Top 11 # Văn Mẫu Nghị Luận Bài Thơ Tây Tiến Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Văn Nghị Luận: Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

I. GIỚI THIỆU

1. Binh đoàn Tây Tiến

– Là một binh đoàn chủ lực của quân đội ta được thành lập vào thời đầu chống Pháp (1947) nhằm mở một cuộc hành quân lên miền Tây Bắc dọc theo biên giới Lào Việt để tiêu diệt, phôi hợp với quân đội Lào tạo vòng cung an toàn sau chiến khu.

– Lính Tây Tiến chủ yếu là thanh niên Hà Nội có học và có tâm hồn lãng mạn, hào hoa. Cuộc sống nơi rừng núi heo hút, hoang dã với nhiều thiếu thốn, vất vả, thiếu cơm, thiếu rau, thiếu chăn màn áo quần thuốc men lại phải hành quân qua nhiều địa hình hiểm trở, phần đông sau cuộc hành quân là ốm đau, kiệt sức nên rất nhiều chiến sĩ đã bỏ mình lại với rừng già hoang vắng.

– Tuy vậy, điều kiện sống ấy cũng đem đến cho họ những cảm xúc lãng mạn. Những người lính Tây Tiến mang theo cuộc hành quân gian khổ ấy những hành trang của tuổi thanh niên học đường thơ mộng. Những gian khổ thiếu thốn đối với họ lại trở thành ý thơ hào hoa của kẻ chinh phu, trượng phu thời biến loạn:

Chí làm trai dặm ngàn da ngựa

Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

2. Tác giả – tác phẩm

Nhà thơ Quang Dũng xuất thân là một thanh niên trí thức Hà Nội. Ông viết nhạc, làm thơ và vẽ tranh. Tâm hồn và tài năng của Quang Dũng là điển hình của chàng trai Hà thành tài hoa và nhạy cảm.

Là đại đội trưởng trong binh đoàn Tây Tiến, Quang Dũng cũng từng nếm trải những gian nan. Nhưng từ những gian nan ấy đã cho ông niềm thi cảm. Năm 1948 Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Tại Phù Lưu Chanh (Hà Đông cũ), nhớ về đồng đội cũ của mình, ông viết bài thơ này. Bài thơ ban đầu có tiêu đề Nhớ Tây Tiến. Nhưng sau này in lại, Quang Dũng cảm thấy cả bài thơ đã là một nỗi nhớ “dầm dề” nên ông bỏ đi chữ nhớ và chỉ có Tây Tiến mà thôi.

Muốn tiếp nhận bài thơ này, học sinh phải hiểu được tâm thế của thế hệ thanh niên thời đầu chống Pháp. Vào lính lúc ấy dù thiếu thôn tất cả, có thể phải chịu nhiều gian khổ, hi sinh nhưng hầu như mỗi người lính đều mang trong mình cái lẽ sống “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, họ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Bài thơ Tây Tiến từng bị xem là loại tác phẩm “buồn rơi mộng rớt” của những tâm hồn tiểu tư sản yếu đuối. Nhưng qua thời gian và năm tháng, tác phẩm được đánh giá là bài thơ viết về chân dung người lính hay nhất mà hơn nửa thế kỉ chưa ai vượt qua.

1. Cảm nhận chung về bài thơ

– Bài thơ viết về nỗi nhớ binh đoàn Tây Tiến – đơn vị bộ đội mà một thời tác giả là một thành viên. Cả bài thơ là một nỗi nhớ: Nhớ rừng già Tây Bắc hoang vu và dữ dội – Nhớ biên cương Việt Lào hồn nhiên và thơ mộng – Nhớ về đồng đội với những gian khổ và hi sinh. Phần kết bài thơ như một tiếng gọi hồn cho tất cả những ai đã một thời hành quân cùng Tây Tiến.

– Theo mạch cảm xúc, bài thơ có 4 phần. Ta có thể xem 4 phần ấy như những chương khúc của một bản giao hưởng về nỗi nhớ. Nếu vẽ bài thơ thành một tác phẩm hội họa, ta có thể nhận ra đó là 4 chặng đường của một cuộc hành quân. Những người lính Tây Tiến hiện lên giữa nền phông của núi rừng biên cương với trăm ngàn thiếu thốn và gian khổ nhưng lại mang hào khí lãng mạn ngút trời.

Vì vậy, có người xem bài thơ “như bức tượng đài về người lính vô danh của đất nước ta thời đầu đánh Pháp” (Phan Thị Thanh Nhàn).

– Tuy khi sáng tác bài thơ này, theo Quang Dũng, nhà thơ đã không nghĩ đến âm nhạc hay hội hoạ; nhưng mặc nhiên hình ảnh, ngôn ngữ và âm hưởng của bài thơ chứa đầy chất nhạc, chất họa.

2. Phân tích văn bản bài thơ

Mạch cảm xúc xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ “chơi vơi” về một binh đoàn, về một cuộc hành quân qua những chặng đường đầy gay go thử thách. Gam chủ của bản giao hưởng này vẫn là nỗi nhớ. Nỗi nhớ có bôn chương khúc theo bốn đoạn thơ:

Đoạn 1. Nỗi nhớ Tây Bắc hoang vu và dữ dội

Mở đầu bài thơ, nhà thơ gọi về một địa danh khởi đầu của cuộc hành quân: sông Mã và gọi lại một cái tên thân thuộc: Tây Tiến. Cùng với cái tên thân thương ấy là một tâm thế bồi hồi, chơi vơi, khó tả về vùng đất Tây Bắc:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Tây Bắc hiện lên với hai nét: dữ dội và thơ mộng.

Những địa danh lạ lẫm của đời người lần lượt hiện ra: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… Và cùng với những cái tên ấy là những cảnh rừng, núi, suôi, đèo vô cùng hiểm trở: dốc khúc khuỷu, dốc thăm thẳm, ngàn thước lèn cao – ngàn thước xuống – thác gầm thét – cọp trêu người…

Với những chàng trai Hà Nội, có lẽ đây là những cảnh tượng phần nhiều đều lạ lẫm. Nhưng cũng chính từ đó, trong hồn họ bắt đầu chảy ra những ý niệm lãng mạn từ cái hùng vĩ chưa từng gặp. Những hình ảnh cũng lần đầu họ mới thấy: sương lấp – hoa về trong đêm hơi – heo hút cồn mây – Pha Luông mưa xa khơi – Mai Châu mùa em thơm nếp xôi…

Hai tính chất dữ dội và lãng mạn này vừa là cái thực của Tây Bắc hoang vu với dốc cao đèo thẳm nhưng lại vừa là cái lãng mạn của tâm hồn người lính Hà thành hào hoa cảm nhận được. Hai điều thực ảo hoà vào nhau, có trong nhau tạo cho nỗi nhớ trở nên da diết, sâu lắng, chơi vơi đi cùng năm tháng. Thi sĩ viết về nỗi nhớ, về những ngày đã qua mà người đọc cứ ngỡ là cảnh tả thực. Điều đó chứng tỏ nỗi nhớ ấy da diết biết chừng nào và cái hiện thực ấy khốc liệt biết chừng nào. Nếu tinh ý, ta dễ nhận ra đoạn thơ này mang hai âm hưởng tưởng như đối lập nhau lại ở trong nhau: cái dữ dội của cảnh với cái mộng mơ của tình. Những câu thơ: “dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”, “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” dường như đôi chọi cả về âm vang, từ ngữ và hình ảnh với những câu thơ: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”, “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

Nhưng đó chính là cái hoà đồng tương hợp giữa cảnh với cảnh, giữa người với người, giữa hiện thực và lãng mạn trong cảm thức của người lính.

Dọc theo miền biên cương, nỗi nhớ của nhà thơ có thay đổi. Cảnh không hiện lên với những bất chợt lạ lùng, với dữ dội mà bắt đầu lắng lại với những nét hoà đồng với con người. Hai hình ảnh về nỗi nhớ vùng biên hiện lên rất rõ: Nhớ đêm lửa trại và nhớ lần vượt thác.

a. Nhớ đêm lửa trại

Thực ra đoạn thơ này không tả thực mà vẫn cứ như tả thực. Ngôn ngữ thơ có chiều phân hoá. Không chỉ có tiếng nói của nhà thơ nữa trong câu thơ:

Kìa em xiêm áo tự bao giờ.

Cảnh “đuốc hoa” thường là những đêm lửa trại bên nước bạn Lào với điệu nhảy Lăm vông. Tiếng khèn gợi niềm hoang dã đưa ta về tới tận Viên Chăn. Rõ ràng cảnh ở đây là cảnh vùng biên ấm tình đồng đội, ấm tình quân dân.

b. Nhớ lần vượt thác: Đoàn quân vượt thác lũ bàng con thuyền độc mộc của vùng biên. Hình ảnh này vừa mang chất nguyên sơ, hoang dã nhưng vừa đượm một vẻ đẹp khó có thể gặp lại trong đời.

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa…

Hình ảnh suối và hoa tạo nên một dòng suôi hoa; con thuyền trôi trong hoang dã và con người kết với “neo hồn lau”. Bức tranh đẹp như cảnh thần tiên chôn đào nguyên vậy.

Nỗi nhớ về nơi biên cương nhưng không hoang vu bởi cảnh và người hoà hợp. Nỗi nhớ mang cả thời gian và không gian. Trong nỗi nhớ hiện lên sự tình tứ, e ấp và có cái gì đó rất nguyên sơ với rừng biên, với nước Lào xa xôi, hồn nhiên, thơ mộng.

Đoạn 3. Nỗi nhớ đồng đội

Trăm nẻo nhớ của nhà thơ về Tây Tiến cuối cùng quy tụ lại nỗi nhớ người: Nhớ về đồng đội. Đây cũng chính là lúc nhà thơ tự nhớ mình. Nhớ về đồng đội, thi sĩ nhớ về hai điều: những gian khổ và sự hi sinh.

a. Nhớ về những gian khổ

Trăm ngàn gian khổ của người lính quy tụ lại ở hai hình ảnh: rụng tóc và xanh da.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Rừng già hiểm độc với sên vắt muỗi mòng, thiếu ăn, thiếu muối, thiếu thuốc men…, vượt thác vượt đèo với núi cao vực thẳm, qua một chặng đường dài hành quân, thân hình người lính trở nên xanh xao, gầy guộc, tóc rụng… Nhưng cái tư thế của họ vẫn “dữ oai hùm”, vẫn “Mắt trừng gửi mộng qua biền giới” và “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Cái tiều tụy về hình hài càng tôn thêm cái dũng mãnh của tinh thần. Đó là sự tương phản của cái tương đồng trong người lính Tây Tiến.

b. Nhớ về sự hi sinh

Trong đời lính, sự hi sinh là điều bất hạnh nhất. Nhưng đối với người lính Tây Tiến, sự hi sinh lại trở nên một hành động cao cả, một sự thể hiện sự sống đầy bi tráng. Nhớ về sự hi sinh, thi sĩ chọn lựa những hình ảnh mang tính kinh điển:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Trong chiến tranh chống Pháp, chống Mĩ thơ ca Việt Nam rất ít nói đến cái chết. Nhưng ngay ở thời này, Quang Dũng đã viết về cái chết một cách bi hùng. Đặc biệt cái chết chứa một tâm thế sống cao cả.

Xác có thể trôi dạt ở một góc suối, một gốc cây, một bìa rừng xa lạ vắng vẻ, thây có thể vùi đất bằng chiếc áo mong manh; nhưng lẽ sống thì luôn vươn cao. Con sông Mã sẽ gầm lên trong đêm vắng về xuôi chở cả cái bi tráng hào hùng. Những hình ảnh về sự hi sinh trong thơ Quang Dũng phải đến 20 năm sau ta mới gặp lại trong thơ Lê Anh Xuân, thơ Tố Hữu…

Bắt đầu từ thượng nguồn sông Mã, bàn chân chiến sĩ Tây Tiến bây giờ đã đặt ở chặng cuối bên tận sầm Nứa. Nơi ấy, đoàn quân Tây Tiến sau bao gian nan vất vả sau bao chịu đựng và hi sinh, đã “tiến” về nơi cần đến. Bao nhiêu mồ hôi, xương máu và bao nhiêu chàng trai đã ở lại “Rải rác” nơi “biền cương” thành “mồ viễn xứ”. Bởi thế, nhà thơ không nỡ nói về những ai đã về lại trong lòng Tổ quốc. Bài thơ kết lại bằng một ước vọng khôn nguôi trong sự tha thiết, sâu lắng:

Tây Tiến người đi không mọc tóc

Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Xa Tây Tiến không biết bao giờ mới gặp lại, con đường thì xa, nỗi nhớ càng trở nên vời vợi. Hai câu thơ kết có giọng điệu thiết tha trong lời mời gọi, hẹn ước ân tình. Những ai đã từng một lần Tây Tiến thì có lẽ không thể quên mảnh đất và con người nơi đây. Câu thơ kết là một lời thề sắt son, khẳng định tình yêu Tây Tiến khôn cùng.

3. Nhận xét chung về nghệ thuật của bài thơ

Người lính là cả một đề tài lớn của thơ ca Việt Nam trong suôi 30 năm. Dù được viết vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Tây Tiến của Quang Dũng vẫn như một tượng đài khó có bài thơ nào sánh nổi. Có được điều đó bởi bài thơ là sự hoà hợp kì diệu của hiện thực cuộc đời vĩ đại với cảm hứng dâng trào của một trái tim hào hoa và nhạy cảm. Thơ Quang Dũng là sự kết tinh hồn nhiên giữa âm nhạc và hội hoạ được diễn tả bằng một thứ ngôn từ trau chuốt, sang trọng và lãng mạn.

Cả bài thơ là một cảm hứng lãng mạn bi tráng về chân dung người lính đánh giặc cứu nước thời đầu của dân tộc ta.

Nghị Luận Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

24 Tháng Bảy, 2015

Posted in : on by :

Đề bài:

Thầy Chu Văn Sơn từng nói: ” Người ta thường nói cuộc đời mỗi một người nghệ sĩ thường gắn với một vùng đất, một vùng văn hóa thẩm định nhất định. Nếu Hoàng Cầm yêu dòng sông Đuống lấp lánh hiền hòa, Thanh Hải xao xuyến với dòng sông Hương xanh biếc, Tế Hanh tha thiết nhớ con sông quê hương thì Quang Dũng trong những năm tháng gắn bó với đoàn binh Tây Tiến lại kết thân với dòng sông Mã”. Và quả thật Tây Tiến đã thể hiện nỗi nhớ của mình qua bài thơ tây Tiến, vũng văn hóa gắn với tên tuổi của ông chính là Tây bắc.

Mở đầu bài thơ Tây Tiến nhà thơ đa tài ấy đã cất lên những nỗi nhớ thương tại Phù Lưu Chanh. Dù không ở Tây bắc nhưng hồn nhà thơ như nhớ lại biết bao nhiêu là kỉ niệm đẹp và nỗi nhớ ấy như một sự chứng minh cho sự trân trọng của nhà thơ cho những năm tháng gian nan mà hào hùng:

Hình ảnh con sông Mã gắn liền với những kỉ niệm của đoàn binh tây Tiến. Sông Mã xa rồi Tây Tiến cũng xa rồi chỉ còn mình nhà thơ và nôi nhớ đồng đội. Tiếng ơi kết hợp với “chơi vơi” giống như một tiếng gọi tha thiết. Đồng thời nó cũng làm cho những kỉ niệm kia dội vào không gian như đánh thức biết bao nhiêu là niềm vui nỗi buồn sự khổ cực. Nhớ rừng núi Tây Bắc nhà thơ lại nhớ đến những địa danh như Saì Khao, Mường Lát. Hai địa danh ấy gắn liền với những cuộc hành quân của họ. Đoàn quân tây tiến phải ra đi từ lúc còn tờ mờ sáng và về lúc đêm tối đã bủa vây. Tiếng “hơi” kia để chỉ cái đêm nhẹ sau những cuộc hành quân vất vả hay nó chỉ hơi sương đã buông xuống cả khu rừng. Hình ảnh hoa về là những người chiến sĩ hay cũng chính là những bó đuốc trong đêm sáng rực.

Nhà thơ tiếp tục nhớ đến những phút giây hành quân vượt qua mọi khó khăn của địa hình. Một bức tranh thiên nhiên tây bắc hùng vĩ hiện lên thật sự rất đẹp:

Bốn câu thơ như điểm sáng của bài thơ khi vừa thể hiện được vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng Tây bắc vừa thể hiện được ý chí cao ngất không chịu lùi bước khuất phục của những người chiến binh Tây Tiến. Ba câu thơ đầu hầu như là vần trắc khiến cho câu thơ khi đọc lên cũng mang đầy những trúc trắc. Điều đó thể hiện sự gian nan khó khăn mà Tây Tiến phải vượt qua trên chiến trường. Từ láy “khúc khuỷu” thăm thẳm như lột tả hết độ cao độ sau của núi rừng Tây bắc. Thế nhưng người lính Tây Tiến vẫn kiên cường vượt qua để cho ngọn súng kia dương cao như chạm mây ngửi trời. hình ảnh nhân hóa ấy làm cho cây súng của chiến binh Tây Tiến dũng mãnh hơn biết nhường nào. Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống thế mà không biết một ngày những người lính ấy phải len bao nhiêu lần và xuống bao nhiêu lần. Thế rồi nhà thơ bất ngờ kết thúc bằng một câu toàn văn bằng thể hiện sự êm ả sau những trận đánh hành quân ấy. Sau những giây phút kiên cường chống lại những khẩu súng viên đạn của địch thì các chiến sĩ lại được về với tình dân quân ấm áp, những trận mưa như làm cho tâm hồn con người trở nên thanh bình hơn.

Sự hi sinh của những người Tây Tiến cũng được tác giả nói giảm nói tránh đi để nhường lại cho những nỗi nhớ và tránh những mất mát đau buồn:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời ! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Không nói là hi sinh cũng không nói là chết mà nhà thơ nói là dãi dầu, buồn nên không bước nữa. Qua cách nói như vậy ta cũng thấy được những người Tây Tiến coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Họ sẵn sàng hi sinh để đổi lại một đất nước sạch bóng quân thù. Những người chiến binh cứ thế gục lên súng mũ bỏ quên đời. thế nhưng cái bỏ quên ấy lại làm nên một đất nước hôm nay. Thiên nhiên Tây bắc lại hiện lên với hình ảnh của thú dữ. giọng thơ như hóm hỉnh khi nói cọp trêu người. sau bao vất vả người lính Tây Tiến lại về với Mai Châu thơm nếp xôi.

Trong những tháng năm ấy Quang Dũng không chỉ được sống trong tình bè đông chí mà còn được sống trong tình quân dân thắm thiết vui tươi: Trước hết là cảnh cùng nhau liên hoan văn nghệ với những người con gái Viên Chăn xinh tươi e ấp:

Cả doanh trại bừng lên hội đuốc hoa, từ “kia” thể hiện sự ngạc nhiên của người chiến sĩ trước vẻ đẹp của những người con gái Lào trong trang phục xiêm áo truyền thống. Những tiếng khèn cất lên thì nàng bắt đầu e ấp múa. Tiếng nhạc điệu múa ấy như gửi về Viên Chăn thủ đô thương nhớ của Lào. Các chiến sĩ như được thả mình vào trong những giây phút vui vẻ của hội thế.

Thế nhưng cuộc vui nào cũng có chia tay và người chiến sĩ Tây Tiến sau những phút giây vui vẻ ấy lại phải lên đường làm nhiệm vụ:

Tây Tiến ra đi trong chiều sương, cái không gian ấy như thể hiện cho bao nhiêu gian nan mà các anh sắp phải đối mặt, cái không gian ấy cũng nói lên tâm trạng của kẻ ở người đi buồn thương tiếc nuối. Người ra đi thiên nhiên cũng buồn, lau như có hồn mà nẻo bến bờ rũ xuống như ngả chào người chiến sĩ. Người ở lại buồn chèo thuyền độc mộc đưa các anh qua sông. Những dòng nước lũ với hoa trôi đong đưa. Cảnh vật cũng như có hồn,có thần biết buồn biết thương cho những người chiến sĩ.

Khổ thơ tiếp theo Quang Dũng miêu tả đến những đồng chí trong đoàn quân tây tiến ấy:

Tất cả những nét ngoại hình ấy cho ta thấy được những gian nan vất vả mà người Tây Tiến phải trải qua. Không mọc tóc la do điều kiện chiến tranh rừng thiêng nước độc làm cho các chiến sĩ rụng hết tóc hay là do chính các chiến sĩ cạo trọc đi để tiện cho chiến đâu. Quân xanh kia là màu áo, màu ba lô con cóc mũ tai bèo hay là sự xanh xao do thiếu thốn. Tóm lại dù hiểu theo cách nào thì nhà thơ cũng muốn người đọc thấy được đoàn quân tây tiến tuy ốm nhưng không yếu vẫn dữ như chúa tể của muôn loài. Hình ảnh mắt trừng như thể hiện được những cái tức giận của các chiến sĩ với kẻ thù mong muốn biên giới sạch bóng quân thù. Hay hình ảnh mắt trừng ấy cũng là không ngủ được khi mơ về những dáng kiều thơm của Hà Thành. Câu thơ ấy được coi là mộng rớt buồn rơi, vì thế mà có thời Tây Tiến đã bị cấm nhưng về sau chính giá trị của nó đã làm nên sức sống đến ngày hôm nay. Trong trận chiến ác liệt ấy không biết bao nhiêu người chiến sĩ Tây Tiến đã hi sinh, nhưng họ sống đã đẹp chết đi cũng tác vào lịch sử những nét đẹp về bức tượng đài bất hủ:

Họ hi sinh nhưng không được chôn cắt đàng hoàng bởi chiến tranh người chết như ngả dạ. Chính vì thế mà rải rác biên cương là những nấm mộ tuềnh toàng sơ sài khắp nơi. Thế nhưng họ đã quyết chí lên đường thì không hề tiếc thời trai trẻ. Họ sống có lý tưởng vững chắc. Và khi họ mất đi một mảnh chiếu che người cũng trở thành áo bào để anh về với cát bụi. Con sông mã gầm lên như thể hiện nỗi tiếc thương những người chiến sĩ ấy. Có thể nói nhà thơ đã sử dụng những từ hán việt làm sự hi sinh của người lính Tây Tiến trở nên trang trọng hơn. Và thành công của Quang Dũng là đã xây dựng lên bức tượng đài bất hủ của người lính bằng thơ. Và giờ đây khi lên Tây bắc thì hồn về Sầm Nứa nơi có những kỉ niệm những đồng đội chứ không về xuôi.

Như vậy qua đây ta thấy Quang Dũng đã bày nỏ lòng nhớ nhung vô hạn đến đơn vị cũ của mình. Tây Tiến cái tên ấy sẽ chẳng bao giờ bị lu mờ bởi thời gian mà nó cứ mãi sáng chói bất hủ trong lòng mỗi con người. Những lí tưởng, những hi sinh của họ sẽ luôn là công lao lớn cho dân tộc.

Văn Mẫu Nghị Luận Tác Phẩm Bình Ngô Đại Cáo

– Tác giả: Nguyễn Trãi là nhà quân sự tài ba, là nhà thơ với sự nghiệp sáng tác đồ sộ.

– Tác phẩm: “Bình Ngô Đại Cáo” tựa bản tuyên ngôn hùng hồn của dân tộc được viết vào khoảng cuối năm 1428..

– Nhân nghĩa trong tư tưởng Nho giáo: mối quan hệ giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí.

– Nhân nghĩa trong tư tưởng Nguyễn Trãi:

+ Kế thừa tư tưởng Nho giáo: làm cho dân hạnh phúc (“yên dân”).

+ Tư tưởng mới: vì dân mà trừ bạo tàn (” trừ bạo”)

– Dẫn chứng thuyết phục: văn hiến lâu đời, lãnh thổ riêng, phong tục phong phú, lịch sử lâu đời.

– Thái độ của Nguyễn Trãi:

+ So sánh ngang bằng triều đại Đại Việt và Trung Hoa.

+ Gọi vua Đại Việt là ” Đế” ( vua phương Bắc trước nay chỉ gọi ta là Vương)

– Phép liệt kê: Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô,…

b.2. Soi chiếu lí luận vào thực tiễn

– Bóc lột nhân dân:

+ Vơ vét tài nguyên nước ta.

+ Phá hoại môi trường, tự nhiên sinh thái của ta.

b.3. Diễn biến cuộc khởi nghĩa

– Xuất thân: nông dân.

– Căn cứ khởi nghĩa: “núi Lam Sơn dấy nghĩa”

– Giai đoạn đầu:

+ Khó khăn về vật dụng quân trang cũng như lương thực thực phẩm.

+ Tính thần của quân và dân: gắng chí, quyết tâm.

– Giai đoạn phản công và giành thắng lợi: biện pháp liệt kê tái hiện không khí chiến đấu sôi sục và sự chiến thắng giòn giã của ta.

– Sự thất bại nhục nhã của giặc:

+ Cởi áo giáp xin hàng (Thượng Hoàng Thư Phúc)

– Tuyên bố đất nước hoà bình, mở ra kỉ nguyên mới.

– Hình ảnh về tương lai đất nước: ” xã tắc từ đây…vững chắc”

– Nội dung: Tác phẩm khẳng định chân lí độc lập của dân tộc và thay mặt vua Lê, tuyên cáo thành lập triều đại mới.

– Nghệ thuật: thể cáo được vận dụng tài tình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính trị và chất văn chương, biện pháp liệt kê, phóng đại,…

Khẳng định giá trị của tác phẩm “Bình Ngô Đại Cáo” và tài năng của Nguyễn Trãi.

Nếu “Nam quốc sơn hà” được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc thì ” Bình Ngô Đại Cáo” xứng đáng được tôn xưng như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai. Bằng ngòi bút và tư tưởng vượt trước thời đại của mình, Nguyễn Trãi đã tạo nên một thiên anh hùng ca, vừa có giá trị văn học vừa có giá trị lịch sử sâu sắc.

Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà quân sự tài ba, đóng góp quan trọng cho việc thành lập nhà Lê mà ông còn là một nhà thơ với sự nghiệp sáng tác đồ sộ. Ông để lại tiếng thơm cho đời bởi những tư tưởng nhân nghĩa ông gửi gắm trong từng tác phẩm của mình. Tiêu biểu trong số ấy là “Bình Ngô Đại Cáo” ra đời vào mùa xuân năm 1482, tựa một bản tuyên ngôn hùng hồn của dân tộc. Sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, Nguyễn Trãi thay vua Lê Lợi thảo bản cáo này để tuyên bố sự thắng lợi của quân và dân ta. Nhan đề tác phẩm có nghĩa là: bài cáo quan trọng tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô (tên gọi hàm ý khinh bỉ thay cho giặc Minh).

Trước hết, Nguyễn Trãi đặt ra tiền đề lí luận cho những lí lẽ của mình. Ông đi vào khẳng định cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa, lấy dân làm gốc. Nếu trong Nho giáo, nhân nghĩa là mối quan hệ giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí thì đến Nguyễn Trãi, ông đã tiếp thu và mở rộng phạm vi nhân nghĩa ra:

Nhân nghĩa không chỉ là việc làm cho dân hạnh phúc mà còn cả việc trừ bạo tàn, diệt những kẻ làm dân khốn đốn Đây hoàn toàn là một lời khẳng định đanh thép về bản chất của ta và địch: ta chính nghĩa, địch phi nghĩa. Qua đó còn thể hiện sự tuyên bố về quốc gia và chủ quyền. Nguyễn Trãi đã tài tình nêu ra một loạt các dẫn chứng thuyết phục cho chân lí độc lập không thể chối cãi của dân tộc: có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, có phong tục phong phú và lịch sử lâu đời,… Song hành với đó, các từ ” từ trước”, “đã lâu”, “vốn xưng”, “đã chia” góp phần củng cố thêm sự tồn tại hiển nhiên của đất nước ta. Bản thân Nguyễn Trãi cũng có ý thức về chủ quyền độc lập cao độ khi dùng phép so sánh ngang bằng khi so sánh triều đại Đại Việt ta và triều đại Trung Hoa. Trong khi vua phương Bắc trước nay chỉ gọi vua ta là “Vương” (chức cai quản một vùng đất nhỏ) thì Nguyễn Trãi khẳng khái gọi “Đế” (danh gọi vua của một nước). Chỉ một chữ đó thôi nhưng cũng thể hiện lòng kiêu hãnh của một nước nhỏ về diện tích lãnh thổ nhưng không hề nhỏ về lòng tự tôn dân tộc. Các danh tướng của giặc lần lượt được liệt kê chỉ thêm tô đậm lời cảnh cáo về kết cục của kẻ chống lại chân lí: Lưu Cung thất bại, Triệu Tiết tiêu vong, Toa Đô bị bắt sống,… Tư tưởng nhân nghĩa làm tiền đề cho lời tuyên bố về chủ quyền của một quốc gia và chắc chắn rằng dòng giống con Rồng cháu Tiên sẵn sàng đánh đổi tất cả để giữ vững quyền tự do độc lập đó.

Soi chiếu lí luận vào thực tiễn, hình ảnh nhân dân ta quằn quại đau đớn dưới gót giày thống trị của giặc Minh không khỏi khiến người đời xót xa:

Nguyễn Trãi đã vạch trần sự bịp bợm, giả dối của những kẻ cướp nước với ý đồ xâm lược nước ta (“nhân”, “thừa cơ”) mà lại giao giảng những thứ đạo lí lừa đời. Chúng bóc lột nhân dân ta đến kiệt cùng: tàn sát người vô tội, vơ vét tài nguyên, phá hoại môi trường,… Một sự hủy diệt tàn bạo khiến trời đất cũng phải căm phẫn. Hình ảnh phóng đại ” Trúc Nam Sơn ko ghi hết tội nước Đông Hải ko rửa hết mùi” với sự ví von tội ác của giặc trước sự vô cùng vô tận của tự nhiên thêm phần khẳng định tội ác không thể nào gột rửa của kẻ thù. Dường như trong lồng ngực chúng không còn là trái tim, là dòng máu của một con người mà là khối sắt không có cảm giác. Chúng như những con quỷ khát máu lúc nào cũng nhe nanh đi đòi mạng những người dân lành. Câu hỏi tu từ mở ra cũng là lúc thái độ nhân dân phẫn uất đến cùng cực:

Vũ trụ ngàn năm còn chẳng xuôi lòng trước bàn tay độc ác của quân thù nữa là người dân!

Như một kết quả tất yếu khi nước tràn li, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã nổ ra, đòi lại hòa bình cho đất nước. Mở đầu là hình tượng vị anh hùng Lê Lợi ”

Xuất thân từ nông dân, mang theo lòng căm thù giặc sâu sắc, con người tài trí hết mực ấy một lòng thực hiện lí tưởng cao cả. Quên ăn, quên ngủ, cả trong mộng cũng lo việc nước nhà không thành. Những câu văn khắc sâu thêm ý chí, lòng quyết tâm vì đại nghĩa của một vị chủ tướng vừa có tâm vừa có tài, hết lòng vì đại cuộc. Giai đoạn phản công và giành thắng lợi được tác giả sử dụng phép liệt kê nhằm nhấn mạnh thêm không khí chiến đấu sôi sục và sự chiến thắng giòn giã của ta. Đối lập với chiến thắng tất yếu ấy là sự thất bại nhục nhã ê chề của giặc:

Ở giai đoạn hai, quân ta mở chiến dịch tiến quân ra Bắc. Giặc thì huy động tổng lực cố thủ, ta thì hừng hực quyết thắng. Bằng cách nói cường điệu, Nguyễn Trãi đã khiến người đọc có ấn tượng sâu sắc về sự ác liệt của trận chiến, sự thất bại nhục nhã của giặc Minh:

Nghệ thuật phóng đại (“thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm”) khiến người đọc có ấn tượng sâu sắc về sự ác liệt của trận chiến cũng như sự bại vong của giặc Minh. Với tấm lòng nhân nghĩa nghìn đời, “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn” thì quân và dân ta chọn cách ứng xử nhân đạo với những kẻ cướp nước bại trận:

Ta không cần phải đuổi cùng giết tận, Nguyễn Trãi thực sự thanh cao khi biết việc bây giờ không phải khiến mất thêm bất kì sinh mạng nào mà cần tập trung lo cho binh sĩ, lo cho nhân dân sau những ngày binh đao dồn dập.

Niềm tin của nhân dân sau những ngày đại thắng thêm vững mạnh. Nguyễn Trãi thay mặt vua Lê, tuyên cáo với toàn thiên hạ rằng đất nước đã hoà bình, mở ra một kỉ nguyên mới của dân tộc – kỉ nguyên độc lập, tự do:

Giọng điệu vô cùng hào sảng, hình ảnh về tương lai đất nước chưa bao giờ ngời sáng hơn thế. Vua dân chung một lòng lạc quan về sự nghiệp xây dựng đất nước. Vậy là trên mọi miền quê, dưới mỗi mái nhà, độc lập, tự do và sự yên bình đã thực sự trở lại. Cuối cùng, Nguyễn Trãi không quên nhắn gửi lời biết ơn chân thành tới ông cha ta:

Thật vậy, “”Bình Ngô Đại Cáo” là một áng văn chương hùng tráng, với hơi văn cuồn cuộn.” Tác phẩm ngùn ngụt chí khí khẳng định chân lí độc lập của dân tộc và lời tuyên bố thành lập triều đại mới. Lòng yêu nước, chiến thuật quân sự đúng đắn đã khiến quân thù phải khiếp sợ mà lui. Nguyễn Trãi bằng ngòi bút điêu luyện của mình, đã vận dụng tài tình thể cáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính trị và chất văn chương. Biện pháp liệt kê, phóng đại cũng được đan xen triệt để, tạo nên những hiệu quả nghệ thuật thật tuyệt vời.

“Bình Ngô Đại Cáo” thực sự là một áng thiên cổ hùng văn. Qua đó, Nguyễn Trãi thể hiện rõ ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền độc lập dân tộc, khẳng định truyền thống yêu nước ngàn đời. Khí thế ấy còn vang vọng trong bài ngâm bên sông như Nguyệt hôm nào:

(Nam quốc sơn hà)

Bình Luận Facebook

.

2 Bài Văn Mẫu Nghị Luận Bài Thơ Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương

2 bài văn mẫu Nghị luận bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Hồ Xuân Hương là một hiện tượng lạ, độc đáo trong văn học Việt Nam, những vần thơ bà viết về phụ nữ rất lạ và táo bạo thể hiện những khao khát hết sức nhân bản của con người. Bài thơ Tự tình II đã nói lên nỗi lòng của người phụ nữ trong cảnh lấy chồng chung, đồng thời cũng bộc lộ khát vọng bứt phá, tự do hết sức mãnh liệt.

Bài thơ mở đầu bằng lời bộc bạch đầy u sầu:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Trong đêm khuya thanh vắng, không gian càng trở nên tĩnh mịch hơn, nỗi khắc khoải ngóng đợi chồng trở về lại càng mãnh liệt hơn. Nhưng càng mong lại càng không thấy. Tiếng trống như thúc giục, như làm cho nỗi buồn chồn, lo lắng càng sâu đậm hơn. Đồng thời tiếng trống ấy cũng là sự thông báo về thời gian tâm trạng của người phụ nữ. Nỗi khắc khoải, thảng thốt của người đàn bà. Tâm trạng đơn côi ấy đã được Hồ Xuân Hương khắc họa rõ nét chỉ qua duy nhất một từ “trơ”. Trơ được đảo lên đầu câu, trơ ở đây chính là nỗi niềm cô đơn, trơ trọi, người con gái ấy trơ “cái hồng nhan” với trời với nước một cách buồn tủi, bẽ bàng. Không chỉ vậy hồng nhan kết hợp với từ cái lại khiến cho nó thêm phần rẻ rung, mỉa mai và tội nghiệp. Người phụ nữ cô đơn lặng lẽ đếm thời gian trôi và ý thức sâu sắc hơn nỗi bất hạnh, sự bẽ bàng, tủi hổ của bản thân.

Vậy, họ phải làm gì, phải bằng cách nào mới có thể thoát khỏi tâm trạng sầu muộn tột cùng ấy. Có lẽ cách đơn giản nhất chính là tìm đến với rượu, để giúp con người ta quên đi thực tại phũ phàng:

Chén rượu đưa hương say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Nhưng thực tại lại trớ trêu hơn, tìm đến rượu tưởng say, tưởng quên được nhưng càng uống người phụ nữ lại càng tỉnh ra, càng nhận rõ hơn sự cô đơn của mình. Đau đớn hơn nàng nhìn vầng trăng đã xế, nghĩ đến thân phận mình đã lớn tuổi mà hạnh phúc vẫn chưa trọn vẹn, nhân duyên vẫn “khuyết chưa tròn”. Tình cảnh của Hồ Xuân Hương không phải là hiện tượng cá biết, ta bắt gặp nàng Kiều cũng có nỗi niềm tương tự: “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa” (Truyện Kiều – Nguyễn Du).

Đôi mắt Hồ Xuân Hương tiếp tục hướng ra ngoại cảnh, có lẽ bài đang tìm kiếm sự sẻ chia, mong muốn bày tỏ nỗi lòng mình:

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

Hai động từ “xiên” “đâm” được đảo lên đầu câu nhấn mạnh trạng thái, sự chuyển biến của thiên nhiên nhưng đây đồng thời cũng chính là tâm trạng của con người. Thiên nhiên cũng mang trong mình nỗi niềm phẫn uất của con người, cỏ cây không mềm yếu mà mạnh mẽ xiên ngang mặt đất; đá cũng tự gọt mình, trở nên rắn chắc hơn để đâm toạc đám mây. Tất cả các sinh vật đều cố gắng, gồng mình vươn lên không chấp nhận những cản trở để vươn tới ánh sáng, vươn tới hạnh phúc. Câu thơ phản ánh nỗi phẫn uất đến tận cùng của Hồ Xuân Hương nhưng đồng thời cũng thể hiện sự phản kháng, muốn bứt phá, chối bỏ những luật lệ phong kiến hà khắc để được sống và có một hạnh phúc thực sự cho riêng mình. Câu thơ thể hiện nét tính cách mạnh mẽ, táo bạo của Hồ Xuân Hương.

Khép lại bài thơ, Hồ Xuân Hương viết:

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con.

Đọc hai câu thơ ta cảm nhận thấy rõ nỗi chán ngán đến tột cùng của Hồ Xuân Hương. Vậy nàng đang ngao ngán điều gì? Nỗi chán ngán của nàng chính là “xuân đi xuân lại lại” , nghĩa là thời gian trôi đi, hết mùa xuân này đến mùa xuân khác, cũng đồng nghĩa với việc tuổi thanh xuân trôi qua mà hạnh phúc người con gái vẫn chưa được tròn vẹn, niềm mong ngóng hạnh phúc dường như ngày một bị thời gian đẩy ra xa hơn. Câu thơ cuối ngắt nhịp 2/2/3 cho thấy tình cảm vốn mong manh, bé nhỏ này lại bị chia năm sẻ bảy, chỉ còn lại tý con con. Câu thơ đầy chán ngán, xót thương, oán thán, tủi hờn. Cũng bởi vậy mà, đã có lần phẫn uất, Hồ Xuân Hương đã lớn tiếng chửi cái kiếp lấy chồng chung: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”. Hạnh phúc luôn bé nhỏ như chiếc chăn hẹp với khao khát yêu thương to lớn của con người.

Bài thơ cho thấy tài năng nghệ thuật độc đáo của Bà chúa thơ nôm đó là nghệ thuật sử dụng từ ngữ, các động từ mạnh (xiên, đâm), đảo ngữ, dùng những từ ngữ mới lạ độc đáo (trơ cái hồng nhan). Ngoài ra nghệ thuật xây dựng hình ảnh đặc sặc cũng đã góp phần tạo nên sự thành công cho tác phẩm.

Qua bài thơ, người đọc có thể cảm nhận được tâm trạng đầy tủi hơn, uất hận của Hồ Xuân Hương cho duyên phận hẩm hiu của mình. Đồng thời cũng thể hiện khát vọng vượt thoát và nhu cầu hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt của bà. Tiếng thơ của Hồ Xuân Hương cũng là tiếng lòng của biết bao phụ nữ trong xã hội cũ.

Trong nền thơ ca dân tộc đã có rất nhiều những nhà văn, nhà thơ viết về người phụ nữ như Nguyễn Du với kiệt tác “Truyện Kiều”, Đặng Trần Côn với “Chinh phụ ngâm” hay Nguyễn Dữ với tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” rồi đến những vần thơ của bà Huyện Thanh Quan… nhưng có lẽ tiếng thơ của Hồ Xuân Hương trong bài “Tự tình II” là nỗi lòng tự bộc bạch, tình cảm chân thật của người phụ nữ trong sâu thẳm tâm hồn.

Người phụ nữ trong xã hội phong kiến bấy lâu phải chịu nhiều thiệt thòi, họ mất đi quyền làm chủ cá nhân, quyền quyết định hạnh phúc cho riêng mình bởi những quan niệm, lễ giáo khắt khe là “Tam tòng tứ đức”, “Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô”…Trong xã hội xưa thân sinh làm kiếp đàn bà đã khổ, Hồ Xuân Hương lại còn mang thân phận của người vợ lẽ chịu nhiều thiệt thòi càng đau lòng hơn. Đó là cảm hứng, là nỗi đau xuất phát từ trái tim, tâm hồn người phụ nữ mang trong mình nhiều bất hạnh.

Bài thơ “Tự tình II” tả cảnh đêm khuya thanh vắng, người đàn bà một mình cô đơn lẻ loi không ngủ mà tự ngẫm thương xót cho thân phận, tình cảm của mình. Cảnh vật trong đêm thanh tĩnh, u tịch với “Văng vẳng” của tiếng trống canh dồn. Ta đã từng bắt gặp âm thanh ấy trong bài “Chiều hôm nhớ nhà” của bà Huyện Thanh Quan: “Tiếng ốc xa đưa lẫn trống đồn” dù chỉ là buổi chiều nhưng cũng đủ gợi buồn sâu thẳm huống chi là đêm khuya vắng vẻ chỉ với một thân một mình trong cô đơn. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh được sử dụng thành công tiếng trống dồn canh từ xa vọng lại như thúc giục thời gian trôi qua nhanh, làm cho không gian càng thêm vắng lặng, buồn bã.

Con người hiện lên trên nền cảnh không gian, thời gian ấy là một tấm thân cô độc “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Hồng nhan là sắc mặt hồng cách hoán dụ lấy bộ phận để chỉ toàn bộ ý nói đến người con gái đẹp. Từ “cái” cụ thể hóa đối tượng được nói đến. Từ “trơ” đặc tả trạng thái trơ lì, chai sạn về một phương diện nào đó, ở đây là “trơ” với “nước non” tức là với thế giới tự nhiên và xã hội, nó được đặt ở đầu câu càng nhấn mạnh thêm nỗi xót xa, đau đớn đến không còn cảm giác của tác giả.

Khi buồn, sầu, đau, cô đơn con người ta thường hay tìm đến rượu để tiêu sầu, thi sĩ cũng vậy nhưng bà càng uống lại càng tỉnh:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

Người ta nói khi say là khi sống thật với chính mình, với tâm hồn của một thi sĩ uống rượu ngắm trăng là lúc cảm xúc thăng hoa nhất nhưng Hồ Xuân Hương càng uống lại càng tỉnh, tỉnh bao nhiêu thì buồn đau cho thân phận mình bấy nhiêu. Bà ngắm trăng thấy ánh trăng đã tàn mà chưa có một khoảnh khắc nào tròn. Bà ngẫm cho mình thanh xuân cuộc đời người phụ nữ đã trôi đi già nửa mà chưa một lần được hưởng hạnh phúc trọn vẹn yêu thương. Càng hy vọng, càng chờ bao ngày tháng càng thất vọng buồn tủi bấy nhiêu đau. Đó chính là bi kịch của người phụ nữ tài sắc mà duyên phận lại hẩm hiu. Hồ Xuân Hương đã từng cất lên tiếng chửi của thân phận làm lẽ:

“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”

hạnh phúc là một tấm chăn hẹp trong hoàn cảnh của nhà thơ người vợ lẽ luôn phải chịu thiệt hơn bởi tình cảm không những không được san sẻ mà bị cướp sạch sẽ bởi vợ cả. Nguyễn Du từng cất tiếng khóc thương cho thân phận của kiếp đàn bà:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Hồ Xuân Hương tuy là số phận hẩm hiu nhưng bà là một con người có cá tính mạnh mẽ. Dù bi thương nhất nhưng vẫn không cam chịu, chấp nhận mà phản kháng mạnh mẽ, dữ dội được thể hiện qua ý chí trong hai câu thơ:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”

Nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” được sử dụng, các động từ mạnh xiên, đâm với bổ ngữ ngang và toạc nhấn mạnh trạng thái của thiên nhiên. Rêu và đá là hai sự vật nhỏ bé, yếu ớt so với mây trời, mặt đất rộng lớn bao la mà có sức mạnh vô cùng. Nhà thơ vốn là một con người tự tin yêu đời nên nhìn rêu nhìn đá trong vũ trụ bao la vẫn hoạt động mạnh mẽ, sức sống mãnh liệt qua đó cũng cho thấy bản sắc, phong cách của Hồ Xuân Hương: Luôn cảm nhận sự vật dưới cái nhìn mạnh mẽ, hàm chứa một sức sống dào dạt. Dù trải qua nhiều bi kịch, đau thương với đời nhưng bà luôn gắng gượng phản kháng. Hồ Xuân Hương đã có lần tự khẳng định cái tôi cá nhân của mình:

“Ví đây đổi phận làm trai được

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”

Tuy là mạnh mẽ cứng rắn nhưng một mình bà vẫn không thể thay đổi cho cả xã hội, con người bà không thể thắng được số phận. Bà cất lên tiếng nói nhằm đấu tranh cho quyền lợi hạnh phúc của người phụ nữ nhưng chính bà cũng đang phải chịu nỗi bất hanh. Tuy nhiên tiếng thơ ấy là một hiện tượng mới lạ trong thơ ca trung đại, là khúc ca mở đầu cho những nhà thơ đứng về phụ nữ, bảo vệ và đòi quyền hạnh phúc cho họ.

Bà đau đớn, xót xa than ngẫm cho hoàn cảnh, thân phận chính mình:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”

Mùa xuân là mùa trăm hoa đua nở cũng là mùa của tuổi trẻ, thanh xuân người con gái. Mùa xuân của thiên nhiên đi rồi lại đến còn mùa xuân của con người thì đi mãi không trở về “Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha”. Tuổi xuân năm lần bảy lượt qua đi nhưng mảnh tình chỉ có một tí mà vẫn phải san sẻ để rồi chỉ còn tí con con. Từng câu từng chữ thấm đẫm nỗi uất ức, xót xa, ấm ức bởi chưa bao giờ tình cảm được trọn vẹn chẳng khác gì ánh trăng trên trời cao kia đã xế khi chưa tròn. Nghệ thuật tăng tiếng “tí con con” được sử dụng thành công càng làm cho bi kịch của người phụ nữ càng thêm cao, một từ tí con con cực tả nỗi niềm chua xót ngán ngẩm của nhà thơ.

“Tự tình II” là bài thơ tự than thân, tự bộc lộ, tự nói lên nỗi lòng của một người phụ nữ lận đường tình duyên nhưng luôn khao khát có được một tình yêu trọn vẹn xứng đáng với tấm chân tình của mình. Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ cho thấy tài năng thi ca của tâm hồn thi sĩ với việc sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh, thủ pháp tả cảnh ngụ tình, dùng động từ mạnh kết hợp nghệ thuật đảo ngữ và các từ láy “văng vẳng”, “con con” với nghệ thuật tăng tiến càng làm cho bài thơ trở nên sâu sắc, thẫm đượm cái ý cái tình của người phụ nữ có nhiều nét độc đáo, mới lạ trong nền thơ ca văn học dân tộc.

Những hình ảnh giản dị với tâm trạng vừa buồn tủi, xót xa lại vừa uất ức cho thân kiếp làm lẽ, đồng thời cũng là bi kịch và khát vọng hạnh phúc cá nhân của Hồ Xuân Hương. Bài thơ truyền tải ý nghĩa nhân văn sâu sắc tới độc giả dù sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhưng con người vẫn cố gắng vươn lên muốn thay đổi số phận, thay đổi nghịch cảnh mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn với hạnh phúc lứa đôi và tình duyên trọn vẹn.