Top 4 # Văn Bản Bài Thơ Vội Vàng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Tìm Hiểu Văn Bản: Vội Vàng – Xuân Diệu

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

* Lai lịch:

– Xuân Diệu (1916-1985) tên đầy đủ là Ngô Xuân Diệu, sinh ra tại xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định ông là một tài năng mới, một trong những nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam.

– Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho, sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn

– Tham gia Cách mạng ông hăng say hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.

* Con người:

– Xuân Diệu học được ở cha – ông đồ Nghệ – đức tính cần cù, kiên nhẫn trong học tập rèn luyện tài năng và lao động nghệ thuật.

– Xuân Diệu một mặt là trí thức tây học, đã hấp thụ ảnh hưởng của tư tưởng & văn hoá Pháp một cách có hệ thống trên ghế nhà trường, mặt khác do xuất thân từ một gia đình nhà Nho lại được tiếp thu nền văn hoá truyền thống, vì thế có thể tìm thấy ở nhà thơ sự kết hợp 2 yếu tố cổ điển và hiện đại, Đông và Tây.

* Các tác phẩm chính:

– 15 tập thơ, mở đầu là tập Thơ thơ

– Một số tập văn xuôi: Phấn thông vàng

– Một số tập tiểu luận, phê bình nghiên cứu văn học

* Phong cách nghệ thuật:

– Trước Cách mạng tháng Tám Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới:

+ Niềm say mê ngoại giới khao khát giao cảm với đời và tình yêu cuộc sống ( Vội vàng, Giục giã)

+ Nỗi cô đơn giợn ngập của cá thể trước cái không gian mênh mông thời gian xa thẳm (Khi chiều giăng lưới, Nguyệt cầm…)

+ Một khát vọng tình yêu vô biên, nỗi đau của một trái tim đắm say nồng nhiệt mà không được đền đáp xứng đáng (Yêu, Dại khờ…)

+ Quan niệm thẩm mĩ mới: chỉ có con người giữa tuổi trẻ tình yêu là đẹp nhất (thời xưa thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp)

– Sau cách mạng tháng Tám có nhiều thay đổi:

+ Từ một nhà thơ lãng mạn bậc nhất của phong trào thơ mới, Xuân Diệu trở thành một nhà thơ cách mạng.

+ Cùng với sự đổi mới của đất nước, Xuân Diệu có một sự đổi mới trong tâm hồn và trong thơ. Tình cảm yêu nước và trách nhiệm công dân cũng như lòng thiết tha ca ngợi cuộc đời mới đã nâng sáng tác của nhà thơ nên. Ông say xưa viết về tổ quốc CTHCM và công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc đấu tranh thống nhất nước nhà…

+ Trước kia, ông hay nói đến sự cô đơn, xa cách, đổ vỡ… thì nay nói nhiều hơn đến sự chung thuỷ, sum vầy sau CMT8, thơ tình Xuân Diệu không vơi cạn mà có những nguồn mạch mới. Tình yêu lứa đôi không còn là tình cảm giữa hai vũ trụ nhỏ cô đơn mà đã có sự hòa hợp với mọi người, với xã hội.

2. Tác phẩm

a. Xuất xứ

“Vội vàng” là bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước cách mạng rút trong tập “Thơ Thơ” (1938). Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt, khi vui cũng như khi buồn người đều nồng nàn tha thiết. Nhưng đằng sau những tình cảm ấy, có một quan niệm nhân sinh mới chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống.

b. Bố cục

– Phần 1 (câu 1 đến câu 29): lí do phải sống vội vàng

– Phần 2 (còn lại): biểu hiện của cách sống vội vàng

II. Trọng tâm kiến thức

1. Tình yêu cuộc sống tha thiết và say đắm của Xuân Diệu (13 câu đầu)

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương thời ngột ngạt, bế tắc, hầu hết các nhà thơ mới đều đang tìm cách lẩn trốn hiện thực tăm tối. Chế Lan Viên tìm đến những tinh cầu giá lạnh, Thế Lữ gửi gắm tâm trạng ở con Hổ trong vườn bách thú, Tản Đà muốn lên cung trăng làm thằng Cuội,… còn Xuân Diệu thì đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới.

– Bốn câu thơ đầu là sự khát khao giao cảm với đời, với thiên nhiên mãnh liệt trong cõi lòng thi sĩ:

Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.

+ Lòng yêu đời, yêu cuộc sống tha tha thiết đã khiến tâm hồn thi sĩ bám chặt lấy cuộc sống trần thế, không thoát ly hoàn toàn như các nhà thơ khác. Với đời, ông có một khao khát đến cháy bỏng.

+ Nhà thơ sử dụng những câu thơ ngắn, với âm điệu nhanh, ngôn ngữ thơ dứt khoát để thể hiện ước muốn mãnh liệt muốn níu giữ thời gian. Bởi lẽ thời gian là nỗi ám ảnh nhất trong cuộc đời thi nhân. Là một hồn thơ rạo rực, tha thiết với đời, ông muốn tận hưởng những khoảnh khắc tươi đẹp nhất của trần thế. Vì thế, thi nhân rất trân trọng những giây phút tươi đẹp của cuộc đời. Người dùng tất cả giác quan tạo hóa ban tặng để cảm nhận thời gian. Thời gian vốn vô hình, vô vị, vô tình đi vào thơ Xuân Diệu bỗng rất hữu hình, nên thơ qua hình ảnh nắng, gió.

+ Điệp ngữ “tôi muốn” kết hợp với những động từ mạnh như tắt (nắng), buộc (gió) thể hiện một tư thế chủ động, một ước muốn táo bạo: Nắm bắt thiên nhiên, đoạt quyền tạo hóa để có thể níu giữ những phần tươi đẹp nhất của cuộc đời.

– Bảy câu thơ tiếp nói lên ước muốn tạo hóa của nhà thơ, bởi ông đã cảm nhận được có một thiên đường ngay trên mặt đất, bao quanh mỗi chúng ta.

Của ong bướm này đây  ; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si. Và này đây ánh sáng chớp hàng mi; Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

+ Những câu thơ với âm điệu nhẹ nhàng, hình ảnh tươi sáng đã vẽ nên một khung cảnh thiên nhiên đậm sắc, hương, thanh. Vạn vật đang ở độ đương thì tươi ngon nhất, đẹp đẽ nhất. Chim chóc, hoa lá, ong bướm như vực dậy để tận hưởng cảnh xuân tươi tắn, mượt mà. Cảnh vật không tĩnh lặng mà náo động, linh hoạt với những hình ảnh liên tưởng độc đáo của thi sĩ. Tuần tháng mật của đôi vợ chồng đắm say trở thành mùa ong bướm dập dìu rất lãng mạn.

+ Tiếng hót của chim yến chim oanh trở thành khúc tình si hút hồn biết bao con người yêu cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Và ánh nắng được nhân hóa như một kiều nữ e thẹn với những ánh mi dài cuốn hút vạn vật. Tất cả như chan hòa làm nên một mảnh vườn đẹp nên thơ mà rất trần đời. Từ đó cái đẹp của mùa xuân, thiên nhiên còn ẩn dụ như cái đẹp của con người ở độ sắc xuân, đương thì. Qua đó, ta thấy được thi sĩ có sự cảm nhận mùa xuân rất tinh tế và có tài khéo léo vẽ lại những hình ảnh ấy với một thứ sức sống căng tràn, nảy nở.

+ Thi sĩ chọn thời điểm rạo rực nhất là “tháng giêng”, tươi mới nhất “mỗi buổi sớm”, để miêu tả khiến bức tranh thiên nhiên mùa xuân càng tinh khôi, xinh đẹp. Không chỉ vậy, nhà thơ còn tạo nên một thiên đường của cảm xúc. Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác được dùng rất linh hoạt từ xúc giác “tuần tháng mật”, thính giác “khúc tình si”, sang thị giác “ánh sáng chớp hàng mi”.

– Tâm hồn của thi nhân rạo rực, tha thiết, bâng khuâng trước cảnh trần thế xinh đẹp vô cùng đã khơi nguồn nên những hình ảnh sáng tạo độc đáo trong những vần thơ. Vào lúc ấy, hồn thơ, hồn người, hồn của thiên nhiên đất trời như giao hoà để Xuân Diệu viết nên một câu tuyệt bút:

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

+ “Tháng giêng” vốn vô hình bỗng trở nên hũư hình căng đầy một tình yêu trần thế. Một thứ tình cảm rạo rực, cháy bỏng trong tâm hồn thi nhân đã được dồn nén kết tụ trong một từ “ngon” duy nhất rất tài hoa. Câu thơ với điểm nhấn là từ “ngon” được dùng rất đắt thể hiện một quan điểm mĩ học rất mới mẻ về sự cảm nhận thiên nhiên phản phất sắc thái của “nhục thể”. Tuy vậy, ý thơ không gây thô tục mà có phần mới lạ. Nhà thơ cảm nhận rất tinh tế ý vị của thời gian nên có sự chuyển đổi xúc giác sang vị giác. Quả thật, Xuân Diệu bên cạnh có đôi mắt nhìn đời rất tinh tế còn có một tâm hồn rất thiết tha, nhạy cảm với cuộc sống.

+ Nhà thơ đã lấy con người làm khuôn mẫu để tạo ra những hình thái thiên nhiên mang một sức hấp dẫn kì lạ, một sự tươi mới chưa từng có. Người cảm nhận thiên nhiên bằng một lăng kính trái hình với thi ca thời xưa . Qua đó, ta thấy thêm tin yêu một hồn thơ mới đã đem đến cho ta một hình ảnh đầy thi vị, một ánh màu mới mẻ trong thơ ca.

– Hai câu thơ cuối:

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

+ Hình ảnh của cuộc sống đi vào thơ Xuân Diệu như một thứ ánh sáng được khúc xạ qua lăng kính tình yêu rất tinh khôi và giàu sức sống. Càng yêu đời, nhà thơ càng luyến tiếc trước dòng chảy của thời gian.

+ Hai câu thơ dài, giữa câu hạ một dấu chấm đột ngột như sự dồn nén cảm xúc đến tột cùng. Thể hiện một khao khát cháy bỏng trong lòng tác giả. Vì Xuân Diệu cảm nhận được lúc vạn vật đang căng tràn nhựa sống cũng chính là lúc đang đứng trên ranh giới của sự lùi tàn, héo úa. Vì thế, khi đang sống trong niềm hạnh phúc tràn đầy, tác giả lại thôi thúc mình cần phải vội vàng, cần phải tận hưởng hết những năm tháng tuổi trẻ và hạnh phúc. Qua đó, tác giả gửi đến mọi người thông điệp sống: hãy sống hết mình và trân trọng những gì bạn đang có, đừng để nó trôi qua rồi mới tiếc nuối.

2. Tâm trạng băn khoăn của tác giả về tuổi trẻ của đời người trước sự qua đi nhanh chóng của thời gian (16 câu tiếp)

– Khổ thơ thể hiện nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời của Xuân Diệu:

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

+ Xuân Diệu đã đưa đến cho chúng ta những ý niệm thú vị, mới mẻ về thời gian. Theo ông, thời gian là tuyến tính, nó là một dòng chảy xuôi chiều, một đi không trở lại: đương tới – đương qua; còn non – sẽ già. Đứng trước cảm nhận này, tác giả thấy lo lắng khi thời gian trôi đi. Ông bắt đầu sợ, cuống cuồng vì mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu rồi cũng qua đi.

– Ý niệm về thời gian đối với Xuân Diệu là một chiều, một đi không trở lại. CHính sự khắc nghiệt này mới khiến nhà thơ thấy mình thật bé nhỏ:

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

+ Những câu thơ dường như càng khắc nghiệt hơn vì tác giả tự vận mình vào mùa xuân. Bởi rằng, với ông, đời người đẹp nhất là tuổi trẻ. Khi mùa xuân tuổi trẻ qua đi thì coi như hết. Con người vẫn luôn khao khát sống, khao khát yêu nồng cháy nhưng thời gian có hạn. Vạn vật chuyển biến, tuổi trẻ cứ vơi cạn đi theo năm tháng. Tác giả nuối tiếc, tiếc vì không được sống thêm, không được nhiệt huyết hơn nữa.

– Có lẽ Xuân Diệu là một nhà thơ có cái nhìn chân thực và đầy mới mẻ về tuổi trẻ con người:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, . Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

+ Đến đây dường như người đọc càng nhận ra triết lý về thời gian sâu sắc. Mùa xuân rồi sẽ trở lại, đất trời lại rạo rực và đẹp đẽ như thế nhưng tuổi trẻ của con người lại vĩnh viễn trôi qua không trở lại. Đây là điều tàn nhẫn nhất mà Xuân Diệu không muốn đối mặt.

+ Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. Một hệ thống tương phản đối lập: tới – qua, non – già, hết – mất, rộng – chật, vô hạn – hữu hạn, để khẳng định một chân lý – triết lý: Tuổi xuân một đi không trở lại. Phải quý tuổi xuân.

– Cách nhìn nhận về thời gian cũng rất tinh tế, độc đáo, nhạy cảm. Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khứ và tương lai; cái đang có lại đang mất dần đi… Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang theo nỗi buồn chia phôi hoặc tiễn biệt, hờn vì xa cách, sợ vì phai tàn sắp sửa. Cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời:

Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt…

– Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật nghịch lí giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian:

Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

– Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối. Lo lắng. Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn, vừa luống cuống, bâng khuâng.

– Cách cảm nhận về thời gian như vậy xét đến cùng là xuất phát từ ý thức sâu xa về giá trị của sự sống cá thể. Mỗi khoảnh khắc trong đời mỗi người đều vô cùng quý giá, chính vì một khi đã mất đi là vĩnh viễn mất đi. Quan niệm ấy khiến cho con người biết quý từng giây phút của đời mình. Và người ta biết làm cho mỗi khoảnh khắc của đời mình cần phải tràn đầy ý nghĩa. Có như thế mới biết sống. Đây là cơ sở sâu xa của thái độ sống Vội vàng.

3. Khát vọng tận hưởng của Xuân Diệu (10 câu cuối)

– Ở phần đầu của bài thơ, Xuân Diệu cho người đọc thấy được tạo hóa có sinh ra con người để mãi mãi hưởng lạc thú ở chốn trần gian này đâu. Đời người ngắn ngủi, tuổi xuân có hạn và thời gian trôi đi vĩnh viễn không trở lại giục giã chúng ta phải nhanh lên, vội vàng lên để tận hưởng bữa tiệc của trần gian khi mà “mùa chưa ngả chiều hôm”, khi mà xuân đang non. Xuân chưa già:

Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

– Ở đoạn đầu, tác giả xưng “tôi” để đối thoại với đồng loại, ở dưới lại xưng “ta” để đối diện với sự sống (Chu Văn Sơn). Giữa những câu thơ dài, đột ngột xen vào một câu thơ rất ngắn, chỉ có ba chữ “Ta muốn ôm”. Câu thơ như thắt ngang giữa bài làm ta liên tưởng đến vòng tay đang ôm bó, níu giữ cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn của nhà thơ.

– Mởn mởn là từ láy rất gợi cảm và giàu ý nghĩa diễn tả. Nó gợi cảm giác sự vật, cây cối đang ở độ non mướt, tươi tốt đầy sức sống.

– Tác giả bộc lộ một tình yêu mãnh liệt, táo bạo:

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng

+ Cảm xúc của Xuân Diệu như một dòng suối ào ạt tuôn trào, tưởng chừng ngôn từ xô đẩy vào nhau, chen lấn nhau để theo kịp dòng cảm xúc ấy.

+ Những tiếng ta muốn láy đi láy lại mãi để khẳng định niềm khao khát mãnh liệt và cháy bỏng.

+ Những từ ngữ xuân Diệu sử dụng ở mức độ mãnh liệt nhất: muốn ôm, muốn riết, muốn say, muốn thâu,… cái hôn nhiều chữ nghĩa của Xuân Diệu thật mới lạ và đầy cảm xúc.

– Sống như thế với Xuân Diệu mới thực là sống, sống như thế đi đến chỗ tận cùng của niềm hạnh phúc được sống:

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đong đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi

+ Hạnh phúc của sự sống là mùi thơm, là ánh sáng, là thanh sắc tận hưởng cuộc đời, là được cảm nhận về những điều ấy ở độ tràn trề nhất: chếnh choáng, đong đầy, no nê.

+ Trong niềm cảm hứng ở độ cao nhất, Xuân Diệu nhận ra cuộc đời mùa xuân như một cái gì quý giá nhất, trọn vẹn như một trái đời đỏ hồng chín mọng thơm ngát ngọt ngào để cho nhà thơ tận hưởng trong niềm khát khao cao độ:

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi.

III. Tổng kết

1. Nội dung

– Bài thơ là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng phút, từng giây của cuộc đời mình nhất là những năm tháng tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời ham sống đến cuồng nhiệt

2. Nghệ thuật

– Hình thức nghệ thuật điêu luyện: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc và mạch lí luận, gọng điệu say mê, sôi nổi, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ

Đọc Hiểu Văn Bản: Vội Vàng (Xuân Diệu)

Đọc – hiểu văn bản:

Vội vàng (Xuân Diệu)

I. Đọc – hiểu chú thích:

1. Tác giả: Xuân Diệu.

– Xuân Diệu (1916 – 1985), tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, bút danh là Trảo Nha, quê cha ở Hà Tĩnh, quê mẹ ở Bình Định, lớn lên ở Quy Nhơn. Mỗi miền đất có những ảnh hưởng nhất định đến hồn thơ ông.

– Trước cách mạng, Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”. Sau cách mạng, thơ Xuân Diệu hướng mạnh vào thực tế đời sống và rất giàu tính thời sự.

– Xuân Diệu là cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào, bền bỉ, có đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực đối với nền văn học Việt Nam hiện đại. Xuân Diệu xứng đáng với danh hiệu một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa lớn.

– Ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật (1996).

* Phong cách sáng tác:

– Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca đương đại một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo.

– Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết.

* Tác phẩm tiêu biểu:

+ Các tập thơ: Thơ thơ, Gửi hương cho gió, Riêng chung …

+ Các tập văn xuôi: Phấn thông vàng, Trường ca.

+ Các tập tiểu luận phê bình, nghiên cứu văn học: Những bước đường tư tưởng của tôi, Công việc làm thơ …

2. Tác phẩm: bài thơ Vội vàng.

– Xuất xứ:  “Vội vàng” được in trong tập “Thơ thơ”, xuất bản năm 1938.

– Thể thơ: Thơ tự do.

– Nội dung: Bài thơ là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng phút, từng giây của cuộc đời mình nhất là những năm tháng tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời ham sống đến cuồng nhiệt.

– Bố cục: 4 đoạn

+ Đoạn 1 (4 câu đầu): Tình yêu cuộc sống thiết tha.

+ Đoạn 2 (9 câu tiếp theo): Cảm nhận thiên đường mặt đất.

+ Đoạn 3 (16 câu tiếp): Lí lẽ về thời gian, tuổi trẻ, mùa xuân, hạnh phúc.

+ Đoạn 4 (còn lại): Lời giục giã sống vội vàng để tận hưởng hạnh phúc của tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế.

II. Đọc – hiểu văn bản:

1. Tình yêu cuộc sống say mê, tha thiết của nhà thơ (13 câu thơ đầu):

– Khát vọng kì lạ đến ngông cuồng: “Tắt nắng ; buộc gió” + điệp ngữ “tôi muốn”: khao khát đoạt quyền tạo hóa, cưỡng lại quy luật tự nhiên, những vận động của đất trời → Cái tôi cá nhân đầy khao khát đồng thời cũng là tuyên ngôn hành động với thời gian.

⇒ khẳng định một ước muốn táo bạo, mãnh liệt: muốn ngự trị thiên nhiên, muốn đoạt quyền tạo hóa, muôn ngăn thời gian, chặn sự già nua, tàn tạ để giữ mãi hương sắc cho cuộc đời, gói gọn cảm xúc và ý tưởng chủ đạo của cả bài thơ

– Vẻ đẹp của “vườn trần”: đầy sinh lực, nguồn ngộn sức xuân, sắc xuân, hương xuân và tình xuân. Bức tranh mùa xuân hiện ra như một khu vườn tràn ngập hương sắc thần tiên, như một cõi xa lạ: Bướm ong dập dìu, chim chóc ca hót, lá non phơ phất trên cành, hoa nở trên đồng nội:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật, ………………… Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

– Bức tranh thiên nhiên có đủ hình ảnh quen thuộc: ong bướm, hoa lá, yến anh và cả ánh bình minh rực rỡ. Tất cả đang ở thời kì sung mãn nhất, sức sống căng đầy nhất. Tất cả hiện hữu có đôi, có lứa, có tình như mời, như gọi, như xoắn xuýt.

– Âm thanh “khúc tình si”: khúc nhạc tình yêu say đắm của chim yến, chim anh. Vạn vật đều căng đầy sức sống, giao hòa sung sướng. Cảnh vật quen thuộc của cuộc sống, thiên nhiên qua con mắt yêu đời của nhà thơ đã biến thành chốn thiên đường, thần tiên.

– Điệp từ “của”, điệp ngữ “này đây” kết hợp với nhịp thơ nhanh, phép liệt kê như bày ra sự phong phú bất tận cảu thiên nhiên, như mời gọi tác giả ngắm nhìn, say đắm:

+ Tuần tháng mật → ngọt ngào. + Hoa … xanh rì → nồng thắm. + Lá cành tơ … → tươi trẻ. + Yến anh … khúc tình si → đắm say. + Ánh sáng chớp hàng mi → gợi cảm.

– Tác giả đã “đốt cháy cảnh bồng lai đưa chúng ta về hạ giới” với vườn trần xinh đẹp, non tơ, trần đầy sức sống.

– Thi sĩ lãng mạn đã đón chào và chiêm ngưỡng cuộc sống, thiên nhiên bằng “cặp mắt xanh non” của tuổi trẻ. Cái nhìn vừa ngỡ ngàng, vừa đắm say ngây ngất:

– Tác giả khao khát tận hưởng hết vị ngọt ngào, hấp dẫn cảu mùa xuân: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” → Lối diễn đạt độc đáo, táo bạo. Tác giả dường như đã sử dụng hết tất cả các giác quan để đón nhận mùa xuân.

– “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa” – câu thơ có dấu chấm ở giữa, mạch cảm xúc như đột ngột bị gãy làm đôi: nhà thơ đang  “sung sướng” bỗng “vội vàng”, bỗng “hoài xuân” – nhớ “xuân”, tiếc xuân khi mà xuân mới bắt đầu. Xuân Diệu cảm nhận rất rõ những bước đi của thời gian trong hơi thở của đất trời, và cùng thời gian, những gì đẹp nhất của thời gian, những gì đẹp nhất của mùa xuân, của tuổi trẻ, của tình yêu rồi sẽ ra đi không trở lại.

– So sánh: tháng giêng ngon như cặp môi gần: táo bạo. Nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, đắm say ngây ngất ⇒ Sự phong phú bất tận của thiên nhiên, đã bày ra một khu địa đàng ngay giữa trần gian – “một thiên đàng trần thế”.

– Điệp từ ngữ, điệp cấu trúc câu. Dùng từ mệnh lệnh: tắt nắng, buộc gió → Khẳng định cái tôi táo bạo, mãnh liệt: muốn đoạt quyền tạo hoá, ngăn thời gian, chặn sự già nua, tàn tạ để giữ mãi hương sắc cho cuộc đời.

– Câu thơ kéo dài 8 chữ dễ dàng vẽ bức tranh cuộc sống thiên đường trên mặt đất. Nhịp thơ nhanh, dồn dập thể hiện niềm sung sướng, rạo rực, hân hoan, hạnh phúc.

– So sánh: Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần, ⇒ độc đáo, mới lạ ảnh hưởng từ phương Tây

– Nhân hóa: ánh sáng chớp hàng mi, thần vui hằng gõ cửa, khúc tình si của chim yến anh… →Cảm giác sung sướng, ngây ngất, đắm say.

– Hình ảnh thiên nhiên: hoa đồng nội xanh rì, lá cành tơ, khúc tình si của chim yến anh, ong bướm, ánh sáng …

⇒ Tràn đầy sinh lực, ngồn ngộn sức xuân, sắc xuân, hương xuân và tình xuân, vừa gần gũi, thân quen, vừa quyến rũ, đầy tình tứ. Thiên nhiên được nhìn qua lăng kính của tình yêu, qua “cặp mắt xanh non” của tuổi trẻ. Đó là cái nhìn lấy con người làm chuẩn mực cho thiên nhiên, quy chiếu thiên nhiên về vẻ đẹp của giai nhân (hàng mi, tháng giêng ngon).

– Tắt nắng, buộc gió đó đều là những ước muốn không thể thực hiện được ⇒ tác giả muốn níu giữ thời gian,níu giữ những gì đẹp đẽ nhất của cuộc sống, muốn bất tử hóa hương sắc mùa xuân trần thế. Thể thơ ngũ ngôn cùng điệp từ “Tôi” muốn được sử dụng hiệu quả

– Câu thơ bất ngờ kéo dài mở rộng tám chữ để dễ dàng vẽ bức tranh cuộc sống, nhịp thơ nhanh hơn, đồn dập hơn, gợi niềm háo hức say mê. Điệp từ “này đây” chỉ sự phong phú, giàu có, đầy đủ, gần gũi muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên. Hình ảnh đẹp đẽ, tươi non tràn đầy xuân sắc, gắn với tình yêu tuổi trẻ: những thảm cỏ xanh non, lá non cành tơ phơ phất, hoa đua nhau khoe sắc dâng mật ngọt, ong bướm đắm say, ái ân tuần tự,…. Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Tháng riêng ngon như một cặp môi gần đầy sáng tạo mới mẻ, thú vị. Tất cả hài hòa cộng hưởng cùng vẽ nên mùa xuân – thiên đường trên mặt đất, thể hiện tình yêu thiên nhiên, cuộc đời tha thiết và mê đắm, nồng nàn của thi sĩ. Nhà thơ muốn nhắn nhủ đến mọi người: sự đẹp đẽ, tinh túy nhất không phải tìm đâu xa mà nó là cuộc sống xung quanh chúng ta, hãy yêu mến gắn bó hết mình với cuộc sống

2. Nỗi băn khoăn về thời gian, tuổi trẻ, mùa xuân, hạnh phúc và cuộc đời (16 câu tiếp theo):

– Nhà thơ băn khoăn, hoài nghi, nuối tiếc khi nghĩ đến quy luật khắc nghiệt của thời gian. Xuân Diệu có một quan niệm mới mẻ về sự trôi chảy của thời gian:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua, …………. Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

– Những từ “xuân”, “tôi”, “tuổi trẻ” cứ trở đi, trở lại, hàng loạt những mâu thuẫn: “đương tới” – “đương qua”; “còn non” – “sẽ già”; “lòng tổ rộng” – “lượng trời cứ chật”; “vẫn hoài xuân” – “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, tạo thành nỗi day dứt, ám ảnh, tiếc nuối khôn nguôi. Thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại. Xuân Diệu lấy quỹ thời gian hữu hạn của đời người, thậm chí lấy thời gian quý giá nhất của con người là tuổi trẻ để làm thước đo.

– Nỗi tiếc nuối thấm vào cảnh vật, tạo nên cái nhìn sầu não:

Mùi tháng năm đều rớm vị chi phôi, ……………… Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

– Hình ảnh thiên nhiên thay đổi, thấm đẫm vị chia phôi, ly biệt. Các tiếng “chẳng còn”, “rớm vị chia phôi”, “than thầm”, “tiễn biệt”, “phải bay đi”, “bỗng đứt tiếng”, “độ phai tàn”. Như day dứa vào trái tim vốn rất nhạy cảm với đời, yêu đời, không thể không suy nghĩ cái hữu hạn của đời người.

– Đoạn thơ sử dụng các phụ từ, và quan hệ từ: nghĩa là, mà, nhưng, làm chi,… có giá trị biểu đạt “lý luận của trái tim” tự đặt điều kiện, giả thiết, tự biện luận để rồi tự kết luận. Cuối cùng là lời than thở như tuyệt vọng: “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa”.

– Nhận thấy thời gian là vĩnh hằng còn đời người là hữu hạn, Xuân Diệu cuống quýt vồn vã sống nhanh, sống vội vàng: “Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm”

– Xuân Diệu là thế đấy. Ông vừa khát khao đến cháy bỏng, giao cảm đến nồng nàn nhưng lại luôn cảm thấy bơ vơ và hoảng sợ, tuyệt vọng. Xuân Diệu không làm cho người ta tuyệt vọng mà bằng một con đường riêng: Xuân Diệu đã thốt lên tình yêu cuộc sống cho con người.

– Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu là thời gian tuyến tính, một đi không bao giờ trở lại. Nếu các nhà thơ trung đại, quan niệm thời gian là tuần hoàn, là vĩnh cửu thì với Xuân Diệu mỗi phút giây trôi qua là mất đi vĩnh viễn: Xuân đương tới – đương qua / Xuân còn non – sẽ già. Thời gian trôi qua nhanh chóng, một đi không trở lại, mỗi giây phút trôi qua là mất đi vĩnh viễn. ⇒ Xuân Diệu thể hiện cái nhìn biện chứng về vũ trụ, thời gian.

– Xuân Diêu cảm nhận sự mất mát ngay chính sinh mệnh mình. Xuân Diệu lấy tuổi trẻ của mỗi người làm thước đo của thời gian. Theo nhà thơ, thời gian vũ trụ tuần hoàn nhưng tuổi trẻ thì trôi qua rất nhanh, không bao giờ trở lại: Xuân hết nghĩa là tôi cũng mất… Nếu tuổi trẻ chẳng 2 lần thắm lại ⇒ Mùa xuân, tuổi trẻ không tồn tại mãi, nó ngắn ngủi vô cùng, tuổi trẻ đẹp nhất của đời mỗi người. Xuân Diệu lấy tuổi trẻ làm thước đo thời gian. Thời gian mất nghĩa là tuổi trẻ cũng mất.

– Xuân Diệu còn nhận thấy mỗi phút giây trôi qua là sự mất mát, chia lìa: Hình ảnh sự vật:  Cơn gió xinh … phải bay đi … Chim rộn ràng … đứt tiếng reo. ⇒ Cảm nhận sâu sắc, thấm thía: tàn phai, héo úa, chia phôi, tiễn biệt. Mau: gấp gáp, vội vàng, cuống quýt, hưởng thụ.

⇒ Quan niệm mới, tích cực thấm đượm tinh thần nhân văn. Sự trân trọng và ý thức về giá trị của sự sống, cuộc sống, biết yêu đời mình (đây cũng là cơ sở sâu xa của thái độ sống vội vàng). Đây cũng chính là sự thức tỉnh sâu sắc về “cái tôi” cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời.

– Đẹp nhất là con người giữa tình yêu và tuổi trẻ. Thi nhân xưa luôn coi thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp. Xuân Diệu lấy con người giữa tuổi trẻ, tình yêu làm chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp ở đời. Thi sĩ đã nồng nhiệt khẳng định thiên đường ở ngay trên mặt đất trong cuộc sống này. Vậy nên hãy sống cao độ, quý trọng từng phút, từng giây của cuộc đời này nhất là những khoảnh khắc của tuổi trẻ, tình yêu.

– Với Xuân Diệu mùa xuân, tuổi trẻ là một đi không trở lại thế nên thi sĩ tiếc nuối, lo âu. Hàng loạt các câu thơ định nghĩa, điệp ngữ nghĩa là đã giúp thi nhân khẳng định chắc nịch mùa xuân, tuổi trẻ sẽ qua sẽ hết sẽ già, sẽ mất. Giữa cái mênh mông vô cùng, vô tận của vũ trụ, thời gian, sự hiện diện của con người, tuổi trẻ là quá ngắn ngủi mong manh. Lời thơ chứa đựng nỗi ngậm ngùi mới mẻ mà thấm thía. Và tác giả đã cảm nhận rõ mồn một sự phôi pha phai tàn đang âm thầm diễn ra: thời gian rớm vị chia phôi, sông núi than thầm tiễn biệt, từ cơn gió xinh đến ngọn lá biếc đến bày chim non đều ngậm ngùi vì sự tàn úa, phôi phai.

3. Lời giục giã sống vội vàng để tận hưởng hạnh phúc của tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế (đoạn thơ cuối):

– Để sống thật ý nghĩa phải tận hưởng sự sống do mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu đem lại. Từ “tôi” sang“ta”, nhà thơ từ bỏ cái nhỏ bé chật hẹp chuyển sang cái rộng lớn phù hợp với việc tận hưởng cuộc sống:

Ta muốn ôm …………… Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

– “Ta muốn ôm” đặt giữa dòng: sự lớn lao, trung tâm của tất cả. Điệp ngữ “ta muốn” kết hợp với các động từ sắp xếp theo ý nghĩa tăng tiến (ôm riết say thâu cắn) biểu thị sư khát khao chiếm đoạt sự sống một cách vồ vập, tham lam. Hình ảnh thơ: sự sống mơn mởn, mây mưa, gió lượn, cánh bướm đó là những hình ảnh tươi mới, đầy sức sống. Thiên nhiên tươi đẹp như một thiên đường mời gọi thi nhân.

– Các tính từ “chếnh choáng”, “no nê”, “đã đầy” cũng được sắp xếp theo hình thức tăng tiến, bộc lộ sự thèm khát tận hưởng cuộc sống mãnh liệt của một người trể tuổi. Nhịp thơ được tạo bỏi những câu dài, ngắn xen kẽ tạo nên nhịp thơ dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.

– Cảm xúc tràn trề, ào ạt khiến Xuân Diệu sử dụng ngôn từ đặc biệt.  Ngôn từ gần với lời nói thường nhưng đã được nâng lên thành nghệ thuật. Cách dùng từ: động từ mạnh tăng tiến: “riết”, “say”, “thâu”, “ôm”, “cắn”,… nhiều danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, nhiều tính từ chỉ xuân sắc, nhiều điệp từ, điệp cú,… thể hiện cao trào của cảm xúc mãnh liệt.

– Hình ảnh thơ: sự sống mới bắt đầu mơn mởn, mây đưa và gió lượn, cánh bướm với tình yêu, non nước và cây và cỏ rạng… tươi mới, nồng nàn, đầy sức sống. Hình ảnh mới mẻ này biểu đạt kiểu giao cảm khoẻ mạnh, cường tráng của một trái tim căng đầy sức sống, một tâm hồn tràn ngập tình yêu – kiểu giao cảm này chỉ Xuân Diệu mới có.

– Nhịp thơ: dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt. Giọng điệu thơ: mê đắm, nồng nàn, vang khỏe. Điệp: này đây; liên từ: và … và; giới từ chỉ trạng thái: Chếnh choáng, Đã đầy, No nê; tính từ chỉ xuân sắc: mơn mởn, thời tươi ⇒  thể hiện cái “tôi” đắm say mãnh liệt, táo bạo, cái “tôi” điển hình cho thời đại mới, một cái “tôi” tài năng thiết tha giao cảm với đời.

⇒ Tình yêu mãnh liệt táo bạo của một cái “tôi” thi sĩ yêu cuộc sống cuồng nhiệt, tha thiết với mềm vui trần thế, tâm thế sống tích cực. “Cái tôi” giục giã, cuống quýt, vội vàng để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, của vũ trụ.

– Xuân Diệu giục giã hối thúc mọi người hãy sống chạy đua với thời gian, sống vội vàng: Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm. Câu thơ 3 chữ Tôi muốn ôm rất đặc biệt gợi hình ảnh cái tôi ham hố đang ôm trọn tất cả sự sống mơn mởn.Thi sĩ muốn tận hưởng tất cả những gì non nhất, ngon nhất của sự sống: đó là mây đưa và gió lượn, cánh bướm với tình yêu, là non nước và cây và cỏ rạng. Với Xuân Diệu nàng xuân phải thanh tân và quyến rũ.

– Đâu chỉ có thế thi sĩ còn muốn tận hưởng thiên nhiên như tận hưởng ái tình và phải đạt đến độ ngây ngất no nê:

“Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi”

– Và thậm chí là tận hưởng bằng tất cả các giác quan đến tận cùng cảm xúc để rồi lịm đi trong niềm mê đắm ngây ngất: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”.

4. Quan niệm mới về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc:

– Cuộc sống là thiên đường ngay trên mặt đất. Thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất là vì có con người giữa tuổi trẻ và tình yêu.

– Thời gian quý nhất của mỗi đời người là tuổi trẻ mà hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ chính là tình yêu.

– Biết hưởng thụ chính đáng những gì mà cuộc sống dành cho mình, sống mãnh liệt, sống hết mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻ.

⇒ Quan niệm mới, tích cực, thấm đượm tinh thần nhân văn.

III. Tổng kết:

1. Giá trị nội dung:

– Lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quí trọng từng giây, từng phút của cuộc đời mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt.

– Thời gian trôi qua nhanh chóng, một đi không trở lại, mỗi giây phút trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Đời người hữu hạn, tuổi trẻ một đi không trở lại. Sự vật mất mát, chia lìa. ⇒ Sự thức tỉnh sâu sắc về “cái tôi” cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời.

– Cái tôi của Xuân Diệu trong bài thơ tiêu biểu cho cái tôi thời đại Thơ mới:

+ Ý thức sâu sắc về sự yêu đời nhưng vẫn mang nỗi lo âu.

+ Triết lý sống, tuyên ngôn sống cuống quýt, vội vàng, và khát khao giao cảm với đời.

+ Quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ mới mẻ.

2. Giá trị nghệ thuật:

– Sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí.

– Sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ.

– Sự kết hợp giữa, mạch cảm xúc và, mạch luận lí.

– Cách nhìn, cách cảm mới và những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ.

–  Sử dụng ngôn từ nhịp điệu dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.

Ghi nhớ: 

– Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt. – Tư tưởng đó được thể hiện qua một hình thức nghệ thuật điêu luyện: sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc và mạch chân lý, giọng điệu say mê, sôi nổi, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ.

Bài Văn: Cảm Nhận Về Khổ Cuối Bài Thơ “Vội Vàng”

Vội vàng là một trong những tác phẩm thơ xuất xắc của ông. Bài thơ cũng là lời giục giã sống mãnh liệt, sống hết mình. Hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, thể hiện khát vọng sống của tác giả. Tiêu biểu là 10 câu cuối của đoạn thơ. Chính là lời giục giã mọi người và cũng chính là lời giục giã cho chính mình. Vì vậy mà tác giả đã nói:

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm, Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi; – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Vội vàng được in trong tập Thơ thơ, là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng tám. Ở phần trên của bài thơ, thi sĩ luận giải cho người đọc thấy được tạo hoá có sinh ra con người để mãi mãi hưởng lạc thú ở chốn trần gian này đâu. Đời người ngắn ngủi, tuổi xuân có hạn và thời gian trôi đi vĩnh viễn không trở lại. Vì vậy thi nhân “giục giã” chúng ta phải “nhanh lên”, “vội vàng lên” để tận hưởng bữa tiệc của trần gian khi mà “mùa chưa ngả chiều hôm”, khi mà xuân đang non, xuân chưa già:

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm

Đoạn thơ mở đầu bằng ba chữ “Ta muốn ôm” như phơi bày ra hết sự ham hố và cuồng nhiệt của Xuân Diệu với cuộc sống trần thế: Trước đó nhà thơ xưng “tôi” với ước muốn táo bạo “tắt nắng, buộc gió” nhưng ở đoạn thơ cuối này cái tôi ấy đã hoà thành cái ta chung để tận hưởng hết những hương sắc của cuộc đời. Ngay liền đó là câu thơ thể hiện cái tươi non của “Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn”. “Mơn mởn” là từ láy rất gợi cảm và giàu ý nghĩa diễn tả. Nó gợi cảm sự vật, cây cối đang ở độ non mướt, tươi tốt đầy sức sống “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, và đằng sau khao khát “ôm cả sự sống mơn mởn” ấy là những câu thơ mạnh bạo, gấp gáp, giục giã tràn đầy nỗi yêu:

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Một đoạn thơ ngắn mà có tới bốn, năm từ “ta muốn” được lặp đi, lặp lại như nhịp điệu hối hả, như hơi thở gấp gáp của thi nhân. Chứng tỏ Xuân Diệu nồng nhiệt đối rối rít, cuống quýt, như muốn cùng lúc giang tay ôm hết cả vũ trụ, cả cuộc đời, mùa xuân vào lòng mình. Sống như thế với Xuân Diệu mới thực là sống, mới đi đến tận cùng của niềm hạnh phúc được sống. Điệp ngữ “Ta muốn” như ý nghĩa của nó đã nói lên được cái ham muốn khát thèm đến hăm hở, cuồng nhiệt của nhà thơ. Thi nhân như muốn ôm hết vào lòng mình “mây đưa và gió lượn”, muốn đắm say với “cánh bướm tình yêu”, muốn gom hết vào lồng ngực trẻ trung ấy “một cái hôn nhiều”. Muốn thu hết vào hồn nhựa sống dạt dào “Và non nước, và cây, và cỏ rạng” Để rồi, chàng như con ong bay đi hút nhuỵ đời cho đến say “chếnh choáng” hút cho đã cho đầy ánh sáng, “Cho no nê thanh sắc của thời tươi” mới lảo đảo bay đi.

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Điệp từ “cho” với nhịp độ tăng tiến nhấn mạnh các cấp độ khát vọng hưởng thụ đạt đến độ thoả thuê, sung mãn, trọn vẹn. Xuân Diệu muốn tận hưởng cuộc sống cho đến “no nê”, “chếnh choáng”, “đã đầy”. Trong niềm cảm hứng ở độ cao nhất, Xuân Diệu nhận ra cuộc đời, mùa xuân như một cái gì quý nhất, trọn vẹn như một trái đời đỏ hồng, chín mọng, thơm ngát, ngọt ngào, xuân hồng, để cho nhà thơ tận hưởng trong niềm khao khát cao độ. Thơ Xuân Diệu có đặc trưng là sự vồ vập, cuồng nhiệt, mạnh bạo. Mỗi một lần khao khát “Ta muốn” thì lại đi liền với một động từ chỉ trạng thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, nồng nàn hơn “ôm – sự sống” – “riết – mây đưa, gió lượn” – “say – cánh bướm, tình yêu” – “thâu – cái hôn nhiều”, để cuối cùng là một tiếng kêu của sự cuồng nhiệt, đắm say thể hiện niềm yêu đời, khát sống chưa từng có trong thơ ca Việt Nam: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” Đây chính là đỉnh điểm của sự khao khát cháy bỏng của nhà thơ. Dưới ngòi bút của Xuân Diệu và trong ánh mắt “xanh non”, “biếc rờn” của thi sĩ, mùa xuân hiện lên rõ rệt và sống động như có hình có dáng, có hồn có sắc “Xuân hồng”. Mùa xuân như môi, như má của một người thiếu nữ trẻ trung, tràn trề nhựa sống và đẹp xinh, trinh nguyên đang rạo rực yêu đương, hay như một quả chín ngọt thơm trong vườn “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Đứng trước cái hấp dẫn của mùa xuân, cuộc sống, thi sĩ hình như không nén nỗi lòng yêu đã đi đến một cử chỉ cũng thật đáng yêu:

Ta muốn cắn vào ngươi!

Có lẽ trong các bài thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng thì đây là những vần thơ Xuân Diệu nhất. Vì mỗi câu, mỗi chữ đều mang hơi thở nồng nàn, đắm say, ham sống của “một nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Bài thơ là một quan niệm sống mới mẻ và táo bạo mà trước đây chưa từng có. Đến với Vội vàng Xuân Diệu kêu gọi mọi người hãy biết yêu và tận hưởng những thứ cuộc sống ban tặng. Xuân Diệu đã bộc lộ một cái tôi tràn đầy sự thèm khát được sống, được tận hưởng một cách cuồng nhiệt những thanh sắc của cuộc đời. Thi sĩ như muốn giang rộng cả đôi tay, cả lồng ngực của mình để đón nhận mùa xuân của tình yêu, của tuổi trẻ. Nỗi khát thèm ấy là xuất phát từ một quan niệm nhân sinh tiến bộ, tích cực của Xuân Diệu trước cuộc đời:

Mau với chứ, vội vàng lên với chứ Em, em ơi, tình non đã già rồi.

Đoạn thơ đã giúp ta hình dung được tâm hồn Xuân Diệu, một cái tôi yêu đời, giàu xúc cảm, một nhân sinh quan tiến bộ về cuộc đời. Với những gì thể hiện ở trên, Xuân Diệu rất xứng đáng với danh hiệu: “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”.

Đến với Xuân Diệu – nhà thơ có cội nguồn hoà hợp giữa vùng gió Lào cát trắng cùng với sự cần cù của xứ Nghệ. Cả đời Xuân Diệu là cả đời lao động nghệ thuật không lúc nào ngừng bút. Đối với ông sự sống không bao giờ chán nản. Là con người xứ Nghệ cần cù, kiên nhẫn, lao động và sang tạo nghệ thuật. Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất cả về nội dung lẫn nghệ thuật trong nền văn học hiện tại.là một trong những tác phẩm thơ xuất xắc của ông. Bài thơ cũng là lời giục giã sống mãnh liệt, sống hết mình. Hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, thể hiện khát vọng sống của tác giả. Tiêu biểu là 10 câu cuối của đoạn thơ. Chính là lời giục giã mọi người và cũng chính là lời giục giã cho chính mình. Vì vậy mà tác giả đã nói:được in trong tập, là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng tám. Ở phần trên của bài thơ, thi sĩ luận giải cho người đọc thấy được tạo hoá có sinh ra con người để mãi mãi hưởng lạc thú ở chốn trần gian này đâu. Đời người ngắn ngủi, tuổi xuân có hạn và thời gian trôi đi vĩnh viễn không trở lại. Vì vậy thi nhân “giục giã” chúng ta phải “nhanh lên”, “vội vàng lên” để tận hưởng bữa tiệc của trần gian khi mà “mùa chưa ngả chiều hôm”, khi mà xuân đang non, xuân chưa già:Đoạn thơ mở đầu bằng ba chữ “Ta muốn ôm” như phơi bày ra hết sự ham hố và cuồng nhiệt của Xuân Diệu với cuộc sống trần thế: Trước đó nhà thơ xưng “tôi” với ước muốn táo bạo “tắt nắng, buộc gió” nhưng ở đoạn thơ cuối này cái tôi ấy đã hoà thành cái ta chung để tận hưởng hết những hương sắc của cuộc đời. Ngay liền đó là câu thơ thể hiện cái tươi non của “Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn”. “Mơn mởn” là từ láy rất gợi cảm và giàu ý nghĩa diễn tả. Nó gợi cảm sự vật, cây cối đang ở độ non mướt, tươi tốt đầy sức sống “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, và đằng sau khao khát “ôm cả sự sống mơn mởn” ấy là những câu thơ mạnh bạo, gấp gáp, giục giã tràn đầy nỗi yêu:Một đoạn thơ ngắn mà có tới bốn, năm từ “ta muốn” được lặp đi, lặp lại như nhịp điệu hối hả, như hơi thở gấp gáp của thi nhân. Chứng tỏ Xuân Diệu nồng nhiệt đối rối rít, cuống quýt, như muốn cùng lúc giang tay ôm hết cả vũ trụ, cả cuộc đời, mùa xuân vào lòng mình. Sống như thế với Xuân Diệu mới thực là sống, mới đi đến tận cùng của niềm hạnh phúc được sống. Điệp ngữ “Ta muốn” như ý nghĩa của nó đã nói lên được cái ham muốn khát thèm đến hăm hở, cuồng nhiệt của nhà thơ. Thi nhân như muốn ôm hết vào lòng mình “mây đưa và gió lượn”, muốn đắm say với “cánh bướm tình yêu”, muốn gom hết vào lồng ngực trẻ trung ấy “một cái hôn nhiều”. Muốn thu hết vào hồn nhựa sống dạt dào “Và non nước, và cây, và cỏ rạng” Để rồi, chàng như con ong bay đi hút nhuỵ đời cho đến say “chếnh choáng” hút cho đã cho đầy ánh sáng, “Cho no nê thanh sắc của thời tươi” mới lảo đảo bay đi.Điệp từ “cho” với nhịp độ tăng tiến nhấn mạnh các cấp độ khát vọng hưởng thụ đạt đến độ thoả thuê, sung mãn, trọn vẹn. Xuân Diệu muốn tận hưởng cuộc sống cho đến “no nê”, “chếnh choáng”, “đã đầy”. Trong niềm cảm hứng ở độ cao nhất, Xuân Diệu nhận ra cuộc đời, mùa xuân như một cái gì quý nhất, trọn vẹn như một trái đời đỏ hồng, chín mọng, thơm ngát, ngọt ngào, xuân hồng, để cho nhà thơ tận hưởng trong niềm khao khát cao độ.Thơ Xuân Diệu có đặc trưng là sự vồ vập, cuồng nhiệt, mạnh bạo. Mỗi một lần khao khát “Ta muốn” thì lại đi liền với một động từ chỉ trạng thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, nồng nàn hơn “ôm – sự sống” – “riết – mây đưa, gió lượn” – “say – cánh bướm, tình yêu” – “thâu – cái hôn nhiều”, để cuối cùng là một tiếng kêu của sự cuồng nhiệt, đắm say thể hiện niềm yêu đời, khát sống chưa từng có trong thơ ca Việt Nam: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” Đây chính là đỉnh điểm của sự khao khát cháy bỏng của nhà thơ.Dưới ngòi bút của Xuân Diệu và trong ánh mắt “xanh non”, “biếc rờn” của thi sĩ, mùa xuân hiện lên rõ rệt và sống động như có hình có dáng, có hồn có sắc “Xuân hồng”. Mùa xuân như môi, như má của một người thiếu nữ trẻ trung, tràn trề nhựa sống và đẹp xinh, trinh nguyên đang rạo rực yêu đương, hay như một quả chín ngọt thơm trong vườn “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Đứng trước cái hấp dẫn của mùa xuân, cuộc sống, thi sĩ hình như không nén nỗi lòng yêu đã đi đến một cử chỉ cũng thật đáng yêu:Có lẽ trong các bài thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng thì đây là những vần thơ Xuân Diệu nhất. Vì mỗi câu, mỗi chữ đều mang hơi thở nồng nàn, đắm say, ham sống của “một nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”.Bài thơ là một quan niệm sống mới mẻ và táo bạo mà trước đây chưa từng có. Đến vớiXuân Diệu kêu gọi mọi người hãy biết yêu và tận hưởng những thứ cuộc sống ban tặng. Xuân Diệu đã bộc lộ một cái tôi tràn đầy sự thèm khát được sống, được tận hưởng một cách cuồng nhiệt những thanh sắc của cuộc đời. Thi sĩ như muốn giang rộng cả đôi tay, cả lồng ngực của mình để đón nhận mùa xuân của tình yêu, của tuổi trẻ. Nỗi khát thèm ấy là xuất phát từ một quan niệm nhân sinh tiến bộ, tích cực của Xuân Diệu trước cuộc đời:Đoạn thơ đã giúp ta hình dung được tâm hồn Xuân Diệu, một cái tôi yêu đời, giàu xúc cảm, một nhân sinh quan tiến bộ về cuộc đời. Với những gì thể hiện ở trên, Xuân Diệu rất xứng đáng với danh hiệu: “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”.

Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng

! Lưu ý: Khi phân tích, bình giảng thơ, luôn đi từ nghệ thuật tới nội dung.

– Đại từ nhân xưng “tôi” xuất hiện từ đầu với tư thế dõng dạc, đường hoàng, tuyên xưng khát vọng của mình qua đại từ “muốn”. “Muốn” đồng nghĩa với “mong”, “ước”, nhưng sắc thái chủ động hơn.

– Các động từ “tắt năng”, “buộc gió” cho ta rõ hơn niềm khát khao của Xuân Diệu, thi sĩ muốn can dự vào công việc của tạo hóa ð nên đây là khát vọng thực táo bạo.

– Đoạn thơ còn thể hiện quan điểm thẩm mĩ mới mẻ và độc đáo: với việc bày ra một bữa tiệc nơi khu vườn tình ái, Xuân Diệu đã gián tiếp trả lời cho 2 câu hỏi: “Cái đẹp có ở đâu?” và “Thế nào là chuẩn mực của cái đẹp?”

o Điệp từ “Cái đẹp có ở đâu?”: “này đây” xuất hiện 5 lần. Đây là từ chỉ định, nó không chỉ gợi ra sự sung mãn, tràn trề, phong phú, dồi dào của cảnh vật, mà quan trọng hơn, nó cho ta biết khoảng cách giữa thi sĩ và cái đẹp: gần, rất gần, ngay bên cạnh, tưởng chừng chỉ cần chạm tay là tới. Cái đẹp luôn mời gọi đầy quyến rũ, giữa cõi trần này, quanh chúng ta.

o Điều này thể hiện rõ qua các phép so sánh đầy biểu cảm và làm nên phong cách Xuân Diệu, tiêu biểu nhất là câu: “Chuẩn mực của cái đẹp là gì?”: “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”. Trước Xuân Diệu, trong nền thơ ca truyền thống Việt Nam, rất chuộng lối nói: “Người ta là hoa đất”; “Miệng cười như thể hoa ngâu/ Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”; “Làn thu thủy, nét xuân sơn”;… Nghĩa là cái đẹp của thiên nhiên luôn là chuẩn mực cho cái đẹp của con người. Đến Xuân Diệu, tháng Giêng – thiên nhiên lại được đem so sánh với một cặp môi gần của người thiếu nữ. Đây là sự đảo chiều ngoạn mục trong tư duy. Với Xuân Diệu, cùng là chuẩn mực cái đẹp, là chuẩn mực của vũ trụ, nhưng không phải là cùng trong tuổi trẻ, trong tình yêu. “Cặp môi gần” có lẽ là đôi môi gợi cảm, quyến rũ của người con gái.

– Sáng tạo nghệ thuật của Xuân Diệu: Đoạn thơ còn thể hiện rõ những cách tân giữa các yếu tố nghệ thuật, tiêu biểu nhất là ảnh hưởng của ông với lối thơ tượng trưng Pháp ð câu thơ là sự huy động, kích thích nhiều giác quan, có những câu là sự trộn, chuyển kênh liên tục giữa các giác quan. Tiêu biểu nhất: “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”. “Tháng Giêng” là khái niệm thời gian, thuộc nhận thức trừu tượng, đã được Xuân Diệu cụ thể hóa thành ấn tượng của vị giác: “ngon”. Sau đó lại chuyển sang thị giác: “cặp môi gần”. Như vậy, tháng Giêng vừa quyến rũ, ngọt ngào, tựa thứ trái chín, lại có sự say đắm quyến rũ của một cô gái đẹp. Dù hiểu theo cách nào thì ta cũng thấy Xuân Diệu yêu thương, tha thiết, nồng nàn với tháng Giêng.

“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân. Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, . Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời; Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt… Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…”

cú sốc về tiết tấu và nó là bản lề của tâm trạng. Trước dấu chấm là đỉnh cao của cảm xúc, là dào dạt, rộn ràng, đam mê. Sau dấu chấm, “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa” : Dấu chấm đột ngột xuất hiện giữa dòng thơ tạo bước chuyển (khúc ngoặt) “vội vàng một nửa”. Đây là lần đầu tiên và duy nhất trong toàn bài, hai chữ “vội vàng” được láy lại từ nhan đề. Vội vàng chính là mẫn cảm về thời gian. Cái thú vị là hai chữ “một nửa” trạng thái tinh thần của Xuân Diệu: vừa đam mê, vừa đau khổ, vừa bắt đầu đã lo đến khi kết thúc, tình vừa non đã thấy sắp già rồi, vừa ở giữa khu vườn tình ái, thoắt cái đã thấy mình lạc lõng ở hoang mạc cô liêu.

– . Xuân Diệu sử dụng cấu trúc thơ theo lối định nghĩa với từ “nghĩa là”, Xuân Diệu đã đồng nhất 2 vế “đương tới” và Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua/ Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già” “đương qua”, “non” và “già”. Về bản chất, đây là cái nhìn thời gian tuyến tính một đi không trở lại: “Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt”. Đây là quan niệm mới mẻ, tiến bộ của Xuân Diệu về thời gian. Trước thời Thơ Mới, thi nhân Việt Nam thường có cái nhìn bình thản, an nhiên trước vũ trụ; bởi lẽ, với họ thời gian là tuần hoàn, có tính luân hồi, xuân năm nay qua đi, xuân năm sau sẽ tới:

(Cáo tật thị chúng – Mãn Giác Thiền Sư)

(Có bệnh bảo mọi người – Mãn Giác Thiền Sư)

ð Quan niệm của Xuân Diệu là quan niệm tích cực, nó cảnh tỉnh con người nên sống có ý nghĩa từng giây, từng phút. ( Không ai tăm hai lần trên một dòng sông).

“Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt… Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…”

– Quan niệm về mối quan hệ giữa tôi với thời gian: “Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi”. Câu thơ khắc họa sự tương phản gay gắt giữa cái tôi cá nhân, cái tôi đời người với thời gian, vũ trụ, trời đất. Thời gian thì vô hạn, đời người là hữu hạn, do đó, Xuân Diệu phủ nhận sự tồn tại vĩnh viễn của một cái tôi, của cái đẹp: “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”. Hệ quả của điều ấy là cảm thức về sự chia ly, chia phôi. Mỗi khoảnh khắc đều đang diễn ra sự chia ly, lời tiễn biệt triền miên, bao trùm từ sông núi đến tháng năm, từ ngọn gió đến cánh chim:

“Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi”: đây có thể xem là câu thơ hay nhất của Xuân Diệu về thời gian. Quả thực, Xuân Diệu là người bị ám ảnh về thời gian. Xuân Diệu sử dụng tất cả các giác quan để cảm nhận thời gian: khứu giác, thị giác, vị giác, cảm giác. Dù bằng giác quan nào thì đáp án cuối cùng là chia phôi, nghĩa là thời gian một đi không trở lại.

” Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm, Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi; – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

– Đoạn thơ mở đầu bằng một thái độ lựa chọn dứt khoát, quyết liệt: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”. Câu thơ là lời giục giã. Đây là giọng thường trực trong thơ Xuân Diệu:

– 9 dòng thơ còn lại là sự hiện thực hóa cái quyết tâm, lời giục giã ở trên.

o 3 chữ “Ta muốn ôm” đửng riêng một dòng thơ và đặt chính giữa dòng cho thấy vị trí đặc biệt quan trọng của nó. Câu thơ giống một lời tuyên ngôn dõng dạc: từ cái “tôi” của thuở ban đầu đã trở thành “ta”. Với đại từ “ta”, dường như Xuân Diệu muốn lan tỏa, muốn truyền nhiệt sống đến cả những người xung quanh, để rồi liên tiếp phía sau là một chuỗi những dòng thơ trùng điệp về cấu trúc: bắt đầu bằng 2 chữ “ta muốn”, tâm điểm là 1 động từ, đối tượng của ta là những hình ảnh, sự vật được gợi tên bằng các cụm danh từ, động từ, tính từ.

o Nhìn vào hệ thống động từ, có thể thấy, chất Xuân Diệu rất đậm nét: ôm, riết, say, thâu, cắn. Đây đều là những động từ mạnh ở thể chủ động. Không chỉ diễn tả tâm trạng, các giác quan, mà chúng còn là những động từ chỉ sự yêu đương nồng nàn. Như vậy, Xuân Diệu không chỉ chiêm ngưỡng, ngắm nhìn, mà còn có khát khao, hành động chiếm lĩnh. Đọc đến đây, người ta có cảm giác Xuân Diệu giống như một người tình nhân tha thiết, đắm say, mà tình thương của chàng là mùa xuân, là thiên nhiên bất tận.

o Nếu ở những dòng thơ đầu, Xuân Diệu bày tỏ trước người đọc một bữa tiệc trần gian, thì đoạn này, một lần nữa, Xuân Diệu đưa người đọc thăng hoa khi lựa chọn những từ ngữ, hình ảnh: “sự sống mới bắt đầu mơn mởn”, “mây đưa và gió lượn”, “cánh bướm với tình yêu”, “cái hôn nhiều”, “non nước”, “cây”, “cỏ”, “xuân hồng”. Bản thân những sự vật nhà thơ lựa chọn vốn đã rất đẹp, ông không ngừng gia tăng sức quyến rũ của chúng với động từ, tính từ để gợi tả vẻ đẹp non tơ, sự tươi trẻ.

o Đoạn thơ còn đầy ắp tính từ và thừa thãi liên từ “và”, “cho”:

Tất cả đẩy lên cao trào và kết thúc trong một lời hô gọi:

“Hỡi Xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi.”