Top 18 # Về Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Soạn Bài: Phú Sông Bạch Đằng / 2023

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Trương Hán Siêu (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả trong SGK Ngữ Văn 10 Tập 2).

2. Tác phẩm

* Thể loại: Văn bản Phú sông Bạch Đằng thuộc thể loại phú.

* Bố cục: bài thơ được chia làm 4 phần:

Phần 4: còn lại: Khẳng định vai trò và đức độ con người.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Bố cục của bài thơ như trên.

Câu 2:

Mở đầu bài phú, nổi bật lên là hình tượng nhân vật “khách”.

* Qua việc nhắc đến những địa danh lịch sử của Trung Quốc và miêu tả những địa danh lịch sử của đất Việt, “khách” là một người có chí lớn, đã “đi qua” những địa danh lấy trong điển cố Trung Quốc (Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ,…) thể hiện tráng chí bốn phương, tầm hiểu biết phong phú, có hoài bão. Và các địa danh của đất Việt (cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng), loại địa danh này mang tính cụ thể, đương đại, thể hiện tình yêu đất nước, tâm hồn ưu ái đối với cảnh trí non sông.

Câu 3:

* Cảm xúc của “khách” trước khung cảnh thiên nhiên của sông Bạch Đằng: vừa vui vừa buồn, vừa tự hào lại vừa nuối tiếc.

“Khách” vui và tự hào bởi cảnh non sông đất nước hùng vĩ và thơ mộng (nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu), ông cảm thấy tự hào trước dòng sông từng ghi dấu bao chiến công hiển hách của dân tộc.

“Khách” vừa buồn và nuối tiếc là bởi những dấu tích oanh liệt nay đã trở nên trơ trọi và hoang vu. Dòng thời gian như đang vùi lấp dần bao giá trị vào quá khứ.

* Đoạn thơ chủ yếu được ngắt bằng nhịp chẵn, tạo nên giọng điệu nhịp nhàng, sâu lắng, gợi lên nhiều nỗi niềm suy tư.

Câu 4:

* Vai trò của hình tượng các bô lão trong bài phú: họ là những người dân địa phương, là phân thân của tác giả, là hình ảnh tập thể xuất hiện như một sự hô ứng, tạo nên một không khí đối đáp tự nhiên, kể cho nhân vật “khách” nghe về những chiến tích lịch sử trên sông Bạch Đằng.

* Chiến tích trên sông Bạch Đằng đã được gợi lên qua lời kể của các bô lão:

Giọng kể đầy nhiệt huyết, tự hào và lời lẽ cô đọng, là cảm hứng của người trong cuộc.

Lời kể: ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn khái quát được một cách đầy đủ và sinh động không khí của trận đánh, của chiến trường.

Các chiến tích được tái hiện bằng cảm hứng lịch sử với âm điệu hào hùng Thuyền bè muôn đội, tinh kỳ,… đó là sức mạnh, khí thế dũng mãnh như hổ báo của các chiến sĩ đời Trần, trận đánh mang tầm vóc kì vĩ. Và cuối cùng, ý chí yêu nước cùng sức mạnh chính nghĩa của quân ta đã mang về những chiến thắng vang dội.

Câu 5:

Lời ca của các vị bô lão và lời ca nối tiếp của “khách” nhằm khẳng định:

Chân lí: “Những người bất nghĩa tiêu vong – Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”

Ca ngợi hai vị vua anh minh đời Trần

Bày tỏ khát vọng hòa bình muôn thuở trên đất nước

Ca ngợi đường lối giữ nước “đất hiểm”, “đức cao” của vương triều Trần.

Câu 6:

* Giá trị nội dung: bài phú thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trước những chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng. Qua đó, góp phần ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc, thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao yếu tố con người trong lịch sử.

* Giá trị nghệ thuật:

Kết cấu đơn giản, hấp dẫn, bố cục chặt chẽ

Lời văn linh hoạt

Ngôn từ: trang trọng, tráng lệ, lắng đọng và đầy suy tư

Hình tượng nghệ thuật được sử dụng một cách sinh động, vừa gợi hình vừa giàu tính triết lí.

Phân Tích Phú Sông Bạch Đằng / 2023

Raxum Gamzatop- nhà thơ của xứ núi Đaghetxtan đã từng nói đại ý rằng: “Lịch sử của một dân tộc không chỉ được ghi lại bằng máu xương của dân tộc ấy mà còn được ghi lại bằng những trang viết”. Nhìn vào lịch sử của dân tộc ta, với hơn bốn nghìn năm văn hiến, trải qua bao triều đại với biết bao người đã ngã xuống vì độc lập – tự do cùng những trang viết hào hùng của lớp lớp thế hệ. Rõ ràng những điều ấy đã làm nên một đất nước không chỉ có bề dày của lịch sử mà còn là bề dày của những nét đẹp trong tâm hồn người. Đặc biệt trong giai đoạn văn học trung đại Việt Nam vốn có nhiều biến cố và sóng gió thì khi ấy các thi nhân lại thổn thức biết bao nỗi lòng tâm sự chỉ có thể nói ra bằng thơ, giãi bày bằng văn bởi lẽ “thơ là tiếng lòng”. Hiện lên như một chứng nhân lịch sử oai hùng, con sông Bạch Đằng đã đi vào thơ ca như một lẽ đương nhiên, trong số đó không thể không nhắc đến thi phẩm “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu – một đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học và được xem là một áng thiên cổ hùng văn trong lịch sử văn học Việt Nam. Đặc biệt qua khổ đầu của bài phú đã giúp ta cảm nhận rõ cảm xúc dâng trào của thi nhân khi đứng trước dòng sông huyền thoại.

Trương Hán Siêu là người có học vấn uyên thâm, tính tình cương trực được vua Trần tin cậy và nhân nhinh kính trọng. Những tác phẩm của ông tuy để lại không nhiều nhưng vô cùng sâu sắc và đậm đà chất dân tộc. Thi phẩm “Phú sông Bạch Đằng” được viết theo thể phú, đó là thể văn vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi thường dùng để tả cảnh, phong tục, kể sự việc, bàn chuyện đời,… Đến với tác phẩm “Phú sông Bạch Đằng”, Trương Hán Siêu viết bằng thể phú cổ (phú lưu thủy) không tuân theo niêm luật chặt chẻ của phú Đường luật vì vậy bài phú của ông tương đối phóng khoáng, giàu tính nhạc và dễ truyền tụng.

Bạch Đằng vốn là một nhánh sông đổ ra biển Đông nằm giữa Quảng Ninh và Hải Phòng, nơi đây đã ghi dấu biết bao chiến công hiển hách trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc bởi lẽ vậy nó đã trở thành đề tài nổi bật để các thi nhân ca tụng như Trần Minh Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân,… nhưng viết về dòng sông ấy xuất sắc hơn cả phải nhắc tới Trương Hán Siêu. Trong một lần dạo chơi trên sông Bạch Đằng ông đã sáng tác bài phú nhưng chưa rõ vào năm nào, có lẽ là khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên thắng lợi.Các thi nhân từ xưa đến nay đều đến với thiên nhiên để thả bầu tâm sự của mình vào đó, nếu Cao Bá Quát tìm đến thiên nhiên để bày tỏ tâm trạng chua xót bất đắc chí, Nguyễn Bỉnh Khiêm thì là để bày tỏ đạo lí cũng như quan niệm sống sâu sắc hay sau này Bác Hồ tìm thiên nhiên để bầu bạn trong những tháng ngày gian khổ,… Nhưng đối với Trương Hán Siêu, ông tìm đến thiên nhiên để thể hiện khát vọng ngao du thiên hạ đồng thời thể hiện niềm tự hào dân tộc. Mở đầu bài thơ là sự xuất hiện của nhân vật khách khiến ta không khỏi thắc mắc, nhưng thực chất đó là sự phân thân của tác giả để tạo nhân vật đối đáp trong bài phú, giúp câu chuyện thêm hấp dẫn và chân thực hơn:

“Khác có kẻGiương buồm giong gió chơi vơiLướt bể chơi trăng mải miết……………………..Bèn giữa dòng chừ buông chèoHọc Tử trường chừ thú tiêu dao”

Ngay từ những dòng thơ kẻ sĩ hiện lên là một tao nhân với rượu túi thơ “chơi vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển để sống hết mình với thiên nhiên, để du ngoạn thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Trương Hán Siêu đã sử dụng hàng loạt những động từ mạnh “giương”, “lướt”, “chơi” cùng với đó là tính từ “chơi vơi” và “mải miết” làm nhân vật khách hoàn toàn nổi bật với tình cách phóng khoáng, mạnh mẽ và thích được đi đây, đi đó. Thú vui du ngoạn không chỉ dừng lại ở việc ngắm cảnh sắc thiên nhiên mà còn là để tiếp thu tri thức, bồi bổ tâm hồn. Bức tranh thiên nhiên hiện lên đã cho ta thấy vốn hiểu biết uyên thâm của nhân vật khách hay chính là Trương Hán Siêu khi ông liệt kê hàng loạt các điển cố khiến bức tranh ấy trở nên rộng lớn, bao la vô tận: “Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt”… Sáng thì đi đến sông Nguyên, sông Tương, chiều thì thăm Vũ Huyệt, dường như cả Trung Hoa bạt ngàn đều được nhân vật khách nắm trong lòng bàn tay ngay cả “Đầm Vân Mộng” rộng lớn đến thế thì khách cũng cho rằng: “chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều”. Nhân vật khách đã đi đến nhiều nơi, biết đến nhiều chỗ nhưng những nơi ấy thực chất chỉ mang tính khái quát, ước lệ, ngụ ý nói rằng ông học Tử Trường – Tư Mã Thiên – một nhà sử học nổi tiếng của Trung Quốc từng chu du khắp Trung Hoa rộng lớn để sau này viết bộ sử kí bất hủ một thời. Dù chỉ là tưởng tượng nhưng cảnh vật hiện lên chẳng kém phần hùng vĩ, qua đó cho hậu thế thấy trong ông là cả một tâm hồn yêu thiên nhiên, một khao khát chiếm lĩnh tri thức của nhân loại: “Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.”

Cuộc viễn du mở đầu bài phú khiến ta không khỏi choáng ngợp trước cảnh sắc thiên nhiên Trung Hoa, nhưng dường như đó chỉ là cái phông, cái nền, là những nốt nhạc dạo đầu trước khi bước vào thế giới hùng vĩ của dòng sông Bạch Đằng gợi lại cho Trương Hán Siêu biết bao xúc cảm về một thời đã qua, bởi lẽ “Niềm vui của nhà văn chân chính là người dẫn đường đến xứ sở cái đẹp”:

“Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông ChiềuĐến sông Bạch Đằng thuyền bơi một chiều……………………………………Thương nỗi anh hùng đâu vắng táTiếc thay dấu vết luống còn lưu.”

Cảnh sắc thiên nhiên của dòng sông Bạch Đằng được nhân vật khách miêu tả với nhiều sắc thái khác nhau từ tự hào, phấn khởi cho đến buồn thương, tiếc nuối. Dòng sông lịch sử hiện lên với những con thuyền nối đuôi nhau trôi bập bềnh trên sông: “Thướt tha đuôi trĩ một màu”, với những con sóng lớn trùng trùng điệp điệp gối lên nhau: “Bát ngát sóng kình”, với bầu trời và dòng nước cùng một sắc xanh hài hòa mát mẻ,… Dòng sông vừa mang vẻ đẹp hùng vĩ, vừa mang vẻ đẹp dịu dàng, huyền ảo, thơ mộng. Tiết trời giờ đây đã chuyển sang tháng thứ ba của mùa thu, cảnh vật lại càng làm lòng người thêm xao xuyến, thêm phơi phới tự hào khi đứng trước một dòng sông lịch sử có nét đẹp mĩ lệ, nên thơ khác hẳn với cảnh sắc đượm buồn tròn thơ của Tản Đà sau này:

“Gió thu hiu hắtSương thu lạnhTrăng thu bạchKhói thu xây thành.”

Nhưng rồi khi đứng trước dòng sông ấy nó làm con người ta không khỏi khắc khoải về những hoài niệm, về những chuỗi ngày đau thương một thời khiến cảnh sắc đẹp đến thế cũng nhuốm màu nỗi buồn, chẳng thể ngăn được nỗi thương cảm đang trào dâng trong mình, nói như Nguyễn Du:“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầuNgười buồn cảnh có vui đâu bao giờ”Hay như Đặng Trần Côn:“Cảnh buồn người thiết tha lòngCành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun”

Trải qua biết bao cuộc chiến đau thương, đọng lại trên dòng sông bây giờ chỉ toàn gươm giáo, xương cốt của lũ giặc phương Bắc và của cả những người anh hùng quân ta đã ngã xuống. Các từ láy “san sát”, “đìu hiu” đã khiến con sông trở nên hoang vắng, ảm đạm, thê lương đến đau lòng. Vết tích lịch sử còn đấy, thời gian có ăn mòn vạn vật tàn khốc đến đâu cũng chẳng thể xóa nhòa đi đau thương, mất mát. Ý thơ của Trương Hán Siêu làm ta nhớ đến vài câu thơ trong bài “Cửa biển Bạch Đằng” của Nguyễn Trãi:

“Ngạc chặt kim băm non lởm chởmGiáo chìm gươm gãy bãi tầng tầngDòng trôi tìm bóng dạ bâng khuâng.”

Khung cảnh đìu hìu ấy khiến nhân vật khách không khỏi tiếc thương để rồi “đứng lặng giờ lâu”, dường như đó là sự sững lại trong một động thái trữ tình đầy nhân bản. Ồng mặc niệm cho những người đã khuất, cho những anh hùng của Đại Việt ta và cho cả những người lính Trung Hoa linh hồn còn vất vưởng nơi đất khách quê người. Phải chăng đó là tâm hồn lớn lao của một con người nhân đạo có thế giới nội tâm sâu lắng, một con người không chỉ yêu thiên nhiên, thương, dân tộc mà còn đau xót cho cả những kẻ thù – những con người vô tình bị bắt ép, vô tình bị đưa đẩy vào cuộc chiến tranh phi nghĩa đầy đau thương…

Có những trang thơ đọc xong rồi gấp lại sẽ khiến ta quên ngay nhưng có những vần thơ mặc cho lớp bụi của thời gian vẫn sống mãi cùng bạn đọc và có lẽ “Phú sông Bạch Đằng” là một bài thơ như vậy. Những câu thơ vang lên tựa âm hưởng của khúc anh hùng ca đang dâng lên dào dạt như những lớp sóng của dòng sông Bạch Đằng ngàn năm còn vỗ khiến lớp lớp thế hệ sau không khỏi tự hào. Đồng thờ đoạn trích góp phần thể hiện đỉnh cao nghệ thuật của thể phú, qua đó thấy được tài năng cũng như vẻ đẹp sâu tận tâm hồn con người Trương Hán Siêu – “Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” (Sê – khốp).

Bài làm của Lê Đức -team Thích Văn học

Tham khảo các bài văn mẫu cơ bản tại chuyên mục: https://thichvanhoc.com.vn/van-mau/co-ban/

Đón xem các bài viết mới nhất trên fanpage FB: Thích Văn Học

Giới Thiệu Bài Phú Sông Bạch Đằng Của Trương Hán Siêu / 2023

Giới thiệu bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

Phú sông Bạch Đằng là một bài phú nổi tiếng, là tác phẩm tiêu biểu cho thể phú của văn học Việt Nam.

Tác giả của bài phú là Trương Hán Siêu. Chưa rõ năm sinh của ông nhưng theo sử liệu cho biết thì ông sống vào khoảng đầu thế kỉ XIII – thế kỉ XIV, mất năm 1354, tự là Thăng Phủ, quê ở thôn Phúc Am, xã Ninh Thành, nay thuộc xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu, thường gọi ông là “thầy”. Là người tài đức vẹn toàn nên khi qua đời, ông được thờ ở Văn Miếu. Tác phẩm của Trương Hán Siêu có: Bạch Đằng giang phú, Dục Thúy sơn Linh Tế tháp kí (Bài kí ở tháp Linh Tế trên núi Dục Thúy), Khai Nghiêm tự bi kí (Bài kí trên bia chùa Khai Nghiêm) và Cúc hoa bách vịnh… Thơ văn Trương Hán Siêu thể hiện tình cảm yêu nước, ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm đối với xã tắc của một người đề cao Nho học.

Phú sông Bạch Đằng là loại phú cổ thể: mượn hình thức đối đáp “chủ – khách” để thể hiện nội dung, vận văn và tản văn xen nhau, kết thúc bằng một bài thơ. Loại phú cổ thể (có trước đời Đường) được làm theo lối văn biến ngẫu hoặc lối văn xuôi có vần, khác với phú Đường luật (có từ đời Đường) có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chẽ.

Phú sông Bạch Đằng là bài phú thể hiện hoài niệm về chiến công của các anh hùng dân tộc, nêu cao vai trò của yếu tố con người với tinh thần ngoan cường, bất khuất trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Tác phẩm có lẽ đã được Trương Hán Siêu sáng tác vào đời Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, khi nhà Trần suy thoái, có nguy cơ sụp đổ. Khi có dịp du ngoạn trên sông Bạch Đằng, một nhánh sông Kinh Thầy đổ ra biển nằm giữa Quảng Nình và Hải Phòng, nơi lưu dấu chiến tích lịch sử Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán và nhà Trần tiêu diệt quân Nguyên Mông, ông đã cảm khái mà làm thành bài phú này.

Bài phú này có kết cấu ba phần theo như lối kết cấu thường thấy ở thể phú: Phần mở đầu giới thiệu nhân vật, nêu lí do sáng tác (từ đầu cho đến…dấu vết luống còn lưu).

Phần nội dung tập trung vào nội dung đối đáp của nhân vật “khách” và các bô lão hai bên bờ sông (từ Bên sông các bô lão…cho đến Nhớ người xa chừ lệ chan).

Phần kết thúc là lời từ biệt của nhân vật “khách” bao gồm phần còn lại.

Về nghệ thuật, bài phú có cách miêu tả khái quát, ước lệ kết hợp với tả thực trong đoạn mở đầu. Đó là việc nhắc đến các địa danh cổ như Nguyên Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hổ, Tam Ngô, Bách Việt, đầm Vân Mộng…hay nói cách ước lệ như sóng kình, muôn dặm, đuôi trĩ, ba thu… Đan xen với đó là những cảnh thực hai bên bờ sông: cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng, bờ lau san sát, bến lách đìu hiu…

Thủ pháp liệt kê trùng điệp cũng được sử dụng hiệu quả trong suốt bài phú. Miêu tả không gian rộng lớn, thời gian liên hoàn, tác giả viết: Giương buồm giong gió…, lướt bể chơi trăng…; sớm gõ thuyền… chiều lần thăm…viết như vậy nhằm làm nổi bật những kì tích của cha ông, gián tiếp bày tỏ lòng tự hào: Đây là chiến địa buổi Trùng hưng nghị thánh bắt ô Mã – cũng là bãi đất xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao; Tất liệt thế thường, Lưu Cung chước dối… Các hình ảnh trong bài phú đối nhau diễn tả không khí bừng bừng chiến trận (Thuyền bè muôn đội tinh kì phấp phới – Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói) hay để miêu tả thế giằng co quyết liệt (Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ – Bầu trời đất chừ sắp đổi).

Tác giả đã lựa chọn hình ảnh, điển tích diễn tả nổi bật sự thất bại của quân giặc, khẳng định một cách trang trọng tài trí của vua tôi nhà Trần. Ta dễ dàng bắt gặp những hình ảnh đó trong những câu như: Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay – Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiến hoàn toàn chết trụi, Hội nào bằng hội Mạnh Tân: như vương sư họ Lã – Trận nào bằng trận Duy Thủy: như quốc sĩ họ Hàn…

Trong đoạn một và đoạn hai, tác giả cũng đã phối vần rất khéo léo để tạo nên âm hưởng mênh mang diễn tả vẻ đẹp của con sông và sự phóng khoáng trong thú tiêu dao của người khách.

Hai nhân vật chính của bài phú cũng là biểu tượng của những tình cảm yêu mến, tự hào về dòng sông, về kì tích của cha ông thuở trước.

Nhân vật “khách” chính là cái tôi của tác giả. Sông Bạch Đằng và những hoài niệm về chiến công trên dòng sông đều xuất phát từ sự quan sát của nhân vật này. Qua sự quan sát ấy, nhân vật khách hiện lên với vẻ đẹp phóng khoáng, mạnh mẽ của bậc tráng sĩ: …chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều – Mà tráng sĩ bốn phương vẫn còn tha thiết. “Khách” ấy cũng là người thích ngao du, thăm thú và tìm hiểu lịch sử dân tộc: Học Tử Trường chừ thú tiêu dao.

Nhân vật “bô lão” lại là hình ảnh của tập thể, xuất hiện trong hình thức đối đáp ở đoạn hai như sự hô ứng, qua đó tái hiện lại kì tích xa, bộc lộ niềm ngưỡng vọng, tự hào hùng tráng.

Sông Đằng một dải dài ghê

Sóng Hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông Những người bất nghĩa tiêu vong Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.

Phú sông Bạch Đằng là một áng văn yêu nước, là một tác phẩm có giá trị lớn về cả nội dung và nghệ thuật trong nền văn học nước nhà.

Từ khóa tìm kiếm

gioi thieu ve bai phu song bach dang

Soạn Bài Phú Sông Bạch Đằng Lớp 10 / 2023

SOẠN BÀI PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG LỚP 10

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Trương Hán Siêu (? – 1354) tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Am, huyện Yên Ninh (nay là Ninh Bình), vốn là môn khách (khách trong nhà) của Trần Hưng Đạo, đời Trần Anh Tông giữ chức Hàn lâm sĩ học. Năm 1351, ông được thăng Tham tri chính sự. Khi mất, ông được vua tặng tước Thái bảo, Thái phó và được thờ ở Văn Miếu. Trương Hán Siêu tính tình cương trực, học vấn uyên tâm, được các vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng. Tác phẩm còn lại không nhiều, trong đó có bài Phú sông Bạch Đằng

2. Tác phẩm

Chưa rõ bài phú được viết năm nào, có lẽ vào khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên thắng lợi.

II. Hướng dẫn soạn bài Phú sông Bạch Đằng đọc hiểu chi tiết

Câu 1 trang 7 SGK ngữ văn 10 tập 2:

Bố cục bài phú: 4 phần

Phần 1 (từ đầu…luống còn lưu): cảm xúc lịch sử của nhân vật khách trước cảnh sắc của sông Bạch Đằng.

Phần 2 (tiếp…nghìn xưa ca ngợi): lời của các bô lão kể với khách về những chiến công lịch sử trên sông Bạch Đằng.

Phần 4 (còn lại): lời ca khẳng định vai trò đức độ của con người.

Câu 2 trang 7 SGK ngữ văn 10 tập 2:

“khách” là người mang tính cách tráng sĩ phóng khoáng, mạnh mẽ đồng thời cũng là một “tao nhân mặc khách” ham thích du ngoạn, đi nhiều, biết rộng, làm bạn với gió trăng, qua nhiều miền sông bể. “Khách” tìm đến những địa danh lịch sử (đặc biệt là Bạch Đằng) để ngợi ca và suy ngẫm

Nhân vật “khách” tuy có tính chất công thức của thể phú song với ngòi bút tài hoa, Trương Hán Siêu đã thổi hồn vào thành một nahan vật sinh động. “Khách” chính là cái tôi tác giả – một con người mang tính cách tráng sĩ với tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng ưu ái đối với lịch sử đất nước.

Cái tráng chí bốn phương của nahan vật “Khách” (cũng là tác giả) được gợi lên quan những địa danh. “Khách” đã “đi qua” hai loại đại danh, loại địa danh lấy trong điển cố Trung Quốc và loại địa danh của đất Việt. Loại địa danh thứ nhất thể hiện tráng chí bốn phương, loại đại danh thứ hai mang tính chất cụ thể, đương đại thể hiện tình yêu đất nước, tâm hồn ưu ái với cảnh trí non sông.

Câu 3 trang 7 SGK ngữ văn 10 tập 2:

Cảm xúc của “khách”

Khách vui, tự hào: vì cảnh non sông hùng vĩ, thơ mộng (nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu), tự hào trước dòng sông từng ghi bao chiến công hiển hách

Khách buồn, nuối tiếc: vì những dấu tích oanh liệt ngày xưa nay trở nên trơ trọi hoang vu. Dòng thời gian đnag vùi lấp dần bao giá trị vào quá khứ.

Đoạn thơ chủ yếu ngắt bằng nhiều nhịp chẵn, tạo giọng điệu nhịp nhàng, trầm lắng, khơi gợi nhiều nỗi suy tư.

Câu 4 trang 7 SGK ngữ văn 10 tập 2:

Các bô lão là hình ảnh cỉa tập thể vừa đại diện cho nhân dân địa phương, vùa là chứng nhân của lịch sử đồng thời cũng có sự phân thân của tác giả. Nhà văn tạo ra nhân vật các bô lão nhằm tạo nên những nhân vật có tính lịch đại để có được sự đối đáp tự nhiên, từ đó dựng lên những trận thủy chiến Bạch Đằng.

Các bô lão kể chuyện xưa với ngôn từ sống động, lời lẽ trang trọng gợi nên cảm hứng lịch sử với âm điệu hào hung. Những kì tích trên sông được tái hiện qua cách liệt kê sự kiện trùng điệp, các hình ảnh đối nhau bừng bừng không khí chiến trận với thế giằng co quyết liệt. Đây là chiến trận từ thời Ngô Quyền đến Trần Hưng Đạo nhưng trọng tâm là chiến thắng “buổi trùng hưng”…với trận thủy chiến ác liệt, dòng sông nổi sóng, khí thế hùng hổ, khói lửa mù trời, tiếng gươm khuya, tiếng quân reo khiến “ánh nhật nguyệt chừ phải mờ/ Bầu trời đất chừ sắp đổi”. Trận đánh “kinh thiên động địa” được tái hiện bằng nhiều nét vẽ phóng bút khoa trương rất thần tình. Âm thanh, màu sắc, trực cảm tưởng tượng được tác giả vận dụng phố hợp góp phần tô đậm trang sử vàng chói lọi của dân tộc

Những hình ảnh điển tích được sử dụng chọn lọc, phù hợp với sự thật lịch sử. Điều đó góp phần diên xtar tài đức của vua, tôi nhà Trần và chiến thắng Bạch Đằng như một bài thơ tự sự đậm chất hùng ca.

Lời ca của các bô lão mang âm hưởng của dòng sông sử thi, dòng sông cuộc đời, tất cả cứ tha thiết chảy ngày đêm. Một chân lí vĩnh cửu cũng chảy mãi như dòng sông: bất nghĩa thì tiêu vong, anh hùng thi lưu danh thiên cổ.

Lời nối tiếp của “khách” có ý nghĩa tổng kết, vừa ca ngợi công đức hai vị vua canh minh, vừa bày tỏ niềm khát vọng muốn hòa bình trở lại, yếu tố được nhấn mạnh, nêu cao là “Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”. Đó là tư tưởng nhân văn hết sức cao đẹp của dân tộc ta.

Câu 6 trang 7 SGK ngữ văn 10 tập 2:

Giá trị nội dung: bài phú thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc về truyền thống anh hùng bất khuất và truyền thống đạo lí nhân nghĩa sáng ngời của dân tộc ta. Tác phẩm thể hiện tư tưởng nhân văn cao qua việc đề cao vai trò, vị trí của con người.

Giá trị nghệ thuật:

Cấu tứ đơn giản, hấp dẫn. Bố cục chặt chẽ

Lời văn linh hoạt

Hình tượng nghệ thuật sinh động, vừa gợi hình vừa giàu triết lí

Ngôn từ: trang trọng, tráng lệ vừa lắng đọng, vừa giàu suy tư

III. Luyện tập bài Phú sông Bạch Đằng

Câu 1 trang 7 SGK ngữ văn 10 tập 2: học thuộc

Câu 2 trang 7 SGK ngữ văn 10 tập 2:

Cần hiểu kĩ về giá trị nghệ thuật và tư tưởng để so sánh, phân tích

Nguồn Internet