Top 20 # Văn Nghị Luận Về Bài Thơ Sang Thu / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Nghị Luận Về Sang Thu Của Hữu Thỉnh / 2023

Nghị luận về Sang thu của Hữu Thỉnh – Bài số 2

Nghị luận về Sang thu của Hữu Thỉnh – Bài số 2. Mùa thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. Con người cùng Tạo vật thảy đều nhạy cảm. Tuy nhiên, cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa – chớm thu. Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động tối đa để nắm bắt những làn sóng, những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao chuyển âm thầm trong vạn vật.

Chả thế mà, bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật. Chỉ cần điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những thi ảnh không thôi, cũng khó đủ giấy mực rồi. Gọn nhẹ hơn, chỉ điểm qua những thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi, chắc cũng không xuể. Cho nên, tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời, nghĩa là không tái hiện lại một truyền thống, một tiền đề nữa. Mà cùng Hữu Thỉnh, bước ngay… Sang thu

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về

Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu

Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi

Thu, 1977

Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ, nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường. Kể từ nay, hương ổi của thi phẩm sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò, sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo thu, đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa.

Trước tiên, thử đi vào cấu trúc của thi phẩm. Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. Về bố cục, ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ “dính” vào khổ kia, chả chịu rành mạch gì cả. Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi, gió se, sương chùng chình, sông dềnh dàng, chim vội vã, nắng vẫn còn, mưa đã vơi, sấm bớt bất ngờ, hàng cây đứng tuổi… chẳng dáng nét thu về, thì hình sắc thu sang, đấy thay đổi tinh vi, đây đổi thay tinh tế. Ý đâu có khác gì nhau. Đến nỗi, ngay cả “Sách giáo viên” hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng ” bí” trong việc phân định . Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ, còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch, vô tổ chức ? Không hẳn.

Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa, nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý. Về cảnh vật, khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu, từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu, với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. Trong khi đó, khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi. Như vậy, ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ ngoài vào trong, với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu… Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể !

Cảm nhận tạo vật lúc sang thu, đa phần các thi sĩ nghiêng về vẻ biến suy một chiều của cảnh. Vì thế, thần thái của cảnh thu thường hiện lên qua vẻ tiêu sơ. Ví như bài Thu cảm, tiếng thơ khá tinh tế của một thi sĩ đương thời : Mướp tàn sen cũng đi tu / Lá tre đã thả một mùa heo may / Con sông không ốm mà gầy / Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn. Cảm nhận của Hữu Thỉnh khác, không đơn tuyến. Tôi cho rằng, một trong những nét đặc sắc của bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau, song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu. Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ. Nhịp mạnh bao gồm những động thái, sắc thái dương tính (mạnh, nhanh, nhiều…) : hương ổi phả – chim vội vã – vẫn còn bao nhiêu nắng… Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm, chậm, ít…) : sương chùng chình, sông dềnh dàng, mưa vơi dần… Lúc bất giác nhận ra hương ổi “phả” vào trong gió se, thì cũng là lúc bắt gặp sương “chùng chình” qua ngõ. Chính lúc sông “dềnh dàng” là lúc chim “vội vã”. Khi nắng “còn” cũng là khi mưa “vơi”. Đừng nghĩ thi sĩ cố ý đặt bày hai mạch tương phản nhằm chơi trò lạ hoá. Nó chính là hiện tượng trái chiều mà cùng hướng ta vẫn thường thấy trong mỗi cuộc đổi thay. Chẳng phải thế sao ? Chẳng phải bao mạch sống đang cần mẫn chuyển lưu trong lòng tạo vật làm nên cõi sống trường cửu này vốn vẫn tương sinh tương khắc như vậy sao ? Và chẳng phải những vận động trái chiều mà cùng hướng vẫn thường đem đến cho sự sống thế quân bình ngay trong lòng mỗi nhịp biến thiên hay sao ? Cho nên, thật thú vị mà cũng thật hiển nhiên là hai nhịp mạnh – nhẹ với hệ thống hưng – suy, tiêu – trưởng kia lại đan dệt trong nhau khá nhuần nhuyễn tạo nên cái bản giao hưởng gợi cảm của đất trời thu. Có thể xem đó là nét phức điệu trong cảm nhận ngoại giới của hồn thơ Hữu Thỉnh. Toàn cảnh thu trong bước chuyển mùa, nhờ lối cảm ấy, đã hiện ra không chỉ có biến thiên, mà đây đó còn cả thế quân bình. Luôn thấy được thế quân bình ngay giữa những biến thiên thì ít bất ngờ chao đảo. Trong thiên nhiên đã vậy. Trong cuộc đời cũng thế. Và, tôi ngờ rằng cảm quan quân bình về đời sống đã ngấm ngầm xui thi sĩ tìm đến cái kết điềm tĩnh trước ba động, giấu cương sau nhu này :

Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi ?

Nói đến câu kết kia, không thể không thêm vài lời về cách lập tứ dẫn tới kết. Nó rõ nhất ở khổ ba : Vẫn còn bao nhiêu nắng /Đã vơi dần cơn mưa /Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Để ý một chút, sẽ thấy rằng đến đây, tâm thế thi sĩ không còn ngỡ ngàng bất giác như khổ một, say sưa tri giác như khổ hai, mà lòng đã nặng hơn, đã ra chiều trầm ngâm với suy ngẫm rồi. Lớp từ mang sắc thái đong đếm ở đây mách với ta điều đó. Hệ thống các từ còn (-hết), vơi (-đầy), bớt (-thêm) bảo rằng thi sĩ đang suy xét, đúc kết, chiêm nghiệm. Chiêm nghiệm điều gì ? Về một lẽ đời trong hai chiều biến đổi trái nhau. Ba câu trên : nắng “vẫn còn”, tức là đã giảm ; mưa “vơi dần” rõ là giảm ; sấm “bớt bất ngờ” càng giảm. Cả ba nghiêng về chiều giảm. Nhưng, khi câu ba nối vào câu kết, thì chiều giảm đột ngột thành chiều tăng, một chiều tăng kín đáo : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Ấy là sự từng trải tăng lên, là cây đã trưởng thành. Nhờ lối viết nén, mấy chữ “bớt bất ngờ” như một nút buộc, câu thơ bỗng có “cú pháp dính”, lời thơ súc tích hẳn nhờ các làn nghĩa giao nhập ràng néo nhau : sấm bớt gây bất ngờ (sấm đã e cây), hay cây bớt bị bất ngờ (cây thôi e sấm)? Có lẽ là cả hai, nhưng xem chừng, cái vế sau mới là chốt hạ. Nhờ ngữ pháp ấy mà cái ý cương kia liền được giấu kín nhẹm, thậm chí được nhu hoá. Có thể nói, đây là lối kết theo kiểu “đảo phách”. Một cú đảo phách ngoạn mục. Bởi đảo mà cứ như không.

Sang thu là bài thơ tinh tế. Điều này khỏi bàn thêm. Chẳng thế mà các chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ. Nào những hương ổi phả vào trong gió se, nào sương chùng chình qua ngõ, rồi thì sông được lúc dềnh dàng… xem ra, thi ảnh nào cũng tài hoa. Mà ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu. Làm xác định cái không xác định, khiến cái vô hình thành hữu hình, làm định dạng cái vốn mơ hồ, là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp. Thế mà thi ảnh lại mới, hình sắc lại gợi. Đám mây thực thế mà ảo thế ! Cái cách “vắt nửa mình” kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có, thật mà không thật. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không, khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy!

Mà đâu chỉ trong quan sát, ở thi phẩm này, Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. Những hiện tượng riêng lẻ thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều, có chậm có nhanh. Nhưng cái nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương và mau lẹ. Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng rất không đâu mà lại thần tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt đầu vội vã ; Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa”. Mấy chữ ấy đi với nhau thành cặp, hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình.

Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. Đọc Hữu Thỉnh, có một chất rất dễ nhận : dân gian. Còn có một chất khác, luôn cặp kè, mà xem ra lại khó thấy : Đường thi. Sao lại cặp kè ? Thì một trong những chiêu rất Hữu Thỉnh chẳng phải là chế tác thi liệu dân gian bằng thi pháp Đường ư ? Cố nhiên, anh không chỉ có chiêu này. Ở Sang Thu, cái súc tích Đường thi kết hợp với chất hồn nhiên thơ trẻ cứ loáng thoáng đâu đó trong cách nhìn tạo vật, trong cách kiệm lời, mà hiển lộ nhất là ở phép đối ngẫu được dùng khá nhuyễn : Sông được lúc dềnh dàng-Chim bắt đầu vội vã ; Vẫn còn bao nhiêu nắng-Đã vơi dần cơn mưa. Có lẽ khi đọc các cặp ấy, tâm trí ta bị trôi theo lời thơ bình đạm, ít ai để ý đến nghệ thuật tổ chức, chỉ lúc chợt ngoái lại, thì mới vỡ lẽ: ồ, ra là phép đối ! Thế là nhuyễn, là tinh chứ sao !

Tuy nhiên, đó vẫn là những tinh tế tiểu tiết và dễ viết.

Đôi khi quá chú mục vào cái tinh tế trong tiểu tiết có thể quên sự tinh vi trong đại cục. Tôi muốn nói đến điều khác : ý tưởng bao trùm. Nó mới là nét tinh vi thuộc về đại cục. Ý tưởng Sang thu được gói kín vào thi tứ. Một thi tứ đa tầng khiến hình tượng thơ thành đa nghĩa. Nhờ đó, thi phẩm nhỏ đã mang thi tứ lớn. Sang thu đa nghĩa, vì ít nhất, có sự chất chồng và giao thoa của ba lớp nghĩa : trời đất sang thu, đời sống sang thu và đời người sang thu. Lớp nghĩa thứ nhất dễ thấy. Vì nó ở bề nổi của văn bản thơ. Nó khiến bài thơ như một bức tranh thiên nhiên. Không. Có lẽ như những thước phim về cảnh vật thiên nhiên thì phải hơn. Tranh thì tĩnh, phim mới động. Sự mẫn cảm của tâm hồn thi sĩ đã được dịp phô diễn qua những thi ảnh giàu mỹ cảm trong việc nắm bắt bao vận động, chuyển động, biến động âm thầm và sâu kín của thiên nhiên. Nhưng, nếu chỉ thế thôi, Sang thu cũng mới là thơ tạo vật. Hữu Thỉnh chưa đem đến cái gì mới hơn so với các tiếng thơ thuộc thi đề thu của những người đi trước. Đồng thời, cũng chưa phổ được vào đó hơi thở của thời mình, tinh thần của thế hệ mình.

Hai lớp nghĩa sau mới thật là thứ hương ổi riêng mà Hữu Thỉnh phả vào trong thi đề này. Tất nhiên, những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu sương chùng chình, sông dềnh dàng, chim vội vã v.v… Nhưng nếu chỉ có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ, chưa xa gì hơn một lối nói sinh động về sự vật, chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. Lớp nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. Chữ “đứng tuổi” bật sáng, phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. Nó đâu chỉ nói cây, mà còn nói người. Nhân hoá cây là bề nổi, giấu người vào cây là bề sâu. Tự dưng, chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời.

Có thể thấy rõ hơn nữa, khi nhìn trong tương quan khác.

Cảm thụ nghệ thuật, căn cứ quan trọng nhất là văn bản. Nhưng, chỉ bó hẹp trong văn bản không thôi, dễ làm nghèo nghệ thuật. Trong thực tế, thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì thuộc nội bộ văn bản, mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. Ví như hoàn cảnh sáng tác . Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977, ở nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa chăng ? Không hẳn. Bấy giờ, cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. Nghĩa là, đời sống cũng vừa sang thu. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. Nhìn bài thơ trong tương quan với thời điểm ấy, tự dưng chúng ta thấy các hình ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. Đặc biệt từ khổ hai trở đi. Nếu ở khổ đầu, thơ còn nặng về tạo vật, thì từ khổ thứ hai đã bảng lảng cái bóng đời. Hèn chi, cùng diễn tả nhịp vận động chầm chậm, nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc dềnh dàng. “Chùng chình” còn dễ ưa, “dềnh dàng” đã khó ưa. “Dềnh dàng” đâu chỉ nói về nét riêng của dòng chảy đã chậm hơn khi con sông vào thu. Dường như nó còn ngầm tỏ thái độ về cái điệu sống của những đối tượng nào đó hồi mùa hạ hăng hái xông pha là thế, giờ vào thu đã tự cho phép mình được dềnh dàng, được xả hơi chăng ? Chả phải vô cớ mà thi sĩ đem chữ “được lúc” gắn với cái thói “dềnh dàng” ấy của sông. Cũng như thế, Chim bắt đầu vội vã có phải chỉ đơn thuần nói về các loài chim lúc sang thu đang gấp gáp bay đi lánh rét không thôi ? Xem ra, nó còn muốn nói tới đối tượng sống tuỳ thời, xu thời nào đó nữa ấy chứ ? Đến khổ thứ ba, cái lớp nghĩa thế sự bảng lảng này còn tỏ hơn nữa. Tôi ngờ rằng đây là khổ thơ mà anh chàng thi sĩ cũng vừa trải qua một mùa hè bỏng rát đang kín đáo nói về thế hệ mình và chính mình ? Vâng, tuy đã sang thu, nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng. Đồng thời, bao tủi sầu yếu đuối, bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. Bước sang thu, hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi. Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành, đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động, mọi cú giáng của cuộc đời : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Không có chữ “đứng tuổi” cứ như lạc hệ thống này, mọi suy cảm trên sẽ thành võ đoán, lớp nghĩa thời sự vốn khuất mình không thể phát sáng được. Không có nó, ý ngầm của kẻ viết vừa khó phát lộ vừa khó gói ghém.

Một cái kết quá là khôn ngoan.

Thì ra, mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành. Mùa thu đâu chỉ có biến thiên. Mùa thu còn tàng ẩn cả những quân bình tự tại nữa. Chẳng phải đó là những nét độc đáo mà Hữu Thỉnh đã đem đến cho một thi đề tưởng đã quá ư quen thuộc hay sao ? Từ thơ tạo vật, Sang thu đã lẳng lặng thành thơ cuộc đời !

Văn Mẫu Và Dàn Ý Nghị Luận Về Bài Thơ Sang Thu 2022 / 2023

Bài viết hướng dẫn cách lập dàn ý nghị luận về bài Thơ Sang Thu và một bài văn mẫu của em học sinh giỏi năm 2020 về nghị luận bài thơ Sang Thu hay nhất. Để có phương pháp học Văn tốt và cách cảm thủ Văn Học thông minh, các em có thể tìm gia sư Văn giỏi dạy kèm tại nhà.

I. Dàn Ý Nghị Luận Bài Thơ Sang Thu

được viết năm 1977, lần đầu được in trên báo văn nghệ và xuất hiện liên tục trên các tập thơ khác nhau.

b, Khổ 1: Cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh trước tín hiệu sang thu: gió se

– Nhà thơ đã có những cảm nhận hết sức tinh tế về tín hiệu mùa thu với không gian gần bằng sự nhạy bén của nhiều giác quan:

+ Khứu giác: hương ổi chín lan tỏa trong không gian.

+ Xúc giác: từng đợt gió se lạnh đầu mùa.

+ Thị giác: sương đầu mùa nhẹ nhàng buông trùm lên mọi cảnh vật, chuyển động nhè nhẹ từng ngõ ngách xóm làng.

→ Hương ổi lan tỏa trong không gian, hòa vào gió se lạnh.

– Hữu Thỉnh phải thật sự yêu mùa thu, yêu làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ mới có thể có những phát hiện nhảy cảm và sâu sắc đến vậy.

c, Khổ 2: Cảm nhận những chuyển biến tinh tế của trời đất khi từ hạ sang thu

– Từ việc cảm nhận bằng các giác quan, cảm xúc của tác giả tới đây đã thực sự hòa trộn vào với vạn vật.

– Từng sự vật ở thời điểm giao mùa như cũng có ý thức chuyển đổi:

→ Không gian mở rộng từ gần đến xa, từ thấp lên cao.

→ Các từ ” chùng chình “, ” “, ” “, ” vắt nửa mình ” xuất hiện ở hai khổ thơ đầu vốn là các từ gắn với trạng thái, tính chất của con người nay lại được nhà thơ dùng để tả thiên nhiên nên mọi sự vật bỗng chốc trở nên rực rỡ, có hồn, tâm tình của người.

d, Khổ 3: Những chiêm nghiệm, tâm tư của nhà thơ Hữu Thỉnh

– Thiên nhiên từ khổ 1 dần nhường chỗ cho mạch cảm xúc và bùng lên cao trào ở khổ cuối bài thơ.

– Hình ảnh: ” Vẫn còn bao nhiêu nắng/ Đã vơi dần cơn mưa “: Các tính từ chỉ mức độ ” “, ” “: hè đã nhẹ dần, thu đã bắt đầu đậm nét hơn trong cảnh thiên nhiên.

+ Vừa tả thực vừa hàm ý về con người (nghĩa ẩn dụ): những chông gai, khó khăn hay những tác động của ngoại cảnh sẽ không còn khiến lòng người nao núng khi họ đã trải qua đủ bản lĩnh, có thử thách vững vàng hơn.

→ Triết lí nhân sinh sâu sắc.

Khẳng định lại giá trị đặc sắc của bài thơ:

– Nghệ thuật: nhiều hình ảnh nhân hóa, tính từ gợi trạng thái, hình ảnh tả thực, hình ảnh ẩn dụ tạo chiều sâu cho tác phẩm.

II. Bài Văn Nghị Luận Về Bài Thơ Sang Thu

Người ta thường nói mùa thu là mùa của xúc cảm, của nỗi lòng và của những chiêm nghiệm thầm kín. Chẳng phải ngẫu nhiên mà mùa thu xuất hiện nhiều đến thế trên các trang thơ từ cụ Nguyễn Khuyến với chùm thơ thu nổi tiếng đến Xuân Diệu với ” Đây mùa thu tới ” và nhà thơ Hữu Thỉnh cũng có luôn bài thơ của mình. Nhưng Hữu Thỉnh không chọn cách ưu tư với những cảnh vật của mùa thu mà ông lại rung động trước khoảnh khắc giao mùa. Có lẽ rằng khi ấy tâm hồn ta mới được đồng điệu trong sự chuyên biến kì diệu của đất trời bằng những lời thì thầm ngọt ngào của vạn vật.

Từ ” ” khai phá ngòi bút thơ , diễn tả sự ngạc nhiên, bất ngờ của nhà thơ khi phát hiện ra những tín hiệu thu về. Cảm giác thích thú ấy đã đánh thức mọi giác quan của một con người để ôm trọn hết dấu hiệu của không gian vào lòng. Đó là khứu giác nhạy bén khi nhận ra hương ổi chín vàng lan tỏa đâu đây, là xúc giác lành lạnh biết rằng gió mùa đã về rồi, là cả thị giác bao trùm lên những áng sương đầu mùa nhẹ nhàng đang quẩn quanh mọi cảnh vật, len lỏi từng ngõ ngách xóm làng. Thu về, Hữu Thỉnh không chọn lá vàng rơi hay hoa sữa nồng nàn mà chọn những biểu hiện gần gũi, cụ thể nhất của dân tình làng cảnh Việt Nam. Bất giác, ai đọc đến cũng thấy nao lòng, man mác một nỗi bồi hồi quê hương. Động từ ” ” xuất hiện như một nét vẽ mạnh diễn tả sự mạnh mẽ của hương ổi chín hòa nhập vào không khí, thể hiện sự đột ngột của hành động xâm chiếm mùi hương. Mùa thu vốn là mùa của trái bưởi chín mọng, của hoa cúc vàng rộ và của chùm ổi vàng như sắc thu. Mùi hương đặc biệt ấy lan toả trong không gian, hoà vào làn gió se lạnh. Và thật đặc biệt, cùng với điệu tâm hồn tác giả, chúng kết tinh thành vẻ đẹp muôn đời của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hình ảnh nhân hóa: ” Sương chùng chình ” gợi lên hình ảnh sương như muốn chậm lại, bước đi thời gian vì thế mà trở nên chậm rãi, nhẹ nhàng. Sương dường như vẫn đang giăng mắc ở đâu đó: trên cảnh ổi, dưới gốc đa, bên ao làng và cả trong lòng người nữa. Tình thái từ ” ” mang cảm giác ngờ ngợ của tác giả: con người ấy có lẽ vẫn không dám chắc rằng liệu mùa thu đã đến hay chưa? Hữu Thỉnh phải thật sự yêu mùa thu, yêu làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ mới có thể có những phát hiện nhảy cảm và sâu sắc đến vậy. Khúc dạo đầu cho bài ca mùa thu đầy cung bậc cảm xúc lại mở ra cho chúng ta những điệu ngân mùa mới…

Khổ thơ tiếp theo đánh dấu sự chuyển biến tinh tế của trời đất khi từ hạ . Cảm xúc cũng vì thế mà mở rộng ra khắp bốn phương, không còn trói buộc trong ” ” nhỏ làng quê. Từ việc cảm nhận bằng các giác quan ở khổ trên, cảm xúc của tác giả tới đây đã thực sự hòa trộn vào với vạn vật:

Vạn vật dường như đều ở trạng thái ” ” khoảnh khắc chuyển giao ấy. Sự vật ở thời điểm giao mùa như cũng có ý thức chuyển đổi: Sông trở nên ” “, chim thì ” “, đám mây ” vắt nửa mình sang thu “. Cảnh thực ý lòng! Trong bối cảnh bài thơ ra đời, đất nước ta vừa trải qua những đêm trường bom đạn, sự chảy trôi chậm chạp của thiên nhiên phải chăng là do cái nhìn đầy xúc cảm, bồi hồi của con người sống trong thời đại mới tác động? Không gian ở đây mở rộng từ gần đến xa, từ thấp lên cao. Dưới có dòng sông lững lờ đưa nước, trên có cánh chim vội về tổ. Sự thanh bình, êm ả ấy khiến lòng người cũng bỗng chốc trở nên êm dịu. Các từ ” chùng chình “, ” “, ” “, ” vắt nửa mình ” xuất hiện ở hai khổ thơ đầu vốn là các từ gắn với trạng thái, tính chất của con người nay lại được nhà thơ dùng để tả thiên nhiên nên mọi sự vật bỗng chốc trở nên rực rỡ, có hồn, tâm tình của người. Cái tài tinh tế của ngòi bút Hữu Thỉnh là ở đấy!

Cái bỡ ngỡ ban đầu chợt nhoà đi, nhường chỗ cho những phát hiện mãnh liệt trước cảnh thu mới mẻ. Hai câu thơ đặc sắc tả cảnh, nhưng lại ngụ ý nói lên tâm trạng của nhà thơ: vừa xao xuyến, luyến tiếc mùa hạ nóng bỏng lại vừa bâng khuâng, mong ước mùa thu lãnh đạm. Đám mây của tạo hoá mà lại như dải lụa mỏng vắt nửa bên hạ, nửa bên thu, chấp chới giữa lằn ranh vô hình của thời gian. Nhịp thơ như dài ra, như lỡ làng, như lưng chừng bỏ lỡ điều gì ở câu thơ cuối khổ…

Kết lại khúc giao mùa là những chiêm nghiệm, tâm tư của nhà thơ Hữu Thỉnh. Một thoáng suy tư của người trước cảnh hiện dần qua từng câu chữ. Thiên nhiên từ khổ đầu dần nhường chỗ cho mạch cảm xúc và bùng lên cao trào ở khổ cuối bài thơ:

Vẫn là nắng, mưa, sấm của hè vội vã mà sao tất cả đều đã thay đổi ít nhiều? Các tính từ chỉ mức độ ” “, ” ” làm rõ thêm sự thật: hè đã nhẹ dần, thu đã bắt đầu đậm nét hơn trong cảnh thiên nhiên. Thu đã đến, vạn vật cũng quen dần với vòng xoay mới, cũng ” ” với những điều lạ lẫm trước mắt. Mùa thu dường như là mùa khép lại những nồng nhiệt, táo bạo của hè nắng, của tuổi trẻ đầy sắc hương và mở ra những điều trầm lắng, thanh nhàn của những suy nghĩ cuối đời người. Hình ảnh nhân hoá ở hai câu cuối vừa tả thực vừa hàm ý về con người (nghĩa ẩn dụ): những chông gai, khó khăn hay những tác động của ngoại cảnh sẽ không còn khiến lòng người nao núng khi họ đã trải qua đủ bản lĩnh, có thử thách vững vàng hơn. Chính mặt tạo nghĩa đó đã khoác cho bài thơ một vẻ đẹp của triết lí nhân sinh sâu sắc, khẳng định tài năng của nhà thơ Hữu Thỉnh.

quả thực là bài thơ hay thể hiện những rung động tinh tế của nhà thơ Hữu Thỉnh trong khoảnh khắc trời đất giao mùa bằng những phát hiện lí thú về cảnh vật. Qua đó, ông thể hiện rõ những chiêm nghiệm sống của mình về con người và cuộc đời. Mùa thu nơi vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện lên thật có hồn! Tài năng nghệ thuật của ông cũng được khẳng định khi sử dụng nhiều hình ảnh nhân hóa, tính từ gợi trạng thái, hình ảnh tả thực, hình ảnh ẩn dụ tạo chiều sâu cho tác phẩm. Dấu ấn riêng của Hữu Thỉnh đậm rõ trong bài , và cứ mãi trường tồn trong nền văn học Việt. Tình yêu thiên nhiên, yêu đời vẫn còn đây…

dàn ý sang thu

dàn ý bài thơ sang thu

dàn ý bài sang thu

dàn ý nghị luận bài thơ Sang Thu

dàn ý nghị luận Sang Thu

dàn ý nghị luận bài Sang Thu

Bình Luận Facebook

.

Viết Bài Văn Nghị Luận Về An Toàn Giao Thông / 2023

Nước ta từ ngàn đời xưa cố vô số tập tục, văn hóa, Văn hoá ẩm thực, văn hoá du lịch, trong đó còn có 1 thứ văn hóa gọi là văn hóa giao thông. Nhưng hiện nay ít ai quan tâm đến thứ văn hóa này. Giao thông đã và đang trở thành vấn đề “quốc nạn” của nước ta. Nguyên nhân thì nhiều nhưng việc nâng cao văn hóa của người khi tham gia giao thông cũng rất là quan trọng để giảm thiểu tình trạng ùn tắc và tai nạn giao thông của nước ta hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, mà loài người mới sáng tạo ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa…”.

Người ta thường nói: Chật nhà thì nép, chật đường thì chen. Đèn đỏ, mọi người dừng lại trước vạch vôi, ấy thế mà có một cô nàng xinh đẹp cứ đạp chân xuống đường cố nhích, cố lách mũi xe của mình nhoi lên trước dù chỉ là vài xăng ti mét đường. Để làm gì. Không hiểu. Kết quả là bánh xe của cô chẹt lên bàn chân của một người khác đang dừng xe bên cạnh cô. Thế là toáng lên chửi nhau. Vậy văn hóa giao thông đang ở đâu trong mỗi người, tại nạn giao thông từ đâu mà ra?

Đang buồn cười hơn nữa là có anh cảnh sát lăm lăm dùi cui đứng bên đường thì đi đứng sao mà nghiêm chỉnh thế. Vậy mà khi vắng bóng anh thì ôi thôi Đường ta, ta cứ đi, chẳng còn coi thiên hạ xung quanh là gì nữa. Hỏi sao tại nạn lại cứ xảy ra.

Ai cũng nghĩ ở nông thôn trình độ kém hơn ở thành thị, vậy tại sao những bản tin tai nạn đều ở thành thị? Phải chăng trình độ hiểu biết của người nông thôn đã hơn người thành thị?Không phải thế, chỉ vì con người ta biết luật mà vẫn cố không nghe theo, biết sai mà không dừng lại. Phải chăng vấn nạn giao thông xảy ra do chính ý thức của con người.

Tôi cũng chỉ là một học sinh trung học, những gì tôi hiểu về cuộc sống còn rất ít, nhưng những gì tai nghe mắt thấy hằng ngày thì không thể phủ nhận. Ra đến đường đã thấy lạng lách đánh võng, nửa đêm tiếng xe rú ga ầm ầm, rồi lại tai nạn người khóc, kẻ mếu. Nhà nước ta chậm phát triển cũng do ý thức cũng như tình hình giao thông còn kém.

Đường đi cũng không phải ít, từ một trục đường chính rẽ ra vô số đường nhánh nhỏ, nhưng nhiều lúc đường chính còn ” tồi tàn” hơn cả đường nhánh. Đường nhánh do dân tự bảo nhau xây nên, còn đường chính do nhà nước, vậy tại sao đi đâu cũng có ổ gà, ổ voi trên đường, phải chăng đây là hiện tượng tham ô? Thử hỏi tại sao lại không xảy ra tai nạn.

Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức: Bác dạy “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Những tấm gương đạo đức của những người tiêu biểu, những người tốt, việc tốt có ý nghĩa thúc đẩy cho quá trình đó”.

Xây đi đôi với chống: Trong đời sống hàng ngày, những hiện tượng tốt-xấu, đúng-sai, cái đạo đức-cái vô đạo đức vẫn luôn đan xen, đối chọi nhau, thông qua hành vi của những con người khác nhau. Vì vậy việc xây dựng nếp sống văn hóa mới, đạo đức mới đặc biệt là nếp sống văn hóa giao thông phải được tiến hành và phối hợp chặt chẽ từ bản thân với gia đình, nhà trường và ngoài xã hội; nhất là những tập thể mà nơi con người, công nhân viên chức lao động dành phần lớn thời gian cuộc đời gắn bó.

Phải thường xuyên tu dưỡng văn hóa, đạo đức suốt đời: Đây là một công việc phải làm suốt đời. Là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt. Vấn đề là ở chỗ thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy, thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để khắc phục. Vì vậy, mỗi người phải tự tu dưỡng, gia đình và tập thể giúp đỡ tu dưỡng.

Tuyên truyền đội mũ bảo hiểm cho trẻ em tại trường học.

Xây dựng nếp sống văn hóa giao thông là nâng cao ý thức và thái độ của mọi người khi tham gia giao thông. Biết từ tốn, bình tĩnh ưu tiên nhường nhịn cho người già, trẻ em. Biết xin lỗi, cảm ơn khi có va quệt, biết đội mũ bảo hiểm cho mình và cho trẻ em khi tham gia giao thông…Văn hóa giao thông nâng lên thì những hành vi sai trái, quậy phá, không đội mũ bảo hiểm, uống rượu bia khi tham gia giao thông…sẽ trở thành lố bịch, bị cộng đồng lên án, khi đó văn hóa giao thông của cả cộng đồng sẽ được nâng lên, tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông sẽ từng bước được đẩy lùi.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cuộc sống mới luôn đòi hỏi phải xây dựng nền văn hóa đạo đức mới Việt Nam ngang tầm với yêu cầu của cuộc cách mạng mới và hội nhập quốc tế. Mỗi người chúng ta phải nghiêm túc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng nếp sống văn hóa giao thông, góp phần đưa đất nước phát triển bền vững.

Phân Tích Bài Thơ Sang Thu / 2023

Đề : Phân tích bài thơ Sang thu – Cảm nhận của em về bài thơ sang thu

Mùa thu là mùa chắp cánh cho tâm hồn thi nhân. Trong văn học Việt Nam có rất nhiều tác giả viết về mùa thu và cũng có nhiều bài thơ hay. ” Sang thu” của Hữu Thỉnh vẫn có một vị trí đặc biệt vì đây là khúc giao mùa sang thu. Một mùa thu đang vận động hiện lên qua cảm nhận hết sức tinh tế của tác giả.

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về

Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu

Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi.

Bài thơ sang thu được sáng tác năm bao nhiêu

Hoàn cảnh sáng tác bài thơ sang thu

Bài thơ được sáng tác vào gần cuối năm 1977. Bài thơ thể hiện những cảm nhận tinh tế của nhà thơ về sự biến đổi của đất trời từ cuối hạ sang đầu thu. Qua đó bộc lộ tình yêu thiên nhiên tha thiết, tâm hồn nhạy cảm, sâu sắc của nhà thơ. Khổ thơ thứ nhất chính là khúc giao mùa và cảm nhận tinh tế của thi nhân. Mở đầu bài thơ, người đọc đã có thể nhận ra ngay cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh khi tiết trời sang thu:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se”

Từ “bỗng” thể hiện sự đột ngột, bất chợt trong cảm nhận. Ở đây đó chính là bất chợt nhận ra đất trời đã chớm sang thu. Cái hay và tinh tế nữa đó là, tác giả nhận thấy mùa thu không phải vì bầu trời cao xanh hơn. Hay hoa cúc nở vàng như trong các bài thơ ta thường thấy. Mà ở đây là vì “hương ổi phả vào trong gió se”.

Sự tinh tế của tác giả chính là ở việc không tả mà chỉ gợi. Hương ổi thơm lừng trong gió se gợi cho người đọc màu vàng ươm của những trái ổi nơi vườn quê trong một buổi chiều cuối hạ, đầu thu. Và vì có gió thu “se” lạnh nên hương ổi mới thêm nồng nàn, phả vào đất trời và hồn người để cho tác giả “bỗng” phát hiện ra thu đã về.Không chỉ có “hương ổi” trong “gió se”, nhà thơ còn nhận thấy:

“Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”

Với cách nhân hóa, từ láy “chùng chình” gợi tả sự chậm rãi, nhẹ nhàng của màn sương giống như một nàng Thu yêu kiều đang bước tới gợi sự vận động chậm chạp như làm nũng như ngại ngùng của sương đầu thu. Sương thu giăng mắc chuyển động nhẹ nhàng nơi đường thôn ngõ xóm.Thế nhưng, dù đã cảm nhận được mùa thu qua ba giác quan khứu giác (hương ổi – vị giác, gió se – xúc giác, sương chùng chình – thị giác) nhưng tác giả vẫn chưa hết sững sờ, vẫn chưa dám tin là thu đã về nên mới mơ hồ: “Hình như thu đã về”. “Hình như” là chưa chắc chắn, không chắn chắn nhưng kì thực là tác giả đã tự khẳng định rằng: mùa thu về thật rồi.

Khổ thơ thứ hai thể hiện cảm nhận của nhà thơ trước những thay đổi của thiên nhiên , đất trời lúc sang chúng tôi về, không gian bức tranh màu thu được quan sát ở chiều cao, độ rộng với những cảnh vật cụ thể :

“Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu.”

Tác giả dùng biện pháp tu từ nhân hóa “dềnh dàng” miêu tả rất thực và sống động đặc điểm dòng chảy hiền hòa của dòng sông mùa thu. Dòng sông trôi mùa thu gợi cảm giác lững lờ, thanh thản. Đây cũng là nét đặc trưng của dòng hải lưu khi đất trời vào thu. Mùa thu được cảm nhận trong mọi thời điểm.Trong thơ hình ảnh cánh chim trên bầu trời thường gợi nhiều, gợi về dòng thời gian đang vận động. Cánh chim bay vội vã trước khi hoàng hôn về hay cánh chim đang vội vã bay đi tránh cái se lạnh của gió thu.

Cánh chim trời ” vội vã” trong sự cảm nhận tinh tế của tâm hồn nghệ sĩ luôn tràn đầy cảm xúc trước vạn vật. Tất cả như đang vận động, gắn kết, hài hòa trong đất trời lúc sang thu.Mây trời vốn thay đổi nhanh chóng. Một cơn gió nhẹ đôi khi cũng khiến mây thay hình đổi sắc. Đám mây trong câu thơ là chiếc cầu mềm mại nối từ hạ sang thu. Khoảnh khắc giao mùa được ghi lại vừa mới mẻ, vừa tinh tế. Động từ ” vắt” gợi liên tưởng đám mây như tấm lụa , tấm khăn voan của người thiếu nữ lửng lơ trên bầu trời.

Khổ thơ cuối từ cảm nhận về mùa thu, nhà thơ hướng vào tâm tưởng

” Vẫn còn bao nhiêu nắng.

Đã vơi dần cơn mưa.

Sấm cũng bớt bất ngờ.

Trên hàng cây đứng tuổi”.

Nắng cuối hạ vẫn còn nồng, còn sáng nhưng nhạt dần. Những ngày giao mùa ít đi những cơn mưa ào ạt, bất ngờ.Tác giả đã chọn dùng những từ không lặp lại để diễn tả một ý nghĩa : sự giảm đi về mức độ. Không gay gắt đổ lửa như nắng hạ, nắng thu dìu dịu trong lành.Không sầm sập trút nước như mưa hè, mưa thu lưa thưa. Sấm cũng không rền vang , bất ngờ mà ít đi, nhỏ hơn. Những tiếng sấm bất ngờ gắn với những suy ngẫm về cuộc đời, lẽ sống.

Tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa “hàng cây đứng tuổi” vừa tả thực những cây cổ thụ lâu năm. Vừa gợi tả thế giới sang thu của hồn người, đời người. Vẻ điềm tĩnh của cây trước sấm sét phải chăng là ẩn dụ chỉ sự từng trải, chín chắn của con người sau những bão giông. Khi con người đã từng trải thì càng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời.

Bài thơ sang thu của tác giả nào ?

Từ cuối hạ sang thu đất trời có nhiều chuyển biến.Sự chuyển biến này được tác giả gợi lên bằng những cảm nhận tinh tế. Qua những hình ảnh tư ngữ giản dị , giàu sức biểu cảm, gần gũi với cuộc sống.Thơ 5 chữ nhẹ nhàng mà lắng đọng, thấm sâu.Sang thu đã miêu tả cảnh thu thiên nhiên đẹp, tình thu thi nhân thiết tha trìu mến.

Hữu Thỉnh đã dâng tặng cho đời khúc sang thu nhẹ nhàng mà sâu lắng làm phong phú tâm hồn.Bài thơ bé nhỏ xinh xắn nhưng chứa nhiều điều thú vị, bởi vì mỗi chữ, mỗi dòng là một phát hiện mới mẻ. Sang thu đã đánh thức trong lòng người đọc tình yêu thiên nhiên, đất trời, quê hương.