Top 10 # Sơ Đồ Bài Thơ Ánh Trăng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Sơ Đồ Tư Duy Bài Ánh Trăng Ngắn Gọn Nhất

Sơ đồ tư duy bài ánh trăng

Vẽ sơ đồ tư duy bài ánh trăng

Kiến thức cơ bản bài Ánh Trăng

I. Tìm hiểu chung về văn bản

1. Tác giả – tác phẩm

Nhà thơ Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá.

Là nhà thơ – chiến sĩ, trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

Phong cách thơ độc đáo – nhất là ở thể thơ lục bát (uyển chuyển mượt mà, hiện đại ở thi liệu, cấu tứ).

– 1966: Nhập ngũ

– 1975: Làm báo văn nghệ.

Hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh

– Giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972-1973; Giải A Hội Nhà văn Việt Nam (1984).

2. Đọc 3. Bố cục

3 phần:

(1) 2 khổ thơ đầu: Vầng trăng trong hoài niệm.

(2) 3 khổ thở giữa: Vầng trăng trong hiện tại

(3) Khổ thơ cuối: Vầng trăng trong suy tưởng.

II. Tìm hiểu bài thơ

1. Hai khổ thơ đầu.

Gắn bó với đồng, với sông, với bể.

Gắn bó với vầng trăng (tri kỉ, tình nghĩa).

Nghệ thuật nhân hoá, khắc hoạ vẻ đẹp tình nghĩa thuỷ chung của trăng đối với người lính trong những năm kháng chiến. Khó khăn gian khổ của cuộc sống nơi núi rừng cùng chiến tranh. Trăng đã đến với tình cảm chân thành.

Tình bạn giữa trăng và người lính gắn bó sâu nặng đằm thắm như những người bạ tri kỷ. Trăng như hiểu được tình cảm của con người.

-Trần trụi với thiên nhiên

– Hồn nhiên như cây cỏ.

Thể hiện vẻ đẹp mộc mạc, hoang sơ.

– Trăng và người lính như có sự đồng cảm, sẻ chia: tình nghĩa bền vững mãi mãi.

– Từ hồi về thành phố

– Thình lình đèn điện tắt

Vì cuộc sống nơi thành phố đầy đủ tiện nghi, người lính đã quen với vật chất cao sang “ánh điện, cửa gương”, lãng quên trăng, quên đi những ngày tháng gian khổ, những năm tháng chiến tranh ác liệt, quên đi tình cảm chân thành cao đẹp. Chính sự lãng quên ấy đã phá vỡ tình bạn (hàm chứa tình cảm chua xót, bất ngờ).

– Hoàn cảnh đối lập : hình ảnh vầng trăng luôn thuỷ chung, ân nghĩa, thể hiện giá trị thức tỉnh tình người cao đẹp.

Sự xuất hiện đột ngột của trăng trong bối cảnh đèn điện tắt. Vầng trăng bất ngờ mà tự nhiên gợi lại bao kỷ niệm nghĩa tình.

Điều đáng nói ở đây là chỉ có con người thay đổi, còn vầng trăng thì ra sao?

“Đột ngột vầng trăng tròn”: trăng vẫn đến với bạn bằng tình cảm tràn đầy nguyên vẹn, vẫn chung thuỷ với người bạn năm xưa. Con người có thể quay lưng lại với quá khứ còn trăng vẫn vậy, vẫn đánh thức tâm hồn họ.

Ánh trăng đánh thức những kỷ niệm quá khứ – đánh thức lại tình bạn năm xưa, đánh thức những gì con người lãng quên. Những hình ảnh “đồng – bể – sông – rừng” lặp lại gợi tả điều gì? Tả những kỷ niệm quá khứ gần gũi thân quen gắn bó sâu sắc.

3. Khổ thơ cuối.

Cảm xúc của tác giả trong bài thơ này là nỗi niềm “rưng rưng”, trào dâng xúc động với những kỷ niệm về những năm tháng gian lao của người lính đã từng gắn bó với thiên nhiên, đất nước.

Trăng:

– Tròn vành vạnh

– Kể chi người vô tình

– Im phăng phắc

Trăng cứ tròn vành vạnh, tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ vẹ nguyên chẳng thể phai mớ. Trăng không thay đổi, vẫn tràn đầy vẹn nguyên, thế mà lại bị con người lãng quên.

Hình ảnh vầng trăng thể hiện trong chiều sâu suy tưởng mang tính triết lý sâu sắc: Nhắ nhở người đọc thái độ sống ân nghĩa thuỷ chung.

– Từ sự im lặng ấy, trăng như một nhân chứng nghĩa tình nghiêm khắc nhắc nhở con người phải day dứt, trăn trở để nhìn lại chính mình, tìm lại mình, tìm lại những điều lãng quên trong quá khứ, một quá khứ đẹp và bất diệt

– Điều làm xúc động lòng người là trăng không chỉ thuỷ chung mà còn rất cao thượng vị tha, lặng lẽ khoan dung.

III. Tổng kết

– Cảm xúc của tác giả trong bài thơ được thể hiện qua một câu chuyện riêng, bằng sự kết hợp hài hoà giữa tự sự và trữ tình.

– Giọng điệu tâm tình, nhịp thơ khi thì trôi chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo lời kể, khi thì ngâm Kiều Nguyệt Nga tha thiết, khi thì thầm lặng suy tư.

Sơ Đồ Tư Duy Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Gửi bài viết qua email

Lưu bài viết này

Sơ đồ tư duy bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Đăng lúc: Thứ bảy – 30/11/2013 19:56. Đã xem 18063

Chuyên mục :

Ánh Trăng

Một tác phẩm không thể thiếu khi ôn thi vào lớp 10

Tác giả bài viết:

Hội ôn thi vào lớp 10

Chú ý: Việc đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác mà không ghi rõ nguồn http://thivao10.com là vi phạm bản quyền

Từ khóa:

Sơ đồ tư duy bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Đánh giá bài viết

52

14

3.7

/

5

Sơ Đồ Tư Duy Bài Tây Tiến Dễ Hiểu Nhất

Sơ đồ tư duy bài Tây Tiến sẽ được Kiến Guru giúp bạn khái quát lại một cách khoa học và dễ hiểu nhất. Với mục tiêu đem đến cho các bạn học sinh nguồn tham khảo uy tín và tin cậy nhất với nội dung bài chất lượng không chỉ cung cấp đủ kiến thức mà còn truyền tải thông tin một cách thông minh, hiệu quả. Với hình thức sơ đồ, chúng ta sẽ dễ dàng làm rõ kết cấu và nội dung của từng phần trong bài thơ Tây Tiến được Quang Dũng truyền tải.

I. Tìm hiểu sơ lược để viết sơ đồ tư duy bài Tây Tiến

1. Tác giả

– Quang Dũng (1921-1988) tên thật là Bùi Đình Diệm, là nhà thơ Việt Nam nổi tiếng thời chiến.

– Ngoài ra, ông còn là một người nghê sĩ tài hoa khi vừa là nhạc sĩ, họa sĩ đa năng.

– Là tác giả của nhiều bài thơ nổi tiếng: Tây Tiến, Đôi bờ, Đôi mắt người Sơn Tây,…

2. Tác phẩm

– Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển từ đơn vị Tây Tiến sang đơn vị khác. Chuyển qua binh đoàn mới chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, với nỗi nhớ đồng đội cũ da diết nên ông đã viết bài thơ Nhớ Tây Tiến, và sau này được đổi tên là Tây Tiến.

II. Tìm hiểu chi tiết để viết sơ đồ tư duy bài Tây Tiến

1. Thiên nhiên dữ dội, hùng vĩ

Sơ đồ tư duy thể hiện thiên nhiên núi rừng dữ dội và hùng vĩ

– Hai câu đầu: bộc lộ nỗi nhớ mãnh liệt đến nỗi thốt lên thành lời “Tây Tiến ơi” là tiếng gọi đầy thân thương, “nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ thường trực, bao trùm lên không gian, thời gian.

– Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc nhuộm màu hoang sơ và dữ dội:

+ Địa danh nổi tiếng Sài Khao, Mường Lát gợi lên sự xa xôi, hẻo lánh;

+ Các từ láy giàu tính tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, điệp từ “dốc”, nghệ thuật điệp “Dốc lên … dốc lên” gợi lên địa hình quanh co, hiểm trở, gập ghềnh.

+ Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện tầm cao núi non người lính phải vượt qua.

+ Nhịp thơ bẻ đôi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” cho ta thấy được sự nguy hiểm tột cùng.

+ Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi lên sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” là điểm thời gian mà những người lính thường xuyên phải đối mặt với  hiểm nguy nơi rừng thiêng nước độc.

+ Tác giả sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, gập ghềnh, hiểm trở của địa hình.

2. Nét thơ mộng và trữ tình 

Sơ đồ tư duy nét thơ mộng, trữ tình của bài thơ

– Khung cảnh thiên nhiên núi rừng ngoài vẻ hùng vĩ, dữ dội cũng có lúc êm dịu, mang đậm hương vị cuộc sống đời thường: “nhà ai Pha Luông …”, “cơm lên khói”, “Mai Châu mùa em …”, cách viết với thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng và bình yên hơn đến lạ.

– Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:

+ Nét đẹp huyền ảo, có chút hoang dại và đầy thiêng liêng: “Chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ”.

+ Khung cảnh con người lao động mộc mạc, bình dị: “dáng người trên độc mộc”, cảnh vật hiện lên duyên dáng, đầy sức sống: “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.

3. Hình tượng người lính qua sơ đồ tư duy Tây Tiến

– Chân dung người lính được miêu tả chân thực: “đoàn binh không mọc tóc”, “ xanh màu lá”, họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn mạnh mẽ “dữ oai hùm”.

Sơ đồ tư duy thể hiện hình tượng bi tráng của người lính Tây Tiến

– Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hy sinh anh dũng của họ:

+ Hình ảnh bi hùng mô tả chân dung người lính Tây Tiến “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”: hai câu thơ gợi tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau những cuộc hành quân dài mệt mỏi nhưng đó, cũng có thể là sự nghỉ ngơi ra đi vĩnh viễn.

+ Những chàng trai trẻ sẵn sàng cống hiến hết tuổi trẻ đời mình cho đất nước “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “chẳng tiếc đời xanh”, “anh về đất”, họ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

+ Cái chết được lí tưởng hóa mang dáng dấp những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; thiên nhiên như cũng trở nên đau đớn thay cho nỗi đau mà những người lính phải chịu.

Sơ đồ tư duy thể hiện nét lãng mạn của người lính Tây Tiến

– Vượt lên tất cả những khó khăn, gian khổ của điều kiện chiến đấu, của những mất mát hy sinh vì một mục tiêu lớn lao, cao cả.

– Kỉ niệm đêm liên hoan thắm tình quân dân:

+ Không khí đêm liên hoan tưng bừng hòa cùng màu sắc lộng lẫy,  rực rỡ: “bừng lên”, “hội đuốc hoa”, “khèn lên man điệu”; những cô gái núi rừng mang nét duyên dáng riêng: “xiêm áo”, “nàng e ấp”.

+ Tâm hồn những người lính trẻ bay bổng, say mê hòa trong không khí rộn rã, ấm áp tình người: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.

– Họ là những con người cất dấu trong mình góc tâm hồn lãng mạn và trái tim đầy ắp yêu thương “Mắt trừng gửi mộng”/ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, lấy hình bóng người thương phía hậu phương để làm động lực chiến đấu.

III. Tổng kết sơ đồ tư duy bài Tây Tiến

1. Giá trị nội dung

– Qua nỗi nhớ đồng đội da diết, tác giả khắc họa hình tượng người lính Tây Tiến hào hoa, lãng mạn nhưng cũng anh dũng, hào hùng, bi tráng bên cạnh thiên nhiên vừa thơ mộng, vừa hùng vĩ, khắc nghiệt mà ta có thể thấy rõ qua sơ đồ tư duy Tây Tiến.

2. Giá trị nghệ thuật

– Bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, đậm chất hào hùng, bi tráng.

– Ngôn từ độc đáo, giọng điệu bồi hồi.

Bài Soạn Lớp 9: Ánh Trăng

Tuổi thơ của tôi gắn bó với làng quê, với những cánh đồng thơm hương lúa chín, với dòng sông êm đềm nơi tôi tắm mát những ngày thơ dại. Mỗi đêm, trên chiếc chõng tre, bà thường kể tôi nghe bao câu chuyện cổ tích ngọt ngào dưới ánh trăng hiền hòa. Ánh trăng như người bạn thuở thiên thiếu, đã lớn lên cùng tôi nơi làng quê thanh tịnh.Năm tháng ấy cứ êm đềm trôi qua. Rồi đất nước bỗng lâm cảnh chiến tranh loạn lạc, tôi lên đường chiến đấu theo tiếng gọi của quê hương. Nơi rừng xa thanh vắng, nơi ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Tôi nhớ làng quê, nhớ gia đình. Ngước lên ánh trăng trên cao, trăng tỏa sáng dịu hiền như muốn chia sẻ những nỗi buồn cùng tôi. Giữa cuộc sống trần trụi với thiên nhiên, cỏ cây, trăng như người bạn tri âm tri kỉ, đã cùng tôi đi qua những ngay chiến đấu gian khổ. Có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ quên được vầng trăng tình nghĩa, đã luôn đồng hành cùng tôi trong cuộc đời.Vậy mà, chiến tranh kết thúc, hòa bình lập lại. Tôi trở về thành phố, những ngôi nhà ống san sát, những ánh đèn cao áp, cuộc sống đầy đủ tiện nghi vật chất đã lôi cuốn tôi. Những kí ức năm xưa về làng quê với ánh trăng thanh bình, tôi đã dần lãng quên.Rồi một đêm tối nọ, bỗng ánh đèn khắp thành phố vụt tắt, không khí trở nên ngột ngạt hơn. Tôi đưa tay mở tung cánh cửa sổ. Lạ thay, ánh sáng chiếu vào tôi lúc nào dịu mát làm sao, đó không phải là ánh đèn điện nóng bức ngày hè. Đó là ánh trăng – vầng trăng tròn vành vạnh tỏa sáng trên bầu trời đêm. Tôi với trăng, mặt đối mặt, nhìn nhau, thật lâu. Bỗng, trong lòng tôi có cái gì đó rưng rưng, Bao nhiêu ký ức chợt ùa về. Hình ảnh của những cánh đồng bao la, những dòng sông, những hồ bể, những cánh rừng cứ hiện lên trong đầu tôi. Bao năm trôi qua, mái tóc tôi đã điểm hoa râm nhưng trăng vẫn không thay đổi, vẫn tròn vành vạnh như lúc xưa. Trăng vẫn đứng im trên bầu trời trong xanh, tỏa sáng khắp nhân gian. Trăng vẫn như chờ tôi bên ngoài cửa sổ biết bao năm nay. Tôi đã quá thờ ơ với trăng, đã vô tình quên đi những kỷ niệm đẹp đẽ giữa trăng và tôi. Trăng cứ nhìn tôi, im lặng. Tôi bỗng giật mình. Sự im lặng của trăng cứ như một lời trách móc tôi, oán hận tôi vì sao đã quên đi người bạn tri kỷ. Phải chăng tôi đã quá vô tình, sống nơi thị thành xa hoa giàu có mà đã lãng quên đi tuổi thơ nghèo khó, quên đi người bạn đã gắn bó thủy chung bên mình, quên đi bao tháng ngày tuổi trẻ. Lòng tôi nghẹn đắng, giọt nước mắt như trực trào ra. Và tôi đã hứa, lời hứa thật lòng, khắc sâu trong đầu tôi, là không bao giờ được quên đi ánh trăng – người bạn ân nghĩa, thủy chung đã gắn bó cùng tôi suốt thời thơ ấu và cả chặng đường chiến đấu gian lao vất vả trong quá khứ.