Top 19 # Thơ Hay Về Quê Hương Bắc Giang / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Bài Thơ: Bắc Giang Quê Tôi / 2023

Nếu bạn thấy quê hương ,vùng đất mình đang sống hiện hữu trong bài thơ: thì đó là điều tuyệt vời nhất tôi đang biết về vùng đất quê hương nơi có bạn và tôiĐôi chút về quê hương “Mời bạn đến thăm “Bắc Giang Quê Tôi

Ai về Kinh Bắc miền đất cổ xưaGọi lòng để nhớ hai từ Bắc GiangBao câu”Quan Họ” câu hát mời trầuCâu hát trao duyên người ơi đừng vềĐất cổ xưa kinh bắc mãi còn vang“Làng Thổ Hà” vẫn vang câu quan họ“Rượu Làng Vân” thơm chén say ngườiTôi vẫn đi khắp đường làng ngõ hẹpBỗng hiện về cội nguồn “gốm lừng danh”Đã xưa rồi còn lại những rêu phongCon đường nhỏ những con ngõ song songNgười nơi đây đặc sản như đã cóBánh đa nem nổi tiếng đất gần xa

Mời bạn đến thăm Bắc Giang Quê TôiVề Lục Ngạn ăn quả vải trên cànhLà”Vải Thiều” của hương rừng gió núiRượu men lá bạn đã thử chưa nàoMón “Khâu nhục” ở nơi đây đặc sản“Sôi trứng kiến” ngon mới lạ làm saoTô “Mỳ Chũ” chẳng chê được chút nàoÔi tự hào nó mới sướng làm saoLà đặc sản của bắc giang tôi đóBạn đã từng lên núi để thăm quanHồ cấm sơn mênh mang trời non nướcVề khuôn thần duyên dáng chốn sơn trang

Bạn ơi Hãy tới Sơn Động Bắc GiangGió đồng “Cao Nguyên” mát tận tâm hồnĐêm đốt lửa ,ngồi quây quần ta hátTây yên Tử rừng nguyên sinh khe rỗĐể thiên nhiên chân thật mới trở về

Đến Lục Nam bạn dừng chân nghỉ lạiMời quả” Na ” ăn củ đậu nơi nàyThấy lòng người qua những cái bắt tayẤm áp yêu thương gần gũi thật thàNgồi nơi đây Tôi kể để bạn ngheĐền trung đền thượng hương khói vi vu“Đền Suối Mỡ” thờ thượng ngàn thánh mẫuĐất thiêng liêng đưa ta về lịch sửSự tích nàng Công chúa Quế mỵ NươngNgười có công khai mở vực Mỡ này

Đừng vội vàng bạn bỏ qua kỳ diệuĐến Lạng Giang thăm “Dã Hương” nghìn tuổiChẳng biết nữa cây có từ bao giờVẫn sừng sững giữa đất trời hiên ngangCho người lớn cùng trẻ em bóng mátNhư cấp thêm dinh dưỡng cho nơi này

Bạn thấy không bạn đã nở nụ cườiCho người Bắc Giang thêm niềm hy vọngDẫn bạn đến nơi tâm hồn thanh tịnhChùa “Đức La” tức “Vĩnh Nghiêm” bây giờHơn bẩy trăm năm lịch sử khắc ghiChốn tổ Vĩnh Nghiêm là nơi thanh tịnhNơi bắt đầu Hội phật giáo Đầu TiênHuyện yên dũng nhiều điều ta khám pháMón “Cua Da” rồi “Tương La” đặc sảnBạn sẽ đến thưởng thức ở nơi này

Không xa nữa đâu chính là Thành PhốMua cái”Bánh Đa Kế” để làm quàRồi thưởng thức bún chả”Bún Đa Mai”Ăn bánh đúc đồng quan”Chè Đỗ đãiBạn đang thưởng thức mùi vị quê hươngĐặt tay lên môi suỵt tiếng nhẹ nhàngNhắc đến bắc giang cảm giác tuyệt vờiTôi thấy yên bình màu xanh của láCảm giác nhẹ nhàng không khí quê hương

Bạn thấy vui không ta đi câu cáVề hiệp hoà bắt cá mè ao nuôiLàm gỏi cá đặc sản của quê hươngLàm mê mẩn biết bao là thực kháchChỉ nghĩ thôi miệng đã ngọt lắm rồi“Nham vân xuyên” cho mùi thơm béo ngậyTôi chắc bạn muốn nếm thử bạn ơiCòn muốn thăm quan “Di tích lăng mộ”Cấp quốc gia đã công nhận nơi này

Đến Bắc Giang đừng bỏ qua Yên ThếNơi vùng đất nuôi đặc sản “gà đồi”Có vườn cây hoa trái thật tốt tươi“Cam sành Bố Hạ” dinh dưỡng nơi nàyLà vùng đất Người Anh Hùng Áo VảiHoàng Hoa Thám mãi mãi sẽ còn vangXin cho con được cúi đầu tưởng nhớXin Tạ ơn Người áo vải Hoàng HoaCòn đây”Di tích khởi nghĩa” vang xaCho chúng con hàng năm về tưởng nhớ

Mời bạn đến thăm Bắc Giang Quê TôiĐể lửa lòng cháy lại những yêu thươngCòn thấy được nét tinh hoa lưu giữNền văn hoá của người xưa để lại“Chùa Bổ Đà” Việt Yên bạn đã đếnThấy lối vào cổ kính những rêu phongLời ca luyến láy mà say lòng ngườiLàn quan họ vẫn ngân vang câu hátRằng người ơi người ở” í…a” đừng về

Mời bạn đến thăm Bắc Giang Quê TôiBữa cơm đạm bạc mà sang lòng ngườiChén rượu nâng lên chén trà thêm nhớTâm sự cuộc đời chuyện bạn và tôiChuyện vùng đất mà tôi đang đã kểChẳng dấu diếm hay giữ lại trong lòngĐể mời bạn đến với người Bắc Giang

Sáng tác: butdanh hgt(hoanggia thao)

Chùm Thơ Hay Viết Về Quê Hương Xứ Kinh Bắc / 2023

Tổng hợp những bài thơ hay viết về tình yêu quê hương và văn hóa xứ Kinh Bắc. Kinh Bắc là tên gọi xưa cũ về địa danh nằm ở phía Bắc nước ta. Văn hóa xứ Kinh Bắc nổi tiếng với: Dân ca quan họ, lễ hội Gióng,… Có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như: đền Sóc, Tây Yên Tử, chùa Phật Tích, chùa Dâu, chùa Vĩnh Nghiêm, Cổ Loa, đền thờ Hai Bà Trung,…

BÀI THƠ: NHỚ VỀ KINH BẮC

Tác giả: Hoa Chu Van

Hàng năm cứ đến tiết xuân

Ai về kinh bắc bước chân nhẹ nhàng

Nghe bài hát đón xuân sang

Dân ca quan họ rộn ràng nơi đây

Niềm thương nỗi nhớ vơi đầy

Sông Cầu nước chảy bóng mây vờn bờ

Quê hương Kinh Bắc mộng mơ

Giao duyên đối đáp trông chờ say mê

Em buông vạt áo bốn bề tứ thân

Tưng bừng đất nước vào xuân

Hội Lim anh nhớ những lần gặp nhau

Thơm nồng vị nặm đậm mầu hồng tươi

Trầu têm cánh phượng em mời

Em trao kỷ vật một đời cho anh

Giao duyên xe kết tác thành

Liền anh liền chị ngọt lành say mê

Sang năm đến đón phu thê một nhà

Hồng tươi đào thắm nở hoa

BÀI THƠ: GẶP EM NƠI LỄ HỘI

Tác giả: Thơ và Tình

Gặp em nơi chốn đông người quá

Chỉ kịp nhìn nhau một phút thôi

E thẹn lườm anh rồi vội vã

Gót sen tung tẩy ở chân đồi

Hội Lim làng xã mở năm nay

Rộn rã làng quê, cả mấy ngày

Duệ Khánh, Lộ Bao đầy đủ hết

Lũng Giang, Đình Cả cũng vừa đây

Đi theo liền chị suốt mấy ngày

Nghe tiếng mà chưa gặp đã say

Em cứ lã lơi cùng mấy chị

Liền anh xao xuyến giáng hao gầy !

Câu hát giao duyên lời giã bạn

Thôn Đông bịn rịn với thôn Đoài

Làng nước cuốn cờ sau lễ hội

Nán lại chờ nhau dưới khóm mai

Xin được cùng em một đoạn đường

Má phấn môi hường đã thấy thương

Mai mốt anh sang bên Đình Cả

Gửi nốt cho mình hết vấn vương !

BÀI THƠ: SANG KINH BẮC

Tác giả: Đồng Kế

Anh buồn hứng nỗi bơ vơ đem về

Còn bao vướng bận câu thề … đa mang

Gió đùa xô chiếc thuyền nan

Câu “Người ơi” hát dở dang bao đời

Mà nghe muốn nuốt từng lời

Giọng em trong vắt ngọt mời vút lên

Miếng trầu cánh phượng em têm

Ăn vào say mãi đến mềm ruột gan

Bao giờ lại hẹn nhau sang

Để ta thiếp thiếp chàng chàng có nhau

Lơ thơ nước chảy sông Cầu

Chia tay trong dạ nỗi sầu đầy vơi

Dùng dằng những hạt mưa rơi

Có thương có nhớ … người ơi … đừng về!

BÀI THƠ: GỞI VỀ MIỀN QUAN HỌ

Tác giả: Mai Trúc

Gởi câu thơ qua miền quan họ

Phía chòng chành dải nón quai thao

Lúng liếng tràn điệu hát ngọt ngào

Nụ tầm xuân gọi bình minh thức

Xuôi sông Cầu về miền Kinh Bắc

Qua cầu dải yếm để tìm nhau

Chiều tràn sóng, thuyền thơ nghiêng ngả

Trong câu hát cánh cò bay lả

Miếng trầu cánh phượng đỏ cả lòng

Lời thơ rơi giữa mênh mông

Mới gặp đây sao đành giã bạn

Chưa kịp cùng em lên quán dốc

Đêm xuân vồi vội mảnh trăng non

Câu thơ buộc câu hát ví von

Còn em buộc hồn tôi vào quan họ.

BÀI THƠ: VỀ KINH BẮC XƯA

Tác giả: Dạ Khúc

Trở về Kinh Bắc một chiều say

Say người, say rượu, say Quan Họ

Say cả con tim với đất này

Ta đã về đây Kinh Bắc ơi!

Một chiều đông sương gió tơi bời

Biên thùy vó ngựa quân Nam réo

Giặc Tống kinh hoàng thây xác phơi

Ta đã về đây với nước non

Đông Đô xưa mấy thuở vàng son

Dấu Tích Cha Ông oai hùng quá!

Lối cũ rêu phong vẫn chửa mòn

Quan Họ ai ca giữa trời chiều

Cho lòng lữ khách bớt cô liêu

Áo the chen nón quai thao ấy!

Đọng lại trong ta biết mấy điều

Ta về Kinh Bắc nhớ Hoàng Cầm

“Bên kia Sông Đuống” người còn không?

Một chiều đông lạnh ta đâu lạnh

Ngâm lại bài thơ ấm cả lòng.

BÀI THƠ: DUYÊN KINH BẮC

Tác giả: Xuân Phong

Dập dìu liền chị liền anh

Bắc Ninh tình lắm, anh càng tình hơn

Bên em anh mới tỏ tường chữ “Yêu”

Têm trầu cánh phượng – nên duyên

Ao dài khăn đóng ! Mạn thuyền người ơi

Người ơi sáng nhớ chiều chờ

Bắc Ninh xuân đậm chữ tình

Xuân này càng đậm chúng mình nên duyên.

BÀI THƠ: VỀ KINH BẮC

Tác giả: Hồ Thanh

Trở về Kinh Bắc một chiều say

Say người, say rượu, say Quan họ…

Say cả con tim với đất này.

Ta đã về đây Kinh Bắc ơi!

Một chiều đông sương gió tơi bời

Biên thùy vó ngựa quân Nam réo

Giặc Tống kinh hoàng thây xác phơi.

Ta đã về đây với Nước non

Đông đô xưa mấy thuở vàng son

Dấu Tích Cha ông oai hùng quá!

Lối cũ rêu phong vẫn chưa mòn?

Quan họ ai ca giữa trời chiều

Cho lòng lữ khách bớt cô liêu

Áo the chen nón quai thao ấy

Đọng lại trong ta biết mấy điều

Ta về Kinh bắc nhớ Hoàng Cầm

“Bên kia sông Đuống” người còn không?

Đất trời có lạnh ta đâu lạnh

Ngâm lại Thơ xưa ấm cả lòng.

Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương / 2023

    Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ…

    Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ…

    Ở phần mở đầu bài thơ: Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/“Ai bảo chăn trâu là khổ?”/Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…, có lẽ lúc hoài niệm về thời thơ ấu, trong ký ức của tác giả đã hiện lên thấp thoáng những câu hát của… Phạm Duy: Ai bảo chăn trâu là khổ?Chăn trâu sướng lắm chứ!Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao… (Em bé quê). Bởi nếu không thì tác giả đã không để câu Ai bảo chăn trâu là khổ trong ngoặc kép. Tuy nhiên, dẫu có như vậy thì câu này cũng liền mạch với một tứ thơ hết sức trong trẻo, hồn nhiên: … Những ngày trốn học/Đuổi bướm cầu ao/Mẹ bắt được/Chưa đánh roi nào đã khóc!/Có cô bé nhà bên/Nhìn tôi cười khúc khích… Một điều chắc chắn rằng, sở dĩ bài thơ có sức hấp dẫn người đọc là bởi tuy tác giả sử dụng những câu chữ mộc mạc nhưng lại khéo dụng công ở những lần “cô bé nhà bên cười khúc khích”, tạo nên một ấn tượng khó quên…

“Cô bé” ấy là ai?

        “Cô bé” ấy tên thật là Phạm Thị Triều, sinh ra trong một gia đình có nghề làm mắm gia truyền ở Vĩnh Trường (Nha Trang). Nghề làm mắm cũng là để đóng góp kinh tài cho cách mạng. Cô bé Triều mới “trổ mã” đã theo chị gái lên căn cứ Đồng Bò. Gia đình thấy Triều còn nhỏ quá, cho người nhắn về nhưng cô nhất quyết không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, Triều được điều về làm ở khối Dân chính của Tỉnh ủy Phú Khánh, đóng ở Đá Bàn. Chính nơi đây, cô đã gặp chàng trai sau này trở thành nhà thơ Giang Nam…

    Còn anh chàng Nguyễn Sung (tên thật của Giang Nam), mới 16 tuổi đã bỏ học giữa chừng vì nhà trường đóng cửa do thời cuộc (Nhật đảo chính Pháp tháng 8.1945). Cậu theo anh trai là nhà cách mạng Nguyễn Lưu tham gia Việt Minh ở mặt trận Phú Khánh. Khoảng đầu năm 1954, Nguyễn Sung được điều về căn cứ Đá Bàn và anh bộ đội trẻ đã “ngẩn ngơ” trong lần đầu gặp Phạm Thị Triều.

    Ít lâu sau anh biết thêm rằng không phải chỉ mình anh mà cả đám lính trẻ cũng thường tìm cớ này, cớ nọ để tạt vào cơ quan chỉ để… nhìn cô Triều một cái. “Bạo phổi” lắm thì cũng chỉ nói vu vơ một câu rồi… biến! Chuyện yêu đương, trai gái trong cùng tổ chức hồi ấy hầu như bị cấm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, là một anh lính có “chút thơ văn” nên Nguyễn Sung vẫn nghĩ được cách tiếp cận người đẹp. Trước tiên, anh vận dụng khả năng thơ văn của mình để được giao nhiệm vụ chạy công văn. Và thế là mỗi lần đưa công văn đến cơ quan, anh lại kèm theo một lá thư (viết sẵn) cho nàng mà không nói năng, hỏi han gì thêm vì sợ lộ. Phải hơn một tuần sau lá thư thứ hai, anh mới “sướng rêm người” khi được nàng “ừ” (trong bức thư hồi âm)…

    Yêu nhau “kín đáo” như thế mà vẫn không giấu được ai, may mà cả anh lẫn chị đều được anh em thương mến nên trước ngày anh ra Bình Định tham gia Đoàn Sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Genève, cơ quan đã tổ chức đám cưới cho họ. Sống với nhau được hai đêm thì anh lên đường, còn chị trở lại Nha Trang… Từ buổi đó, đôi vợ chồng trẻ phải luôn chịu cảnh xa cách, gian truân…

    Sau Hiệp định Genève (tháng 7.1954), Nguyễn Sung vào hoạt động trong lòng địch, trong vai trò công nhân ở một xưởng cưa và âm thầm viết cho tờ Gió mới – là tờ báo hợp pháp ở Nha Trang. Tuy hoạt động cùng địa bàn nhưng đôi vợ chồng son vẫn không thể gặp nhau vì khác tuyến, phải tuân giữ kỷ luật khắt khe để không bị lộ… Mãi đến năm 1958, tổ chức chuyển vùng công tác cho họ vào Biên Hòa thì họ mới thật sự có những ngày hạnh phúc bên nhau, dù khoảng thời gian này cũng rất ngắn ngủi. Họ thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo. Ông làm mướn cho một nhà thầu khoán, còn bà buôn bán lặt vặt…

    Một thời gian sau, tổ chức lại rút ông về lại Khánh Hòa, bà Triều ở lại một mình nuôi con. Mỗi đêm, nghe con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà Triều phải lấy chiếc áo cũ của chồng đắp lên người con để “có hơi của ông ấy cho nó nín khóc”. Sau này, ông đã mượn lời vợ, và mượn luôn sự cố khóc đêm của con để bày tỏ nỗi nhớ thương: Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/Nó khóc làm em cũng khóc theo/Anh gởi về em manh áo cũ/Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều… (Lá thư thành phố).

Quê hương ra đời trong hoàn cảnh nào?

    Trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, Giang Nam đã kể lại như sau: “Bài thơ Quê hương ra đời năm 1960, dưới chân núi Hòn Dù, cách chúng tôi Trang hơn 40 cây số về phía tây. Lúc ấy, tôi đang là Phó ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Chiều hôm ấy, anh Phó bí thư Tỉnh ủy đã gọi tôi lên chỗ anh ở (một căn chòi nhỏ giữa rừng). Anh ân cần hỏi thăm tôi về tình hình công tác, sức khỏe… Tôi linh cảm thấy có điều gì không bình thường. Quả nhiên sau đó, anh nói thật: Tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu… Tôi bàng hoàng, trời đất như sập xuống đầu mình… Trong nỗi đau đớn tột cùng, tôi ngồi trong căn chòi nhỏ, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín ba mặt, tôi đã viết một mạch xong bài thơ, không xóa sửa chút nào… Không phải tôi làm thơ mà là ghi lại những ký ức, những hình ảnh đã trở thành máu thịt trong tôi. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra, nhất là ở hai câu cuối của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”.

    Bài thơ được ký tên Giang Nam, bởi dạo còn đi học ông rất thích những câu thơ của Hồ Dzếnh: Tô Châu lớp lớp phủ kiều/Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam… Sau đó, ông gửi bài thơ theo đường giao liên cho Báo Thống Nhất (Hà Nội), vì chỉ có tờ báo này được chuyển vào chiến trường phía Nam. Khoảng tháng 8.1961, trên đường công tác qua huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), qua chiếc radio, ông nghe Đài phát thanh Việt Nam đọc bài thơ Quê hương và thông báo bài thơ này đoạt giải nhì của Báo Văn nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, hình ảnh thân yêu của vợ con ông lại ùa về, ông bật khóc…

    Đinh ninh là vợ con mình đã chết, Giang Nam lao vào công tác, nhất là trên mặt trận văn hóa. Bỗng giữa năm 1962, vợ con ông được thả về vì địch không tìm được chứng cứ. Sum họp chưa được bao lâu, vợ ông lại bị bắt lần thứ hai (1968), đứa con gái cứ bám riết lấy mẹ nên cũng… bị tù. Mãi đến năm 1973 họ mới được trả tự do…

    Hiện nay, đôi “bách niên – đồng chí” đều đã qua ngưỡng tuổi 80, họ vẫn hạnh phúc bên nhau trong căn nhà số 46 đường Yersin (TP.Nha Trang).

Chùm Thơ Về Quê Hương Bắc Ninh Của Nguyễn Tất Đình Vân / 2023

 

Nguyễn Tất Đình Vân

 

VỀ NƠI   KINH BẮC

  Về nơi Kinh Bắc sông Cầu Câu ca sóng vỗ, trăng thâu xuôi dòng Tượng đài vua Lý Thái Tông Đứng bên chiến tuyến* giữa dòng dân ca   Liền chị mặt phấn môi hoa Liền anh trai tráng những là giai nhân Sông Cầu sóng sánh mùa xuân Qua cầu giải yếm đến gần bờ tim   Mơ say ba sáu tiếng chim Bổng trầm giọng cổ ,giọng kim bổng trầm

*chiến tuyến sông Như Nguyệt ngày xưa nay là sông Cầu

   

THIÊN SỬ

  Nguyên khí ngàn năm tụ núi sông Lắng vào Xuân thắm – rực cờ hồng Nước non thống nhất rạng danh Việt Thiên sử vẻ vang lừng chiến công    

DI SẢN NGÀN NĂM

  Dân ca Quan Họ gốc quê mình* Di sản ngàn năm thắm nghĩa tình Vũ trụ vọng vang hồn đất Việt Lại lên đến hẹn nhớ  “Trúc xinh” .

( *quê Bắc Ninh)

                

HOÀNG HÔN

Hoàng hôn lơ lửng cánh diều Tiểu đồng sáo trúc vọng chiều quê hương Mãi còn một thuở vấn vương Chênh chao lem lấm đoạn đường mưu sinh Hội mùa em hát trúc xinh Cái ngày soi bóng giếng đình chung đôi Nụ cười em hút hồn tôi Hương xuân ấm áp đôi môi ngỡ ngàng Bóng em lộng bóng trăng vàng Trên đồng cấy lúa những hàng mạ xanh Ánh trăng lấp lánh xung quanh Đã mơ ngày gặt ngọt lành cơm quê Hoàng hôn tím đậm chiều về Nghe hàng cây hát gió vê nhịp đàn Nhớ ngày đánh đuổi giặc tan Nhớ em cô gái chứa chan tình đời,,,  

HỘI XUÂN

  Hội xuân áo thắm yếm hồng Tóc thề buông xõa hương đồng vương theo Câu ca lúng liếng mái chèo Ba tầm em đựng trong veo tiếng cười   “Đùng về… Người ở… Người ơi !” Trầu têm cánh phượng em mời người ăn Trầu này trầu ái trầu ân Ô đen nón thúng tình thân muôn đời   Mùa xuân non nước đẹp tươi Nụ hoa muôn sắc đất trời thêm xanh Lời ca rót mật ngọt lành Hội xuân giã bạn… hẹn anh… thăm nhà …

 

CHỢ DÂU

  Phiên chợ Dâu tháng mấy lần ? Háo hức những quang cùng gánh Chen chúc câu hỏi lời chào Như say như tỉnh giấc chiêm bao   Một tháng mấy lần phiên chợ Dâu ? Đâu rồi chợ phiên của “làng bầu”  (làng Công Hà) Xưa có hai làng sen nhau họy còn chợ Dâu ngồi … mãi cầu …   hà tầng chen chúc mãi bên nhau Còn đâu lán chợ của “làng bầu” Vành đai chợ Dâu không giữ nổi Bán mua , mua bán … bờ sông Dâu   “Dù ai đi đẩu đi đâu  Cứ trông cái tháp chùa Dâu thì về !” Tôi về tìm lại đam mê Hội Dâu rước hội tổng quê phật bà   “Tứ Pháp”nay bóng nhạt nhòa Luy Lâu đâu có còn là trăng soi Sông Dâu con nước đầy vơi  Trôi qua năm tháng…  bao đời cỏ xanh ?    

NHỚ ĐÊM

Nhớ đêm toàn thắng cờ bay Lời em hẹn ước anh nay mang về Mà em ở lại sơn khê Tuổi xuân xanh mãi,  không về miền quê !!! Nhớ đêm trăng sáng bờ đê Hương tình ngây ngất vai kề bên nhau Nhớ đêm bay áo qua cầu Nồng nàn trao nụ hôn đầu say mê Nhớ đêm thuyền lướt sông quê Câu ca Quan Họ theo về cùng anh Nhớ đêm gió mát trăng thanh  Chẻ tre vót đũa… so thành một đôi Nhớ đêm trăng đã lặn rồi Em về anh vẫn còn ngồi mộng mơ Vẳng nghe sóng vỗ đôi bờ Trái tim đỗi nhịp đợi chờ ngày vui…