Top 3 # Văn Nghị Luận Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Nghị Luận Về Khổ 1

Thanh Hải là nhà thơ xứ Huế. Vùng đất hữu tình có con sông Hương thơ mộng và núi Ngự trang nghiêm vun đắp cho hồn thơ Thanh Hải bay cao. Trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc, Thanh Hải là một trong những cây bút có công trong việc xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam từ những ngày đầu. Những tác phẩm của ông được bao thế hệ bạn đọc nhắc mãi như ” Mồ anh hoa nở“, ” Những đồng chí trung kiên “.

Nhưng nhắc đến thơ Thanh Hải, người ta thường nghĩ đến bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”. Bài thơ được sáng tác khi tác giả đang nằm trên giường bệnh, trước khi mất không lâu. Nhận xét về bài thơ này, SGK Ngữ Văn 9 – Tập 2 – Trang 77 có viết: ” Bức tranh xuân của thiên nhiên đất nước được tạo nên từ các chi tiết tiêu biểu, được vẽ bằng cả màu sắc lẫn âm thanh”. Chúng ta sẽ làm sáng tỏ rõ điều nhận định trên qua việc phân tích khổ thơ thứ nhất của bài thơ:

” Mọc giữa dòng sông xanh

Mở đầu bài thơ, Thanh Hải đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi tắn đầy sức sống:

” Mọc giữa dòng sông xanh

Người xưa thường nói ” thi trung hữu hoạ”. Mỗi vần điệu trong bài thơ là một bức hoạ về cuộc sống. Hình ảnh dòng sông xanh được đảo lên đầu bài thơ để làm tông màu chủ đạo cho bức tranh tả cảnh. Từ “mọc” đặt ở đầu câu thơ vang lên như một điểm nhấn, một sự phát hiện đầy cảm xúc của nhà thơ. Chỉ hai câu thơ thôi, Thanh Hải đã vẽ nên một bức tranh mùa xuân với hình ảnh một dòng sông xanh uốn lượn quanh co. Màu xanh của bức họa thiên nhiên là sự tổng hợp nhiều sắc xanh: xanh trong của nước, màu xanh lơ của bầu trời nhuộm sắc xuân và cả màu xanh non của cây cối hai bên bờ. Nhìn gam màu chủ đạo của bức tranh xuân, bất giác, chúng ta liên tưởng đến bức họa cảnh ngày xuân của Nguyễn Du trong tác phẩm “Truyện Kiều”:

” Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Đọc câu thơ, dường như có sự tương đồng giữa các nhà thơ xưa và nay trong nghệ thuật miêu tả sắc xuân, trong đó gam màu xanh luôn đóng vai trò chủ đạo trong bức tranh tả cảnh.

Nếu như trong hai câu thơ của “Truyện Kiều”, Nguyễn Du miêu tả trên nền xanh là “cành lê trắng điểm một vài bông hoa” thì trong thơ của Thanh Hải, tác giả chỉ “điểm” vào đó “một bông hoa tím biếc”. Chỉ một thôi, đủ để làm hình ảnh bông hoa trở nên nổi bật. Cách phối màu thật hài hòa với những nét chấm phá nhẹ nhàng mà sống động.

Tác giả không miêu tả cụ thể bông hoa, nhưng với màu “tím biếc” ấy đủ gợi lên hình ảnh thân thuộc của cánh lục bình hay hoa súng thường mọc ở giữa ao hồ sông nước của làng quê và ta từng gặp đâu đó trong những vần thơ khác:

” Con sông nhỏ tuổi thơ ta tắm Vẫn còn đây nước chẳng đổi dòng Hoa lục bình tím cả bờ sông…” ( Lê Anh Xụân)

Màu xanh của dòng sông vốn quen thuộc với dải đất miềng Trung thơ mộng. Nhưng màu tím biếc thì không lẫn vào đâu được với sắc màu đặc trưng của xứ Huế – quê hương của nhà thơ.

Chỉ có hai dòng thơ, Thanh Hải đã đưa vào đó hình ảnh, màu sắc và đường nét của cảnh vật. Giờ đây, nhà thơ lại điểm xuyết vào âm thanh tưng bừng rộn rã của con chim chiền chiện hót vang trời:

Âm thanh tiếng chim làm cho vẻ tĩnh tại của bức tranh xuân trở nên sống động đến lạ lùng. Tiếng chim chiền chiện hót lúc xuân về mở ra một khoảng không gian cao rộng khoáng đạt đầy ánh nắng. Không phải ngẫu nhiên mà Huy Cận cũng chọn hình ảnh và tiếng hót con chim chiền chiện làm chủ thể trong những vần thơ của mình:

Và Tố Hữu, trong Bài ca xuân 1961, hình ảnh con chim chiền chiện cũng cất tiếng hót vang trời:

“ Trên đồng lúa chiêm xuân chao mình bay liệng Xuân ơi xuân vui tới mông mênh Biển vui dâng sóng trắng đầu ghềnh” Ôi tiếng hót vui say con chim chiền chiện ” Từng giọt long lanh rơi

Trước vẻ đẹp ấy, Thanh Hải ngất ngây sung sướng không ngăn được dòng cảm xúc dâng trào. Những từ cảm thán ” Ơi”, ” Hót chi” vang lên là tiếng lòng nao nức say sưa của nhà thơ khi lần đầu tiên phát hiện vẻ đẹp đơn sơ mà say đắm của cảnh vật quê hương.

Cụm từ ” giọt long lanh” gợi lên những liên tưởng phong phú và đầy thi vị. Đó có thể là giọt sương mai lấp lánh qua kẽ lá trong buổi sớm mùa xuân tươi đẹp, có thể là giọt nắng rọi sáng bên thềm, có thể giọt mưa xuân trên xứ Huế mộng mơ…Theo mạch liên tưởng của bài thơ ” giọt long lanh” còn là giọt âm thanh đổ hồi của con chim chiền chiện. Sự chuyển đổi cảm giác từ âm thanh sang hình ảnh làm cho câu thơ thêm đậm chất trữ tình…

Trước vẻ đẹp ấy, nhà thơ không kìm chế được niềm vui, cảm giác say sưa đón nhận. “Tôi đưa tay tôi hứng” là một hình ảnh mang tính tượng trưng, thể hiện thái độ yêu thương, trân trọng của nhà thơ trước vẻ đẹp của đất trời.

Như vậy, chỉ bằng ba nét phác hoạ: dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót, Thanh Hải đã vẽ nên một bức tranh xuân đẹp tươi đầy sức sống. Phải chăng đó là vẻ đẹp mặn mà của đất nước vào xuân?

Những bài thơ hay viết về mùa xuân từ xưa đến nay không ít. Nhưng miêu tả mùa xuân gắn liền với nhịp sống sôi động đang tiến lên, đặc biệt là sự phát hiện độc đáo qua hình ảnh mùa xuân nho nhỏ ta chỉ có thể bắt gặp được ở nhà thơ Thanh Hải. Càng xúc động hơn khi người đọc biết rằng bài thơ ra đời trong lúc tác giả đang nằm trên giuờng bệnh trước khi mất chẳng bao lâu.

Bài Văn: Bình Luận Bài Thơ “Tây Tiến” (1)

Tây Tiến vẫn là một đài thơ (thi sơn) đầy kỳ bí. Cái ma lực, cái âm hưởng của bài thơ Tây Tiến chưa ai lý giải hết được. Phải chăng cái hay là bởi lời thơ, ý thơ, hình tượng thơ giàu nhạc điệu được chứa trong một hồn thơ thật mới lạ và rất sâu sắc? Con người nồng hậu, nét bút tài hoa trong cách sử dụng ngôn ngữ thơ và hình ảnh thơ đã làm nên kiệt tác thơ Tây Tiến. Cái độc đáo của bài thơ là không có cấu tứ,cái kết của bài thơ (của cuộc hành binh) lại không nằm ở cuối bài mà lại nằm ở 2 câu 13-14/34:

Nhớ ôi, Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Với Tây Tiến, Quang Dũng dưa ta đi vào một thế giới đầy mùi hương hoài niệm, của sự vọng tưởng diệu huyền. Với Tây Tiến, Quang Dũng đã xây tượng đài về anh bộ đội Cụ Hồ (Vệ quốc đoàn – Vệ út – Vệ túm – Lính râu ria) thời kháng chiến 9 năm đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng – cái buổi đầu đi làm cách mạng của những trai tài gái sắc đất Hà thành (và ven đô) hiên ngang, hào hoa phong nhã, cái thời “chiến trường đi chẳng tiếc ngày xanh” (tả thực) với “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (lãng mạn). Bút pháp bậc thầy của Tây Tiến là nhà thơ đã vận dụng sáng tạo kỹ xảo thơ truyền thống (thơ Đường) với “phép đối” trong từng câu, đoạn thơ, từng khổ thơ tạo ra 2 vế âm/dương, tương phản trong một “trường đối nghịch” (thủ pháp đối lập) nhằm tô đậm ý tưởng “không ca ngợi một chiều” mà là phản ánh đúng hiện thực của cuộc chiến… đó là sự đói chọi, sự tàn khốc của chiến tranh lấy ý chí (Việt Nam) chọi lại sắt thép (thực dân Pháp). Thủ pháp đối ý, đối âm trong Tây Tiến với những câu thơ ăm ắp hồn chiến sĩ, tạo nên khẩu khí bi tráng của toàn bài. Đó là lối diễn đạt độc đáo, cao thủ mà hình như chỉ riêng Quang Dũng một mình trong cõi thơ

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời

để Tây Tiến ở một vị trí tượng đài vút lên trời xanh giữa núi rừng Tây Bắc hùng vĩ của Tổ quốc! Trong Tây Tiến có một hình tượng thơ đã làm không ít người thắc mắc, đó là

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa…

đó chẳng qua là một từ hoa “ẩn dụ” cảm từ câu ca dao xứ Mường “trăm thứ hoa không bằng hoa con gái” mà con gái Thái – Mường là “bông hoa rừng”chèo thuyền độc mộc đưa bộ đội qua sông đang mùa nước lũ… Qua rồi để nhà thơ lãng mạn lưu giữ một bóng dáng cô lái đò trên “Châu Mộc chiều sương ấy” cứ đong đưa trong con mắt người Sơn Tây đẹp đến lạ lùng. Cái chết (hi sinh) của người chiến sĩ nay không phải là “da ngựa bọc thây” mà là “chiến bào thay chiếu anh về đất” để Sông Mã gầm lên như súng thần công bắn vang trời tiễn đưa người anh hùng… Dùng cái bi, cái mất mát để tôn vinh cái hào hùng… với cảm hứng lãng mạn cách mạng được đặc tả trên cái nền hiện thực đã tạo nên âm hưởng, ma lực kỳ diệu của bài thơ Tây Tiến rất kinh điển mà cũng rất hiện đại – đó là một trong những bài thơ hay nhất của thơ Việt Nam thế kỷ XX đặt trong hành trang ta mang theo đi vào thế kỷ XXI, hội nhập cùng làng thơ thế giới hôm nay.

Cho đến nayvẫn là một đài thơ (thi sơn) đầy kỳ bí. Cái ma lực, cái âm hưởng của bài thơchưa ai lý giải hết được. Phải chăng cái hay là bởi lời thơ, ý thơ, hình tượng thơ giàu nhạc điệu được chứa trong một hồn thơ thật mới lạ và rất sâu sắc? Con người nồng hậu, nét bút tài hoa trong cách sử dụng ngôn ngữ thơ và hình ảnh thơ đã làm nên kiệt tác thơ. Cái độc đáo của bài thơ là không có cấu tứ,cái kết của bài thơ (của cuộc hành binh) lại không nằm ở cuối bài mà lại nằm ở 2 câu 13-14/34:Với, Quang Dũng dưa ta đi vào một thế giới đầy mùi hương hoài niệm, của sự vọng tưởng diệu huyền. Với, Quang Dũng đã xây tượng đài về anh bộ đội Cụ Hồ (Vệ quốc đoàn – Vệ út – Vệ túm – Lính râu ria) thời kháng chiến 9 năm đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng – cái buổi đầu đi làm cách mạng của những trai tài gái sắc đất Hà thành (và ven đô) hiên ngang, hào hoa phong nhã, cái thời “chiến trường đi chẳng tiếc ngày xanh” (tả thực) với “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (lãng mạn).Bút pháp bậc thầy củalà nhà thơ đã vận dụng sáng tạo kỹ xảo thơ truyền thống (thơ Đường) với “phép đối” trong từng câu, đoạn thơ, từng khổ thơ tạo ra 2 vế âm/dương, tương phản trong một “trường đối nghịch” (thủ pháp đối lập) nhằm tô đậm ý tưởng “không ca ngợi một chiều” mà là phản ánh đúng hiện thực của cuộc chiến… đó là sự đói chọi, sự tàn khốc của chiến tranh lấy ý chí (Việt Nam) chọi lại sắt thép (thực dân Pháp). Thủ pháp đối ý, đối âm trongvới những câu thơ ăm ắp hồn chiến sĩ, tạo nên khẩu khí bi tráng của toàn bài. Đó là lối diễn đạt độc đáo, cao thủ mà hình như chỉ riêng Quang Dũng một mình trong cõi thơđểở một vị trí tượng đài vút lên trời xanh giữa núi rừng Tây Bắc hùng vĩ của Tổ quốc!Trongcó một hình tượng thơ đã làm không ít người thắc mắc, đó làđó chẳng qua là một từ hoa “ẩn dụ” cảm từ câu ca dao xứ Mường “trăm thứ hoa không bằng hoa con gái” mà con gái Thái – Mường là “bông hoa rừng”chèo thuyền độc mộc đưa bộ đội qua sông đang mùa nước lũ… Qua rồi để nhà thơ lãng mạn lưu giữ một bóng dáng cô lái đò trên “Châu Mộc chiều sương ấy” cứ đong đưa trong con mắt người Sơn Tây đẹp đến lạ lùng.Cái chết (hi sinh) của người chiến sĩ nay không phải là “da ngựa bọc thây” mà là “chiến bào thay chiếu anh về đất” để Sông Mã gầm lên như súng thần công bắn vang trời tiễn đưa người anh hùng…Dùng cái bi, cái mất mát để tôn vinh cái hào hùng… với cảm hứng lãng mạn cách mạng được đặc tả trên cái nền hiện thực đã tạo nên âm hưởng, ma lực kỳ diệu của bài thơrất kinh điển mà cũng rất hiện đại – đó là một trong những bài thơ hay nhất của thơ Việt Nam thế kỷ XX đặt trong hành trang ta mang theo đi vào thế kỷ XXI, hội nhập cùng làng thơ thế giới hôm nay.

Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến

Đề bài: Phân tích khổ 1 bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

Chiến tranh và người lính đã đi vào trong văn chương với những hình ảnh đau thương nhất và cũng là đẹp và oai hùng nhất. Trong kháng chiến chống Pháp đã có rất nhiều sáng tác viết về người lính nhưu “Đồng chí” của Chính Hữu, “Tây Tiến” của Quang Dũng… Trưởng thành trong kháng chiến và trực tiếp tham gia vào những đoàn quân xông pha nơi chiến trường, Quang Dũng đã viết về chiến tranh bằng những cái nhìn chân thực và sống động. Bài thơ “Tây Tiến” là một tác phẩm tiêu biểu cho đề tài ấy.

Quang Dũng là đại đội trưởng của đoàn quân Tây Tiến, một đơn vị được thành lập nhằm phối hợp vỡi bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt-Lào. Đoàn quân ấy hoạt động chủ yếu ở phía Tây hai tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa. Sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, Quang Dũng chuyển đơn vị công tác và ông sáng tác bài “Tây Tiến” nhằm bày tỏ nỗi nhớ tới núi rung và những người đồng đội cũ. Khổ đầu của bài thơ là nỗi nhớ khôn nguôi đang trào trực trong lòng tác giả.

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ da diết của người chiến sĩ về núi rừng năm xưa anh đã từng đóng quân. Hai tiếng Tây Tiến được gọi lên với một thái độ thân mật, thiết tha. “Tây Tiến ơi” nghe như lời gọi thân thương của những người bạn, những người thân trong gia đình. Dù đã xa rồi nhưng những hình ảnh của núi rừng, của dòng sông Mã hiền hòa vẫn luôn hiện hữu trong lòng tác giả. Con sông Mã uốn lượn cùng những bước đi của người lính, núi rừng là nhà, là nơi họ sinh sống và chiến đấu. Thiên nhiên ở đây là những gì gần gũi và thân thuộc nhất suốt những năm tháng chiến tranh. Để rồi khi đi xa, nỗi “nhớ chơi vơi” cứ trào dâng. Nỗi nhớ ấy da diết và bền bỉ. Nó không biết bắt đầu từ đâu và như thế nào chỉ biết rằng nõi nhớ luôn thổn thức khôn nguôi, chập chờn, đeo bám lấy tâm hồn.

Nhà thơ nhớ về sông Mã, về núi rừng và những bước chân của cuộc hành quân.

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mướng Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Sáu câu thơ vẽ lên những khó khăn, gian khổ mà đoàn binh Tây Tiến đã phải trải qua suốt những năm gắn bó với núi rừng. Hàng loạt địa danh thân thuộc hiện về trong đầu tác gải với những kỉ niệm không bao giờ quên. Mường Lát, Sài Khao, Pha Luông…là những nơi mà đoàn binh đã từng đi qua và đóng quân ở đó. Trong suốt chặng đường, những đôi chân đã mệt mỏi rã rời. Những buổi tối, sương dày đến nỗi che lấp cả đoàn quân. Nó phủ lên đầu họ một lớp màng bọc đủ để không ai có thể nhìn thấy. Màn sương ấy có lẽ lạnh lẽo lắm.

Hiện tra trước mắt người đọc là một quãng đường đầy những khó khăn và thử thách. Chiến tranh đã nguy hiểm với bom đạn mà người lính còn phải vượt qua những trắc trở của thiên nhiên. Trên miền đất giáp biên giới, núi rừng hiểm trở biết bao. Những cung đường lên xuống như sự thay đổi nhanh chóng của những nốt nhạc lúc trầm lúc bổng. Con đường với những dốc cao chót vót và sâu thăm thẳm nối tiếp nhau, trải dài suốt chặng đường. Người lính đã phải dốc hết sức để leo lên rồi chưa kịp nghỉ ngơi lại phải thận trọng với những dốc xuống không cẩn thận là dễ dàng rơi xuống vực sâu. Sự trắc trở của thiên nhiên đã lấy đi biết bao sức lực của người lính. Có lúc nó cao vút như chọc thủng trời xanh, có lúc nó lại sâu hoáy như đâm vào lòng đất. Chặng đường như để thử thách đôi chân và ý chí của người lính, rèn luyện cho họ những kĩ năng và lòng quyết tâm vượt qua gian khổ.

Trong gian khó, có người đẫ anh dũng vượt qua nhưng cũng có người lại không thể tiếp tục chiến đấu.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Một hình ảnh chân thực đến xót xa. Qua biết bao trắc trở của thiên nhiên, núi rừng, người lính đã mệt mỏi rã rời. Người lính Tây Tiến không còn đủ sức để mà bước tiếp. Những người lính ngồi xuống, gục đầu vào cây súng để nghỉ ngơi và lấy lại sức cho những chặng đường gian khó tiếp theo. Cũng có thể, đây là hình ảnh của sự hy sinh. Các anh dù đã chiến đấu dũng cảm nhưng cũng không thể chống lại được sự tàn ác và vô tình của súng đạn. Họ đã đã hy sinh, đã ngã xuống để đem lại hòa bình và tự do cho dân tộc. Các anh ra đi cùng tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Họ chiến đấu hết mình, không ngại hy sinh để bảo vệ nền hòa bình cho dân tộc. những cái chết cao cả và oai phong biết nhường nào.

Và rồi, sau những kỉ niệm ùa về, nỗi nhớ lại trào lên mạnh mẽ.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em cơm nếp xôi

Nhà thơ nhớ về hương vị của núi rừng Tây Bắc. Mùi cơm nếp thơm lừng như đâng ùa về trong khứu giác của tác giả. Hương vị ấy có lẽ nhà thơ sẽ chẳng bao giờ quên. Hai tiếng “nhớ ôi” cũng đủ để ta cảm nhận được nỗi nhớ về Tây Tiến, về đồng đội lớn đến nhường nào. Nhà thơ như đang gọi, đang níu kéo sự ùa về của quá khứ, của những năm tháng gian khó nhưng thấm đượm tình đồng chí, tình dân quân.

Như vậy, bài thơ “Tây Tiến” và đặc biệt là khổ thơ đầu đã vẽ nên bức tranh hùng hồn về tinh thân người lính trong kháng chiến chống Pháp mà cụ thể là đoàn quân Tây Tiến. Bài thơ sẽ mãi vang vọng trong lòng người đọc như một khúc ca cường tráng về hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ gan dạ, dũng cảm và đầy sự lạc quan, yêu đời.

Seen

Incoming search terms:

Phân Tích Khổ 1 Của Bài Thơ Tây Tiến

Phân tích khổ 1 của bài thơ Tây Tiến

Chúng tôi đi chẳng tiếc đời mình

Tuổi hai mươi làm sao không khỏi tiếc

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi

Thì còn chi Tổ quốc

-Thanh thảo

Đó là ý chí quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của những chàng trai thời chiến. Nhà thơ Quang Dũng với Tây Tiến- một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp- đã trở thành một nhà thơ trẻ, đầy tài năng của những năm tháng không thể nào quên ấy. Năm 1948, Quang Dũng từ biệt đoàn quân Tây Tiến thân yêu, tại làng Phù Lưu Chanh, tác giả đã viết bài thơ này trong nỗi nhớ cồn cào về đơn vị cũ, về đoạn đời chiến đấu đã qua, về những vùng đất mình đã từng đặt chân đến, về những đồng đội sống chết có nhau và về những kỷ niệm mà ông nhà thơ không thể nào quên.

Nhớ Tây Tiến là nhớ về rừng về núi. Đây là một nỗi nhớ chơi vơi, dậy sóng ngay từ câu mở đầu, làm cho câu thơ ăm ắp cả nỗi nhớ:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”.

Ta bắt gặp ở câu thơ này một cảm giác trống vắng, nuối tiếc, lửng lơ không định hình, định vị. Đó là cảm giác của một người đang nhớ về quá khứ đã qua, đã tuột khỏi tay mình, để rồi bật lên trong dòng hoài niệm hai từ “xa rồi” đầy lưu luyến. Trong dòng hoài niệm ấy đã xuất hiện một cái tên lịch sử: Tây Tiến, và gắn liền với nó là dòng sông Mã hùng vĩ. Giờ đây sông Mã đã xa rồi, đoàn quân Tây Tiến giờ đây cũng đã không còn, nỗi nhớ về dòng sông ấy được tác giả gọi là ” nhớ chơi vơi”. Sau hai tiếng chơi vơi ấy, những ấn tượng sâu đậm về núi rừng miền Tây Bắc đã hiện ra, nó thật dữ dội và khắc nghiệt làm sao: Núi cao, dốc thẳm, thác gầm, cọp trêu và những cơn mưa mịt mù trời đất.

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi”

Để chứng minh cho ý kiến thi trung hữu họa, đoạn thơ trên của Quang Dũng là một điển hình. Chỉ với mấy câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hùng vĩ, diễn tả núi rừng Tây Bắc hoang vu và heo hút, hiểm trở và dữ dội. Với hàng loạt các địa danh xa lạ, dàn trải trên suốt chặng đường hành quân của người lính như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… thông qua phép liệt kê, đã gợi lên những vùng đất rất xa xôi, đầy bí hiểm mà đoàn quân Tây Tiến phải chinh phục.

Ở đoạn thơ này, sự hiểm trở của núi rừng TB không chỉ được thể hiện ở từ ngữ mà còn ở âm điệu của câu thơ. Âm điệu dựng thành những con dốc: khúc khuỷu, thăm thẳm, cao, xuống… cứ hun hút đến ghê người:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”

Hàng loạt từ ngữ giàu tính tạo hình ” khúc khuỷu”, “thăm thẳm” đã diễn tả sự trùng điệp, hiểm trở trên đường hành quân. Và với nhịp thơ 2/2/3 cùng năm thanh trắc trong một câu thơ bảy chữ gợi lên trước mắt người đọc hình ảnh một con đường đi đầy khó khăn hơn nữa với dốc tiếp dốc, chông gai nối tiếp chông gai.

” Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”, câu thơ với dấu phẩy ở giữa như bẻ đôi câu thơ, diễn tả nó vun vút lên và đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên- cao chót vót, nhìn xuống- sâu thăm thẳm. Đoạn thơ của QD sử dụng hàng loạt những thanh trắc liên tiếp nhau, đọc lên nghe vất vả, nhọc nhằn. Sau hàng loạt hững câu thơ gân guốc, khỏe khoắn ấy, tác giả đã hạ một câu thơ lơ lửng những vần bằng:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Câu thơ như tiếng thở phào nhẹ nhỏm của người lính sau khi vượt qua bao đèo cao, suối sâu, tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa, qua một khoảng không gian mịt mù sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi, trong một đêm hơi mơ hồ, huyền ảo, gợi một niềm đầm ấm, than mật trong lòng người.

Miền Tây ngày ấy là nơi ngự trị của những vẻ âm u, hoang dã, là những thử thách ghê gớm đặt ra cho con người. Nó không chỉ được mở theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, những đe dọa khủng khiếp luôn luôn rình rập con người:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm mường hịch cọp trêu người”

Nói cái khắc nghiệt của núi rừng là cũng để làm nhớ về sự hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến. Tây Tiến là cuộc hành quân vô cùng gian khổ, gian khổ với biết bao nguy nan, gian khổ với sự đe dọa của thiên nhiên mà người lính phải trân mình ra chịu đựng. Phải chăng những chặng đường hành quân khắc nghiệt đó đã làm chùn lại bước chân quả cảm của chàng thanh niên Hà Nội ngày nào, để Quang Dũng phải tiếc nuối mà nói rằng:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Hai câu thơ của QD dẫu có buồn vì nói đến sự hy sinh mất mát nhưng vẫn không bi đát ở thái độ của người hy sinh. Người chiến sĩ đã vượt lên mình dẫu không chế ngự được khó khăn, nhưng họ cũng không chịu khuất phục. họ bỏ cả tuổi xuân quý giá của mình, nhưng là vì tổ quốc nên nhẹ nhàng như bỏ quên một thứ rất đỗi bình thường. Thái độ sống ấy của người lính Tây Tiến cứ sáng lên rạng rỡ, rạng rỡ trong không gian, rạng rỡ trong thời gian và rạng rỡ trong lòng người, rạng rỡ để mà bất diệt. Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng kỷ niệm ấm áp của một TT khác:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Sau khi vượt qua bao rừng sâu, núi cao hun hút, người lính đã đến được bản làng có những khói bếp, vườn tược với cô gái Mai Châu trao tặng nắm xôi còn thơm mùi nếp mới.

Trong đoạn thơ, có một hình ảnh rất sáng tạo, rất tạo bạo và tinh nghịch của những người chiến sĩ. Người lính trèo lên những ngon núi cao như đang đi trên mây, mũi súng chạm đến đỉnh trời. Quang Dũng đã khắc họa rất thành công tượng đài sừng sững về người chiến sĩ đứng hiên ngang giữa bầu trời quê hương. Hình ảnh ” súng ngửi trời ” là một thi ảnh rất đẹp, táo bạo, hóm hỉnh, tinh nghịch, mang đậm chất lính, khiến người lính Tây Tiến trước thiên nhiên khắc nghiệt không bị chìm đi mà lại nổi lên đầy thách thức.

Đoạn thơ mở đầu với 14 câu thơ nhưng đã khắc họa được cảnh sắc thiên nhiên vùng Tây Bắc hoang sơ hùng vĩ nhưng cũng thơ mộng, trữ tình, tuy nhiên, thiên nhiên chỉ là cái nền để những người lính khắc họa lên trên đó. Đó là nỗi nhớ, là tình cảm sâu nặng của Quang Dũng gắn bó với Tây Bắc một thời hoa lửa. Tất cả đóng đinh thành một ấn tượng khá độc đáo trong lòng người đọc về cảnh núi rừng Tây Bắc và hình ảnh của người chiến sĩ quyết hiến mình cho tổ quốc, cho non sông.

Cảm hứng lãng mạn và sắc thái bi tráng tạo nên tính sử thi đặc biệt của bài thơ. Từ bức chân dung người lính Tây Tiến hào hoa và dũng cảm trên cái nền hùng vĩ và mĩ lệ của núi rừng Tây Bắc, Quang Dũng hướng hồn thơ ngưỡng vọng vào cả một thế hệ anh hùng.