Ngữ Âm Học Và Âm Vị Học

--- Bài mới hơn ---

  • Trả Lời Chính Thức Của Viện Ngôn Ngữ Học Về Đề Xuất Cải Cách Chữ Viết Của Ông Bùi Hiền
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Hay Nhất
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Phụ Nữ Qua Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương
  • Vẻ Đẹp Của Người Phụ Nữ Việt Nam Qua Bài Thơ
  • Một Số Đề Ôn Thi Vào Lớp 10
  • Ngữ âm học và âm vị học

    Việc nghiên cứu ngôn ngữ âm thanh của con người thuộc cấp độ âm vị học. Đối tượng âm thanh tiếng nói con người có thể được 2 ngành khác nhau nghiên cứu là ngữ âm học và âm vị học. Cùng tìm hiểu về các đặc điểm âm thanh, tiếng nói con người nhưng chúng có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:

    1. Âm thanh tiếng nói con người, về bản chất là vô tận bởi tuỳ theo các đặc điểm cá nhân khác nhau, các đặc điểm về hoàn cảnh phát âm khác nhau, mục đích phát âm khác nhau mà tiếng nói phát ra có những phần khác nhau.

    Ngữ âm học là ngành nghiên cứu về cơ chế tạo sản các âm thanh của tiếng nói con người, cho nên, ngoài việc mô tả một cách chính xác cơ chế đó hoạt động như thế nào thì cần phải đặc tả một cách chính xác các sự biểu hiện khác nhau của tiếng nói ấy, tức là các kết quả của cơ chế tạo sản âm thanh tiếng nói con người. Chính vì thế, các dạng thể âm thanh là vô hạn. Và đơn vị của ngữ âm học là các âm tố, tức là các âm thanh tự nhiên của tiếng nói con người.

    Ngược lại, bởi vì con người sống theo xã hội, theo cộng đòng nên muốn giao tiếp được với nhau thì người ta phải có mã do cộng đồng quy định sử dụng. Dẫu người ta có thể khác nhau về các đặc điểm tâm lí, sinh lí, trình độ học vấn, địa phương cư trú nhưng muốn để giao tiếp được, truyền được thông điệp, yêu cầu của mình tới người khác thì mã âm thanh sử dụng phải có tính xã hội hoá. Chính vì vậy, sự khác nhau về dạng thể giữa các âm thanh của có những hình thức, những biến thể của những đơn vị âm thanh mang chức năng trong xã hội loài người. Những đơn vị âm thanh mang chức năng đó được ngôn ngữ học là các âm vị. Theo nguyên tắc tối thiểu về đặc điểm cấu trúc, tối đa về khả năng sử dụng, các đơn vị âm thanh của ngôn ngữ buộc phải là hữu hạn và đếm được.

    Sự phân biệt giữa ngữ âm học và âm vị học về mặt đơn vị có nguồn gốc từ một lưỡng phân nổi tiếng của F. de Saussure (1913) về sự phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói. Theo ông, người ta không bao giờ lặp lại được lời nói của chính mình, cho nên, lời nói là vô hạn, lời nói biến đổi theo hoàn cảnh, theo thời gian và theo không gian. Ngược lại là thiết chế của xã hội, là một trong những đặc điểm để xác định tộc người của quốc gia nên tính ổn định của nó rất cao, cao như hoặc cao hơn các thiết chế xã hội khác). Ổn định về ngôn ngữ để nối tiếp được các thế hệ với nhau trong cả một truyền thống lịch sử; đồng thời, ổn định về ngôn ngữ còn có tác dụng liên kết những nhóm người ở những vùng đất khác nhau thành một quốc gia. Trong tính ổn định như vậy, ngôn ngữ được tao nên bằng các giá trị hữu hạn, có tính hệ thống. Sự phản ánh mối quan hệ giữa lời nói và ngôn ngữ trong âm vị học trở thành sự đối lập giữa ngữ âm học và âm vị học.

    2. Để quan sát được các hiện tượng âm thanh tiếng nói con người, các nhà nghiên cứu có thể tận dụng tất cả các phương tiện kĩ thuật và máy móc. Với yêu cầu tính chính xác và chi tiết về đặc điểm âm thanh, người ta có thể nhìn các âm tố từ nhiều bình diện khác nhau:

    – Từ bình diện sinh lí cấu âm;

    – Từ bình diện thẩm nhận âm thanh;

    – Từ bình diện thực thể âm thanh.

    Ở tất cả các bình diện này người ta đều sử dụng các quan niệm có thánh chất khoa học tự nhiên để nghiên cứu âm thanh, nghĩa là mô tả về các đặc điểm cấu trúc của âm thanh, giống như ở trong thế giới tự nhiên, các hiện tượng là vô tận thì các đặc điểm về âm thanh tiếng nói con người cũng vô tận như vậy. Chính vì theo quan điểm của khoa học tự nhiên nên ngữ âm học chia các hiện tượng âm thanh thành các loại thể âm thanh cũng tương tự như sinh vật học phân loại các giống loài thực vật và động vật có trong thiên nhiên, dựa trên các đặc điểm hình thể. Ngược lại, đối với âm vị học, do xuất phát từ định đề coi ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội nên sự phân loại các hiện tượng âm thanh cũng như sự nhận diện ra các đặc điểm âm thanh là theo quy chiếu của chức năng của âm thanh đối với giao tiếp xã hội. Như vậy, có nghĩa là có rất nhiều các đặc điểm cấu trúc của âm thanh không được sử dụng làm gì trong quan điểm âm vị học, do đó nó không có chức năng phục vụ xã hội và bị coi là dư thừa, không mang tính âm vị học.

    Ví dụ:

    3. Nghiên cứu âm thanh theo quan điểm cơ chế tạo sản và sự phân loại có tính hình thức về âm thanh theo quan điểm của ngữ âm học sẽ dẫn đến chủ nghĩa cân đối hình thức của các âm. Đó là sự nghiên cứu các âm lí tưởng lẫn các âm hiện thực, các âm tiềm năng và các âm đã được sử dụng.

    1, Số thanh bằng phải ít hơn nếu hệ thanh đó thiên về hệ thanh đường nét;

    2, Số thanh đi lên, hoặc có thành phần đi lên ở cuối cấu trúc thanh, nhiều hơn so với số thanh đi xuống, hoặc có thành phần đi xuống;

    3, Nếu như hệ thanh thiên về bằng phẳng thì số thanh đường nét phải ít hơn so với số thanh bằng.

    Đó chính là cái lí ở trong thực tế, cái lí của sự tồn tại. Xu hướng của con người là tìm đến sự đơn giản nên không thể có những sự kiện âm thanh quá phức tạp, có những cấu trúc bị đánh dấu đến mức vừa khó phát âm, vừa khó cảm thụ lại khó nhớ. Đó chính là quan điểm của âm vị học khi nhìn vào các hiện tượng âm thanh: ngôn ngữ là của con người, ngôn ngữ phải phục vụ con người theo nguyên tắc tiết kiệm và ít bị đánh dấu, mang tính tự nhiên cao.

    Bất kì ngôn ngữ nào, cho đến ngày nay, tồn tại được và phục vụ con người được cho con người đều phải trải qua những quá trình tiếp xúc với những nền văn hoá khác nhau. Những va chạm và tiếp xúc ấy đã làm cho tính cân đối của hệ thống âm thanh (nếu có) bị mai một, biến dạng đi theo thời gian trước những nhu cầu sử dụng rất khác nhau của con người đối với ngôn ngữ.

    Ví dụ: Tính cân đối giữa âm môi vô thanh-hữu thanh của loạt trước trong tiếng Việt đã từng tồn tại trong thời xa xưa (trước thế kỉ 17). Nhưng do áp lực từ những tiếp xúc khác nhau đối với tiếng Hán cận hiện đại, tiếng Hán thổ ngữ mà âm /p/ đã bị tiêu biến đi. Từ sau năm 1987 trở lại đây, hình như đã có dấu hiệu xuất hiện trở lại của âm /p/. Do nhu cầu định danh cho sự vật mới, người Việt phải vay mượn các từ có gốc Ấn-Âu. Ngược lại, sự kết hợp trong vần giữa /–/ và /-w/, /–/ và /-w/ để tạo nên các vần /u/ và /w/ là một sự kết hợp rất Mon-Khmer, nhưng do tiếng Việt tiếp xúc với các ngôn ngừ Tày-Thái ở phía bắc (đây là những ngôn ngữ mà ngay cả âm // cũng là âm có tần ố xuất hiện rất thấp, chứ chưa nói đến khả năng kết hợp giữa /–/ và /-w/; /–/ và /-w/… Ảnh hưởng tiếp xúc đó đã tạo nên sự khác biệt rất lớn giữa phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung. Cụ thể là, phương ngữ Bắc, do tiếp xúc trực tiếp Tày-Nùng nên không có cơ hội để phát âm lại các âm đó nữa; còn phương ngữ Trung, do không tiếp xúc trực tiếp với tiếng Tày-Nùng, nhất là trong thời kì hiện đại nên phong vị cổ của 2 vần này vẫn còn được giữ lại nhiều.

    4. Để phân biệt âm thanh tiếng nói con người với âm thanh của các loài vật khác, người ta căn cứ vào các cơ chế sinh lí học của các cơ quan phát âm, khả năng thụ cảm của các cơ quan thính giác và thần kinh. Ví dụ như, đẻ mô tả sự tạo thành một phụ âm, người ta phải căn cứ trên các thuộc tính sau đây về sinh lí cấu âm:

    Ví dụ:

    Như vậy, âm của mọi người đều giống nhau vì đó là nguyên lí chung để định nghĩa âm thanh con người, phân biệt với các loài khác. Đó là quan điểm mang tính tự nhiên về bản chất âm thanh con người. Do đó, người ta nói ngữ âm học mang bản chất nhân loại, bản chất thế giới. Chính vì thế, ngay từ thế kỉ 19, các nhà ngữ âm học thế giới đã lập cho mình một hội nghề nghiệp mang tên Hội Ngữ âm học quốc tế – IPA.

    Vậy, ngữ âm học là ngành nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người không phân biệt tuổi tác, giới tính, quốc gia…

    Còn âm vị học không mang tính nhân loại, âm vị học là ngành nghiên cứu hệ thống âm thanh của một cộng đồng xác định. Cộng đồng ấy là chủ nhân của một hệ thống âm thanh. Họ sử dụng nó cho những mục đích rất khác nhau trong đời sống giao tiếp cộng đồng. Và vì họ nằm lòng ngôn ngữ ấy, hệ thống âm thanh ấy ngay từ khi còn trong bụng mẹ nên họ có trực cảm về nó như là một vật rất thân quen nhưng lại không ý thức được điều đó.

    * Tóm lại:

    Có hai ngành nghiên cứu về âm thanh tiếng nói con người vì đối tượng, phương pháp, phương pháp luận và mục đích giữa hai ngành là khác nhau. Một bên nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người nói chung cho nên mang tính phổ niệm, tính khái quát; một bên là nghiên cứu về một hệ thống âm thanh được sử dụng ở một cộng đồng hoặc một phạm vi cụ thể nên nó mang tính đặc thù. Hiểu được sự khác nhau giữa hai ngành học này, người ta có thể ứng dụng các kết quả nghiên cứu một cách hiệu lực cho những lĩnh vực khác nhau. Ví dụ: trong việc phục hồi chức năng của những người bị bệnh lời nói thì phải sử dụng ngữ âm học nhưng trong việc nhận diện ra các bệnh thất ngôn thì người ta phải dùng các kết quả của âm vị học. Cũng tương tự như vậy, để dạy cho người nước ngoài nói tiếng Việt thì phải tận dụng các kiến thức của ngữ âm học nhưng để phân biệt các giọng nói khác nhau của từng vùng đất khác nhau trong một quốc gia thì phải có thái độ âm vị học (phân biệt từ địa phương về mặt ngữ âm và từ địa phương về mặt từ vựng).

    Nguồn: Ngonngu.net

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hình Ảnh Người Phụ Nữ Trong Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Hồ Xuân Hương
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Đề Số 4: Phân Tích Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương
  • 4 Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương
  • Biểu Diễn Âm Vị Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Bánh Trôi Nước – Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Bài Thơ Bắp Cải Xanh ( Phạm Hổ ) – Dành Cho Thiếu Nhi Đặc Sắc Nhất
  • Bạn Đến Chơi Nhà (Nguyễn Khuyến) – Tình Bạn Chân Thành Không Màng Vật Chất
  • Nội Dung, Nghệ Thuật Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà Lớp 7
  • Dàn Ý Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà Lớp 7
  • Biểu

    diễn âm vị học

    (phần

    đầu)

    Âm thanh lời nói là một

    hiện tượng tự nhiên bao gồm những dao động của thực thể vật lí mà âm học

    hiện đại biểu thị ra bằng cao độ (nội dung của dây thanh), cường độ,

    trường độ…

    Nhưng từ khi xuất hiện

    văn tự, âm thanh không còn là một dạng thể hoàn toàn tự nhiên nữa. Nó được

    biểu diễn ra trên kênh viết dưới hình thức văn tự ghi âm ghi âm. Đó chính

    là một phép chuyển kênh hay là một sự cải biến về âm thanh tự nhiên sang

    các kí hiệu được thụ cảm bằng thị giác (từ thính giác tới thị giác).

    “Lời nói gió bay” là

    nhược điểm lớn nhất của âm thanh bằng lời. Lời nói muốn được lưu giữ lại

    cần đến sự tác động nhân tạo vào đối tượng. Vì sự lưu lại lời nói âm thanh

    cho con người là có ích về nhiều mặt. Vì vậy, từ khi có ngôn ngữ học,

    người ta luôn luôn tìm ra những giải pháp tối ưu hơn cho việc lưu lại âm

    thanh tự nhiên của con người. Chúng ta có những dạng sau đây:

    Tự

    nhiên (sóng âm)

    Lưu

    giữ (nhân tạo tính)

    Âm thanh tự nhiên

    Thẩm nhận qua tai: Băng/đĩa từ, đĩa quang…

    Thẩm nhận qua thị giác

    1a. Chữ viết ghi âm (abc)

     

    1b. Chữ viết ghi âm tiết (văn tự

    Sumer)

     

    2. Phiên âm

    2a. Ngữ âm học (IPA)

    2b. Âm vị học:

      - Cấu trúc luận

      - Tạo sinh luận

      - Âm vị học tự chiết đoạn

     

     

    Dạng ghi lời nói qua văn

    tự, tuỳ theo tiến bộ của khoa học kĩ thuật mà âm thanh có thể được chuyển

    tải, được ghi lại với mức độ chính xác khác nhau. Tuy nhiên, các điều kiện

    kĩ thuật của con người không thể phản ánh trung thực và khách quan những

    điều tế vi nhất của âm thanh con người.

    Còn những sự lưu giữ

    thông qua kênh thị giác là hình ảnh chủ quan của con người về thế giới âm

    thanh. Bằng chứng là dòng âm thanh liên tục đã được cắt ra theo truyền

    thống chữ viết của từng dân tộc. Tuỳ theo nét thô hay nét tinh mà các chữ

    cái được sắp lại thành chuỗi nhằm thể hiện được tính liên tục của âm thanh

    trong tự nhiên:

    Ví dụ: //:

    tr

    Trong hình dung của A. de

    Rhodes (1651), âm này được “tãi” ra thành hai yếu tố tuyến tính đi cạnh

    nhau và /t/ và /r/. So sánh: trời, blời, tlời… Có lẽ vào thời ấy, ở

    phụ âm đầu tiếng Việt còn tổ hợp phụ âm đầu như bl, tl, tr… Nhưng ở

    người Việt hiện đại, bất kì trong một thổ ngữ nào, phụ âm đầu này luôn là

    phụ âm quặt lưỡi đơn nhất, đồng chất và không mang tính hình tuyến. Tiếng

    Việt đã trải qua quá trình đơn tiết hoá đến triệt để, đến nỗi một âm tiết

    xét về mặt chiết đoạn chỉ là một tổ hợp của 3 thành phần âm thanh, mô

    phỏng một cách tự nhiên chu kì cấu âm của con người.

    Các âm khác như /f/,

    /t’/, /χ/ ở trong tiếng Việt được ghi bằng “ph, th, kh” là cũng có lí do

    tương tự như vậy. Vào thời kì A. de Rhodes, người Việt cận đại có lẽ lúc

    đó phát âm các phụ âm đầu này như là những tắc bật hơi để phân biệt với

    các âm tắc bình thường:

    */p’/

    (/f/)

    */t’/ →

    (t’/)

    */k’/ →

    (/χ/)

    Vì vậy, ông đã

    sử dụng chữ “h” để ghi các yếu tố bật hơi có trong tiếng Việt. Do vậy mà ở

    vị trí đầu này đã có tới 2 chữ cái cho một âm vị.

    Văn tự là văn hoá, là

    thói quen ghi chữ của một cộng đồng. Gần 4 thế kỉ tồn tại của hệ chữ viết

    Việt Nam đã tạo thành một nét văn hoá trong chữ viết, đến mức một cá nhân

    dẫu có uy tín lớn như Hồ Chí Minh rất mong muốn “âm vị hoá” hoá lại hệ chữ

    viết này ngay từ khi Người đi tìm đường cứu nước đến khi Người viết di

    chúc mà ý nguyện đó vẫn chưa thực hiện được. Đó chính là tính độc lập

    tương đối của văn tự, là hình ảnh âm thanh quá khứ dội về. Đó là tiếng

    vang văn hoá và không thể ngày một, ngày ngày hai mà có thể cải tiến và

    sửa chữa được.

    Như vậy, người ta có thể

    lưu giữ lời nói âm thanh tự nhiên của con người thông qua hệ chữ viết của

    mình, nhưng đây là một thứ biểu diễn âm vị học sơ cấp, tính khoa học

    nhường chỗ cho tính văn hoá và tình phổ cập. Từ khi xuất hiện cấu trúc

    luận, nhất là từ khi xuất hiện những tuyên ngôn của trường phái Praha về

    ngôn ngữ học, người ta lưu ý hơn đến việc lưu giữ hệ âm thanh tiếng nói

    con người thông qua kênh thị giác. Bởi vì, qua kênh thị giác, con người có

    thời gian suy nghĩ nhiều hơn về bản chất âm thanh tiếng nói con người, tận

    dụng được năng lực cảm nhận một cách tối ưu cái mà tự nhiên cấp cho con

    người: 90% thông tin con người nhận được là thông qua thị giác.

    Nhưng từ cấu trúc luận

    trở đi, việc biểu diễn âm vị học không còn là một hành động tự phát của

    con người trong việc đòi lấy một sự bình đẳng giữa kênh nghe và kênh nhìn.

    Từ cấu trúc luận trở đi, người ta chia thành hai dạng biểu diễn âm vị học:

    một dạng mang tính ngữ âm học; một dạng mang tính âm vị học. Cả hai dạng

    này đều là những cố gắng tự giác của con người trước âm thanh của mình.

    Biểu diễn âm thanh theo lối ngữ âm học là sử dụng một bảng phiên âm thống

    nhất trên toàn thế giới cho việc ghi lại một dòng âm thanh thanh mà con

    người ta nghe được. Từ 1890, khi

    Hội Ngữ âm học quốc tế (International Phonetic Association – IPA) được

    hình thành, việc đầu tiên trong các việc họ phải làm là thiết lập một bảng

    chữ cái chung cho các âm có trên toàn thế giới. Bảng phiên âm này có tên:

    International Phonetic Alphabet (IPA). Cứ 5 năm một lần kể từ

    khi thành lập, những nhà ngữ âm học quốc tế lại nhóm họp để cải biên, bổ

    sung, sửa đổi cho bảng chữ cái này tương thích hơn với hệ âm thanh tiếng

    nói con người. Bảng IPA bao gồm các kí tự Latinh, kí tự Hi Lạp và một hệ

    các dấu phụ để phản ánh được trung thành hơn các dạng thể âm thanh của con

    người. Vào năm 1993, sau gần 100 năm xuất hiện IPA, các nhà ngữ âm học đã

    chỉnh sửa và đưa ra bảng chữ cái quốc tế cho phiên âm mà chúng ta đang

    dùng.

    Việc sử dụng bảng IPA để

    phiên âm được gọi là phép phiên âm hẹp theo trường phái Mĩ, vì người phiên

    âm phải phiên âm một cách trung thành và chính xác dòng âm thanh mà mình

    tiếp nhận.

    Ví dụ:

    “toan” = bao

    gồm:

    và , đứng ở vị trí cuối cùng của âm tiết, một vị trí không thuận lợi cho

    việc phân biệt giữa nét hữu thanh và vô thanh, giữa nét tắc và xát, trường

    độ của âm cuối vô cùng ngắn (âm cuối thường có trường độ từ 3–5ms trong

    tương quan với âm đầu có trường độ là từ 17–25ms), nên ) ()

    2. Danh sách các nét khu biệt:

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    +PAT

    +Tắc

    +Răng-lợi

    +Vô thanh

     

     

     

    +NAT

    +Giữa

    +Thấp

    +Đơn

     

     

     

    +PAT

    +Răng-lợi

    +Mũi

     

     

     

     

     

     

    +Tròn môi

     

     

     

    +Thanh điệu tính

    +Bằng

    +Cao

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    3. Luật âm vị học:

    /

    /

    C1 ≠

    (luật)

     

    (chu

    cảnh)

     

    : /-u-/, /-o-/, /-uo-/,…

    : Âm tiết có âm đệm

    Biểu diễn âm vị học

    (phần cuối)

    1.

    Ở danh sách âm vị, trong mỗi biểu diễn âm vị học, thường có 2 phần tách

    rời nhau là biểu diễn âm vị học ở phía trái và biểu diễn âm vị học ở phía

    phải. Biểu diễn âm vị học ở phía trái là phần chia hết theo lí thuyết

    chiết đoạn, nghĩa là theo lí thuyết về phổ niệm âm thanh, bất kì một âm

    tiết nào cũng là sự tổ hợp của 3 giai đoạn khác nhau của một chu kì phát

    âm tự nhiên:

    Một âm tiết bao gồm một hạt nhân của nó. Đây là

    phần chủ đạo về âm hưởng của một âm tiết. Nó chiếm giữ hầu hết năng lượng

    của một âm tiết và vì vậy, nó có tính độc lập tương đối, đến mức một âm

    tiết có thể chỉ bao gồm mỗi một hạt nhân. Đó chính phần V. Ở phía trước và

    ở phía sau V, hay còn gọi là giai đoạn khởi và giai đoạn thoái trong âm

    tiết, là vị trí ưa thích của các chiết đoạn phụ âm tính. Trong âm vị học,

    đó là C1 hoặc C2.

    Bản thân từ nguyên của

    chữ “phụ âm” (consonant) đã nói lên tính phụ thuộc của các yếu tố phía

    trước và phía sau nguyên âm: con – đi kèm; sonant – âm.

    Chúng là các yếu tố âm thanh chứa ít năng lượng nhất nên luôn luôn phải

    bám vào các nguyên âm để tồn tại. Các số (1) và (2) đi sau kí hiệu C, đối

    với tiếng Việt, là để chỉ vị trí cụ thể của các phụ âm trong mối tương

    quan với nguyên âm có trong một âm tiết. Ta có C1 là phụ âm đầu

    (ở vị trí giai đoạn tiếng của một âm tiết), C2 là phụ âm cuối

    (ở vị thoái của một âm tiết). Kết quả, ta được một mô hình chung cho biểu

    diễn âm vị phía trái là:

     C1   V   C2 

    *Ý nghĩa:

    Không như Cao Xuân Hạo

    hoặc Nguyễn Quang Hồng đã tuyên bố: âm tiết tiếng Việt là một hiện tượng

    kì dị trong ngôn ngữ thế giới vì người ta không thể cắt âm tiết thành từng

    phần được, không chiết đoạn hoá được các âm vị bên trong một âm tiết, âm

    vị học tiếng Việt hiện đại cho rằng: tiếng Việt cũng chỉ là một mảnh của

    cánh đồng âm thanh nhân loại. Nó là âm thanh của con người nên nó phải có

    tính nhân bản. Nếu như toàn bộ các ngôn ngữ đều có cấu trúc âm tiết là:

    – phần đầu âm tiết (C1);

    – phần giữa âm tiết (V) là hạt nhân;

    – và phần cuối âm tiết (C2) để kết thúc âm tiết

    thì tiếng Việt

    cũng phải nằm trong quy luật tự nhiên này, nghĩa là nó vân phải có 3 phần

    như vậy. Đó là phần lõi hay tính nhân bản của loài người. Không nên cho âm

    tiết tiếng Việt là có hình dáng kì quái đến mức chỉ mỗi người Việt là phát

    âm được.

    Nhưng tiếng Việt phải có

    khó khăn của riêng nó trong việc phát âm các âm tiết. Sau khi thoả mãn

    phần nhân loại, tiếng Việt chuyển sang phần bản sắc của mình. Đó là phần

    biểu diễn âm vị học phía phải của âm tiết. Ở đó, chúng ta ghi ra những đặc

    thù về mặt phát âm của âm tiết tiếng Việt – những yếu tố “cặn” còn đọng

    lại không chia hết được theo nguyên tắc chiết đoạn luận của ngữ âm học

    phương Tây. Đây là phần bản sắc của âm thanh tiếng Việt. Đó là sự tròn môi

    hoá âm tiết mà cấu trúc luận gọi là âm đệm. Đó là toàn bộ hệ siêu đoạn

    được bộc lộ ra bằng thanh điệu tiếng Việt. Đó là sự kết thúc theo biểu

    bình thường hay có “sạn”. Đó là sự cố kết theo cách căng hay lơi ở phần

    vần của âm tiết để tạo ấn tượng hạt nhân dài ra hay ngắn lại. Như vậy là ở

    phía phải của một biểu diễn âm vị học, theo cách đầy đủ nhất sẽ gồm 4 yếu

    tố, không được xếp một cách tuyến tính, sau đây:

    Tuyến

    tính

     

    Phi

    tuyến tính

     C1VC2

    1.

    2. /…/] / / ) ()

    2.                  

    “tan”

    ()

    3.                  

    “quan”

    (

    ) ( ) ()

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    +PAT

    +Tắc

    +Răng-lợi

    +Vô thanh

    -Mũi

     

     

     

    +NAT

    +Giữa

    +Thấp

    +Đơn

     

     

     

     

    +PAT

    +Tắc

    +Răng-lợi

    +Mũi

     

     

     

     

     

     

    +TĐT

    +Bằng

    +Cao

     

     

     

    +Căng

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2. “tan”: ()

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    ~

     

     

     

     

    ~

     

     

     

     

    ~

     

     

     

     

     

     

    ~

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    3. “quan”: ()

    () ()

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    +PAT

    +Bên

     

     

     

    ~

     

     

     

     

    ~

     

     

     

     

     

     

    ~

     

     

     

     

    ~

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    3.

    Giới thiệu về hệ thống âm vị học của một ngôn ngữ, ngoài việc thống kê

    danh sách âm vị học và nét khu biệt, còn phải đề cập đến các điều kiện

    xuất hiện của các âm vị và các nét khu biệt này. Hình thức hoá các điều

    kiện này được gọi là luật âm vị học.

    Luật âm vị học được chia

    thành hai loại:

    a. Các luật âm vị học

    về tổ chức một âm vị hay đó là cấu trúc nét của âm vị;

    Ví dụ:

    Trong tiếng Việt, các âm để tạo nên được một phụ âm đầu chính danh. Ta có một số phụ âm

    tiếng Việt như sau:

    p

    t

    c

    k

    b

    d

    luật a3

    luật a1

    luật a2

    f

    s

    ş

    χ

    v

    z

    γ

    Ta có luật

    âm vị học a là:

    a1:

    a2:

    a3:

    Nói cách khác, luật a chính là luật trục dọc hoặc luật hệ hình để

    thể hiện khả năng hay tiềm năng của hệ thống âm vị học. Chúng góp phần

    giải thích tại sao và ở chỗ nào một hệ thống âm vị học lại trở nên không

    cân đối.

    b. Sự tương hợp của

    các nét khi đứng cạnh nhau trong một cấu trúc âm thanh lớn hơn. Ví dụ

    như trong một hình tiết hoặc một hình vị.

    Luật b

    chính là luật thể hiện trục ngang hay khả năng kết hợp của các âm vị đứng

    cạnh nhau trong một cấu trúc âm thanh lớn hơn so với âm vị. Ví dụ:

    Trong tiếng Việt có một nguyên tắc là: Các âm vị khi kết hợp phải xa nhau

    Trong tiếng Việt, các nguyên âm cùng một vị trí của lưỡi thì không thể kết

    hợp với nhau. Ta không có:

    *, *, *…

    Và tương ứng với trường hợp này là luật b2:

    C1 + R

    S

    R = V + C2

     

    điều kiện: {C1 ≠ V (R)} ≠ [+tròn môi]

    Nói tóm lại, khác với âm

    vị học cổ điển, âm vị học hiện đại ngoài việc cho biết danh sách âm vị học

    và các nét khu biệt của một hệ thống, nó còn giải thích lí do xuất hiện

    cũng như lí do một âm vị có một dạng cụ thể của một âm vị. Những điều này

    giúp cho việc đối chiếu, so sánh âm vị học giữa các ngôn ngữ trở nen có cơ

    sở đáng tin cậy hơn nhiều.

    Tuy nhiên, để có được

    những căn cứ xác thực cho một sự tương hợp giữa các nét âm vị học, người

    ta phải cần nhiều đến các cứ liệu trong thực tế: trong từ vựng của một

    ngôn ngữ, trong sự kết hợp và thể hiện của một âm vị có trong lời nói tự

    nhiên hoặc trong các biến thể khác nhau của các phương ngữ. Chính vì vậy

    mà âm vị học hiện đại khác hẳn âm vị học truyền thống ở tính quan tâm đến

    nhiều mặt khác nhau của một ngôn ngữ tự nhiên. Nhà âm vị học hiện đại,

    ngoài tri thức chắc chắn về âm vị học, còn cần đến những tri thức sâu sắc

    trong thi pháp học, phương ngữ học, ngữ nghĩa học và ngữ pháp học. Nói

    cách khác, âm vị học hiện đại chính là một ngôn ngữ học thu nhỏ.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thân Phận Người Phụ Nữ Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương (1)
  • Giáo Án Lớp 7 Môn Ngữ Văn
  • Dàn Ý Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7
  • Tìm Nét Nghĩa Tả Thực Và Nét Nghĩa Biểu Tượng Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Để 2 1 Chép Thuộc Phần Phiên Âm Và …

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh
  • Ngữ Văn 8 Tập 2 Siêu Ngắn Gọn Dễ Hiểu
  • Đề Kiểm Tra Học Kỳ Ii Năm Học 2022
  • Phân Tích Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh Văn Hay Chọn Lọc Lớp 8
  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Tâm Hồn Của Bác Qua Bài Thơ Ngắm Trăng (Dàn Ý + 5 Mẫu)
  • Phiên âm

    Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,

    Đối thử lương tiêu nại nhược hà ?

    Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,

    Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

    Dịch thơ:

    Trong tù không rượu cũng không hoa,

    Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ;

    Người ngắm trăng soi ngoài cửa số,

    Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

    – Hoàn cảnh sáng tác:Bài thơ rút trong “Nhật ký trong tù”; tập nhật ký bằng thơ được viết trong một hoàn cảnh đoạ đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng trong nhà tù, qua đó nói lên một tình yêu trăng, yêu thiên nhiên tha thiết của Bác.

    Câu 2:a.Phép tu từ

    _Phép tu từ nhân hóa:”trăng nhòm”-Điệp Từ”ngắm”

    b.Giá trị nhân hóa:Trăng được nhân hóa có khuôn mặt và ánh mắt như người,người và trăng đồng điệu,chung hòa.Như thể bác Hồ và trăng hết sức gắn bó,thân thiết

    *Giá trị điệp từ:Từ “ngắm” được đệp lại hai lần,nghệ thuật đối xứng nhấn mạnh hình ảnh trăng và người.Đó là tư thế ngắm trăng cực đẹp,hướng tới cái đẹp của cuộc đời.

    (xin lỗi,mik ko giúp đc câu 3)

    Câu 4:

    Sự hoán đổi vị trí câu thơ thứ tư khiến cho con người trở thành đối tượng chiêm ngưỡng của trăng.Con người trở thành cái đẹp tỏa sáng.

    Như thế,trăng và người là sự sánh đôi của cái đẹp.Hai cái đẹp đó cùng đối diện và tỏa sáng bên nhau tạo ra một sự cộng hưởng.Ngục tù lúc này trở thành nơi gặp gỡ-tương giao-tỏa sáng của cái đẹp.

    Câu 5 :

    Bài Ngắm trăng viết trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, giới thiệu một tư thế ngắm trăng độc đáo, biểu lộ một phong thái sống ung dung, chủ động ngay trong những cảnh ngộ ngặt nghèo. Bài thơ kết tinh cao độ phong thái sống của Hồ Chí Minh. Ở đây, sự vượt ngục đã hoàn thành một cách thần kì, sự phấn đấu đã trở nên hài hòa, thư thái.

    Trong tù không có rượu, cũng chẳng có hoa là sự bình thường, việc cố nhiên. Nhưng thấy cảnh đẹp mà bối rối (nại nhược hà) thì không phải là việc bình thường, dễ thấy. Tại sao lại bối rối? Trăng đẹp thì ngắm trăng. Thường người đời chỉ ngắm trăng khi lòng thư thái, thanh nhàn, dư dật về kinh tế, có rượu, có hoa. Khi ấy Bác đang ở trong tù, dư dật, nhàn nhã gì mà ngắm trăng? Chúng ta sống ngoài đời tự do mà cũng ít khi để ý đến vầng trăng tròn, khuyết trên đầu. Trong truyện ngắn Trăng sảng của Nam Cao, bà vợ nông dân của văn sĩ – nhà giáo khổ Điền đã gắt lên với chồng khi ông này gọi bà để khoe trăng sáng quá: Trăng sáng thì tắt đèn cho đỡ tốn hai xu dầu, chứ có gì mà phải gọi!

    Đêm tù ấy, Bác chẳng có phương tiện vật chất gì để thưởng nguyệt. Nhưng chẳng lẽ để vẻ đẹp ấy trôi qua vô ích? Nên Bác mới bối rối. Dịch nại nhược hà (làm thế nào bây giờ) thành khó hững hờ cũng gọn nhưng chưa cho thấy hết cái lúng túng của một tâm hồn nghệ sĩ bất ngờ gặp cảnh đẹp của thiên nhiên. Câu thơ mở đầu trần trụi như một bản kiểm kê, tả cảnh sống người tù. Câu thơ thứ hai đã tả tâm hồn của một thi nhân với thi hứng dạt dào, tinh tế, thơ mộng. Cái thơ mộng này đối chiếu với cái thực tế ở câu trên tạo nên một thi vị hóm hỉnh của Hồ Chí Minh. Bác yêu vầng trăng trên đầu, nhưng Bác không quên cái cùm sắt cụ thể dưới chân. Thơ mộng nhưng không viển vông. Thiết thực nhưng không chặt đi đôi cánh của trí tưởng tượng. Chính đôi cánh ấy đã giúp Bác bay ra ngoài song sắt lúc nào không hay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • A Ipitphut Phần 1Bar Đọc Hiểu (50 Đ…
  • Tác Phẩm: Tĩnh Dạ Tứ
  • Thơ Chế Cực Hài Hước
  • Lý Bạch – Nhà Thơ Đường Nổi Tiếng Về Uống Rượu Ngâm Thơ
  • Lý Bạch Đứng Ở Đâu Ngắm Trăng Trong Bài “Tĩnh Dạ Tư?”
  • Soạn Bài: Bánh Trôi Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Bánh Trôi Nước/ Thơ Hồ Xuân Hương/ Ngân Triều Chú Giải
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Phân Tích Ý Nghĩa Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Khái Quát Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Tác Giả Hồ Xuân Hương
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả (mời các em tham khảo phần giới thiệu về tác giả Hồ Xuân Hương trong SGK Ngữ văn 7 Tập 1)

    2. Tác phẩm

    Bài thơ Bánh trôi nước được sáng tác theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Bài thơ gồm có 4 câu, mỗi câu có 7 chữ, cách ngặt nhịp 4/3 truyền thống và vần được gieo ở chữ cuối của những câu 1,2,4.

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    Bài thơ Bánh trôi nước thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Bởi vì:

    • Bài thơ có 4 câu
    • Mỗi câu thơ gồm 7 chữ
    • Ngắt nhịp 4/3
    • Vần được gieo ở cuối những câu 1,2,4

    Câu 2:

    Nghĩa thứ nhất của bài thơ thuộc về nội dung miêu tả bánh trôi nước khi đang được luộc chín. Nghĩa thứ hai thuộc về nội dung phản ánh vẻ đẹp, phẩm chất và thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ.

    a) Với nghĩa thứ nhất, bánh trôi nước được Hồ Xuân Hương miêu tả như một vật thể có màu trắng của bột, hình dạng viên tròn, nếu nhào bột mà nhiều nước quá thì bánh sẽ nát (nhão), còn nếu ít nước quá thì bánh sẽ rắn (cứng), được luộc chín bằng cách cho vào nồi nước đun sôi, khi chín thì bánh sẽ nổi lên, còn những chiếc bánh vẫn chìm là chưa chín.

    b) Với nghĩa thứ hai, có thể nói, hình ảnh bánh trôi nước đã trở thành một biểu tượng, tượng trưng cho người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa qua những phương diện:

    • Bề ngoài: xinh đẹp, trắng trẻo
    • Phẩm chất: thủy chung, son sắt một lòng, không bị cảnh ngộ chi phối
    • Thân phận: chìm nổi, bấp bênh giữa cuộc đời.

    c) Trong hai nghĩa trên, nghĩa thứ hai mới chính là nghĩa quyết định giá trị của bài thơ. Bời vì nghĩa thứ nhất chỉ là phương tiện để nhà thơ chuyển tải nghĩa thứ hai. Hình ảnh bánh trôi nước là biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam với những vẻ đẹp, phẩm chất trong trắng, son sắt nhưng số phận của họ lại bấp bênh, chìm nổi. Đây mới chính là mục đích sáng tác của nhà thơ và nhờ đó mà bài thơ mới có giá trị tư tưởng.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7 Hồ Xuân Hương
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7
  • Bài Viết Tuyên Truyền Về Thực Hiện An Toàn Giao Thông
  • Tự Học Tiếng Trung Qua Truyện Cười Song Ngữ Trung – Việt (Có Phiên Âm)

    --- Bài mới hơn ---

  • Hài Đau Cả Bụng Luôn
  • Em Hãy Trình Bày Suy Nghĩ Của Mình Về Việc Cho Và Nhận Thông Qua Câu Chuyện Cười “Cứu Người Chết Đuối”
  • Câu Chuyện Cứu Người Chết Đuối. Anh (Chị) Suy Nghĩ Gì Về Ý Nghĩa Được Gợi Ra Từ Câu Chuyện Trên?
  • Những Câu Đố Tục Giảng Thanh Cực Kỳ Hay 2022
  • Truyện Cười Người Lớn Archives
  • Giá thị trường:150.000đ

    Rèn Kỹ Năng Làm Bài Trọng Âm Ngữ Âm Môn Tiếng Anh

    Bí quyết đơn giản nắm trọn điểm phần trọng âm, ngữ âm trong bài thi THPT Quốc gia môn tiếng Anh

    Kỳ thi THPT Quốc gia là một kỳ thi rất quan trọng, vừa phục vụ mục đích thi tốt nghiệp vừa xét tuyển đại học, cao đẳng. Để vượt qua kỳ thi này, trước hết các em cần phải có một tinh thần vững chắc và hơn hết là lượng kiến thức đủ chắc cùng các kỹ năng làm bài trắc nghiệm cần thiết để chinh phục kỳ thi dễ dàng.

    Tiếng Anh là 1 trong 3 môn thi bắt buộc, so với các năm trước đề thi đã chuyển về dạng trắc nghiệm với số câu hỏi được rút gọn xuống còn 50 câu hỏi. Đề thi gồm có 8 dạng bài bao gồm: từ vựng, ngữ pháp, trọng âm ngữ âm, điền từ, đọc hiểu, câu hỏi viết, tìm lỗi sai và từ đồng nghĩa trái nghĩa.

    Trong 8 dạng bài, phần “trọng âm – ngữ âm”  là dạng bài dễ, số lượng câu hỏi ít nhưng để “ẵm” điểm tuyệt đối trong phần này lại không dễ dàng bởi vì:

    Các em không biết cách đánh trọng âm và  đọc chuẩn phiên âm

    Đề thi gồm 50 câu trắc nghiệm, phần trọng âm, ngữ âm chỉ có 4 câu hỏi với 16 từ đơn giản nhưng lại là phần khiến nhiều em hay bị mất điểm nhất. Bởi các em có ôn tập kỹ đến đâu nhưng khi đi thi vẫn cảm thấy lúng túng, phân vân khi câu hỏi xuất hiện nhiều từ vựng có hình thức mới mẻ. Nếu đề thi có các từ có từ 3 – 5 âm tiết thì phải xác định trọng âm như thế nào? Các em không biết cách xác định được trọng âm cũng như cách đọc phiên âm chuẩn của từ nên rất khó để xác định được phương án đúng.

    Các em không nhớ được các quy tắc phát âm và đánh dấu trọng âm của từ

    Học sinh vẫn còn ôn tập phần này rất máy móc, các em dùng từ điển tra từng từ, ghi nhớ và học thuộc lòng mà không tự rút ra được những quy tắc chung. Nhiều em vì thấy điểm phần này ít nên không muốn dành thời gian ôn tập, khi đi thi thường dựa vào “may rủi” bằng cách khoanh mò đáp án.

    Tiếng anh có nhiều trường hợp ngoại lệ dù các em có nắm được quy tắc vẫn không giải quyết được

    Mặc dù các em có ôn tập, nắm hết các quy tắc phát âm, đánh dấu trọng âm nhưng vẫn không đạt điểm cao vì trong tiếng Anh có rất nhiều trường hợp ngoại lệ. Vậy làm sao để các em có thể hệ thống được các trường hợp đặc biệt này để đưa ra cách đối phó phù hợp.

    Sẽ thật tiếc nếu chỉ vì những khó khăn trên mà các em phải bỏ lỡ một phần dễ ăn điểm. Hãy sử dụng ngay cuốn sách “Rèn kỹ năng làm bài trọng âm, ngữ âm môn tiếng Anh” để “ẵm trọn vẹn” điểm phần thi trọng âm, ngữ âm và vững bước trong kỳ thi sắp tới. Đây là cuốn sách của tác giả Mai Phương – chuyên gia luyện thi tiếng Anh hàng đầu tại Việt Nam.

    Các em sẽ nhận được gì khi ôn thi cùng cuốn sách này?

    Tài liệu cung cấp cách phát âm chuẩn cùng cách đánh đúng trọng âm

    Phần I: Lý thuyết

    • Nguyên âm
    • Nguyên âm đôi
    • Phụ âm
    • Trọng âm

    Phần 2: Thực hành

    • Ngữ âm
    • Trọng âm

    Nắm trọn các quy tắc phát âm và đánh dấu trọng âm của người bản ngữ

    Nắm trong tay các quy tắc phát âm của người bản ngữ là các em đã nắm được bí kíp để giải quyết nhanh phần này. Sách cung cấp các quy tắc như quy tắc đánh dấu trọng âm với từ có 3,4 âm tiết, quy tắc nhấn trọng âm đối với từ ghép. Cuốn sách này không chỉ cung cấp các quy tắc mà còn có cả phần giải thích chi tiết bằng tiếng Anh và tiếng Việt nhằm giúp các em nắm chắc bài học và còn tăng được một lượng từ vựng đáng kể.

    Liệt kê các trường hợp ngoại lệ thường xuất hiện trong đề thi

    Bên cạnh nắm vững các quy tắc đánh dấu trọng âm thì các bạn cũng cần nắm được các trường hợp ngoại lệ vì trong tiếng Anh không phải lúc nào cũng có quy tắc. Với cuốn sách này các em sẽ biết được ôn tập bằng cách hệ thống lại toàn bộ trường hợp ngoại lê. Kèm theo đó là hệ thống các câu hỏi giúp các em luyện tập nhuần nhuyễn để khi đi thi dù có gặp phải những trường hợp này các em sẽ có thể giải quyết nhanh chóng.

    Nâng cao kĩ năng làm bài với ngân hàng câu hỏi lên tới 1000 câu

    Phần thực hành với hơn 1000 câu hỏi sẽ là cơ hội để các em có điều kiện áp dụng được phần lí thuyết đã được học. Bên cạnh đó phần lời giải chi tiết kèm phiên âm quốc tế sẽ giúp các em ôn tập được toàn diện kiến thức lẫn kĩ năng làm bài trắc nghiệm. Đề thi chỉ có 4 câu nhưng các em được ôn tới tận 1000 câu, chắc chắn việc ghi điểm trọn vẹn trong phần này là quá đơn giản.

    Tặng 15 bài test online trên test.tkbooks.vn

    Khi mua cuốn sách này, các em sẽ nhận được thêm 15 bài test online về trọng âm và ngữ âm trên website:test.tkbooks.vn. Hãy nhập mã cào ở bìa sau cuốn sách để sở hữu ngay 15 test online ôn luyện siêu tốc.

    Khác biệt với các cuốn luyện phát âm bên ngoài thị trường, cuốn Rèn kỹ năng làm bài trọng âm, ngữ âm môn tiếng Anh là một cuốn sách giúp các em học sinh ôn tập phần này một cách có hệ thống và khoa học. Các em sẽ được hoàn thiện kĩ năng phát âm và đánh dấu trọng âm như người bản ngữ, không chỉ phù hợp với kì thi mà những kiến thức này còn rất bổ ích trong việc học giao tiếp.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tự Học Tiếng Trung Qua Truyện Cười Song Ngữ Trung
  • Truyện Cười Tóc Vàng Hoe
  • Truyện Cười Nước Ngoài #18
  • Truyện Cười Nước Ngoài #11
  • Truyện Cười Nước Ngoài #38
  • Phân Tích Bài Thơ Bánh Trôi Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Bánh Trôi Nước
  • Bánh Trôi Nước/ Thơ Hồ Xuân Hương/ Ngân Triều Chú Giải
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Phân Tích Ý Nghĩa Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Đề bài: Phân tích bài thơ “Bánh trôi nước”

    Bài làm

    Phân tích bài thơ “Bánh trôi nước”– Hồ Xuân Hương được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm. Các sáng tác của bà thường thâm đượm những tâm tư, tình cảm và nói lên số phận bấp bênh, trôi nổi của người phụ nữ. Bài thơ “Bánh trôi nước” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của Hồ Xuân Hương.

    Bài thơ là một bài vịnh về bánh trôi nước. Những câu thơ tuy ngắn gọn nhưng đã khái quát một cách đầy đủ nhất về màu sắc, hình dáng cũng như cách chế biến món bánh này.

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son

    Chỉ cần đọc những câu thơ lên, hình ảnh những chiếc bánh trôi quen thuộc đã hiện lên trước mắt bạn đọc với tất cả những gì tinh khôi nhất. Những chiếc bánh trắng ngần, tròn trịa trông thật thích mắt và nó còn đánh thức vị giác của rất nhiều người. Để có được một chiếc bánh trôi thơm ngon, chúng ta phải trải qua một quá trình chế biến. Bánh được làm bằng bột nếp xay nhỏ rồi hòa với nước cho nhuyễn ra. Người ta vo thành hình tròn như quả táo xanh rồi cho nhân vào giữa. Nhân bánh được làm bằng đường đen vo viên, khi chín đường sẽ chảy ra, thấm dần vào bột tạo cảm giác ngọt lịm nơi đầu lưỡi. Ai thích ăn ngọt nữa thì nấu mật với một chút gừng thành hỗn hợp sệt để ăn cùng bánh. Họ cũng rắc thêm một chút vừng rang giòn ra bên ngoài vỏ bánh để thêm thơm ngon. Người ta đun nước sôi rồi cho bánh vào. Ban đầu bánh sẽ chìm và khi nào bánh nổi thì có nghĩa là bánh đã chín. Vì được làm thủ công nên bánh ngon hay dở, tròn hay méo đều phụ thuộc vào bàn tay và sự khéo léo của người nặn.

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Mượn hình ảnh những chiếc bánh trôi trắng ngần, tròn trịa để nói lên sự trong trắng, tinh khôi trong tâm hồn những người phụ nữ. Hai từ “thân em” chúng ta vẫn thường thấy trong ca dao xưa như là lời bộc bạch tận sâu từ đáy lòng và là lời giới thiệu của những người phụ nữ. Tâm hồn người phụ nữ nhân hậu, trong trắng, đó là phẩm chất cao đẹp nhất của họ. Thế nhưng, đáng nhẽ ra người phụ nữ phải được nâng niu, trân trọng nhưng cuộc đời họ lại là những chuỗi ngày bấp bênh, trôi nổi.

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Sự biến đổi tài tình của câu thành ngữ “Ba chìm bảy nổi” đã khéo léo nói lên được cuộc đời không bằng phẳng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đứng giữa hủ tục “trọng nam khinh nữ”, người phụ nữ chưa bao giờ coi trọng, chưa bao giờ được sống một cuộc sống bình lặng, ấm êm. Cuộc đời của họ lúc lên lúc xuống, lúc nổi lúc chìm với non nước, với xã hội như những chiếc bánh trôi trong bàn tay người nặn. Họ tần tảo sớm hôm, chịu biết bao vất vả gian nan nhưng chưa bao giờ được sống một cuộc sống đúng nghĩa do chính họ lựa chọn.

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ luôn bị chèn ép và vùi dập. Xã hội cùng những hủ tục đẫ đẩy họ vào con đường không lối thoát, cũng chưa bao giờ cho họ một quyền tự do được lựa chọn cuộc sống cho mình. Số phận của người phụ nữ sướng hay khỏ, sang hay hèn đều phụ thuộc vào bàn tay của những người có thế lực. Vần thơ như lời oán than, trách móc được xuất phát từ chính trái tim của những kiếp người bất hạnh, bạc bẽo. Thế nhưng dù bị vùi dập thế nào thì họ vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp của mình.

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son

    Ở bất cứ nơi đâu, trong bất kì hoàn cảnh nào, người phụ nữ cũng là những người đẹp nhất, sáng ngời nhất. Tấm lòng trong trắng, sắt son của họ không gì có thể làm bẩn hay bào mòn. Họ vẫn vậy, luôn luôn sống bằng trái tim và tấm lòng nhân hậu.

    Như vậy, mượn hình ảnh của những chiếc bánh trôi nước, Hồ Xuân Hương muốn nói lên số phận bấp bênh của người phụ nữ. Ca ngợi tâm hồn trong trắng của họ và qua đó, tố cáo xã hội phong kiến thối nát, đã đẩy người phụ nữ xuống những con đường đầy rẫy sự bất công và tăm tối.

    Seen

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7 Hồ Xuân Hương
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7
  • Bài Viết Tuyên Truyền Về Thực Hiện An Toàn Giao Thông
  • Top 10 Bài Văn Viết Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Cảm Nghĩ Bài Thơ Bánh Trôi Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Bắp Cải Xanh
  • Bài Thơ Làm Bác Sĩ
  • Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu) – Vẻ Đẹp Của Người Mẹ Miền Trung Du
  • Bài Thơ Cảnh Ngày Hè (Nguyễn Trãi) – Bức Tranh Ngày Hè Rực Rỡ
  • Bài Thơ “Cảnh Ngày Hè” Của Nguyễn Trãi
  • Cảm nghĩ bài thơ Bánh trôi nước

    sẽ có nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau trong bài thơ này mà Kiến Guru muốn sẻ chia với các bạn học sinh đang muốn tìm hiểu thêm cảm nhận về tác phẩm nay.

    Tác phẩm là một trong những bài thơ nổi tiếng lưu lại tới tận bây giờ của thi sĩ Hồ Xuân Hương – người được mệnh danh là Bà Chúa Thơ Nôm. Bài thơ Bánh trôi nước vừa thể hiện vẻ đẹp và số phận người phụ nữ ở trong xã hội cũ, đồng thời với đó cho thấy được tấm lòng nhân văn đầy cao cả của bà: dành niềm yêu thương, trân trọng người phụ nữ.

    I. Tìm hiểu chung để đưa ra cảm nghĩ bài thơ Bánh trôi nước

    1. Tác giả

    -  Hồ Xuân Hương (1772-1822) sinh ra tại Nghệ An.

    -  Hồ Xuân Hương là nữ thi sĩ rất nổi tiếng của nước ta vào cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.

    -   Bà được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”.

                   

    2. Tác phẩm

    –  Thơ Hồ Xuân Hương thường được viết theo phong cách thất ngôn tứ tuyệt hoặc thất ngôn bát cú.

    – Những tác phẩm nổi tiếng: Thơ tự tình, Canh khuya, Lấy chồng chung, Đánh đu, Đánh chồng.

    Bài thơ Bánh trôi nước là một trong rất nhiều tác phẩm chữ Nôm nổi tiếng và đặc sắc của tác giả, bà mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước để kín đáo thể hiện thân phận bị phụ thuộc, nhưng phẩm giá lại cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

    Hình: Bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương

    II. Cảm nghĩ bài thơ Bánh trôi nước

    1. Hình ảnh bánh trôi nước và quá trình làm bánh

    – Hình dáng bên ngoài chiếc bánh: trắng, tròn

    Hình: Bánh trôi nước

    – Nguyên liệu làm bánh: vỏ bánh ở ngoài được làm bằng bột nếp, nhân bên trong làm bằng đường đỏ

    – Quá trình luộc bánh : luộc bánh trong nước sôi, bánh chìm nổi vài lần là chín.

    2. Vẻ đẹp, thân phận của người phụ nữ Việt Nam

    – Tác giả đã mượn những đặc điểm đặc trưng của bánh trôi nước để miêu tả vẻ đẹp và số phận của người phụ nữ Việt Nam:

    + Vẻ đẹp về hình thể: xinh đẹp, trong trắng

    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

    Mở đầu bài thơ Bánh trôi nước, mô típ khá quen thuộc trong văn học dân gian được Hồ Xuân Hương sử dụng là “Thân em”. Hai chữ thân em gợi lên nỗi đau về thân phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Tiếng thơ của Hồ Xuân Hương làm ta liên tưởng đến tiếng hát than thân trong câu ca dao:

        “Thân em như tấm lụa đào,

        Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”.

        “Thân em như hạt mưa sa

        Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày”

    Hình: Người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa

    Việc Hồ Xuân Hương sử dụng các ngữ liệu dân gian vừa khiến cho thơ bà gần gũi, mềm mại với đời sống, mặt khác làm cho tiếng thơ trở nên da diết, thấm đầy chất nhân bản, trở thành tiếng thơ của bao người.

    + Số phận: long đong, lận đận, chìm nổi, sống phụ thuộc và không có quyền quyết định cuộc đời mình:

    “Bảy nổi ba chìm với nước non”

     Lẽ ra với vẻ đẹp trắng trong như thế, nàng hẳn phải có một cuộc đời sung sướng. Nhưng lại không, cuộc đời của nàng phải trải qua quá nhiều vất vả, phiêu dạt, chìm nổi đâu chỉ một lần giữa cuộc đời rộng lớn dù là phận nữ nhi:

    + Vẻ đẹp tâm hồn: sự trong trắng, một lòng thuỷ chung, son sắt:

    “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

    III. Kết luận về cảm nghĩ bài thơ Bánh trôi nước

    1. Nghệ thuật

    – Thể thơ độc đáo thất ngôn tứ tuyệt

    – Các nghệ thuật tu từ được sử dụng linh hoạt như so sánh, đảo ngữ,…

    – Ngôn ngữ thơ mộc mạc, bình dị nhưng mang nhiều lớp nghĩa

    – Sử dụng thành ngữ và mô-típ dân gian.

    2. Nội dung

    Bài thơ Bánh trôi nước dưới ngòi bút nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương sáng tác viết nên thân phận và cũng là vẻ đẹp của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến một thời. Đọc bài thơ của bà, ta cảm thấy thương thay cho số phận lênh đênh, đau khổ, rẻ rúng của thân gái nhỏ bé nhưng cũng lại vô cùng cảm phục và trân trọng vẻ đẹp son sắt, thủy chung, đáng quý của họ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chùm Thơ Về Hưởng Ứng An Toàn Giao Thông
  • Ngọn Đồi Chúng Ta Leo Lên – Bài Thơ Amanda Gorman Đọc Tại Lễ Nhậm Chức Của Tổng Thống Joe Biden
  • Khám Phá 199 Bài Thơ Anh Yêu Em Ngắn Hay Và Ấn Tượng Nhất
  • Anh Còn Nợ Em – Duyên Thơ Nhạc Giữa Anh Bẳng Và Phạm Thành Tài
  • Thơ Phạm Thành Tài: Anh Còn Nợ Em, Anh Còn Yêu Em, Từ Thuở Yêu Em
  • Bài Soạn Lớp 7: Bánh Trôi Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Về Hồ Xuân Hương
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7 Hay Nhất
  • Tìm Hiểu Bài Thơ Bánh Trôi Nước Để Nhận Xét Về Ngôn Ngữ Và Cá Tính Của Hồ Xuân Hương
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương
  • 4 Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
    • Hồ Xuân Hương sống vào cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19.
    • Được mệnh danh là bà chúa Thơ Nôm
    • Là người thông minh, sắc sảo, cá tính, mạnh mẽ nhưng đường tình duyên lận đận.

    2. Tác phẩm:

    • Bài thơ viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật, viết theo lối vịnh vật.
    • Bài thơ có tính đa nghĩa, một thuộc tính của văn chương nói chung.

    Trả lời:

    Bài bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

    Vì: Bài thơ có 4 câu, mỗi câu có 7 chữ. Bài được gieo vẫn ở chữ cuối cùng của các câu 1, 2, 4 với vần on (tròn, son, non).

    Nghĩa thứ nhất của bài thơ thuộc về nội dung miêu tả bánh trôi nước khi đang được luộc chín. Nghĩa thứ hai thuộc về nội dung phản ánh vẻ đẹp, phẩm chất và thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ. Từ sự gợi ý trên, em hãy trả lời các câu hỏi:

    a. Với nghĩa thứ nhất, bánh trôi nước đã được miêu tả như thế nào? Chú ý các từ ngữ: trắng, tròn, chìm, nổi, rắn nát, lòng son.

    b. Với vẻ đẹp thứ hai, vẻ đẹp, phẩm chất cao quý và thân phận chìm nổi của người phụ nữ được gợi lên như thế nào? Chú ý cụm từ: vừa trắng lại vừa tròn, bảy nổi ba chìm, rắn nát mặc dầu, giữ tấm lòng son.

    c. Trong hai nghĩa, nghĩa nào quyết định giá trị bài thơ? Vì sao?

    Trả lời:

    a. Hình ảnh bánh trôi nước được miêu tả:

    • Màu sắc: trắng
    • Hình dáng: tròn
    • Nhân: đỏ son
    • Cách nấu: Luộc trong nước
    • Sống: chìm, chín: nổi
    • Chất lượng: ngon ngọt không thay đổi.

    b. Với vẻ đẹp thứ hai, vẻ đẹp, phẩm chất cao quý và thân phận chìm nổi của người phụ nữ được gợi lên:

    • Thân phận:

    c. Từ chiếc bánh trôi mộc mạc đời thường Hồ Xuân Hương đã thổi linh hồn vào ngôn ngữ hình ảnh, để cho nó trở thành hình ảnh biểu tượng về số phận cuộc đời của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Và đây là ý nghĩa chủ đạo mà nữ sĩ họ Hồ muốn đề cao qua bài thơ của mình.

    Trả lời:

    Thân em như trái bần trôi

    Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

    Thân em như hạt mưa sa

    Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Bánh Trôi Nước
  • Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Khái Quát Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Tác Giả Hồ Xuân Hương
  • Phân Tích Ý Nghĩa Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Hình Ảnh Người Phụ Nữ Trong Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Hồ Xuân Hương
  • Ngữ Âm Học Và Âm Vị Học
  • Trả Lời Chính Thức Của Viện Ngôn Ngữ Học Về Đề Xuất Cải Cách Chữ Viết Của Ông Bùi Hiền
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Hay Nhất
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Phụ Nữ Qua Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương
  • Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước – Bài làm 1

    Bài thơ chỉ có bốn câu, đề tài bình dị nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo cho viên bánh trôi nước mang vẻ đẹp sáng ngời của viên ngọc lấp lánh nhiều màu. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng, ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và giá trị nhân phẩm của mình.

    Nếu như Bà Huyện Thanh Quan với những lời thơ trang nhã, nhẹ nhàng, mang chút cung đình buồn thương man mác. Thì thơ Hồ Xuân Hương có phong cách hoàn toàn khác. Giọng thơ rắn rỏi, mạnh mẽ, đề tài bình thường dân dã, ý thơ sâu sắc thâm thuý mà chua cay chứa nỗi niềm phẫn uất phản kháng xã hội đương thời. Bánh trôi nước là một bài thơ như vậy:

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son

    Bánh trôi nước là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả mượn chiếc bánh trôi để thế hiện vẻ đẹp hình thể và tâm hồn của người con gái có thân phận nhỏ nhoi, chìm nổi, phụ thuộc mà vẫn giữ trọn phẩm giá của mình.

    Toàn bộ bài thơ là hình ảnh nhân hoá tượng trưng. Với khả năng quan sát và liên tưởng kỳ lạ, chất liệu dân gian là chiếc bánh trôi nước – loại bánh dân gian xưa cho là tinh khiết thường dùng vào việc cúng tế, nhà thơ đã phát hiện ra những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi bình thường với hình ảnh người phụ nữ. Cả hai đều có vẻ bề ngoài rất đẹp (trắng, tròn), có phẩm giá cao quý (tấm lòng son) tương đồng cuộc sống (chìm, nổi), số phận phụ thuộc (rắn nát tuỳ thuộc tay kẻ nặn). Với những từ ngữ đa nghĩa bài thơ tạo nên một trường liên tưởng cho người đọc. Do vậy nhà thơ tả thực mà lại mang ý nghĩa tượng trưng. Nói cái bánh trôi mà thành chuyện con người – người phụ nữ. Người con gái hình thể đẹp, da trắng nõn nà, thân hình căng tràn nhựa sống, tâm hồn nhân hậu hiền hoà.

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Với vẻ đẹp hình thể như vậy đáng lẽ phải có cuộc sống sung sướng hạnh phúc nhưng cuộc đời con người, đặc biệt là người phụ nữ thì phải chịu bao đắng cay, vất vả.

    Bẩy nổi ba chìm với nước non

    Được cha mẹ sinh ra để làm người, nhưng người phụ nữ không làm chủ được mình, cuộc đời họ do người khác định đoạt. Nàng Vũ Nương thuỳ mị nết na, đức hạnh thuỷ chung, chồng ra trận nàng ở nhà một thân một mình nuôi mẹ già, con thơ. Nàng đã làm tròn bổn phận của một người con, người vợ, người mẹ trong gia đình. Vậy mà do sự đa nghi ghen tuông quá mức, nàng bị chồng nghi cho là thất tiết. Nàng đã phải lấy cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của mình. Câu chuyện mang đến cho chúng ta một thông điệp: trong xã hội ấy người tốt như nàng không được sống hạnh phúc.

    Cùng như vậy cuộc đời của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến luôn bị xã hội nhào nặn xô đẩy:

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Dù cuộc đời có phũ phàng, bất hạnh họ vẫn giữ vẹn phẩm giá, tâm hồn cao đẹp của mình.

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son

    Sự sáng tạo của nữ sĩ khá độc đáo. Bà lựa chọn chi tiết không nhiều nhưng lại nói được nhiều. Hai từ thân em được đặt trước chiếc bánh, chiếc bánh được nhân hoá, đó chính là lời tự sự của người phụ nữ. Nét nghệ thuật này gợi cho trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ hiện lên rõ nét hơn.

    Từ thoáng chút hài lòng giọng thơ chuyển hẳn sang than oán về số phận hẩm hiu. Hồ Xuân Hương đã đảo lại thành ngữ quen thuộc ba chìm bảy nổi thành bảy nổi ba chìm đối lập với vừa trắng lại vừa tròn tạo sự bất ngờ và tô đậm sự bất hạnh của người phụ nữ.

    Đến đây ta không còn thấy giọng thơ than vãn cam chịu: Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn. Cuộc đời họ, họ không làm chủ được bản thân mà phụ thuộc hoàn toàn vào tay kẻ khác. Thế nhưng: Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Không những sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và bốn là đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ bảo vệ phẩm chất trong sáng trong tâm hồn con người. Từ vẫn thể hiện sự khằng định, quả quyết vượt trên số phận để giữ tấm lòng son. Người phụ nữ đã ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm giá của mình. Dẫu cho cuộc đời cay đắng, nhào nặn, xô đẩy thì giá trị đáng kính của họ luôn luôn là điều sống còn đối với họ.

    Trong xã hội với ý thức hệ nho giáo hà khắc như vậy, quan niệm tam tòng tứ đức, nam tôn nữ ti đã ăn sâu vào ý thức con người. Nói được như Hồ Xuân Hương thật đáng khâm phục, trân trọng.

    Bài thơ chỉ có bốn câu, đề tài bình dị nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo cho viên bánh trôi nước mang vẻ đẹp sáng ngời của viên ngọc lấp lánh nhiều màu. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng, ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và giá trị nhân phẩm của mình.

    Quả thật bài thơ của Hồ Xuân Hương có giá trị hiện thực và xã hội sâu sắc. Đây là tiếng nói chung của người phụ nữ đối với sự bất công của xã hội xưa và khẳng định phẩm giá của bản thân. Nhà thơ đã đại diện cho những số phận bất hạnh cất lên tiếng nói của chính họ và của thời đại. Bài thơ thể hiện khẩu khí của bà chúa thơ nôm.

    Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước – Bài làm 2

    Hồ xuân Hương là một trong rất ít phụ nữ Việt Nam thời phong kiến có tác phẩm văn học lưu truyền cho đến ngày nay. Bà được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Cuộc đời của bà vẫn còn là một vấn đề đang được nghiên cứu. Bà thường mượn cảnh, mượn vật để nói lên thân phận người phụ nữ thời bấy giờ, bài thơ “Bánh trôi nước” là một trong số đó.

    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

    Bánh trôi nước-một loại bánh dân dã, bình thường thấy quanh năm, được Hồ xuân Hương miêu tả một cách sinh động về màu sắc, hình dáng như là chiếc bánh đang tự nói về chính mình:

    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

    Qua đó, người phụ nữ Việt Nam có thể hóa thân vào những chiếc bánh dân dã đáng yêu ấy. Bà không dùng “khuôn mặt hình trái xoan”, hay “đôi mày hình lá liễu” để mô tả vẻ đẹp quý phái của phụ nữ, trái lại bà dùng hình tượng “tròn”, “trắng” để cho ta có thể liên tưởng đến một vẻ đẹp mạnh mẽ, xinh xắn. Bên cạnh đó, điệp từ “vừa” càng làm tăng thêm sự tự hào về vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ Việt Nam. Người phụ nữ Việt Nam mạnh khỏe, xinh xắn, đáng yêu là thế, còn cuộc đời của họ thì sao? Trong xã hội phong kiến xưa, số phận người phụ nữ cũng lênh đênh chìm nổi như chiếc bánh trôi nước trong nồi.

    “Bảy nổi ba chìm với nước non”

    Cuộc đời long đong, gian truân đầy sóng gió dường như đã dành sẵn cho người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến, nghe như một tiếng than thầm, cam chịu, nhưng cũng phảng phất vẻ cao ngạo của họ. Cũng nổi, cũng chìm, nhưng lại nổi chìm “với nước non”.

    “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”

    Lời thơ có vẻ trở nên cam chịu, người phụ nữ xưa vốn không có một vai trò gì trong xã hội. Họ không tự quyết định được số phận của mình, cuộc đời họ từ khi mới sinh ra cho đến lúc lìa đời là một cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc. Khi còn nhỏ thì phụ thuộc vào cha mẹ, khi lấy chồng thì phụ thuộc vào chồng, chồng mất thì phụ thuộc vào con cái. Họ không có cuộc sống của riêng họ, cuộc sống của họ chỉ để tô điểm thêm cho cuộc sống của người khác. Thế nhưng, thơ của Hồ xuân Hương lại phảng phất chút phớt lờ, bất cần. Thấp thoáng đâu đó trong thơ bà có chút phản kháng, chống cự lại những quan điểm bất công thời ấy. Nếu như trong ca dao, người phụ nữ được ví: “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” chỉ để thể hiện thân phận lênh đênh, thì trong thơ của Hồ xuân Hương ngoài việc miêu tả số phận người phụ nữ còn khẳng định nhân cách, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ.

    “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

    Cuộc đời có bạc bẽo, bất công, cuộc sống có gian khổ, long đong như thế nào chăng nữa, người phụ nữ vẫn giữ được sự son sắt, thủy chung cùng những phẩm chất tốt đẹp của mình. Đó là sự khẳng định của bà và đó cũng chính là phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam.

    Với hình tượng cái bánh trôi nước, Hồ xuân Hương đã nói lên được vẻ đẹp, phẩm chất trong trắng, son sắt của người phụ nữ, đồng thời cũng đã đề cập đến một vấn đề xã hội rộng lớn đối với người phụ nữ – sự bình đẳng giới. Đây cũng chính là vấn đề mà xã hội tốt đẹp của chúng ta đang xây dựng. Cám ơn bà đã để lại cho đời một bài thơ thật đẹp.

    Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước – Bài làm 3

    Nhà thơ Hồ Xuân Hương được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm của nền văn học Việt Nam. Thơ của bà vô cùng độc đáo với phong cách giản dị, mộc mạc, lời lẽ sâu cay, thể hiện những nét ẩn dụ sâu sắc sắc.

    Trong những bài thơ của bà bài thơ “Bánh trôi nước” thể hiện sự châm biếm sâu cay vô cùng độc đáo. Trong hình ảnh bánh trôi, bảy nổi ba chìm chính là thân phận người phụ nữ trong chế độ phong kiến.

    Nhà thơ mượn hình ảnh nhỏ bé của chiếc bánh trôi nước để tố cáo tội ác của chế độ cũ đã chà đạp lên thân phận người phụ nữ. Một xã hội đầy những bất công, bất bình đẳng “trọng nam khinh nữ” người phụ nữ không có tiếng nói gì trong cuộc sống.

    Tác giả mở đầu bằng hai câu thơ quen thuộc thường được dùng trong ca dao dân ca đó chính là hai từ ” Thân em

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non.

    Tác giả Hồ Xuân Hương mượn hình ảnh bánh trôi nước, để miêu tả lên thân phận của người phụ nữ xưa, bị đọa đày trong thân phận người phụ nữ. Chiếc bánh trôi vừa trắng vừa tròn, nhưng lại chịu số phận lênh đênh, sông nước ba chìm bảy nổi, không lúc nào được bình yên.

    Nó tựa như vẻ đẹp của người phụ nữ vừa mềm mại, trắng trong, ngọt ngào thủy chung, nhưng lại bị cuộc đời đưa đẩy tới chỗ bấp bênh không có hạnh phúc.

    Tác giả đã mượn hình ảnh giản dị mộc mạc, giản dị của chiếc bánh trôi nước trong dân gian để nói lên tâm hồn vẻ đẹp của người phụ nữ. Đó chính là sự tài tình của bà chúa thơ Nôm của chúng ta.

    Chỉ với hai câu thơ thôi nhưng tác giả Hồ Xuân Hương đã cho thấy sự tài tình của mình trong nghệ thuật miêu tả vô cùng tinh tế, cách chơi chữ phóng khoáng thể hiện một phong cách thơ vô cùng độc đáo táo bạo của một người nữ sĩ đa tài.

    Người phụ nữ xưa sống trong chế độ phong kiến họ phải chịu nhiều thiệt thòi, nhiều áp bức khi phải khoác lên mình biết bao nhiêu hủ tục lạc hậu, những phong tục tập quán khiến cho người phụ nữ xưa không thể nào sống cho mình mà luôn phải sống theo quan niệm lạc hậu, tam tòng tứ đức. Người phụ nữ không có tiếng nói trong gia đình, mà luôn phải vâng lệnh người chồng, người cha.

    Ngay cả hạnh phúc lứa đôi tương lai của họ, người phụ nữ cũng không có quyền lên tiếng mà phải phụ thuộc vận mệnh của mình vào bà mai mối, vào cha mẹ hai bên sắp đặt. Nếu may mắn thì được hạnh phúc nâng niu, không thì phải chịu cảnh hồng nhan gian truân.

    Ở hai câu tiếp theo trong bài thơ, hình ảnh người phụ nữ hiện lên thật thủy chung son sắc:

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

    Trong hai câu thơ này tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ vô cùng tài tình thể hiện sự thông minh sắc sảo của bà Hồ Xuân Hương.

    Dù số phận của mình có ra sao, có khổ đau hay hạnh phúc thì người phụ nữ xưa cũng phải cam chịu không được định đoạt mà phải nghe theo lời sắp đặt của người khác thể hiện sự bất lực, cam chịu trong số phận của người phụ nữ xưa.

    Một xã hội phong kiến vô lý chà đạp lên thân phận người phụ nữ chân yếu tay mềm những người phụ nữ vẫn giữ tấm lòng trinh bạch, son sắc thủy chung của mình. Họ vẫn ngoan hiền cố gắng giữ gìn đức hạnh, đạo vợ hiền, con thảo.

    Dù phải chịu nhiều thiệt thòi bất công nhưng tâm hồn lương thiện, trắng trong của người phụ nữ vẫn là một nét tươi sáng thể hiện sự nhân hậu của người phụ nữ nước ta.

    Lời bài thơ thể hiện sự quả quyết tự hào nói lên tiếng lòng của người phụ nữ.Nó chính là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với sự độc ác của xã hội cũ, đừng tàn nhẫn với số phận người phụ nữ

    Bài thơ “Bánh trôi nước” là bài thơ đặc sắc, tiêu biểu cho phong cách của nhà thơ Hồ Xuân Hương. Bài thơ thể hiện tấm lòng trong trắng, trinh bạch của người con gái trong chế độ cũ. Nó để lại nhiều ấn tượng sâu sắc với người đọc.

    Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước – Bài làm 4

    Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt trong văn học Việt Nam được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”. Thơ của bà rất độc đáo với phong cách thơ châm biếm sâu cay đồng thời cũng rất giản dị, mộc mạc trong hình ảnh. “Bánh trôi nước” là một bài thơ như vậy. Nhà thơ mượn hình ảnh nhỏ bé của chiếc bánh trôi nước đê nói lên thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, một xã hội không bình đẳng đầy áp bức bất công.

    Tác giả mở đầu bài thơ bằng mô tip ca dao quen thuộc:

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    “Thân em…” là mở mở đầu của biết bao câu ca dao nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Ở đây, trong hoàn cảnh cụ thể của bài thơ, “thân em” được ví với chiếc bánh trôi nước “vừa trắng lại vừa tròn”. Tác giả mượn hình ảnh mộc mạc của chiếc bánh trôi nước nhỏ bé để nói lên vẻ đẹp của người phụ nữ. Họ không chỉ có vẻ đẹp về hình thức mà còn trắng trong trong tâm hồn và trịa về nhân phẩm. Chỉ qua một câu thơ thôi tác giả đã cho ta thấy được đánh giá cũng như quan điểm của mình về hình ảnh người phụ nữ trong xã hội cũ.

    Câu thơ tiếp theo:

    Bảy nổi ba chìm với nước non.

    Hình ảnh người phụ nữ hoàn hảo như thế nhưng số phận họ ra sao? “Ba chìm bảy nổi” ở đây là một hình ảnh được tác giả vận dụng rất hay, rất hợp lí để nói về số phận của những người phụ nữ. Trong xã hội cũ, họ chẳng là gì cả, không được tự quyết định về số phận của mình, chỉ biết sống vì người khác theo quan niệm tam tòng tứ đức. Cuộc sống của họ lênh đênh chìm nổi như chiếc bánh trôi nước vậy.

    Ở câu thơ thứ ba:

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Ở đây tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ rất tài tình. Nó nói lên sự phụ thuộc của người phụ nữ. Dù số phận có ra sao người phụ nữ cũng phải cam chịu không được phản kháng, không được tự định đoạt. Đó là một đạo lí rất vô lí trong xã hội cũ, nhằm trói buộc những người phụ nữ chân yếu tay mềm.

    Câu thơ cuối

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

    Dù phải chịu bao bất công nhưng ở câu thơ vẫn ngời sáng lên nét đẹp của người phụ nữ, một nét đẹp tươi sáng thuần hậu của phụ nữ Việt Nam. Giọng thơ đầy quả quyết mang nét tự hào nói lên tấm lòng son sắt của bao thế hệ phụ nữ Việt, là tiếng chuông cảnh tỉnh những người đàn ông để họ đừng đánh mất đi những giá trị quý báu này.

    Bài thơ “Bánh trôi nước” là một bài thơ đặc sắc của nhà thơ Hồ Xuân Hương. Bài thơ biểu hiện lòng thương cảm và niềm tự hào với số phận người phụ nữ đồng thời lên án xã hội cũ đầy bất công.

    Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước – Bài làm 5

    Hồ Xuân Hương là một trong những nữ sĩ tài danh của nước ta khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Bà đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng nói về thân phận nhỏ bé của những người phụ nữ sống trong xã hội phong kiến đầy bất công lúc bấy giờ. “Bánh trôi nước” là một trong những bài thơ nổi tiếng viết về chủ đề đó. Bài thơ là tiếng lòng của người phụ nữ nói chung gặp nhiều truân chuyên, bất hạnh trong xã hội cũ nhưng vẫn luôn giữ một tấm lòng son sắt, thủy chung, phẩm chất cao quý:

    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

    Mở đầu bài thơ là hình ảnh ẩn dụ rất đặc biệt và rất ấn tượng, có một không hai của nhà thơ khi ví người phụ nữ như chiếc bánh trôi nước:

    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

    Từ trước đến nay ai cũng biết đến chiếc bánh trôi quen thuộc có màu trắng làm từ bột nếp, thường xuất hiện trọng dịp lễ tết hàn thực của người Việt Nam. Chiếc bánh có hình tròn đẹp mắt. Nhà thơ đã rất khéo léo khi sử dụng hình ảnh chiếc bánh trôi so sánh với người phụ nữ Việt Nam nhằm cho thấy rằng người phụ nữ cũng trắng trẻo, đẹp đẽ, tròn đầy như chiếc bánh trôi vậy. Đọc câu thơ, người đọc liên tưởng đến những câu ca dao xưa:

    “Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

    Hay bài ca dao sau:

    “Thân em như hạt mưa sa

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”

    Với cách sử dụng cụm từ “thân em”, câu thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương gợi cảm giác quen thuộc, gần gũi và dễ hiểu. Chỉ cần đọc câu thơ là người đọc có thể hiểu ngay “thân em” ở đây không chỉ đại diện cho một người là nữ sĩ mà còn đại diện cho phụ nữ xưa.

    Dù đẹp là thế, tấm lòng trong sáng là thế nhưng người phụ nữ xưa luôn gặp những truân chuyên, bất hạnh:

    “Bảy nổi ba chìm với nước non”

    Đọc đến đây, người đọc liên tưởng đến công đoạn luộc bánh trôi. Khi chi bánh vào nổi nước, chiếc bánh cứ chìm rồi lại nổi. Bà Hồ Xuân Hương liên tưởng hình ảnh chìm nổi của chiếc bánh giống như cuộc đời đầy giông tố của người phụ nữ “bảy nổi ba chìm” cứ lênh đênh, chới với, gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Cụm từ “bảy nổi ba chìm” ngắn gọn vậy thôi nhưng thật cô đọng và xúc tích.

    Cuộc sống của người phụ nữ trong xã hội cũ đầy bất công. Từ xưa vốn đã có quan niệm ăn sâu vào gốc rễ, tư tưởng của con người Việt đó là “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” nghĩa là người phụ nữ vốn sinh ra đã bị phụ thuộc, họ không được nói lên tiếng nói cá nhân, ở nhà thì phải nghe theo quyết định của cha, lấy chồng thì phải theo chồng, chồng mất thì sống theo con. Tất cả những định kiến ấy từ lầu đời đã bóp chết đi những ước mong nhỏ bé của người phụ nữ. Bởi thế Hồ Xuân Hương mới viết “rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”. “Tay kẻ nặn” chính là định kiến của xã hội bất công đó, dù “rắn” hay “nát”, dù vui vẻ sung sướng hay bất hạnh khổ đau cũng là do người khác quyết định cả. Hai từ “mặc dầu” nghe thật đau đớn và xót xa. Nó thể hiện sự phó mặc cuộc đời phụ nữ trong tay kẻ khác mà không được vùng lên đấu tranh cho bản thân mình.

    Nhưng dù có sống trong xã hội bất công thì người phụ nữ vẫn luôn một lòng, trọn tình trọn nghĩa:

    “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

    Nhà thơ kết thúc bài thơ thất ngôn tứ tuyệt với sự ngợi ca cho tấm lòng sắt son của người phụ nữ. Hình ảnh chiếc bánh trôi dù rắn hay nát, dù khi đem vào luộc có chìm có nổi thì khi vớt ra, chiếc bánh vẫn giữ nguyên màu trắng với nhân đỏ bên trong. Hình ảnh hoán dụ tấm long son thật nhiều ý nghĩa sâu sắc. Mặc dù gặp bao gian truân, trắc trở trong cuộc sống, dù có bị vùi dập như thế nào đi nữa trong cái xã hội đầy bất công, thì người phụ nữ ấy vẫn luôn luôn giữ trọn phẩm hạnh của mình, giữ trọn đạo hiếu, trọn nghĩa phu thê.

    Chỉ với một bài thơ ngắn gọn nhưng mang nhiều ý nghĩa, bài thơ đã nói lên thân phận nhỏ bé của người phụ nữ sống trong xã hội phong kiến đấy bất công, không cho người phụ nữ được thể hiện, được nói lên tiếng nói trong lòng mình. Qua đó nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng khẳng đinh mạnh mẽ và ngợi ca những đức tính tốt đẹp của người phụ nữ, dù khó khăn và gặp nhiều trắc trở, họ vẫn luôn giữ trọn nghĩa tình, là người phụ nữ “công – dung – ngôn – hạnh”. Bài thơ “bánh trôi nước” dù cách xa chúng ta hàng thế kỷ, nhưng sức sống và tinh thần của bài thơ thì còn vang mãi, để lại những dư âm tốt đẹp trong trái tim người đọc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Số 4: Phân Tích Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương
  • 4 Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương
  • Tìm Hiểu Bài Thơ Bánh Trôi Nước Để Nhận Xét Về Ngôn Ngữ Và Cá Tính Của Hồ Xuân Hương
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7 Hay Nhất
  • Bánh Trôi Nước : Song About Vietnamese Women’S Life

    --- Bài mới hơn ---

  • Làng Nam: Thơ Hồ Xuân Hương & Những Bản Dịch Tiếng Anh
  • Bánh Chay – Du Học Trung Quốc 2022
  • Thơ Chế Của Hồ Xuân Hương – Taogmail.com
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước – Hồ Xuân Hương Lớp 7 Hay Nhất
  • Tìm Nét Nghĩa Tả Thực Và Nét Nghĩa Biểu Tượng Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • The poem Bánh Trôi Nước (Floating Cake) composed by Hồ Xuân Hương has been passing on from generations to generations, describing the general life of a typical Vietnam woman as her life is slowly floating just like the floating cake, bearing with so many things to accomplish. Recently, it has been turned into a song with hints of both traditional and modern music, performed by singer Hoàng Thùy Linh and her producer Triple D. 

    Speaking about the poem itself, it contains only 4 sentences. As a whole, it emphasizes a lot of spectrum of a woman’s life. Back then, life in Vietnam was really tough and women did not have much opportunity to learn and work. These lines are written as follows:

    “Thân em vừa trắng là vừa tròn

    Bảy nồi ba chìm với nước non 

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn 

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son” 

    In English translation, it’s as follows:

    My body is white; my fate, softly rounded,

    rising and sinking like mountains in streams.

    Whatever way hands may shape me,

    at center my heart is red and true.”

    The first line strongly lands on the physical  and inner beauty of a Vietnamese woman, just like the shape of the floating cake. As for the next two sentences, they switch to describe the bearing and difficult life of Vietnamese women: she’s been through ups and downs, highs and lows. She’s been through so much pain and hardship in order to keep the whole entire family peaceful and fruitful. At the end of the poem, it shows that no matter what happens or how much she’s experienced through life, her soul still remains as pure and truthful.

    Later on, The Floating Cake is an inspiration to a song with the same name performed by Hoàng Thùy Linh and Triple D. It’s a fusion of both traditional Vietnamese music with their instruments and melody, along with a hint of electronic music. But still, the song stays on point and it doesn’t go off with an electronic touch without losing the authentic Vietnamese feel. Without further ado, enjoy the song and let’s see what you think!

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Chiều Ngược Gió (Thơ Bùi Sim Sim)
  • Thơ Hay: Anh Mãi Yêu Em
  • Một Số Bài Thơ Tỏ Tình
  • Em Ngược Đường Ngược Nắng Để Yêu Anh – Câu Thơ Chất Chứa Sự Xót Xa
  • Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Từ Thuở Yêu Em”, “Anh Còn Yêu Em”, “Anh Còn Nợ Em” – Phạm Thành Tài & Anh Bằng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100