Top 19 # Văn Biểu Cảm Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang / 2023

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan để thấy một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc về khung cảnh hữu tình của Đèo Ngang. Qua đó cảm nhận được từ trong câu chữ ấy cả tiếng lòng thầm lặng, nỗi niềm sâu kín của tác giả đối với đất nước, quê hương.

Đôi nét về tác giả, tác phẩm

Giới thiệu về Bà Huyện Thanh Quan

Bà Huyện Thanh Quan là một nữ sĩ nổi tiếng sống ở giai đoạn đầu của thế kỉ XIX, Bà quê ở làng Nghi Tàm, ven Hồ Tây, Thăng Long (nay là Hà Nội). Bà có tên thật là Nguyễn Thị Hinh nhưng người đời thường quen gọi là Bà Huyện Thanh Quan vì chồng bà là Lưu Nghi, từng đảm nhiệm chức tri huyện Thanh Quan (Thái Bình).

Bà vốn xuất thân trong một gia đình quan lại coi trọng việc học hành, chính vì thế nên bà có vốn hiểu biết khá rộng về chữ Nôm. Bên cạnh đó, bản thân bà lại là một người nhạy bén trong học tập và có tâm hồn nhạy cảm với cuộc đời và bà đã bộc lộ những khả năng đó của mình trong lĩnh vực sáng tác thơ ca chữ Nôm.

Về sự nghiệp văn chương, những sáng tác của bà được lưu lại không nhiều, hiện người đời có thể tìm được sáu bài thơ Đường luật mà bà đã để lại, có thể kể tên như: “Chiều hôm nhớ nhà” , “Thăng Long thành hoài cổ” , “Chùa Trấn Bắc” , “Chơi đài Khán Xuân Trấn Võ” , “Tức cảnh chiều thu” và “Qua Đèo Ngang” .

Tất cả những bài thơ này đều được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Tuy số lượng những tác phẩm để lại không nhiều nhưng người đời có thể thấy được bà đã thể hiện trong thơ mình một giọng thơ man mác buồn, ngôn ngữ mực thước, trang trọng và chất chứa trong đó là nỗi niềm hoài cổ và cái nhìn trĩu nặng tâm tư về nhân thế.

Giới thiệu bài thơ Qua đèo ngang

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan

Bức tranh thiên nhiên trong nỗi niềm của người thi nhân

Qua hai câu thơ đầu của bài thơ, bà Huyện Thanh Quan đã tái hiện trước mắt người đọc cả không gian và thời gian của Đèo Ngang khi nhân vật trữ tình đặt chân đến địa danh này:

“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.”

Bức tranh cuộc sống hiện lên trong bài thơ

Bên cạnh việc thể hiện sự sống của thiên nhiên, với hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ đã làm xuất hiện trong bức tranh cảnh vật ấy bóng dáng của con người:

“Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.”

Thông thường, một bức tranh thiên nhiên khi có sự xuất hiện của con người thì cũng trở nên sống động hơn và mang lại cảm giác hài hòa giữa nhân với cảnh . Thế nhưng, khi con người xuất hiện trong tranh ấy với bóng dáng nhỏ nhoi và sự ít ỏi, trong trạng thái “lác đác” , trong tư thế “lom khom” thì lại càng làm cho không gian cảnh vật thêm hoang vắng, mênh mông.

Nói như vậy là bởi giữa không gian rộng lớn, hùng vĩ, bát ngát trùng mây của Đèo Ngang nhưng chỉ xuất hiện đôi nét phác họa về vài chú tiều, về những mái nhà, khu chợ thưa thớt. Con người chính vì vậy trở nên nhỏ bé vô cùng trước sự vô hạn của không gian. Như vậy, trên khung nền của cảnh thiên nhiên núi đèo bát ngát, bao la, mặc dù có sự hiện hữu của đời sống con người nhưng nếu đó chỉ là sự xuất hiện thấp thoáng, ít ỏi thì chỉ càng tô đậm thêm sự hoang sơ, trập trùng, và bất tận của cảnh mà thôi.

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo ngang, ta thấy hai câu thơ đã thể hiện việc tác giả sử dụng rất khéo léo nghệ thuật đăng đối. Nếu câu trước có “tiều vài chú” , thì câu sau có sự xuất hiện của “chợ mấy nhà” , nếu câu trước những chú tiều ở trong tư thế “lom khom dưới núi” thì câu sau những gian nhà, phiên chợ chỉ “lác đác bên sông” .

Đặc biệt, với phép đảo trật tự cú pháp, để tính chất của hình ảnh lên trên trước sự xuất hiện của nó (thay vì viết “Vài chú tiều lom khom dưới núi” – “Chợ mấy nhà lác đác bên sông” thì nhà thơ lại viết thành “Lom khom dưới núi, tiều vài chú” – “Lác đác bên sông, chợ mấy nhà” ) cùng với sự kết hợp các từ láy “lác đác” , “lom khom” đã có tác dụng gợi hình cho và nhấn mạnh sự leo lét của sự sống con người ở hai câu thực này.

Tâm trạng tác giả trong khung cảnh chiều buồn

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo ngang, người đọc còn nhận ra rằng trước khoảnh khắc tắt nắng của một ngày, không gian mênh mông, hoang sơ và đời sống con người thì thưa thớt, vắng vẻ, tâm trạng của nhân vật trữ tình mới thêm trĩu nặng những nỗi niềm, tâm tư:

“Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.”

Trong hai câu thơ trên, bà Huyện Thanh Quan đã sử dụng điển tích về chim quốc quốc và chim gia gia . Theo chuyện xưa tích cũ, vua Thục Đế do bị mất nước nên rất đau lòng đến nỗi ngày đêm kêu gào và tiếng kêu cất lên chính là tiếng “quốc quốc” (nghĩa là đất nước) và về sau chim quốc quốc được xem là sự hóa thân của nhà vua mà thành.

Tâm trạng “nhớ nước” , “thương nhà” của nhà thơ đã làm toát lên một tấm lòng đáng trân trọng và cần được cảm thông. Bởi vì, trước khi đến Huế, nhân vật trữ tình đã có một khoảng thời gian dài sống và gắn bó với mảnh đất Thăng Long. Chính hình ảnh về vùng đất và con người nơi ấy đã in sâu vào tâm trí của nhà thơ. Nó đã trở thành một miền kí ức dạt dào để đến lúc rời xa, trong thâm tâm bà nảy sinh những cảm xúc “nhớ” , “thương” trên là điều không thể tránh khỏi.

Do vậy, khi phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo ngang ta thấy Đèo Ngang vốn đã hoang vắng, u tịch nhưng cũng không thể trở nên rộn rã, vui tươi hơn khi có sự xuất hiện của âm thanh tiếng chim. Bởi, tiếng kêu tha thiết, xót xa như vậy thì chỉ làm tăng thêm vẻ cô liêu, buồn vắng của cảnh vật. Tiếng kêu của những loài chim ấy là một cách ẩn dụ cho tiếng lòng của một tâm hồn hoài vọng về sự thịnh suy của triều đại đã qua.

Khi tâm trạng không thể cất giấu mãi hoài vào trong trong cảnh vật, tác giả đã bộc lộ nó một cách trực tiếp qua hai câu thơ cuối:

“Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta . ”

Những câu thơ tiếp tục gợi ra sự đối lập giữa một con người nhỏ bé, đơn độc với sự rợn ngợp, bao la của non nước mây trời Đèo Ngang. Khi con người đã có dịp cùng trải qua bao thăng trầm với lịch sử dân tộc, con người ấy như bỗng nghiệm ra một điều: đời người chỉ là hữu hạn trong sự vô cùng của thiên nhiên, đất nước…

Cách cắt mảnh các hình ảnh “trời” , “non” , “nước” và những từ mang ý nghĩa riêng lẻ “một” , “mảnh” , “riêng” , “ta” đã làm nổi bật lên trên sự bất tận, bao la của tạo vật là nỗi trống vắng, cô đơn của con người. Con người ấy lại không thể tỏ bày cùng ai những nỗi niềm đang chất chứa mà chỉ có thể bầu bạn với chính mình ( “ta với ta” ) thì lại càng trở nên cô đơn, lẻ loi hơn bao giờ hết.

Nhận xét về giá trị của tác phẩm

Bài văn mẫu: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo ngang

Qua đèo ngang là một tác phẩm nổi tiếng của bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ được viết khi bà lên đ ường đến huyện Phú Xuân đi qua đèo ngang là một địa danh phong cảnh hữu tình. Bài thơ là bức tranh ngụ tình sâu sắc của nhà thơ qua đó hé lộ cho chúng ta thấy được nỗi nhớ mong tha thiết của tác giả hiện lên rõ nét.

Mở đầu bài thơ là hai câu đề

“Bước tới đèo ngang bóng xế tà”

Câu thơ gợi lên thời điểm mà tác giả tới đèo ngang, khi đó thời gian đã vào xế tà tức là đã quá trưa trời đang chuyển sang buổi chiều và sắp tối. Đối với một vùng hoang sơ hẻo lánh thì thời điểm chiều tà cũng là thời điểm mọi người đã quay trở về nhà. Phải chăng chọn thời điểm như thế tác giả muốn nhấn mạnh cho người đọc cái xơ xác vắng vẻ nơi đây. Và từ đây tâm trạng tác giả bắt đầu hỗn loạn khi chứng kiến cảnh vật từ trên cao nhìn xuống.

“Cỏ cây chen là đá cheo hoaLom khom dưới núi tiều vài chú“Lom khom dưới núi tiều vài chú“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc“Dừng chân ngắm lại trời non nướcMột mảnh tình riêng ta với ta” Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” Lác đác bên sông chợ mấy nhà” Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

Khung cảnh ấy thật gợi lên trong lòng người đọc những nỗi nhớ vấn vương rồi lan tỏa ra từng câu thơ khiến cho người đọc thấm đượm được phần nào nỗi nhớ thương của tác giả đối với quê hương. Trời đã chiều tối cảnh vật đã lụi tàn khiến cho tâm trạng của bà càng trở nên xốn xang vô cùng. Cái thời điểm ấy rất phù hợp với tâm trạng hiện giờ của bà. Đúng như trong những câu thơ cổ đã nói đến tâm trạng con người nhuốm màu sang cảnh vật.

Ở đây tâm trạng cô đơn hiu vắng hiu quạnh của tác giả đã nhuốm màu sang cảnh vật khiến cho cảnh vật giờ đây dường như trở nên tam thương hơn bao giờ hết. Ta phải công nhận là cảnh vật trong thơ được hiện lên khá là sinh động. Có cỏ cây có hoa lá nhưng lại là một cảnh tượng chen chúc nhau để tìm sự sống. Cảnh vật ấy hoang sơ hoang dại đến nao lòng. Phải chăng sự chặt chội của hoa lá phải chen chúc nhau để tồn tại cũng chính là tâm trạng của tác giả đang vô cùng hỗn loạn. Cảnh vật ấy hoang sơ hoang dại đến nao lòng. Tác giả đã sử dụng phép đối và đảo ngữ trong miêu tả đầy ấn tượng. Nó làm cho người đọc cảm thấy được sự hoang vắng của đèo ngang lúc chiều tà bóng xế mặc dù nơi đây có cảnh đẹp cỏ cây hoa đá, lá. Vì ở đây vắng vẻ quá nên thi sĩ đã phóng tầm mắt ra xa chút nữa như để tìm một hình ảnh nào đó để tâm trạng thi nhân phần nào bớt chút hiu quạnh. Và phía dưới chân đèo xuất hiện một hình ảnh.

Điểm nhìn đã được nhà thơ thay đổi nhưng sao tác giả vẫn chỉ cảm thấy sự hiu quạnh càng lớn dần thêm. Bởi thế giới con người nơi đây chỉ có vài chú tiểu đang gánh nước hay củi về chùa. Đó là một hình ảnh bình thường thế nhưng chữ “lom khom” khiến hình ảnh thơ thêm phần nào đó vắng vẻ buồn tẻ thê lương. Đây là một nét vẽ ước lệ mà ta thường thấy trong thơ cổ “vài” nhưng lại rất thần tình tinh tế trong tả cảnh. Mấy nhà chợ bên kia cũng thưa thớt tiêu điều. Thường thì ta thấy nói đến chợ là nói đến một hình ảnh đông vui tấp nập nào người bán nào người mua rất náo nhiệt. Thế nhưng chợ trong thơ bà huyện thanh quan thì lại hoàn toàn khác, chợ vô cùng vắng vẻ không có người bán cũng chẳng người mua chỉ có vài chiếc nhà lác đác bên sông. Nhà thơ đang đi tìm một lối sống nhưng sự sống đó lại làm cảnh vật thêm éo le buồn bã hơn. Sự đối lập của hai câu thơ khiến cho cảnh trên sông càng trở nên thưa thớt xa vắng hơn. Các từ đếm càng thấy rõ sự vắng vẻ nơi đây. Trong sự hiu quạnh đó bỗng vang lên tiến kêu của loài chim quốc quốc, chim gia trong cảnh hoàng hôn đang buông xuống.

Nghe tiếng chim rừng mà tác giả thấy nhớ nước, nghe tiếng chim gia gia tác giả thấy nhớ nhà. Dường như nỗi lòng ấy đã thấm sâu vào nỗi lòng nhà thơ da diết không thôi. Lữ khách là một nữ nhi nên nhớ nước nhớ nhà nhớ chồng nhớ con là một điều hiển nhiên không hề khó hiểu. Từ nhớ nước, thương nhà là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia gia phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà Huyện Thanh Quan hồi đó? Từ thực tại của xã hội khiến cho nhà thơ suy nghĩ về nước non về gia đình.

Câu kết bài thơ dường như cũng chính là sự u hoài về quá khứ của tác giả. Bốn chữ “dừng chân ngắm lại” thể hiện một nỗi niềm xúc động đến bồn chồn. Một cái nhìn xa xôi mênh mang, tác giả nhìn xa nhìn gần nhìn miên man nhìn trên xuống dưới nhưng nơi nào cũng cảm thấy sự hiu quạnh sự cô đơn và nỗi nhớ nhà càng dâng lên da diết. Cảm nhận đất trời cảnh vật để tâm trạng được giải tỏa nhưng cớ sao nhà thơ lại cảm thấy cô đơn thấy chỉ có một mình “một mảnh tình riêng ta với ta”. Tác giả đã lấy cái bao la của đất trời để nhằm nói lên cái nhỏ bé “một mảnh tình riêng” của tác giả cho thấy nỗi cô đơn của người lữ khách trên đường đi qua đèo ngang.

Bài thơ là bức tranh tả cảnh ngụ tình thường thấy trong thơ ca cổ. Qua đó tác phẩm cho chúng ta thấy được tâm trạng cô đơn hiu quạnh buồn tẻ của tác giả khi đi qua đèo ngang. Đó là khúc tâm tình của triệu là bìa thơ mãi mãi còn y nguyên trong tâm trí người đọc.

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Tác Phẩm Văn Học Bài Thơ Qua Đèo Ngang / 2023

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học bài thơ Qua Đèo Ngang

Trong các tác phẩm văn học m à em từng được học có lẽ tác phẩm “Qua Đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan luôn để lại trong lòng em nhiều cảm xúc và ấn tượng sâu sắc bởi cách dùng câu chữ của bà Huyện Thanh Quan rất ấn tướng với em.

Bà Huyện Thanh Quan là một trong những nhà thơ nữ có tài và có tâm với quê hương đất nước. Bà cũng là một trong những thi sĩ ít ỏi là nữ giới của nước trong thời kỳ phong kiến vốn là một chế độ xã hội chỉ coi trọng người đàn ông, nên người phụ nữ thường chỉ đứng sau người đàn ông của mình mà thôi ít có ai theo con đường chữ nghĩa học vấn.

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” được bà Huyện Thanh Quan viết trong bối cảnh nước ta đang trong một thời kỳ vô cùng đặc biết phân chia giữa đàng trong và đàng ngoài bởi hai chế độ triều đình phong kiến khác nhau. Mở đầu bài thơ bà Huyện Thanh Quan đã miêu tả rõ cho người đọc thấy được không gian mênh mông của và thời gian sáng tác bài thơ

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

Trong câu thơ thứ hai của bài thơ này bà Huyện Thanh Quan đã nói tới một bức tranh thiên nhiên giữa cỏ cây hoa lá đan xem vào nhau trở thành một thảm cỏ xanh tươi có bố cục hài hòa tinh tế. Bài thơ đã nói lên một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp. Cách sử dụng từ ngữ của bà Huyện Thanh Quan cho thấy vẻ đẹp của núi rừng thiên nhiên hoang sơ nơi đây.

Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Trong hai câu thơ này tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ làm cho câu thơ trở nên độc đáo, làm cho không gian bao la hơn. Những chú tiều phu càng trở nên nhỏ bé trước không gian bao la của đất trời. Hai câu thơ nói lên vẻ đẹp của cảnh trời đất bao la núi rừng hùng vĩ chỉ có con người là nhỏ bé trước không gian.

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Trong hai câu thơ này bà Huyện Thanh Quan sử dụng từ đồng âm nhưng khác nghĩa để gợi lên trong lòng mình một nỗi buồn thương nhà, thương quê của mình. Thể hiện một khung cảnh quê hương rơi vào cảnh chia cắt khiến cho người dân chịu cảnh lầm than. Trong từng câu thơ tác giả Huyện Thanh Quan luôn thể hiện một nỗi buồn man mác .

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

Trong hai câu thơ kết tác giả Huyện Thanh Quan thể hiện nỗi buồn của mình khi một mình đối diện với chính mình với nỗi sầu muộn, thương nhớ quê hương, thương cho những người dân bị cảnh chia cắt bởi hai triều đình. Tác giả đã sử dụng từ ta với ta để nói lên nỗi buồn của mình khi chỉ có một mình ở nơi đây đối diện với sự trống trải hoang sơ trong lòng.

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” là một tác phẩm văn học cho người đọc cảm nhận được cái hay cái đẹp trong thơ cổ, nghệ thuật sử dụng từ ngữ của tác giả Huyện Thanh Quan vô cùng độc đáo tạo được ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” chính là tác phẩm văn học để lại trong lòng em nhiều cảm xúc lắng đọng khiến em không thể nào quên được.

Hướng Dương

Topics #huyện thanh quan #qua đèo ngang #tác phẩm văn học #văn phát biểu cảm nghĩ

Biểu Cảm Về Bài Thơ “Qua Đèo Ngang” Của Bà Huyện Thanh Quan / 2023

Bà Huyện Thanh Quan sống ở thế kỷ XIX, bà là một nữ thi sĩ tài danh hiếm có của nền văn học trung đại Việt Nam. Một trong sáu bài thơ của bà Huyện Thanh Quan là bài thơ “Qua Đèo Ngang”. Qua Đèo Ngang được tác giả viết trên đường từ Thăng Long vào Huế để nhận chức “Cung trung giáo tập”. Bài thơ khắc họa cảnh tượng đèo ngang trong buổi chiều bóng xế tà. Qua đó thể hiện đầy ắp nỗi niềm nhớ thương của bà Huyện Thanh Quan trên bước đường xa xứ. Có thể nói “Qua Đèo Ngang” là một bài thơ hay, gợi trong lòng người đọc nhiều cảm xúc.

Bài thơ trước hết mở ra trước mắt người đọc cảnh tượng đèo ngang vào buổi chiều ta bóng xế:

Bước tới đèo ngang, bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Tác giả đã sử dụng từ ngữ giàu sức gợi tả, gợi cảm “bóng xế tà” gợi thời điểm bà Huyện Thanh Quan đặt chân đến đèo ngang là buổi chiều, khi hoàng hôn đang buôn xuống. Đây cũng là thời điểm rất dễ gợi buồn nhất là những người có tâm trạng xa nhà xa quê. Câu thơ thứ hai kết hợp phép nhân hóa “cỏ cây chen đá”, “lá chen hoa”, điệp từ “chen” cách hiệp vần a “lá”_ “hoa” tất cả ddeuf gợi lên cảnh tượng đèo ngang thật rõ nét với những cỏ, những cây, những lá, những hoa và tất cả đều gợi lên sức sống mãnh liệt của một vùng rừng núi hoang sơ, ngút ngàn. Cảnh thiên nhiên tuy đẹp nhưng mênh mông, rộng lớn, nhạt nhòa trong bóng hoàng hôn cho nên nó ảm đạm và vương vấn nỗi buồn.

Cảnh vật đèo ngang không chỉ có sự xuất hiện của cây cối, hoa lá mà còn có sự xuất hiện của con người:

Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

Ta bắt gặp trong hai câu thơ trên cách sử dụng từ láy giàu giá trị gợi hình “lom khom”, “lác đác”, phép đảo ngữ ở cả hai câu thơ “tiều vài chú”, “chợ mấy nhà”. Đặc biệt phép đối chặt chẽ giữa câu trên và câu dưới “lom khom với lác đác”, “dưới núi với bên sông”, “tiều vài chú với chợ mấy nhà”. Cảnh đèo ngang tuy có thêm sự xuất hiện của con người nhưng quá nhỏ bé, ít ỏi, thưa thớt trước thiên nhiên. Có lẽ chính vì thế mà cảnh vật càng tăng thêm nét vắng vẻ, hoang vu và có phần tiêu điều, xơ xác.

Nhà thơ lại điểm thêm vào cảnh vật đèo ngang những âm thanh hắc khoải của tiếng chim quốc và chim đa:

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Vẫn là cách sử dụng phép đối chặt chẽ giữa hai cau và phép chơi chữ bằng cách sử dụng các từ đồng âm khác nghĩa”quốc quốc”, “gia gia”. Như vậy giữa không gian tỉnh lặng của đèo ngang trong buổi chiều tà vẳng lên tiếng chim quốc hắc khoải, tiếng chim gia gia não ruột. Chính âm thanh “nhớ nước, thương nhà” của chim quốc, chim gia gia, càng làm thêm phần quặng quẻ, u buồn, cô liêu của cảnh vật. Qua khung cảnh đèo ngang, nhà thơ đă gửi gắn vào cảnh vật đèo ngang tâm trạng “nhớ nước, thương nhà” hoài niệm về một triều Lê từng hưng thịnh của chính mình. Hai câu thơ thể hiện khá rõ bút pháp tả cảnh ngụ tình độc đáo của nhà thơ.

Hai câu cuối khép lại bài thơ la thâu tóm cả cảnh và tình:

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Nhịp thơ chậm tạo âm điệu trầm buồn, da diết, từ giàu giá trị gợi hình”trời, non, nước”, gợi cảm”một mảnh tình riêng” cùng với cách sử dụng đại từ “ta” thật độc đáo, phép tương phản giữa cảnh và tình.

Tất cả đã gợi lên cảnh đèo ngang mênh mông,bao la, rợn ngợp mà con người quá nhỏ bé, cô đơn lại đang trĩu nặng trong lòng “một mảnh tình riêng” không biết chia sẻ cùng ai có lẽ vì thế chăng mà cảnh đèo ngangtrowr nên ưu buồn”tâm trạng” của nhà thơ.

Tóm lại Qua Đèo Ngang đã sử dụngthể thơ đường luật, thất ngôn bát cú một cách điêu luyện. Tác giả đã sử dụng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tì độc đáo. Bài thơ sáng tạo trong việc sử dụng từ láy, từ đồng âm khác nghĩa gợi hình, gợi cảm. Sử dụng nghệ thuật đối hiệu quả trong việc tả cảnh, tả tình. Tất cả đã giúp người đọc bài thơ thể hiện tâm trạng cô đơn thầm lặng, nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ trước cảnh vật đèo ngang. Có thể khẳng định rằng qua đèo ngang la một bài thơ hay, đọng lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc.

Nguồn: chúng tôi

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “Qua Đèo Ngang” / 2023

Đề bài: Cam nghi ve bai tho “Qua Deo Ngang” – Bài viết của một học sinh trường Trung Học Cơ Sở Chương Xá hay nhất do chúng tôi chọn lọc Cảm nghĩ anh/ chị về bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan – văn mẫu lớp 6

Hướng dẫn

Mở bài: Giới thiệu về bài thơ “Qua Đèo Ngang”

Nói đến văn học trung đại của Việt Nam chúng ta không thể không nhắc đến tên tuổi của hai nữ thi sĩ tiêu biểu cho giai đoạn văn học này đó chính là Hồ xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan. Cùng nổi danh trong thời kỳ văn học trung đại nhưng mỗi thi sĩ lại mang một hồn thơ khác nhau. Nói đến Hồ Xuân Hương chúng ta sẽ nghĩ ngay tới bài thơ “bánh trôi nước” hồn thơ của Hồ Xuân Hương mang đầy vẻ gai góc, sắc bén và có hàm ý vô cùng thâm sâu và mạnh mẽ như chính con người bà vậy. Nhắc tới Bà huyện Thanh Quan thì chắc hẳn người đọc không tể quên được bài thơ “Qua Đèo Ngang” đây là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của bà, bài thơ là nỗi lòng trầm tư sâu sắc và đầy sâu lắng của tác giả.

Thân bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ “Qua Đèo Ngang”

Bài thơ Qua Đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật. Bài thơ ra đời trong khi bà vào Phú Xuân và đi qua Đèo Ngang. Trước vẻ đẹp của đất trời, non nước và con người bà đã sáng tác nên bài thơ này.Bài thơ mang ý vị sâu lắng, nỗi buồn, nỗi cô đơn của người thi sĩ dường như đã nhuốm màu lên cảnh vật. Tác giả đã mở đầu bài thơ với hai câu đề:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá, đá chen hoa

Lối mở đầu bài thơ của tác giả hết sức tự nhiên, chỉ với hai câu thơ vô cùng ngắn gọn tác giả đã khái quát được toàn bộ thời gian không gian cảnh vật. Đây là một bức tranh chiều hoàng hôn với hình ảnh “bóng xế tà” hình ảnh ấy gợi lên cho con người ta nỗi buồn mang mang mác vì một ngày sắp khép lại. Trong câu thơ dường như đang ẩn chứa nỗi niềm u buồn, tiếc nuối của nữ thi sĩ. Trước không gian rộng lớn của Đèo ngang và trước thời gian “bóng xế tà” nhen nhóm lên hình ảnh của cỏ cây, hoa lá. Đó là những điều đẹp đẽ, tươi mới của cuộc sống. Trong câu thơ “cỏ cây chen lá, đá chen hoa” tác giả đã dùng biện pháp nhân hóa, cỏ cây hoa lá cũng biết chen chúc nhau, đua nhau trỗi dạy, thể hiện sức sống mãnh liệt của những thứ thật nhỏ bé và đơn giản. Tác giả đã phóng tầm mắt của mình ra xa hơn, nhìn bao quát cảnh vật, cảnh vật trong quan sát của tác giả được thể hiện trong hai câu đề:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Trong bức tranh đã xuất hiện hình nhr của con người nhưng nó lại “lác đác” “tiều vài chú “con người thư thớt làm cho bức tranh cũng chở nên đìu hiu vắng vẻ, càng khiến con người trở nên nhở bé và hiu quạnh trước cảnh tượng hùng vĩ của thiên nhiên. Trong hai câu thơ này tác giả đã triệt để sử dụng biện pháp đảo ngữ nhấn mạnh dáng vẻ “lom khom”của chú tiều, sự “lác đác “của những mái nhà bên sông. Chính biện pháp đảo ngữ khiến chúng ta thấy được nét quạnh hiu, vắng vẻ của bức tranh chiều tà. Đến hai câu luận người đọc sẽ hiểu rõ hơn lí do vì sao mà bức tranh thiên nhiên dưới ngòi bút của tác giả lại u buồn đến vậy, câu thơ ẩn chứa nỗi buồn thê lương của người nữ sĩ:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Câu thơ không chỉ đơn thuần là tiếng kêu tha thiết của con cuốc mà còn là chính nỗi lòng của tác giả, đó là nỗi nhớ thương quê nhà. Câu thơ đã sử dụng thành công điển tích xưa nói về thời vua Thục mất nước, ông đã hóa thành con chim cuốc và vì nhớ nước mà luôn kêu “cuốc cuốc”. Tiếng chim cuốc cuốc trong bóng chiều tĩnh lặng càng tô đậm nỗi buồn của tác giả. Tiếng kêu “gia gia” ẩn chứa trong đó là nỗi “thương nhà”. Qua nghệ thuật chơi chữ kết hợp với việc sử dụng sắc sảo thủ thuật nhân hóa người đọc đã hiểu được nỗi lòng sâu thẳm của tác giả, hiểu cảm nhận của bà về thực tại xã hội lúc bấy giờ.Kết thúc bài thơ là hình ảnh:

Dừng chân đứng lại trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta Cảnh Đèo Ngang thật đẹp và hùng vĩ đó là núi non, mây trời. Cảnh đẹp ấy như muốn níu chân người thi sĩ. Cảnh thì đẹp như vậy nhưng lòng người lại chứa đựng nỗi buồn mang mác, chính sự hùng vĩ của núi đồi khiến người thi sĩ nhận ra đó là “Một mảnh tình riêng ta với ta” lòng tác giả có biết bao u buồn sầu lắng nhưng biết chia sẻ cùng ai bây giờ. Kết thúc bài thơ là tiếng thở dài, để lại trong lòng người đọc những day dứt không nguôi.

Kết bài: Bài văn cảm nghĩ về bài thơ “Qua Đèo Ngang”

Bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan đã thể hiện rõ tâm tư của tác đó là nỗi buồn, nỗi nhớ thương và cả lòng yêu nước tha thiết của tác giả. Bài thơ đã khép lại nhưng hồn thơ của bà sẽ còn mãi, nó đã in đậm trong lòng người đọc.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM

CAM NGHI VE BAI THO QUA DEO NGANG

MIÊU TẢ KHUNG CẢNH ĐÈO NGANG

PHÂN TÍCH BÀI THƠ QUA ĐÈO NGANG CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN