Top #10 ❤️ Thi Pháp Truyện Cổ Tích Cây Khế Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Phân Tích Truyện Cổ Tích Cây Khế

Đọc Truyện Cô Bé Quàng Khăn Đỏ

Peep Inside A Fairy Tale: Little Red Riding Hood

Luyện Siêu Trí Nhớ Từ Vựng Tiếng Anh Tặng Kèm 40 Bài Luyện Nghe Qua Truyện Cổ Tích

Vừa Lười Vừa Bận Vẫn Giỏi Tiếng Anh

Truyện Ngụ Ngôn Rùa Và Thỏ

Phân tích truyện cổ tích Cây khế – Bài làm 1

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam quả thật là vô cùng phong phú,. Mỗi câu chuyện lại mang đến cho người đọc những bài học sâu sắc và có tính giáo dục rất lớn cho thế hệ học sinh. “Cây khế” là một trong những câu chuyện như vậy.

Khai thác một đề tài không mới trong cổ tích, nói về người em thứ trong gia đình, nhưng Cây khế mang đến một câu chuyện riêng với ý nghĩa răn dạy đáng học hỏi.

Sinh ra trong một gia đình không quá nghèo khó, những vợ chồng người em trong câu chuyện chỉ được anh trai mình chia cho một mảnh đất nhỏ đủ để dựng một căn nhà lá với cây khế ở trước nhà. Cây khế đó cũng là tài sản duy nhất mà hai vợ chồng người em có được. Tình huống truyện đã lột tả được bản tính tham lam, keo kiệt và thiếu tình thương của vợ chồng người anh trai với em ruột của mình. Lấy hết toàn bộ gia tài cha mẹ để lại, chia cho em mảnh đất nhỏ với cây khế làm vốn sinh nhai, thử hỏi có người anh nào lại cạn tình đến như vậy?

Vợ chồng người em hiền lành chất phác, tuy chỉ được chia cho mảnh đất đủ dựng ngôi nhà nhỏ nhưng vẫn không oán than nửa lời, ngược lại họ chăm chỉ đi làm thuê cấy mướn kiếm sống và chăm sóc cho cây khế – tài sản duy nhất mà họ có. Đức tính hiền lành, chăm chỉ chịu thương chịu khó này của hai vợ chồng quả thật đáng quý và đáng học hỏi.

Ông trời không phụ lòng người quả không sai, đến mùa quả chín, cây khế trước nhà sai trĩu quả, như là thành quả cho công lao của hai vợ chồng đã chăm chỉ sớm hôm. Thế nhưng, bỗng đâu một con đại bàng to lớn từ đâu bay đến, xà xuống cây ăn lấy ăn để. Hai vợ chồng lo sợ và bất lực chỉ biết cầu xin chim đừng ăn nữa. Nhưng con đại bàng to lớn kia vẫn ăn không ngừng, trước khi bay đi, nó nói lại một câu răng: ” ăn một quả trả một cục vang, may túi ba gang mang đi mà đựng”. Lời nói của chim tưởng đâu là bâng quơ nhưng người em tin là thật và đã thức đêm chuẩn bị chiếc túi ba gang như lời chim dặn. Sáng hôm sau, con chim đến chở người em ra đảo, một hòn đảo có rất nhiều vàng. Tác giả dân gian xây dựng tình huống truyện để cho người em được nhận một món quà vô cùng giá trị, nhưng đó cũng là những gì vợ chồng người em xứng đáng nhận được. Đó cũng là lời khẳng định cho một giá trị nhân văn rằng: người tốt nhất định sẽ được báo đáp và ở hiền chắc chăn sẽ gặp lành.

Câu chuyện chưa dừng lại ở đó, vợ chồng người anh khi thấy em mình đang nghèo rớt bỗng nay lại mua đất làm nhà, rồi mua ruộng làm ăn thì lấy làm ngạc nhiên và lân ra sang nhà hỏi dò vì sao lại có nhiều tiền như vậy. Vợ chồng người em thật thà kể lại câu chuyện được đại bàng trả ơn thì anh ta liền đưa ra ý kiến muốn chuyển về ở dưới ngôi nhà lá cạnh cây khế. Được sự đồng ý của hai vợ chồng người em, vợ chồng người anh đã nhanh chóng dọn nhà đến ở trong ngôi nhà lá lụp xụp. Mục đích của anh ta đơn giản là mong muốn khi lần sau chim đến ăn khế thì sẽ được trả ơn. Sự tham lam và quỷ quyệt của người anh được bộc lộ từng cấp độ tình huống truyện. Khi thì không cho ngươi em bất cứ thứ tài sản gì đáng giá, nay nghe tin em được chim thần trả ơn thì lại muốn chiếm lấy “cây khế tạo vàng”.

Cuối cùng thì anh ta cũng được trả công, chim thần cũng đưa anh ta ra đảo vàng thế nhưng bản tính tham lam chưa bao giờ có thể thay đổi, thay vì may chiếc túi ba gang như chim thần dặn anh ta đã may chiếc túi tới 12 gang và nhặt vàng chất đầy chiếc túi ấy. Nhưng lượng vàng quá nặng khiến chim thần không đủ sức chở vào bờ, đại bàng đã bảo anh ta bỏ bớt vàng xuống biển nhưng lòng tham không cho anh ta làm vậy. Cuối cùng, đại bàng nghiêng mình, khiến người anh trai cùng túi vàng của anh ta rơi xuống biển.

Đáng đời kẻ tham lam, phải mất mạng chỉ vì quá tham vàng. Nếu anh ta chỉ may chiếc túi ba gang thì đâu đến nỗi phải bỏ mạng. Thế nhưng tâm tính con người đâu dễ gì thay đổi. Đó là cái giá mà người anh phải trả sau những gì đã làm với người em và trả giá cho bản tính tham lam của mình.

Cây khế với một kết thúc có hậu dành cho người chính nghĩa chăm chỉ lương thiện, và kẻ tham lam sảo quyệt đã phải lãnh hậu quả. Đó là bài học về cách làm người mà thế hệ cha ông gửi gắm qua từng câu chữ. Hãy cứ chăm chỉ lương thiện, sống đúng với những giá trị nên có rồi sẽ có ngày thu được quả ngọt, còn những kẻ chỉ biết đến bản thân mình, gian manh tham lam thì cuối cùng cũng mất tất cả và phải chịu quả báo.

Phân tích truyện cổ tích Cây khế – Bài làm 2

Truyện cổ tích cây khế là một trong những câu chuyện rất thân thuộc đối với mỗi đứa trẻ. Đây là một trong nhưng câu chuyện thần kỳ mà mỗi đứa trẻ khi còn bé đều thuộc làu làu và nghe mãi mà không bao giờ biết chán. Hình ảnh con chim phượng hoàng biết nói tiếng người là một hình ảnh rất hấp dẫn và rất thu hút những độc giả bé con không khỏi mắt chứ A mồm chứ O khi nghe đến chuyện ấy. Và không ai là không biết tới câu nói của chim phượng hoàng với người em trai: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, đem đi mà đựng”. Nhưng ẩn chứa trong những câu chuyện ly kỳ ấy lại là những bài học, những ý nghĩa sâu xa về cách đối xử giữa con người với con người.

Hai người anh em trai sống hòa thuận với nhau, khi cha mẹ mất, có để lại chút tài sản cho hai người con và căn dặn hai người phải sống hòa thuận và giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, khi người anh trai có gia đình thì người anh không mảy may suy nghĩ đến đứa em trai út của mình mà ngang nhiên lấy hết tài sản, chỉ để lại cho em một túp lều tạm bợ và một cây khế. Người em trai tốt bụng vì thương anh chị làm lụng mà mình thì có một mình nên vui vẻ nhận lấy phần mà không hề so đo hay tính toán gì.

Người em trai thì chăm chỉ làm việc kiếm sống, nhưng luôn nhận được sự ghẻ lạnh và kinh thường từ người chị dâu và kể cả với anh trai mình. Nhiều người đọc phải thốt lên: làm sao lại có một người anh trai như vậy, sao mà lại nhẫn tâm đến thế. Anh em phải đùm bọc, thương yêu nhau nhưng người anh trai này lại tham lam và ích kỳ đến vậy.

Khi chú chim phượng hoàng đến ăn khế, câu nói của chim luôn vang vọng trong tâm trí mỗi chúng ta: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, đem đi mà đựng”. Người em tốt bụng chỉ nghĩ chim nói vậy thôi, nên cũng không suy nghĩ gì vậy mà chim đã thực hiện đúng lời hứa của mình. Mấy ngày sau chim đến và chở người em trai đi đến nơi lấy vàng. Ngay đến cả một chú chim còn biết giữ lời hứa, đã nói thì phải thực hiện thì làm sao giữa con người với nhau lại không biết quan tâm, sẻ chia và giữ lời hứa với nhau?

Người em thật thà, đem kể hết chuyện với gia đình người anh, bản tính tham lam, người anh cũng muốn được giàu có như thế nên đã xin chim cho đi theo, nhưng vì lòng tham vô đáy, không bao giờ là quá đủ nên đã bị rơi xuống vực thảm. Hậu quả mà người anh nhận phải đều là do người chứ có phải tại chim đâu, mà chim đã cảnh báo trước rồi nhưng người anh tham lam đã không chịu nghe theo.

Con chim ‘thần’ trong truyện của Cây khế là một con có tình có nghĩa, biết giữ lời hứa. Chiếc túi ba gang mà chim dặn người em mang đi ẩn chứa một lời nhắn nhủ kín đáo: phải biết sống cho đúng đạo lý và không được để lòng tham che mờ mắt.

Cũng qua chuyện này, dân gian muốn nhắc nhở chúng ta, lòng tham làm ta đánh mất đi chính bản thân mình, khiến con người ta trở nên thấp hèn, xấu xa. Và hãy luôn nhớ câu tục ngữ “ở hiền gặp lành” của ông cha ta, làm việc thiện thì sẽ ắt gặp nhiều điều may mắn và tốt đẹp.

Từ khóa tìm kiếm

phan tich truyen cay khe

phan tich truyện cổ tích cây khế

tả một tryện cổ tích là cây khế

Sự Tích Sọ Dừa Full

Cô Lọ Lem (Tiếng Việt)

Công Chúa Ngủ Trong Rừng

Truyện Cổ Tích Cho Bé: Công Chúa Ngủ Trong Rừng

Top 5 Bộ Truyện Tiếng Anh Cho Trẻ Em Không Thể Không Đọc

Truyện Cổ Tích Cây Khế

Sự Tích Cây Khế Hay Truyện Cổ Tích Ăn Khế Trả Vàng

Ý Nghĩa Truyện Cổ Tích Cây Khế

Ý Nghĩa Truyện Cổ Tích Ăn Khế Trả Vàng

Truyện Cổ Tích Ai Mua Hành Tôi

Ý Nghĩa Truyện Cổ Tích Ai Mua Hành Tôi

Truyện cổ tích Cây khế – bài học về đạo đức

Truyện cổ tích Cây khế (hay còn gọi truyện Ăn khế trả vàng) là bài học về tình cảm gia đình, khuyên nhủ chúng ta tránh xa những thói xấu tham lam, ích kỷ.

Hãy chăm chỉ làm việc để có cuộc sống tốt đẹp hơn từ chính sức lao động chân chính của mình.

Tục ngữ có câu “tham thì thâm” chính là như vậy.

Truyện này có nhiều vùng kể khác nhau, ở miền Nam có thêm chi tiết chim tham ăn, nên chim cũng chết, giống như truyện Trung Quốc.

1. Hai anh em phân chia tài sản

Ngày xưa, có hai anh em nhà kia cha mẹ đều chết sớm. Họ ở chung với nhau một nhà. Người anh tính nết tham lam, còn em đang ít tuổi có phần khờ dại. Được ít lâu, người anh lấy vợ. Chị vợ chẳng những cũng tham lam như chồng mà lại còn thêm độc ác. Không muốn cho em ở chung với mình, hai vợ chồng quyết định chia gia tài, lấy có rằng để ai lo phận nấy.

Khi chia của, họ chiếm hết tài sản quý giá mà cha mẹ để lại, chỉ cho em một gian nhà nhỏ và một mảnh vườn, trong đó cây khế ngọt. Người em vẫn không chút phàn nàn, chăm chỉ làm thuê làm mướn nuôi thân.

2. Người em và con chim lạ trong truyện cổ tích Cây khế

Cây khế trong vườn anh mỗi ngày một cao lớn, cành lá sum sê, rợp cả một góc vườn. Mùa ấy khế bỗng nhiên trĩu quả, anh càng chăm nom bón gốc cho khế.

Một hôm, tự nhiên có một con chim phượng hoàng xa xăm, đầy bạc vàng châu báu. Anh bàng hoàng như lạc vào động tiên, cái gì cũng đẹp. Nghe lời chim dặn, anh chỉ bỏ bạc vàng vừa đầy túi ba gang, rồi lại lên lưng chim để trở về vườn cũ.

Từ đó, người em trở nên ấm no và có phần dư dật.

3. Cái kết cho kẻ tham lam trong truyện cổ tích Cây khế

Người anh hỏi biết sự tình, bèn nằn nì với em xin đổi tất cả gia sản của mình để lấy mảnh vườn có cây khế ngọt. Người em thương anh nên cũng bằng lòng đổi. Đến mùa khế có quả, chim phượng hoàng lại đến ăn. Người anh xua đuổi ầm ĩ, chim bèn nói như trước rằng:

Được lời, người anh may giấu một cái túi sáu gang. Rồi chim cũng chở anh đi đến nơi hải đảo đầy bạc vàng châu báu. Nhưng tính tham lam làm mắt anh hoa lên khi thấy hải đảo có nhiều của quý giá. Anh ta loay hoay mãi không biết nên lấy thứ gì, bỏ thứ gì. Khi nghe chim giục chở về, anh vơ bạc vàng cháu báu đầy ắp cái túi sáu gang, quấn vào ngang lưng, ngoài ra còn giắt thêm khắp người. Anh ta leo lên lưng chim, chim phải đập cánh ba lần mới lên nổi. Chim cố sức bay, đến giữa biển cả, vì nạng quá, suýt đâm nhào xuống nước mấy lần.

Khi gần đến đất liền, chim lảo đảo, nghiêng cánh, người anh mang cả túi vàng bạc rơi tõm xuống biển sâu và bị sóng cuốn đi mất tích.

Chú thích trong truyện Cây khế

Hải đảo: ngoài biển

Bản Chất Truyện Cổ Tích

101 Truyện Cổ Tích Andersen Hay Và Ý Nghĩa Nhất

Truyện Cổ Tích Thế Giới Hay Nhất Cho Các Bé

Truyện Cổ Tích Thế Giới Hay Nhất

Truyện Cổ Tích Tấm Cám Bản Gốc

Nghe Đọc Chuyện Cổ Tích: Truyện Cây Khế

Nêu Cảm Nghĩ Của Em Và Ý Nghĩa Truyện Cổ Tích Cây Khế

Đặc Điểm Thi Pháp Truyện Cổ Tích

Truyện Cổ Tích Việt Nam: Sự Tích Cây Khế

Ai Mua Hành Tôi Hay Là Lọ Nước Thần

Phân Tích Nhân Vật Mị Châu Trong Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

Tóm tắt truyện Cây Khế

Ngày xửa, ngày xưa, có hai anh em nhà kia cha mẹ mất sớm. Khi người anh lấy vợ, người anh không muốn ở chung với em nữa, nên quyết định chia gia tài. người anh tham lam chiếm hết cả nhà cửa, ruộng vườn, trâu bò của cha mẹ để lại, chỉ cho người em một túp lều nhỏ và mảnh vườn, trong đó có cây khế ngọt. người em không chút phàn nàn, ngày ngày chăm bón cho cây khế và cày thuê, cuốc mướn nuôi thân.

Năm ấy, cây khế trong vườn nhà người em bỗng sai quả lạ thường, cành nào cũng trĩu quả ngọt, vàng ruộm. người em nhìn cây khế mà lòng khấp khởi mừng thầm tính chuyện bán khế lấy tiền đong gạo. Một hôm, có con chim phượng hoàng từ đâu bay đến mổ khế ăn lia lịa. Thấy thế, người em vác gậy đuổi chim và nói:

– Này chim! Ta chỉ có duy nhất một cây khế này, và ta đã khó nhọc chăm sóc đến ngày hái quả. Nay nếu chim ăn hết ta chẳng có gì để bán đi mua gạo. Vậy nếu chim muốn ăn hãy mang trả ta vật gì có giá.

Chim vừa ăn vừa đáp:

Ăn một qủa, trả cục vàng May túi ba gang, mang theo mà đựng

Người em nghe chim nói vậy, cũng đành để chim ăn. Mấy hôm sau, chim lại đến ăn khế. Ăn xong chim bảo người em lấy túi ba gang đi lấy vàng. Chim bay mãi, bay mãi qua núi cao, qua biển rộng bao la và đỗ xuống một hòn đảo đầy vàng bạc, châu báu. Người em đi khắp đảo nhìn ngắm thỏa thích rồi lấy vàng bỏ đầy túi ba gang. Chim phượng hoàng bảo lấy thêm, người em cũng không lấy. Xong xuôi, người em trở về nhà.

Từ đó, người em trở nên giàu có, người em mang thóc, gạo, vàng bạc giúp đỡ những người nghèo khổ. Người anh nghe tin em giàu có liền sang chơi và đòi đổi nhà, ruộng vườn của mình lấy cây khế ngọt, người em cũng đồng ý đổi cho anh. Thế là người anh chuyển sang nhà người em. Mùa năm sau, cây khế lại sai trĩu quả, chim phượng hoàng lại tới ăn. người anh giả vờ khóc lóc, chim bèn nói:

Ăn một qủa, trả cục vàng May túi ba gang, mang theo mà đựng

Người anh mừng quá, giục vợ may túi không phải 3 gang mà là 12 gang để đựng được nhiều vàng. Hôm sau chim phượng hoàng đưa người anh đi lấy vàng. Vừa đến nơi, người anh đã vội vàng vơ lấy vàng bỏ vào túi, lại còn giắt thêm đầy vàng bỏ vào người. Chim cố sức bay nhưng đường thì xa mà vàng thì nhiều nên nặng quá. Mấy lần chim bảo người anh vứt bớt vàng đi cho nhẹ nhưng người anh vẫn khăng khăng ôm lấy túi. Chim phượng hoàng bực tức, nó nghiêng cánh hất người anh tham lam xuống biển.

Đọc cho bé nghe những câu chuyện cổ tích Việt nam và cổ tích thể giới hay nhất

Kể Lại Truyện Cổ Tích Cây Khế Theo Lời Của Chim Thần.

Kể Lại Truyện Cổ Tích Cây Khế

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Truyện Cây Khế

Học Toán Qua Truyện Cổ Tích

Truyện Cổ Tích Ăn Khế Trả Vàng

Đặc Điểm Thi Pháp Truyện Cổ Tích

Truyện Cổ Tích Việt Nam: Sự Tích Cây Khế

Ai Mua Hành Tôi Hay Là Lọ Nước Thần

Phân Tích Nhân Vật Mị Châu Trong Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

Nội Dung Và Nghệ Thuật Truyện Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

Sự Tích Thành Cổ Loa

I. ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CHUNG CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN CỔ TÍCH

1.1. Định nghĩa truyện cổ tích

1.2. Phân loại truyện cổ tích

1.3. Đặc điểm thi pháp chung của truyện cổ tích – thế giới cổ tích

II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KÌ

2.1. Nhân vật chính của truyện cổ tích thần kì

2.2. Xung đột trong truyện cổ tích thần kì

2.3. Kết cấu của truyện cổ tích thần kì.

2.4. Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích thần kì.

2.5. Những công thức cố định trong truyện cổ tích

III. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT

1. Nhân vật chính của truyện cổ tích sinh hoạt

5. Thực tại và hư cấu trong truyện cổ tích sinh hoạt

IV. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH VỀ LOÀI VẬT

2. Xung đột trong truyện cổ tích về loài vật

3. Kết cấu của truyện cổ tích về loài vật

4. Thực tại và hư cấu trong truyện cổ tích về loài vật

5. Những công thức cố định trong lời kể của truyện cổ tích về loài vật

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP SỬ THI ANH HÙNG

5.2 Không gian, thời gian

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CHUNG CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN CỔ TÍCH 1.1. Định nghĩa truyện cổ tích

Truyện cổ tích là loại truyện xuất hiện từ rất xưa, chủ yếu do các tầng lớp bình dân sáng tác, trong đó óc tưởng tượng (bao gồm cả huyễn tưởng) chiếm phần quan trọng.

Có thể có yếu tố hoang đường, kì diệu hoặc không, truyện cổ tích trình bày – với một phong cách thường kết hợp hiện thực với lãng mạn – cuộc sống với những con người trong những tương quan của xã hội có giai cấp (quan hệ địa chủ với nông dân, quan lại với nhân dân; quan hệ gia đình, quan hệ thầy trò,…). Khái quát hiện thực xã hội, truyện cổ tích trình bày con người với tư cách “tổng hòa những quan hệ xã hội”. Nhưng yếu tố lãng mạn phản ánh nguyện vọng, ước mơ của nhân dân – là ở chỗ tác giả không chỉ trình bày cái hiện có mà còn trình bày cái chưa có và cái có thể có. Chính do sự kết hợp hai yếu tố đó trong việc phản ánh hiện thực mà dáng dấp thường thấy của truyện cổ tích là sự trình bày cuộc sống trong trạng thái động của nó, phù hợp với quy luật phát triển nội tại của nó, và phù hợp với nguyện vọng và yêu cầu của nhân dân về cuộc sống đó.

1.2. Phân loại truyện cổ tích

Trong hệ thống phân loại VHDG, truyện cổ tích thường được xác định là một thể loại. Đây là một thể loại lớn gồm ba tiểu loại: truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích về loài vật, truyện cổ tích sinh hoạt (hoặc truyện cổ tích thế sự).

1.3. Đặc điểm thi pháp chung của truyện cổ tích – thế giới cổ tích

Thế giới cổ tích là một sáng tạo độc đáo của trí tưởng tượng dân gian. Ta đều biết là “trong mỗi truyện cổ tích đều có những yếu tố của thực tế”. Nhưng “những yếu tố của thực tế” ấy đã được trí tưởng tượng dân gian cải biến thành một thứ vật liệu, đem nhào nặn trong một chất “phụ gia” đặc biệt gọi là hư cấu (hay “hư cấu kì ảo”), để xây dựng nên một thế giới khác với thế giới thực tại, mà ta gọi bằng “thế giới truyện cổ tích”. Thế giới ấy – dù là ở truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích về loài vật hay truyện cổ tích sinh hoạt – là thế giới không có thực. Các nhà khoa học có thể dựa vào dân tộc học và các khoa học tương cận, quy nó về một thực tại xã hội nào đó, xác định những phương diện nào đó của thực tế, của sinh hoạt đã làm nảy sinh những cốt truyện, những mẫu đề (môtip) ấy, hoặc đã được phản ánh trong những câu chuyện kì lạ ấy. Họ có thể phát hiện và giải mã những hồi ức câm lặng về những thời quá khứ xa xưa hàm chứa trong thế giới ấy. Nhưng điều hấp dẫn người nghe truyện cổ tích, điều có ý nghĩa đối với họ chủ yếu là ở chính cái thế giới cổ tích ấy, chứ không phải ở chỗ thế giới ấy phản ánh thực tế nào.

II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KÌ 2.1. Nhân vật chính của truyện cổ tích thần kì 2.1.1. Truyện cổ tích thần kì (cũng như truyện cổ tích về loài vật, truyện cổ tích sinh hoạt) chỉ có một số kiểu nhân vật chính nhất định. Đó là:

– Người em út (Lang Liêu trong Sự tích bánh chưng, bánh giầy, người em trong Hai anh em và Cây khế,…),

– Người con riêng (Tấm trong Tấm Cám, cậu bé trong Sự tích chim đa đa,…),

– Người mồ côi (Chử Đồng Tử trong truyện Chử Đồng Tử, Thạch Sanh trong truyện Thạch Sanh,…),

– Người mang lốt vật (Sọ Dừa trong truyện Sọ Dừa, Cóc trong Lấy vợ cóc,…),

– Người đi ở (anh trai cày trong Cây tre trăm đốt, cô gái đi ở trong Sự tích con khỉ,…),

– Người dũng sĩ (Thạch Sanh – người mồ côi cũng là dũng sĩ diệt chằn tinh và đại bàng, Chàng Hai trong truyện Giết thuồng luồng,…),

– Nhóm người có tài lạ (Ba chàng thiện nghệ, Bốn anh tài, Anh em sinh năm,…).

Mỗi nhân vật trong số những nhân vật trên là tên gọi chung của những nhân vật đồng dạng – những nhân vật có những nét tương đồng căn bản về tính cách, hành động và số phận và thường xuất hiện trong những truyện cổ tích thần kì có cốt truyện đại thể giống nhau. Người ta gọi là kiểu nhân vật.

2.1.2. Phân loại nhân vật chính:

Một số nhà nghiên cứu theo quan điểm xã hội học phân loại nhân vật chính trong truyện cổ tích thần kì theo nguồn gốc xuất thân. Theo tiêu chuẩn này thì nhân vật này được phân thành hai loại:

Tuy nhiên, cách phân loại này không hoàn toàn thích hợp với tư liệu truyện cổ tích Việt Nam. Trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam không có sự phân biệt rõ nét hai loại nhân vật “cao quý” và “thấp hèn”. Ngoài ra, còn phải kể đến hiện tượng nhiều nhân vật “thấp hèn” được gán cho nguồn gốc “cao quý” hoặc có sự ra đời thần kỳ. Đó là trường hợp của Thạch Sanh trong truyện cùng tên.

Còn có một cách phân loại khác, chia những kiểu nhân vật cổ tích ra làm hai loại:

Cách phân loại này có nhiều giá trị ứng dụng hơn so với cách phân loại nói trên.

2.2. Xung đột trong truyện cổ tích thần kì 2.2.1. Truyện cổ tích thần kì nổi lên hai loại xung đột: xung đột xã hội và xung đột giữa ccon người với những trở lực của thiên nhiên.

– Nếu vấn đề quan hệ của con người với thiên nhiên là đề tài chính của thần thoại và sử thi thì xung đột xã hội là đề tài chính của truyện cổ tích.

– Đề tài về sự xung đột của con người với những trở lực của thiên nhiên trong truyện cổ tích thần kì có thể coi là sự tiếp nối hợp quy luật đề tài về cuộc đấu tranh của con người nhằm tìm hiểu và chế ngự những sức mạnh tự nhiên trong thần thoại và sử thi.

– Hai xung đột: xung đột xã hội và xung đột của con người với thiên nhiên làm nảy sinh một số truyện kết hợp cả hai đề tài ấy. (Truyện Thạch Sanh với hai tình tiết Thạch Sanh- Chằn Tinh, Đại Bàng và Thạch Sanh- Lí Thông, là một ví dụ tiêu biểu).

2.2.2. Khác với truyện cổ tích sinh hoạt và truyện cổ tích về loài vật, xung đột trong truyện cổ tích thần kì luôn luôn được giải quyết nhờ sự can thiệp của các lực lượng thần kì. Nhân vật chính ít nhiều có tính chất thụ động.

Lực lượng thần kì trong truyện cổ tích gắn với tín ngưỡng. Trong truyện cổ tích thần kì của người Việt, lực lượng thần kì bao gồm: những nhân vật thần kì (Thần, Bụt, Tiên,…); những vật có phép màu ( cung tên thần, gươm thần, đàn thần, bút thần, sách ước,…); sự biến hóa siêu tự nhiên ( người hóa thành vật, vật hóa thành người, vật náy hóa thành vật khác, người thế này hóa thành người thế khác,…)…

Lực lượng thần kì cũng có thể chia thành hai loại: lực lượng thần kì trợ thủ của nhân vật chính ( phía thiện chính nghĩa) và lực lượng thần kì đối thủ của nhân vật chính hay đối thủ thần kì (phía ác, phi nghĩa).

2.3. Kết cấu của truyện cổ tích thần kì. 2.3.1. Truyện cổ tích thường được xây dựng theo một số sơ đồ chung nhất định. Cơ sở để xác lập sơ đồ kết cấu truyện cổ tích là những hành động của nhân vật chính. Có thể phác thảo sơ đồ kết cấu của truyện cổ tích thần kì dân tộc Việt như sau: I. Phần đầu: nhân vật chính xuất hiện.

– Mô típ a: sự xuất thân thấp hèn ( loại nhân vật bất hạnh)

– Mô típ b: sự ra đời thần kì ( loại nhân vật kì tài )

II. Phần giữa: cuộc phiêu lưu của nhân vật chính trong ” thế giới cổ tích”.

-Mô típ a: rời nhà đi nơi xa.

– Mô típ b: bước vào tình huống, hoàn cảnh khác thường.

2. Gặp thử thách, lực lượng thù địch.

– Mô típ a: gặp nhiều (thường là ba ) thử thách, địch thủ.

– Mô típ b: gặp một thử thách, địch thủ.

3. Chiến thắng thử thách, lực lượng thù địch.

– Mô típ a: nhờ trợ thủ thần kì.

– Mô típ b: bằng tài trí, lòng tốt.

III. Phần kết: Đổi đời hay là sự thay đổi số phận trong “thế giới cổ tích”.

Qua phác đồ trên, có thể thấy một vài nét riêng của kết cấu truyện cổ tích thần kì của người Việt, so với kết cấu của truyện cổ tích thần kì của các dân tộc khác. Đồng thời cũng nhận rõ hơn những nét chung của kết cấu truyện cổ tích thần kì của các dân tộc như: tính chất trọn vẹn của câu chuyện kể về số phận, cuộc đời nhân vật chính; tính chất phiêu lưu của cuộc đời nhân vật chính, vai trò không thể thiếu của yếu tố thần kì,…

Bình diện thứ nhất là nói về cuộc đời nhân vật chính. Từ hành động đầu tiên của nhân vật chính cho đến chiến thắng và cuộc kết hôn của nó, nhiều sự kiện đã diễn ra; nhân vật đã qua những không gian rộng lớn, từ xứ sở này đến xứ sở khác, đến tận nơi cuối đất cùng trời thậm chí xuống cõi âm, xuống thủy phủ, lên cõi tiên,…nhưng thời gian, với nó, như ngưng đọng – nó không già đi, không thay đổi.

Những lực lượng thù địch của nhân vật chính và những trợ thủ của nó sông trên bình diện không gian – thời gian khác. Ở đây, thời gian trôi chậm rãi đối với nhân vật chính nhưng mau lẹ đối với những yêu quái, ma ác, quỷ thần và những trợ thủ thần kì. Con đường nhân vật đi từ vương quốc của yêu quái đến thế giới người xa lắc xa lơ. Nhưng yêu quía truy đuổi nhân vật chính cũng đuổi kịp rất nhanh. Mâu thuẫn về không gian – thời gian ấy được “điều chỉnh” bởi những trợ thủ thần kì, bởi vì những vai này cũng sống trong cùng thời gian như lực lượng thù địch của nhân vật chính. Hư cấu nảy sinh từ đầu mối ấy.

2.4.2. Thời gian truyện cổ tích gắn với tri giác về tiết tấu câu chuyện kể. Hệ thống trùng lặp (tức là sự nhắc lại từ, câu, đẳng âm) là chỉ báo về tính “một hồi” hay “nhiều hồi” của chuỗi hành động. Chính chúng tạo ra tiết tấu của thời gian truyện cổ tích.

2.4.3. Như vậy, thời gian của truyện cổ tích là dòng chảy của chuỗi hành động của nhân vật chính – nó chậm chạp hay gấp gáp là do động thái của nhân vật chính; bình diện không gian – thời gian trực tiếp liên hệ đến nhân vật chính, do đó, được coi là chủ thể; tất cả phục vụ cho việc khắc họa cuộc đời nhân vật chính.

2.5. Những công thức cố định trong truyện cổ tích

Có ba loại công thức cố định trong truyện cổ tích: những công thức mở đầu, những công thức kết thúc và những công thức trần thuật.

Mỗi dân tộc đều có một vài kiểu công thức mở đầu dùng chung cho những câu chuyện cổ tích của mình. Truyện của người Việt thường mở đầu bằng công thức “Ngày xửa ngày xưa, ở một làng kia, có một,…”. Truyện các dân tộc thiểu số anh em mở đầu bằng những công thức như “Ngày xưa, vào cái thời chim chích nuốt con sóc, con sóc nuốt con cầy…có một…” (Thái); “Ngày xưa, lúc chiếc bánh giầy còn biết thổi kèn, đánh trống, người Hmông còn chưa biết may quần áo, chưa có vàng bạc, chưa có nhẫn đeo tay…” (Hmông);…Những công thức ấy đều có chung một đặc điểm hình thức, biểu thị tính chất đặc biệt cổ xưa, ám chỉ tính chất “dường như có thể có” của câu chuyện kể.

Chức năng cơ bản của công thức mở đầu là đưa người nghe từ dòng thời gian của cuộc đời hàng ngày vào thời gian của câu chuyện kể, tách rời sinh hoạt hiện tại và, sau đó, như theo một phép màu, nhập thân vào “thế giới cổ tích”.

2.5.2. Công thức kết thúc 2.5.3. Những công thức trần thuật

III. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT

1. Nhân vật chính của truyện cổ tích sinh hoạt

a) Nhân vật chính trong truyện cổ tích khá đa dạng:

– Nhân vật xấu xa: đứa con bất hiếu (Đứa con trời đánh,…), người vợ, người chồng bất nghĩa (Đồng tiền Vạn Lịch,…), người bạn bất lương (Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông,…), kẻ lừa đảo để lấy vợ giàu (Dì phải thằng chết trôi, tôi phải đôi sấu sành,…).

– Nhân vật mưu trí (trí xảo): (Trạng Quỳnh, Nói dối như Cuội, Em bé thông minh, Phân xử tài tình,…)

– Nhân vật khờ khạo (ngốc): (Đặt lờ trên ngọn cây, Thằng chồng khờ, Chàng ngốc được kiện, Trạng Lợn,…)

b) Các kiểu nhân vật của truyện cổ tích gồm hai cặp nhân vật đối nghịch: cặp nhân vật của truyện cổ tích sinh hoạt gồm hai cặp nhân vật đối nghịch: cặp nhân vật đức hạnh và nhân vật xấu xa, cặp nhân vật mưu trí và nhân vật khờ khạo.

– Một là, trong truyện cổ tích chỉ có một nhân vật chính hoặc không bao giờ có hai nhân vật chính đối lập nhau. Cho nên, mỗi cặp nhân vật đối nghịch nói trên không bao giờ xuất hiện trong cùng một truyện vì cả hai đều là nhân vật chính của truyện cổ tích sinh hoạt .

– Hai là, cần hiểu khái niệm “nhân vật tích cực”, “nhân vật tiêu cực”của truyện cổ tích sinh hoạt theo quy ước của đề tài.

+ Đối với nhóm truyện về đề tài đạo đức: “nhân vật tích cực”, “nhân vật tiêu cực” được xác định bằng tiêu chuẩn đạo đức. Ví dụ: trong truyện “Người ăn mía và người chủ vườn”, cả hai nhân vật: người ăn mía và người chủ vườn đều là nhân vật tích cực; trong truyện Đứa con trời đánh thì nhân vật “tiếc gà chôn mẹ” là nhân vật tiêu cực.

+ Đối với nhóm truyện về đề tài trí khôn, “nhân vật tích cực”, “nhân vật tiêu cực” được xác định theo tiêu chuẩn trí khôn. Ví dụ: Trạng Quỳnh trong truyện “Trạng Quỳnh”, Cuội trong truyện “Nói dối như Cuội”,…là những nhân vật mưu trí, trí xảo, do đó đều là “nhân vật tích cực”. Cũng theo quan niệm trên, “nhân vật tiêu cực” của những truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài trí khôn là nhân vật khờ khạo. Dù nó không có biểu hiện xấu xa về mặt đạo đức nhưng vì do nó ngốc và do ngốc nghếch mà luôn gặp thất bại nên nó được coi là “nhân vật tiêu cực”.

2. Xung đột trong truyện cổ tích sinh hoạt

a) Truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt tập trung khai thác hai đề tài lớn: đề tài đạo đức (nhân vật trung tâm là nhân vật đức hạnh và nhân vật xấu xa) và đề tài trí khôn (nhân vật trung tâm là nhân vật mưu trí và nhân vật khờ khạo)

– Những truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài đạo đức thường chỉ đơn giản là những câu chuyện kể mang tính chất minh họa về những tấm gương kiểu mẫu về phẩm hạnh (hiếu, đễ, tiết, nghĩa,…) hoặc những “tấm gương phản diện” cùng loại. Ở những câu chuyện “đơn tuyến”, hầu như không có xung đột này, vấn đề đạo đức được đặt ra một cách đơn giản, trực diện và ý nghĩa của truyện cũng chỉ giới hạn ở sự giáo dục đạo đức ấy thôi.

– Những truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài trí khôn, xung đột là xung đột xã hội. Nói đúng hơn, đó là những câu chuyện kể về cuộc tả xung hữu đột của nhân vật mưu trí với đám cường hào, qaun lại, thậm chí với ca vua chúa, cả thần thánh va cả sứ của “thiên triều”.

Thuộc nhóm truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài trí khôn còn có những truyện được gọi bằng cái tên chung là “Phân xử tài tình”. Những truyện này được nhân dân các dân tộc ưa thích, trước hết vì xung đột trong truyện tuy chỉ thuộc loại xung đột giữa ngay và gian trong đời thường nhưng là xung đột ở ngay đỉnh điểm, căng thẳng. Vì thế, nó đáp ứng nhu cầu thông thường của những con người bình thường khát khao một chút ly kỳ để tạm quên đi sự tẻ nhạt của đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, nguồn gốc sâu xa của sức hấp dẫn của những truyện “Phân xử tài tình” là ở cách giải quyết những xung đột giữa ngay và gian, giữa người vô tội và kẻ có tội ấy. Trong những ước mơ đã dệt nên truyện cổ tích, có ước mơ tưởng như giản dị hơn cả nhưng, thật ra, là lãng mạn bậc nhất – đó là ước mơ của người dân thường về một nền công lý sáng suốt, công bằng.

b) Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy: xung đột làm nền cho truyện cổ tích sinh hoạt vẫn là xung đột xã hội. Xung đột xã hội trong truyện cổ tích sinh hoạt nhìn chung, đã vượt ra ngoài khuôn khổ của những quan hệ gia đình. Ví dụ: cuộc tả xung hữu đột của Trạng Quỳnh ngay giữa xã hội lớp trên rõ ràng là một biểu hiện sinh động của cuộc đấu tranh của nhân dân chống ách chuyên chế phong kiến.

3. Kết cấu của truyện cổ tích sinh hoạt

Truyện cổ tích sinh hoạt không được xây dựng theo một hoặc một vài sơ đồ kết cấu chung nào. Câu chuyện kể của truyện cổ tích sinh hoạt thường linh động, vì những môtip xã hội và sinh hoạt được dùng làm cơ sở của nó có tính không bền vững. Tuy vậy, về đại thể, người ta vẫn có thể phân biệt hai kiểu kết cấu khác nhau của tiểu loại truyện cổ tích này.

– Kiểu kết cấu “kể sự việc” là kiểu kết cấu được sử dụng rộng rãi trong nhóm truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài đạo đức.

+ Kiểu kết cấu này hết sức đơn giản, tuy cũng kể về một số phận con người nhưng nhân vật thì không có diện mạo, cuộc đời thì chỉ kết ở một sự việc và trong sự việc ấy hầu như không có xung đột trực diện (Ví dụ: “Mài dao dạy vợ, Giết chó khuyên chồng, Cờ gian bạc lận, Đứa con trời đánh,…)

+ Kiểu kết cấu “kể sự việc” cũng được sử dụng phổ biến ở những truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài “Phân xử tài tình”. Những truyện này cũng chỉ kể việc, không tả người; thậm chí, nhân vật chính cũng không có số phận dù chỉ là một nét phác đơn sơ (nhưng rành rõ) như ở những truyện kể về “Gương thế sự”. Cố nhiên, nếu tính cách nhân vật cổ tích thể hiện chủ yếu qua hành động (nói chặt chẽ hơn là: chỉ thể hiện qua hành động), thì chính sự việc được kể đã vẽ ra tính cách của nó.

– Kiểu kết cấu “xâu chuỗi”: là kiểu kết cấu tiêu biểu của những truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài trí khôn, đặc biệt là nhóm truyện “Trạng”. Đó là những câu chuyện kể về những cuộc phiêu lưu của nhân vật mưu trí và những câu chuyện kể về những cuộc phiêu lưu của nhân vật khờ khạo. Cuộc phiêu lưu của nhân vật mưu trí thì chủ động, tuy đầy ngẫu hứng. Ngược lại, cuộc phiêu lưu của nhân vật khờ khạo thì chỉ là nhắm mắt, đưa chân. Kết quả thành, bại của họ thì người nghe đều biết trước; nhưng thành bại ra sao thì hoàn toàn bất ngờ không ai đoán được. Nhân vật mưu trí và nhân vật khờ khạo của truyện cổ tích sinh hoạt đi phiêu lưu không phải trong “thế giới kì ảo” mà trong một thế giới hết sức gần gũi với thế giới thực tại quanh ta. Nhưng tất nhiên, đó cũng vẫn là “thế giới cổ tích”.

Truyện cổ tích sinh hoạt phiêu lưu, đặc biệt là những truyện kể về nhân vật mưu trí, thường nhiều tình tiết và có dung lượng lớn. Mỗi tình tiết kể về một sự kiện, một cuộc phiêu lưu “nhỏ” kết thành một truyện nhiều “chương hồi” kể về cuộc phiêu lưu “lớn” của nhân vật đóng vai chính xuyên suốt câu chuyện. (Ví dụ: Chuỗi truyện “Ông Ó” gồm khoảng 30 mẫu truyện; chuỗi truyện “Trạng Quỳnh” gồm khoảng 40 mẫu truyện; chuỗi truyện “Trạng Lợn” gồm khoảng 20 mẫu truyện.)

Như vậy, “Xâu chuỗi” là một biện pháp nghệ thuật kết cấu nằm khắc họa rõ nét thêm tính cách nhân vật, nâng cao “tầm vóc” của tính cách ấy

4. Không gian và thời gian nghệ thuật của truyện cổ tích sinh hoạt

Không gian và thời gian “cổ tích” trong truyện cổ tích sinh hoạt rất gần gũi với người kể và người nghe truyện. Bối cảnh sinh hoạt của câu chuyện kể quen thuộc với họ: khung cảnh nông thôn và gia đình nông dân; những chuyện áp bức bóc lột và đời sống xã hội trong làng xã; kẻ buôn bán và chuyện lừa đảo; người học trò và chuyện thi cử; chốn cửa quan và chuyện kiện tụng;…điều này cho phép họ đặt mình vào địa vị nhân vật. Câu chuyện như xảy ra không xa, mà cũng chưa lâu, trong cuộc đời hàng ngày.

5. Thực tại và hư cấu trong truyện cổ tích sinh hoạt

– Ở truyện cổ tích sinh hoạt, hư cấu không mang tính chất hư cấu kì ảo như ở truyện cổ tích thần kì. Một vài truyện sử dụng yếu tố kì dị nhằm thể hiện tư tưởng quả báo, thiên mệnh (“Đứa con trời đánh”, “Chum vàng bắt được”,…) đều khó tránh khỏi vẻ gượng gạo, vì những chi tiết biến hóa siêu nhiên này không có sự hài hòa với bối cảnh sinh hoạt. Hư cấu trong truyện cổ tích sinh hoạt thường được xây dựng trên sự miêu tả phi lí: Câu chuyện kể cho đến một lúc nào đó, hoàn toàn giống như thật; tính hiện thực của nó thậm chí, còn được tô đậm thêm bởi những chi tiết miêu tả cụ thể; nhưng tính chất phi lí bộc lộ khi có sự miêu tả phóng đại một nét tính cách nào đó của nhân vật (thường là ở loại nhân vật “tiêu cực”) hoặc một tình huống khác thường. Tính chất gây cười của nhiều truyện cổ tích sinh hoạt bắt nguồn từ chỗ đó.

IV. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH VỀ LOÀI VẬT

Phần lớn nhân vật chính trong truyện cổ tích về loài vật của người Việt (Kinh) là những con vật nuôi hoặc sống gần gũi với con người.

2. Xung đột trong truyện cổ tích về loài vật

– Truyện cổ tích về loài vật phản ánh cuộc đáu tranh của người thời cổ nhằm tìm hiểu, chi phối, chinh phục các lực lượng tự nhiên. Về mặt này, có lẽ những truyện giải thích nguồn gốc những đặc điểm riêng của một số con vật là tiêu biểu và thú vị hơn cả (Con Cóc là cậu ông trời, Chuột và Mèo, Mọt và tò vò, Tại sao trâu không biết nói, Tại sao dơi ăn muỗi,…). Xung đột giữa con người với loài vật cũng được thể hiện gián tiếp qua môtip gọi là “dư âm của cái thời con người bắt thú về nuôi làm gia súc”.

Tuy nhiên, căn cứ vào những tư liệu hiện có, có thể nói, truyện cổ tích nói chung cũng như truyện cổ tích về loài vật nói riêng không đề cập xung đột trực tiếp giữa con người với loài vật. Dấu vết của xung đột ấy thể hiện ở những môtip rất cổ gắn với tín ngưỡng tôtem (Vật tổ) (như sự sợ hãi tôtem, sự sùng bái tôtem,…) đã trở nên hết sức mờ nhạt hoặc đã bị hiểu lại.

– Xung đột giữa con người với loài vật trong truyện cổ tích về loài vật, với thời gian đã chuyển hóa thành sự xung đột sinh hoạt- xã hội hoặc lồng vào xung đột sinh hoạt – xã hội. Truyện cổ tích về loài vật, theo đặc tính của nó, có khuynh hướng tiếp cận truyện cổ tích sinh hoạt. Trên hướng này, truyện cổ tích về loài vật phân hóa ra hai mảng: truyện cổ tích về loài vật dành cho trẻ em và truyện cổ tích về loài vật dùng cho người lớn. truyện cổ tích về loài vật dành cho trẻ em cũng đã đề cập đến cả những vấn đề xã hội và đạo đức nhưng ở tầm mức mà trẻ em có thể hiểu được. Nếu được kể cho người lớn thường mang ý nghĩa sâu xa về mặt xã hội; các con vật trong truyện được gán những tính cách người và “xã hội loài vật”, trong đó gợi nghĩ đến những qaun hệ xã hội giữa người và người (Kiến, Ong chọi với Cóc, Con Công và làng chim, Cóc và Cá,…)

3. Kết cấu của truyện cổ tích về loài vật

-Hình thức kết cấu phổ biến hơn cả của truyện cổ tích về loài vật là hình thức “truyện kể ngắn – đối thoại”. Với kết cấu này, câu chuyện thường mang dáng dấp một hành động kịch. Độ dài thời gian của hành động thường được biểu thị bằng hệ thống trùng lặp.

– Về mặt kết cấu cũng có thể phân biệt những truyện đơn tình tiết (Thằn lằn trộm chân, Chim Chìa Vôi,…), đa tình tiết (Con Cóc là cậu ông trời gồm: 1/Tình tiết kết đoàn của cóc với ong vò vẽ, Gà và cọp trên đường lên trời, 2/ Tình tiết giao đấu (đấu lực, đấu lí) của Cóc và các “chiến hữu” với trời và quân tướng nhà trời; Con thỏ chài cá gồm: 1/ tình tiết Thỏ rủ heo rừng, nai, trâu rừng, cọp, voi đi chài cá với mình, 2/ Tình tiết Thỏ và năm con vật kia cùng chài cá và lần lượt phơi sấy cá, lần lượt đối phó với Ó đến ăn cá, 3/ Tình tiết thỏ “chia cá” cho năm con vật,…) và những truyện được cấu tạo theo chuỗi (chuỗi truyện về chú Thỏ tinh khôn)

– Không phải tất cả truyện cổ tích về loài vật đều kết thúc có hậu như truyện cổ tích thần kì. Tuy nhiên, những truyện không có kết thúc có hậu không hề có âm điệu bi kịch.

– truyện cổ tích về loài vật có khả năng ngụ ý tiềm tàng. Đây là khả năng tự nhiên của những truyện kể về loài vật. Khả năng này nếu được khai thác một cách có chủ ý sẽ đem lại cho truyện cổ tích về loài vật những ngụ ý xã hội sâu xa, những ý nghĩa giáo huấn rõ ràng. Về mặt kết cấu, dụng ý này biểu hiện ở cách kết thúc câu chuyện kể bằng một bài học, được biểu đạt súc tích bằng một câu nói cô đúc, một câu tục ngữ hoặc một câu vần, vè, đại loại như: “Thành tự đó, Rùa phải đội đá đội đồng, Khốn khổ cái thân” (Rùa đội bia).

4. thực tại và hư cấu trong truyện cổ tích về loài vật

– Với truyện cổ tích về loài vật, hư cấu nảy sinh từ sự thống nhất các mặt đối lập của thế giới người và thế giới loài vật là một không gian, một môi trường. Đó là một thế giới đặc biệt, “quái đản”, không phải thế giới người mà cũng không giống thế giới loài vật – thế giới của những quan niệm thực tế lẫn lộn, trong đó cái không đáng tin có thể được coi là đáng tin. Hư cấu cũng tạo ra sự gần gũi nhau của những hiện tượng loại trừ lẫn nhau: những con vật nói năng phải trò truyện phải tranh cãi với nhau; con Chào mào muốn lấy con chim xanh, Con gà con vịt đi kiện con chim Khách,…

– Nhìn chung, truyện cổ tích về loài vật vẫn giữ được đôi nét về môi trường sinh thái tự nhiên của các con vật trong truyện. Chẳng hạn, truyện kể về con Cóc thì có khung cảnh, đầm, vũng, ao, chuôm,…truyện kể về con Cua, con Cáy thì có bờ sông, bãi bến; truyện kể về con chim sẻ, con tu hú thì con chim sẻ có tổ ở cái lỗ hỏng đòn tay nhà, con tu hú không biết làm tổ thì đậu ngọn tre, cây gạo,…

5. Những công thức cố định trong lời kể của truyện cổ tích về loài vật

Lời kể dân gian của truyện cổ tích về loài vật thường sử dụng một số công thức truyền thống. Đó là những công thức cố định có dạng một câu nói khái quát, một câu tục ngữ hoặc một câu ca vè nhằm rút ra một lời giáo huấn, một ý nghĩa xã hội từ câu chuyện kể hoặc nêu ra một dấu vết xưa còn lại.

Cùng với truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích về loài vật được đánh giá là một pho bách khoa sư phạm dân gian. Về mặt nghệ thuật sư phạm, nét đặc sắc nổi bật của nó là ở tính trực quan sinh động, không cần đến những giáo điều khô khan, cao đạo mà vẫn đạt mục đích.

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP SỬ THI ANH HÙNG

– Sử thi thần thoại kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài, sự hình thành các dân tộc và các vùng cư trú cổ đại của họ, sự xuất hiện nền văn minh buổi đầu.

– Sử thi anh hùng kể về cuộc đời và sự nghiệp của các tù trưởng anh hùng. Sử thi anh hùng thường gồm ba đề tài chính: lấy vợ, đánh giặc (chiến tranh) và làm lụng. Trong đó đề tài đánh giặc là đề tài quan trọng hơn cả, là đề tài trung tâm của sử thi anh hùng và thu hút các sự kiện thuộc hai loại đề tài kia. Làm lụng là tiền đề của đánh giặc, lấy vợ là mục tiêu gắn với đánh giặc. Đề tài này có một số kiểu chính:

+ Kiểu đề tài chiến tranh giành lại vợ: Tiêu biểu cho loại này là sử thi Đăm Săn, cốt truyện diễn tiến như sau: Đăm Săn lấy Hơ Nhí, Hơ Bhí – Đăm Săn đánh Mtao Grứ giành lại vợ – Đăm Săn đi làm rẫy – Đăm Săn đánh Mtao Ak giành lại vợ – Đăm Săn đánh Mtao Kuắt giành lại vợ – Đăm Săn đánh Mtao Êa giành lại vợ – Đăm Săn đi lấy nữ thần Mặt trời – Đăm Săn chết, Đăm Săn cháu thay cậu – Kết thúc.

+ Kiểu đề tài chiến tranh đòi nợ và trả thù: Tiêu biểu cho loại này là sử thi Xing Nhã, cốt truyện diễn tiến như sau: Xing Nhã ra đời – Giarơ Bú giết bố Xing Nhã và bắt mẹ chàng làm nô lệ – Xing Nhã gặp nàng Bơra Tang – Bơra Tang nói cho Xing Nhã biết thù xưa, Xing Nhã chuẩn bị trả thù – Gỗn bắt hồn Xing Nhã và cho uống thuốc thần -Xing Nhã đến làng Giara Bú, gặp mẹ và nàng Hbia Blao – Xing Nhã đánh nhau với anh em Giara Bú, kẻ thù bị giết – Kết thúc: Xing Nhã lấy nàng Hbia Blao, Xing Mưn lấy Bơra Tang. Xing Nhã dựng nhà mả cho bố và tổ chức ăn uống linh đình.

+ Ngoài ra còn kiểu đề tài hỗn hợp, vừa có chiến tranh giành lại vợ, vừa có chiến tranh đòi nợ và trả thù: Điển hình cho kiểu này là sử thi Mhiêng: Tiểu phẩm 1: Mhiêng mồ côi trở nên giàu có – Mhiêng cướp Hbia Ling Bang – Mhiêng đánh Mtao Grứ giành lại Hbia Ling Bang – Mhiêng đánh Mtao Ak giành lại vợ -Mhiêng đánh Mtao Mxây giành lại vợ, bị Mtao giết. Tiểu phẩm 2: Prah Đam, cháu Mhiêng ra đời-Prah Đam đánh Mtao Mxây để trả thù-Kết thúc: Prah Đam chiến thắng, cứu sống Mhiêng, tổ chức cho Mhiêng và Hbia Ling Bang cưới nhau lại lần hai rất linh đình.

3. Cở sở ra đời của sử thi anh hùng

Đầu tiên, sử thi anh hùng ra đời dựa trên cơ sở xã hội. Thực tế xã hộithời cổ là xã hội của những cuộc chiến tranh diễn ra quyết liệt, liên miên, dai dẳng giữa các buôn làng, bộ tộc. Trong bối cảnh lịch sử xã hội như thế đòi hỏi phải có một con người hội đủ những tài năng và bản lĩnh phi thường để cùng dân làng, bộ tộc chống lại kẻ thù, bảo vệ cuộc sống của cộng đồng.

Những chuyển biến lớn trong xã hội dẫn đến sự manh nha giai cấp, xuất hiện tầng lớp giàu có, tập trung trong tay một số khá lớn của cải. Cuộc sống êm đềm, hài hòa trong cộng đồng dần dần rạn nứt, báo hiệu sự tan vỡ vì những mâu thuẫn sâu sắc về quyền lợi, dân đến những tranh chấp gay gắt, thậm chí đổ máu giữa các tù trưởng (Đăm Săn, Xinh Nhã,…), giữa kẻ giàu với người nghèo (sử thi Y Ban)

Thêm vào đó là sự vận động, chuyển biến lớn của xã hội đi từ công xã mẫu hệ dần dần phát triển lên thành xã hội cộng đồng rộng lớn. Cụ thể đó là sự vùng lên của lớp người mới chống lại và muốn thoát khỏi sự ràng buộc của những tục lệ của chế độ mẫu hệ và từ đó mà chuyển quyền quản lí gia đình, xã hội từ người đàn bà sang người đàn ông.

Từ trong cuộc sống và trong cuộc đấu tranh xã hội, nhiều khi gay gắt nảy lửa vang động buôn làng ấy nổi lên hình ảnh những con người kiệt xuất, những chàng trai tài ba như Đăm Săn, Xinh Nhã…, những cô gái đảm đang, nhan sắc như Hơ Nhí, Hbia Sun,…Họ tiêu biểu cho sức lức và toàn bộ tài năng ý chí và trí tuệ của toàn bộ cộng đồng. Những con người ấy vừa là kết tinh sức mạnh của tập thể vừa là biểu tượng cho lý tưởng thẩm mĩ và đạo đức của thời đại.

4. Bản chất của sử thi anh hùng

Mặt khác, tinh thần dũng cảm tuyệt vời, những chiến công vang dội của các nhân vật anh hùng cùng với cảnh sống sung túc rộn tiếng chiêng ngân của buôn làng, đó là những nét đặc trưng nói lên khát vọng mãnh liệt và tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức cao quý của nhân dân. Những phẩm chất đó là những lí tưởng thẩm mĩ của thời đại. Lí tưởng thẩm mĩ của thời đại thể hiện tập trung ở lí tưởng thẩm mĩ của các nghệ nhân kể sử thi, chi phối toàn bộ toàn bộ phương pháp và phong cách sáng tạo nghệ thuật của họ trong sử thi anh hùng.

5. Thi pháp sử thi anh hùng

5.1.1 Nhân vật trung tâm: Đó chính là những nhân vật anh hùng

– Nhân vật anh hùng là nhân vật đại diện cho lý tưởng cộng đồng.

+ Nhân vật anh hùng trước hết là nhân vật phải đẹp cả hình dáng bên ngoài lẫn phẩm chất bên trong. Tiêu biểu hơn cả là nhân vật Đăm Săn

. Ngoại hình Đăm Săn được miêu tả như sau: “… lông mi cong, mặt mũi đỏ hồng như có men rượu nồng“. Vẻ tinh anh, nhanh nhẹn của Đăm Săn được ví: ” mắt đen như mắt rắn, long lanh như mắt cá trê, giận dữ như đôi mắt rắn đang ấp trong hang“. Sức mạnh của người anh hùng trong chiến trận được ví như âm thanh của thiên nhiên, vũ trụ: ” Đăm Săn múa khiên ở phía tây, gió xoáy về phía đông, múa ở phía nam, gió xoáy về phía bắc làm nghiêng ngả cây đa, cây sung “. Đăm Săn là nhân vật anh hùng bách chiến bách thắng. Trong các trận đánh nhau với các tù trưởng ở trần gian đến các lần xung trận đọ sức với thần linh chàng đều chiến thắng.

. Đời sống tinh thần: luôn có sự đấu tranh giữa việc bắt buộc phải làm nhiệm vụ với không chịu làm nhiệm vụ của người chồng theo tục lệ truyền thống đã quy định; giữa chịu an phận sống với vợ theo nếp đã định sẵn với việc “mở ra con đường theo ý muốn”.

– Nhân vật anh hùng phải luôn hành động. Nên họ phải luôn hành động vì quyền lợi và mục đích của cộng đồng. Vai trò và công việc bắt buộc và thôi thúc họ hành động đã đành, mà tự bản thân họ cũng tiềm tàng sẵn nhu cầu hành động rất cao trong mọi trường hợp, mọi điều kiện.

– Nhân vật anh hùng là nhân vật trung tâm trong chiến trận. Nhân vật anh hùng phải có khả năng chiến đấu với mọi kẻ thù. Khi đánh nhau với con voi dữ nhất của anh em Giarơ Bú, Xinh Nhã đã thể hiện một sức mạnh vô song ” Hai chân giẫm chặt vòi nó, con voi bỗng đứng in như cục đá. Chàng giằng mạnh đôi ngà của nó tuột khỏi miệng, con voi rống lên nghe rùng rợn núi đồi, ngã quỵ xuống“.Còn Đăm Noi thì đánh nhau với Drang Hạ – Drang Hơm ” có sức mạnh hơn thần, đánh núi, núi lở, đánh đá, đá vở, đánh nước nước cạn “.

+ Khái quát hóa: Họ là nhân vật tiêu biểu cho lý tưởng cộng đồng. Mọi suy nghĩ và hành động của họ đều hướng đến mục đích xác lập và khẳng định một thế quyền mạnh mẽ cho cộng đồng. Các nhân vật anh hùng luôn là người đi đầu trong mọi hoạt động khác nhau để duy trì và phát triển đời sống cộng đồng. Họ phải chiến đấu để bảo vệ hoặc chiếm đoạt thêm đất đai, tài sản, làm giàu cho dân cư. Họ hướng dẫn mọi người khai phá những vùng đất mới để mở rộng địa bàn canh tác. Họ bao giờ cũng đi đầu trong quá trình tổ chức sản xuất, săn bắn hoặc trao đổi sản phẩm làm cho cộng đồng ngày thêm giàu mạnh. Họ là những con người toàn diện vì ở lĩnh vực nào họ cũng tài giỏi. Dũng cảm trong chiến đấu, táo bạo trong khám phá, mềm mỏng trong trao đổi, hài hòa trong mọi quan hệ…, họ là hiện thân của sự kết tinh mọi phẩm chất ưu tú của cộng đồng, thời đại.

+ Một số cũng có sức khỏe và vẻ đẹp không kém gì nhân vật anh hùng. Họ cũng rất gan dạ, dũng cảm trong chiến đấu. Như nhân vật Pơrong Mưng trong Xing Nhã,…

Tuy không phải là nhân vật chính trong sử thi anh hùng nhưng nhân vật nữ tài sắc có vai trò quan trọng trong sự phát triển cốt truyện. Họ thường là vợ hoặc chị em của nhân vật anh hùng. Họ xuất thân từ những gia đình giàu có hoặc rất có thế lực. Họ là những cô gái đẹp, tài năng, chăm chỉ, giàu sang, nắm quyền quyết định kinh tế và quyền lực trong gia đình. Chị em Hơ Nhí, Hơ Bhí, trong mắt Đăm Săn: ” rất xinh đẹp … Đôi mắt hai nàng lóng lánh như ánh sao đêm…”. Hai chị em có tài thêu dệt hơn người, tấm vải họ dệt: ” phía trên thêu hình con rắn prao dú đang bò, phía dưới thêu hình con rắn prao hô cuộn, phái dưới cùn thêu hình con chim gõ kiến, ở trên thêu hình con rắn cạp nong, hình con trâu, con bò béo mập“. ” Hơ Nhí, Hơ Bhí ngày cũng như đêm, bàn tay chăm chỉ kéo sợi xe chỉ, đánh bông, cây kprư không rời trên đùi, câu msa không rời chân. Khung dệt không rời khỏi hông “.

Người đàn ông lý tưởng của họ là những chàng trai tài giỏi, người anh hùng, và họ góp phần làm cho người anh hùng trở nên có quyền lực và giàu sang. Chị em Hơ Nhí, Hơ Bhí quyết lấy cho bằng được Đăm Săn và khi Đăm Săn lấy họ thì chàng trở thành một tù trưởng giàu mạnh.

Họ là nguyên nhân của các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc vì phần lớn các cuộc chiến tranh giữa các tù trưởng đều nhằm mục đích cướp người đẹp và giành lấy người đẹp bị cướp. Đăm Săn sáu lần đi đánh với các tù trưởng khác đều là vì muốn cứu Hơ Nhí.

Thần là nhân vật phụ nhưng có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển cốt truyện. Trong sử thi anh hùng, nhân vật thần có ảnh hưởng chi phối đến cuộc sống con người nhưng không đóng vai trò quyết định. Vị thần xuất hiện xuyên suốt trong các tác phẩm sử thi là ông già Gỗn (ông Trời). Vị thần này không được miêu tả kĩ nhưng đây là nhân vật thần có ảnh hưởng đến cuộc sống và đường đời nhân vật anh hùng. Ông thường xuất hiện và can thiệp khi người anh hùng gặp nguy hiểm, khó khăn, trở ngại. Đó là điều kiện giúp người anh hùng thực hiện lý tưởng xã hội. Đăm Săn không chịu lấy HNhí, ông Gỗn phải can thiệp, tác động để Đăm Săn lấy nàng. Đăm Săn đánh nhau với Mtao Mxây mãi không chiến thắng được, ông Gỗn bày cho cách lấy chày giã gạo ném vào tai Mxây, quả nhiên Mxây bị giết. Xing Nhã bị voi của Prong Mưng kẹp trong đôi ngà sắp chết thì ông Gỗn ném thuốc tiên xuống tiếp sức cho Xing Nhã có đủ sức mạnh bẻ hai chiếc ngà của voi.

Ông Gỗn đóng vai trò là nhân vật trợ giúp như ông Tiên, ông Bụt trong truyện cổ tích chứ không chi phối và can thiệp quá mức như các vị thần trong sử thi Hômerơ hoặc sử thi Ấn Độ. Thậm chí có khi ông Gỗn phải chịu nhượng bộ yêu sách của người anh hùng. Chẳng hạn, Đăm Săn một lần lên trời yêu cầu ông Gỗn phải cứu sống HNhí và HBhí, lần khác đòi hạt giống. Càng về sau, các sử thi “Đăm Đroăn, Đăm Di”, vai trò con người quyết định.

Người anh hùng thường không lẻ loi, đơn độc vì bên cạnh luôn có một tập thể đông đảo. Họ thường được gọi một cách tượng trưng là: bà con, họ, đám đông, các con, các tôi tớ hay theo số lượng: hàng nghìn hàng vạn người,…

Hình ảnh cả cộng đồng người tham gia chiến tranh: ” Tới hàng rào, họ phát một lối đi vào. Tiếng nhạc càng kêu dòn khuyến khích họ xông vào. Tiếng chiêng giục giã họ đi theo người tù trưởng oai hùng…”.Cũng như hình ảnh cả một tập thể đông đảo cùng người anh hùng tham gia lao động: ” Mười người chữa xà ngang, năm người uốn xà dọc, một trăm người khác chữa lại sạp tre …”, thể hiện một cách sinh động tính chất toàn dân của sử thi anh hùng. Đồng thời những hình ảnh đó thể hiện khá sâu sắc mối quan hệ hài hòa, gắn bó giữa các nhân vật anh hùng với cả tập thể cộng đồng mà họ sống và hoạt động.

5.2 Không gian, thời gian

+ Không gian thiên nhiên là núi non, sông ngòi, cây cỏ, chim chóc, thú vật, sản vật.

+ Không gian xã hội là bản làng, sinh hoạt lao động sản xuất và chiến đấu.

– Đặc biệt, nói đến không gian trong sử thi anh hùng là nói đến không gian chiến trận, hoành tráng. Đó là không gian của các cuộc chiến tranh bảo vệ cộng đồng hay trừng phạt và chinh phục các công xã thù địch. Những trận chiến ấy diễn ra trên quy mô rộng lớn từ việc đánh nhau trên mặt đất, ở dưới mặt đất đến đánh nhau với kẻ thù ở trên trời.

– Thời gian tuyến tính: thời gian trong sử thi thường là thời gian của cuộc đời nhân vật anh hùng. Nó kéo dài từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Thời gian bắt đầu bằng sự ra đời của nhân vật, quá trình trưởng thành, chiến đấu chống kẻ thù, chiến thắng kẻ thù và sống hạnh phúc (hoặc chết đi và nối tiếp bằng thế hệ con cháu).

– Trước hết ngôn ngữ sử thi anh hùng là ngôn ngữ giàu hình ảnh.

+ Khi khắc họa các nhân vật: Tả về vẻ đẹp con người nhưng khi tả chàng trai thì: ” chàng là một tù trưởng trẻ, có cái lưng to như một tảng đá, gió thổi chàng không ngã, bão xô chàng không đổ. Chàng có một đôi bắp chân nhẵn và dẻo như mây song mây pông, có một cặp mắtnằm dưới đôi lông mày hình lưỡi mác. Đôi mắt đó sáng rực như đã uống cạn hết một chum rượu, làm lu mờ đi ánh nắng mặt trời sắp dạo qua nương…Giọng nói của chàng cất lên nghe như sấm giật đằng đông, chớp giật đằng tây…”. Còn khi mô tả cô gái thì: ” Búi tóc trứng chim của nàng bỏ xoã sau chiếc cổ cao, màu tóc đen ánh như đôi mắt của một con diều, lóng lánh như chỉ khua…Mắt nàng là chớp nắng buổi ban mai. Đôi chân nàng lườn lượn như đi trên cỏ … ”

+ Khi mô tả những cảnh lớn như cảnh sinh hoạt rộn rịp của buôn làng, cảnh hội hè đông vui với tiếng chiêng ngân không ngớt. : ” Trâu bò nhi nhúc như bầy mối bầy kiến. Đường từ bên trái qua bên phải rộng đến nỗi hai người đứng hai bên đường,một người giơ thẳng tay lên một cái lao và một người thẳng tay giơ lên một con dao dài cũng chưa chạm nhau.Dấu chân ngựa voi trên đường giống như một sợi dây đánh”.

+ Dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh để vật thể hóa âm thanh, tạo cho người đọc và người nghe có cảm giác như nhìn thấy âm thanh đang “hoạt động”, tác động đến mọi vật. ” Đánh lên! Cho tiếng chiêng lan ra khắp xứ. Đánh lên! Cho tiếng chiêng lòn qua sàn nhà xuống dưới đất. Đánh cho tiếng chiêng vượt mái nhà, vang lên đến tận trời. Đánh cho khỉ quên ôm chặt cành cây,…Cho hươu nai ngừng nghe quên ăn cỏ “. Ngôn ngữ hình ảnh được sử dụng đắc địa, dường như tạo nên một thứ ma thuật nào đó khiến cho các cảm quan trong con người có sự giao lưu hài hòa, nhạy bén lạ thường.

+ Các biện pháp phóng đại, so sánh, trùng điệp, điệp ngữ trong ngôn ngữ hình tượng tạo nên một vẻ đẹp, một phong cách riêng của sử thi anh hùng: đó là phong cách lãng mạn hào hùng đầy sức hấp dẫn. Nhìn chung thủ pháp phóng đại trong sử thi là cách nói cường điệu, gây ấn tượng rất mạnh. Khi Đăm Săn đi cứu vợ về, nghe tiếng lục lạc ngựa: ” chó sủa ầm ĩ, làm đất động nhà rung, nước chứa trong nồi bảy, nồi ba bắn lên đến tận cây xà dọc, xà ngang”. Còn tiếng cười của người đẹp thì “con tê giác rớt sừng, con voi rớt ngà“. Nhất là tiếng chiêng, thủ pháp phóng đại ở đây như có ma lực: ” Nghe tiếng chiêng quạ quên mớm mồi cho con nhỏ, thỏ chồn quên ăn cỏ, ma quỷ quên việc hạ người, chuột sóc quên ăn lúa bắp,…”. Một số phóng đại trong sử thi gần với tư duy thần thoại: ” Trên bầu trời, ở đám mây đen, ai ai cũng thấy Mdrong Dăm lướt đi lướt lại như con thoi, người ta nhìn thấy Mdrong Dăm lấp la lấp lánh như các vì sao “. Lối phóng đại kiểu này tạo nên vóc dáng kì vĩ của nhân vật anh hùng sử thi.

Đây là lối tả trùng điệp, điệp ngữ : ” Hãy đánh lên các chiêng có âm vang, những chiêng có tiếng đồng, tiếng bạc! Hãy đánh lên tất cả cho ở dưới vỡ toác các cây đòn ngạch, cho ở trên gãy nát các cây xà ngang…”, “Thế là bà con xem, nhà Đăm Săn đông nghẹt khách, tôi tớ chật ních cả nhà ngoài…Bà con xem, chàng Đăm Săn uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán…Rõ ràng là tù trưởng Đăm Săn đang giàu lên, chiêng lắm la nhiều. Rõ ràng là Đăm Săn có chiêng đống, voi bầy, có bè bạn như nêm như xếp…”.

– Ngôn ngữ giàu nhạc điệu. Dùng cách nói có vần điệu, tạo âm hưởng hài hòa, nhịp nhàng trong hình tượng. Dùng kết cấu đối xứng, tạo nên sự hài hòa, nhịp nhàng trong hình tượng.

+ Cảnh lao động: ” Một trăm người vạch luống – Hai ngàn người moi lỗ “.

+ Cảnh đánh nhau ác liệt nơi chiến trường: ” Một lần xốc tới, một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô. Chàng chạy vun vút qua phí đông, vun vút qua phía tây. Còn Mtao Mxây thì bước cao bước thấp chạy hết bãi tây sang bãi đông “…

Cách diễn đạt ngôn từ đó tạo nên một hiệu quả đặc biệt rõ ràng: đó là âm hưởng uyển chuyển, nhịp nhàng của một bản nhạc và kết cấu chặt chẽ của một mạch văn xuyên suốt bản sử thi.

Sự hài hòa và nhịp nhàng ở những vế, những câu, những hình tượng như vậy được phát triển thành những điệp khúc mà ta thường gặp trong các sử thi. Những điệp khúc đó tạo nên khuôn mẫu tương đối bền vững, tạo thuận lợi cho việc diễn xướng và dễ tạo nên khung cảnh trùng điệp trong các sử thi anh hùng. Cách nói theo kết cấu đối xứng nhịp nhàng là một biện pháp được các nghệ nhân dân gian sử dụng có tính chất phổ biến, là quy luật chi phối sự cấu tạo vần điệu, cấu tạo các vế trong câu, các câu và các đoạn câu cùng với các hình tượng được xây dựng.

– Ngôn ngữ mang tính kịch

+ Đối lập trong ngôn ngữ đối thoại:

+ Mô tả ngoại hình nhân vật: ” Mtao Mxây là một tù trưởng giàu mạnh. Gông cùm, tù binh trật cả làng. Lông chân dầy như đắp lên một lớp. Lông mày sắc như đá mài. Con mắt sáng ngời như đã uống hết một chung rượu, đến nỗi một con trâu lớn cũng không dám đi qua“. Trước mắt chúng ta rõ ràng đây là chân dung của một con người hung bạo tàn ác, trông có vẻ dữ tợn, ghê sợ. Còn Đăm Săn thì lại được mô tả như sau: ” Nó không biết Đăm Săn à? Nó không biết tù trưởng dầu đội khăn kép và vai mang túi da. Nó không biết Đăm Săn có danh tiếng đến tận thần linh sông núi, không có một tướng nào mà không biết đến Đăm Săn. Nó không biết rằng Đăm Săn đây không có ai bì kịp …”. Rõ ràng đây là hình ảnh một con người có tư thế đàng hoàng, lẫm liệt, có uy danh lừng lẫy khắp nơi, đối lập hẳn với hình ảnh một con người mạnh khỏe nhưng hung ác.

+ Dựng lên tình thế tương phản gây nên tình huống kịch khá sinh động, làm nổi lên những tính cách khác nhau của các nhân vật.

Đoạn đối thoại ngắn gọn này làm nổi rõ hai tính cách khác nhau: một đằng là một kẻ tỏ ra nhút nhát lo sợ. Còn một bên là một con người có tư thế hiên ngang, đầy vẻ khí khái.

+ Ngôn ngữ diễn xướng sinh động của người kể: lời kể bình thường, lời hát lên bỗng xuống trầm, điệu bộ, sắc thái diễn cảm,…

Nêu Cảm Nghĩ Của Em Và Ý Nghĩa Truyện Cổ Tích Cây Khế

Nghe Đọc Chuyện Cổ Tích: Truyện Cây Khế

Kể Lại Truyện Cổ Tích Cây Khế Theo Lời Của Chim Thần.

Kể Lại Truyện Cổ Tích Cây Khế

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Truyện Cây Khế

🌟 Home
🌟 Top