Top 10 # Văn Mẫu Bài Thơ Tỏ Lòng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Văn Mẫu Lớp 10: Cảm Nhận Về Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão

Văn mẫu lớp 10: Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, Tài Liệu Học Thi sẽ cung cấp tài liệu Bài văn mẫu lớp 10: Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão,

Bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão đã khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh cũng như lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại. Tác phẩm được giới thiệu trong chương trình Ngữ văn lớp 10.

Dàn ý cảm nhận bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Phạm Ngũ Lão, bài thơ Tỏ lòng.

– Cảm nhận chung về bài thơ: đã khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh cũng như lý tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.

II. Thân bài 1. Vẻ đẹp hào hùng của con người thời Trần

a. Vẻ đẹp người anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên

– Tư thế “hoành sóc”: cầm ngang ngọn giáo

Ngọn giáo: Là vũ khí chiến đấu của quân đội thời trước

Tay cầm ngang ngọn giáo: thể hiện sự chủ động, tự tin

So sánh mở rộng với bản dịch thơ của Trần Trọng Kim: là “múa giáo”: mang tính hình ảnh, hoa mĩ, phù hợp với vần nhịp nhưng chỉ thể hiện được hành động phô trương, biểu diễn bên ngoài, không nói lên được được sức mạnh nội lực bên trong.

– Tầm vóc của người anh hùng thể hiện qua không gian, thời gian:

Không gian: “Giang sơn” – đất nước, rộng lớn. Nam nhi thuở trước thường nói chí tỏ lòng qua không gian vũ trụ rộng lớn.

Thời gian: “kháp kỉ thu”: Con số ước lệ tượng trưng cho thời gian dài, vô tận.

b. Vẻ đẹp của quân đội nhà Trần.

– Tiềm lực quân đội: “Tam quân” – ba quân tiền quân, trung quân, hậu quân: Ý chỉ quân đội nhà Trần, tiềm lực quân sự của cả dân tộc.

– Khí thế đội quân:

“Tam quân” so sánh với “tì hổ”: Hổ báo là chúa tể rừng xanh, so sánh nhằm nhấn mạnh tiềm lực sức mạnh dũng mãnh của quân đội nhà Trần là nỗi khiếp đảm của quân thù.

Tác giả làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh “khí thôn ngưu” có hai cách hiểu: Khí thế ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu hoặc khí thế hào hùng ngút trời làm mờ sao Ngưu

2. Vẻ đẹp chí làm trai qua tâm tư của nhà thơ

a. Món nợ công danh của đáng nam nhi

– Chí nam nhi: Làm trai phải có ý chí nam nhi, xông pha, gánh vác.

– Nợ công danh: Xuất phát từ tư tưởng Nho giáo, đây là món nợ mà một kẻ làm trai sinh ra đã phải có trách nhiệm trả. Có hai hình thức là lập công và lập danh.

b. Nỗi lòng của Phạm Ngũ Lão

– “Thẹn”: xấu hổ, ngại ngùng khi không bằng người khác.

– “Thuyết Vũ Hầu”: Điển tích Trung Quốc nói về Vũ Hầu – một con người tài năng, mưu lược và hết lòng báo đáp công ơn của chủ tướng, lập được công danh sự nghiệp lớn.

– Phạm Ngũ Lão cũng là một trang nam nhi hết lòng vì nước, cả công lao và danh tiếng đều vang xa. Vậy mà ông vẫn thẹn vì chưa báo đáp được hết ơn chiêu mộ của Trần Quốc Tuấn, chưa tận tâm tận lực trả hết món nợ công danh.

III. Kết bài

Đánh giá về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.

Cảm nhận bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão – Mẫu 1

Phạm Ngũ Lão là một võ tướng giỏi thời Trần, nhưng ông lại thích đọc sách ngâm thơ và được người đời ca ngợi là văn võ toàn tài. Bài thơ “Tỏ lòng” (Thuật hoài) của ông đã khắc họa đã khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh cũng như lý tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại:

Tiếp theo, Phạm Ngũ Lão đã khéo léo mượn điển tích về nhân vật Vũ Hầu – một bề tôi trung thành nhất nhì trong lịch sử Trung Hoa nhằm nói chí tỏ lòng. Đó là sự hổ thẹn khi chưa trả được món nợ công danh với đời. Hai chữ “vương nợ” trong bản dịch thơ như khắc sâu thêm nỗi niềm da diết trong lòng tác giả. Ông luôn tự ý thức một cách sâu sắc về trách nhiệm của mình với quê hương, với đất nước. Từ đó, ta thấy được một nhân cách cao đẹp của Phạm Ngũ Lão – một con người giàu lý tưởng, hoài bão với khát vọng cống hiến cho quê hương, đất nước.

Như vậy, “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão quả thật là một bài thơ đẹp, giúp người đọc cảm nhận được tư thế hiên ngang, dũng mạnh của con người, quân đội thời Trần cũng như nhân cách cao đẹp của nhà thơ.

Cảm nhận bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão – Mẫu 2

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” “Nam nhi vị liễu công danh trái,Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

Với bài thơ “Tỏ lòng”, nhà thơ Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được “hào khí Đông A” nổi bật trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược. Cũng như cho người đọc thấy được tấm lòng cao đẹp của mình:

Khi giặc Nguyên tràn vào xâm lược nước ta. Chúng đã bộc lộ rõ sự tàn ác, hung bạo. Và để đối phó với kẻ thù man rợ và nguy hiểm ấy cần có một bản lĩnh phi thường. Với hai câu thơ này, Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được tầm vóc của con người cũng như quân đội nhà Trần. Cụm từ “hoành sóc giang sơn” cho thấy hình ảnh giữa giang sơn rộng lớn, người tráng sĩ cầm ngọn giáo giặc trong tư thế đầy hiên ngang để bảo vệ tổ quốc. Ngọn giáo là vũ khí đắc lực, cùng với người anh hùng xông pha trận mạc. Lúc này, người anh hùng đứng giữa không gian bao la của vũ trụ mà không hề nhỏ bé. Ngược lại họ mang một tầm vóc lớn lao, mạnh mẽ. “Trải mấy thu” – hình ảnh ước lệ thể hiện khoảng thời gian làm nhiệm vụ ấy đã kéo dài rất lâu, từ năm này qua năm khác. Nhưng dù có vậy, năm tháng không thể nào đo được ý chí người quân tử.

Câu thơ thứ hai mang cả ý chí quyết đấu của toàn dân tộc. Sự đồng lòng của “tam quân” tạo nên một sức mạnh, sánh ngang với loài hổ – chúa sơn lâm, với khí thế ngùn ngụt chất cao hơn núi “nuốt trôi trâu”. Nếu ở câu thơ thứ nhất là bản lĩnh của một người quân tử, trách nhiệm của một cá nhân với đất nước thì sang câu thơ thứ hai đó là bản lĩnh của một cộng đồng, của trăm vạn người quân tử, trách nhiệm của muôn người với dân tộc. Nó đã trở thành “hào khí Đông Acủa cả một đất nước.

Hai câu thơ sau đã bộc bạch tâm trạng, chứa chan nỗi lòng của người nhà thơ:

Công danh sự nghiệp luôn là khát khao của con người trong bất kỳ thời đại nào. Nhà thơ Phạm Ngũ Lão cũng không phải ngoại lệ. Dù ông là một anh hùng đã lập được biết bao chiến công cho đất nước. Nhưng vẫn cảm thấy còn vương mối nợ công danh.

Tác giả mượn điển cố xưa về Vũ Hầu – một kẻ bề tôi trung thành trong lịch sử Trung Hoa. Từ đó bày tỏ sự hổ thẹn, cũng như không hài lòng về bản thân khi nhắc đến bậc vĩ nhân xưa. Từ đó, nhà thơ muốn thể hiện hoài bão tiếp tục được cống hiến cho đất nước.

Chỉ với bốn câu thơ nhưng ý tứ thật sâu sắc, đã thể hiện được nhiều ý nghĩa. Thế mới thấy tài năng sáng tác của Phạm Ngũ Lão – một con người văn võ toàn tài.

Cảm nhận bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão – Mẫu 3

Bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được tinh thần của thời đại nhà Trần. Đó là vẻ đẹp của hào khí Đông A, cũng như sức mạnh của con người và quân đội thời Trần.

Đến với hai câu thơ đầu tiên, người đọc có thể thấy được một cách rõ nét, chân thực hình ảnh con người, quân đội thời Trần:

Câu thơ cho thấy hình ảnh người anh hùng tay cầm ngọn giáo để chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước. Đồng thời, tác giả còn đặt người anh hùng vào không gian “giang sơn” – rộng lớn của đất nước và thời gian “kỷ thu” – vô tận, kéo dài từ năm này qua năm khác để tô đậm thêm tư thế hiên ngang của người anh hùng. Tiếp đó, hình tượng quân đội nhà Trần với tiềm lực mạnh mẽ cũng được nhà thơ thể hiện rõ ràng. Với hình ảnh “Tam quân” có nghĩa là ba quân đã cho thấy đó là một quân đội tinh nhuệ, cả về số lượng lẫn chất lượng. Không chỉ vậy, Phạm Ngũ Lão còn làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh so sánh: “tì hổ” – sức mạnh như loài hổ, “khí thôn ngưu” – khí thế hào hùng ngút trời của quân đội nhà Trần đã làm lu mờ ánh sáng của sao Ngưu. Đó chính là sức mạnh của con người, quân đội nhà Trần.

Nếu hai câu thơ mở đầu, Phạm Ngũ Lão muốn làm nổi bật vẻ đẹp của con người, đội quân nhà Trần. Thì hai câu thơ cuối, tác giả tập trung thể hiện nỗi lòng của chính mình:

Theo tư tưởng Nho giáo, “công danh” chính là lập công để lưu danh vào sử sách, để lưu lại tiếng thơm cho đời sau. Đó chính là một món nợ lớn của bất kì đấng nam nhi nào thời xưa. “Công danh” đã trở thành lý tưởng đối với họ dưới trong triều đại phong kiến. Phạm Ngũ Lão là một người văn võ song toàn, nhưng vẫn luôn thấy bản thân còn mắc nợ – món nợ “công danh”. Nhà thơ đã mượn điển tích về nhân vật Vũ Hầu – một bề tôi trung thành nhất nhì trong lịch sử Trung Quốc để nói chí tỏ lòng. Khi nhắc đến điển tích này, Phạm Ngũ Lão tự cảm thấy “thẹn” – hổ thẹn với lòng khi chưa lập được công danh với đời. Qua đó, ta thấy được một nhân cách cao đẹp của nhà thơ, với hoài bão to lớn đáng ngưỡng mộ.

Với “Tỏ lòng’, Phạm Ngũ Lão đã thể hiện rõ sức mạnh của “hào khí Đông A”. Đồng thời, bài thơ đã thôi thúc trong lòng người đọc một ý thức trách nhiệm với quê hương, đất nước.

Soạn Bài: Tỏ Lòng (Thuật Hoài) – Ngữ Văn 10 Tập 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

Phạm Ngũ Lão (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả trong SGK Ngữ Văn 10 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Hào khí Đông A:

Hào khí Đông A là hào khí đời Trần (chữ Đông và chữ A trong tiếng Hán ghép lại thành chữ Trần). Cụm thuật ngữ này từ lâu đã được dùng để chỉ cái không khí oai hùng, hào sảng của thời Trần (thời kì mà chúng ta có những chiến công lừng lẫy khi cả ba lần đều đánh tan sự xâm lược của giặc Nguyên – Mông).

Hào khí Đông A là chỉ cái khí thế hừng hực của niềm vui chiến thắng, chỉ cái khát khao mang tính thời đại mà ở đó ai ai cũng muốn góp sức dựng xây và dang tay bảo vệ cho sự vững bền mãi mãi của non sông đất nước mình.

Hào khí Đông A từ xã hội đi vào thơ văn trở thành sự kết tinh cho những biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước. Có không ít tác phẩm nổi tiếng mang hơi thở của Hào khí Đông A : Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lao, Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá về kinh) của Trần Quang Khải, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn,…

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Điểm khác nhau giữa câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch: Hai từ “Hoành sóc” – cầm ngang ngọn giáo được dịch là “múa giáo” nên chưa sát nghĩa và chưa bộc lộ hết sự hào hùng, tư thế hiên ngang, lẫm liệt, mang tầm vóc của vũ trụ của con người cũng như không gian trong câu “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”.

* Trong câu thơ thứ nhất:

Thời gian: kháp kỉ thu

Không gian: giang sơn (đất nước)

Con người: một tráng sĩ đang cầm ngang ngọn giáo

Trong câu thơ đầu này, con ngư­ời xuất hiện trong bối cảnh không gian và thời gian đều rộng lớn. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lên theo chiều cao của sao Ngư­u thăm thẳm. Thời gian không phải đo bằng ngày bằng tháng mà đo bằng năm, không phải mới một năm mà đã mấy năm rồi (Kháp kỉ thu). Con ngư­ời cầm cây tr­ường giáo (cũng đo bằng chiều ngang của non sông), lại đư­ợc đặt trong một không gian, thời gian như­ thế thì thật là kì vĩ. Con ng­ười hiên ngang ấy mang tầm vóc của con ng­ười vũ trụ, non sông, vẻ đẹp ấy được bộc lộ cả bên trong lẫn bên ngoài.

Câu 2:

Câu thơ:

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu

Câu thơ này có thể hiểu theo 2 cách:

Thứ nhất: thể hiện sức mạnh cùng với ý chí chiến đấu của quân đội nhà Trần, đội quân hùng mạnh như loài hổ báo – những động vật mạnh nhất của rừng xanh và sức mạnh ấy có thể “nuốt trôi trâu”.

Thứ hai: sức mạnh và ý chí chiến đấu của quân đội nhà Trần là vô cùng lớn, sức mạnh ấy có thể át cả sao Ngưu trên bầu trời – sức mạnh của vũ trụ rộng lớn, có thể thay đổi cả giang san đất nước.

Câu 3:

Như chúng ta đã biết, trong thời kỳ này, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm và lối sống của con người, đặc biệt là những đấng nam nhi. Sinh ra trong đời, đấng quân tử luôn mang theo mình một món “nợ tang bồng”. Chừng nào chưa lập được công danh, chưa tạo được tiếng thơm là chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước.

Câu 4:

Ý nghĩa của nỗi “thẹn” trong câu thơ cuối:

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu

Nỗi “thẹn” ở đây đã thể hiện vẻ đẹp nhân cách của người anh hùng. Phạm Ngũ Lão là bậc anh hùng của dân tộc, dưới thời Trần ông đã lập rất nhiều chiến công và là đấng quân tử đáng được người đời sau tôn trọng. Nhưng ông vẫn cảm thấy “thẹn” vì chưa có được tài năng mưu lược như Vũ Hầu Gia Cát Lượng để có thể giúp dân cứu nước, “thẹn” vì trí và lực của mình thì có hạn mà nhiệm vụ khôi phục giang sơn, đất nước còn quá bộn bề.

Mặc dù vậy, nhưng nỗi “thẹn” ấy không làm cho hình tượng của Phạm Ngũ Lão nhỏ bé đi mà nó còn khiến người đời thêm hiểu về tấm lòng của ông – luôn muốn được làm những điều tốt đẹp, lớn lao dành cho nhân dân, đất nước.

Câu 5:

Qua bài thơ “Tỏ lòng” cho chúng ta thấy được vẻ đẹp của con người trong thời đại nhà Trần. Hình ảnh con người được đặt ngang với tầm vóc của vũ trũ, mang vẻ lẫm liệt, hào hùng. Họ là những con người luôn hết mình vì dân, vì nước. Mỗi cá nhân đều ý thức tạo nên sức mạnh tập thể, hết mình cống hiến. Chính vì vậy đã tạo nên sức mạnh của thời đại, tạo nên một nhà Trần “bách chiến bách thắng” và hào khí Đông A mà sử sách mãi lưu danh.

Đối với thế hệ trẻ hôm nay, chúng ta học được ở bài thơ cách sống và cách cống hiến cho đời. Để làm được điều đó, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần học tập và không ngừng học hỏi, noi theo các tấm gương anh hùng để giúp đất nước ngày càng phát triển hơn nữa.

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng

Phạm Ngũ Lão là một danh tướng đời Trần. Tuy xuất thân từ tầng lớp bình dân song chí lớn tài cao nên ông nhanh chóng trở thành tùy tướng số một bên cạnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên xâm lược, Phạm Ngũ Lão cùng những tên tuổi lớn khác của triều đình đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần quan trọng tạo nên hào khí Đông A của thời đại đó:

Ông sáng tác không nhiều nhưng Thuật hoài là một bài thơ nổi tiếng, được lưu truyền rộng rãi vì nó bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phong kiến đương thời: làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phải thực hiện đến cùng lí tưởng trung quân, ái quốc.

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu

Dịch thơ tiếng Việt:

Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.

Bài thơ được sáng tác trong bối cảnh đặc biệt có một không hai của lịch sử nước nhà. Triều đại nhà Trần (1226 – 14001) là một triều đại lẫy lừng với bao nhiêu chiến công vinh quang, mấy lần quét sạch quân xâm lược Mông – Nguyên hung tàn ra khỏi bờ cõi, giữ vững sơn hà xã tắc, nêu cao truyền thống bất khuất của dân tộc Việt.

Phạm Ngũ Lão sinh ra và lớn lên trong thời đại ấy nên ông sớm thấm nhuần lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc và nhất là lí tưởng sống của đạo Nho là trung quân, ái quốc. Ông ý thức rất rõ ràng về trách nhiệm công dân trước vận mệnh của đất nước: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.

Bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) được làm bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt luật Đường, niêm luật chặt chẽ, ý tứ hàm súc, hình tượng kì vĩ, âm điệu hào hùng, sảng khoái. Hai câu thơ đầu khắc họa vẻ đẹp gân guốc, lẫm liệt, tràn đầy sức sống của những trang nam nhi – chiến binh quả cảm đang xả thân vì nước, qua đó thể hiện hào khí Đông A ngút trời của quân đội nhà Trần thời ấy.

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu (Dịch nghĩa: cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu); dịch thơ: Múa giáo non sông trải mấy thu. So với nguyên văn chữ Hán thì câu thơ dịch chưa lột tả được hết chất oai phong, kiêu hùng trong tư thế của người lính đang chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Hoành sóc là cầm ngang ngọn giáo, luôn ở tư thế tấn công dũng mãnh, áp đảo quân thù. Tư thế của những người chính nghĩa lồng lộng in hình trong không gian rộng lớn là giang sơn đất nước trong suốt, một thời gian dài (giang sơn kháp kỉ thu). Có thể nói đây là hình tượng chủ đạo, tượng trưng cho dân tộc Việt quật cường, không một kẻ thù nào khuất phục được. Từ hình tượng ấy, ánh hào quang của chủ nghĩa yêu nước ngời tỏa sáng.

Câu thơ thứ hai: Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu. (Dịch nghĩa: khí thế của ba quân mạnh như hổ báo, át cả sao Ngưu trên trời). Dịch thơ: Ba quân hùng khí át sao Ngưu, đặc tả khí thế chiến đấu và chiến thắng không gì ngăn cản nổi của quân dân ta. Tam quân tì hổ là một ẩn dụ so sánh nghệ thuật nêu bật sức mạnh vô địch của quân ta. Khí thôn Ngưu là cách nói thậm xưng để tạo nên một hình tượng thơ kì vĩ mang tầm vũ trụ.

Hai câu tứ tuyệt chỉ mười bốn chữ ngắn gọn, cô đúc nhưng đã tạc vào thời gian một bức tượng đài tuyệt đẹp về người lính quả cảm trong đạo quân Sát Thát nổi tiếng đời Trần.

Là một thành viên của đạo quân anh hùng ấy, Phạm Ngũ Lão từ một chiến binh dày dạn đã trở thành một danh tướng khi tuổi còn rất trẻ. Trong con người ông luôn sôi sục khát vọng công danh của đấng nam nhi thời loạn. Mặt tích cực của khát vọng công danh áy chính là ý muốn được chiến đấu, cống hiến đời mình cho vua, cho nước. Như bao kẻ sĩ cùng thời, Phạm Ngũ Lão tôn thờ lí tưởng trung quân, ái quốc và quan niệm: Làm trai đứng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông (Chí làm trai – Nguyễn Công Trứ). Bởi thế cho nên khi chưa trả hết nợ công danh thì tự lấy làm hổ thẹn:

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu

(Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu).

Vũ Hầu tức Khổng Minh, một quân sư tài ba của Lưu Bị thời Tam Quốc. Nhờ mưu trí cao, Khổng Minh đã lập được công lớn, nhiều phen làm cho đôi phương khốn đốn; vì thế ông rất được Lưu Bị tin yêu.

Lấy gương sáng trong lịch sử cổ kim soi mình vào đó mà so sánh, phấn đấu vươn lên cho bằng người, đó là lòng tự ái, lòng tự trọng đáng quý cần phải có ở một đấng nam nhi. Là một tùy tướng thân cận của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão luôn sát cánh bên cạnh chủ tướng, chấp nhận xông pha nơi làn tên mũi đạn, làm gương cho ba quân tướng sĩ, dồn hết tài năng, tâm huyết để tìm ra cách đánh thần kì nhất nhằm quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Suy nghĩ của Phạm Ngũ Lão rất cụ thể và thiết thực; một ngày còn bóng quân thù là nợ công danh của tuổi trẻ với giang sơn xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết. Mà như vậy là phận sự với vua, với nước chưa tròn, khát vọng công danh chưa thỏa. Cách nghĩ, cách sống của Phạm Ngũ Lão rất tích cực, tiến bộ. ông muốn sống xứng đáng với thời đại anh hùng.

Hai câu thơ sau âm hưởng khác hẳn hai câu thơ trước. Cảm xúc hào sảng ban đầu dần chuyển sang trữ tình, sâu lắng, như lời mình nói với mình cho nên âm hưởng trở nên thâm trầm, da diết.

Phạm Ngũ Lão là một võ tướng tài ba nhưng lại có một trái tim nhạy cảm của một thi nhân. Thuật hoài là bài thơ trữ tình bày tỏ được hùng tâm tráng trí và hoài bão lớn lao của tuổi trẻ đương thời. Bài thơ có tác dụng giáo dục rất sâu sắc về nhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh niên mọi thời đại Thuật hoài đã làm vinh danh vị tướng trẻ văn võ song toàn Phạm Ngũ Lão.

Từ ngàn xưa, nhân dân ta đã có truyền thống yêu nước nồng nàn, luôn sẵn sàng đứng lên bảo vệ đất nước mỗi khi đất nước cần. Lòng yêu nước dược thể hiện qua nhiều lĩnh vực những có lẽ nổi bật nhất vẫn là ở lĩnh vực văn học. Trong các bài thơ của ông, có một tác phẩm rất đặc biệt “Tỏ lòng” đây chính là tác phẩm đã làm toát lên rất rõ về vẻ đẹp, khí thế của con người nhà Trần. Phạm Ngũ Lão là danh tướng thời Trần, có công rất lớn trong công cuộc chống Nguyên- Mông. “Tỏ lòng” được ông sáng tác khi cuộc chiến lần thứ hai Nguyên-Mông đang đến rất gần, nhằm khơi dậy sức mạnh toàn dân. Lúc đó, tác giả cùng một số vị tướng khác được cử lên biên ải Bắc trấn giữ nước.

Nói đến hào khí Đông A là nói đến hào khí đời Trần. Thời này là 1 mốc son chói lọi trong lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tôc, quân và dân thời Trần đã kiên cường anh dũng lập nên 3 kì tích: 3 lần đại thắng quân Nguyên- Mông, để có được thắng lợi đó, quân dân thời Trần đã phải vượt qua bao nhiêu khó khăn, gian khổ, căm thù giặc sôi sục cùng lòng quyết tâm chiến thắng. Hào khí dân tộc thể hiện ở sự hòa quyện giữa hình ảnh người anh hung với hình ảnh ” Ba quân” đã tạo nên một bức tranh tượng đài nghệ thuật sừng sững đang hiện ra.

“Hoành sóc giang sơn khắp kỉ thu

Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu ”

Câu thơ đầu khắc họa một hình ảnh người anh hùng đang trong tư thế hiên ngang, vững chai, “Hoàng sóc” là việc cầm ngang ngọn giáo, với sứ mệnh trấn giữ giang sơn, giữ yên bờ cõi ròng rã đã mấy năm rồi mà không biết mệt mỏi. Con người đó được đặt trong một không gian kì vĩ: núi sông, đất nước khiến con người trở nên vĩ đại sánh ngang với tầm vóc vụ trụ. Hình ảnh còn mang ý nghĩa biểu tượng cho tinh thần xông pha sẵn sàng chiến đấu, một tư thế hiên ngang làm chủ chiến trường. Tiếc thay,khi ta chuyển dịch thành “múa giáo” thì phần nào đã làm hai chữ “hoành sóc” giảm đi tính biểu tượng và tư thế oai phong lẫm liệt của hình tượng vĩ đại này. Ngày xưa, quân lính chia làm ba tiểu đội: tiền quân, trung quân và hậu quân. Tuy nhiên, khi nói đến ” ba quân” thì sức mạnh của cả quân đội nhà Trần, sức mạnh của toàn dân tộc đang sục sôi biết bao. Câu thơ thứ hai sử dụng thủ pháp so sánh để làm toát lên khí thế, “Tam quân tỳ hổ” chính là ví sức mạnh của tam quân giống như hổ như báo, nó vững mạnh và oai hùng. Nhờ đó, các tác giả đã bày tỏ niềm tự hào về sự trưởng thành, và lớn mạnh của bậc quân đội. Không chỉ thế, câu thơ còn sử dụng thủ pháp phóng đại ” Khí thôn ngưu”- khí thế quân đội mạnh mẽ lấn án cả sao ngưu hay là khí thế hào hình nuốt trôi trâu. Như vậy, hai câu thơ đầu khắc họa vẻ đẹp người anh hung hòa trong vẻ đẹp của thời đại hào hùng tạo nên những con người anh hùng. Câu thơ gây ấn tượng mạnh bởi sự kết hợp giữa hình ảnh khách quan với cảm nhận chủ quan giữa hiện thực và lãng mạn. Qua đó, tác giả bộc lộ niềm tự hào về sức mạnh của nhà Trần nói riêng cũng như là của toàn dân tộc nói chung.

” Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu “

Qua hai câu thơ trên, lí tưởng của người anh hùng đang được thể hiện rõ qua hai cặp từ “nam nhi và công danh”. Nhắc đến trí là nhắc đến trí làm trai, lập công là để lại công danh, sự nghiệp để lại danh tiếng cho muôn đời, công danh được coi là món nợ phải trả của kẻ làm trai. Một danh tướng có nỗi trăn trở, canh cánh trong lòng là chưa trả xong nợ công danh mặc dù con người ấy đã lập lên bao nhiêu chiến công rồi. Đó chính là khát vọng, lí tưởng lớn lao muốn được phò vui giúp nước, trong không khí sục sôi của thời đại bấy giờ, trí làm trai có tác dụng cỗ vũ cho con người sẵn sàng chiến đấu giành lại hòa bình cho đất nước

Ở câu cuối của bài thơ, nói lên cái tâm của người anh hùng, điều đáng quý bên cạnh Trí là còn có cái tâm. “Thẹn vỡi Vũ Hầu” – Vũ Hầu chính là Gia Cát Lượng, một tài năng, một nhân cách, một người có tâm, tác giả thẹn vì chưa có tài mưu lược như Gia Cát Lượng chăng? Mặc dù tác giả là người lập nhiều công cho đất nước nhưng vẫn thấy thẹn. Qua nỗi thẹn ấy, người đọc nhận ra thái độ khiêm nhường, 1 ý nguyện cháy bỏng được giết giặc, lập công đóng góp cho sự nghiệp chung

Qua bài thơ, hiện lên hình ảnh của đấng nam nhi thời đại Bình Nguyên, với khát vọng có thể phá được cường địch để báo đáp hoàng ân, để non sông được vững vàng. Vẻ đẹp của người anh hùng lồng trong vể đẹp của thời đại làm nên hào khí của thời đại nhà Trần, hào khí Đông Á. Bài thơ cũng là nỗi lòng riêng của Phạm Ngũ Lão về khát vọng lí tưởng, về nhân cách của con người phải được giữ gìn.

Phạm Ngũ Lão là một tướng giỏi thời nhà Trần và cũng chính là người có tài nhìn xa trông rộng, có lí tưởng và được triều đình trọng dụng. Không chỉ là một quan võ, ông còn là người có tâm hồn thi sĩ, đóng góp không ít về kho tàng văn học và những bài thơ mang lại giá trị giáo dục sâu sắc. Thuật hoài là một trong số những bài thơ bày tỏ nỗi lòng và suy nghĩ của nhà thơ về lí tưởng của trai trẻ của những khát khao và lí tưởng, dám dấn thân mình cho đất nước và đấu tranh.

Bài thơ toát lên vẻ đẹp về sức mạnh và khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội, dám đứng lên để trở thành đội quân tiên phong bảo vệ cho sự an nguy của nước nhà. Đồng thời bài thơ cũng nói lên suy nghĩ và tấm lòng của một trung thần đối với triều đình và những mong mỏi của ông để xã tắc đất nước ngày một giàu đẹp và thịnh vượng. Lí tưởng chính xuyên suốt toàn bài thơ chính là trung quân ái quốc.

Múa giáo non sông trải mấy thu,

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.

Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hâu.

(Bùi Văn Nguyên dịch)

Bài thơ đươc sáng tác theo thể thất ngôn tứ tuyệt,với niêm luật chặt chẽ nhưng chữ nghĩa và thể thơ lại vô cùng hàm súc và dễ hiểu, mang tính khái quát cao. Thuật hoài chính là cách dẫn dắt người khác đi vào câu chuyện của mình, lắng nghe bày tỏ những tâm tư tình cảm của mình về một vấn đề gì đó. Thông qua bài thơ tác giả đã lột tả vẻ đẹp đầy lẫm liệt của những chiến sĩ, binh lính nhà trần, Tay cầm gươm giáo, khí thế ngút trời chưa một lần chịu quy hàng dưới sức mạnh và khí thế của kẻ thù mạnh số một lúc bấy giờ.

Ngay ở câu thơ đầu tiên, tác giả đã diễn tả khí thế ngút trời của quân và binh lính nhà trần, dù trải qua vạn kiếp hay bao năm thì vẫn cầm ngang ngọn giáo ung dung, không dễ dàng bị khuất phục bởi sức mạnh và sự đánh chiếm của quân ngoại xâm. Mấy thu ở đây để chỉ những cột mốc thời gian dài, không những thế còn chỉ sự trường tồn kháng chiến, một lòng chiến đấu để bảo vệ từng gang tấc đất của nước nhà. Câu thơ hàm súc lại mang tính biểu tượng cao đã khiến cho người đọc càng thêm bị thuyết phục bởi hình ảnh lẫm liệt của quân đội nhà Trần

Hoành sóc là cầm ngang ngọn giáo, khí thế bừng bừng thông qua cách cầm giáo và vũ khí, sẵn sàng đấu tranh để bảo vệ từng gang tấc của đất nước. không gian mở rộng, hình ảnh những binh lính càng thêm lẫm liệt, hùng dũng. Chủ nghĩa yêu nước lại càng thêm được tô đậm và quật cường khí thế.

Chuyển sang câu thơ thứ hai khí thế của quân dân không bị hao hút mà càng hùng dũng. ” Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu. Hình tượng của môt tượng đài về người lính đầy khí chất và quả cảm sẵn sàng xả thân vì nước hiện lên. Chính vì những hình tượng như thế, tác giả không thể kiềm lòng mà bật ra những câu thơ đầy khí thế và bản lĩnh, sắc cạnh.

Cũng từng là một tướng lĩnh đứng trong hàng ngũ của quân đội, Phạm Ngũ Lão trở thành một binh lính dày dặn kinh nghiệm và khát vọng cũng sục sôi, một lòng phục tùng cho lí tưởng yêu nước. Đấng nam nhi sống trong thơi bình hay loạn lạc thì đều cần phải bồi đắp thêm tư tưởng và nghĩ khí của mình để không hổ thẹn với non sông đất nước. Đó chính là những lí tưởng và tư tưởng cốt lõi xuyên suốt cuộc đời của mình. Ông luôn một lòng cống hiến xả thân vì nước nhà.

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hẩu.

(Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.)

Hai câu thơ cuối toát lên khát vongh của Phạm Ngũ Lão khi đứng trong hàng ngũ của triều đình, không bao giờ bị khuất phục bởi những tư tưởng nhỏ nhen ích kỉ và lại càng nung nấu những lí tưởng cao đẹp xả thân vì nước. Bên cạnh đó, trong tâm trí của ông luôn luôn thường trực về nợ công danh, một lòng trung thành với những chính sách và điều lệ mà triều đình đặt ra để dẹp loạn, dẹp nạn ngoại xâm xâm lược. Không những thế khi nói tới công danh, tuy là một người tài giỏi như thế nhưng ông lại vô cùng khiêm tốn. Khi nhắc đến những câu chuyện điển tích điển cố thời xưa lại cảm thấy thẹn vì thấy mình chưa làm được, hoặc chưa vẹn toàn hoàn hảo như lòng mình mong mỏi

Có thể nói bài thơ Tỏ lòng đúng như tên gọi của nó, bằng những suy nghĩ tâm sự và trải nhiệm của mình, tác giả đã làm nổi bật thêm những vấn vương tơ lòng và mối suy nghĩ vì lí tưởng cao đẹp của nước nhà cũng là một lời dặn dò cho giới trẻ.

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài làm văn Phân tích bài thơ tỏ lòng hay nhất. Chúc các viết cho mình một bài văn Phân tích bài thơ tỏ lòng thật hay và đạt được kết quả cao.

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Tỏ Lòng

Đề bài: Cảm nghĩ về bài thơ Tỏ Lòng

Cảm nghĩ về bài thơ Tỏ Lòng – Khi tìm hiểu về lịch sử trung đại Việt Nam chúng ta không khỏi Tự Hào hào khí Đông A của nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên xâm lược. Phạm Ngũ Lão chính là một trong những danh tướng đời Trần đã lập lên nhiều chiến công hiển hách góp phần tạo nên hào khí đó. Ông không chỉ là một danh tướng mà còn là một nhà thơ tuy sáng tác không nhiều nhưng bài thơ Thuật Hoài – Tỏ Lòng là một bài thơ nổi tiếng và được nhiều người biết tới, lưu truyền rộng rãi.

Bài thơ Tỏ Lòng được làm bằng chữ Hán và viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật với niêm luật chặt chẽ. Ngôn từ và ý thơ hàm súc. Bài thơ giống như là một lời tâm sự của nhà thơ về những khát khao hy vọng của một đấng nam nhi khi sống giữa trời đất. Qua đó còn bày tỏ niềm tự hào của những người lính trong quân đội nhà Trần về chiến thắng oanh liệt ấy. Ngay mở đầu bài thơ ta có thể thấy được vẻ đẹp gân guốc, khỏe khoắn của đáng nam nhi, của những chiến binh xả thân vì nước:

“Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.”

(Múa giáo non sông trải mấy thu,

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.)

Chỉ có ý chí mà không có sức mạnh thì chưa đủ, nên tác giả đã đưa chúng ta đến với sức mạnh to lớn của quân ta:

“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

(Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

Chúng ta có thể hiểu rằng nhà thơ muốn nói đến “khí mạnh”, sức mạnh có thể nuốt trôi trâu của ba quân. Đây là cách nói ước lệ tượng trưng quen thuộc trong thơ trung đại. Chính vì thế ta còn có thể hiểu câu thơ này theo một cách khác đó là gợi lên khí phách của đoàn quân làm át cả sao Ngưu – một vì sao trên trời. Câu thơ còn nói lên sức mạnh to lớn còn được hình thành từ sự đoàn kết của mỗi người tạo nên một sức mạnh tổng thể, to lớn. Trâu là một loài vật biểu tượng cho sự hung hãn, mạnh mẽ và tác giả đã ví kẻ thù với loài vật này. Để chiến thắng được nó thì phải đoàn kết, sử dụng sức mạnh “ba quân” cùng với ý chí quyết tâm. Chỉ với hai câu thơ thất ngôn ngắn ngủi nhưng Phạm Ngũ Lão đã thành công khắc họa hình tượng về người lính quả cảm trong đạo quân Sát Thát nổi tiếng đời Trần.

Phạm Ngũ Lão cũng là một thành viên trong quân đội hùng mạnh ấy, tích cực tham gia chiến đấu đánh bại kẻ thù bởi trong con người ông luôn sục sôi những khát vọng công danh của bậc nam nhi, quân tử. Ông tôn thờ quan niệm như Nguyễn Công Trứ đã từng đưa ra: “Làm trai đứng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với với sông” (Chí Làm Trai). Và ở trong bài thơ này ông cũng nhắc đến khát vọng ấy:

“Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.”

(Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.)

Công danh chính là khát vọng để các bậc nam nhi theo đuổi trong đời. Công danh không chỉ là cái danh hão bề ngoài mà còn phải xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân thậm chí còn đánh đổi bằng xương máu của chính mình. Có thể nói khí phách anh hùng luôn được đề cao và tạo thành chí hướng để quyết tâm của biết bao nam tử trong thời đại đó. Đây phải chăng cũng là nỗi băn khoăn, khao khát của Phạm Ngũ Lão trước khi mang danh để sánh với đời. Ông đã lấy gương sáng trong lịch sử đó là tấm gương Vũ Hầu Gia Cát Lượng xưa kia để noi theo. Qua đó cho thấy tâm niệm của tác giả khi theo phò tá vua Trần đẻ thực hiện lý tưởng cao cả.

Bài thơ Tỏ Lòng như phản chiếu về một thời đại hào hùng, một thời đại mà “vua tôi đồng lòng”. Đây cũng là bài thơ trữ tình bày tỏ những khát vọng, hoài bão lớn lao của tuổi trẻ không chỉ riêng Phạm Ngũ Lão mà của biết bao đấng nam nhí thời bấy giờ. Từ đó cho ta một cái nhìn sâu sắc hơn về thời đại nhà Trần, về Hào khí Đông A lừng lẫy trong lịch sử dân tộc. Qua đó cũng nhằm giáo dục cho mọi lớp trẻ đó là cần phải sống tích cực, có hoài bão, sống sao cho có ích với gia đình, xã hội.

Mai Du