Top 15 # Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Soạn Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm / 2023

BÀI LÀM

TIỂU DẪN

Những nét chính về tác giả

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1492 – 1585) quê ở Hải Phòng.

Ông làm quan dưới triều Mạc.

Ông cáo quan về quê, lấy hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ. Ông mở trường dạy học.

Mặc dù về ở ẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm vân tham vấn cho triều đình nhà Mạc. Ông được phong tước Trình Tuyền hầu, Trình quốc công nên có tên gọi là Trạng Trình.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của dân tộc.

Ông để lại tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập (Khoảng 700 bài) và tập thơ chữ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi (Khoảng 170 bài).

Những nét chính về tác phẩm

– Nhàn là bài thơ Nôm trong Bạch Vân quốc ngữ thi.

– Nhan đề bài thơ do người đời sau đặt.

– Nội dung bài thơ là lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi.

ĐỌC HIỀU VĂN BẢN

Câu 1.

Hai Câu thơ đầu:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Cách dùng ố từ “một” và các danh từ trong câu thơ thứ nhất cho thấy sự giản dị trong lối sống của nhà thơ. Ông chỉ cần chiếc mai, chiếc cuốc và chiếc cần câu để câu cá theo thú vui của mình.

Nhịp điệu câu thơ chậm rãi nhưng vẫn thể hiện thấp thoáng niềm vui, cùng sự ung dung tự tại của một con người đang rất bình tâm, bình thản.

Hai câu thơ ấy cho ta hiểu hoàn cảnh sống của tác giả rất bình dị, đơn sơ. Tuy không giàu có nhưng tâm trạng ông luôn mãn nguyện, vui vẻ và hòa đồng với thiên nhiên, với tất cả mọi người xung quanh.

Câu 2.

Nơi “vắng vẻ” mà tác giả để cập đến ở đây chính là chốn bình yên, thanh bình như quê hương nơi ông đang ở. Về nghĩa bóng, nơi “vắng vẻ” còn là nơi mà không có sự ganh đua, bon chen về danh lợi, về lợi lộc.

Ngược lại, chốn “lao xao” trong ý niệm của tác giả chính là chốn quan trường, nơi mà ngày ngày người ta phải sống bon chen, phải lừa lọc, phải đấu đá lẫn nhau.

Tác giả tự nhận mình là người “dại” khi tìm nơi “vắng vẻ” để sống. Vì nơi này không có lương bổng, cũng không có kẻ hầu người hạ, chỉ hoàn toàn là cuộc sống bình dị đơn sơ như bao người dân thường khác. Còn kẻ “khôn” tìm đến chốn quan trường, chốn “lao xao” để sống với những đấu đá, những bon chen của lề luật, của quan chức, của lợi danh.

” Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao “

Sự đối lập trong hai câu thơ giữa “dại” và “khôn”, giữa “vắng vẻ” và “lao xao” đã góp phần thể hiện quan điểm và triết lý sống rất rõ ràng của tác giả. Ông không ham mê danh lợi hay tiền tài, mà chỉ cần một cuộc sống an yên, tự tại.

Câu 3.

Các sản vật và khung cảnh trong hai câu thơ 5,6 :

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”.

Những sản vật trong câu thơ hoàn toàn từ thiên nhiên : măng trúc, giá.

Nếp sống sinh hoạt cũng thuận theo tự nhiên : Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Chỉ hai câu thơ ngắn gọn nhưng tác giả đã trưng bày nếp sống của mình trong cả bốn mùa. Ông sống hòa hợp với thiên nhiên, đạm bạc mà thanh cao.

Giá trị nghệ thuật của hai câu thơ : Nhịp điệu câu thơ vẫn nhẹ nhàng, chậm rãi như một tiếng đàn du dương về cuộc sống bình dị và êm đềm.

Câu 4.

Hai câu thơ cuối :

“Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Hai câu thơ có ý dẫn điển Thuần Vu Phần uống rượu say nàm ngủ gưới gốc cây hòe, rồi mơ thấy mình ở nước Hèo an, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hòe phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý : phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.

Nguyễn Bỉnh Khiêm cố ý nhắc đến câu chuyện trên để ý nói đến cuộc sống hiện tại của mình. Ông không mong chi cuộc sống giàu sang phú quý, cũng chẳng mong làm quan chốn quan trường chật chội nhiều xô bồ lẫn lộn. Ông chỉ cần một cuộc sống thanh bình, giản dị và đơn sơ.

Tuy nhiên, bất cứ lúc nào có thể giúp được triều đình việc gì, ông vẫn luôn sẵn sàng tham vấn.

Câu thơ thể hiện ông không những là người có học thức uyên thâm, thấu hiểu cuộc sống chốn quan trường, mà còn là người có tâm hồn thanh cao, trong sáng và đáng kính.

Câu 5.

Quan niệm sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là :

– Không vất vả, cực nhọc

– Không quan tâm tới xã hội, chỉ lo cho cuộc sống nhàn tản của bản thân

– Xa lánh nơi quyền quý để giữ cốt cách thanh cao.

– Hòa hợp với tự nhiên.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một người có học thức, có cốt cách thanh cao. Ông sống nhàn không phải vì sợ vất vả, cực nhọc, cũng không phải để tránh những phiền lụy đến bản thân mình. Bởi ông vẫn luôn sẵn sàng tham vấn cho triều đình mỗi khi vua cần. Hơn nữa, sống ở quê, ông vẫn mở lớp dạy học với mục đích đào tạo nhân tài cho đất nước, truyền đạt cái hay cái đẹp cho học trò. Đó là một cuộc sống rất bình dị mà thanh cao, rất đáng trân trọng.

Ông sống hòa hợp với thiên nhiên, tự thân vận động nuôi dưỡng bản thân mình với những món ăn giản dị từ thiên nhiên như măng trúc, như giá. Ông lấy đó là niềm vui cho cuộc sống chứ không phải sự thiếu thốn hay cực nhọc.

Ông về quê sống là vì không được vua chấp thuận đề nghị chém đầu mười tám lộng thần. Nhưng khi về quê, ông vẫn luôn hướng lòng mình đến triều đình.

Tất cả những quan niệm và cách sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện trong bài thơ cho thấy ông là một người có cốt cách thanh cao, trong sạch, liêm khiết và yêu nước, thương dân.

Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm / 2023

Đề bài: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài làm

Phân tích bài thơ Nhàn – Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Ông đã sáng tác nhiều tác phẩm hay cho nền thi ca nước nhà. Trong đó bài thơ “Nhàn” là một bài thơ vô cùng xuất sắc đã nói lên được nội tâm cũng như tình yêu quê hương đất nước của tác giả Nguyễn Bình Khiêm.

Bài thơ “Nhàn” được lấy ra từ tập thơ nổi tiếng “Bạc Vân quốc ngữ thi” là một tập thơ được tác giả viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật khá nổi tiếng thể hiện cuộc sống thanh nhàn, vui vẻ của tác giả khi trở lại làm một ông lão nông dân vui thú điền viên với mảnh vườn nhỏ của mình. Trong toàn bộ bài thơ “Nhàn” chính là một tâm hồn tràn ngập nhiềm vui và sự thanh thản trong bản thân của tác giả đó chính là tinh thần chủ đạo mà tác giả muốn gửi gắm tới người đọc

Bài thơ chỉ có tám câu nhưng đã nói lên cuộc sống vô cùng bình yên của một người nông dân khi vui thú điền viên với cảnh vườn tược của mình. Mở đầu bài thơ “Nhàn” tác giả đã viết lên hai câu thơ vô cùng giản dị về hình ảnh một ông lão nông dân vui vẻ với công việc cày cuốc của mình.

Một mai một cuốc một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Với điệp thư “Một” được tác giả thể hiện công việc của một người nông dân với công việc của mình. Dù chỉ một mình nhưng trong những câu thơ không hề hiện lên sự cô đơn, lẻ loi mà người đọc cảm nhận được sự ung dung tự tại của tác giả trong từng câu thơ. Một con người vui vẻ với cuộc sống hiện tại của mình, không hề cảm thấy cô đơn hay buồn tủi. Một ông lão nông dân thanh nhà, thoát tục, thể hiện được sự thoát tục trong từng câu chữ. Cuộc sống của tác giả khiến người đọc vô cùng ngưỡng mộ sự ung dung tự tại của tác giả. Một con người dám từ bỏ vinh hoa phú quý quyền cao chức trọng để sống như một người nông dân thật sự. Trong hai câu thơ tiếp theo tác giả đã thể hiện được suy nghĩ của mình trước những điều mà người đời thường suy nghĩ và hướng tới trong cuộc sống. Sự khôn dại của mỗi người đều do suy nghĩ của con người mà ra.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người dến chốn lao xao

Thu ăn măng trung đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Mùa nào tác giả cũng được hưởng những món ăn quê hương giản dị, dù không phải những món cao lương mỹ vĩ đắt tiền nhưng nó lại có ý nghĩa riêng khi mang tới cho người nông dân những niềm vui không nhỏ. Những món ăn có sẵn ở quê nhà, khi mùa xuân thì được tắm trong hồ sen thơm ngát, còn mùa hạ thì tắm ao còn gì thú vị hơn. Cuộc sống của một người nông dân vô lo vô nghĩ, được làm việc cống hiến cho quê hương, khi nhàn rỗi thì được ngắm cảnh đẹp của quê hương mình. Mùa nào thức ấy tác giả đều có những món ăn riêng của mình, không còn phải lo đấu đá chốn quan trường nhiều thị phi, phân chia phe cánh.

Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Trong hai câu thơ kết của bài thơ “Nhàn” tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên được những điều mình suy nghĩ với tác giả phú quý chỉ là một giấc chiêm bao tỉnh dậy là tan biến. Con đường công danh sự nghiệp người ta luôn coi trọng tìm mọi cách giành giật suy cho cùng khi ra đi cũng không mang theo được. Hôm qua khi tác giả còn làm quan quyền cao chức trọng thì nhiều kẻ bợ đỡ xu nịnh, nhưng hôm nay khi tác giả chỉ là người nông dân thì chẳng có ai nhớ tới. Cuộc sống của con người quan trọng nhất là sống thật với chính mình chỉ cần mình sống có ích và vui vẻ không uổng phí cuộc sông của mình vậy là được. Mọi sự tiền bạc phú quý chẳng có ý nghĩa gì.

Phân tích bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm ta thấy được một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn trong con người của tác giả. Bài thơ chỉ có tám câu nhưng đã thể hiện rõ được tâm thế cũng như thái độ sống ung dung của tác giả khi cáo lão hồi hương là một người nông dân vui thú với ruộng vườn quê nhà. Bài thơ “Nhàn” bản thân tựa đề của nó đã nói lên toàn bộ nội dung của bài thơ, nói lên tâm thế của tác giả khi sống cảnh vui thú bình yên nơi quê hương của mình.

Mai Hoàng

Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm / 2023

Đề bài: Cảm nhận bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, là một nhà thơ có cuộc sống vô cùng tự do phóng khoáng, một người từ bỏ mũ áo để có thể trở thành một ông lão nông dân và sống một cuộc sống vui thú điền viên, thể hiện một cuộc sống thanh thản, của nhà thơ khi cáo lão hồi hương.

Trong bài thơ “Nhàn” tiêu đề của bài thơ đã thể hiện được toàn bộ nội dung của tác phẩm. Đó chính là sự thanh nhàn trong bài thơ, một cuộc sống ung dung tự tại của tác giả khi sống vui vẻ điền viên.

Một mai, một cuốc một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Mở đầu bài thơ thể hiện một bức tranh vô cùng vui vẻ của tác giả, dù điệp tư “một” được lặp đi lặp thể hiện một bức tranh ung dung tự tại của tác giả khi đứng cáo lão về quê để sống một cuộc sống nông dân. Trong bài thơ Nguyễn Bình Khiêm là một ông lão vui thú điền viên, hàng ngày cày cuốc sống vui vẻ thanh nhàn. Trong cuộc sông ông lão luôn thể hiện được tâm thế thanh thản của mình. Những chiếc cày, cuốc đã trở thành một điều vô cùng quen thuộc với người nông dân, mang tới cho tác giả một cuộc sống ẩn sĩ thanh nhàn.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Trong cuộc sống của người nông dân tác giả được hưởng những thú vui mà người khác không được hưởng. Đó là mùa nào thức ấy những thức ăn ngon tự bàn tay của tác giả làm ra khiến cho cuộc sống càng ý nghĩa hơn. Một người nông dân tuy cuộc sống không sa hoa, cao quý như một quan chức không có kẻ hầu người hạ nhưng sẽ mang lại cho con người nhiều cảm xúc khác nhau khi được hưởng thành quả lao động của chính bản thân mình.

Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mượn điển tích xưa để nói lên những điều mà mình muốn nói. Tác giả đã rút ra mọt chân lý mà con người phải sống hết cuộc đời mình mới tự rút ra được ý nghĩa. Tiền bạc, vinh hoa phú quý chỉ tựa như một giấc mơ mà thôi khi tỉnh giấc thì chẳng còn lại được gì. Tác giả đã nói ra suy nghĩ của lòng mình, một cuộc sống vinh hoa từng làm quan chức có nhiều kẻ nịnh nọt nhưng giờ đây khi ông trở về làm ông lão nông dân thì mọi thứ chỉ là hư vô.

Bài thơ “Nhàn” của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm cho người đọc một cảm nhận về cuộc sống thanh nhàn, vui thú điền viên của một ông lão nông dân khi cáo quan về ở ẩn, không còn vướng vấn việc đời. Một bài thơ hay thể hiện được tấm lòng trong sạch thanh cao của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiên trong thời kỳ phong kiến nhiễu nhương

Mai Hoàng

Bài Thơ Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) / 2023

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một trong những nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam thời cận đại. Ông được mệnh danh là “cây đại thụ văn hóa dân tộc” của thế kỉ 16. Những tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có tầm ảnh hưởng đến quá tình phát triển của nền văn học Việt Nam.

Ông là người có học vấn uyên thâm ,là nhà thơ lớn của dân tộc . Thơ của ông mang đậm chất triết lí giáo huấn , ngợi ca chí khí của kẻ sĩ ,thú thanh nhàn , đồng thời cũng phê phán những điều sống trong xã hội

Tác phẩm “Nhàn” là một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhàn là một bài thơ Nôm số 73 thuộc quyển Bạch Vân quốc ngữu thi. Tiêu đề ” Nhàn” được người đời sau đặt.

Bài thơ Nhàn được chia bố cục thành 4 phần.

Bài thơ Nhàn với nội dung ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhành. Qua đó có thể thấy sự chân chính, thanh cao và sự mộc mạc giản dị của làng quê Việt.

Một mai một cuốc , một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào Ta dại , ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người dến chốn lao xao Thu ăn năng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao Rượu đến cội cay ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”

3.1 Hai câu đầu

” Một mai , một cuốc, một cần câu Thơ thẫn dầu ai vui thú nào…..”

Hai câu thơ mở đầu trong bài thơ Nhà nhà thơ nhằm khắc họa một hình ảnh ông lão nông dân sống một cuộc sống vô cùng thảnh thơi và an nhàn. Trong đó tác giả sử dụng điệp từ ” một” thể hiện sự cứng cỏi, chắc chắn, kiên định, sẵn sàng nhưng bước đi vẫn bộc lộ sự an nhàn của tác giả, vừa đi vừa đếm.

Tiếp đến là sử dụng từ láy “thơ thẩn” trong câu thơ thứ hai khắc họa nên một dáng vẻ của 1 người đang ngồi ung dung chậm rãi và khoan thai. Từ 2 câu thơ ta có thể thấy cuộc đời của nhà thơ vô cùng bình dị và chân chất đó là lúc về quê ở ẩn. Và từ ” vui thứ nào” cũng 1 lần nữa nói lên đề tài của bài thơ là về cảnh nhàn dẫu cho ai có ban chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn thư thái . Hai câu thơ đầu đã không chỉ giới thiệu được đề tài mà còn khắc họa tư thái ung dung nhàn hạ , tâm trang thoải mái nhẹ nhàng vui thú điền viên.

3.2. Hai câu thơ thực: Quan niệm sống của nhà thơ

“….. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao……”

Hai câu thơ thực trong bài thơ Nhàn là miêu tả cuộc sống của nhà thơ. Nhà thơ sử dụng các từ đối nhau như “ta” và “người” “dại” và “khôn”, “nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao”. Sử dụng những từ ngữ đối lập, thể hiện quan niệm sống của tác giả. Ông luôn muốn tìm sống đến những nơi yên tĩnh, vắng vẻ những nơi miền quê để an nhàn không thích chốn lao xao ở quan trường nhiều mưu mẹo, toan tính.

3.3. Hai câu thơ luận – Cuộc sống ở chốn quê nhà

” ….. Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao………”

Hai câu thơ sử dụng những từ ngữ liệt kê những đồ ăn có sẵn trong tự nhiên. Đó là mùa thu ăn mắc trúc, mùa đông thì ăn giá đỗ. Đây là những loại thức ăn có sẵn trong tự nhiên, mùa nào thức nấy.

Câu thơ ” xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” gợi cho ta cuộc sống sinh hoạt nơi dân dã .Qua đó ta có thể cảm nhận được tác giả đã sống rất thanh thản , hòa hợp với thiên nhiên tận hưởng mọi vẻ đẹp vốn có của đất trời mà không bon chen , tranh giành

Qua 2 câu thơ trên ta cảm nhận được rằng, nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ thanh cao, ưa thích lối sống dân dã, mộc mạc nơi quê nhà.

3.4 Hai câu thơ kết – Triết lý sống nhà của tác giả

“……. Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”

Hai câu thơ kết là sự thể hiện sự thức tỉnh, tự cảnh tỉnh mình và đời, khuyên mọi người nên xem nhẹ vinh hoa phù phiếm. Cụm từ” nhìn xem” là biểu hiện của một thế đứng thanh cao, dường như đã tiên liệu ngay từ khi chọn lối sống của một người tự cho mình là “dại”.

Cách ngắt nhịp 2/5 ở câu thơ cuối gợi cảm nhận phú quý chỉ là một giấc chiêm bao, một giấc mơ mà thôi. Hai câu thơ cuối miêu tả cuộc sống ung dung tự tại, thích cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, thích hưởng thụ cuộc sống ” Nhàn” như tiêu đề của bài thơ.

Bài thơ Nhàn là một bài thơ nôm, với việc sử dụng những từ ngữ giản dị nhưng chứa đựng những triết lý sâu sắc, với cách sử dụng từ ngữ đối lập tạo nên sự khác nhau về hai phương diện cuộc sống ở chốn quan trường và cuộc sống dân dã nơi làn quê. Hơn hết là thể hiện tâm hồn thanh cao của nhà thơ, không ham danh lợi, giàu sang, thích được đắm mình trong những thú vui điền viên nơi làng quê.