Top 4 # Văn Bản Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Dàn Ý Bài Thơ “Tiểu Đội Xe Không Kính”

Đề bài: Em hãy lập dàn ý cho bài thơ “Tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật

Bài làm

+ Mở bài: Nói qua về xuất xứ của bài thơ ra đời 1969 trong chiến tranh kháng chống đế quốc Mỹ.

– Bài thơ xuất hiện trên báo Văn Nghệ năm 1969- 1970 là một bài thơ tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của tác giả Phạm Tiên Duật

+ Thân bài:

– Ngay từ câu đầu tiên của bài thơ “Xe không kính không phải xe không có kính” thể hiện cái nhìn lạc quan hài hước của tác giả về việc lái một chiếc xe ô tô mà không có nổi một cái kính chắn bụi, hay một cái gương chiếu hậu đảm bảo an toàn.

– ” Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi” Thể hiện sự anh dũng lòng quả cảm của các anh bộ đội lái xe trong thời kỳ kháng chiến.

– Từ những chiếc xe không có kính đó nhưng những người lính trường sơn vẫn kiên cường chiến đấu thể hiện bản lĩnh của mình, không sợ kẻ thù dù chúng có những vũ khí mạnh tối tấn hơn đất nước ta rất nhiều.

– Cách sử dụng từ ngữ của tác giả giống như một lối kể chuyện bằng văn xuôi vừa giản dị, gần gũi vừa thể hiện được những nét phá cách trong việc dùng từ ngữ: “ung dung”, “nhìn đất” “nhìn trời” “nhìn thẳng” thể hiện cái nhìn đầy khí phách lạc quan yêu đời chứ không phải cái nhìn sợ sệt khép nép trước kẻ thù nhiều quyền lực.

– Giọng điệu lạc quan, tinh nghịch, pha chút ngang tàng đầy kiêu hãnh của tác giả làm cho bài thơ thêm phần hùng tráng nhưng cũng không kém phần gần gũi thân thuộc.

– Cách dùng điệp từ, điệp ngữ được lặp lại nhiều lần ” lại đi, lại đi, trời xanh thêm” thể hiện niềm tin vào sự toàn thắng của đất nược trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc.

– Hình ảnh ” nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng” thể hiện sự gian khổ trên hành trình kháng chiến của người lính.

– Hình ảnh “phì phèo châm điếu thuốc” thể hiện hình ảnh người lính rất mộc mạc giản dị, nhưng nhiều hùng tráng.

– Nghệ thuật tương phản giữa vật chất và tinh thần từ sự khó khăn về vật chất nhưng tinh thần của người lính vẫn luôn rất lạc quan yêu đời.

Kết

– Bài thơ này là một bài thơ mang đậm phong cách tiêu biểu của nhà thơ Phạm Tiến Duật cùng với các bài thơ nổi tiếng khác như ” Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây”

Nó thể hiện được tinh thần hiên ngang kiên cường, yêu đời của người lính cụ Hồ trong kháng chiến, dù khó khăn về vật chất thiếu thốn nhiều thứ nhưng các anh vẫn hiên ngang đi tới không bao giờ lùi bước.

Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Ý nghĩa bài thơ về tiểu đội xe không kính

Hình ảnh ” Tiểu đội xe không kính ” được tác giả sử dụng để nói lên tinh thần dũng cảm hiên ngang trước bom đạn. Dù hứng chịu nhiều bo đạn, các chiếc xe trở nên trần trụi không có kính che chắn.. Nhưng các anh vẫn tiến về phía trước đẩy lùi quân giặc. Có thể noi tác giả bài thơ đã khắc hoạ hình tượng chiến sĩ lái xe rất thành công. Để thế hệ trẻ tiếp nối phía sau noi gương chiến đấu không vì gian khổ mà từ bỏ lý tưởng.

Toàn tập bài thơ tiểu đội xe không kính

Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. Những chiếc xe từ trong bom rơi Ðã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước, Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Tìm kiếm bài thơ về tiểu đội xe không kính

Tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật

Bài thơ tiểu đội xe không kính

Bài thơ về tiểu đội xe không kính lớp 4

Bài thơ về tiểu đội xe không kính lớp 9

Văn Mẫu Lớp 9: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

1. Tác giả

Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Là nhà thơ Quân đội, trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. “Lửa đèn”, “Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây”, “Gửi em – cô thanh niên xung phong”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, v.v… là những bài thơ nổi tiếng của nhà thơ – chiến sĩ này, có bài đã được phổ nhạc vang lên như một bài ca chiến trận.

Một giọng thơ trẻ trung, hào hùng, hồn nhiên và phơi phới in đậm trong nhiều bài thơ qua các tác phẩm: “Vầng trăng quầng lửa”, “Thơ một chặng đường”, “Ở hai đầu núi”, v.v…

2. Xuất xứ

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được Phạm Tiến Duật sáng tác vào năm 1969 trên con đường chiến lược Trường Sơn, in trong tập thơ “Vầng trăng quầng lửa”.

3.Chủ đề

Bài thơ ca ngợi những chiến sĩ lái xe trong binh đoàn vận tải quân sự trên con đường chiến lược Trường Sơn thời đánh Mĩ: dũng cảm, ngoan cường, lạc quan yêu đời… trong mưa bom bão đạn; quyết chiến đấu hi sinh vì một lí tường cao cả là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

“Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn

Hai đứa ở hai đầu xa thẳm

Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây…”

(” Trường Sơn Đông, Trưởng Sơn Tây”)

Năm 1970, tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” của Phạm Tiến Duật ra đời. Tiếng thơ của người chiến sĩ họat động trên tuyến đường Trường Sơn cất lên hào hùng, trẻ trung và hồn nhiên kì lạ. Thơ Phạm Tiến Duật thể hiện tình cảm yêu nước và chí khí anh hùng của thế hệ thanh niên trong cuộc chiến tranh chông Mĩ qua những hình ảnh cô gái thanh niên xung phong và anh bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn. “Lửa đèn”, “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “Gửi em, cô thanh niên xung phong”,… là những bài thơ rất nổi tiếng của chàng lính trẻ làm thơ này.

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được anh viết vào năm 1969 – khi cuộc chống Mĩ đang diễn ra vô cùng ác liệt. Máy bay giặc Mĩ trút hàng ngàn, hàng vạn tấn bom đạn và chất độc hóa học xuống con đường chiến lược mang tên Bác Hồ. Các trọng điểm mịt mù lửa khói suốt đêm ngày. Những đoàn xe vận tải quân sự vẫn nối đuôi nhau đi lên phía trước. Bài thơ đã ghi lại những nét ngang tàng, dũng cảm và lạc quan của người chiến sĩ lái xe trong hình đoàn vận tải quân sự, qua đó ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đánh Mĩ”.

Bài thơ làm hiện lên chiếc xe không kính đang vượt qua bom đạn băng băng tiến ra tiền phương. Một hình tượng thật độc đáo vì xưa nay ít có, ít thấy loại xe không kính qua lại trên mọi nẻo đường. Thế mà, trên con đường chiến lược Trường Sơn vẫn có loại xe như vậy, không phải đôi ba chiếc mà là hàng vạn chiếc xe “không kính” đang vượt qua mưa bom bão đạn, đi qua một địa hình: đèo cao, dốc thẳm, khe suối, ngầm sông, chạy trong mưa gió, đêm tối mịt mùng, để chở hàng, tiếp viện cho chiến trường miền Nam. Hình tượng độc đáo vì chiếc xe mang sức mạnh thần kì của một dân tộc đang chiến đấu vì một quyết tâm sắt đá “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Nó còn thể hiện cuộc chiến đấu diễn ra trên mặt trận giao thông vận tải, trên con đường chiến lược Trường Sơn là vô cùng ác liệt, dữ dội, con người và hình khí kĩ thuật mang tầm vóc kì vĩ sử thi hào hùng.

“Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”.

Mười bôn câu thơ tiếp theo khắc họa hình ảnh những người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn qua một loạt hình ảnh hoán dụ: con mắt, mái tóc, tim, mặt, nụ cười… Một tư thế ngồi lái “ung dung” tuyệt đẹp: thong thả, khoan thai. Những cái nhìn khoáng đạt, nhìn thấp, nhìn thẳng, nhìn cao, nhìn xa. Dũng mãnh và hiên ngang: “Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Hai chữ “ta ngồi” với điệp từ “nhìn” láy lại 3 lần; giọng thơ, nhịp thơ mạnh mẽ, đĩnh đạc.

Phạm Tiến Duật đã dành trọn một khổ thơ nói lên những gì người chiến sĩ “nhìn thấy”. Những câu thơ nối tiếp xuất hiện với bao hình ảnh chẳng khác nào một đoạn phim quay nhanh:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng,

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái”.

Có gió thổi, có cánh chim chiều và cả ánh sao đêm. Gió được nhân hóa và chuyển đổi cảm giác đầy ấn tượng: “gió vào xoa mắt đắng”. Xe chạy thâu đêm, xe lại không có kính nên mới có cảm giác “đắng” như thế. Con đường phía trước là con đường chiến lược cụ thể, nó còn mang hàm nghĩa, “chạy thẳng vào tim”, con đường chiến đấu chính nghĩa vì lẽ sống, vì tình thương, vì độc lập tự do của đất nước và dân tộc. Các từ “nhìn thấy”… / “nhìn thấy…” / “thấy…” với các chữ “sa”, chữ “ùa” góp phần đặc tả tốc độ phi thường của chiếc xe quân sự đang bay đi, đang lướt nhanh trong bom đạn!

Nếu khổ thơ trên nói đến “gió” thì khổ thơ tiếp theo nói đến “bụi”. Gió bụi tượng trưng cho gian khổ, thử thách ở đời. Chữ “ừ” vang lên như một thách thức, một chấp nhận nhưng chủ động của người chiến sĩ lái xe:

“Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già.

Chưa cần rửa phì phèo chăìn điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha hai”.

Với bao chi tiết hiện thực đầy ắp vần thơ. Một mái tóc xanh của chàng trai qua mấy dặm trường có sự đổi thay đáng sợ: “Bụi phun tóc trắng như người già”. Một hình ảnh so sánh hóm hỉnh, độc đáo! Một kiểu hút thuốc rất “lính”. Một nụ cười lạc quan yêu đời và hồn nhiên “ha ha” cất lên từ một gương “mặt lấm” khi đồng đội gặp nhau: “Nhìn nhau mặt lấm cười ha hai”.

Sau “bụi” nói đến “mưa”: “Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời”. Thế là người lính nếm trải đủ mùi gian khổ: Gió bụi, mưa rừng. Mưa đã ‘tuôn” tất nhiên phải “xối”. Bao nhiêu áo quần ướt sạch vì ngồi trong buồng lái mà “như ngoài trời”. Chấp nhận, ngang tàng, phơi phới lạc quan:

“Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”.

Nhiệt tình cách mạng của người lính không còn là trừu tượng nữa. được tính bằng những cung đường “lái trăm cây số nữa”. Cung đường ấy trong bom đạn, mưa tuôn phải trả giá bằng bao mồ hồi, xương máu! Câu thơ 7 từ mà có đến 6 thanh bằng diễn tả cái phơi phới, thênh thênh đầy nghị lực, bất châp mọi gian khổ: “Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi!”.

Hai khổ thơ thứ 5, thứ 6 ghi lại hình ảnh tiểu đội xe không kính và cuộc trú quân giữa rừng. Sau những chặng đường gian khổ, những tháng ngày mưa gió, bụi mù… và bom đạn, họ gặp lại nhau… Cái bắt tay cũng vô cùng độc đáo. Trong niềm vui gặp gỡ đã có nhiều mất mát hi sinh:

… “Gặp hạn hề suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”.

“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi, trời xanh thêm”.

Khổ cuổì bài thơ làm nổi bật cái dữ dội và khô’c liệt của chiến tranh: Chiếc xe vận tải quân sự mang trên mình đầy thương tích. Đã có biết bao chiến sĩ lái xe dũng cảm hi sinh. Chiếc xe như một dũng sĩ kiên cường, 3 cái “không có” và chỉ có 1 cái “có”: “Không có kính, rồi xe không có đèn – Không có mui xe, thùng xe có xước”.

Sau cái “thùng xe có nước”, người chiến sĩ lái xe tự hào khẳng định cần “có một trái tim” trong xe. “Có trái tim” ấy là sẽ có tất cả: “Trái tim” – hình ảnh hoán dụ thể hiện sức mạnh chiến đấu, ý chí kiên cường của người chiến sĩ lái xe trẻ vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thân yêu, vì sự nghiệp thông nhất đất nước: ” “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước;

Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

“Trái tim” ấy là trái tim yêu thương, trái tim sục sôi căm giận? Phải chăng câu thơ của Phạm Tiến Duật khơi nguồn cảm hứng từ câu nói nổi tiếng của Hồ Chủ tịch kính yêu: “Miền Nam luôn luôn trong trái tim tôi”?

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật là một bài thơ hay. Chất hiện thực ngồn ngộn về đời sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng của các chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn thời đánh Mĩ đã kết hợp một cách hài hòa với cảm hứng sử thi tạo nên những vần thơ “góc cạnh” đầy ấn tượng. Nếu như có gió, bụi, mưa, cánh chim, ánh sao sa vào, ùa vào buồng lái chiếc xe không kính thì cũng có những câu thơ rất gần với lôi nói thường đậm chất văn xuôi tràn vào bài thơ. Có nhiều câu thơ mang cái dáng vẻ thô mộc, bình dị rất lính tráng một thời trận mạc:

– “Không có kính không phải vỉ xe không có kính,

Bom giật, hom rung kính vỡ đi rồi…”

– “Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già…”

– “Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời…”

– “Không có kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước…”

Nếu tước đi những câu thơ ấy, thay vào bài thơ bằng những câu óng ả êm xuôi, chắc chắn giọng điệu, chất thơ, hồn thơ của ‘Bài thơ về tiểu đội xe không kính” sẽ chẳng còn gì nữa. Đúng như Vũ Quần Phương đã nhận xét: “Chỗ đặc sắc của thơ Phạm Tiến Duật: lấy cuộc sống để nói tình cảm. Cái sâu sắc tình cảm trong thơ anh phải tìm trong cuộc sống, không tìm trong chữ nghĩa”.

Hình tượng những chiếc xe không kính thật là li kì, độc đáo. Những chiếc xe không kính đã làm nổi bật hình ảnh những người lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Họ là những chiến binh sông và chiến đấu trong tư thế hiên ngang, quả cảm bất chấp mọi khó khăn, nguy hiểm, lạc quan, sôi nổi yêu đời, hi sinh chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Ngoài các ẩn dụ, so sánh, điệp từ điệp ngữ, Phạm Tiến Duật rất thành công trong sáng tạo các hình ảnh hoán dụ (gió, bụi, mưa, mắt, tóc, tim,…) khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và vẻ đẹp ý chí của người chiến sĩ lái xe tiền phương.

Con đường chiến lược Trường Sơn là một chiến tích mang màu sắc huyền thọai của dân tộc ta trong kháng chiến chông Mĩ. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đã làm sông lại một thời gian khổ, oanh liệt của anh bộ đội Cụ Hồ. Chất anh hùng ca dào dạt trong bài thơ. Bài thơ cũng là một chứng tích tuyệt đẹp của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn anh hùng.

Kết Bài Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Một số cách kết bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

Kết bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Thông qua bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, tác giả Phạm Tiến Duật không chỉ đưa vào thơ văn cách mạng một hình tượng vô cùng mới mẻ, chưa từng xuất hiện trong thơ ca trước đó – những chiếc xe không kính. Đặc biệt hơn, thông qua hình ảnh những chiếc xe có dáng vẻ lạ lùng, có phần tàn tạ, khác biệt đó nhà thơ đã làm nổi bật lên hình ảnh của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn xưa, đó là những con người đi giữa mưa bom bão đạn nhưng luôn lạc quan, yêu đời mà mang một tình yêu, lí tưởng đấu tranh bất diệt vì sự nghiệp giải phóng miền Nam ruột thịt, thống nhất đất nước.

Hình tượng người lính lái xe trong bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” mang những nét đẹp của thời đại, đó là vẻ đẹp về sức mạnh, lí tưởng, tâm hồn của những người lính trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước xưa. Qua bài thơ, người đọc không chỉ thấy được bức tranh chiến đấu gian khổ, nhiều thiếu thốn, hiểm nguy mà còn thấy được nét kiên cường, chủ động, lạc quan của những người lính trong cuộc chiến gian khổ, nhiều hi sinh ấy. Hình ảnh những chiếc xe không kính và những người lính lái xe đã trở thành biểu tượng sáng ngời, bất diệt trong thơ ca cách mạng xưa, gợi nhắc cho chúng ta về một thời gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

Từ một nhan đề độc đáo, ấn tượng ‘Bài thơ về tiểu đội xe không kính’, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã khéo léo đưa người đọc hòa mình vào không khí chiến đấu của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn xưa. Trong không khí ấy, độc giả thấy được cái gian khó, hiểm nguy, thiếu thốn về mọi mặt của cuộc sống, chiến đấu, thế nhưng ấn tượng sâu sắc, sáng ngời nhất trong bài thơ không phải ở cái thiếu thốn về vật chất, hiểm nguy về tính mạng mà chính là vẻ đẹp kiên cường, lạc quan của người lính lái xe. Cùng với phương tiện là những chiếc xe không kính, người lính lái xe không chỉ mang theo quân lương, chi viện cho miền Nam mà còn chuyên chở tình yêu, lí tưởng và niềm tin của cả nước cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Như vậy có thể thấy bom đạn chiến tranh chỉ có thể làm cho những chiếc xe trở nên tàn tạ, có thể hủy diệt sự sống thể xác của con người mà không thể nào ngăn nổi tinh thần chiến đấu, niềm tin chiến thắng của con người Việt Nam.