Top #10 ❤️ Phiên Âm Âm Vị Học Bài Thơ Bánh Trôi Nước Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Ngữ Âm Học Và Âm Vị Học

Trả Lời Chính Thức Của Viện Ngôn Ngữ Học Về Đề Xuất Cải Cách Chữ Viết Của Ông Bùi Hiền

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Hay Nhất

Phân Tích Hình Ảnh Người Phụ Nữ Qua Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

Vẻ Đẹp Của Người Phụ Nữ Việt Nam Qua Bài Thơ

Một Số Đề Ôn Thi Vào Lớp 10

Ngữ âm học và âm vị học

Việc nghiên cứu ngôn ngữ âm thanh của con người thuộc cấp độ âm vị học. Đối tượng âm thanh tiếng nói con người có thể được 2 ngành khác nhau nghiên cứu là ngữ âm học và âm vị học. Cùng tìm hiểu về các đặc điểm âm thanh, tiếng nói con người nhưng chúng có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:

1. Âm thanh tiếng nói con người, về bản chất là vô tận bởi tuỳ theo các đặc điểm cá nhân khác nhau, các đặc điểm về hoàn cảnh phát âm khác nhau, mục đích phát âm khác nhau mà tiếng nói phát ra có những phần khác nhau.

Ngữ âm học là ngành nghiên cứu về cơ chế tạo sản các âm thanh của tiếng nói con người, cho nên, ngoài việc mô tả một cách chính xác cơ chế đó hoạt động như thế nào thì cần phải đặc tả một cách chính xác các sự biểu hiện khác nhau của tiếng nói ấy, tức là các kết quả của cơ chế tạo sản âm thanh tiếng nói con người. Chính vì thế, các dạng thể âm thanh là vô hạn. Và đơn vị của ngữ âm học là các âm tố, tức là các âm thanh tự nhiên của tiếng nói con người.

Ngược lại, bởi vì con người sống theo xã hội, theo cộng đòng nên muốn giao tiếp được với nhau thì người ta phải có mã do cộng đồng quy định sử dụng. Dẫu người ta có thể khác nhau về các đặc điểm tâm lí, sinh lí, trình độ học vấn, địa phương cư trú nhưng muốn để giao tiếp được, truyền được thông điệp, yêu cầu của mình tới người khác thì mã âm thanh sử dụng phải có tính xã hội hoá. Chính vì vậy, sự khác nhau về dạng thể giữa các âm thanh của có những hình thức, những biến thể của những đơn vị âm thanh mang chức năng trong xã hội loài người. Những đơn vị âm thanh mang chức năng đó được ngôn ngữ học là các âm vị. Theo nguyên tắc tối thiểu về đặc điểm cấu trúc, tối đa về khả năng sử dụng, các đơn vị âm thanh của ngôn ngữ buộc phải là hữu hạn và đếm được.

Sự phân biệt giữa ngữ âm học và âm vị học về mặt đơn vị có nguồn gốc từ một lưỡng phân nổi tiếng của F. de Saussure (1913) về sự phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói. Theo ông, người ta không bao giờ lặp lại được lời nói của chính mình, cho nên, lời nói là vô hạn, lời nói biến đổi theo hoàn cảnh, theo thời gian và theo không gian. Ngược lại là thiết chế của xã hội, là một trong những đặc điểm để xác định tộc người của quốc gia nên tính ổn định của nó rất cao, cao như hoặc cao hơn các thiết chế xã hội khác). Ổn định về ngôn ngữ để nối tiếp được các thế hệ với nhau trong cả một truyền thống lịch sử; đồng thời, ổn định về ngôn ngữ còn có tác dụng liên kết những nhóm người ở những vùng đất khác nhau thành một quốc gia. Trong tính ổn định như vậy, ngôn ngữ được tao nên bằng các giá trị hữu hạn, có tính hệ thống. Sự phản ánh mối quan hệ giữa lời nói và ngôn ngữ trong âm vị học trở thành sự đối lập giữa ngữ âm học và âm vị học.

2. Để quan sát được các hiện tượng âm thanh tiếng nói con người, các nhà nghiên cứu có thể tận dụng tất cả các phương tiện kĩ thuật và máy móc. Với yêu cầu tính chính xác và chi tiết về đặc điểm âm thanh, người ta có thể nhìn các âm tố từ nhiều bình diện khác nhau:

– Từ bình diện sinh lí cấu âm;

– Từ bình diện thẩm nhận âm thanh;

– Từ bình diện thực thể âm thanh.

Ở tất cả các bình diện này người ta đều sử dụng các quan niệm có thánh chất khoa học tự nhiên để nghiên cứu âm thanh, nghĩa là mô tả về các đặc điểm cấu trúc của âm thanh, giống như ở trong thế giới tự nhiên, các hiện tượng là vô tận thì các đặc điểm về âm thanh tiếng nói con người cũng vô tận như vậy. Chính vì theo quan điểm của khoa học tự nhiên nên ngữ âm học chia các hiện tượng âm thanh thành các loại thể âm thanh cũng tương tự như sinh vật học phân loại các giống loài thực vật và động vật có trong thiên nhiên, dựa trên các đặc điểm hình thể. Ngược lại, đối với âm vị học, do xuất phát từ định đề coi ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội nên sự phân loại các hiện tượng âm thanh cũng như sự nhận diện ra các đặc điểm âm thanh là theo quy chiếu của chức năng của âm thanh đối với giao tiếp xã hội. Như vậy, có nghĩa là có rất nhiều các đặc điểm cấu trúc của âm thanh không được sử dụng làm gì trong quan điểm âm vị học, do đó nó không có chức năng phục vụ xã hội và bị coi là dư thừa, không mang tính âm vị học.

Ví dụ:

3. Nghiên cứu âm thanh theo quan điểm cơ chế tạo sản và sự phân loại có tính hình thức về âm thanh theo quan điểm của ngữ âm học sẽ dẫn đến chủ nghĩa cân đối hình thức của các âm. Đó là sự nghiên cứu các âm lí tưởng lẫn các âm hiện thực, các âm tiềm năng và các âm đã được sử dụng.

1, Số thanh bằng phải ít hơn nếu hệ thanh đó thiên về hệ thanh đường nét;

2, Số thanh đi lên, hoặc có thành phần đi lên ở cuối cấu trúc thanh, nhiều hơn so với số thanh đi xuống, hoặc có thành phần đi xuống;

3, Nếu như hệ thanh thiên về bằng phẳng thì số thanh đường nét phải ít hơn so với số thanh bằng.

Đó chính là cái lí ở trong thực tế, cái lí của sự tồn tại. Xu hướng của con người là tìm đến sự đơn giản nên không thể có những sự kiện âm thanh quá phức tạp, có những cấu trúc bị đánh dấu đến mức vừa khó phát âm, vừa khó cảm thụ lại khó nhớ. Đó chính là quan điểm của âm vị học khi nhìn vào các hiện tượng âm thanh: ngôn ngữ là của con người, ngôn ngữ phải phục vụ con người theo nguyên tắc tiết kiệm và ít bị đánh dấu, mang tính tự nhiên cao.

Bất kì ngôn ngữ nào, cho đến ngày nay, tồn tại được và phục vụ con người được cho con người đều phải trải qua những quá trình tiếp xúc với những nền văn hoá khác nhau. Những va chạm và tiếp xúc ấy đã làm cho tính cân đối của hệ thống âm thanh (nếu có) bị mai một, biến dạng đi theo thời gian trước những nhu cầu sử dụng rất khác nhau của con người đối với ngôn ngữ.

Ví dụ: Tính cân đối giữa âm môi vô thanh-hữu thanh của loạt trước trong tiếng Việt đã từng tồn tại trong thời xa xưa (trước thế kỉ 17). Nhưng do áp lực từ những tiếp xúc khác nhau đối với tiếng Hán cận hiện đại, tiếng Hán thổ ngữ mà âm /p/ đã bị tiêu biến đi. Từ sau năm 1987 trở lại đây, hình như đã có dấu hiệu xuất hiện trở lại của âm /p/. Do nhu cầu định danh cho sự vật mới, người Việt phải vay mượn các từ có gốc Ấn-Âu. Ngược lại, sự kết hợp trong vần giữa /–/ và /-w/, /–/ và /-w/ để tạo nên các vần /u/ và /w/ là một sự kết hợp rất Mon-Khmer, nhưng do tiếng Việt tiếp xúc với các ngôn ngừ Tày-Thái ở phía bắc (đây là những ngôn ngữ mà ngay cả âm

4. Để phân biệt âm thanh tiếng nói con người với âm thanh của các loài vật khác, người ta căn cứ vào các cơ chế sinh lí học của các cơ quan phát âm, khả năng thụ cảm của các cơ quan thính giác và thần kinh. Ví dụ như, đẻ mô tả sự tạo thành một phụ âm, người ta phải căn cứ trên các thuộc tính sau đây về sinh lí cấu âm:

Ví dụ:

Như vậy, âm của mọi người đều giống nhau vì đó là nguyên lí chung để định nghĩa âm thanh con người, phân biệt với các loài khác. Đó là quan điểm mang tính tự nhiên về bản chất âm thanh con người. Do đó, người ta nói ngữ âm học mang bản chất nhân loại, bản chất thế giới. Chính vì thế, ngay từ thế kỉ 19, các nhà ngữ âm học thế giới đã lập cho mình một hội nghề nghiệp mang tên Hội Ngữ âm học quốc tế – IPA.

Vậy, ngữ âm học là ngành nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người không phân biệt tuổi tác, giới tính, quốc gia…

Còn âm vị học không mang tính nhân loại, âm vị học là ngành nghiên cứu hệ thống âm thanh của một cộng đồng xác định. Cộng đồng ấy là chủ nhân của một hệ thống âm thanh. Họ sử dụng nó cho những mục đích rất khác nhau trong đời sống giao tiếp cộng đồng. Và vì họ nằm lòng ngôn ngữ ấy, hệ thống âm thanh ấy ngay từ khi còn trong bụng mẹ nên họ có trực cảm về nó như là một vật rất thân quen nhưng lại không ý thức được điều đó.

* Tóm lại:

Có hai ngành nghiên cứu về âm thanh tiếng nói con người vì đối tượng, phương pháp, phương pháp luận và mục đích giữa hai ngành là khác nhau. Một bên nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người nói chung cho nên mang tính phổ niệm, tính khái quát; một bên là nghiên cứu về một hệ thống âm thanh được sử dụng ở một cộng đồng hoặc một phạm vi cụ thể nên nó mang tính đặc thù. Hiểu được sự khác nhau giữa hai ngành học này, người ta có thể ứng dụng các kết quả nghiên cứu một cách hiệu lực cho những lĩnh vực khác nhau. Ví dụ: trong việc phục hồi chức năng của những người bị bệnh lời nói thì phải sử dụng ngữ âm học nhưng trong việc nhận diện ra các bệnh thất ngôn thì người ta phải dùng các kết quả của âm vị học. Cũng tương tự như vậy, để dạy cho người nước ngoài nói tiếng Việt thì phải tận dụng các kiến thức của ngữ âm học nhưng để phân biệt các giọng nói khác nhau của từng vùng đất khác nhau trong một quốc gia thì phải có thái độ âm vị học (phân biệt từ địa phương về mặt ngữ âm và từ địa phương về mặt từ vựng).

Nguồn: Ngonngu.net

Hình Ảnh Người Phụ Nữ Trong Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Hồ Xuân Hương

Cảm Nhận Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước

Đề Số 4: Phân Tích Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

4 Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

Biểu Diễn Âm Vị Học

Soạn Bài: Bánh Trôi Nước – Ngữ Văn 7 Tập 1

Bài Thơ Bắp Cải Xanh ( Phạm Hổ ) – Dành Cho Thiếu Nhi Đặc Sắc Nhất

Bạn Đến Chơi Nhà (Nguyễn Khuyến) – Tình Bạn Chân Thành Không Màng Vật Chất

Nội Dung, Nghệ Thuật Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà Lớp 7

Dàn Ý Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà Lớp 7

Biểu

diễn âm vị học

(phần

đầu)

Âm thanh lời nói là một

hiện tượng tự nhiên bao gồm những dao động của thực thể vật lí mà âm học

hiện đại biểu thị ra bằng cao độ (nội dung của dây thanh), cường độ,

trường độ…

Nhưng từ khi xuất hiện

văn tự, âm thanh không còn là một dạng thể hoàn toàn tự nhiên nữa. Nó được

biểu diễn ra trên kênh viết dưới hình thức văn tự ghi âm ghi âm. Đó chính

là một phép chuyển kênh hay là một sự cải biến về âm thanh tự nhiên sang

các kí hiệu được thụ cảm bằng thị giác (từ thính giác tới thị giác).

“Lời nói gió bay” là

nhược điểm lớn nhất của âm thanh bằng lời. Lời nói muốn được lưu giữ lại

cần đến sự tác động nhân tạo vào đối tượng. Vì sự lưu lại lời nói âm thanh

cho con người là có ích về nhiều mặt. Vì vậy, từ khi có ngôn ngữ học,

người ta luôn luôn tìm ra những giải pháp tối ưu hơn cho việc lưu lại âm

thanh tự nhiên của con người. Chúng ta có những dạng sau đây:

Tự

nhiên (sóng âm)

Lưu

giữ (nhân tạo tính)

Âm thanh tự nhiên

Thẩm nhận qua tai: Băng/đĩa từ, đĩa quang…

Thẩm nhận qua thị giác

1a. Chữ viết ghi âm (abc)

 

1b. Chữ viết ghi âm tiết (văn tự

Sumer)

 

2. Phiên âm

2a. Ngữ âm học (IPA)

2b. Âm vị học:

  - Cấu trúc luận

  - Tạo sinh luận

  - Âm vị học tự chiết đoạn

 

 

Dạng ghi lời nói qua văn

tự, tuỳ theo tiến bộ của khoa học kĩ thuật mà âm thanh có thể được chuyển

tải, được ghi lại với mức độ chính xác khác nhau. Tuy nhiên, các điều kiện

kĩ thuật của con người không thể phản ánh trung thực và khách quan những

điều tế vi nhất của âm thanh con người.

Còn những sự lưu giữ

thông qua kênh thị giác là hình ảnh chủ quan của con người về thế giới âm

thanh. Bằng chứng là dòng âm thanh liên tục đã được cắt ra theo truyền

thống chữ viết của từng dân tộc. Tuỳ theo nét thô hay nét tinh mà các chữ

cái được sắp lại thành chuỗi nhằm thể hiện được tính liên tục của âm thanh

trong tự nhiên:

Ví dụ: “tr“

Trong hình dung của A. de

Rhodes (1651), âm này được “tãi” ra thành hai yếu tố tuyến tính đi cạnh

nhau và /t/ và /r/. So sánh: trời, blời, tlời… Có lẽ vào thời ấy, ở

phụ âm đầu tiếng Việt còn tổ hợp phụ âm đầu như bl, tl, tr… Nhưng ở

người Việt hiện đại, bất kì trong một thổ ngữ nào, phụ âm đầu này luôn là

phụ âm quặt lưỡi đơn nhất, đồng chất và không mang tính hình tuyến. Tiếng

Việt đã trải qua quá trình đơn tiết hoá đến triệt để, đến nỗi một âm tiết

xét về mặt chiết đoạn chỉ là một tổ hợp của 3 thành phần âm thanh, mô

phỏng một cách tự nhiên chu kì cấu âm của con người.

Các âm khác như /f/,

/t’/, /χ/ ở trong tiếng Việt được ghi bằng “ph, th, kh” là cũng có lí do

tương tự như vậy. Vào thời kì A. de Rhodes, người Việt cận đại có lẽ lúc

đó phát âm các phụ âm đầu này như là những tắc bật hơi để phân biệt với

các âm tắc bình thường:

*/p’/

(/f/)

*/t’/ →

(t’/)

*/k’/ →

(/χ/)

Vì vậy, ông đã

sử dụng chữ “h” để ghi các yếu tố bật hơi có trong tiếng Việt. Do vậy mà ở

vị trí đầu này đã có tới 2 chữ cái cho một âm vị.

Văn tự là văn hoá, là

thói quen ghi chữ của một cộng đồng. Gần 4 thế kỉ tồn tại của hệ chữ viết

Việt Nam đã tạo thành một nét văn hoá trong chữ viết, đến mức một cá nhân

dẫu có uy tín lớn như Hồ Chí Minh rất mong muốn “âm vị hoá” hoá lại hệ chữ

viết này ngay từ khi Người đi tìm đường cứu nước đến khi Người viết di

chúc mà ý nguyện đó vẫn chưa thực hiện được. Đó chính là tính độc lập

tương đối của văn tự, là hình ảnh âm thanh quá khứ dội về. Đó là tiếng

vang văn hoá và không thể ngày một, ngày ngày hai mà có thể cải tiến và

sửa chữa được.

Như vậy, người ta có thể

lưu giữ lời nói âm thanh tự nhiên của con người thông qua hệ chữ viết của

mình, nhưng đây là một thứ biểu diễn âm vị học sơ cấp, tính khoa học

nhường chỗ cho tính văn hoá và tình phổ cập. Từ khi xuất hiện cấu trúc

luận, nhất là từ khi xuất hiện những tuyên ngôn của trường phái Praha về

ngôn ngữ học, người ta lưu ý hơn đến việc lưu giữ hệ âm thanh tiếng nói

con người thông qua kênh thị giác. Bởi vì, qua kênh thị giác, con người có

thời gian suy nghĩ nhiều hơn về bản chất âm thanh tiếng nói con người, tận

dụng được năng lực cảm nhận một cách tối ưu cái mà tự nhiên cấp cho con

người: 90% thông tin con người nhận được là thông qua thị giác.

Nhưng từ cấu trúc luận

trở đi, việc biểu diễn âm vị học không còn là một hành động tự phát của

con người trong việc đòi lấy một sự bình đẳng giữa kênh nghe và kênh nhìn.

Từ cấu trúc luận trở đi, người ta chia thành hai dạng biểu diễn âm vị học:

một dạng mang tính ngữ âm học; một dạng mang tính âm vị học. Cả hai dạng

này đều là những cố gắng tự giác của con người trước âm thanh của mình.

Biểu diễn âm thanh theo lối ngữ âm học là sử dụng một bảng phiên âm thống

nhất trên toàn thế giới cho việc ghi lại một dòng âm thanh thanh mà con

người ta nghe được. Từ 1890, khi

Hội Ngữ âm học quốc tế (International Phonetic Association – IPA) được

hình thành, việc đầu tiên trong các việc họ phải làm là thiết lập một bảng

chữ cái chung cho các âm có trên toàn thế giới. Bảng phiên âm này có tên:

International Phonetic Alphabet (IPA). Cứ 5 năm một lần kể từ

khi thành lập, những nhà ngữ âm học quốc tế lại nhóm họp để cải biên, bổ

sung, sửa đổi cho bảng chữ cái này tương thích hơn với hệ âm thanh tiếng

nói con người. Bảng IPA bao gồm các kí tự Latinh, kí tự Hi Lạp và một hệ

các dấu phụ để phản ánh được trung thành hơn các dạng thể âm thanh của con

người. Vào năm 1993, sau gần 100 năm xuất hiện IPA, các nhà ngữ âm học đã

chỉnh sửa và đưa ra bảng chữ cái quốc tế cho phiên âm mà chúng ta đang

dùng.

Việc sử dụng bảng IPA để

phiên âm được gọi là phép phiên âm hẹp theo trường phái Mĩ, vì người phiên

âm phải phiên âm một cách trung thành và chính xác dòng âm thanh mà mình

tiếp nhận.

Ví dụ:

“toan” = bao

gồm:

và , đứng ở vị trí cuối cùng của âm tiết, một vị trí không thuận lợi cho

việc phân biệt giữa nét hữu thanh và vô thanh, giữa nét tắc và xát, trường

độ của âm cuối vô cùng ngắn (âm cuối thường có trường độ từ 3–5ms trong

tương quan với âm đầu có trường độ là từ 17–25ms), nên ) ()

2. Danh sách các nét khu biệt:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+PAT

+Tắc

+Răng-lợi

+Vô thanh

 

 

 

+NAT

+Giữa

+Thấp

+Đơn

 

 

 

+PAT

+Răng-lợi

+Mũi

 

 

 

 

 

 

+Tròn môi

 

 

 

+Thanh điệu tính

+Bằng

+Cao

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. Luật âm vị học:

/

/

C1 ≠

(luật)

 

(chu

cảnh)

 

: /-u-/, /-o-/, /-uo-/,…

: Âm tiết có âm đệm

Biểu diễn âm vị học

(phần cuối)

1.

Ở danh sách âm vị, trong mỗi biểu diễn âm vị học, thường có 2 phần tách

rời nhau là biểu diễn âm vị học ở phía trái và biểu diễn âm vị học ở phía

phải. Biểu diễn âm vị học ở phía trái là phần chia hết theo lí thuyết

chiết đoạn, nghĩa là theo lí thuyết về phổ niệm âm thanh, bất kì một âm

tiết nào cũng là sự tổ hợp của 3 giai đoạn khác nhau của một chu kì phát

âm tự nhiên:

Một âm tiết bao gồm một hạt nhân của nó. Đây là

phần chủ đạo về âm hưởng của một âm tiết. Nó chiếm giữ hầu hết năng lượng

của một âm tiết và vì vậy, nó có tính độc lập tương đối, đến mức một âm

tiết có thể chỉ bao gồm mỗi một hạt nhân. Đó chính phần V. Ở phía trước và

ở phía sau V, hay còn gọi là giai đoạn khởi và giai đoạn thoái trong âm

tiết, là vị trí ưa thích của các chiết đoạn phụ âm tính. Trong âm vị học,

đó là C1 hoặc C2.

Bản thân từ nguyên của

chữ “phụ âm” (consonant) đã nói lên tính phụ thuộc của các yếu tố phía

trước và phía sau nguyên âm: con – đi kèm; sonant – âm.

Chúng là các yếu tố âm thanh chứa ít năng lượng nhất nên luôn luôn phải

bám vào các nguyên âm để tồn tại. Các số (1) và (2) đi sau kí hiệu C, đối

với tiếng Việt, là để chỉ vị trí cụ thể của các phụ âm trong mối tương

quan với nguyên âm có trong một âm tiết. Ta có C1 là phụ âm đầu

(ở vị trí giai đoạn tiếng của một âm tiết), C2 là phụ âm cuối

(ở vị thoái của một âm tiết). Kết quả, ta được một mô hình chung cho biểu

diễn âm vị phía trái là:

 C1   V   C2 

*Ý nghĩa:

Không như Cao Xuân Hạo

hoặc Nguyễn Quang Hồng đã tuyên bố: âm tiết tiếng Việt là một hiện tượng

kì dị trong ngôn ngữ thế giới vì người ta không thể cắt âm tiết thành từng

phần được, không chiết đoạn hoá được các âm vị bên trong một âm tiết, âm

vị học tiếng Việt hiện đại cho rằng: tiếng Việt cũng chỉ là một mảnh của

cánh đồng âm thanh nhân loại. Nó là âm thanh của con người nên nó phải có

tính nhân bản. Nếu như toàn bộ các ngôn ngữ đều có cấu trúc âm tiết là:

– phần đầu âm tiết (C1);

– phần giữa âm tiết (V) là hạt nhân;

– và phần cuối âm tiết (C2) để kết thúc âm tiết

thì tiếng Việt

cũng phải nằm trong quy luật tự nhiên này, nghĩa là nó vân phải có 3 phần

như vậy. Đó là phần lõi hay tính nhân bản của loài người. Không nên cho âm

tiết tiếng Việt là có hình dáng kì quái đến mức chỉ mỗi người Việt là phát

âm được.

Nhưng tiếng Việt phải có

khó khăn của riêng nó trong việc phát âm các âm tiết. Sau khi thoả mãn

phần nhân loại, tiếng Việt chuyển sang phần bản sắc của mình. Đó là phần

biểu diễn âm vị học phía phải của âm tiết. Ở đó, chúng ta ghi ra những đặc

thù về mặt phát âm của âm tiết tiếng Việt – những yếu tố “cặn” còn đọng

lại không chia hết được theo nguyên tắc chiết đoạn luận của ngữ âm học

phương Tây. Đây là phần bản sắc của âm thanh tiếng Việt. Đó là sự tròn môi

hoá âm tiết mà cấu trúc luận gọi là âm đệm. Đó là toàn bộ hệ siêu đoạn

được bộc lộ ra bằng thanh điệu tiếng Việt. Đó là sự kết thúc theo biểu

bình thường hay có “sạn”. Đó là sự cố kết theo cách căng hay lơi ở phần

vần của âm tiết để tạo ấn tượng hạt nhân dài ra hay ngắn lại. Như vậy là ở

phía phải của một biểu diễn âm vị học, theo cách đầy đủ nhất sẽ gồm 4 yếu

tố, không được xếp một cách tuyến tính, sau đây:

Tuyến

tính

 

Phi

tuyến tính

 C1VC2

1.

2. /…/] / / ) ()

2.                  

“tan”

()

3.                  

“quan”

(

) ( ) ()

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+PAT

+Tắc

+Răng-lợi

+Vô thanh

-Mũi

 

 

 

+NAT

+Giữa

+Thấp

+Đơn

 

 

 

 

+PAT

+Tắc

+Răng-lợi

+Mũi

 

 

 

 

 

 

+TĐT

+Bằng

+Cao

 

 

 

+Căng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. “tan”: ()

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

~

 

 

 

 

~

 

 

 

 

~

 

 

 

 

 

 

~

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. “quan”: ()

() ()

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+PAT

+Bên

 

 

 

~

 

 

 

 

~

 

 

 

 

 

 

~

 

 

 

 

~

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3.

Giới thiệu về hệ thống âm vị học của một ngôn ngữ, ngoài việc thống kê

danh sách âm vị học và nét khu biệt, còn phải đề cập đến các điều kiện

xuất hiện của các âm vị và các nét khu biệt này. Hình thức hoá các điều

kiện này được gọi là luật âm vị học.

Luật âm vị học được chia

thành hai loại:

a. Các luật âm vị học

về tổ chức một âm vị hay đó là cấu trúc nét của âm vị;

Ví dụ:

Trong tiếng Việt, các âm để tạo nên được một phụ âm đầu chính danh. Ta có một số phụ âm

tiếng Việt như sau:

p

t

c

k

b

d

luật a3

luật a1

luật a2

f

s

ş

χ

v

z

γ

Ta có luật

âm vị học a là:

a1:

a2:

a3:

Nói cách khác, luật a chính là luật trục dọc hoặc luật hệ hình để

thể hiện khả năng hay tiềm năng của hệ thống âm vị học. Chúng góp phần

giải thích tại sao và ở chỗ nào một hệ thống âm vị học lại trở nên không

cân đối.

b. Sự tương hợp của

các nét khi đứng cạnh nhau trong một cấu trúc âm thanh lớn hơn. Ví dụ

như trong một hình tiết hoặc một hình vị.

Luật b

chính là luật thể hiện trục ngang hay khả năng kết hợp của các âm vị đứng

cạnh nhau trong một cấu trúc âm thanh lớn hơn so với âm vị. Ví dụ:

Trong tiếng Việt có một nguyên tắc là: Các âm vị khi kết hợp phải xa nhau

Trong tiếng Việt, các nguyên âm cùng một vị trí của lưỡi thì không thể kết

hợp với nhau. Ta không có:

*, *, *…

Và tương ứng với trường hợp này là luật b2:

C1 + R

S

R = V + C2

 

điều kiện: {C1 ≠ V (R)} ≠ [+tròn môi]

Nói tóm lại, khác với âm

vị học cổ điển, âm vị học hiện đại ngoài việc cho biết danh sách âm vị học

và các nét khu biệt của một hệ thống, nó còn giải thích lí do xuất hiện

cũng như lí do một âm vị có một dạng cụ thể của một âm vị. Những điều này

giúp cho việc đối chiếu, so sánh âm vị học giữa các ngôn ngữ trở nen có cơ

sở đáng tin cậy hơn nhiều.

Tuy nhiên, để có được

những căn cứ xác thực cho một sự tương hợp giữa các nét âm vị học, người

ta phải cần nhiều đến các cứ liệu trong thực tế: trong từ vựng của một

ngôn ngữ, trong sự kết hợp và thể hiện của một âm vị có trong lời nói tự

nhiên hoặc trong các biến thể khác nhau của các phương ngữ. Chính vì vậy

mà âm vị học hiện đại khác hẳn âm vị học truyền thống ở tính quan tâm đến

nhiều mặt khác nhau của một ngôn ngữ tự nhiên. Nhà âm vị học hiện đại,

ngoài tri thức chắc chắn về âm vị học, còn cần đến những tri thức sâu sắc

trong thi pháp học, phương ngữ học, ngữ nghĩa học và ngữ pháp học. Nói

cách khác, âm vị học hiện đại chính là một ngôn ngữ học thu nhỏ.

Thân Phận Người Phụ Nữ Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương (1)

Giáo Án Lớp 7 Môn Ngữ Văn

Dàn Ý Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7

Tìm Nét Nghĩa Tả Thực Và Nét Nghĩa Biểu Tượng Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước

Tự Học Tiếng Trung Qua Truyện Cười Song Ngữ Trung – Việt (Có Phiên Âm)

Hài Đau Cả Bụng Luôn

Em Hãy Trình Bày Suy Nghĩ Của Mình Về Việc Cho Và Nhận Thông Qua Câu Chuyện Cười “Cứu Người Chết Đuối”

Câu Chuyện Cứu Người Chết Đuối. Anh (Chị) Suy Nghĩ Gì Về Ý Nghĩa Được Gợi Ra Từ Câu Chuyện Trên?

Những Câu Đố Tục Giảng Thanh Cực Kỳ Hay 2022

Truyện Cười Người Lớn Archives

Giá thị trường:150.000đ

Rèn Kỹ Năng Làm Bài Trọng Âm Ngữ Âm Môn Tiếng Anh

Bí quyết đơn giản nắm trọn điểm phần trọng âm, ngữ âm trong bài thi THPT Quốc gia môn tiếng Anh

Kỳ thi THPT Quốc gia là một kỳ thi rất quan trọng, vừa phục vụ mục đích thi tốt nghiệp vừa xét tuyển đại học, cao đẳng. Để vượt qua kỳ thi này, trước hết các em cần phải có một tinh thần vững chắc và hơn hết là lượng kiến thức đủ chắc cùng các kỹ năng làm bài trắc nghiệm cần thiết để chinh phục kỳ thi dễ dàng.

Tiếng Anh là 1 trong 3 môn thi bắt buộc, so với các năm trước đề thi đã chuyển về dạng trắc nghiệm với số câu hỏi được rút gọn xuống còn 50 câu hỏi. Đề thi gồm có 8 dạng bài bao gồm: từ vựng, ngữ pháp, trọng âm ngữ âm, điền từ, đọc hiểu, câu hỏi viết, tìm lỗi sai và từ đồng nghĩa trái nghĩa.

Trong 8 dạng bài, phần “trọng âm – ngữ âm”  là dạng bài dễ, số lượng câu hỏi ít nhưng để “ẵm” điểm tuyệt đối trong phần này lại không dễ dàng bởi vì:

Các em không biết cách đánh trọng âm và  đọc chuẩn phiên âm

Đề thi gồm 50 câu trắc nghiệm, phần trọng âm, ngữ âm chỉ có 4 câu hỏi với 16 từ đơn giản nhưng lại là phần khiến nhiều em hay bị mất điểm nhất. Bởi các em có ôn tập kỹ đến đâu nhưng khi đi thi vẫn cảm thấy lúng túng, phân vân khi câu hỏi xuất hiện nhiều từ vựng có hình thức mới mẻ. Nếu đề thi có các từ có từ 3 – 5 âm tiết thì phải xác định trọng âm như thế nào? Các em không biết cách xác định được trọng âm cũng như cách đọc phiên âm chuẩn của từ nên rất khó để xác định được phương án đúng.

Các em không nhớ được các quy tắc phát âm và đánh dấu trọng âm của từ

Học sinh vẫn còn ôn tập phần này rất máy móc, các em dùng từ điển tra từng từ, ghi nhớ và học thuộc lòng mà không tự rút ra được những quy tắc chung. Nhiều em vì thấy điểm phần này ít nên không muốn dành thời gian ôn tập, khi đi thi thường dựa vào “may rủi” bằng cách khoanh mò đáp án.

Tiếng anh có nhiều trường hợp ngoại lệ dù các em có nắm được quy tắc vẫn không giải quyết được

Mặc dù các em có ôn tập, nắm hết các quy tắc phát âm, đánh dấu trọng âm nhưng vẫn không đạt điểm cao vì trong tiếng Anh có rất nhiều trường hợp ngoại lệ. Vậy làm sao để các em có thể hệ thống được các trường hợp đặc biệt này để đưa ra cách đối phó phù hợp.

Sẽ thật tiếc nếu chỉ vì những khó khăn trên mà các em phải bỏ lỡ một phần dễ ăn điểm. Hãy sử dụng ngay cuốn sách “Rèn kỹ năng làm bài trọng âm, ngữ âm môn tiếng Anh” để “ẵm trọn vẹn” điểm phần thi trọng âm, ngữ âm và vững bước trong kỳ thi sắp tới. Đây là cuốn sách của tác giả Mai Phương – chuyên gia luyện thi tiếng Anh hàng đầu tại Việt Nam.

Các em sẽ nhận được gì khi ôn thi cùng cuốn sách này?

Tài liệu cung cấp cách phát âm chuẩn cùng cách đánh đúng trọng âm

Phần I: Lý thuyết

Nguyên âm

Nguyên âm đôi

Phụ âm

Trọng âm

Phần 2: Thực hành

Ngữ âm

Trọng âm

Nắm trọn các quy tắc phát âm và đánh dấu trọng âm của người bản ngữ

Nắm trong tay các quy tắc phát âm của người bản ngữ là các em đã nắm được bí kíp để giải quyết nhanh phần này. Sách cung cấp các quy tắc như quy tắc đánh dấu trọng âm với từ có 3,4 âm tiết, quy tắc nhấn trọng âm đối với từ ghép. Cuốn sách này không chỉ cung cấp các quy tắc mà còn có cả phần giải thích chi tiết bằng tiếng Anh và tiếng Việt nhằm giúp các em nắm chắc bài học và còn tăng được một lượng từ vựng đáng kể.

Liệt kê các trường hợp ngoại lệ thường xuất hiện trong đề thi

Bên cạnh nắm vững các quy tắc đánh dấu trọng âm thì các bạn cũng cần nắm được các trường hợp ngoại lệ vì trong tiếng Anh không phải lúc nào cũng có quy tắc. Với cuốn sách này các em sẽ biết được ôn tập bằng cách hệ thống lại toàn bộ trường hợp ngoại lê. Kèm theo đó là hệ thống các câu hỏi giúp các em luyện tập nhuần nhuyễn để khi đi thi dù có gặp phải những trường hợp này các em sẽ có thể giải quyết nhanh chóng.

Nâng cao kĩ năng làm bài với ngân hàng câu hỏi lên tới 1000 câu

Phần thực hành với hơn 1000 câu hỏi sẽ là cơ hội để các em có điều kiện áp dụng được phần lí thuyết đã được học. Bên cạnh đó phần lời giải chi tiết kèm phiên âm quốc tế sẽ giúp các em ôn tập được toàn diện kiến thức lẫn kĩ năng làm bài trắc nghiệm. Đề thi chỉ có 4 câu nhưng các em được ôn tới tận 1000 câu, chắc chắn việc ghi điểm trọn vẹn trong phần này là quá đơn giản.

Tặng 15 bài test online trên test.tkbooks.vn

Khi mua cuốn sách này, các em sẽ nhận được thêm 15 bài test online về trọng âm và ngữ âm trên website:test.tkbooks.vn. Hãy nhập mã cào ở bìa sau cuốn sách để sở hữu ngay 15 test online ôn luyện siêu tốc.

Khác biệt với các cuốn luyện phát âm bên ngoài thị trường, cuốn Rèn kỹ năng làm bài trọng âm, ngữ âm môn tiếng Anh là một cuốn sách giúp các em học sinh ôn tập phần này một cách có hệ thống và khoa học. Các em sẽ được hoàn thiện kĩ năng phát âm và đánh dấu trọng âm như người bản ngữ, không chỉ phù hợp với kì thi mà những kiến thức này còn rất bổ ích trong việc học giao tiếp.

Tự Học Tiếng Trung Qua Truyện Cười Song Ngữ Trung

Truyện Cười Tóc Vàng Hoe

Truyện Cười Nước Ngoài #18

Truyện Cười Nước Ngoài #11

Truyện Cười Nước Ngoài #38

Bài Soạn Lớp 7: Bánh Trôi Nước

Giới Thiệu Về Hồ Xuân Hương

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7 Hay Nhất

Tìm Hiểu Bài Thơ Bánh Trôi Nước Để Nhận Xét Về Ngôn Ngữ Và Cá Tính Của Hồ Xuân Hương

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

4 Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương sống vào cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19.

Được mệnh danh là bà chúa Thơ Nôm

Là người thông minh, sắc sảo, cá tính, mạnh mẽ nhưng đường tình duyên lận đận.

2. Tác phẩm:

Bài thơ viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật, viết theo lối vịnh vật.

Bài thơ có tính đa nghĩa, một thuộc tính của văn chương nói chung.

Trả lời:

Bài bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

Vì: Bài thơ có 4 câu, mỗi câu có 7 chữ. Bài được gieo vẫn ở chữ cuối cùng của các câu 1, 2, 4 với vần on (tròn, son, non).

Nghĩa thứ nhất của bài thơ thuộc về nội dung miêu tả bánh trôi nước khi đang được luộc chín. Nghĩa thứ hai thuộc về nội dung phản ánh vẻ đẹp, phẩm chất và thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ. Từ sự gợi ý trên, em hãy trả lời các câu hỏi:

a. Với nghĩa thứ nhất, bánh trôi nước đã được miêu tả như thế nào? Chú ý các từ ngữ: trắng, tròn, chìm, nổi, rắn nát, lòng son.

b. Với vẻ đẹp thứ hai, vẻ đẹp, phẩm chất cao quý và thân phận chìm nổi của người phụ nữ được gợi lên như thế nào? Chú ý cụm từ: vừa trắng lại vừa tròn, bảy nổi ba chìm, rắn nát mặc dầu, giữ tấm lòng son.

c. Trong hai nghĩa, nghĩa nào quyết định giá trị bài thơ? Vì sao?

Trả lời:

a. Hình ảnh bánh trôi nước được miêu tả:

Màu sắc: trắng

Hình dáng: tròn

Nhân: đỏ son

Cách nấu: Luộc trong nước

Sống: chìm, chín: nổi

Chất lượng: ngon ngọt không thay đổi.

b. Với vẻ đẹp thứ hai, vẻ đẹp, phẩm chất cao quý và thân phận chìm nổi của người phụ nữ được gợi lên:

Thân phận:

c. Từ chiếc bánh trôi mộc mạc đời thường Hồ Xuân Hương đã thổi linh hồn vào ngôn ngữ hình ảnh, để cho nó trở thành hình ảnh biểu tượng về số phận cuộc đời của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Và đây là ý nghĩa chủ đạo mà nữ sĩ họ Hồ muốn đề cao qua bài thơ của mình.

Trả lời:

Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Bánh Trôi Nước

Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Khái Quát Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Tác Giả Hồ Xuân Hương

Phân Tích Ý Nghĩa Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước

🌟 Home
🌟 Top