Top #10 ❤️ Thơ Hay Về Quê Hương Bắc Giang Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Bài Thơ: Bắc Giang Quê Tôi

Chùm Thơ Hay Viết Về Quê Hương Xứ Kinh Bắc

Hình Ảnh Quê Hương Quảng Bình Trong Thơ Xuân Hoàng

Top 10 Bài Hát Hay Nhất Về Quê Hương Quảng Bình

Bài Thơ Viết Về Quê Hương Để Gửi Cho Những Thế Hệ Sau

Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Tế Hanh

Nếu bạn thấy quê hương ,vùng đất mình đang sống hiện hữu trong bài thơ: thì đó là điều tuyệt vời nhất tôi đang biết về vùng đất quê hương nơi có bạn và tôi

Đôi chút về quê hương “Mời bạn đến thăm “Bắc Giang Quê Tôi

Ai về Kinh Bắc miền đất cổ xưa

Gọi lòng để nhớ hai từ Bắc Giang

Bao câu”Quan Họ” câu hát mời trầu

Câu hát trao duyên người ơi đừng về

Đất cổ xưa kinh bắc mãi còn vang

“Làng Thổ Hà” vẫn vang câu quan họ

“Rượu Làng Vân” thơm chén say người

Tôi vẫn đi khắp đường làng ngõ hẹp

Bỗng hiện về cội nguồn “gốm lừng danh”

Đã xưa rồi còn lại những rêu phong

Con đường nhỏ những con ngõ song song

Người nơi đây đặc sản như đã có

Bánh đa nem nổi tiếng đất gần xa

Mời bạn đến thăm Bắc Giang Quê Tôi

Về Lục Ngạn ăn quả vải trên cành

Là”Vải Thiều” của hương rừng gió núi

Rượu men lá bạn đã thử chưa nào

Món “Khâu nhục” ở nơi đây đặc sản

“Sôi trứng kiến” ngon mới lạ làm sao

Tô “Mỳ Chũ” chẳng chê được chút nào

Ôi tự hào nó mới sướng làm sao

Là đặc sản của bắc giang tôi đó

Bạn đã từng lên núi để thăm quan

Hồ cấm sơn mênh mang trời non nước

Về khuôn thần duyên dáng chốn sơn trang

Bạn ơi Hãy tới Sơn Động Bắc Giang

Gió đồng “Cao Nguyên” mát tận tâm hồn

Đêm đốt lửa ,ngồi quây quần ta hát

Tây yên Tử rừng nguyên sinh khe rỗ

Để thiên nhiên chân thật mới trở về

Đến Lục Nam bạn dừng chân nghỉ lại

Mời quả” Na ” ăn củ đậu nơi này

Thấy lòng người qua những cái bắt tay

Ấm áp yêu thương gần gũi thật thà

Ngồi nơi đây Tôi kể để bạn nghe

Đền trung đền thượng hương khói vi vu

“Đền Suối Mỡ” thờ thượng ngàn thánh mẫu

Đất thiêng liêng đưa ta về lịch sử

Sự tích nàng Công chúa Quế mỵ Nương

Người có công khai mở vực Mỡ này

Đừng vội vàng bạn bỏ qua kỳ diệu

Đến Lạng Giang thăm “Dã Hương” nghìn tuổi

Chẳng biết nữa cây có từ bao giờ

Vẫn sừng sững giữa đất trời hiên ngang

Cho người lớn cùng trẻ em bóng mát

Như cấp thêm dinh dưỡng cho nơi này

Bạn thấy không bạn đã nở nụ cười

Cho người Bắc Giang thêm niềm hy vọng

Dẫn bạn đến nơi tâm hồn thanh tịnh

Chùa “Đức La” tức “Vĩnh Nghiêm” bây giờ

Hơn bẩy trăm năm lịch sử khắc ghi

Chốn tổ Vĩnh Nghiêm là nơi thanh tịnh

Nơi bắt đầu Hội phật giáo Đầu Tiên

Huyện yên dũng nhiều điều ta khám phá

Món “Cua Da” rồi “Tương La” đặc sản

Bạn sẽ đến thưởng thức ở nơi này

Không xa nữa đâu chính là Thành Phố

Mua cái”Bánh Đa Kế” để làm quà

Rồi thưởng thức bún chả”Bún Đa Mai”

Ăn bánh đúc đồng quan”Chè Đỗ đãi

Bạn đang thưởng thức mùi vị quê hương

Đặt tay lên môi suỵt tiếng nhẹ nhàng

Nhắc đến bắc giang cảm giác tuyệt vời

Tôi thấy yên bình màu xanh của lá

Cảm giác nhẹ nhàng không khí quê hương

Bạn thấy vui không ta đi câu cá

Về hiệp hoà bắt cá mè ao nuôi

Làm gỏi cá đặc sản của quê hương

Làm mê mẩn biết bao là thực khách

Chỉ nghĩ thôi miệng đã ngọt lắm rồi

“Nham vân xuyên” cho mùi thơm béo ngậy

Tôi chắc bạn muốn nếm thử bạn ơi

Còn muốn thăm quan “Di tích lăng mộ”

Cấp quốc gia đã công nhận nơi này

Đến Bắc Giang đừng bỏ qua Yên Thế

Nơi vùng đất nuôi đặc sản “gà đồi”

Có vườn cây hoa trái thật tốt tươi

“Cam sành Bố Hạ” dinh dưỡng nơi này

Là vùng đất Người Anh Hùng Áo Vải

Hoàng Hoa Thám mãi mãi sẽ còn vang

Xin cho con được cúi đầu tưởng nhớ

Xin Tạ ơn Người áo vải Hoàng Hoa

Còn đây”Di tích khởi nghĩa” vang xa

Cho chúng con hàng năm về tưởng nhớ

Mời bạn đến thăm Bắc Giang Quê Tôi

Để lửa lòng cháy lại những yêu thương

Còn thấy được nét tinh hoa lưu giữ

Nền văn hoá của người xưa để lại

“Chùa Bổ Đà” Việt Yên bạn đã đến

Thấy lối vào cổ kính những rêu phong

Lời ca luyến láy mà say lòng người

Làn quan họ vẫn ngân vang câu hát

Rằng người ơi người ở” í…a” đừng về

Mời bạn đến thăm Bắc Giang Quê Tôi

Bữa cơm đạm bạc mà sang lòng người

Chén rượu nâng lên chén trà thêm nhớ

Tâm sự cuộc đời chuyện bạn và tôi

Chuyện vùng đất mà tôi đang đã kể

Chẳng dấu diếm hay giữ lại trong lòng

Để mời bạn đến với người Bắc Giang

Sáng tác: butdanh hgt

(hoanggia thao)

Bài Hát “bạc Liêu Quê Tôi”: Nhớ Ngày Giải Phóng…

Bài Văn Cảm Nhận Về Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Tế Hanh Hay

Tìm Hiểu Và Nêu Cảm Nhận Của Bản Thân Về Bài Quê Hương Của Tế Hanh

Top 5 Đoạn Văn Mẫu Viết Về Quê Hương Bằng Tiếng Anh Hay Nhất

Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính

Chùm Thơ Hay Viết Về Quê Hương Xứ Kinh Bắc

Hình Ảnh Quê Hương Quảng Bình Trong Thơ Xuân Hoàng

Top 10 Bài Hát Hay Nhất Về Quê Hương Quảng Bình

Bài Thơ Viết Về Quê Hương Để Gửi Cho Những Thế Hệ Sau

Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Tế Hanh

Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Đỗ Trung Quân Có Đoạn: ”quê Hương… Thành Người”. Em Hãy Giải Thích Ý Nghĩa Của Những Câu Thơ Trên Và Nêu Rõ Vai Trò, Tác Dụng Của Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước Với Cuôc Sống Tâm Hồn Của Mỗi Con Người

Tổng hợp những bài thơ hay viết về tình yêu quê hương và văn hóa xứ Kinh Bắc.

Kinh Bắc là tên gọi xưa cũ về địa danh nằm ở phía Bắc nước ta. Văn hóa xứ Kinh Bắc nổi tiếng với: Dân ca quan họ, lễ hội Gióng,… Có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như: đền Sóc, Tây Yên Tử, chùa Phật Tích, chùa Dâu, chùa Vĩnh Nghiêm, Cổ Loa, đền thờ Hai Bà Trung,…

BÀI THƠ: NHỚ VỀ KINH BẮC

Tác giả: Hoa Chu Van

Hàng năm cứ đến tiết xuân

Ai về kinh bắc bước chân nhẹ nhàng

Nghe bài hát đón xuân sang

Dân ca quan họ rộn ràng nơi đây

Niềm thương nỗi nhớ vơi đầy

Sông Cầu nước chảy bóng mây vờn bờ

Quê hương Kinh Bắc mộng mơ

Giao duyên đối đáp trông chờ say mê

Em buông vạt áo bốn bề tứ thân

Tưng bừng đất nước vào xuân

Hội Lim anh nhớ những lần gặp nhau

Thơm nồng vị nặm đậm mầu hồng tươi

Trầu têm cánh phượng em mời

Em trao kỷ vật một đời cho anh

Giao duyên xe kết tác thành

Liền anh liền chị ngọt lành say mê

Sang năm đến đón phu thê một nhà

Hồng tươi đào thắm nở hoa

BÀI THƠ: GẶP EM NƠI LỄ HỘI

Tác giả: Thơ và Tình

Gặp em nơi chốn đông người quá

Chỉ kịp nhìn nhau một phút thôi

E thẹn lườm anh rồi vội vã

Gót sen tung tẩy ở chân đồi

Hội Lim làng xã mở năm nay

Rộn rã làng quê, cả mấy ngày

Duệ Khánh, Lộ Bao đầy đủ hết

Lũng Giang, Đình Cả cũng vừa đây

Đi theo liền chị suốt mấy ngày

Nghe tiếng mà chưa gặp đã say

Em cứ lã lơi cùng mấy chị

Liền anh xao xuyến giáng hao gầy !

Câu hát giao duyên lời giã bạn

Thôn Đông bịn rịn với thôn Đoài

Làng nước cuốn cờ sau lễ hội

Nán lại chờ nhau dưới khóm mai

Xin được cùng em một đoạn đường

Má phấn môi hường đã thấy thương

Mai mốt anh sang bên Đình Cả

Gửi nốt cho mình hết vấn vương !

BÀI THƠ: SANG KINH BẮC

Tác giả: Đồng Kế

Anh buồn hứng nỗi bơ vơ đem về

Còn bao vướng bận câu thề … đa mang

Gió đùa xô chiếc thuyền nan

Câu “Người ơi” hát dở dang bao đời

Mà nghe muốn nuốt từng lời

Giọng em trong vắt ngọt mời vút lên

Miếng trầu cánh phượng em têm

Ăn vào say mãi đến mềm ruột gan

Bao giờ lại hẹn nhau sang

Để ta thiếp thiếp chàng chàng có nhau

Lơ thơ nước chảy sông Cầu

Chia tay trong dạ nỗi sầu đầy vơi

Dùng dằng những hạt mưa rơi

Có thương có nhớ … người ơi … đừng về!

BÀI THƠ: GỞI VỀ MIỀN QUAN HỌ

Tác giả: Mai Trúc

Gởi câu thơ qua miền quan họ

Phía chòng chành dải nón quai thao

Lúng liếng tràn điệu hát ngọt ngào

Nụ tầm xuân gọi bình minh thức

Xuôi sông Cầu về miền Kinh Bắc

Qua cầu dải yếm để tìm nhau

Chiều tràn sóng, thuyền thơ nghiêng ngả

Trong câu hát cánh cò bay lả

Miếng trầu cánh phượng đỏ cả lòng

Lời thơ rơi giữa mênh mông

Mới gặp đây sao đành giã bạn

Chưa kịp cùng em lên quán dốc

Đêm xuân vồi vội mảnh trăng non

Câu thơ buộc câu hát ví von

Còn em buộc hồn tôi vào quan họ.

BÀI THƠ: VỀ KINH BẮC XƯA

Tác giả: Dạ Khúc

Trở về Kinh Bắc một chiều say

Say người, say rượu, say Quan Họ

Say cả con tim với đất này

Ta đã về đây Kinh Bắc ơi!

Một chiều đông sương gió tơi bời

Biên thùy vó ngựa quân Nam réo

Giặc Tống kinh hoàng thây xác phơi

Ta đã về đây với nước non

Đông Đô xưa mấy thuở vàng son

Dấu Tích Cha Ông oai hùng quá!

Lối cũ rêu phong vẫn chửa mòn

Quan Họ ai ca giữa trời chiều

Cho lòng lữ khách bớt cô liêu

Áo the chen nón quai thao ấy!

Đọng lại trong ta biết mấy điều

Ta về Kinh Bắc nhớ Hoàng Cầm

“Bên kia Sông Đuống” người còn không?

Một chiều đông lạnh ta đâu lạnh

Ngâm lại bài thơ ấm cả lòng.

BÀI THƠ: DUYÊN KINH BẮC

Tác giả: Xuân Phong

Dập dìu liền chị liền anh

Bắc Ninh tình lắm, anh càng tình hơn

Bên em anh mới tỏ tường chữ “Yêu”

Têm trầu cánh phượng – nên duyên

Ao dài khăn đóng ! Mạn thuyền người ơi

Người ơi sáng nhớ chiều chờ

Bắc Ninh xuân đậm chữ tình

Xuân này càng đậm chúng mình nên duyên.

BÀI THƠ: VỀ KINH BẮC

Tác giả: Hồ Thanh

Trở về Kinh Bắc một chiều say

Say người, say rượu, say Quan họ…

Say cả con tim với đất này.

Ta đã về đây Kinh Bắc ơi!

Một chiều đông sương gió tơi bời

Biên thùy vó ngựa quân Nam réo

Giặc Tống kinh hoàng thây xác phơi.

Ta đã về đây với Nước non

Đông đô xưa mấy thuở vàng son

Dấu Tích Cha ông oai hùng quá!

Lối cũ rêu phong vẫn chưa mòn?

Quan họ ai ca giữa trời chiều

Cho lòng lữ khách bớt cô liêu

Áo the chen nón quai thao ấy

Đọng lại trong ta biết mấy điều

Ta về Kinh bắc nhớ Hoàng Cầm

“Bên kia sông Đuống” người còn không?

Đất trời có lạnh ta đâu lạnh

Ngâm lại Thơ xưa ấm cả lòng.

Bài Thơ: Bắc Giang Quê Tôi

Bài Hát “bạc Liêu Quê Tôi”: Nhớ Ngày Giải Phóng…

Bài Văn Cảm Nhận Về Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Tế Hanh Hay

Tìm Hiểu Và Nêu Cảm Nhận Của Bản Thân Về Bài Quê Hương Của Tế Hanh

Top 5 Đoạn Văn Mẫu Viết Về Quê Hương Bằng Tiếng Anh Hay Nhất

Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam

Bài Văn Tả Cảnh Quê Hương Vào Buổi Sáng Mùa Hè Lớp 6 Hay Nhất

Chọn Lọc 100 Bài Thơ Về Thầy Cô Giáo Tự Sáng Tác Ngắn Hay Nhất

Những Bài Thơ Về Thầy Cô Hay Nhất ❤️ Thơ Chúc Mừng 20/11

16 Bài Thơ Hay Về Thầy Cô Và Mái Trường Yêu Dấu

Thơ Tiếng Anh Về Thầy Cô

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

“Ai bảo chăn trâu là khổ ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Nhớ những ngày trốn học

Đuổi bướm cầu ao

Mẹ bắt được…

Chưa đánh roi nào đã khóc

Có cô bé nhà bên

Nhìn tôi cười khúc khích…

Cách mạng bùng lên

Rồi kháng chiến trường kỳ

Quê tôi đầy bóng giặc

Từ biệt mẹ tôi đi

Cô bé nhà bên (có ai ngờ)!

Cũng vào du kích

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)

Giữa cuộc hành quân không nói được

một lời…

Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại

Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi

Hòa bình tôi trở về đây

Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

Lại gặp em

Thẹn thùng nép sau cánh cửa

Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

– Chuyện chồng con… (khó nói lắm anh ơi)!

Tôi nắm bàn tay, ngậm ngùi, nhỏ nhắn

Em để yên trong tay tôi nóng bỏng

Hôm nay nhận được tin em

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích em ơi!

Đau xé lòng anh chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn roi

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi

***

Когато бях дете и ходех на училище,

обиквах родната страна

със всяка страница на детската ми книга.

Там пишеше : “Кой казва, че е трудно

да пасеш биволи в гората, на полето ?”

И закопнях за песните на птиците в гората. . .

Понявга майка ме улавяше, когато

край блатото подгонех пеперуда,

вместо да ида в клас. Да бяхте чули

как жално плачех, преди да са ме още били !

Едно момиченце в съседната ни къща

ме гледаше и дяволито се усмихваше.

Покриха вражи сенки моята страна.

Сбогувах се със майка и заминах.

И, представете си, съседското момиче

и то поело в горските усои.

Веднъж случайно я видях по пътя.

Тя пак тъй дяволито се усмихна,

очите й блестяха черно-черни.

Защо така привличаха очите й ?

Не разменихме дума : аз бях в строй,

но се обръщах дълго, много дълго.

Над нас валеше. В мен блестеше слънце.

Мирът настъпи. Върнах се във къщи,

в училище, в оризището при браздите.

И пак видях съседката ни млада,

която криеше главица зад пердето.

Тя се усмихваше – потайна, дяволита.

Когато я запитах един ден

дали сърцето й все е свободно,

“Въпросът ти е, знаеш, неудобен. . .”

отвърна и главата си наведе.

Цял разтреперан, пълнен с бяла нежност,

аз хванах тънките й пръсти.

Тя ги остави да почиват в ръцете ми горещи.

И връхлетя внезапно новината –

така ужасна, че не смея да повярвам :

Убили са те, сестро, о, любима !

Захвърлили те нейде във гората.

Защо ли ? През войната

ти си си била – ето твоя грях.

Сърцето ми раздират остри пръсти.

Не зная, жив ли съм, или съм вече прах. . .

Като дете обичах родната страна за птиците и пеперудите й.

С тях ходех на училище в гората.

Обичам днес страната си, защото всяка нейна шепа пръст

съдържа малко от кръвта на моята любима.

Превел Стефан Гечев

– Bài thơ làm trong một giờ.

“Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – nhà cách mạng Nguyễn Lưu- truyền cho bầu nhiệt huyết, nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính, Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ Quê hương. Thời khắc nghiệt của chiến tranh, tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi, nên tôi chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi kèm cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em, em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai, Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ, cuối cùng cũng nhận được hồi âm… Từ đó, họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955).

Nhà thơ Giang Nam

Cưới xong ở với nhau được đúng hai đêm, ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi Gió mới, hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này, chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa, vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ, ngay sau khi vợ sinh, tôi được tổ chức rút về lại KhánhHoà. Sau đó không lâu, vào một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành, có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Bình Dương). Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi” – Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ Quê hương.

Tạo cảm hứng cho một đời

Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, từ phía sau cặp kính cận, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài Quê hương, tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9.1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ Quê hươngcủa mình và thông báo được giải Nhì báo Văn Nghệ.

Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài Quê hương đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền, cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả” – Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Ha Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong lòng một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ Quê hương của Giang Nam và Núi đôi của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài Quê hươngcủa Giang Nam đau quá! Tuy bài thơ được giải Nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ Quê hương được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” – Giang Nam cho biết.

Nguyễn Quang Sáng, Hoài Vũ, Giang Nam, Chim Trắng ở chiến trường Tây Ninh (năm 1974).

Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ, cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962, bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về, do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu, năm 1968, vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả, nhờ một luật sư giỏi bào chữa. Nhớ lại thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái, tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi, vợ tôi đã trùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. ‘Tận khổ cam lai’, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh. Sau ngày giải phóng, tôi có đi tìm lại người luật sư bào chữa cho vợ tôi để cảm ơn nhưng không gặp”.

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, theo điều động của tổ chức, Giang Nam vào làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978, chấp hành ý kiến của cấp trên, ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN. Năm1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa), Tỉnh ủy Khánh Hòa xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh – Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan, cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với quê hương, với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình, được phục vụ nhân dân, lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ Quê hương nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết, viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.

Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh, có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết. Vì cái đam mê viết nên hiện nay, dù tuổi đã cao, ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa.

Chùm Thơ Người Xa Quê Của Nhiều Tác Giả

Thơ Hay Về Cuộc Sống Xa Quê

Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản

Phân Tích Bài Thơ Thu Hứng Của Đỗ Phủ Để Thấy Được Cảnh Sắc Mùa Thu Và Nỗi Nhớ Quê Hương

Quê Hương Và Nỗi Nhớ Trong Thơ Bùi Đức Ánh

Nhà Thơ Giang Nam Và Bài Thơ Quê Hương

Bài Tả Quả Chuối Lớp 5 Hay Nhất

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Quả Na Đặc Sắc : Nuôi Dưỡng Tâm Hồn Thiếu Nhi

Bài Thơ Quả Na Đặc Sắc : Nuôi Dưỡng Tâm Hồn Thiếu Nhi

Đế Tài Thơ Ăn Quả

Đề Tài: Thơ Ăn Quả Lớp 5 Đến 6 Tuổi

Trong một chuyến đi sáng tác thực tế ở Miền Trung tháng 4/2003 tôi đã gặp nhà thơ Giang Nam qua sự giới thiệu của nhà nhiếp ảnh Nguyễn Viết Thái ( giám đốc nhà sáng tác Nha Trang ). Bài thơ Quê Hương của Giang Nam đã được sự mến mộ của đọc giả qua nhiều năm rồi ,hầu hết đều thuộc nằm lòng. Thật ra trong nền thi ca hiện đại Việt Nam có tới 3 bài thơ mang tên Quê Hương: bài Nhớ con sông Quê hương của Tế Hanh sáng tác thời kháng chiến chống Pháp ( có trong Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 ),bài Quê Hương của Giang Nam trong thời chống Mỹ và bài Quê Hương của Đỗ Trung Quân được nhạc sỹ Giáp Văn Thạch phổ ( sáng tác sau 75).

Bài thơ Quê hương của Giang Nam nói lên nỗi đau thương mất mát tột cùng của những người yêu nước trong thời kì đấu tranh gian khổ nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ ( những năm 60 ) và nó càng lan xa hơn nữa khi được co ánhạc sỹ Phạm Trọng Cầu phổ nhạc:

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…

Một buổi sáng tại số 01 đường Quang Trung – tp Nha Trang ( trụ sở Hội VHNT Nha Trang ) ông kể lại về sự ra đời bài thơ Quê Hương.Bài thơ được sáng tác năm 1960 tại khu căn cứ bí mật Tỉnh uỷ Khánh Hoà ( dưới chân núi Hòn Dù )sau khi nghe tin người vợ thân yêu đang hoạt động nội thành bị giặc bắt tra tấn và hi sinh trong tù. Trong giây phút đau đớn lặng người ông đã viết liền một mạch thơ như trải nỗi đau mình lên trang giấy:

Giặc bắt em rồi quăng mất xác Đau xé lòng anh chết nửa con người …… xưa yêu quê hương vì có hoa có bướm Có những ngày trốn học bị đòn roi…. Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần xương thịt của em tôi

Làm xong bạn bè thấy hay gửi ra Hà Nội,chiến tranh ngày càng ác liệt khiến ông quên bài thơ. Rồi một chiều năm 1961 trên đường hành quân,qua Đài tiếng nói Việt Nam ông mới biết bài thơ mình chiếm giải nhì Tạp chí văn nghệ,đồng đội ăn mừng chiêu đãi ông một nồi chè bắp.Từ đó tên tuổi ông được bạn đọc cả nước biết đến kể cả trong vùng tạm chiếm, sinh viên- học sinh chuyền thơ nhau đọc..

Hiện nay ông vẫn còn tâm huyết với nghề thơ mặc dù đã cao tuổi ( ông sinh năm 1929 tại Ninh Hoà ),các tác phẩm tiêu biểu của ông sau nầy như : Vầng sáng phía chân trời ( 1975) Hạnh phúc từ nay (1978)-Thành phố chưa dừng chân (1987)..

Từ giã ông,tôi nói vui :..ôâng cười nói : – ở Việt nam có ba bài thơ Quê Hương, hai người nhạc sỹ phổ nhạc đều đã mất.. . còn lại nhà thơ Tế Hanh, chú và Đỗ Trung Quân – Đúng vậy! Sanh lão bệnh tử ,thượng đế đã an bài nhưng cái nghiệp văn chương thì đeo bám mãi suốt đời mìmh, con tằm đến thác vẫn còn vương tơ mà…

Trại sáng tác Nha Trang 2003

Đào Thị Nhung @ 12:51 14/07/2009

Số lượt xem: 2856

Trường Thpt Nguyễn Thị Minh Khai

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Giang Nam

Chàng Tây “xuyên Tạc” Thơ Qua Đèo Ngang

Phân Tích Bài Thơ ‘qua Đèo Ngang’của Bà Huyện Thanh Quan

Phân Tích Nhận Xét Của Tế Hanh Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”

Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương

Mạch Cảm Xúc Quê Hương

Những Bài Thơ Hay Về Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước

+ 500 Bài Thơ Về Tình Yêu Quê Hương Đất Nước Con Người

Những Lời Chúc, Bài Thơ Và Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Nhà Giáo ⋆ Sie.vn

Những Bài Thơ Hay Về Thầy Cô Cho Trẻ Mầm Non Nhân Ngày 20/11

    Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ…

    Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ…

    Ở phần mở đầu bài thơ: Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/“Ai bảo chăn trâu là khổ?”/Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…, có lẽ lúc hoài niệm về thời thơ ấu, trong ký ức của tác giả đã hiện lên thấp thoáng những câu hát của… Phạm Duy: Ai bảo chăn trâu là khổ?Chăn trâu sướng lắm chứ!Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao… (Em bé quê). Bởi nếu không thì tác giả đã không để câu Ai bảo chăn trâu là khổ trong ngoặc kép. Tuy nhiên, dẫu có như vậy thì câu này cũng liền mạch với một tứ thơ hết sức trong trẻo, hồn nhiên: … Những ngày trốn học/Đuổi bướm cầu ao/Mẹ bắt được/Chưa đánh roi nào đã khóc!/Có cô bé nhà bên/Nhìn tôi cười khúc khích… Một điều chắc chắn rằng, sở dĩ bài thơ có sức hấp dẫn người đọc là bởi tuy tác giả sử dụng những câu chữ mộc mạc nhưng lại khéo dụng công ở những lần “cô bé nhà bên cười khúc khích”, tạo nên một ấn tượng khó quên…

“Cô bé” ấy là ai?

        “Cô bé” ấy tên thật là Phạm Thị Triều, sinh ra trong một gia đình có nghề làm mắm gia truyền ở Vĩnh Trường (Nha Trang). Nghề làm mắm cũng là để đóng góp kinh tài cho cách mạng. Cô bé Triều mới “trổ mã” đã theo chị gái lên căn cứ Đồng Bò. Gia đình thấy Triều còn nhỏ quá, cho người nhắn về nhưng cô nhất quyết không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, Triều được điều về làm ở khối Dân chính của Tỉnh ủy Phú Khánh, đóng ở Đá Bàn. Chính nơi đây, cô đã gặp chàng trai sau này trở thành nhà thơ Giang Nam…

    Còn anh chàng Nguyễn Sung (tên thật của Giang Nam), mới 16 tuổi đã bỏ học giữa chừng vì nhà trường đóng cửa do thời cuộc (Nhật đảo chính Pháp tháng 8.1945). Cậu theo anh trai là nhà cách mạng Nguyễn Lưu tham gia Việt Minh ở mặt trận Phú Khánh. Khoảng đầu năm 1954, Nguyễn Sung được điều về căn cứ Đá Bàn và anh bộ đội trẻ đã “ngẩn ngơ” trong lần đầu gặp Phạm Thị Triều.

    Ít lâu sau anh biết thêm rằng không phải chỉ mình anh mà cả đám lính trẻ cũng thường tìm cớ này, cớ nọ để tạt vào cơ quan chỉ để… nhìn cô Triều một cái. “Bạo phổi” lắm thì cũng chỉ nói vu vơ một câu rồi… biến! Chuyện yêu đương, trai gái trong cùng tổ chức hồi ấy hầu như bị cấm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, là một anh lính có “chút thơ văn” nên Nguyễn Sung vẫn nghĩ được cách tiếp cận người đẹp. Trước tiên, anh vận dụng khả năng thơ văn của mình để được giao nhiệm vụ chạy công văn. Và thế là mỗi lần đưa công văn đến cơ quan, anh lại kèm theo một lá thư (viết sẵn) cho nàng mà không nói năng, hỏi han gì thêm vì sợ lộ. Phải hơn một tuần sau lá thư thứ hai, anh mới “sướng rêm người” khi được nàng “ừ” (trong bức thư hồi âm)…

    Yêu nhau “kín đáo” như thế mà vẫn không giấu được ai, may mà cả anh lẫn chị đều được anh em thương mến nên trước ngày anh ra Bình Định tham gia Đoàn Sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Genève, cơ quan đã tổ chức đám cưới cho họ. Sống với nhau được hai đêm thì anh lên đường, còn chị trở lại Nha Trang… Từ buổi đó, đôi vợ chồng trẻ phải luôn chịu cảnh xa cách, gian truân…

    Sau Hiệp định Genève (tháng 7.1954), Nguyễn Sung vào hoạt động trong lòng địch, trong vai trò công nhân ở một xưởng cưa và âm thầm viết cho tờ Gió mới – là tờ báo hợp pháp ở Nha Trang. Tuy hoạt động cùng địa bàn nhưng đôi vợ chồng son vẫn không thể gặp nhau vì khác tuyến, phải tuân giữ kỷ luật khắt khe để không bị lộ… Mãi đến năm 1958, tổ chức chuyển vùng công tác cho họ vào Biên Hòa thì họ mới thật sự có những ngày hạnh phúc bên nhau, dù khoảng thời gian này cũng rất ngắn ngủi. Họ thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo. Ông làm mướn cho một nhà thầu khoán, còn bà buôn bán lặt vặt…

    Một thời gian sau, tổ chức lại rút ông về lại Khánh Hòa, bà Triều ở lại một mình nuôi con. Mỗi đêm, nghe con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà Triều phải lấy chiếc áo cũ của chồng đắp lên người con để “có hơi của ông ấy cho nó nín khóc”. Sau này, ông đã mượn lời vợ, và mượn luôn sự cố khóc đêm của con để bày tỏ nỗi nhớ thương: Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/Nó khóc làm em cũng khóc theo/Anh gởi về em manh áo cũ/Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều… (Lá thư thành phố).

Quê hương ra đời trong hoàn cảnh nào?

    Trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, Giang Nam đã kể lại như sau: “Bài thơ Quê hương ra đời năm 1960, dưới chân núi Hòn Dù, cách chúng tôi Trang hơn 40 cây số về phía tây. Lúc ấy, tôi đang là Phó ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Chiều hôm ấy, anh Phó bí thư Tỉnh ủy đã gọi tôi lên chỗ anh ở (một căn chòi nhỏ giữa rừng). Anh ân cần hỏi thăm tôi về tình hình công tác, sức khỏe… Tôi linh cảm thấy có điều gì không bình thường. Quả nhiên sau đó, anh nói thật: Tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu… Tôi bàng hoàng, trời đất như sập xuống đầu mình… Trong nỗi đau đớn tột cùng, tôi ngồi trong căn chòi nhỏ, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín ba mặt, tôi đã viết một mạch xong bài thơ, không xóa sửa chút nào… Không phải tôi làm thơ mà là ghi lại những ký ức, những hình ảnh đã trở thành máu thịt trong tôi. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra, nhất là ở hai câu cuối của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”.

    Bài thơ được ký tên Giang Nam, bởi dạo còn đi học ông rất thích những câu thơ của Hồ Dzếnh: Tô Châu lớp lớp phủ kiều/Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam… Sau đó, ông gửi bài thơ theo đường giao liên cho Báo Thống Nhất (Hà Nội), vì chỉ có tờ báo này được chuyển vào chiến trường phía Nam. Khoảng tháng 8.1961, trên đường công tác qua huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), qua chiếc radio, ông nghe Đài phát thanh Việt Nam đọc bài thơ Quê hương và thông báo bài thơ này đoạt giải nhì của Báo Văn nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, hình ảnh thân yêu của vợ con ông lại ùa về, ông bật khóc…

    Đinh ninh là vợ con mình đã chết, Giang Nam lao vào công tác, nhất là trên mặt trận văn hóa. Bỗng giữa năm 1962, vợ con ông được thả về vì địch không tìm được chứng cứ. Sum họp chưa được bao lâu, vợ ông lại bị bắt lần thứ hai (1968), đứa con gái cứ bám riết lấy mẹ nên cũng… bị tù. Mãi đến năm 1973 họ mới được trả tự do…

    Hiện nay, đôi “bách niên – đồng chí” đều đã qua ngưỡng tuổi 80, họ vẫn hạnh phúc bên nhau trong căn nhà số 46 đường Yersin (TP.Nha Trang).

Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam Chi Tiết

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Quê Hương”

Phân Tích Bài Thơ Quê Hương ( Tế Hanh )

“Bài Thơ Quê Hương”, Một Bài Thơ Ít Biết Của Nguyễn Bính – Nguyễn Đình Minh – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một ?

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Giang Nam

Trường Thpt Nguyễn Thị Minh Khai

Nhà Thơ Giang Nam Và Bài Thơ Quê Hương

Bài Tả Quả Chuối Lớp 5 Hay Nhất

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Quả Na Đặc Sắc : Nuôi Dưỡng Tâm Hồn Thiếu Nhi

Bài Thơ Quả Na Đặc Sắc : Nuôi Dưỡng Tâm Hồn Thiếu Nhi

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Những ngày trốn học

Đuổi bướm cầu ao

Mẹ bắt được…

Chưa đánh roi nào đã khóc!

Có cô bé nhà bên

Nhìn tôi cười khúc khích…

***

Cách mạng bùng lên

Rồi kháng chiến trường kỳ

Quê tôi đầy bóng giặc

Từ biệt mẹ tôi đi

Cô bé nhà bên – (có ai ngờ!)

Cũng vào du kích

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời

Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại…

Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi…

***

Hoà bình tôi trở về đây

Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

Lại gặp em

Thẹn thùng nép sau cánh cửa…

Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)

Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng…

Hôm nay nhận được tin em

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích, em ơi!

Đau xé lòng anh, chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn roi…

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi

1960

Bài thơ được sáng tác năm 1960 tại khu căn cứ bí mật Tỉnh uỷ Khánh Hoà ( dưới chân núi Hòn Dù )sau khi nghe tin người vợ thân yêu đang hoạt động nội thành bị giặc bắt tra tấn và hi sinh trong tù. Trong giây phút đau đớn lặng người ông đã viết liền một mạch thơ như trải nỗi đau mình lên trang giấy

Cảm nhận về bài thơ Quê hương của nhà thơ Giang Nam

Quê hương, chỉ hai từ thôi nhưng vô cùng thân thương đến lạ. Quê hương, nơi mình sinh ra, nơi mình lớn lên, nơi lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ. Khi nhắc đến quê hương ai cũng cảm thấy tự hào, đó là một thứ tình cảm vô cùng thiêng liêng và cao cả.

Và với bài thơ Quê hương của nhà thơ Giang Nam cũng thế. Quê hương, dòng chảy bất tận của ký ức, quê hương là nơi ta tìm về sau những phong ba của cuộc đời.

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.

Những ngày trốn học

Đuổi bướm cầu ao

Mẹ bắt được…

Chưa đánh roi nào đã khóc

Có cô bé nhà bên

Nhìn tôi cười khúc khích

Mắt đen tròn thương thương quá đi thôi.

Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ về tuổi thơ, là niềm thương nhớ và yêu quê hương từ thuở “cắp sách tới trường” từ thuở “chăn trâu cắt cỏ”. Không gian thơ mở ra với bàng bạc nỗi nhớ về thuở ấu thơ, với những trò nghịch ngợm của trẻ thơ đó là “trốn học”, “đuổi bướm…Những vần thơ mộc mạc, giản dị càng đọc càng thấm thía về một quê hương tuổi thơ trong kỉ niệm.

Dòng thời gian trôi mãi, tuổi thơ rồi lớn lên, đất nước kêu gọi, cậu bé ngày ấy nay đã trưởng thành, lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Thật bất ngờ, “cô bé nhà bên” ngày xưa ấy cũng trở thành đồng chí:

Cách mạng bùng lên

Rồi kháng chiến trường kì

Quê tôi đầy bóng giặc.

Từ biệt mẹ tôi đi

Cô bé nhà bên – (có ai ngờ)

Cũng vào du kích.

Tình bạn trẻ thơ giờ đã trưởng thành thêm một bậc, sự trưởng thành này phù hợp với hoàn cảnh xã hội chung lúc bấy giờ, như một điều tất yếu.

Chính vì có được nền tảng là tình bạn từ những ngày ấu thơ nên khi bất chợt gặp nhau trên giữa đường hành quân, dẫu “mưa đầy trời” nhưng chàng trai vẫn thấy “lòng tôi ấm mãi” bởi nụ cười khúc khích và cảm xúc “thương thương quá đi thôi” đan xen giữa quá khứ và hiện tại.

Chiến tranh, kẻ thù xâm lược dẫu tàn ác cũng không xóa bỏ được nét trong trẻo trong tâm hồn của những chàng trai cô gái một thời. Họ vượt lên trên sự tàn ác của kẻ thù bằng chính sự thiện lương, trong trẻo được nuôi dưỡng bởi chiều sâu văn hóa, tình người của dân tộc. Điều này Nguyễn Đình Thi đã từng thể hiện:

Xiềng xích chúng bay không khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay không ngăn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà (Nguyễn Đình Thi – Đất nước).

Bởi thế mà dù trải qua bao thăng trầm, bao súng đạn, bao chiến trường, ngày gặp lại, cô gái ngày xưa ấy vẫn

“Thẹn thùng nép sau cánh cửa

Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)”.

Điệu cười khúc khích như điệp khúc, như từng đợt sóng lòng trùng điệp mà đợt sau cao hơn đợt trước; để rồi chàng trai không cầm lòng được mà:

“Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng…”

Tình yêu thời chiến đến thật nhẹ nhàng như một điều hiển nhiên. Tình yêu đôi lứa ấy được đặt trên nền tảng vững chắc của tình bạn thuở ấu thơ và tình đồng chí, cùng chung lí tưởng của khi trưởng thành.

Chính điều này làm cho tình yêu lứa đôi hòa vào tình yêu quê hương đất nước, cái riêng đã hòa vào cái chung khiến cho tình yêu chung cho quê hương thêm sâu sắc mà cũng khiến cho tình cảm riêng càng trở nên rộng lớn, bền vững hơn.

Ít ai biết bài thơ có một nguyên mẫu trong đời thực: “cô bé nhà bên” chính là người vợ, người bạn đời của tác giả. Hoàn cảnh bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh khá đặt biệt: Năm 1960, nhà thơ nhận được tin vợ và con mình bị giặc giết hại trong nhà tù Phú Lợi; cảm xúc cuộn lên chất ngất, ngay trong đêm bài thơ được ra đời, những câu thơ cứ ùa về cùng với nỗi đau không thể kìm nén:

Hôm nay nhận được tin em

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích, em ơi!

Đau xé lòng anh chết nửa con người.

Nỗi đau xót đến tê tái, đến chết lịm người khi nghe tin “em” bị “giặc bắn em rôi quăng mất xác” tình cảm càng bền vững, càng nên thơ khi mất càng gây đau đớn. Từ cô bạn ấu thơ, rồi đồng đội đồng chí, đến người yêu, giờ “giặc bắn em rồi quăng mất xác” càng đau đớn, càng xót xa và tố cáo tội ác của giặc xâm lược.

Tình yêu quê hương bây giờ đã khác:

Xưa yêu quê hương vì có hoa có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn roi

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi.

Tình riêng giờ hòa vào tình chung, không chỉ là ở nghĩa biểu tượng mà ở nghĩa thực của nó. Quê hương không chỉ là khái niệm chung chung mà gắn với người con gái ta yêu, là một phần của cuộc đời, một phần không thể tách rời của thân thể.

Chàng Tây “xuyên Tạc” Thơ Qua Đèo Ngang

Phân Tích Bài Thơ ‘qua Đèo Ngang’của Bà Huyện Thanh Quan

Phân Tích Nhận Xét Của Tế Hanh Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”

Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Đôi Điều Cảm Nhận Bài Thơ “qua Đèo Ngang” Củabàhuyện Thanh Quan

Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam Chi Tiết

Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương

Mạch Cảm Xúc Quê Hương

Những Bài Thơ Hay Về Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước

+ 500 Bài Thơ Về Tình Yêu Quê Hương Đất Nước Con Người

Những Lời Chúc, Bài Thơ Và Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Nhà Giáo ⋆ Sie.vn

Phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam ta thấy được câu chuyện nhớ thương của những con người có chung kỷ niệm, chung lý tưởng. 

Bài thơ Quê hương của Giang Nam đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi, ca, nhạc, họa. Đây là bài thơ đánh dấu sự nghiệp thi cả của nhà thơ Giang Nam. Đã có nhiều phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam. Qua những phân tích ấy ta thấy được nỗi lòng nhớ thương giai dẳng của những con người bằng bức tranh quê hương rõ nét.

Phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam

Nhà thơ Giang Nam tên thật là Nguyễn Sung, sinh năm 1929. Ông là một nhà thơ nổi tiếng với nhiều tác phẩm đi vào lòng người. Phong cách thơ của Giang Nam luôn mang bóng hình của quê hương, đất nước. Và Quê hương chính là một trong những tác phẩm thơ nổi bật của Giang Nam. 

Bài thơ được sáng tác năm 1960 khi Giang Nam đang hoạt động ở căn cứ Hòn Du. Bài thơ đậm chất tự sự, đó như là một đoạn ghi chép chân thật nhất về tâm trạng của nhà thơ khi nghe tin người vợ dấu yêu của mình bị giặc bắt và hy sinh. Phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam ta sẽ thấy được nỗi buồn chất chứa sâu thẳm trong từng câu chữ. 

Qua 35 câu thơ, Giang Nam đã kể rất rõ câu chuyện chứa đựng đầy kỷ niệm, niềm vui và không khỏi xót xa của những người cùng chung lý tưởng. 

Luận điểm 1: Phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam – bóng hình quê hương trong ánh mắt tuổi thơ

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Những ngày trốn học

Đuổi bướm cầu ao

Mẹ bắt được

Chưa đánh roi nào đã khóc

Có cô bé nhà bên

Nhìn tôi cười khúc khích…

Mở đầu bài thơ, bức tranh thiên nhiên mang bóng hình quê hương hiện ra thật nhẹ nhàng mà đầy sâu sắc. Quê hương là những điều gần gũi, thân quen nhất. Tác giả yêu quê hương “qua từng trang sách nhỏ”, đó là nơi nuôi dưỡng tâm hồn và vun đắp cho những ước mơ. Trong mắt tác giả, quê hương luôn là điều hạnh phúc nhất. “Ai bảo chăn trâu là khổ” có lẽ là câu hỏi đặt ra cho người và cũng là cho chính mình. Chăn trâu, cắt cỏ chính là những điều gần gũi, thân thuộc nhất với quê hương. 

Thế rồi, những hình ảnh trữ tình cứ thế xuất hiện. Cậu bé chăn trâu ấy “mơ màng nghe chim hót trên cao”, quê hương lúc ấy sao lại bình yên đến vậy. Không chỉ là không gian gần gũi, thân thuộc, quê hương trong lòng Giang Nam còn là những ngày trốn học “đuổi bướm cầu ao”. Dường như đây là kỷ niệm mà bất cứ đứa trẻ con vùng quê nào cũng từng trải qua. Bằng một câu thơ, Giang Nam đã làm ký ức ùa về trong bao người. Ấy rồi những trận đòn của mẹ trong ký ức của tác giả lại trở nên thân thương đến lạ.

Hình ảnh cô bé nhà bên “nhìn tôi cười khúc khích” càng làm cho sự gần gũi của quê hương trở nên thân thuộc. Tuổi thơ ai chẳng có một cô bé nhà bên chuyên để chọc ghẹo, cùng làm những điều nghịch ngợm của tuổi thơ. Cô bé nhà bên ấy có lẽ là nhân vật trữ tình gắn bó thân thuộc với tác giả từ trong ký ức tuổi thơ đến khi trưởng thành.  

Luận điểm 2: Sự trưởng thành về nhận thức và tình yêu chớm nở của đôi trẻ

Quê hương hiện lên trong mắt trẻ thơ thật nhẹ nhàng. Cùng với những kỷ niệm tuổi thơ ùa về ấy là sự trưởng thành của nhân vật trữ tình. Dường như, dù lớn lên xa quê hương thì hình bóng ấy vẫn mãi theo suốt cuộc đời của nhân vật. 

Cách mạng bùng lên

Rồi kháng chiến trường kỳ

Quê tôi đầy bóng giặc

Từ biệt mẹ, tôi đi

Kháng chiến nổ ra, chàng thanh niên phải từ biệt mẹ, từ biệt quê hương để lên đường chiến đấu. Hình ảnh “quê tôi đầy bóng giặc” thể hiện khát khao chờ một ngày mai không còn bóng thù. Thế nên, bằng ý chí, bằng tình yêu quê hương đất nước da diết, chàng trai ấy sẵn sàng lên đường. Ở đây, Giang Nam đã dùng từ “từ biệt” thay vì “chào” càng khiến người đọc cảm giác một sự khắc nghiệt, xót xa. Có thể lần ra đi ấy sẽ chẳng thể nào quay trở về với mẹ, với quê hương. Nhưng sao nghe “từ biệt” thốt ra nó lại nhẹ tựa lông hồng vậy. Có lẽ vì quê hương, đất nước, chàng trai ấy sẵn sàng chiến đấu, không ngại mưa bom, bão đạn. Thế rồi, trong hoàn cảnh ấy, tác giả lại bất ngờ hơn nữa vì gặp được cô bé nhà bên. 

Cô bé nhà bên (có ai ngờ)

Cũng vào du kích

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn (thương quá đi thôi)

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời

Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại

Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi

Hình ảnh cô bé nhà bên vẫn hiện lên thật đẹp. Nếu tác giả sẵn sàng lên đường ra trận, thì cô bé nhà bên cũng sẵn sàng vào du kích. Có lẽ đây là điều tác giả chẳng ngờ vì cô gái nhỏ bé, mong manh ấy. Vẫn là nụ cười khúc khích, vẫn là đôi mắt đen tròn sao hôm nay gặp cô bé tác giả lại thương đến lạ. Đó là cảm xúc của một người hàng xóm, hay là cảm xúc của một chàng trai, tác giả cũng không biết nữa. 

Nhưng chính cô bé nhà bên ấy lại mang đến cảm giác ấm áp trong lòng cho tác giả. Dù rằng “giữa cuộc hành quân không nói được một lời”, nhưng có lẽ bao lời chất chứa đã được thể hiện qua ánh mắt nhìn nhau. Cảm xúc ấy đã ghim chặt trong lòng tác giả, thế nên:

Hòa bình tôi trở về đây

Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

Lại gặp em

Thẹn thùng nép sau cánh cửa

Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)

Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng

Cô bé nhà bên đã gắn bó với tác giả từ những ngày tháng tuổi thơ. Đến khi trưởng thành, hòa bình lập lại, cô bé ấy vẫn giữ một vị trí trong lòng tác giả. Cô bé ấy là đại diện cho quê hương, cho những kỷ niệm đẹp đẽ. Hình ảnh “thẹn thùng nép sau cánh cửa” của cô bé sao mà thân thương đến lạ. Đó như một cảm xúc e ấp của một cô thiếu nữ đôi mươi. Trong mắt của tác giả, cô bé nhà bên ấy vẫn mang điệu cười khúc khích của tuổi thơ. Nó càng làm cho hình ảnh quê hương thêm sâu đậm, ý nghĩa. 

Thế rồi, tác giả chẳng ngại ngần bày tỏ tình cảm với cô bé ấy. Có lẽ tình cảm đó đã được Giang Nam giấu kín từ những ngày tuổi thơ, khi mẹ đánh đòn bị cô bé ấy bắt gặp. Tác giả đã chủ động “nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn” để giải bày tâm sự. Và cô bé ấy, có lẽ sâu trong lòng cũng đã gắn bó thân thiết với tác giả rồi, thế nên “em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng”. Đây là sự phát triển vượt bậc trong tình cảm của đôi nam thanh nữ tú ấy. Đó không chỉ là tình cảm đơn thuần, đó còn là tình yêu của những con người cùng chung chí hướng, cùng mong muốn mang đến những điều tốt đẹp cho quê hương. 

Luận điểm 3: Sự đau xót đến tột cùng khi người yêu thương nhất hy sinh

Tình cảm mới chớm nở của đôi trai gái ấy lại bỗng hóa thành những điều đau đớn, xót xa. Vì chiến tranh, vì bom đạn, cô gái nhỏ của tác giả đã hy sinh.

Hôm nay nhận được tin em

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi, quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích em ơi!

Đau xé lòng tôi, chết nửa con người

Sự hy sinh của em gái hàng xóm là một cú sốc với tác giả. Dường như tác giả không tin vào mắt mình. Nỗi đau ấy đã quá sức chịu đựng của con người, không một lời nào có thể diễn tả nổi. Đau đớn hơn khi em hy sinh còn bị “quăng mất xác”. Đó là nỗi đau chất chứa không thể nào nguôi ngoài. “Chỉ vì em là du kích em ơi” dường như ẩn chứa bao điều. Nó không chỉ là nỗi đau xé lòng, nó còn như lời than trách cuộc đời. Vì chiến tranh, và vì em là du kích nên mới xảy ra cớ sự như vậy. Nỗi đau ấy làm tác giả “chết nửa con người”. 

Và từ khi “em” ra đi, quê hương không còn những điều vui vẻ, lạ thường nữa. Trước kia, tác giả yêu quê hương vì những điều thân thuộc, vì thiên nhiên mênh mang có chim, có bướm và có cả đòn roi của mẹ. Nhưng nay, tác giả yêu quê hương “vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi”. Đó là tình yêu bao la trời bể, tình yêu ấy chất chứa kỷ niệm và hơn hết, quê hương ấy có “em” nằm đấy. 

Lời kết

Quê hương của Giang Nam mang đầy đủ nỗi niềm. Bằng việc sử dụng từ ngữ sinh động, nghệ thuật miêu tả tinh tế, tác giả đã mở ra bức tranh quê hương thật gần gũi, thân thuộc nhưng cũng thật day dứt. Phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam làm ta càng yêu hơn mảnh đất mình đang sống, trân quý những điều gọi là kỷ niệm. 

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Quê Hương”

Phân Tích Bài Thơ Quê Hương ( Tế Hanh )

“Bài Thơ Quê Hương”, Một Bài Thơ Ít Biết Của Nguyễn Bính – Nguyễn Đình Minh – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một ?

Soạn Bài: Quê Hương – Ngữ Văn 8 Tập 2

Chùm Thơ Về Quê Hương Bắc Ninh Của Nguyễn Tất Đình Vân

Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Bắc Ninh

Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Quê Hương Đất Nước, Con Người

Những Vần Thơ Còn Lại

Trần Hà Nam Bình Văn Thơ

3 Bài Tứ Tuyệt Về Châu Mộc

 

Nguyễn Tất Đình Vân

 

VỀ NƠI   KINH BẮC

Về nơi Kinh Bắc sông Cầu

Câu ca sóng vỗ, trăng thâu xuôi dòng

Tượng đài vua Lý Thái Tông

Đứng bên chiến tuyến* giữa dòng dân ca

 

Liền chị mặt phấn môi hoa

Liền anh trai tráng những là giai nhân

Sông Cầu sóng sánh mùa xuân

Qua cầu giải yếm đến gần bờ tim

 

Mơ say ba sáu tiếng chim

Bổng trầm giọng cổ ,giọng kim bổng trầm

*chiến tuyến sông Như Nguyệt ngày xưa nay là sông Cầu

 

THIÊN SỬ

Nguyên khí ngàn năm tụ núi sông

Lắng vào Xuân thắm – rực cờ hồng

Nước non thống nhất rạng danh Việt

Thiên sử vẻ vang lừng chiến công

 

 

DI SẢN NGÀN NĂM

Dân ca Quan Họ gốc quê mình*

Di sản ngàn năm thắm nghĩa tình

Vũ trụ vọng vang hồn đất Việt

Lại lên đến hẹn nhớ  “Trúc xinh” .

( *quê Bắc Ninh)

                

HOÀNG HÔN

Hoàng hôn lơ lửng cánh diều

Tiểu đồng sáo trúc vọng chiều quê hương

Mãi còn một thuở vấn vương

Chênh chao lem lấm đoạn đường mưu sinh

Hội mùa em hát trúc xinh

Cái ngày soi bóng giếng đình chung đôi

Nụ cười em hút hồn tôi

Hương xuân ấm áp đôi môi ngỡ ngàng

Bóng em lộng bóng trăng vàng

Trên đồng cấy lúa những hàng mạ xanh

Ánh trăng lấp lánh xung quanh

Đã mơ ngày gặt ngọt lành cơm quê

Hoàng hôn tím đậm chiều về

Nghe hàng cây hát gió vê nhịp đàn

Nhớ ngày đánh đuổi giặc tan

Nhớ em cô gái chứa chan tình đời,,,

 

HỘI XUÂN

Hội xuân áo thắm yếm hồng

Tóc thề buông xõa hương đồng vương theo

Câu ca lúng liếng mái chèo

Ba tầm em đựng trong veo tiếng cười

 

“Đùng về… Người ở… Người ơi !”

Trầu têm cánh phượng em mời người ăn

Trầu này trầu ái trầu ân

Ô đen nón thúng tình thân muôn đời

 

Mùa xuân non nước đẹp tươi

Nụ hoa muôn sắc đất trời thêm xanh

Lời ca rót mật ngọt lành

Hội xuân giã bạn… hẹn anh… thăm nhà …

 

CHỢ DÂU

Phiên chợ Dâu tháng mấy lần ?

Háo hức những quang cùng gánh

Chen chúc câu hỏi lời chào

Như say như tỉnh giấc chiêm bao

 

Một tháng mấy lần phiên chợ Dâu ?

Đâu rồi chợ phiên của “làng bầu”  (làng Công Hà)

Xưa có hai làng sen nhau họy còn chợ Dâu ngồi … mãi cầu …

 

hà tầng chen chúc mãi bên nhau

Còn đâu lán chợ của “làng bầu”

Vành đai chợ Dâu không giữ nổi

Bán mua , mua bán … bờ sông Dâu

 

“Dù ai đi đẩu đi đâu 

Cứ trông cái tháp chùa Dâu thì về !”

Tôi về tìm lại đam mê

Hội Dâu rước hội tổng quê phật bà

 

“Tứ Pháp”nay bóng nhạt nhòa

Luy Lâu đâu có còn là trăng soi

Sông Dâu con nước đầy vơi 

Trôi qua năm tháng…  bao đời cỏ xanh ?

 

 

NHỚ ĐÊM

Nhớ đêm toàn thắng cờ bay

Lời em hẹn ước anh nay mang về

Mà em ở lại sơn khê

Tuổi xuân xanh mãi,  không về miền quê !!!

Nhớ đêm trăng sáng bờ đê

Hương tình ngây ngất vai kề bên nhau

Nhớ đêm bay áo qua cầu

Nồng nàn trao nụ hôn đầu say mê

Nhớ đêm thuyền lướt sông quê

Câu ca Quan Họ theo về cùng anh

Nhớ đêm gió mát trăng thanh 

Chẻ tre vót đũa… so thành một đôi

Nhớ đêm trăng đã lặn rồi

Em về anh vẫn còn ngồi mộng mơ

Vẳng nghe sóng vỗ đôi bờ

Trái tim đỗi nhịp đợi chờ ngày vui…

 

Các Bài Hát, Bài Thơ, Truyện Chủ Đề ” Quê Hương

+777 Bài Thơ 4 Câu Về Quê Hương, Đất Nước, Con Người

Thủ Tướng Khen Cô Giáo Ở Gia Lai Làm Thơ Hay Cổ Vũ Chống Dịch Covid

Những Vần Thơ Thấm Đượm Nỗi Nhớ Của Cô Giáo Mầm Non

Những Bài Thơ Xúc Động Về Nghề Gvmn

Các Bài Thơ Về Chủ Đề Quê Hương Đất Nước Bắc Hồ

Soạn Bài: Quê Hương – Ngữ Văn 8 Tập 2

Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một ?

“Bài Thơ Quê Hương”, Một Bài Thơ Ít Biết Của Nguyễn Bính – Nguyễn Đình Minh – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Phân Tích Bài Thơ Quê Hương ( Tế Hanh )

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Quê Hương”

1.Thơ: “ về quê”

“ Nghỉ hè bé lại thăm quê

Được đi lên rẫy, được về tắm sông

Thăm bà rồi lại thăm ông

Thả diều câu cá sướng không chi bằng

Đêm về bé ngắm ông trăng

Nghe ông kể chuyện chị Hằng ngày xưa

Bà rang đậu lạc thơm chưa

Mời ông bà, bé say sưa chuyện trò”

( Nguyễn Thắng)

2.Thơ: “ Ảnh Bác”

Nhà em treo ảnh Bác Hồ

Bên trên là một lá cờ

Ngày ngày Bác mỉm miệng cười

Bác nhìn chúng cháu vui chơi trong nhà

Ngoài sân có mấy con gà

Ngoài vườn có mấy quả na chín rồi

Em nghe như Bác dạy lời

Cháu ơi đừng có chơi bời đâu xa

Trồng rau, quét bếp, đuổi gà

Thấy tàu bay Mĩ nhớ ra hầm ngồi

*

Bác lo bao việc trên đời

Ngày ngày Bác vẫn mỉm cười với em…

Trần Đăng Khoa

3.Thơ: “ bác Hồ của em”

Khi em ra đời

Đã không còn Bác

Chỉ còn tiếng hát

Chỉ còn lời ca

Chỉ còn câu chuyện

Chỉ còn bài thơ

Mà em vẫn thấy Bác sao rất gần

Năm điều Bác dạy mãi còn vang ngân

4. Dậy sớm

Ai dậy sớm

Bước ra nhà

Cau ra hoa

Đang chờ đón

Ai dạy sớm

Đi ra đồng

Có vầng đông

Đang chờ đón

Ai dậy sớm

Chạy lên đồi

Cả đất trời

Đang chờ đón

(Võ Quảng)

5.Hồ Sen

Hoa sen đã nở

Rực rỡ đầy hồ

Thoang thoảng gió đưa

Mùi hương thơm ngát

Lá sen xanh mát

Đọng hạt sương đêm

Gió rung êm đềm

Sương long lanh chạy.

(Nhược Thủy)

6. Bác thăm nhà cháu

Hôm nao Bác đấn thăm nhà

Cháu vui vui cả là hoa ngoài vườn

Bác ôm đầu cháu Bác hôn

Bác thương em cháu xúc cơm vụng về

Bác ngồi ngay ở bên hè

Bón cho em cháu những thìa cơm ngon

Nhìn em mắt sáng xoe tròn…

7. BÔNG SEN DÂNG BÁC

Bông sen đầu mùa

Hương thơm đất nước

Cháu dâng lên Bác

Bác Hồ kính yêu

Nhớ lại một chiều,Mừng sinh nhật

BácTrắm con chim hót

Trăm đóa hoa thơm

Chúng cháu là chim

Là hoa quanh Bác

Ôi gương mặt Bác

Hống hào vui tươi

Bác nói Bác cười

Bác hôn từng đứa

Kẹo thơm mùi sữa

Bác trao đầy tay

Bác ơi từng ngày

Cháu vẫn còn thấy

Bàn tay bác vẫy

Mắt hiền nhìn theo.

Sưu Tầm Một Số Bài Thơ Hay Về Chủ Đề “quê Hương

Bài Thơ Viết Thay Một Nỗi Lòng

Sơn La Ký Sự

Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Quê Hương” – Đỗ Trung Quân & Giáp Văn Thạch

Những Bài Thơ Ca Ngợi Miền Quê Việt Nam Rất Đỗi Giản Dị Và Thanh Bình

Chùm Thơ Hay Viết Về Quê Hương Cần Thơ

Những Câu Thơ Thư Pháp Hay Về Quê Hương

“nghĩa Lộ Mùa Ban” Tập Thơ Thắm Đượm Tình Thơ

Nhà Thơ Ngọc Khương Với Quê Hương Quảng Bình

Những Bài Thơ Hay Viết Về Chuyện Tình Buồn Trong Quá Khứ

Những Câu Nói Hay Về Tương Lai

Tuyển chọn những bài thơ hay viết về vẻ đẹp, cuộc sống, con người vùng đất tỉnh Cần Thơ. Chùm thơ là những lời ca ngợi và nỗi nhớ về quê hương Cần Thơ.

CHÙM THƠ LIÊN QUAN:

♥ Chùm thơ nỗi nhớ cha mẹ của người con xa xứ thật hay

♥ Chùm thơ cảm động bên cha mẹ sau bao ngày xa quê

BÀI THƠ: CẦN THƠ QUÊ TÔI

Tác giả: Tuấn Nguyễn

Quê hương anh đó, giấc mơ bao thời

Về đêm ngắm thật tuyệt vời

Đèn hoa rực rỡ như mời gọi nhau

Thôi thì sơ lược để chào khách xa

Cánh đồng thẳng tắp, thoảng qua chẳng đành

Dưới sông nước mát trong lành

Từng đàn cá lội như tranh họa đồ

Thưa cùng anh chị, các cô

Quê tôi chợ nổi nhấp nhô trên dòng

Người mua, kẻ bán thật đông

Vui đùa nhộn nhịp hòa đồng, chung tay

Rạng ngời nét đẹp tung bay

Ca dao ngày ấy ngất ngây bên lòng

“Cần Thơ gạo trắng nước trong

ai đi đến đó lòng không muốn về”.

BÀI THƠ: VỀ VỚI TÂY ĐÔ

Tác giả: Nguyễn Đình Huân

Chưa đi chưa biết Cần Thơ

Tới rồi mới thấy mộng mơ hữu tình

Chiều chiều ra đứng một mình bên sông

Mắt em lúng liếng cho lòng ngẩn ngơ

Ninh Kiều nước chảy lơ thơ

Em mời anh tới bến bờ yêu thương

Cho anh lòng dạ vấn vương

Ngẩn ngơ sao lại quên đường phố quen

Tới khi thành phố lên đèn

Bước chân lại đến bên em tình cờ

Nhớ cô gái nhỏ bên bờ sông sâu

Miền Tây mùa nước năm sau anh về

Nên duyên giai ngẫu phu thê mặn nồng

Trăm năm vẹn nghĩa vợ chồng

Tình ta mãi mãi sẽ không phai nhoà.

BÀI THƠ: CẦN THƠ CHIỀU MƯA

Tác giả: Ho Nhu

Người xưa thuở ấy bây giờ nơi đâu

Sông Hậu ơi! Mấy nhịp cầu

Mà lòng thôn thức như lâu chưa về

Vẫn nguyên vẹn với lời thề mang theo

Tình trao vẫn giữ trong veo cõi lòng

Chiều mưa hỏi có ai trông

Dáng ai thấp thoáng môi hồng mắt răm

Nồi canh lẩu mắm từng ăn chung thuyền

Phải chi buổi ấy bén duyên

Để giờ không phải mơ huyền nhớ nhung

Bao giờ mình mới được cùng

Li cà phê đắng ngồi chung một bàn

Đừng làm ướt áo, ướt làn da em

Mà lòng anh xót cho thêm chút buồn.

BÀI THƠ: DU THUYỀN CẦN THƠ

Tác giả: Ho Nhu

Đò chiều đợi khách sang sông

Cơn mưa bất chợt niềm trông thêm dài

Dửng dưng làm lạnh áo dài bà ba

Tình người Cần Thơ mặn mà

Gái hiền thuỳ mị nết na dịu dàng

Chu toàn nội trợ đảm đang

Dâu hiền rể thảo giỏi dang vẹn tròn

Mời anh mời chị ngọt giòn thơm tho

Theo em anh chớ đắn đo nghĩ nhiều

Gái Cần Thơ thật đáng yêu

Câu ca vọng cổ như chiều anh đây

Cần Thơ mong đợi bao ngày

Nay anh trở lại đắm say hương tình…

BÀI THƠ: CẦN THƠ NỖI NHỚ

Tác giả: Nguyễn Đình Huân

Mùa hạ này anh về với Cần Thơ

Dòng sông Hậu có đôi bờ mưa nắng

Quê hương em có nước trong gạo trắng

Có con đò luôn chở nặng tình quê

Anh xuống đây sao chẳng muốn quay về

Có phải chăng anh đã mê sông Hậu

Có nhánh mù u bướm vàng vẫn đậu

Mê câu hò ơi tình bậu dở dang

Con sông quê có điên điển bông vàng

Cô thôn nữ chèo đò ngang đưa đón

Chiếc áo bà ba xinh tươi mơn mởn

Nụ cười duyên con nước lớn nước ròng

Bến Ninh Kiều ngắm dòng nước mênh mông

Anh thấy em đôi má hồng e thẹn

Cần Thơ ơi phải nơi đây điểm hẹn

Tây Đô ngọt ngào ai đến cũng mê

Cô bé xinh xinh có mái tóc thề

Cho anh hỏi thăm đường về thành phố

Cứ tự hỏi mình nên đi hay ở

Khi ra về mang nỗi nhớ khôn nguôi.

BÀI THƠ: CẦN THƠ THƯƠNG QUÁ MỘT TÌNH YÊU

Tác giả: Giọt Buồn Không Tên

Cần Thơ ơi ai về đi để nhớ

Nhớ Ô Môn sông bên lỡ bên bồi

Bến Ninh Kiều lờ lững con nước trôi

Chiều nhạt nắng dạ bồi hồi xao xuyến

Đến Cái Răng để nghe lòng lưu luyến

Chợ trên sông rộn tiếng những ghe hàng

Đêm Phong Điền nghe nỗi nhớ miên man

Máu đổ xuống hiên ngang không lùi bước

Vĩnh Thạnh ơi dù đi xuôi về ngược

Ruộng thâm canh xanh mượt những cánh đồng

Ánh lửa hồng soi nước bạc trên sông

Xuồng xuôi ngược bềnh bồng đêm trăng tỏ

Qua Thới Lai hỏi ai về Cờ Đỏ

Thăm người em phương đó vẫn đợi chờ

Chén rượu nào chiều Thốt Nốt say mơ

Đêm Bình Thuỷ ngẩn ngơ thêm thương nhớ

Tây Đô ơi phải chăng là duyên nợ

Đêm phương Nam bỡ ngỡ giữa Ninh Kiều

Bến sông nào ai đứng đợi người yêu

Cho môi mắt vấn vương nhiều khao khát

Đến quê em chợt thấy lòng dào dạt

Một tình yêu mộc mạc đất chín rồng

Đẹp rạng ngời thành phố mới ven sông

Nghe xao xuyến chạnh lòng đêm từ tạ

Cần Thơ ơi với tôi là tất cả

Đợi tôi về thương quá một tình yêu.

BÀI THƠ: ANH NHỚ VỀ CẦN THƠ

Tác giả: Ho Nhu

Đã lâu lắm anh không về rồi đấy

Để bây giờ mới thấy lắm đổi thay

Cảnh phố phường luôn biến đổi mỗi ngày

Nên anh đã không tận tay được biết

Bến Ninh Kiều đã bao ngày biền biệt

Khách đông vui chẳng thể biết bao người

Phố xá bây giờ ngày một thêm vui

Đường trung tâm cây, hoa tươi vẫn nở

Cầu Cần Thơ đã xoá đi một thuở

Những chuyến phà tấp nập xuống lên thuyền

Anh có đi qua cầu bắc sông Tiền

Mỹ Thuận đó đã nên duyên đôi lứa

Rồi còn nhiều câu chuyện vui hơn nữa

Những tháng ngày anh lăn lộn miệt vườn

Khu Mỹ Khánh giờ cũng đã tinh tươm

Nơi du lịch đã đơm nhiều trái ngọt

Về Cần Thơ ôn mối tình đã trót

Yêu nồng nàn mà chẳng được gần nhau

Để nỗi nhớ đừng hằn sâu mãi mãi

Về Cần Thơ đất cho nhiều hoa trái

Như tình người luôn thư thái thủy chung

Ba má mình vẫn mong đợi vô cùng

BÀI THƠ: CẦN THƠ MẾN YÊU

Tác giả: Nguyễn Đình Huân

Có dòng sông Hậu lững lờ chảy xuôi

Bến Ninh Kiều đượm tình người

Có cô thiếu nữ nụ cười ngất ngây

Nhuộm hoàng hôn tím trôi đầy trên sông

Chợ nổi bến nước mênh mông

Có cô thôn nữ má hồng chèo ghe

Xốn xang anh mới được nghe lần đầu

Ai đi chợ nổi cùng nhau thì về

Toàn là đặc sản nhà quê miệt vườn

Dừa xoài ổi mít chuối hương

Lời rao em ngọt như đường mời anh

Cần Thơ như một bức tranh

Ra về nhưng lại không đành chia tay

Tình người chưa nhắm đã say

Tạm biệt em gái miền tây anh về.

CHIỀU TÂY ĐÔ

Thơ: Nguyễn Đình Huân

Gặp em đứng đó bên bờ sông sâu

Bâng khuâng anh nhớ lần đầu gặp em

Chúng mình chung chuyến phà đêm

Em đi chợ nổi mình ên thôi à

Làm quen trên một chuyến phà

Lần đầu gặp mặt thế mà anh say

Má hồng mắt biếc thơ ngây dịu dàng

Chợ nổi ngày ấy trong lòng xuyến xao

Chia tay mình mãi khát khao

Hẹn ngày gặp lại mai đào thắm duyên

Ngờ đâu bến cách xa thuyền

Em xa chợ nổi tới miền viễn du

Cuối hè trời sắp sang thu

Bướm vàng đậu nhánh mù u bên hồi

Gặp nhau không nói lên lời

Tình anh vẫn thế suốt đời yêu em.

TẠM BIỆT CẦN THƠ

Thơ: Nguyễn Đình Huân

Tạm biệt sông Hậu mộng mơ hữu tình

Bến Ninh Kiều đứng một mình đợi ai

Má hồng lúng liếng mắt nai

Bay bay trong gió áo dài dễ thương

Cho anh lòng dạ vấn vương

Chia tay anh phải lên đường em ơi

Gửi cho em đó những lời dịu êm

Dáng yêu kiều mái tóc mềm bay bay

Một lần gặp mặt ngất ngây nửa đời

Bóng chiều buông xuống em ơi anh về

Cùng em ngồi ngắm anh trăng

Bến Ninh Kiều có chị Hằng là em.

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Hay Viết Về Sóc Trăng Quê Hương

Tuyển Tập Thơ Cúng Dường Mùa Phật Đản

Tướng Bàn Tay Phụ Nữ, Có Đặc Điểm Này Thì Cả Đời Hạnh Phúc

Thơ Hay Dễ Học Về Xem Tướng

Những Bài Thơ Hay Nhất Tặng Mẹ Nhân Ngày 20/10

🌟 Home
🌟 Top