Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản

--- Bài mới hơn ---

  • Thơ Hay Về Cuộc Sống Xa Quê
  • Chùm Thơ Người Xa Quê Của Nhiều Tác Giả
  • Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam
  • Bài Văn Tả Cảnh Quê Hương Vào Buổi Sáng Mùa Hè Lớp 6 Hay Nhất
  • Chọn Lọc 100 Bài Thơ Về Thầy Cô Giáo Tự Sáng Tác Ngắn Hay Nhất
  • Là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng tạo thành một kết thúc. Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kể việc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống.

    Cách nhận biết phương thức tự sự: có cốt truyện, có nhân vật, có diễn biến sự việc, có những câu văn trần thuật. Tự sự thường được sử dụng trong truyện, tiểu thuyết, văn xuôi nói chung, đôi khi còn được dùng trong thơ( khi muốn kể sự việc )

    Ví dụ:

    Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì.”

    Trong đoạn văn trên, tác giả dân gian kể về sự việc hai chị em Tấm đi bắt tép.

    +Có nhân vật : dì ghẻ, Tấm, Cám.

    +Có câu chuyện đi bắt tép của hai chị em

    +Có diễn biến hành động của các nhân vật dì ghẻ, Tấm & Cám

    +Có các câu trần thuật

    Là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người.

    Dấu hiệu nhận biết phương thức miêu tả : Có các câu văn, câu thơ tái hiện lại hình dáng, diện mạo, màu sắc,… của người và sự vật ( tả người, tả cảnh, tả tình,….)

    Ví dụ:

    Trăng đang lên. Mặt sông lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát

    ( Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy)

    Đoạn văn trên tả cảnh dòng sông trong một đêm trăng sáng.

    Là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết.

    Nhận biết phương thức thuyết minh hơi rắc rối hơn chút : có những câu văn chỉ ra đặc điểm riêng, nổi bật của đối tượng,người ta cung cấp kiến thức về đối tượng, nhằm mục đích làm người đọc hiểu rõ về đối tượng nào đó.

    Ví dụ:

    Trong muôn vàn loài hoa mà thiên nhiên đã tạo ra trên thế gian này, hiếm có loài hoa nào mà sự đánh giá về nó lại được thống nhất như là hoa lan.

    Hoa lan đã được người phương Đông tôn là ” loài hoa vương giả ” (vương giả chi hoa). Còn với người phương Tây thì lan là ” nữ hoàng của các loài hoa “

    Họ lan thường được chia thành hai nhóm : nhóm phong lan bao gồm tất cả những loài sống bám trên đá, trên cây, có rễ nằm trong không khí.Còn nhóm địa lan lại gồm những loài có rễ nằm trong đất hay lớp thảm mục ….

    ( Trích trong SGK Ngữ văn lớp 10 )

    Đoạn trích thuyết minh về hoa lan, nhằm mục đích làm cho người đọc hiểu rõ về loài hoa này.

    6. Hành chính công vụ :

    Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Thu Hứng Của Đỗ Phủ Để Thấy Được Cảnh Sắc Mùa Thu Và Nỗi Nhớ Quê Hương
  • Quê Hương Và Nỗi Nhớ Trong Thơ Bùi Đức Ánh
  • Chứng Minh Rằng, Trong Bài Quê Hương, Tế Hanh Đã Miêu Tả Rất Tinh Tế Về Cảnh Quê Và Tình Quê. Tài Liệu Học Tập
  • Hình Ảnh Người Dân Làng Chài Qua Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh
  • Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương
  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản, Thơ Chi Tiết Cùng Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Bài: Luyện Tập Vận Dụng Kết Hợp Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Bài Văn Nghị Luận
  • Mấy Ý Kiến Về Việc Thưởng Thớc, Đánh Giá Thơ Tố Hữu
  • Giáo Án Tập Đọc Lớp 5
  • Thơ Chúc Mừng Năm Mới 2022
  • Bài Thơ Chúc Tết Của Bác Hồ Năm 1969
  • Có 6 phương thức biểu đạt

    1. Tự sự:

    Là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng tạo thành một kết thúc.

    Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kể việc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống.

    : ” Hắn về lần này trông khác hằn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai con mắt gườm gườm trong gớm chết! Hắn mặt cái quần nái đen với áo tây vàng.

    Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!” ( Chí Phèo- Nam Cao )

    2. Miêu tả:

    Là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người.

    Vd:”Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này.” (Trích Tuỳ bút Người lái đò Sông Đà -Nguyễn Tuân)

    3. Biểu cảm:

    Là một nhu cầu của con người trong cuộc sống bởi trong thực tế sống luôn có những điều khiến ta rung động (cảm) và muốn bộc lộ (biểu) ra với một hay nhiều người khác.

    PT biểu cảm là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xung quanh.

    Vd:”Đò lên Thach Hãn ơi chèo nhẹ

    Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.

    Có tuổi hai mươi thành sóng nước

    Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.”

    (Lê Bá Dương, Lời người bên sông)

    4. Thuyết minh:

    Là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết.

    :”Nước là yếu tố thứ hai quyết định sự sống chỉ sau không khí, vì vậy con người không thể sống thiếu nước. Nước chiếm khoảng 58 – 67% trọng lượng cơ thể người lớn và đối với trẻ em lên tới 70 – 75%, đồng thời nước quyết định tới toàn bộ quá trình sinh hóa diễn ra trong cơ thể con người. Khi cơ thể mất nước, tình trạng rối loạn chuyển hóa sẽ xảy ra, Protein và Enzyme sẽ không đến được các cơ quan để nuôi cơ thể, thể tích máu giảm, chất điện giải mất đi và cơ thể không thể hoạt động chính xác. Tình trạng thiếu nước do không uống đủ hàng ngày cũng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của não bởi có tới 80% thành phần mô não được cấu tạo từ nước, điều này gây trí nhớ kém, thiếu tập trung, tinh thần và tâm lý giảm sút…” (Nanomic.com.vn)

    5. Nghị luận:

    Là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt, thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến của mình.

    Vd:”Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh thì phải có nhiều người tài giỏi. Muốn có nhiều người tài giỏi thì học sinh phải ra sức học tập văn hóa và rèn luyện thân thể, bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thì các em mới có thể trở thành những người tài giỏi trong tương lai” (Tài liệu hướng dẫn đội viên)

    6. Hành chính – công vụ:

    Là phương thức dùng để giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác trên cơ sở pháp lí [thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng…

    Các đề tài môn văn được các bạn học sinh quan tâm nhiều

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu)
  • Tư Tưởng Nhân Nghĩa Được Thể Hiện Trong Suốt Bài Bình Ngô Đại Cáo
  • Nghị Luận “bình Ngô Đại Cáo” Một Tác Phẩm Của Nguyễn Trãi
  • Văn Mẫu Nghị Luận Tác Phẩm Bình Ngô Đại Cáo
  • Bài Viết Phân Tích “bình Ngô Đại Cáo”
  • Soạn Văn Bài: Luyện Tập Vận Dụng Kết Hợp Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Bài Văn Nghị Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Mấy Ý Kiến Về Việc Thưởng Thớc, Đánh Giá Thơ Tố Hữu
  • Giáo Án Tập Đọc Lớp 5
  • Thơ Chúc Mừng Năm Mới 2022
  • Bài Thơ Chúc Tết Của Bác Hồ Năm 1969
  • Đọc Lại Bài Thơ Chúc Tết Năm 1969 Của Bác Hồ
  • Soạn văn bài: Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận

    I. Luyện tập trên lớp

    Câu 1:

    a. Trong bài văn nghị luận có lúc cần vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả và biểu cảm vì:

    – Khắc phục hạn chế của bài văn nghị luận là sự khô khan, thiên về lí tính, khiến người đọc khó đọc, khó hiểu.

    – Yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm đem lại sự cụ thể, sinh động cho văn nghị luận.

    b. Bài văn phải thuộc một kiểu văn bản chính, ở đây kiểu văn bản chính dứt khoát phải là văn nghị luận.

    – Kể, tả, biểu cảm chỉ là những yếu tố kết hợp. Chúng không được làm mất, làm mờ đi đặc trưng nghị luận của bài văn.

    – Các yếu tố kể, tả, biểu cảm khi tham gia vào bài văn nghị luận, phải chịu sự chi phối và phải phục vụ quá trình nghị luận.

    Câu 2: Vận dụng kết hợp phương thức thuyết minh trong văn nghị luận.

    – Thuyết minh là trình bày. Giới thiệu, giải thích nhằm làm rõ những đặc điểm cơ bản, cung cấp tri thức về các sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội.

    – Trong đoạn trích, người viết muốn khẳng định về sự cần thiết của chi tiêu GNP (bên cạnh GDP).

    Để làm cho bài viết của mình thuyết phục ngoài việc sử dụng các thao tác lập luận, người viết còn vận dụng thao tác thuyết minh: những kiến thức mà tác giả cung cấp cho người đọc về chỉ số GDP và GNP ở Việt Nam.

    – Tác dụng, ý nghĩa của việc sử dụng thao tác thuyết minh:

    + Hỗ trợ đắc lực cho sự bàn luận của tác giả, đem lại những hiểu biết thú vị.

    + Giúp người đọc hình dung vấn đề một cách cụ thể, chính xác và khoa học của vấn đề.

    Có thể theo dàn ý sau:

    – Nhà văn mà anh, chị hâm mộ là ai? Tên, tuổi, quê quán, thời đại, những tác phẩm chính?

    – Vì sao anh, chị lại hâm mộ nhà văn này? (Cống hiến lớn hay có phong cách độc đáo như thế nào?).

    – Ước muốn, nguyện vọng của anh chị đối với nhà văn mà mình ngưỡng mộ. (HS đọc và tóm tắt những kiến thức chính trong mục Ghi nhớ trong SGK).

    Trong số những nhà văn Việt Nam hiện đại, người để lại trong lòng độc giả cũng như những nhà phê bình văn học sắc sảo niềm tiếc nuối lớn nhất là nhà văn Nam Cao. Chúng ta nhận ra trên trang viết của Nam Cao dấu hiệu của tài năng có một không hai trong nền văn học nước nhà. Nếu bom đạn chiến tranh không cướp đi sinh mạng của ông thì hẳn Nam Cao sẽ amng lại vẻ vang cho cả một dân tộc.Nhưng tôi yêu mến Nam Cao không hoàn toàn bởi những điều chúng ta vẫn tiếc nuối về ông. Tôi hâm mộ nhà văn này bởi quan niệm sống và viết và bởi sự nặng lòng của nhà văn dành cho người nông dân Việt Nam.

    Sinh ra ở vùng quê Hà Nam, Nam Cao là một người trí thức chân chính. Những điều kì lạ là trong khi nhiều nhà văn đặt nghệ thuật và sự nghiệp sáng tác của mình lên trên hết thì Nam Cao lại làm khác. Dĩ nhiên đã là nhà văn thì phụng sự nghệ thuật, đam mê sáng tác là lẽ thường tôi không có ý trách. Song chính điều đó càng khiến Nam Cao nổi bật bởi ông đã vượt qua cái lẽ thường ấy của cuộc sống. Không coi sáng tác là nhiệm vụ số một thì nhà văn coi trọng điều gì? Trong những năm tháng chống Pháp gian khổ, Nam Cao gác bút lên đường ra mặt trận, trực tiếp cầm sùng chiến đấu. Nhà văn quan niệm “Sống đã rồi hãy viết”. Đó là một quan niệm sâu sắc. Phải sống đầy đủ với cuộc đời rồi với cuộc đời rồi mới viết. Phải cảm nhận cuộc sống bằng mọi giác quan, mọi cảm xúc, cảm giác của bản thân rồi mang những cảm nhận máu thịt đó của mình lên trang viết. Khi ấy người nghệ sĩ mới có thể chuyển tải đầy đủ, chân thật bản chất cuộc sống đến với độc giả.Trong lời phát biểu của Nam Cao, ta nhận thấy một nhiệm vụ thiêng liêng của văn học: nhiệm vụ phản ánh cuộc sống. Không phải đến tận những năm sau cách mạng tháng 8 Nam cao mới có tư tưởng vĩ đại đó.

    Trước cách mạng, trong truyện “Giăng sáng” ông đã từng viết “Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia cất lên từ những kiếp lầm than” vậy là ngay từ sớm Nam Cao đã ý thức được vai trò của người cầm bút là bám sát với đời sống thực tại của nhân dân đề phản ánh và đồng cảm với nó.

    Xuất phát từ quan niệm ấy, trước cách mạng ngòi bút Nam cao theo sát đời sống khổ ải, bần cùng của người nông dân đương thời. Đọc văn Nam cao, người đọc bị ám ảnh nặng nề bởi cái đói quay quắt. Cái đói dường như là căn bệnh di căn lây với tốc độ khủng khiếp trên trang viết của ông. Người đọc sợ hãi khi lật giở những trang truyện ngắn của ông. Sợ hãi bởi phải đối mặt cái khổ đau, những cảnh tượng, những vấn đề nhân bản.

    II. Luyện tập ở nhà

    Câu 1:

    Cả 2 nhận định đều đúng vì:

    – Một bài văn nghị luận chỉ hấp dẫn khi sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt nếu không nó rất dễ sa vào trừu tượng, khô khan.

    – Tác phẩm nghị luận chỉ vận dụng một phương pháp sẽ rơi vào đơn điệu, nhàm chán, khô cứng.

    HS nghiên cứu yêu cầu và gợi ý trong SGK, tự viết bài này ở nhà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản, Thơ Chi Tiết Cùng Ví Dụ
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu)
  • Tư Tưởng Nhân Nghĩa Được Thể Hiện Trong Suốt Bài Bình Ngô Đại Cáo
  • Nghị Luận “bình Ngô Đại Cáo” Một Tác Phẩm Của Nguyễn Trãi
  • Văn Mẫu Nghị Luận Tác Phẩm Bình Ngô Đại Cáo
  • Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu)

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Bé Chúc Tết Ông Bà Bằng Những Bài Thơ Hay Ngộ Nghĩnh
  • Tuyển Tập Những Bài Thơ Hay Về Chú Bộ Đội
  • Bài Thơ Cây Dây Leo
  • Giáo Án Thơ Cô Giáo Của Em
  • Phân Tích Bài Thơ Cảnh Khuya Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Nội Dung

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Đây chính là câu chuyện về người mẹ hết lòng thương con. Khi các thi sĩ dừng chân ở nhà bầm, bầm đã dành giường cho họ và chuyển xuống bếp ngủ. Tối về cụ dùng lá chuối khô bện lại để nàm nệm nằm cho đỡ lạnh. Tuy nhiên khi ấy cứ đêm đêm mọi người lại nghe thấy tiếng khóc nỉ non của cụ. Hỏi ra mới vỡ lẽ rằng, cụ nhớ đứa con trai của mình. Con trai của cụ tham gia vệ quốc quân nhưng lâu ngày không có tin tức. Chính vì vậy khi ấy các nhà thơ đã đề nghị Tố Hữu sáng tác một bài thơ như là một bức thư của người con trai để cụ an lòng. Đó cũng chính là hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Về sau bài thơ Bầm ơi được nhiều người biết tới hơn và các chiến sĩ đã chép bài thơ này vào lá thư để gửi cho mẹ của mình và báo rằng họ vẫn bình an. Sau này năm 1981 khi đang ở Hà Nội thì anh đại tá quân đội là con trai của cụ Gái đến thăm. Anh rất cảm kích bài thơ của nhà thơ đã làm vơi bớt sự nhớ nhung của mẹ. Và nhà thơ đã gửi 3m lụa làm quà để anh mang về làm quà cho mẹ của mình.

    Bài thơ Bầm ơi không chỉ là tình cảm riêng tư của một chàng trai nào đối với mẹ của mình nữa. Mà nó có sức lan tỏa và cũng chính là tình cảm thủy chung sâu nặng của những người chiến sĩ xa quê. Đó cũng chính là một cách báo bình an cho những người thân ở nhà. Qua đó ta có thể cảm nhân được hình ảnh người mẹ trung du bình dị nhưng lại có tình cảm sâu nặng dành cho đứa con đang chiến đấu cho Tổ quốc hôm nay.

    Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

    Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

    Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

    Con đi đánh giặc mười năm

    Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

    Con đi mỗi bước gian lao

    Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

    Bao bà cụ từ tâm như mẹ

    Yêu quý con như đẻ con ra.

    Tình cảm ấy đã nâng bước chân của những người con nơi chiến trường. Và cũng chính tình yêu đồng chí, yêu ước, hậu phương đã hòa thành một tình cảm lớn lao giúp người chiến sĩ vượt qua những thử thách và gian lao của cuộc chiến. Đó chính là giá trị mà bài Bầm ơi muốn nhắn nhủ. Bởi nó cũng thể hiện được những quyết tâm của các chiến sĩ luôn sẵn sàng vượt lên phía trước để tiêu diệt kẻ thù. Bởi vì sau lưng họ có bầm luôn theo dõi và dành tình cảm sâu nặng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bầm Ơi!
  • Giáo Án Thơ Làm Bác Sĩ
  • Phân Tích Bài Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Bình Ngô Đại Cáo (Ngô Tất Tố Dịch)
  • Bài Thơ Bàn Tay Cô Giáo Của Nguyễn Trọng Hoàn Và Định Hải
  • Bầm Ơi! – Tố Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Bầm Ơi
  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ
  • Tổng Hợp Những Bài Thơ Chúc Tết Ý Nghĩa, Dễ Thuộc Ba Mẹ Có Thể Dạy Cho Trẻ
  • Ngày Xuân Đọc Lại Bài Thơ Năm Mới Chúc Nhau
  • Cái Cười Tết Của Tú Xương
    • Facebook

    • Twitter

    • Pinterest

    Bài thơ Bầm ơi! của nhà thơ Tố Hữu nói về nỗi nhớ của người chiến sĩ ngoài mặt trận, nhớ về người mẹ ở quê nhà. Anh thương mẹ già vẫn phải làm lụng vất vả khi trời rét, phải lo lắng cho đàn con đi chiến đấu. Tình thương của người chính sĩ dành cho mẹ hòa cùng tình thương dành cho đất nước.

    Hoàn cảnh ra đời bài thơ Bầm ơi!

    Xã Gia Điền là một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa (Phú Thọ), là nơi mà người dân quê gọi mẹ là bầm, là bủ. Và ở chính mảnh đất nghĩa tình này, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Bầm ơi” nổi tiếng.

    Vào những năm 1947, 1948, đoàn văn nghệ sỹ trong hành trình “nhận đường” đã chọn Gia Điền làm nơi dừng chân và hoạt động văn học nghệ thuật. Khi ấy, các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân đã ở lại thôn Gốc Gạo xã Gia Điền. Ngôi nhà mà các nhà văn chọn để ở trọ là nhà bà cụ Nguyễn Thị Gái. Khi các văn nghệ sỹ đến ở, bủ Gái đã dọn xuống bếp để nhường giường và không gian nhà trên cho khách. Cũng từ chính ngôi mà mái cọ bình yên này, vào khoảng thời gian ấy, bài thơ Bầm ơi được “khai sinh”.

    Bài thơ Bầm ơi! – Tố Hữu

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

    Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

    Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

    Con đi đánh giặc mười năm

    Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

    Con ra tiền tuyến xa xôi

    Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.

    Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.

    Con đi xa cũng như gần

    Anh em đồng chí quây quần là con.

    Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí

    Bầm quý con, bầm quý anh em.

    Bầm ơi, liền khúc ruột mềm

    Có con có mẹ, còn thêm đồng bào

    Con đi mỗi bước gian lao

    Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

    Bao bà cụ từ tâm như mẹ

    Yêu quý con như đẻ con ra.

    Cho con nào áo nào quà

    Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.

    Con đi, con lớn lên rồi

    Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con!

    Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.

    Mẹ già tóc bạc hoa râm

    Chiều nay chắc cụng nghe thầm tiếng con…

    1948

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lĩnh Vực: Phát Triển Ngôn Ngữ Đề Tài Thơ: Làm Bác Sĩ
  • Chuyên Đề Nghề Nghiệp Cho Bé
  • Cậu Bé 10 Tuổi Đọc Vanh Vách Bình Ngô Đại Cáo
  • Phân Tích Bài Thơ Bình Ngô Đại Cáo Chi Tiết 2 Đoạn Đầu
  • Bài Phân Tích Đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo Xuất Sắc Giúp Học Sinh Đạt Điểm Cao
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Bầm Ơi

    --- Bài mới hơn ---

  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ
  • Tổng Hợp Những Bài Thơ Chúc Tết Ý Nghĩa, Dễ Thuộc Ba Mẹ Có Thể Dạy Cho Trẻ
  • Ngày Xuân Đọc Lại Bài Thơ Năm Mới Chúc Nhau
  • Cái Cười Tết Của Tú Xương
  • “hiệu Lệnh” Của Bác Hồ Trong Bài Thơ Chúc Tết Mậu Thân 1968
  • Đề bài : đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi ở dưới

    … Bầm ơi có rét không bầm,

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn.

    Bầm ra ruộng cấy bầm run,

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non.

    Mạ non bầm cấy mấy đon,

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân,

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu…

    (Trích Bầm ơi – Tố Hữu, tập thơ Việt Bắc, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2005)

    Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của  văn bản ? (0,25 điểm)

    Câu 2: Nội dung của văn bản ? (0,25 điểm)

    Câu 3: Tìm và phân tích hiệu quả của những từ ngữ thể hiện nỗi vất vả của người mẹ trong đoạn thơ?  (0,5 điểm)

    Câu 4: Anh/chị  hãy viết một đoạn văn ngắn từ  5 -7 dòng thể hiện tình cảm của mình đối với mẹ? (0,5 điểm)

    Đáp án :

    Phong cách ngôn ngữ của đoạn thơ: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật/ Nghệ thuật

    .

     

    1. Nội dung của đoạn thơ: Khắc họa hình ảnh người mẹ vất vả và tình cảm của người con đối với mẹ.

    2. Các từ ngữ thể hiện nỗi vất vả của người mẹ: Bầm run, chân lội dưới bùn, ướt áo tứ thân.

    3. Hiệu quả: Diễn tả chân thật, sinh động về hình ảnh người mẹ lam lũ, vất vả.

    4. Học sinh viết đoạn văn thể hiện được tình cảm và thái độ đối với mẹ.

    Các em có thể tham khảo đoạn văn sau:

    “Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!“. Trong mỗi nhịp đập của trái tim mình, ta luôn thấy  hình bóng của mẹ yêu. Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta không thể nói hết bằng lời. Và cho dù có đi đâu về  đâu , dù thành công hay thất bại thì mẹ vẫn luôn bên ta, che chở, bảo vệ, động viên ta vững bước trên đường đời. Từ tận đáy lòng   tôi luôn mong ước được nằm trong vòng tay âu yếm, trìu mến của mẹ, của gia đình! Thương mẹ, con nguyện sẽ gắng học thật tốt để rèn luyện bản thân , góp một phần nhỏ bé cho xã hội, đem lại nguồn vui, niềm hy vọng cho mẹ, cho gia đình thương yêu của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bầm Ơi! – Tố Hữu
  • Lĩnh Vực: Phát Triển Ngôn Ngữ Đề Tài Thơ: Làm Bác Sĩ
  • Chuyên Đề Nghề Nghiệp Cho Bé
  • Cậu Bé 10 Tuổi Đọc Vanh Vách Bình Ngô Đại Cáo
  • Phân Tích Bài Thơ Bình Ngô Đại Cáo Chi Tiết 2 Đoạn Đầu
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bầm Ơi!

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu)
  • Dạy Bé Chúc Tết Ông Bà Bằng Những Bài Thơ Hay Ngộ Nghĩnh
  • Tuyển Tập Những Bài Thơ Hay Về Chú Bộ Đội
  • Bài Thơ Cây Dây Leo
  • Giáo Án Thơ Cô Giáo Của Em
  • Hoàn cảnh ra đời bài thơ Bầm ơi!

    Xã Gia Điền là một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa (Phú Thọ), là nơi mà người dân quê gọi mẹ là bầm, là bủ. Và ở chính mảnh đất nghĩa tình này, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Bầm ơi” nổi tiếng.

    Vào những năm 1947, 1948, đoàn văn nghệ sỹ trong hành trình “nhận đường” đã chọn Gia Điền làm nơi dừng chân và hoạt động văn học nghệ thuật. Khi ấy, các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân đã ở lại thôn Gốc Gạo xã Gia Điền. Ngôi nhà mà các nhà văn chọn để ở trọ là nhà bà cụ Nguyễn Thị Gái. Khi các văn nghệ sỹ đến ở, bủ Gái đã dọn xuống bếp để nhường giường và không gian nhà trên cho khách. Cũng từ chính ngôi mà mái cọ bình yên này, vào khoảng thời gian ấy, bài thơ Bầm ơi được “khai sinh”.

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

    Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

    Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

    Con đi đánh giặc mười năm

    Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

    Con ra tiền tuyến xa xôi

    Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.

    Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.

    Con đi xa cũng như gần

    Anh em đồng chí quây quần là con.

    Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí

    Bầm quý con, bầm quý anh em.

    Bầm ơi, liền khúc ruột mềm

    Có con có mẹ, còn thêm đồng bào

    Con đi mỗi bước gian lao

    Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

    Bao bà cụ từ tâm như mẹ

    Yêu quý con như đẻ con ra.

    Cho con nào áo nào quà

    Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.

    Con đi, con lớn lên rồi

    Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con!

    Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.

    Mẹ già tóc bạc hoa râm

    Chiều nay chắc cụng nghe thầm tiếng con…

    1948

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Thơ Làm Bác Sĩ
  • Phân Tích Bài Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Bình Ngô Đại Cáo (Ngô Tất Tố Dịch)
  • Bài Thơ Bàn Tay Cô Giáo Của Nguyễn Trọng Hoàn Và Định Hải
  • Tuyển Chọn 222 Bài Thơ Anh Yêu Em Chế Hài Hước, Dí Dỏm Nhất
  • Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu) – Vẻ Đẹp Của Người Mẹ Miền Trung Du

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Cảnh Ngày Hè (Nguyễn Trãi) – Bức Tranh Ngày Hè Rực Rỡ
  • Bài Thơ “Cảnh Ngày Hè” Của Nguyễn Trãi
  • Chùm Bài Thơ Về Chú Bộ Đội
  • Bài Thơ Cây Đào
  • Qua Hai Bài Thơ Cảnh Khuya Và Rằm T…
  • Nội Dung

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Bài thơ Bầm ơi được sáng tác kể về người mẹ Nguyễn Thị Gái. Đây là nơi một số nhà thơ trong đó có Tố Hữu đã dừng chân. Địa điểm nhắc tới trong bài chính là xã Gia Điền – một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa (Phú Thọ). Cảm nhận sâu sắc tình cảm bầm dành cho những thi sĩ, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Bầm ơi

    Đây chính là câu chuyện về người mẹ hết lòng thương con. Khi các thi sĩ dừng chân ở nhà bầm, bầm đã dành giường cho họ và chuyển xuống bếp ngủ. Tối về cụ dùng lá chuối khô bện lại để nàm nệm nằm cho đỡ lạnh. Tuy nhiên khi ấy cứ đêm đêm mọi người lại nghe thấy tiếng khóc nỉ non của cụ. Hỏi ra mới vỡ lẽ rằng, cụ nhớ đứa con trai của mình. Con trai của cụ tham gia vệ quốc quân nhưng lâu ngày không có tin tức. Chính vì vậy khi ấy các nhà thơ đã đề nghị Tố Hữu sáng tác một bài thơ như là một bức thư của người con trai để cụ an lòng. Đó cũng chính là hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Khi sáng tác xong nhà thơ dã đọc cho cụ nghe và bảo đó chính là bài thơ mà con trai cụ gửi về nhà. tin là như vậy cụ mừng lắm và cũng hết lo lắng và cũng không còn nghe tiếng khóc thầm mỗi đêm. Và cụ luôn miệng nói với nhà thơ Tố Hữu rằng con trai của cụ nó thương cụ thế đấy. Từ đó hôm nào cụ cũng nhờ nhà thơ Tố Hữu đọc lại bài thơ nghe ít nhất một lần.

    Về sau bài thơ Bầm ơi được nhiều người biết tới hơn và các chiến sĩ đã chép bài thơ này vào lá thư để gửi cho mẹ của mình và báo rằng họ vẫn bình an. Sau này năm 1981 khi đang ở Hà Nội thì anh đại tá quân đội là con trai của cụ Gái đến thăm. Anh rất cảm kích bài thơ của nhà thơ đã làm vơi bớt sự nhớ nhung của mẹ. Và nhà thơ đã gửi 3m lụa làm quà để anh mang về làm quà cho mẹ của mình.

    Bài thơ Bầm ơi không chỉ là tình cảm riêng tư của một chàng trai nào đối với mẹ của mình nữa. Mà nó có sức lan tỏa và cũng chính là tình cảm thủy chung sâu nặng của những người chiến sĩ xa quê. Đó cũng chính là một cách báo bình an cho những người thân ở nhà. Qua đó ta có thể cảm nhân được hình ảnh người mẹ trung du bình dị nhưng lại có tình cảm sâu nặng dành cho đứa con đang chiến đấu cho Tổ quốc hôm nay.

    Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

    Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

    Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

    Con đi đánh giặc mười năm

    Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

    Hình ảnh người bầm hiện lên thật xúc động. Từng câu chữ như làm sống lại hình ảnh bà mẹ trung du nghèo khó nhọc. Nhất là trong một buổi sáng mưa phùn mẹ tay run cắm từng mảnh mạ xuống bùn mà làm con người ta thêm phần xót xa, quặn đau. Qua đó như muốn khuyên nhủ người mẹ hãy bớt những lo toan và bộn bề. Bởi rằng những khốc liệt nơi chiến trường cũng không thể nào đo được những nỗi vất vả của cuộc đời bầm. Và cũng không đổi lại được tình cảm mà bầm dành cho con.

    Con đi mỗi bước gian lao

    Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

    Bao bà cụ từ tâm như mẹ

    Yêu quý con như đẻ con ra.

    Tình cảm ấy đã nâng bước chân của những người con nơi chiến trường. Và cũng chính tình yêu đồng chí, yêu ước, hậu phương đã hòa thành một tình cảm lớn lao giúp người chiến sĩ vượt qua những thử thách và gian lao của cuộc chiến. Đó chính là giá trị mà bài Bầm ơi muốn nhắn nhủ. Bởi nó cũng thể hiện được những quyết tâm của các chiến sĩ luôn sẵn sàng vượt lên phía trước để tiêu diệt kẻ thù. Bởi vì sau lưng họ có bầm luôn theo dõi và dành tình cảm sâu nặng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Làm Bác Sĩ
  • Bài Thơ Bắp Cải Xanh
  • Cảm Nghĩ Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Chùm Thơ Về Hưởng Ứng An Toàn Giao Thông
  • Ngọn Đồi Chúng Ta Leo Lên – Bài Thơ Amanda Gorman Đọc Tại Lễ Nhậm Chức Của Tổng Thống Joe Biden
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu)

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản, Thơ Chi Tiết Cùng Ví Dụ
  • Soạn Văn Bài: Luyện Tập Vận Dụng Kết Hợp Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Bài Văn Nghị Luận
  • Mấy Ý Kiến Về Việc Thưởng Thớc, Đánh Giá Thơ Tố Hữu
  • Giáo Án Tập Đọc Lớp 5
  • Thơ Chúc Mừng Năm Mới 2022
  • Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Cảm nhận hình ảnh người mẹ trung du qua Bầm ơi

    Bài thơ Bầm ơi được sáng tác kể về người mẹ Nguyễn Thị Gái. Đây là nơi một số nhà thơ trong đó có Tố Hữu đã dừng chân. Địa điểm nhắc tới trong bài chính là xã Gia Điền – một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa ( Phú Thọ). Cảm nhận sâu sắc tình cảm bầm dành cho những thi sĩ, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Bầm ơi

    Bầm ơi – một lá thư bằng thơ

    Đây chính là câu chuyện về người mẹ hết lòng thương con. Khi các thi sĩ dừng chân ở nhà bầm, bầm đã dành giường cho họ và chuyển xuống bếp ngủ. Tối về cụ dùng lá chuối khô bện lại để nàm nệm nằm cho đỡ lạnh. Tuy nhiên khi ấy cứ đêm đêm mọi người lại nghe thấy tiếng khóc nỉ non của cụ. Hỏi ra mới vỡ lẽ rằng, cụ nhớ đứa con trai của mình. Con trai của cụ tham gia vệ quốc quân nhưng lâu ngày không có tin tức. Chính vì vậy khi ấy các nhà thơ đã đề nghị Tố Hữu sáng tác một bài thơ như là một bức thư của người con trai để cụ an lòng. Đó cũng chính là hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Khi sáng tác xong nhà thơ dã đọc cho cụ nghe và bảo đó chính là bài thơ mà con trai cụ gửi về nhà. tin là như vậy cụ mừng lắm và cũng hết lo lắng và cũng không còn nghe tiếng khóc thầm mỗi đêm. Và cụ luôn miệng nói với nhà thơ Tố Hữu rằng con trai của cụ nó thương cụ thế đấy. Từ đó hôm nào cụ cũng nhờ nhà thơ Tố Hữu đọc lại bài thơ nghe ít nhất một lần.

    Về sau bài thơ Bầm ơi được nhiều người biết tới hơn và các chiến sĩ đã chép bài thơ này vào lá thư để gửi cho mẹ của mình và báo rằng họ vẫn bình an. Sau này năm 1981 khi đang ở Hà Nội thì anh đại tá quân đội là con trai của cụ Gái đến thăm. Anh rất cảm kích bài thơ của nhà thơ đã làm vơi bớt sự nhớ nhung của mẹ. Và nhà thơ đã gửi 3m lụa làm quà để anh mang về làm quà cho mẹ của mình.

    Câu chuyện gia tài của người chiến sĩ

    Bài thơ Bầm ơi không chỉ là tình cảm riêng tư của một chàng trai nào đối với mẹ của mình nữa. Mà nó có sức lan tỏa và cũng chính là tình cảm thủy chung sâu nặng của những người chiến sĩ xa quê. Đó cũng chính là một cách báo bình an cho những người thân ở nhà. Qua đó ta có thể cảm nhân được hình ảnh người mẹ trung du bình dị nhưng lại có tình cảm sâu nặng dành cho đứa con đang chiến đấu cho Tổ quốc hôm nay.

    Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

    Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

    Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

    Con đi đánh giặc mười năm

    Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

    Hình ảnh người bầm hiện lên thật xúc động. Từng câu chữ như làm sống lại hình ảnh bà mẹ trung du nghèo khó nhọc. Nhất là trong một buổi sáng mưa phùn mẹ tay run cắm từng mảnh mạ xuống bùn mà làm con người ta thêm phần xót xa, quặn đau. Qua đó như muốn khuyên nhủ người mẹ hãy bớt những lo toan và bộn bề. Bởi rằng những khốc liệt nơi chiến trường cũng không thể nào đo được những nỗi vất vả của cuộc đời bầm. Và cũng không đổi lại được tình cảm mà bầm dành cho con.

    Con đi mỗi bước gian lao

    Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

    Bao bà cụ từ tâm như mẹ

    Yêu quý con như đẻ con ra.

    Tình cảm ấy đã nâng bước chân của những người con nơi chiến trường. Và cũng chính tình yêu đồng chí, yêu ước, hậu phương đã hòa thành một tình cảm lớn lao giúp người chiến sĩ vượt qua những thử thách và gian lao của cuộc chiến. Đó chính là giá trị mà bài Bầm ơi muốn nhắn nhủ. Bởi nó cũng thể hiện được những quyết tâm của các chiến sĩ luôn sẵn sàng vượt lên phía trước để tiêu diệt kẻ thù. Bởi vì sau lưng họ có bầm luôn theo dõi và dành tình cảm sâu nặng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Nhân Nghĩa Được Thể Hiện Trong Suốt Bài Bình Ngô Đại Cáo
  • Nghị Luận “bình Ngô Đại Cáo” Một Tác Phẩm Của Nguyễn Trãi
  • Văn Mẫu Nghị Luận Tác Phẩm Bình Ngô Đại Cáo
  • Bài Viết Phân Tích “bình Ngô Đại Cáo”
  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn 1 2 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Tổng Ôn Kiến Thức Bài Thơ Đồng Chí Của Nhà Thơ Chính Hũu

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Học Rút Ra Từ Bài Thơ Lượm
  • Soạn Bài: Ôn Tập Về Thơ Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài: Kiểm Tra Thơ Và Truyện Hiện Đại (Phần 2) Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Bài 10. Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Soạn Bài Đồng Chí Của Chính Hữu
  • Bài thơ Đồng chí được nhà thơ Chính Hữu viết vào đầu năm 1948. Tác phẩm thể hiện vẻ đẹp bình dị mà cao cả của anh vệ quốc quân năm xưa, và là bức chân dung người lính cách mạng, người lính cụ Hồ.

    Xuất xứ

    Bài thơ Đồng chí được in trong Đầu súng trăng treo, NXB Văn học, Hà Nội, 1972.

    Hoàn cảnh sáng tác

    Bài thơ được viết vào đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đơn vị tham gia chiến đâu trong chiến dịch Việt Bắc, thu đông năm 1947, tại nơi Chính Hữu phải nằm điều trị bệnh.

    Thể thơ, bố cục

    – Thể thơ tự do, có 20 dòng

    – Bố cục: ba đoạn

    Đoạn 1 (bảy câu thơ đầu): Lí giải về cơ sở hình thành nên tình đồng chí.

    Đoạn 2 (mười câu thơ tiếp): Những biểu hiện của tình đông chí và sức mạnh của nó.

    Đoạn 3 (ba câu cuối): Biểu hiện cao đẹp nhất của tình đồng chí.

    Đặc điểm nội dung, nghệ thuật

    – Bài thơ ca ngợi vè đẹp của tình đồng chí, đồng đội và hình ảnh người lính cách mạng.

    – Bài thơ có hình ảnh chân thực, cụ thể mà giàu sức khái quát, cô đọng, hàm súc, giàu sức biểu cảm. Lời thơ giàu chất tạo hình, giàu nhạc điệu. Thơ thơ tự do giúp diễn tả hiện thực và cảm xúc một cách linh hoạt. Bài thơ đã góp phần mở ra phương hướng khai thác chất thơ, vẻ đẹp của người lính trong cái bình dị, bình thường, chân thật.

    Định hướng tiếp cận bài thơ

    Cơ sở hình thành nên tình đồng chí (Đồng chí là cùng gia cấp, cùng lí tưởng)

    – Trước hết, tình đông chí bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân nghèo khó:

    Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

    Hai câu thơ giới thiệu về quê hương của những người lính. Anh và tôi đều là những người lính xuất thân từ nông dân, có lẽ vì thế mà mối quan tâm hàng đầu của họ là đất đai, giới thiệu về mình là giới thiệu về đồng đất quê mình. Nước mặn đồng chua là vùng ven biển, đất khó làm ăn; đất cày lên sỏi đá là vùng đồi núi trung du, đất khó canh tác. Họ đều chung cái nghèo, đó là cơ sở đồng cảm giai cấp của những người lính.

    Chính điều đó khiến họ từ mọi phương trời xa lạ tập hợp lại trong hàng ngũ quân đội cách mạng và trở nên thân quen với nhau.

    – Tình đồng chí còn được nảy sinh từ sự cùng chung lí tưởng, sát cánh chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc:

    Súng bên súng, đầu sát bên đầu

    Hình ảnh thơ có sự sóng đôi, gợi nên tình gắn bó của những người chung một đội ngũ, chung lí tưởng cao cả.

    – Tình đồng chí, đồng đội đã nảy nở và ngày càng gắn bó trong cuộc sống, chiến đấu biết bao gian khổ của người lính:

    Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

    Câu thơ đầy ắp kỉ niệm và ấm áp tình thân hữu – tình tri kỉ.

    Những hình ảnh thơ ở đây vừa cụ thể, sinh động, vừa mang ý nghĩa khái quát gợi liên tưởng sâu xa.

    – Từ sự sóng đôi của “anh” và “tôi” trong từng dòng thơ đến sự gần gũi “anh với tôi” trong một dòng thơ và đến thành một đôi nhưng “đôi người xa lạ” rồi mới thành “đôi tri kỉ” – đôi bạn trí cốt, hiểu nhau sâu sắc và cao hơn nữa là “Đồng chí!”. Từ rời rạc, riêng rẻ, dần nhập thành chung, thành một, khăng khít, keo sơn, khó tách rời. Câu thơ thứ bảy chỉ gồm hai chữ “Đồng chí” và dấu chấm than tạo một nốt nhấn, như một tiếng gọi thiết tha, xúc động vừa như một phát hiện, một kết luận, vừa như một bản lề gắn kết hai đoạn thơ, làm nổi rõ một tất yếu: cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng lí tưởng thì trở thành đồng chí của nhau và mở ra ý tiếp – đồng chí còn như thế nào nữa.

    Những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí (Đồng chí là thấu hiểu nhau, là đồng cam cộng khổ)

    – Đồng chí, đó là sự cảm thông sâu xa những hoàn cảnh, tâm tư, nỗi niềm sâu kín của nhau:

    Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

    Ba câu thơ chỉ nói về “anh”, về bạn bởi vì họ cùng chung hoàn cảnh, chung nỗi niềm, đó cũng là tình tri kỉ, hiểu bạn như hiểu mình. Người lính ra đi chiến đấu để lại những gì quý giá, thân thiết nhất nơi làng quê (ruộng nương, gian nhà). “Mặc kệ” là quyết ra đi, mang dáng dấp trượng phu, nhưng vẫn nặng lòng gắn bó với quê hương. Hình ảnh “gian nhà không” đầy gợi cảm, vừa gợi cái nghèo nàn, xơ xác, vừa gợi cái trống trải trong lòng người ở lại khi người đàn ông ra trận. Để cả cơ nghiệp của mình hoang trống để ra đi, đó là một sự hi sinh. Hiểu rõ lòng nhau và hiểu cả nỗi niềm của người thân của nhau nơi hậu phương là tình tri kỉ. “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” là một cách nói tế nhị và giàu sức gợi, vừa là nhân hóa vừa là hoán dụ. Câu thơ nói về quê hương nhớ người lính mà thực ra là người lính nhớ nhà. Nỗi nhớ hai chiều nên càng da diết. Chỉ nói ai khác nhớ, đó cũng là cách tự vượt lên mình, nén tình riêng vì sự nghiệp chung.

    – Gắn bó với nhau trong đời thường, người lính càng gắn bó với nhau trong chiến đấu. Chia sẻ mọi tâm tư nỗi niềm để cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính với biết bao gian khổ:

    Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

    Những người lính cùng chịu bệnh tật – những cơn sốt rét rừng ghê gớm, cùng thiếu, cùng rách. Đây là hoàn cảnh chung của bộ đội ta những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Họ nhìn thấu và thương nhau từ những chi tiết nhỏ của đời sống. Những cặp câu thơ sóng đôi, đối xứng nhau (từng cặp hoặc trong từng câu) góp phần diễn tả sự sẻ chia, giống nhau trong mọi cảnh ngộ của người lính. Chữ “anh” và chữ “tôi” đến đây lại cùng xuất hiện, để cùng gánh vác, sẻ chia,không ai giành lấy cho mình sự ưu ái hơn. Tình đồng chí cho họ sức mạnh để vượt lên buốt giá – “miệng cười buốt giá” và ấm áp giữa buốt giá: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”, nắm lấy bàn tay nhau để ấm đôi bàn chân, để vượt lên gian khó. Những bàn tay như biết nói. Họ gắn bó với nhau để có thêm sức mạnh, niềm tin, hướng tới lí tưởng cao đẹp. Và đó là tình gắn bó sâu dày suốt trường kì kháng chiến.

    Biểu hiện cao đẹp nhất của tình đồng chí (Đồng chí là cùng chung chiến hào)

    Nhiệm vụ chủ yếu của người lính là đánh giặc, vì vậy tình đồng chí cao đẹp nhất là tình gắn bó thiêng liêng nơi tuyến đầu chống giặc, nơi sự sống và cái chết kề nhau trong tích tắc. Tình đồng chí đã được tôi luyện trong thử thách gian lao và đây là thử thách lớn nhất.

    Nhịp 2/2 gợi sự sóng đôi và như gợi sự bát ngát, lơ lửng chứ không cột chặt. Súng và trăng cũng là một cặp đồng chí, tô đậm vẻ đẹp của cặp đồng chí kia. Tình đồng chí khiến người lính vẫn bình thản và lãng mạn bên thềm cuộc chiến đấu, khiến học thấy cuộc đời vẫn đẹp đẽ, thơ mộng ngay giữa nguy hiểm, gian lao, khiến họ có sức manh trong tư thế, có sự đằm thắm trong tâm hồn tình cảm. Hình ảnh thơ ở đây giàu sức khái quát , gợi nhiều liên tưởng. Súng: hình ảnh của chiến tranh, khói lửa; trăng: hình ảnh của thiên nhiên trong mát, cuộc sống thanh bình. Sự hòa hợp giữa súng và trăng toát lên vẻ đẹp tâm hồn người lính và tính đồng chí của họ, vừa nói lên ý nghĩa cao đẹp của cuộc sống chiến đấu. Người lính cầm súng là đẻ bảo vệ độc lập, tự do, hòa bình, hạnh phúc. Súng và trăng, thực và mộng, cứng rắn và dịu hiền , chiến sĩ và thi sĩ, chất chiến đấu và chất trữ tình,…Đó là các mặt bổ sung cho nhau của cuộc đời người lính cách mạng. Xa hơn, có thể xem đó là biểu tượng của thơ ca kháng chiến, nền thơ kết hợp chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn.

    Hình ảnh người lính cách mạng trong bài thơ:

    Qua bài thơ về tình đồng chí hiện lên vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người lính cách mạng, anh vệ quốc quân năm xưa. Bài thơ này là bức chân dung đẹp về người lính cụ Hồ.

    – Đó là những người lính xuất thân từ nông dân, ra đi từ những miền quê nghèo khó trên khắp mọi miền đất nước. Họ đã gác lại những gì quý giá, thân thiết nhất nơi làng quê để ra đi chiến đấu nhưng vẫn nặng lòng gắn bó với làng quê thân yêu.

    – Họ đã trải qua những gian lao, thiếu thốn tột cùng, những cơn sót run người, trang phục phong phanh giữa mùa đông buốt giá (áo rách, quần vá, chân không giày). Những gian lao, thiếu thốn càng làm sáng lên nụ cười của họ (miệng cười buốt giá).

    – Đẹp nhất ở họ là tình đồng chí, đồng đội keo sơn, thắm thiết. Tình đồng chí sưởi ấm lòng người chiến sĩ, tiếp cho họ sức mạnh, vượt lên tất cả, chiến đấu và chiến thắng. Hình ảnh người lính và tình đồng chí của họ kết tinh và tỏa sáng trong đoạn cuối bài thơ. Tình đồng chí xuất phát từ tình yêu nước và là cội nguồn của chiến thắng, kết tinh những tình cảm xã hội cao đẹp, làm nên vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ. Đó cũng là truyền thống cao đẹp của quân đội ta.

    Cảm nhận bài thơ Đồng chí từ nhiều góc nhìn

    Lời tác giả

    Một vài kỉ niệm nhỏ về bài thơ “Đồng chí”

    Vào cuối năm 1947, tôi tham gia chiến dịch Việt Bắc. Địch nhảy dù ở Việt Bắc và hành quân từ Bắc Cạn đến Thái Nguyên. Chúng tôi phục kích từng chặng đánh, truy kích binh đoàn Beaufré. Khi đó tôi là chính trị viên đại hội. Phải nói là chiến dịch vô cùng gian khổ. Bản thân tôi cũng chỉ phong phanh trên người một bộ cánh, đầu không mũ, chân không giày. Đêm ngủ nhiều khi phải rải lá khô để nằm, không có chăn màn, ăn uống rất kham khổ vì đang trên đường hành quân truy kích địch. Tôi cũng phải có trách nhiệm chăm sóc anh em thương binh và chôn cất một số tử sĩ. Sau trận đó, tôi ốm, tôi phải nằm lại điều trị; đơn vị cử lại một đồng chí ở lại chăm sóc tôi. Trong khi ốm, nằm ở nhà sàn heo hút, tôi làm bài thơ “Đồng chí”.

    Trong bài thơ “Đồng chí” tôi muốn nhấn mạnh tình đồng đội. Suốt cả cuộc đời chiến đấu chỉ có một chỗ dựa dường như là duy nhất để tồn tại, để chiến đấu là tình đồng chí, tình đồng đội. Đồng chí ở đây là tình đồng đội, không có đồng đội tôi không thể nào hoàn thành được trách nhiệm, không có đồng đội tôi cũng đã chết lâu rồi. Bài thơ “Đồng chí” là lời tâm sự viết ra để tặng đông đội, tặng người bạn nông dân của mình. Bài thơ viết có đối tượng. Tôi hiểu và quý mến người đồng đội của tôi nên tiếng nói thơ ca giản dị và chân thật.

    Tuy nhiên “Đồng chí” không phải là bài thơ nôm na. Trước cách mạng tôi có làm một ít thơ. Trong thơ tôi cố gắng để nói cái cần nói, không nói dài, nói thừa. Tôi mong có được sự hàm súc, cô đọng của bài thơ, và hình ảnh thơ phải mang tính tạo hình. Tôi là lính của Trung đoàn Thủ đô. Tôi vào bộ đội ngày 19/12/1946. Bước vào cuộc kháng chiến , tuổi trẻ nhiều lúc bốc men say. Bài “Ngày về” phản ánh một mặt khía cạnh của tâm trạng tôi và bài “Đồng chí” cũng phản ánh một mặt tình cảm tôi. Bài thơ được làm nhanh. Tôi làm để tặng bạn. Tôi không phải nông dân và quê hương tôi cũng không phải trong cảnh nước mặn đồng chua hoặc đất cằn cỗi sỏi đá. Cái tôi trong bài thơ có những chi tiết không phải là tôi mà là của bạn, nhưng về cơ bản thì là của tôi. Tất cả những gian khổ của đời lính thiếu ăn, thiếu mặc, sốt rét, bệnh tật … bạn và tôi đều cũng trải qua. Trong những hoàn cảnh đó, chúng tôi là một, gắn bó trong tình đồng đội. Viết về bộ đội nhưng tôi thiên về khai thác nội tâm, tình cảm, ít có những chuyện đùng đoàng, chiến đấu. Tôi làm bài “Đồng chí” cũng là tình cảm chân thành tự nhiên không có sự gò ép, gắng gượng nào và nó cũng nằm trong tư duy thơ ca thân thuộc của tôi. Bài thơ có những hình ảnh thân thuộc cô đúc, như “Đầu súng trăng treo”.

    Tôi thấy có bạn phân tích hình ảnh đầu súng là tượng trưng cho người chiến sĩ đang bảo bệ quê hương và vầng trăn tượng trưng cho quê hương thanh bình. Tôi không nghĩ thế khi viết, còn hình tượng thơ gợi cho người đọc nghĩ thế là tùy ở các bạn. Vấn đề đối với tôi đơn giản hơn. Trong chiến dịch nhiều đêm có trăng. Đi phục kích giặc trong đêm, trước mắt tôi chỉ có ba nhân vật: khẩu súng và vầng trăng và người bạn chiến đấu. Ba nhân vật quyện vào nhau và tạo thành hình ảnh đầu súng trăng treo. Lúc đầu tôi viết là “Đầu súng mảnh trăng treo” sau đó bớt đi một chữ. Đầu súng trăng treo, ngoài hình ảnh bốn chữ này có nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì lơ lửng, chông chênh, trong sự bát ngát. Nó nói lên cái gì lơ lửng ở rất xa chứ không phải là buộc chặt, suốt đêm vầng trăng ở bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc như treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với chúng tôi như một người bạn; rừng hoang sương muối là một khung cảnh thật. Rừng mùa đông ở Việt Bắc rất lạnh, nhất là vào những đêm có sương muối. Sương muối làm buốt tê da như những mũi kim châm và đến lúc nào đó bàn chân tê cứng mất cảm giác. Tất cả những gian khổ của đời lính trong gia đoạn này rất khó để kể hết nhưng chúng tôi vẫn vượt lên được nhờ ở sự gắn bó tiếp sức của tình đồng đội trong quân ngũ cho đến hôm nay, mỗi khi nghĩ đến tình đồng đội năm xưa, lòng tôi vẫn còn xúc động bồi hồi.

    (Nhà văn nói về tác phẩm, NXB văn học, Hà Nội, 1994)

    Ý kiến của Nguyễn Đức Quyền

    (…) Câu thơ hai chữ Đồng chí

    Gần như đứng giữa bài thơ, riết cái thân bài thơ thành một cái lưng ong, nửa trên là một mảng quy nạp (như thế này là đồng chí), nửa dưới là một diễn dịch (đồng chí còn là như thế này nữa) một kết cấu chính luận cho một bài thơ trữ tình lạ.

    Chủ đề dồng chí lại hiện lên trong từng cấu truc ngôn ngữ, nghĩa là trong từng tế bào thơ. Tôi với anh khi thì xếp dọc:

    Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Khi thì xếp ngang: Tôi với anh đôi người xa lạ

    Khi thì điệp điệp (nét thẳng của ý chí và nét cong của tình cảm):

    Súng bên súng, đầu sát bên đầu

    Để đến đêm rét trùm chung một cái chăn thì nhập lại thành đồng chí.

    Và cái chăn đắp lại thì tâm sự mở ra. Họ soi vào nhau, anh hiểu tôi, tôi hiểu đến nỗi lòng sâu kín của anh:

    Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

    (…) Họ hiểu nhau đến chiều sâu như thế là để dựa vào nhau mà đi đến chiều cao này:

    Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo

    Chung nhau một cái chăn là một cái chăn là một cặp đồng chí, nắm cả bàn tay và ấm cả đôi bàn chân là một cặp đòng chí. Đêm nay, rừng hoang sương muối “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” là một cặp đồng chí. Và lãng mạn thay, súng và trăng cũng là một cặp đồng chí:

    Đầu súng trăng treo

    Cặp đồng chí này nói về cặp đồng chí kia, nói được cái cụ thể và gợi đến cái vô cùng. Súng và trăng, cứng rắn và hiền dịu, súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ; súng và trăng là biểu hiện cao cả của tình đồng chí:

    (Nguyễn Đức Quyền, Báo Văn nghệ số 30/1134 ngày 27/7/1985)

    Ý kiến của Vũ Nho

    “Những dòng thơ cuối cùng cũng như một tượng đài sừng sững cho tình cảm đồng chí thiêng liêng. Trên nền hùng vĩ thiên nhiên, cánh rừng trải rộng, bầu trời lồng lộng, người chiến sĩ đứng với khẩu súng và vầng trăng. Đây là những hình ảnh thực trong những đêm phục kích giặc của tác giả, nhưng chính tầm cao tư tưởng và lí tưởng chiến đấu của quân đội cách mạng đã tạo cho hình ảnh có một vẻ đẹp khái quát, tượng trưng”.

    (Vũ Nho, Để cảm hiểu và thưởng thức những bài thơ ở lớp 8 và lớp 9, 1991)

    Đề tài đồng chí là một nỗi ám ảnh với hồn thơ Chính Hữu. Trong bài ” Giá từng thước đất “, Chính Hữu đã viết:

    Năm mươi sáu ngày đêm bom ầm pháo dội Ta mới hiểu thế nào là đồng đội Đồng đội ta là hớp nước uống chung Nắm cơm bẻ nửa Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa Chia khắp anh em một mẩu tin nhà Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Vẻ Đẹp Người Lính Qua Khổ Thơ Cuối Bài Đồng Chí
  • Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu
  • Cảm Nhận Của Em Về Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ Đồng Chí
  • Phân Tích Tình Đồng Chí Qua Bài Thơ Đồng Chí Của Tác Giả Chính Hữu
  • Phân Tích Tình Đồng Chí Qua Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100