm trong từng hình ảnh, từng sự việc ấy là tình cảm sâu nặng của cháu với bà, hướng về bà. Hình ảnh người bà được khắc hoạ gắn liền với bếp lửa, là khi “cháu cùng bà nhóm lửa”, “Nhóm bếp lửa nghĩ th­ương bà khó nhọc”, “Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen”, “Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm – Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đ­ượm”,…

    Hình ảnh bếp lửa trở đi trở lại (12 lần) trong suốt bài thơ. Cuộc đời bà lận đận, khó nhọc, giãi dầu mưa nắng như­ng bà luôn dành cho cháu tình th]ương yêu, săn sóc, chở che ấm nồng nh­ư bếp lửa. Bà – bếp lửa là hai mà như một, hoà quyện, hun thấm, thiêng liêng. Bếp lửa gợi nhắc hình bóng thân thiết của bà, và nhớ đến bà là cháu lại không thể quên bếp lửa ấm tình thủa ấy. Bếp lửa đã không còn chỉ là bếp lửa thông thư­ờng nữa. Bà nhen lửa là bà nhen lên:

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng

    Bà nhóm lửa là bà:

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

    Từ ngọn lửa đư­ợc nhen lên từ bếp lửa của bà hoá thành ngọn lửa của tình thương yêu ấp ủ, ngọn lửa của niềm tin yêu bền bỉ cháy mãi không thôi. Bà nhóm lửa là bà nhóm lên, truyền cho cháu lẽ sống, lòng cảm thông chia sẻ. Mỗi khi xúc cảm kết thành những suy ngẫm sâu xa, lời thơ lại trào dâng lên như­ những điệp khúc bập bùng, chứa đựng niềm xúc động r­ưng r­ưng, rần rật cháy trong mạch tự sự của nhân vật trữ tình.

    Những hình ảnh thực, cụ thể, vốn rất đỗi gần gũi, thân quen đã được tác giả nâng lên thành những hình ảnh biểu t­ượng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc. Điều bình dị đã trở nên quý giá, thiêng liêng, kì lạ. Kì lạ, thiêng liêng vì nó nhỏ bé, giản đơn mà đã trở thành hành trang theo cháu trong suốt cuộc đời. Kì lạ, thiêng liêng là vì “đã mấy chục năm rồi” mà bếp lửa của bà vẫn nồng đư­ợm trong cháu, ngọn lửa của bà vẫn thầm cháy trong cháu “đến tận bây giờ”.

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này bà nhóm bếp lên ch­ưa?…

    Bài thơ Bếp lửa đư­ợc sáng tác khi Bằng Việt đang là sinh viên ngành Luật của Trường Đại học Tổng hợp Ki-ép (Liên Xô cũ). Kì lạ và thiêng liêng biết bao khi trong cuộc sống đã ” Có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” mà lòng vẫn khôn nguôi hình ảnh ngư­ời bà với bếp lửa ở tận miền kí ức ấu thơ.

    Cứ nhẹ nhàng, mộc mạc mà thấm thía, sâu xa, bếp lửa của bà, ngọn lửa của bà, tình thương yêu của bà, cuộc đời bà đã soi rọi, toả ấm con đư­ờng cháu đi. Có thể cuộc sống hiện đại sẽ không còn nhiều ngư­ời biết đến bếp lửa nh­ư ở nơi quê nghèo ấy nữa, nhưng nó đã thành biểu tư­ợng, sẽ còn mãi giá trị “khơi gợi cho người đọc những kỉ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam”. Điều nhỏ nhoi, giản dị mà có ý nghĩa sâu sắc, lớn lao là như­ vậy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Hình Tượng Ngọn Lửa, Bếp Lửa Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Ấm Lòng Bếp Lửa Ngày Đông
  • Bằng Lời Của Người Cháu, Kể Lại Câu Chuyện Bếp Lửa (Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt)
  • Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Qua Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Bếp Lửa, Cảm Nhận Nỗi Nhớ Của Người Cháu Về Người Bà Hiền Hậu Và Bếp Lửa Quê Hương
  • Bài Thơ Xuân Tha Hương – Nỗi Lòng Người Xa Quê Của Nguyễn Bính

    --- Bài mới hơn ---

  • Triệu Quân – Bài Thơ ‘Xuân Tha Hương’ Của Nguyễn Bính
  • Xuân Tha Hương – Wikisource Tiếng Việt
  • Tôi Viết Bài Thơ Sao Đỏ
  • Bài Thơ Xuân Vãn Của Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), Được Dịch Ra Tiếng Anh
  • Những Vần Thơ Xuân Tâm Đắc Nhất
  • Bài thơ Xuân Tha Hương là một tác phẩm gần gũi với bạn đọc của nhà thơ Nguyễn Bính. Ông là một nhà thơ nổi bật trong nền văn học Việt Nam

    Thơ Nguyễn Bính “chân quê”, giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng, trong sáng, và hồn nhiên như ca dao trữ tình. Ông viết về làng quê qua lăng kính tình cảm lãng mạn, biểu lộ một tình quê, một hồn quê chân tình và gần gũi

    Bài thơ tràn đầy cảm xúc bộc lộ nỗi nhớ mong quê hương da diết của nhà thơ khiến độc giả bồi hồi xúc động và thêm phần cảm phục ngòi bút tài hoa của thi sĩ

    (Gửi chị Trúc)

    trăm câu một vần

    Tết này chưa chắc em về được

    Em gửi về đây một tấm lòng

    Ôi, chị một em, em một chị

    Trời làm xa cách mấy con sông

    Em đi trăng gió đời sương gió

    Chị ở vuông tròn phận lãnh cung

    Chén rượu tha hương, giời: đắng lắm

    Trăm hờn nghìn giận một mùa đông

    Chiều nay ngồi ngắm hoàng hôn xuống

    Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng!

    Tết này chưa chắc em về được

    Em gửi về đây một tấm lòng

    Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở

    Chị vẫn môi son vẫn má hồng?

    Áo rét ai đan mà ngóng đợi

    Còn vài hôm nữa hết mùa đông!

    Cột nhà hàng xóm lên câu đối

    Em đọc tương tư giữa giấy hồng

    Gạo nếp nơi đây sao trắng quá

    Mỗi ngày phiên chợ lại thêm đông

    Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết

    Một mình em vẫn cứ tay không

    Vườn nhà Tết đến hoa còn nở

    Chị gửi cho em một cánh hồng

    (Tha hương chẳng gặp người tri kỷ

    Một cánh hoa tươi đã lạnh lòng)

    Tết này chưa chắc em về được

    Em gửi về đây một tấm lòng

    Chao ơi, Tết đến em không được

    Trông thấy quê hương thật não nùng

    Ai bảo mắc duyên vào bút mực

    Sòng đời mang lấy số long đong

    Người ta đi kiếm giàu sang cả

    Mình chỉ mơ hoài chuyện viễn vông

    Em biết giàu sang đâu đến lượt

    Nợ đời nặng quá gỡ sao xong?

    Tết này chưa chắc em về được

    Em gửi về đây một tấm lòng

    Tết này, ô thế mà vui chán

    Nhưng một mình em uống rượu nồng

    Rượu cay nhớ chị hồi con gái

    Thương chị từ khi chị lấy chồng

    Cố nhân chẳng biết làm sao ấy

    Rặt những tin đồn chuyện bướm ong

    Thôi, em chẳng dám đa mang nữa

    Chẳng buộc vào chân sợi chỉ hồng

    Nàng bèo bọt quá, em lăn lóc

    Chấp nối nhau hoài cũng uổng công!

    (Một trăm con gái đời nay ấy

    Đừng nói ân tình với thuỷ chung!)

    Người ấy xuân già chê gối lẻ

    Nên càng nôn nả chuyện sang sông

    Đò ngang bến dọc tha hồ đấy

    Quý hoá gì đâu một chữ đồng!

    Vâng, em trẻ dại, em đâu dám

    Thôi, để người ta được kén chồng

    Thiếu nữ hoài xuân mơ cát sĩ

    Chịu làm sao được những đêm đông

    (Khốn nạn, tưởng yêu thì khó chứ

    Không yêu thì thực dễ như không!)

    Chị ơi, Tết đến em mua rượu

    Em uống cho say đến não lòng

    Uống say cười vỡ ba gian gác

    Ném cái chung tình xuống đáy sông

    Thiên hạ “Chi nghinh Nam Bắc điểu”

    Tình đời “Diệp tống vãng lai phong”

    Tết này chưa chắc em về được

    Em gửi về đây một tấm lòng

    Với lá thư này là tất cả

    Những lời tâm sự một đêm đông

    Thôn gà eo óc ngoài xa vắng

    Trời đất tàn canh tối mịt mùng

    Đêm nay em thức thi cùng nến

    Ai biết tình em với núi sông

    Mấy sông mấy núi mà xa được

    Lòng chị em ta vẫn một

    Tết này chưa chắc em về được

    Em gửi về đây một tấm lòng

    Cầu mong cho chị vui như Tết

    Tóc chị bền xanh, má chị hồng

    Trong mùa nắng mới sầu không đến

    Giữa hội hoa tươi ấm lại lòng

    Chắc chị đời nào quên nhắc nhở:

    Xa nhà, rượu uống có say không?

    Cảm thức về nỗi nhớ cố hương, không chỉ là cái riêng có của Nguyễn Bính, mà là căn tính ở mỗi người trong kiếp nhân sinh đã được thi nhân nâng lên thành một qui luật mang tính phổ quát. Đó là cái tình hoài hương trong những ngày xuân phải sống “lênh đênh” xa cách, khi mà nhu cầu đoàn tụ, sum họp bên ngôi nhà ấm êm ở quê hương mỗi khi Tết đến, đang là khao khát thiêng liêng đối với con người hơn bao giờ hết!

    ” Lênh đênh tóc rối cỏ bồng

    chiều ba mươi tết ai không nhớ nhà ”

    (Xuân về nhớ cố hương)

    Vì vậy, trong thơ Nguyễn Bính nói chung và thơ xuân của ông nói riêng, cảm thức về nỗi nhớ cố hương luôn thường trực và là thi hứng chủ đạo làm nên hệ mỹ học trong vũ trụ thơ của ông. Thế nên, trong bài thơ Xuân tha hương được Nguyễn Bính viết ở Huế, tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942, câu thơ “Tết này chưa chắc em về được”, thi nhân đã nhắc lại đến bảy lần và mỗi lần thể hiện một trạng thái khác nhau của cảm thức này. Nhưng tựu trung vẫn là sự xa cách và nhớ thương trong cô độc phận người của những ngày “xuân tha hương” mà khi chạm đến những câu thơ này lòng ta không thể không thấy xa xót và cảm thương đối với thi nhân. Điệp ngữ “Tết này chưa chắc em về được” như lưỡi dao cứa vào tim thi sĩ và người tiếp nhận vì sự ám ảnh khôn nguôi của xa cách và nhớ mong. Thi sĩ – kẻ tha hương dường như đang tha thiết kiếm tìm sự đồng cảm, tri âm trong nỗi đau xa xứ đang đè nặng tâm hồn ông đến “não nùng”…

    ” Tết này chưa chắc em về được

    Em gửi về đây một tấm lòng

    Ôi, chị một em, em một chị

    Trời làm xa cách mấy con sông ”

    ” Bốn bể vẫn chưa yên sóng gió;

    Xuân này em chị vẫn tha hương,

    Vẫn ăn cái Tết ngoài thiên hạ”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Thơ Nguyễn Bính – Xuân Tha Hương – Làng Mai
  • Tuyển Tập 11+ Bài Thơ Về Rượu
  • Xuân Đi Xuân Đến Xuân Lại Đến
  • Ung Dung Lễ Nhạc
  • Nửa Hồn Xuân Lộc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100