Top 5 # Truyen Cuoi Sieu Ngan Hay Nhat Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Nhung Truyen Cuoi Ngan Hay Nhat

Tên quốc gia: Ba bé Tí dang dạy bé Tí học bài về Ðịa Lý. Bỗng Tí quay sang hỏi Ba: -Ba ơi, tại sao có nước Áo mà lại không có nước Quần? Ba bé Tí ngẫm nghĩ một lúc rồi nổi khùng lên: -Mày học hành gì mà hỏi những câu ngu vậy, phí cơm phí gạo bao nhiêu nam trời của ba má. Thế nếu có nước Quần thì còn làm sao nhìn thấy nước… Cuba nửa hả con

Có một thắng nhóc đi học về khoe với bố nó: – Bố ơi, hôm nay con dẫn một bà già qua đường. Bố nó xoa đầu khen và thưởng cho nó một cái kẹo. Hôm sau, nhóc cùng ba người bạn nữa về và nói: – Bố ơi, bọn con vừa dẫn một bà già qua đường. Bố nó lại khen và cho mỗi đứa một cái kẹo. Hôm sau nữa thắng nhóc kéo cả lớp về nhà và bảo – Bố ơi, chúng con vừa dẫn một bà già qua đường. Bố nó vẫn khen, cho kẹo nhưng hỏi: – Từng này đứa dẫn một bà già qua đường hay sao? Thằng nhóc liền trả lời: – Bố tưởng dễ lắm à, bà ta chống cự như điên ấy cả lớp mới kéo bả qua được

Một ông nhà giàu và một ni cô đi đánh gôn. Cú đánh đầu tiên hụt, ông nhà giàu kêu lên:”Trời ơi, hụt!!!”.Ni cô liền nói:”Thí chủ đừng kêu trời như vậy, sẽ bị thiên lôi đánh đấy a.”. Đến phát thứ hai hụt, ông lại kêu lên:”Trời ơi, hụt!!!”.Ni cô bèn can:”Thí chủ đừng kêu nữa, kêu lần nữa sẽ bị sét đánh đấy a.”.Phát thứ ba hụt, ông kêu lên:”Trời ơi, hụt!!!”.Đột nhiên có tiếng nổ rất to, mọi người quay lại thì thấy ni cô bị sét đánh đen thui.Bỗng từ trên trời có tiếng nói rất to vọng xuống:”TRỜI ƠI, HỤT!!!”

Cá nói: Anh không bao giờ thấy dc nước mắt của tôi, vì tôi sống trong nước … Nước nói: Tôi cảm nhận được nước mắt em, vì em luôn sống trong tim tôi …Cá nói: Em yêu anh! Em luôn mở to mắt mình để cho anh có thể chảy vào trong em, để em luôn nhìn thấy anh! Nước nói: Anh yêu em! Anh luôn ở bên em, để anh có thể quấn quýt lấy em, để anh có thể ôm trọn em trong lòng mình…. Nồi nói: Sắp sôi rồi! Còn ở đấy mà tâm sự!!! “Đoạn cuối cho một cuộc tình”

Con hỏi bố “Bố ơi phân chia giai cấp là gì hả bố”. Bố trả lời “Lấy nhà mình làm ví dụ, bố kiếm tiền thì bố là giai cấp tư bản, mẹ lãnh đạo thì mẹ là chính quyền, con là nhân dân, còn em con là tương lai, cô giúp việc nhà mình là giai cấp lao động”. Tối hôm đó, em bé ỉa đùn, cậu bé tìm mẹ thì thấy mẹ đang ngủ say, sang phòng cô giúp việc thì thấy bố đang…. Sáng hôm sau, bố hỏi “Hôm qua bố giải thích thế con có hiểu ko?”. Con trả lời “Giai cấp tư bản thì đè đầu cưỡi cổ giai cấp lao động, trong khi đó chính quyền ngủ say không biết gì, tương lai thì dơ dáy, nhân dân ko biết làm gì “

Me Hai Ola, Truyen Cuoi Hai Nhat Me Ola, Truyen Ola Update

Tải ngay UCWEB 9.6 HACK SPEED tiết kiệm 98% phí GPRS và tăng tốc độ load trang gấp 10 lần !

Tổng hợp post me hài nhất ola

TienThinhPro.Wap.Sh

Đọc me hài ola mới mỗi ngày

Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ,hãy để tâm hồn bạn thư giãn mỗi ngày

Bài viết mới

Tổng hợp truyện cười từ me ola 02/10/2021 Doc me ola, truyen cuoi ola, me ola hang ngay, me ola moi, truyen tinh yeu ola, ola buon vui, anh hai tu ola me

Doc me ola, truyen cuoi ola, me ola hang ngay, me ola moi, truyen tinh yeu ola, ola buon vui, anh hai tu ola me

Tổng hợp truyện cười từ me ola 30/03/2015

Lòng anh thật sự thích Vân. Oái ăm ở chỗ lại thân với Hiền. Vậy nhưng Hà mới có tiền. E …

Tổng hợp truyện cười từ me ola 25/03/2015

Trước cổng nhà thờ,anh và em… . Hai đứa hôn nhau,Chúa đứng xem… . Giật mình Cha bảo:này …

Tổng hợp truyện cười từ me ola 19/03/2015

-Đôi khi lễ phép quá cũng bị chửi mày ạ. . . -Ủa kì dzậy?? -Thì tao đi chơi tới 2h sáng về …

Tổng hợp truyện cười từ me ola 14/03/2015

Mỗi năm mùng 8 tháng 3 Qua được ngày ấy rất là sướng vui “Tôi” là một người: – Bá đạo …

Tổng hợp truyện cười từ me ola 09/03/2015

Mỗi năm mùng 8 tháng 3 Qua được ngày ấy rất là sướng vui Mất tiền miệng phải tươi cười …

Tổng hợp truyện cười từ me ola 03/03/2015

– Theo thống kê đàn ông ít thông minh thường có xu hướng ngoại tình. – Vô lý! Thế thằng thông …

Tổng hợp truyện cười từ me ola 26/02/2015

Ônq nội đanq đánh cháu thì bố ra can Can mãi ko được bố lấy cây tự đánh mình và nói: -Ônq …

Tổng hợp truyện cười từ me ola 21/02/2015

– Giá trị tờ tiền không nằm ở cách xơi – Giá trị con người không nằm ở cách chơi và cách …

Tổng hợp truyện cười từ me ola 12/02/2015

Ngày xưa, cứ mỗi lần có tiếng tin nhắn K cần nhìn cũng bík là của người iu [ [ [ bây h, k cầ …

Thơ Hay, Thơ Dở, Cái Hay Của Thơ Dở Và Cái Dở Của Thơ Hay (2)

Thơ hay, thơ dở, cái hay của thơ dở và cái dở của thơ hay (2)

Hiện tượng nhiều bài thơ, thậm chí, cả nguyên một khuynh hướng thơ hay nhưng bị xem là dở không phải chỉ gắn liền với sở thích. Mà là với quan niệm.

Thơ không bao giờ chỉ là thơ. Đằng sau thơ bao giờ cũng có một cái gì khác. Cái khác ấy, xưa, ở Tây phương, từ ảnh hưởng của Plato, người ta xem là thế giới lý tưởng, và từ ảnh hưởng của Aristotle, là tự nhiên; ở Trung Hoa và Việt Nam, là đạo hay chí; sau, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn, người ta cho là cảm xúc, và dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực, là vô thức; gần đây hơn, người ta cho đó là ngôn ngữ. Chỉ là ngôn ngữ. Rất ít người đề cập đến vai trò của quan niệm. Có thể đó là ảnh hưởng hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp từ Emmanuel Kant, người gắn liền việc thưởng thức cái đẹp (kể cả cái đẹp trong nghệ thuật, dĩ nhiên) với lạc thú (pleasure). Lạc thú ấy có bốn đặc điểm chính: Một, khác với các loại lạc thú khác, lạc thú do cái đẹp mang lại có tính chất vô tư và vô vị lợi (disinterested); hai, cũng khác với các loại lạc thú khác, nó không dựa trên ý niệm: đó là loại lạc thú phi ý niệm (non-conceptual pleasure); ba, đó cũng là loại lạc thú của tính mục đích vô mục đích (purposiveness without a purpose): ở đó cái đẹp thể hiện một trật tự bên trong thay vì tuân theo bất cứ một mục đích ngoại tại nào khác; và bốn, đó là loại lạc thú cần được chia sẻ và muốn nhận được sự đồng thuận của mọi người. Nó là sự chủ quan mang tính phổ quát hoặc một sự phổ quát chủ quan (subjective universality).

Có điều, chính Kant cũng thấy những phân tích của ông là bất cập nên ông lại chia cái đẹp thành hai loại: một cái đẹp tự do (free beauty) và một cái đẹp lệ thuộc (dependent beauty). Sự khác biệt chính là, trong khi cái đẹp tự do có tính phi ý niệm, cái đẹp lệ thuộc lại gắn liền với một ý niệm nhất định. Hoa là cái đẹp tự do của thiên nhiên. Để thưởng thức cái đẹp của hoa, người ta không cần bất cứ kiến thức nào về thảo mộc. Cũng vậy, để thưởng thức cái đẹp của một số vật trang trí, người ta cũng không cần biết ý nghĩa của chúng, hơn nữa, chúng cũng chẳng có ý nghĩa gì, chúng không biểu hiện cho một cái gì. Chúng chỉ là hình thức. Và chúng tự tại. Nhưng cái đẹp của một con người, một con ngựa hay một tòa nhà (ví dụ nhà thờ, lâu đài, cung điện) thì lại được đặt trên tiền đề về tính cứu cánh và quan niệm về tính hoàn hảo để làm chuẩn mực cho nhận thức và đánh giá. Đó là những cái đẹp lệ thuộc.[1]

Khi áp dụng quan điểm thẩm mỹ của Kant vào thơ, người ta chỉ chăm chăm tập trung vào cái đẹp tự do mà quên đi, với ông, phần lớn nghệ thuật, nhất là các loại hình nghệ thuật ngôn ngữ, trong đó có thơ, nếu không muốn nói, đặc biệt là thơ, vốn, tự bản chất, là những cái đẹp lệ thuộc: Chúng gắn liền với ý niệm. Cái ý niệm ấy không những quy định cách đánh giá thơ hay và thơ dở mà còn, xa và sâu hơn, ảnh hưởng đến cách phân biệt thơ và những gì không phải thơ. Bắt chước cách nói của Jean-Paul Sartre, “đằng sau kỹ thuật của một cuốn tiểu thuyết bao giờ cũng là một siêu hình học của tác giả”, chúng ta có thể nói, đằng sau mỗi bài thơ bao giờ cũng có một mỹ học thơ. Đằng sau thơ Đường là một mỹ học của thơ Đường. Đằng sau Thơ Mới là mỹ học của Thơ Mới, chủ yếu đó là mỹ học của chủ nghĩa lãng mạn. Đằng sau thơ tự do, cũng vậy, cũng có mỹ học của thơ tự do. Kéo nhận định này dài ra thêm, chúng ta cũng có thể nói, ngay cả với thơ phản-thơ, hay thứ thơ sau này được nhóm Mở Miệng mệnh danh là thơ cắt dán, thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa cũng có một mỹ học riêng của nó.

Cũng từ sự phân biệt này, khái niệm sáo hay sáo ngữ càng ngày càng trở thành phổ biến và được sử dụng như một sự đánh giá: sáo là dở, thoát sáo, ngược lại, là hay. Về phương diện chức năng, khi đề cao chức năng tải đạo hay ngôn chí, những bài thơ thiên về tình cảm rất dễ bị xem là “tiếng dâm” và cần bị tước quyền công dân trong thế giới thơ. Ngược lại, thời Thơ Mới, khi người ta nhấn mạnh vào chức năng bộc lộ cảm xúc, đặc biệt những cảm xúc sôi nổi nhưng vu vơ kiểu “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” hay “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”, những bài thơ tải đạo và ngôn chí lại bị chê là khô khan, thậm chí, không có chút gì là thơ cả: Khái niệm “chất thơ” được ra đời để chỉ những cái đẹp dịu dàng, nhẹ nhàng và đầy thơ mộng, không những không gắn liền với đạo lý mà cũng không gắn liền với cả chất văn xuôi sần sùi của đời sống hàng ngày.

Cuối cùng là quy ước về thể loại. Các quy ước ấy thay đổi theo từng thời đại và từng trường phái. Ở bình diện rộng lớn, bao quát toàn cảnh văn học, ngày xưa, khi chưa xây dựng được một quy ước chung về tiểu thuyết, tiểu thuyết rất bị rẻ rúng, như những chuyện ngồi lê đôi mách; rẻ rúng đến độ Kim Thánh Thán, bị người đương thời khinh bỉ chỉ vì cái tật mê tiểu thuyết của ông dù trên thực tế, với tật ấy, sau này ông được xem là nhà phê bình lỗi lạc nhất của Trung Quốc thời nhà Minh và nhà Thanh. Giới hạn trong thơ, ngày xưa, cả một thời gian rất dài, hàng ngàn năm, người ta xem thơ thì phải có luật, có niêm, đối, và đặc biệt, có vần nên khi loại thơ mới, và nhất là thơ tự do, ra đời, phản ứng chung là phủ định: người ta không xem đó là thơ.

Nếu thơ bao giờ cũng gắn liền với một mỹ học nào đó về thơ, theo tôi, chính cái mỹ học ấy sẽ trở thành tiêu chí đầu tiên để đánh giá và đặc biệt, để phân loại thơ, từ đó, chúng ta sẽ có những bài thơ hay và những bài thơ dở. Trong thơ hay, có hai cấp chính: hay vừa và hay lớn. Thơ dở cũng có hai loại: dở – dở và dở – hay. Dở – dở là dở thật; còn dở – hay là chỉ dở tạm thời, từ cách nhìn cũ, tuy nhiên, khi thay đổi cách nhìn, từ một hệ mỹ học khác, chúng lại trở thành hay. Lửng lơ giữa hai phạm trù hay và dở ấy là một số bài không thật hay và cũng không thật dở nhưng lại đóng một vai trò nhất định trong việc thúc đẩy sự vận động của thơ khiến thơ bước sang một thời đại khác với một hệ mỹ học khác. Trước khi phân tích các loại thơ kể trên, xin được nhấn mạnh thêm điều này: Từ mấy chục năm nay, các lý thuyết phê bình trên thế giới đều né tránh việc đánh giá và xếp hạng các tác phẩm văn học cụ thể, kể cả thơ. Họ chỉ tập trung vào việc diễn dịch và phân tích, hết phân tích văn bản đến phân tích các yếu tố liên văn bản cũng như các yếu tố ngoại văn bản, từ tư tưởng của tác giả đến chính trị và văn hóa, nhất là văn hóa, gắn liền với những khung nhận thức như nữ quyền luận hoặc hậu thực dân luận. Tuy nhiên, người ta chỉ né chứ không thể tránh được. Né vì tính chất phức tạp của vấn đề và cũng vì không muốn sa vào cái bẫy của chủ quan và cảm tính. Nhưng không thể tránh được vì phê bình, dù muốn hay không, cũng phải bắt đầu bằng sự chọn lựa: chọn đề cập đến tác phẩm hoặc tác giả này thay vì một tác phẩm hay một tác giả nào khác. Mà chọn lựa tức là so sánh. Khi chúng ta chọn bước vào tiệm ăn này thay vì tiệm ăn khác, chọn quán cà phê này thay vì quán cà phê khác, cũng như chọn loại rượu này thay vì một loại rượu nào khác bày đầy trong một tiệm nào đó, chúng ta đều so sánh với vô số các tiệm ăn khác, các quán cà phê khác và các loại rượu khác. Như vậy, sự so sánh bao hàm sự đánh giá và phân bậc. Chính vì vậy Harold Bloom mới cho câu hỏi “cái gì làm cho bài thơ này hay hơn những bài thơ khác?”[2] bao giờ cũng là một câu hỏi trung tâm của nghệ thuật đọc thơ.

Muốn đánh giá chính xác cần có hai điều kiện tiên khởi: phải có diện so sánh rộng và phải bám chặt vào một tiêu chí nhất định.

Về điểm trên, trong Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp có nói một câu rất hay: “Phải đàn ngàn khúc rồi mới hiểu được âm thanh, phải nhìn một ngàn thanh kiếm rồi mới hiểu được vũ khí. Cho nên muốn thấy sáng được toàn bộ tác phẩm thì, trước hết, phải nhìn rộng. Xem núi lớn rồi mới tả được gò đống, ra biển khơi rồi mới hiểu được ngòi rạch.”

Về điểm thứ hai, trong phạm vi văn học cũng như thơ nói riêng, người ta có thể sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá và phân bậc. Có những tiêu chí văn chương và những tiêu chí ngoài văn chương. Tiêu chí ngoài văn chương bao gồm ba khía cạnh chính: thương mại (ví dụ, bán sách được nhiều hay ít), xã hội (có đông độc giả hay nhiều người ái mộ hay không) và chính trị (mức độ ảnh hưởng nhiều hay ít, sâu hay cạn). Ngoài văn chương, những tiêu chí ấy, dù thông dụng đến mấy, vẫn không có ý nghĩa gì đáng kể. Chúng ta chỉ cần tập trung vào tiêu chí đầu. Tuy nhiên, cái gọi là tiêu chí văn chương ấy cũng rất phức tạp.

Trong cuốn The Art of Reading Poetry, Harold Bloom cho cái lớn trong thơ tùy thuộc vào hai yếu tố: sự rực rỡ của ngôn ngữ hình tượng và quyền lực nhận thức.[3] Giản dị, nhưng hai tiêu chí do Bloom nêu lên lại làm nảy sinh ra nhiều vấn đề, ví dụ, thế nào là sự rực rỡ (splendour) và tại sao phải là ngôn ngữ hình tượng? Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, nhiều nhà thơ thuộc nhiều trường phái khác nhau, từ thơ cụ thể (concrete poetry) đến thơ tạo hình (visual poetry) và thơ ý niệm (conceptual poetry), không những phủ nhận vai trò của hình tượng mà còn giảm thiểu đến tối đa vai trò của ngôn ngữ. Đối với cả sự phủ nhận lẫn sự giảm thiểu ấy, cái gọi là “sự rực rỡ” trở thành một điều hoàn toàn vô nghĩa. Đó là chưa kể đến cái gọi là “quyền lực nhận thức” cũng rất mơ hồ. Quyền lực nhận thức của một nhà thơ có khác quyền lực nhận thức của một triết gia, một nhà tư tưởng hay một nhà tiểu thuyết? Nếu khác, nó khác như thế nào? Bởi vậy, như trên đã trình bày, ở đây, tôi chỉ chọn một tiêu chí: đó là hệ mỹ học đằng sau một bài thơ hoặc một khuynh hướng thơ. Điều này có hai ý nghĩa: thứ nhất, đánh giá một bài thơ, chúng ta phải nhìn từ góc độ mỹ học của bài thơ ấy. Ví dụ, đối với một bài thơ Đường luật, chúng ta không nên sử dụng mỹ học của Thơ Mới vốn dựa trên nền tảng của chủ nghĩa lãng mạn để đòi hỏi ở bài thơ Đường luật ấy những thứ, tự bản chất, chúng không thể có: chẳng hạn, sự phá cách về hình thức và sự dào dạt của cảm xúc. Cũng vậy, để đánh giá một bài thơ tự do, chúng ta cũng không thể sử dụng các tiêu chí của thơ Đường luật với những vần điệu và nhịp điệu khắt khe để làm cơ sở cho việc phân tích hay phán đoán.

Thứ hai, để đánh giá tầm vóc của một bài thơ, chúng ta phải phân tích những đóng góp của nó đối với cái mỹ học mà nó đại diện. Dựa trên đặc điểm thứ hai này, tôi chia thơ thành nhiều cấp độ: lớn, hay, dở, dở – hay, và không dở không hay nhưng có ý nghĩa lịch sử.(Còn tiếp)

Cái Hay Của Haiku

Cái hay của HAIKU – Thể thơ ngắn nhất thế giới

Đặng Thế Anh

2017-03-02T22:03:19-05:00

2017-03-02T22:03:19-05:00

http://lce.edu.vn/vi/news/Tin-tuc-Su-kien-43/cai-hay-cua-haiku-the-tho-ngan-nhat-the-gioi-666.html

Trường CĐSP Lạng Sơn

Thứ năm – 02/03/2017 21:59

 

 

 

              Haiku là viết tắt của từ Haikanoku. Từ này bắt đầu thông dụng từ cuối thế kỉ XVII. Nó dùng để chỉ một bài thơ với 17 âm tiết thể hiện trong ba dòng 5/7/5. Haiku bắt nguồn từ Hôkku (âm hán việt là phát cú) dùng làm màn mở đầu cho một bài Lenka (một loại thơ xuất hiện khá lâu đời ở Nhật Bản).            Thơ Haiku bắt đầu hình thành vào thế kỉ XVI. Đến thế kỉ XVII thì đạt tới đỉnh cao với tác giả BaSho, sau đó là Bu-son, K.It-sa, M.Si-ki, … Cho đến nay, thơ Haiku vẫn tiếp tục được yêu thích và sáng tác.            Haiku thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người và thiên nhiên. Hầu hết các bài thơ trong Haiku đều xuất hiện hình ảnh thiên nhiên. ở Haiku thiên nhiên và con người có mối tương giao thầm lặng mà khăng khít. Cộng thêm hình thức cực tiểu, cô đọng và hàm xúc nên thơ Haiku thường sử dụng quý ngữ (từ chỉ mùa). Hơn tất cả, cái hay của thơ nằm ở chỗ không bao giờ nói đủ tất cả và “chỉ gợi chứ không tả”. Mỗi bài thơ là mỗi cách cảm nhận riêng có của tác giả cũng như người đọc, tuỳ vào kinh nghiệm của cá nhân. Và Haiku chấp nhận tất cả, miễn là có lí do hợp lí, cái mơ hồ và đa nghĩa ấy không phải là nhược điểm mà là ưu điểm của thể thơ này. Đó cũng chính là tính chất mở thu lượm được từ ngôn ngữ như nhà thơ Chế Lan Viên đã nói rằng: “Bài thơ anh chỉ làm một nửa mà thôi; Còn một nửa để mùa thu làm lấy”.            Do trình độ và kinh nghiệm có được từ cuộc sống còn hạn chế nên người viết chỉ mạnh dạn đưa ra cảm nhận về một bài thơ. Một sự giới thiệu chi tiết và cảm nhận về nhiều tác phẩm Haiku xin hẹn ở một dịp sau.                “Ao cũ                 con ếch nhảy vào                 vang tiếng nước xao”                            (Nhật Chiêu dịch)             Bài thơ được ví như một công án thiền. Là bài thơ thể hiện triết lí vô thường của Phật Giáo Thiên Tông. Chiếc ao có thể hiểu là ao đời, là chiếc ao của vũ trụ. Thực ra hình ảnh ao trong thơ hoặc truyện vẫn được hiểu là chuyện đời. Ví như trong truyện “Toả Nhị Kiều” của Xuân Diệu. Ông đã xem cuộc đời như một chiếc ao tù bình lặng muôn đời không đổi, chiếc ao vũ trụ vĩnh cửu. Hình ảnh con ếch chẳng khác gì thân phận của mỗi chúng ta, sự xuất hiện của con ếch trong trưa hè tĩnh mịch khiến cho không gian chỉ xao động lên trong một khoảnh khắc, cú nhảy của con ếch vào trong ao chỉ khiến cho tiếng nước xao động lên một chút làm cho những vòng sóng trên mặt nước lan toả, rồi tất cả lại chìm trong yên bình, trong tĩnh mịch. Sau đó, con ếch sẽ biến mất như nó chưa từng xuất hiện bao giờ.  Cũng như vậy mỗi chúng ta xuất hiện trong vũ trụ này khoảng 100 năm và khoảng 100 năm sau con cháu chúng ta sẽ thắp hương mời chúng ta về vào những ngày giỗ tết … Nhưng rồi  100 năm sau nữa chúng ta sẽ bị lãng quên và biến mất như chưa từng xuất hiện trên thế giới này.            Bài thơ góp phần khẳng định tư thế tầm với của con người trong vũ trụ bao la. Mặc dù sự xuất hiện của con người rất là ngắn ngủi chỉ là trong khoảnh khắc nhưng đủ đánh thức cả vũ trụ, làm xao động cả trưa hè tĩnh mich. So sánh với “Ngôn Hoài” của Không Lộ thiền sư.               “Trạch đắc long xà địa khả cư                 Dã tình chung nhật lạc vô dư                 Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh                 Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư”            Có thể hiểu là: chọn được một mảnh đất tốt có thể ở được sẽ có những lúc rảnh rỗi bước lên trên đỉnh núi đi thẳng và cất lên lên một tiếng làm lạnh cả bầu trời. Vì vậy, tư thế của con người trước vũ trụ này mới lớn lao làm sao.            Bài thơ còn là nỗi khát khao được giao hoà với vũ trụ bao la. Đối với ao đời – vũ trụ, con ếch nhảy vào trong ao là một bán thể của con người chúng ta, hành động nhảy vào là biểu tượng của nỗi khát khao đem cái bản ngã hoà nhập với vũ trụ bao la để cho cái ta tan chảy vào trong mạch sống đang không ngừng cuồn cuộn trong vũ trụ này. Còn tiếng nước xao phải chăng là âm thanh của niềm hạnh phúc ngất ngây khi cái ta đã hoà nhập vào trong vũ trụ. Triết lý này thể hiện cái nhìn biện chứng về mối quan hệ tương giao, đồng nhất, chuyển hoá lẫn nhau giữa con người với vạn vật trong vũ trụ. Cái nhìn biện chứng ấy là cái nhìn sự vật trong mối quan hệ và trong sự phát triển không nhìn sự vật rời rạc mà nhìn trong mối quan hệ. Nó được kế thừa từ Trang Tử: “Trời đất với ta cùng sinh ra, vạn vật với ta cùng là một”.

Tác giả bài viết: Đặng Thế Anh

Nguồn tin: Khoa Xã Hội