Top 15 # Vẻ Đẹp Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Vẻ Đẹp Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng / 2023

Vẻ đẹp hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

Gợi ý làm bài 1. Khái quát

Đôi nét về tác giả, tác phẩm.

Giới thiệu vẻ đẹp của người lính Tây Tiến trong bài thơ.

2. Chi tiết a. Một biểu tượng thương nhớ

Người lính hiện về trong hồi ức như một biểu tượng xa vời trong không gian và thời gian (“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi”… “Tây Tiến người đi không hẹn ước” – “Đường lên thăm thẳm một chia phôi” – “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”) nhưng vẫn là những hoài niệm không dứt, một nỗi thương nhớ mênh mang (“nhớ về”, “nhớ chơi vơi”).

b. Vẻ đẹp trong đời sống tâm hồn

Người lính được miêu tả rất thực trong những sinh hoạt cụ thể, với những bước đi nặng nhọc trên đường hành quân cùng với những đói rét về bệnh tật, vẻ tiều tụy trong hình hài song rất phong phú trong đời sống tâm hồn, với những khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ (“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”…).

Họ nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng, với những cảnh sắc độc đáo rất tinh tế (“hồn lau nẻo bến bờ”, “dáng người trên độc mộc”, “dòng nước lũ”, “hoa đong đưa”).

Tâm hồn người lính cháy bỏng những khát vọng chiến thắng, đồng thời cũng ôm ấp những giấc mơ đẹp về tình yêu tuổi trẻ (“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” – “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”). Trong cái nhìn của người lính trẻ, vẻ đẹp của người con gái núi rừng có nét hoang sơ, kiều diễm đến sững sờ (“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”).

c. Sự hi sinh đầy bi tráng

Người lính hiện lên chân thực, thơ mộng, lãng mạn, đa tình, đa cảm đồng thời cũng rất hào hùng. Với nhiều từ ngữ mang sắc thái cổ điển, trang trọng (“Áo bào thay chiếu anh về đất” – “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”), tác giả tạo được không khí thiêng liêng, làm cho cái chết bi tráng của người lính vang động cả thiên nhiên. Âm hưởng bốn câu thơ cuối bài ngân dài không dứt, hòa cùng với bước đường của người chiến sĩ tình nguyện lên đường vì đất nước :

Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về sầm nứa chẳng về xuôi.

Mùa xuân Tây Tiến ngày ấy đã mang tuổi xuân của người lính trong cuồn cuộn lãng du, nhưng cái hồn bi tráng, sự hi sinh cao cả ấy dù chia phôi thể xác nhưng tinh thần là bất tử. Đó là tinh thần của một thế hệ kiêu hùng – nồng nàn tình yêu nước. Vẻ đẹp ấy, mãi mãi là khúc vọng thanh âm vang trong tâm hồn người Việt.

Nhận xét

Phân Tích Vẻ Đẹp Của Người Lính Trong Bài Thơ “Tây Tiến” Của Quang Dũng / 2023

Quang Dũng bước vào con đường sáng tạo văn học nghệ thuật từ trước Cách mạng tháng Tám nhưng đến thời kì kháng chiến chống Pháp, ông mới thực sự khẳng định được tài năng và phong cách sáng tạo của mình. là một người tài hoa, Quang Dũng đã thể hiện ngòi bút của mình trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật: hội họa, âm nhạc, văn chương. Ở lĩnh vực nào, ông cũng có những đóng góp nhất định. Nói đến Quang Dũng, trước hết là nói đến lĩnh vực thơ ca. Chất thơ hào hoa, lãng mạn của Quang Dũng không những dồi dào trong những bài thơ trữ tình mà còn đi vào những trang văn, bản nhạc, bức tranh của ông. Quang Dũng sáng tác thơ không nhiều nhưng dấu ấn tâm hồn và phong cách sáng tạo của ông vẫn in khá đậm trên hành trình thơ Việt Nam hiện đại.

Xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, mênh mang về người, về cảnh, về những kỉ niệm ở đoàn quân Tây Tiến, nơi Quang Dũng đã sống những ngày tháng không thể nào quên trong cuộc đời cầm súng và cầm bút của mình. Hình tượng nhân vật trữ tình trung tâm của bài thơ là người lính hào hoa, lãng mạn dấn thân vào cuộc chiến đấu với ý chí quyết tâm, với những ước mộng cao đẹp và với một tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm.

Bài thơ mở đầu bằng tiếng gọi thiết tha như vọng từ xa thẳm:

Nhớ về Tây Tiến là Quang Dũng nhớ về dòng sông Mã, nhớ về cảnh núi rừng miền Tây. Nỗi nhỡ man mác, mênh mang như gửi về muôn nẻo: “nhớ chơi với”. Cả một miền đất xa xôi lần lượt hiện về sống dậy trong dòng hồi tưởng của nhà thơ:

Sau cái nhìn toàn cảnh, nhà thơ tái hiện con đường hành quân gập ghềnh khúc khuỷu với đèo cao, dốc đứng, với vực sâu thăm thẳm, với mưa lũ thác gào. Cảnh ấy được Quang Dũng khắc họa bằng những câu thơ gân guốc, giàu tính tạo hình:

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống.

Những câu thơ này không những được tạo hình bằng ảnh mà còn được tạo hình bằng thanh điệu. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng tạo hình như thế:

Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.

Bản thân thanh điệu của câu thơ đã đủ diễn tả con đường gập ghềnh ấy. Mà Nguyễn Du đâu trực tiếp miêu tả con đường, nhà thơ chỉ miêu tả vó câu (bước chân ngựa) và bánh xe lăn đi như thế nào là người đọc hình dung ra con đường rõ mồn một.

Ấn tượng lớn nhất về con đường miền Tây mà Quang Dũng tái hiện là độ cao và độ sâu của nó. Dốc lên đã gập ghềnh, khúc khuỷu lại cao thăm thẳm không cùng. Lúc đến đỉnh cao, mũi súng như đã chạm tới trời xanh. Lên cao rồi xuống sâu, con đường gấp xuống đột ngột, câu thơ như đứt gãy giữa dòng: Ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống”. Con đường ấy lúc lên thì heo hút, xa thẳm, vời vợi ngàn trung, lúc xuống thì thẳm sâu mờ mịt. Đứng trước không gian ấy, ai mà không có cảm giác hãi hùng rợn ngợp? Nhưng Quang Dũng đã kịp thời cân bằng lại cảm giác, giữ người đọc trong trạng thái chơi vơi:

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Con mưa giăng giăng khỏa lấp không gian gập ghềnh đầy những núi cao vực thẳm và tạo nên một ấn tượng bằng phẳng như thanh điệu của câu thơ. Có thể hiểu câu thơ này theo hai mức độ và sắc thái khác nhau. Từ trên đỉnh đèo cao nhìn ra xa, người lính Tây Tiến thấy những ngôi nhà ở Pha Luông thấp thoáng trong cơn mưa. Cũng có thể hiểu, khi cơn mưa trút xuống, cả một vùng rộng lớn mịt mờ trắng nước, ngỡ như biển khơi; những ngôi nhà ở Pha Luông như dập dềnh trên biển lớn. Giữa nền thiên nhiên hùng vĩ và dữ dội ấy, hiện lên hình ảnh đoàn quân đang miệt mài trèo đèo lội suối băng rằng. Có những người không có đủ sức bước nữa đã gục xuống và trút hơi thở cuối cùng:

Hình ảnh nhà thơ nói lên sự hi sinh mất mát lớn lao nhưng không gợi lên tình cảm bi lụy. Người chiến binh ấy đã vượt lên bao gian khổ khó khăn, đến lúc sức tàn lực kiệt vẫn cố gắng tiến bước, bước đến giây phút “bỏ quên đời” mới yên nghỉ dọc đường trường chinh, anh chết trong cuộc hành trình của đoàn quân anh dũng.

Hai câu thơ gọi về một thế giới hoang sơ, dữ dăng, bí ẩn nơi “thâm sơn cùng cốc” “rừng thiêng nước độc”. Thiên nhiên ở đây không phải là đối tượng thưởng ngoạn mà là đối tượng đương đầu. Thiên nhiên là hiện thân của uy lực hoang sơ muốn uy hiếp tinh thần người lính những họ vẫn dám đương đầu và chế ngự bằng ý chí, quyết tâm to lớn của mình. Phải chăng miêu tả một thiên nhiên như vậy, Quang Dũng muốn làm nổi bật vẻ đẹp lãng mạn, phi thường của người lính?

Cuộc sống khó khăn gian khổ là thế, nhưng người lính Tây Tiến vẫn có không ít những kỉ niệm ngọt ngào, vẫn có bao cảnh thơ mộng để mà ghi nhớ:

Hai câu thơ này được nhiều người nhắc đến như những hình ảnh đẹp nhất của cuộc sống miền Tây. Biết bao nhớ nhung lưu luyến được nhà thơ gửi gắm trong hai câu thơ trữ tình đằm thắm ấy. Cuộc sống bình dị mà đầm ấm biết bao, đầm ấm không chỉ ở cảnh “cơm lên khỏi”, ở hương vị “thơm nếp xôi” mà còn ở tình người thắm thiết.

Người lính Tây Tiến phải chịu đựng biết bao gian khổ khó khăn, thiếu thốn về vật chất nhưng họ vẫn rất lãng mạn, yêu đời. Ở nơi rừng thẳm heo hút ấy, họ vẫn cất lên lời ca tiếng hát trong những đêm liên hoan văn nghệ. Đó là những ngày hội tưng bừng vui vẻ, ánh sáng trong ngọn đuốc bùng lên, niềm vui cũng bừng lên trong ánh mắt người lính Tây Tiến:

Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

Tham dự những “hội đuốc hoa” ấy, nhiều lúc Quang Dũng sung sướng ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của đồng nội. Người thiếu nữ lên sân khấu lộng lẫy trong “xiêm áo”, e ấp dịu dàng trong dáng điệu, quyến rũ trong lời ca tiếng nhạc có sức hấp dẫn đặc biệt đối với những người lính lãng mạn và đa tình như Quang Dũng. Cái tôi trữ tình của nhà thơ Quang Dũng trong bài thơ này là cái tôi trữ tình nghệ sĩ hào hoa. Con người hào hoa ấy ra đi từ mảnh đất Hà thành nên càng dễ say cảnh, say người xứ lạ. Nhà thơ ngắm cảnh và thâm nhập vào linh hồn của cảnh, ngắm người và thâm nhập và vẻ đẹp của tâm hồn người:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Hình ảnh “dáng người trên độc mộc” mang những nét độc đáo của con người và cuộc sống miền Tây, nơi đầu sóng ngọn thác. Đó không phải là vẻ đẹp yểu điệu dịu dàng mà là vẻ đẹp mạnh mẽ, dũng cảm, ngang tàng của những con người đã từng vượt ghềnh băng thác mà không sợ hiểm nguy. Bông hoa rừng bên bờ suốt dưới con mắt của Quang Dũng cũng trở nên “đong đưa”, tình tứ lạ thường, như gửi tình theo dòng nước lũ.

Bài thơ Tây Tiến gồm ba phần, Phần đầu là nỗi nhớ rừng, phần thứ hai là nỗi nhớ về cuộc sống sinh hoạt, phần thứ ba là nỗi nhớ về đoàn quân trên bước đường trường chinh gian khổ mà vô cùng anh dũng. Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến đã đi vào thơ Quang Dũng với nhiều nét độc đáo:

Hình ảnh “đoàn biinh không mọc tóc” có vẻ kì dị, lạ thường nhưng không phải sản phẩm tưởng tượng hay là cường điệu hóa. Đó là hình ảnh được lấy từ hiện thực cuộc sống của người lính Tây Tiến. Cuộc sống nơi miền Tây thật khắc nghiệt, nước độc rừng thiêng, sốt rét hoành hành dữ dội. Những người lính Tây Tiến bị những trận sốt rét triền miên làm cho da họ xanh như tàu lá, tóc rụng đến trọc đầu. Hiện thực khắc nghiệt ấy cũng được nhà thơ Chính Hữu ghi lại trong bài thơ Đồng chí:

Cũng nói về gian khổ khó khăn, cũng nói về những cơn sốt rét miền rừng nhưng qua cách nói của Quang Dũng lại có sức ám ảnh kì lạ, lại gây được ấn tượng mạnh mẽ lạ thường. Bút pháp lãng mạn của Quang Dũng phát huy triệt để các hình ảnh tương phản. Ở đây có sự tương phản giữa thể xác và tinh thần. Người lính miền Tây tuy da xanh tóc rụng, thân thể tiều tụy nhưng họ có sức mạnh tinh thần to lớn, “vẫn dữ oai hùm”, vẫn chiến đấu kiên cường, dũng cảm khiến kẻ thù phải khiếp sợ.

Trong tâm hồn của những chàng thanh niên trí thức tiểu tư sản hồi ấy vẫn còn mộng tráng sĩ, một khách chinh phu dấn thân vào trận mạc “gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao”. Vì vậy nếu họ có “mộng” có “mơ” cũng là dễ hiểu. Nhưng điều cơ bản, trong cái dáng vẻ lãng mạn của họ còn có tinh thần của thời đại, hào khí của dân tộc trong cuộc hồi sinh vĩ đại sau Cách mạng tháng Tám. Thế hệ ấy dấn thân vào cuộc sống chiến đấy với tâm niệm “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, ra đi với tiếng hát hào hùng của đoàn Vệ quốc: “Ra đi ra đi bảo toàn sông núi. Ra đi ra đi thà chết chớ lui”. Ra đi với khí thế ấy, tâm niệm ấy họ mới có thể vượt lên gian khổ khó khăn, mới dám đương đầu với cái chết mà không nản lòng nhụt chí:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Bài thơ Tây Tiến có nói nhiều đến mất mát, hi sinh; âm hưởng bài thơ tuy hùng tráng nhưng phảng phất nỗi buồn đau. Tuy nhiên, đó không phải là nỗi buồn đau bi lụy. Người chiến sĩ Tây Tiến khi bước vào cuộc chiến đấu là nguyện hiến dâng tuổi trẻ của mình cho quê hương đất nước. Đối với họ, cái chết nhẹ tựa lông hồng. Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Quang Dũng viết về cái chết một cách nhẹ nhành như vậy. Tác giả chỉ dúng những từ “quên đời”, “về đất” để nói lên sự mất mát, hi sinh. Cách nói ấy đúng với tinh thần và quan điểm của người tráng sĩ. Ngày xưa tráng sĩ ra sa trường là chấp nhận cảnh “da ngựa bọc thây”. Ngày nay người lính Tây Tiến về với đất mẹ với manh chiếu bình dị. Anh không thể chết mà hóa thân vào non sông đất nước, anh trở về cõi trường sinh bất tử. Trong giờ phút thiêng liêng ấy, dòng sông Mã đã kịp tấu lên khúc độc hành để tiễn đưa linh hồn và thể xác của anh về với đất mẹ thân yêu.

Bài thơ Tây Tiến đã kết thúc bằng lời thề nguyền quyết tâm chiến đấu – lời thề của những người đã xác định rõ ràng tinh thần “một đi không trở lại”, ra đi chỉ có “một chia phôi”.

Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Quang Dũng và bao đồng đội của mình đã lên Tây Tiến mùa xuân năm 1947. Ông và bao chiến sĩ đã trở về, trở về với vinh quang chiến thắng, trở về với bao kỉ niệm đẹp đẽ rồi kết thành bài thơ Tây Tiến, quà tặng cho các thế hệ bạn đọc hôm nay.

Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến / 2023

Mở bài Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến

Trong cuộc kháng chiến cứu nước (1945-1954) của dân tộc, những người lính có vị trí rất quan trọng. Vì vậy, họ không chỉ là biểu tượng đẹp đẽ cho con người Việt Nam mà trở thành hình tượng nghệ thuật trung tâm, đặc sắc trong nhiều tác phẩm. Một trong những bài thơ độc đáo và được đánh giá là dựng nên một tượng đài mới về người lính cụ Hồ chính là Tây Tiến của Quang Dũng.

Thân bài Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến

Để nói hết lên vẻ đẹp bi tráng của người lính trong chiến tranh, nhà thơ Quang Dũng đã sử dụng bút pháp nghệ thuật lãng mạn. Bút pháp này có khuynh hướng tô đậm những cái đặc biệt, cái khác thường và sử dụng thủ pháp đối lập nhằm tác động mạnh mẽ vào cảm quan, gây ấn tượng mạnh sâu sắc cho người đọc. Vì vậy, đọc bài thơ Tây Tiến ấn tượng mạnh mẽ nhất về người lính Tây Tiến chính là phẩm chất cam trường, quả cảm nhưng cũng rất lãng mạn, nên thơ. Hai phẩm chất này đan cài hòa quyện vào nhau tạo nên một tượng đài về anh lính cụ Hồ của tần lớp tri thức, tiểu tư sản.

Trước hết để nói về vẻ đẹp bi tráng của người lính, Quang Dũng đã dựng nên một khung cảnh thiên nhiên khốc liệt đầy gian nan, thử thách. Đây chính là nơi những người lính Tây Tiến từng đi qua, đã từng sống và chiến đấu. Trong con mắt đầy cảm hứng lãng mạn và giàu trí tưởng tượng của người lính, những cảnh vật ấy lại càng trở lên hung hãn, dữ tợn. Tất cả đều như muốn án ngữ, đe dọa, vồ chùm lấy con người.

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

………………………

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm mường hịch cọp trêu người

Thực ra đứng trước thiên nhiên dữ dội con người không hề sợ hãi mà còn làm tôn lên vẻ kỳ vĩ, khỏe đẹp của con người. Bằng việc sử dụng thiên nhiên làm nền cho sự xuất hiện của người lính Tây Tiến. Bởi lẽ trên cái đỉnh núi cheo leo hiểm trở kia chúng ta vẫn thấy dáng vẻ sừng sững, ngang tàn đầy tính sáng tạo của nhà thơ. Từ độ cao, độ sâu ngàn mét kia tầm mắt người lính vẫn thâu tóm vẻ đẹp của thiên nhiên hùng vĩ, của những bản làng trong cơn mưa rừng: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Tuy nhiên vẻ đẹp bi tráng của người lính thể hiện rõ nhất qua đoạn thơ :

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Một đoàn quân với hình hài thật kì dị không có tóc nước da màu xanh tàu lá. Một hình ảnh trần trụi và khốc liệt về người lính ngày ấy. Họ phải sống chiến đấu nơi nước độc rừng thiêng, sốt rét triền miên, thiếu ăn, thiếu thuốc men phương tiện.

Điều này đã làm tàn phá sức khỏe của họ, mái tóc đã rụng trọc, nước da thì xanh xao nhưng lấy cái bi để toát lên cái tráng mới là dụng ý thật sự của tác giả. Bởi trong dáng vẻ kì dị xanh xao đó họ vẫn toát lên cái bừng bừng khí thế dữ oai hùm của đoàn binh. Cách miêu tả mang tính tương phản giữa ngoại hình và nội tâm đã làm toát lên vẻ đẹp tinh thần của người năm xưa.

Nhưng họ sống anh hùng thì chết cũng thật anh hùng. Trong bài thơ, nhiều lần Quang Dũng đã nói về cái chết, nhưng âm hưởng bài thơ không hề có cảm giác bi lụy mà vẫn mạnh mẽ hào hùng vẫn truyền tay người đọc cái tinh thần quả cảm của lớp người ra trận ngày ấy. Bởi họ- những người lính chỉ gục bên sống mũ, bỏ quên đời sự ra đi của họ thật nhẹ nhàng. Đó là tư thế không chịu lùi bước không chịu khuất phục và cái chết của họ giống như đi vào một giấc ngủ bỏ quên đời rất thanh thản nhẹ nhàng.

Đúng vậy, dấn thân vào nguy hiểm họ biết rõ sự gian khổ và ác liệt. Vì thế những nấm mồ viễn xứ nằm rải rác biên cương có thể ghê sợ và ớn lạnh nhưng với những người lính tây tiến không là gì cả. Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh đây chính là lời thề, quan niệm sống, phương châm sống của những người lính- những người có trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc. Để rồi khi các anh ngã xuống bộ quân phục của các anh hóa thành những chiếc áo bào để đưa các anh về với đất mẹ quê hương. Nói về sự bi thương nhưng bằng hàng loạt các từ hán việt như áo bào, độc hành đã gợi nên nét cổ kính trang trọng nhưng không quá xa cách. Chữ về đã là nhịp cầu nối tiếp để các anh nằm vào lòng mẹ tổ quốc thân yêu. Và dòng sông Mã gắn với vui buồn của các anh đã gầm lên khúc độc hành. Chỉ bằng âm vần Quang Dũng đã truyền được vào câu thơ tất cả nỗi đau đớn, bi tráng của người chiến sĩ.

Kết luận Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến

Có thể nói bằng tâm hồn thơ phong phú, giàu tài năng, sáng tạo Quang Dũng đã rất thành công trong việc khắc họa vẻ đẹp bi tráng của người lính thời kì đầu kháng chiến chống Pháp. Những người lính thủ đô- những con người mà tinh thần quả cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu, chiến thắng tình cảm cách mạng đến nay vẫn là một bài học nhân sinh cần thiết cho chúng ta. Bài thơ Tây Tiến đã khắc họa rõ nét hình tượng người lính như một tượng đài bất tử về người lính vô danh một thời đánh giặc không bao giờ quên.

Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng / 2023

Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Với hồn thơ hào hoa và lãng mạn, nhà thơ đã khắc họa nên hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến, trong bài thơ cùng tên, không chỉ mang đậm chất hào hoa, lãng mạn mà hơn hết đó là vẻ đẹp bi tráng của những tượng đài bất tử.

Bi tráng chính là nỗi buồn, là hiện thực khốc liệt của chiến tranh, là những hy sinh, mất mát, đau thương. Nhưng bi chứ không lụy, nỗi buồn ấy không làm lụi tàn ý chí và niềm tin mà ngược lại, nỗi buồn ấy đã hóa thành sức mạnh, thành ý chiến đấu kiên cường. Đây cũng chính là giọng điệu chủ đạo mà Quan Dũng sử dụng trong bài thơ Tây Tiến.

Nhớ về Tây Tiến là nhớ về rừng, về núi. Quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc vừa thơ mộng trữ tình, lại vừa hoang sơ hùng vĩ. Đó là những địa danh xa lạ, những cung đường “khúc khuỷu”, quanh co, những vực cao sâu “nghìn thước”, tất cả như muốn thách thức, cản trở bước chân chinh phục của những chàng trai Hà thành:

” Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Không chỉ vậy, núi rừng Tây Bắc ngày ấy là nơi ngự trị của biết bao hiểm nguy rình rập người lính:

” Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Đối diện với những khó khăn, vất vả, người lính chỉ biết trân mình chịu đựng để bước tiếp cuộc hành trình. Cách ngắt nhịp dồn dập, những từ láy toàn phần, những âm điệu trúc trắc như càng khắc sâu hơn những chặng đường nguy hiểm. Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình tượng con người hiện ra với dáng vẻ hiên ngang cùng với ý chí kiên cường mà không trở ngại nào có thể làm cho tàn lụi. Thế nhưng, hình ảnh đầu tiên về người chiến sĩ trong bài thơ này cũng chính là hình ảnh xót xa, đầy cảm động:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Có lẽ những khó khăn và vất vả trên chặng đường đã vắt kiệt sức lực của chàng trai trẻ. Tác giả rất tinh tế khi sử dụng từ láy “dãi dầu” để nói về những khó khăn, chịu đừng mà người lính Tây Tiến phải trải qua, để đến lúc mỏi mệt, họ mỏi gối, chùn chân. “không bước nữa”, khép lại hành trình thực hiện nghĩa vụ lớn lao của cuộc đời. Nói về sự hy sinh, nhưng tác giả không hề dùng bất cứ từ ngữ nào để nói về mất mát, chia lìa, chỉ với cụm từ “bỏ quên đời” để gợi nhớ với một niềm tự hào to lớn. Người lính hy sinh nhưng đầu vẫn đội mũ, vẫn giữ chặt cây súng trong tay. Họ ra đi, nhưng vẫn không quên nhiệm vụ, không quên lý tưởng của mình.

Nhưng sự hy sinh của người chiến sĩ ấy chỉ là một trong những sự hy sinh của những đồng chí, đồng đội nơi chiến tuyến. Đi dọc suốt bài thơ, sự hy sinh và chia lìa dù không trực tiếp nhưng cũng thể hiện ở khắp mọi nơi, đặc biệt là ở khổ thơ thứ ba, với câu thơ:

” Rải rác biên cương mồ viễn xứ”

“Rải rác” là từ láy, để nói lên mức độ bao phủ của một thứ gì đó mà trong câu thơ này đã định danh đó là “mồ viễn xứ”. Trong câu thơ này, “rải rác” không hề chỉ sự thưa thớt, xa vắng mà nó lại gợi lên mật độ nhiều và không thể nào định lượng được những nắm mồ gửi lại giữa chặng đường của kẻ lữ hành dang dở. Những từ ngữ Hán – Việt như “biên cương”, “viễn xứ” làm câu thơ thở nên trang trọng và linh thiêng như chính tâm hồn và ý chí của những chàng trai trẻ bởi tất cả họ cùng cất lên một ý chí chiến đấu kiên cường:

” Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh “

Họ “chẳng tiếc đời xanh” vì một lẽ hiển nhiên mà bất cứ người trai nào trong thời kỳ này đều phải thực hiện: “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Họ đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, của non sông, đi theo lời kêu gọi toàn dân kháng chiến của Bác Hồ và đi theo tiếng gọi của chính trái tim mình:

“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ, như cha, như vợ như chồng

Ôi Tổ quốc nếu cần ta sẽ chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”

Họ sẵn sàng bỏ lại ước mơ, bỏ lại mái trường, bỏ lại những tình cảm thân thương, lên đường bảo vệ quê hương được trọn vẹn:

“Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hương rượu say”

Vì vậy, họ chẳng tiếc đời xanh, chẳng tiếc tuổi trẻ bởi họ đã sống đúng với lý tưởng và hoài bão ước mơ. Đây chính là một biểu hiện hùng hồn cho tinh thần bi tráng của bài thơ. Con người ta vượt lên tất cả những tình cảm tủn mủn, nhỏ nhặt đế sống vì cái lớn lao, sống vì lý tưởng cao đẹp.

Bài thơ đã nhiều lần nói về cái chết, nhưng cái chết nào cũng đẹp, cái chết nào cũng hiên ngang, cái chết nào cũng tạc nên “dáng đứng Việt Nam” bất diệt, dẫu tiễn đưa họ không phải là cờ hoa, biểu ngữ, cũng không phải là những tiếng đại bác đưa tiễn vong linh hay những bài điếu văn ca ngợi chiến công lừng lẫy, họ ra đi rất âm thầm trong vòng tay đồng đội, với chiếc áo nâu sòng của người bạn gửi vội thay cho manh chiếu không thể tìm được giữa rừng, cùng với đó là sự xót xa của thiên nhiên tiễn biệt người bạn đồng hành suốt chặng đường ngược dòng sông Mã:

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành “

Ở đây, chất bi tráng được thể hiện rõ ràng nhất, với sự trang trọng bao hàm nỗi xót xa. Cả thiên nhiên, núi rừng cùng cất lên khúc hát tiễn đưa, như giai điệu trầm hùng của khúc ca “Hồn tử sĩ”. Vẻ đẹp bi tráng hiển hiện trong từng câu thơ, trong từng hình ảnh nhưng chỉ khi dừng lại ở bức chân dung người lính, tinh thần ấy, vẻ đẹp ấy mới được bộc lộ một cách rõ ràng và cụ thể.

Bằng tài năng nghệ thuật của mình, Quang Dũng đã phác họa Tây Tiến với những đường nét, hình khối, màu sắc trong tâm tưởng, đó là những ký ức không bao giờ phai nhạt, đôi khi, những ký ức ấy lại còn được đệm thanh âm, giai điệu để trở nên xót xa như chính tâm hồn của tác giả khi nhớ lại thời kỳ chiến đấu kiêu hùng trên mặt trận phía Tây. Có thể nói, Quang Dũng đã tạc nên một tượng đài bất tử về hình ảnh người lính trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đó là tượng đài tập thể gân guốc, oai phong, nghiêm trang và đẹp một cái kiêu hùng.

Chiến tranh là có mất mát, hy sinh. Đã có biết bao tác phẩm nói lên điều đó. Nhưng nét riêng của Quang Dũng chính là thể hiện sự hy sinh ấy một cách hào hùng. Cả bài thơ nói về cái chết, nói về sự hy sinh, nhưng không hề xuất hiện hai từ ngữ ấy trực tiếp. Đó chính là cái hay, là cái mạnh mẽ và kiên cường. Để rồi một tượng đài liệt sĩ được dựng lên trên thực tại khắc nghiệt bằng cái mạnh mẽ và kiên cường ấy, tạo nên vẻ đẹp bi tráng bất tử trong văn học Việt Nam.