Top 14 # Vẻ Đẹp Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ Nhàn / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Vẻ Đẹp Lối Sống Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ Nhàn / 2023

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề quan tâm trong bài viết: vẻ đẹp lối sống nhàn hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi.

– Phân tích những khía cạnh của vẻ đẹp lối sống nhàn trong bài thơ:

+ Nhàn là “Một mai, một cuốc, một cần câu” trở về với cuộc sống thuần hậu, chất phác của một “lão nông tri điền” đào giếng lấy nước uống, cày ruộng lấy cơm ăn (tạc tỉnh canh điền). Con người trí thức có danh vọng đương thời đã tìm thấy niềm vui trong công việc lao động, làm bạn với cuộc sống giản dị nơi thôn dã. Mai để đào đất, cuốc để xới vun và cần câu để câu cá. Cách dùng hên tiếp 3 danh từ kết hợp với một số từ “một” đúng đầu cho thấy cái gì cũng đã có, đã sẵn sàng. Những vật dụng gắn với công việc lấm láp, vất vả của người nông dân lao động đi vào trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn có cái thanh nhàn thư thái riêng của một người tự tại, có thể làm gì tùy theo sở thích cá nhân bởi lẽ mai, cuốc, cày… là để “Cày mây, cuốc nguyệt, gánh yên hà – Nào của nào chăng phải của ta”.

+ Con người đã tìm thấy niềm vui, sự ưng ý thanh thản trong cuộc sống đó “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”. Hai chữ “thơ thẩn” là trạng thái thảnh thơi, “vô sự’, trong lòng không còn gợn chút cơ mưu tư dục của con người. Trong tương quan với “thú nào” của “dầu ai” kia, nhàn đã trở thành một thú có dư vị và sức hấp dẫn riêng đốì với nhà thơ, tạo nên ầm điệu chung cho tất cả tác phẩm: nhẹ nhàng, lâng lâng: “Thanh nhàn ấy ắt là tiên khách – Được thú ta đà có thú ta”.

+ Nhàn là “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ – Người khôn, người đến chốn lao xao”. “Nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao” mang ý nghĩa biểu tượng. “Chốn lao xao” chính là chốn quan trương, chốn giành giật tư lợi, sang trọng, tấp nập ngựa xe quyền quý, kẻ hầu người hạ, bon chen luồn lọt hãm hại nhau. Những âm thanh “lao xao” xe xe ngựa ngựa ấy một người tự nhận là “dại” như Nguyễn Bỉnh Khiêm thây “ngại bước chen” (“Thấy dặm thanh vân ngại bước chen”; “Nép mình qua trước chốn lao xao”; “Ngõ hạnh đưa người chân ngại chân”). Còn “nơi vắng vẻ” là nơi tĩnh tại của thiên nhiên, nơi tâm hồn tìm thấy sự thảnh thơi, nơi “Cửa vắng ngựa xe không quýt ríu”. Vậy cái “dại” và “khôn” ở đây thật ra là cách nói ngược, thâm trầm ý vị, vừa tự tin, tự cho mình là “dại”, người là “khôn”, vừa hóm hỉnh pha chút mỉa mai. Sự khôn, dại ấy trở lại trong bài thơ số 94: “Khôn mà hiểm độc là khôn dại – Dại vốn hiển lành ấy dại khôn”.

+ Nhàn là “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống – Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Không chỉ xa lánh danh lợi mà dường như còn cười cợt cả cái chôn lao xao lo giành giật nó, rốt cuộc chỉ như giấc mơ dưới góc cây hòe. Hai chữ “nhìn xem” biểu hiện một thế đứng cao hơn, dường như đã tiên liệu ngay từ khi chọn lối sống của một con người luôn tự cho mình là “dại”. Nhịp ngắt 2/5 của câu thơ cuối cùng gợi cảm nhận phú quý chĩ là một giấc mơ mà thôi. Đúng là “Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa!”.

– Kết lại nội dung phân tích: Lối sống nhàn trong bài thơ không đơn thuần là “giải pháp tình thế”, do hoàn cảnh ngẫu nhiên mà con người có. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông chủ động chọn lối sống nhàn. Sự chủ động ấy trong cuộc đời biểu hiện ở việc xin từ quan khi dâng sớ chém lộng thần không có kết quả. Trong bài thơ này, dấu ấn của sự chủ động hiện ra ở việc dứt khoát chọn cho mình một niềm vui riêng, một cách sống riêng so với những “giá trị” khác mà sô’ đông đang theo đuổi. Ngay từ những câu thơ đầu, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xác định “Thơ thẩn… nào” thì “thơ thẩn” với “thú nhàn” đã là một cách chọn lựa vượt lên vô vàn những “thú nào” của bất cứ ai. Sự chọn lựa cũng dứt khoát, quyết liệt trong cách sống: “Ta dại… lao xao”. “Ta” kiên định với chọn lựa của ta đầy tự tin. Chủ động trong thế “Rượu… chiêm bao”. Có người đang đứng trên phú quý, vượt ra ngoài “lực hấp dẫn” của phú quý để “nhìn xem” và cười cợt về nó. Như vậy nhàn không chỉ là tâm thế sống, niềm vui sống mà còn là một quan niệm sống, một triết lí sống.

Phân Tích Vẻ Đẹp Nhân Cách Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bài Thơ Nhàn / 2023

Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ “Nhàn”

Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại hơn 700 bài thơ chữ Hán và chữ Nôm. Các bài thơ được tập hợp trong Bạch vân am thi tập và 170 bài thơ chữ Nôm trong Bạch vân quốc ngữ thi. Thơ ông mang đậm chất triết lí giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, đồng thời phê phán thói đời đen bạc trong xã hội. Bài thơ Nhàn là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho lối sống, một cách xử thế của Nguyễn Bỉnh Khiêm ngay trong thời đại có nhiều biến động dữ dội nhất của lịch sử.

Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Nhan đề của bài thơ Nhàn do người đời sau đặt cũng là một sự tri ân với tác giả. Chữ Nhàn trong bài nhằm chỉ một quan niệm, một cách xử thế. Vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ được thể hiện qua cách nghĩ, cách sống trong sạch, khiết tịnh và đầy lạc quan của bậc tài danh:

Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao.

Trong lịch sử, Nguyễn Bỉnh Khiêm được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam – Bắc triều, cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam. Dưới thời phong kiến của Việt Nam, ông là một trong số rất hiếm văn nhân Nho gia không phải quan tướng nắm binh quyền và chưa từng cầm quân ra trận nhưng được phong tới tước Trình Quốc Công ngay từ lúc còn sống. Lúc từ quan, ông về ở ẩn nơi quê nhà, mở trường dạy học, sống gần gũi với thiên nhiên Bởi thế, thiên nhiên trong thơ ông mang một vẻ đẹp vừa hồn hậu, vừa triết lý cao sâu. Hai câu thơ đầu toát lên phong thái thoát tục của bậc tài danh giữa cuộc đời:

“Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”.

Từ “một lặp lại ba lần làm hiện lên một cuộc sống đơn sơ, bình dị, không cầu kì vật chất. Tất cả đều là củ vườn quê, trong tư thế lao động. Câu thơ cho thấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao lao động chân chính, quý trọng sức lao động của con người. Của cải tạo ra phải bằng sức lao động và tâm hồn trong sáng của con người mới đích thực là của quý ở đời. Người quân tử tiếp thu cái mạch của đất, nhận lấy cái khí của trời để tạo tác nên khí chất cứng cỏi, thanh cao, thuần với tự nhiên.

Tuy không sa đà vào học thuyết của Lão Tử, song Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng thể hiện một lối sống “vô vi”: ” Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”. Cái “vô vi” của Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa hẳn là phủ nhận mọi sự tồn tại của đời sống lý trí nhưng cũng tiệm cận đến sự thoát ly đời sống vật chất tiện nghi, đạt đến sự khiết tịnh của nhân tâm, một sự khiết tịnh thường thấy của các bậc nho gia. Xuất thân là bậc trí học thượng thừa, uy danh cũng đứng đầu thiên hạ, vị thế ấy có thể có được một cuộc sống tột bậc cao sang. Thế nhưng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sớm từ bỏ con đường quan trường, tìm kiếm một cuộc sống thanh tịnh, tu tâm dưỡng đạo, sống cuộc đời thanh bần, an lạc trong đạo triết của mình, tạo phúc cho thiên hạ. Một phần là bởi thời cuộc quá nhiễu nhương, chính pháp bị xem thường, phần chính là bởi ông yêu mến tự cảnh, muốn giữ gìn và phát huy minh triết của Nho gia. Bởi thế mà ông đã đặt mình ở nơi vốn còn tồn chứa nguồn mạch sự sống chân thiện để tĩnh tâm:

“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao”.

“Nơi vắng vẻ” là nơi tĩnh tại của thiên nhiên và nơi thảnh thơi của tâm hồn. Đó cũng là nơi không người cầu cạnh ta và ta cũng không cầu cạnh người. Mọi mối quan hệ đều bình đẳng, trong sạch và tĩnh lặng. “Chốn lao xao” là chốn cửa quyền, sang trọng, ngựa xe tấp nập, kẻ hầu người hạ, bon chen, sát phạt. Nơi ấy, tham quyền thắng thế, đạo đức bị khinh bỉ, tiền bạc làm điên đảo con người.

Trên cái nền mang tính triết luận, Nguyễn Bỉnh Khiêm tự thán về bản thân, có vẻ như rất nghịch lý. Người “dại” thường tìm nơi vẳng vẻ. Người “khôn” thường thích đến chốn lao xao. Đây là cách nói ngược vô cùng hóm hỉnh nhưng sâu cay.

Nhìn vào cuộc đời, suy tư của Nguyễn Bỉnh Khiêm không khỏi khiến chúng ta giật mình. Người “dại” ấy thực chất là người “khôn”. Danh lợi, quyền lực, địa vị vốn là những ma lực không ngừng quyến rũ, lôi kéo con người đến tội lỗi. Nó làm khởi phát lòng tham, khiến con người đánh mất thiện tính, tranh đoạt không biết mệt mỏi. Người “dại” biết quay lưng lại với danh lợi, tìm sự thư thái cho tâm hồn, sống ung dung hoà nhập với thiên nhiên, tránh được những hiểm nguy ở đời quả thực là “khôn”. Còn người “khôn” tìm đến chốn lao xao, để cho ngọn lửa tham tàn thiêu đốt nhân tính, tự trói buộc mình vào ma lực của đồng tiền, cuồng quay điên đảo thì ấy là khôn dại:

“Khôn được ích mình, đừng để dại,Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn.Khôn mà hiểm độc là Khôn Dại,Dại ấy hiền lành, ấy dại khôn”.

(Khôn dại – Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Cái khôn của con người không phải tính bằng việc hơn thua bao nhiêu tuổi mà nó nhìn xoáy vào chiều sâu cảm nhận của mỗi người, cách nhìn sự việc và xử sự nơi cuộc sống. Đừng để tâm hồn ta lụi tàn ngay từ khi còn sống. Chính lòng tham khiến ta không còn nhận biết hay có thể thưởng thức cái đẹp chân chính ở đời. Quan niêm sống thanh cao, thoát tục khẳng định vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là vẻ đẹp của trí tuệ phi thường, vượt lên trên mọi cám dỗ và ràng buộc.

Thoát lên trên những cái tầm thường của cuộc sống, Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm đến điểm nương tựa cho tâm hồn, cốt cách và cuộc đời mình, không gì khác ngoài một cuộc sống gắn kết với tự nhiên đầy sinh lực và đạo triết của mình:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

Dường như, ta không thể tìm thấy một sự khiên cưỡng nào trong quan niệm sống hay lối sống của trạng Trình. Ông đặt mình trong vũ trụ như nhiên để vận động luân hòa. Mùa nào thức ấy, việc ấy, không có chi phải sầu não, lo âu. Sống thuần hậu phải chăng là cách sống mà các vị cao nhân, ẩn sĩ luôn tu tập:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”.

Nguyễn Bỉnh Khiêm lấy các sự vật hết sức giản dị, gần gũi để làm nổi bật lên nét đặc trưng riêng của từng mùa. Thức ăn là những sản vật có sẵn xung quanh tác giả, mang đậm bản chất thôn dã. Đó là những sản vật do con người làm ra hoặc thiên nhiên ban tặng. Sinh hoạt của ông cũng hết sức nhịp nhàng, tuần hoàn theo dòng chảy của thời gian: tắm hồ sen, tắm ao. Cung cách sống thật khiêm nhường, bình dị của một bậc trí thức đại tài. Mọi nhu cầu của cuộc sống luôn được đáp ứng đủ không thừa cũng không thiếu. Cuộc sống tuy có phần đạm bạc nhưng hết sức thanh nhàn, giải phóng con người khỏi phường danh lợi, đem con người đến gần hơn với tự nhiên, hòa hợp với vạn vật. Nguyễn Trãi ở thế kỉ XIV cũng đã từng gây dựng và đề cao:

“Ao cạn vớt bèo cấy muốngĐìa thanh, phát cỏ, ươm sen”.

Và trong lúc thảnh thơi, con người lại tận hưởng cái đẹp của cuộc sống:

“Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

Có rượu tìm đến cội cây, nơi quang đãng, vắng lặng đẻ uống, để say thỏa thích, mặc sự đời trôi chảy, nhìn mọi người tranh đoạt phú quý mà cười khinh miệt. Uống rượu thì đâu cần chỉ kẻ hầu người hạ, bàn tiệc linh đình, đàn hát xôn xao. Uống rượu để thưởng nhận cái nồng say của rượu, để thưởng lãm cảnh vật, để thức ngộ chân lý cuộc đời: ” phú quý tựa chiêm bao”. Nguyễn bỉnh Khiêm nhìn cuộc đời như là một giấc mộng. Cuộc đời thực chính là những tháng ngày sống đúng nghĩa, sống vì con người, vì nhân loại.

Cái say và giấc chiêm bao của tác giả thể hiện quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Công danh, phú quý, cái mà mọi người đang tranh giành nhau, đối với ông chỉ như một giấc mơ chẳng có ý nghĩa gì. Cái tồn tại mãi mãi vĩnh viễn là thiên nhiên và nhân cách con người

Câu thơ thể hiện quan điểm sống “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sống “nhàn ” là sống hòa hợp với tự nhiên, sống đạm bạc, nhàn tản, vui với thú điền viên thôn dã, xa lánh quyền quý, danh lợi để giữ cốt cách thanh cao. Để có thể sống “nhàn”, con người phải chiến thắng cái tham vọng của bản thân, trả mình về với thực thể tự nhiên trong sạch và cao quý, không ngừng thanh lọc tâm hồn vươn tới chân, thiện, mĩ. Điều này cho thấy ông là một người có trí tuệ uyên thâm, nhân cách cao cả, bản lĩnh phi thường hiếm có.

Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm “thanh tao, tiêu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thú tự nhiên”, thể hiện sự ưu thời mẫn thế, đậm chất triết lý, giáo huấn nhưng vẫn gần gũi và dễ tiếp nhận.

Xây dựng hình ảnh con người tự do vốn là tâm điểm của nền văn học thế kỉ XVI. Ở thời đại này, vì lực hút của triều đình phong kiến, Nho giáo độc tôn mạnh, nên gần như hút về tâm là quỹ đạo chủ đạo. Nguyễn Bỉnh Khiêm không bị hút về tâm nhưng cũng không hẳn ly tâm, nhờ đó tạo nên chính sự tự chủ cho người thức giả. Ông ung dung, tự tại, muốn ra thì ra, muốn về thì về, không phụ thuộc vào ai hay vào thứ gì. Cũng như các sĩ tử khác, ông trải qua quan trường để thực hiện cái chí của đáng nam nhi. Rồi khi thấy cần phải xuất thế ông liền chủ động rút lui, không lưu luyến gì.

Chính phong thái ung dung chủ động kia đã tạo nên tiếng nói tự do, tự tại trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dòng mạch tư duy tự do tự tại quy tụ nên hình tượng con người không bị lệ thuộc vào quyền lực nữa mà ít hay nhiều đã là con người giải thoát. Cần phải thừa nhận rằng trong cái “nhàn”, cái thoát tục của Nguyễn Bỉnh Khiêm có một phương diện gọi là tự tại. Nhàn ở đây không là ẩn, chưa phải xã hội thối nát đến mức mình không thể chấp nhận nổi mà trở về chăm nom vài luống cúc, hoặc lẩn trốn vào cửa thiền, hoặc tìm quên trong thú vui ở “nơi vắng vẻ” với cần câu, chén rượu. Nhàn, bởi mình cảm thấy phải làm chủ cuộc sống của mình, cho nên tự mình trở về an nhàn nghỉ ngơi. Nhưng khi triều đình kêu gọi đi đánh bọn phản loạn thì ông sẵn sàng và hăng hái ra giúp. Nhàn trong trường hợp này là nhàn tự tại. Nhàn tự tại chính là nét khác với nhàn ở nhiều thời đại khác là thứ nhàn chỉ muốn lánh đục, lánh triều đình, “dũng thoái”. Nhàn tự tại không cố chấp mà hồn nhiên hơn.

Vật chất làm nên giá trị sống nhưng không thể quyết định giá trị của con người. Chiến thắng sức cám dỗ của giàu sang, phú quý là chiến thắng hiển hách của các bạc hiền nhân. Nguyễn bỉnh Khiêm đã chọn một lối sống thanh cao, thoát tục, không để vật chất làm cho vấy bẩn tâm hồn. Thế nhưng, thái độ nhàn của Nguyễn bỉnh Khiêm không phải là cái nhàn yếm thế. mà là cái nhàn hiện thế, rất tích cực và mạnh mẽ. Ông vẫn ở trong cuộc đời, không xa rời trách nhiệm của người làm trai đối với đất nước.

Vẻ Đẹp Của Cuộc Sống Và Tâm Hồn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Khổ Đầu Bài Thơ “Nhàn” / 2023

Загрузка…

Загрузка…

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những vị quan thanh liêm của thời nhà Mạc, vì bất lực với chính sự, không thể can ngăn nhà vua, vạch tội bọn nịnh thần nên ông đã cáo lão về quê ở ẩn. Bài thơ “Nhàn” là một tác phẩm ra đời trong thời điểm ấy, thể hiện rõ vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Ngoài ra, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những nhà nho nổi tiếng với những tác phẩm để đời mà qua đó người đọc thấy rõ vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ “Nhàn” cũng là một trong những tác phẩm như thế. Chỉ trong bốn câu thơ đầu bài thơ đã thể hiện rõ quan điểm sống của ông.

Đề bài: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua những câu thơ sau:

“ Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao”

Bài văn mẫu số 1: Vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một vị quan dưới thời Mạc, do vua không nghe lời khuyên của ông diệt trừ gian thần mà ông đã cáo quan về một nơi dân dã sinh sống. Tại đó, ông đã sáng tác tập thơ Bạch Vân Am thi tập, với tác phẩm nổi tiếng là bài thơ “Nhàn” mà qua đó người đọc thấy rõ vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

 Với mỗi người, cuộc sống nhàn được hiểu theo những cách khác nhau. Có người nói cuộc sống nhàn là cuộc sống trong vinh hoa phú quý, lại có người nói đó là cuộc sống thảnh thơi không phải suy nghĩ gì…Nhưng với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì khác, cuộc sống nhàn của ông là một cuộc sống đắm mình trong thiên nhiên:

“ Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao”

Câu thơ đầu tiên, ông sử dụng số từ “Một” nhiều lần, theo sau là các danh từ “mai, cuốc, cần câu” cho ta thấy sự bình dị, thân thuộc. Bởi những danh từ kia là những vật dụng làm nông hàng ngày mà ai ai cũng biết. Kết hợp với nhịp thơ ngắt quãng chậm rãi gợi sự thong thả, những dụng cụ luôn sẵn sàng, nhà thơ trở về với cuộc sống dân dã, bình dị, an nhiên, tự tại, cuộc sống tự cung, tự cấp. Từ “thơ thẩn” trong câu thơ thứ hai lại khiến cho ta có cảm giác thật ung dung. Hai câu thơ đầu không chỉ diễn tả được đề tài mà còn cho ta thấy được vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Một cuộc sống bình dị nơi thôn quê.

Hai câu thơ tiếp theo, tác giả dùng biện pháp đối lập “ta dại” với “người khôn” với “nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao”. Tác giả đã chủ động tìm một nơi vắng vẻ ở nơi thôn quê thanh nhàn mặc người tìm đến “chốn lao xao”. Tác giả tự nhận mình là “người dại” , bỏ qua vinh hoa phú quý để sống cuộc sống thanh nhàn. Đặt mình vào hoàn cảnh của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta có thể thấy ông là người rất có hoài bão, luôn mong muốn nhân dân có cuộc sống ấm no. Tuy nhiên, triều đình lục đục, nhiều thế lực tham lam chuyên đi bóc lột cần bị tiêu diệt lại vẫn cứ ung dung, còn người thương dân như ông lại bị chối bỏ tấu chương xử loạn thần. Giữa vòng đấu tranh như vậy, ông đã trở về với thiên nhiên để di dưỡng tinh thần đồng thời giữ cho mình được trong sạch, thanh cao.

Qua bài thơ “Nhàn”, ta thấy rõ vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là cuộc sống không màng vinh hoa, phú quý, chỉ có một cuộc sống nhàn và hòa mình vào thiên nhiên.

Bài văn mẫu số 2: Vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Cáo quan về quê, tất nhiên Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn được hưởng bổng lộc của triều đình nữa. Nhưng không quá nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm dễ dàng hòa nhập với cuộc sống thôn quê đạm bạc. Ngay từ câu thơ đầu tiên, người ta đã có cảm giác đang đứng trước một lão nông tri điền với những công cụ lao động. Cách đếm rành rọt “Một…một…một” cho thấy tất cả đã sẵn sàng, chu đáo. Đồng thời, nó cũng thể hiện một phong thái ung dung, thư thái, thanh nhàn, có chút ngông ngạo. Hai chữ “thơ thẩn” nói lên trạng thái thảnh thơi của con người “vô sự” trong lòng không chút cơ mưu, tư dục. Cụm từ “dẫu ai vui thú” nói lên ý thức kiên định lối sống đã lựa chọn. Hai câu thơ như đưa ta về với cuộc sống chất phát, nguyên sơ của cái thời “tạc tỉnh canh điền”. Rõ ràng có sự tương đồng trong cuộc sống, lối sống của con người này. Đến đây, người đọc đã dần cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó chính là một tinh thần nhập thế rất tích cực của các bậc đại ẩn.

Thật khó có thể tìm thấy dấu vết của lối sống quan trường cao sang trong những câu thơ như vậy. Chủ động lựa chọn cuộc sống đó nên Bạch Vân cư sĩ sẵn sàng đón nhận cảnh sống đạm bạc. Thế mới biết vật chất đơn sơ không bao giờ có thể làm cho những nhân cách lớn phải vướng bận, lo toan. Đạm bạc trong cuộc sống của những con người này không đi với khắc khổ. Nó đi với thanh cao. Cuộc sống thanh cao trong sự trở về với thiên nhiên, mùa nào thức ấy. Chỉ hai câu thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa một bộ tranh tứ bình về cảnh  sinh hoạt với bốn mùa xuân, hạ , thu, đông; có mùi vị, có hương sắc, không nặng nề, không ảm đạm. Lựa chọn cuộc sống thanh đạm, tự nguyện hòa nhập với thiên nhiên, sống trung hòa thuận theo tự nhiên là thoát ra ngoài vòng ganh đua của thói tục, là không bị cuốn hút bởi tiền tài, địa vị, để tâm hồn an nhiên khoáng đạt. Ông đối lập với danh lợi như nước với lửa. Nhà thơ đối lập “nơi vắng vẻ” với “chốn lao xao” đối lập “ta” với “người”. Nơi vắng vẻ là nơi tĩnh tại của thiên nhiên và là nơi thảnh thơi của tâm hồn, là nơi ta thích thú, được sống thoải mái, an toàn. Người đến “chốn lao xao” là đến chốn cửa quyền, “chốn lao xao” là chốn “chợ lợi, đường danh” huyên náo, nơi con người chen chúc xô đẩy, giành giật, hãm hại nhau, là nơi nhiều nguy hiểm khôn lường.

Tìm đến sự thanh cao, tìm thấy sự thư thái của tâm hồn. Niềm vui chi phối cả âm điệu bài thơ, cứ nhẹ nhàng, lâng lâng, cứ thanh thản một cách là lạ. Bài thơ vẻn vẹn tám câu. Người đọc vẫn có cảm nhận rất rõ nét về vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó cuộc sống đạm bạc mà thanh cao và nhân cách vượt lên trên danh lợi của một bậc tiền nhân.

Bài làm số 3: vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm ( Sinh năm 1491- Mất năm 1585) là người có học vấn uyên thâm. Tuy nhiên khi nhắc đến ông là mọi người thường nghĩ ngay đến việc lúc ông làm quan, ông đã từng dân sớ vạch tội xin chém đầu mười tám lộng thần nhưng đã không thành công nên ông đã cáo quan về quê. Ông là một nhà thơ lớn của dân tộc. Khi mất, ông để lại tập thơ viết bằng chữ Hán – Bạch Vân Am thi tập. Và bài thơ tiêu biểu nhất trong tập thơ đó là bài thơ “Nhàn”. Bốn câu thơ cuối của bài thơ nói rõ nhất về vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Hai câu thơ đầu đã khắc họa được như thế nào một cuộc sống nhàn rỗi :

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẫn dầu ai vui thú nào”

Ở câu thơ đầu đã khắc họa hình ảnh một ông lão nông dân sống thảnh thơi. Bên cạnh đó tác giảc còn dùng biện pháp điệp từ “Một” thêm vào là một số công cụ quen thuộc của nhà nông dân nhằm khơi gợi trước mắt người đọc một cuộc sống rất tao nhã và gần gũi nhưng không phải ai muốn là có. Từ “Thơ thẩn” trong câu hai khắc họa dáng vẻ của một người đang ngồi ung dung, chậm rãi và khoan thai. Đặt hình ảnh ấy vào cuộc đời tác giả ta có thể thấy được lúc nhàn rỗi nhất của ông chính là lúc ông cáo lão về quê ở ẩn. Và từ “vui thú nào” cũng một lần nữa nói lên cái nhàn rỗi, cái vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là cảnh nhàn dẫu có ai bon chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn thư thái. Hai câu thơ đầu không chỉ giới thiệu được đề tài mà còn khắc họa tư thế ung dung nhàn hạ, tâm trạng thoải mái, nhẹ nhàng vui thú, điền viên…

“…Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người khôn người đến chốn lao xao”

Hai câu thơ tiếp theo của bài thơ ý tác giả muốn nhắm đến cảnh nhàn và sử dụng các từ đối lâp nhau như “ta” – “người”; “dại” – “khôn”; “nơi vắng vẻ” – “chốn lao xao”  một loạt những từ đối lập đó đã thể hiện được quan niệm sống của ông. Nhân vật trữ tình đã chủ động tìm đến nơi vắng vẻ với chốn thôn quê cuộc sống thanh nhàn mặc cho bao người tìm đến chốn “phồn hoa đô hội”. Hai câu thơ đã đưa ra được hai lối sống độc lập, hoàn toàn trái ngược nhau. Ông tự nhận mình là “dại” vì theo đuổi cuộc sống thanh đạm thoát khỏi vòng danh lợi để giữ cho tâm hồn được thanh nhàn. Vậy lối sống của ông có phải là lối sống xa dời và trốn tránh trách nhiệm? Điều đó tất nhiên là không, vì hãy đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác chỉ có thể làm như vậy mới có thể giữ cốt cách thanh tao của mình. Do ông có hoài bão muốn giúp vua làm cho trăm dân no ấm, hạnh phúc nhưng triều đình lúc đấy tranh giành quyền lực, nhân dân rất đói khổ, tất cả ước mơ hoài bão của ông không được xét tới. Vậy nên ông rời bỏ “Chốn lao xao” là điều đáng trân trọng. Ta có thể cảm nhận được ông đã sống rất thanh thản, hòa hợp với thiên nhiên, tận hưởng mọi vẻ đẹp vốn có của đất trời mà không bon chen, tranh giành. Đặt bài thơ vào hoàn cảnh lúc bấy giờ thì bài thơ đã thể hiện rõ nét vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là lối sống tích cực thể hiện rõ thái độ của Bạch Vân cư sĩ.

Như vậy, qua bốn câu thơ đầu của bài thơ “Nhàn” ta đã hiểu rõ được quan niệm sống nhàn và nhân cách của ông, coi thường danh lợi, luôn giữ được tâm hồn thanh cao hòa hợp với thiên nhiên. Quan niệm sống đề cao vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh  Khiêm. Lối sống trong sạch của ông vẫn còn giữ nguyên giá trị trong bài thơ cho đến tận ngày hôm nay.

Bài làm số 4: Vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan dưới triều Lê Mạc. Ông là một người có học vấn uyên thâm. Thơ của ông thường mang chất triết lí và thường viết về thiên nhiên trốn thôn quê dân dã. Bài thơ “Nhàn” là một bài thơ nói về một cuộc sống nhàn hạ, thanh tao, không quỵ lụy ai. Vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện qua những câu thơ:

“ Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao”

Hai câu thơ đầu thể hiện thú vui của cuộc sống nhàn. Cuộc sống nhàn là cuộc sống thuần hậu, giản dị chốn thôn quê như của “một lão nông chi điền”. Mai, cuốc, cần câu là những vật dụng lao động hàng ngày của người nông dân mà nó còn gợi lên nếp sóng thanh bần của nhà nho. “Thơ thẩn” là trạng thái thảnh thơi, vô sự trong lòng không lo sợ, toan tính những lý do cá nhân nào khác. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã rời chốn quan trường náo nhiệt để về với cuộc sống thôn quê dân dã. Một cuộc sống an nhàn, tự tại, tự cung, tự cấp không hề phiền hà, quỵ lụy ai. Không như những “ai kia” đang sống một cuộc sống sung túc, đầy đủ mọi thứ nhưng trong lòng đầy những âu lo, toan tính, đầy những danh lợi. Ông trở về sống một cuộc sống thôn dã, bình dân chốn quê nhà. Song, không chỉ thể hiện về vẻ đẹp của cuộc sống nhàn mà hai câu thơ tiếp theo còn nói lên vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“ Nơi vắng vẻ” ở đây muốn nói đến nơi ít người, không có ai cầu cứu, xin thưa. Nơi đó chỉ có ta với ta, một cuộc sống rất bình yên, thanh bình. “Chốn lao xao”  là nơi quan trường ngoài kia, đông vui và náo nhiệt nhưng đầy những ai đang xin, thưa, cầu cứu, một cuộc sống khá bận rộn. Ông tự nhận mình là kẻ dại, rời chốn quan trường kia để về với cuộc sống thôn quê, dân dã. Ở đây, Nguyễn Bỉnh Khiêm sống một cuộc sống như những người thuần nông, làm gì ăn nấy, tự cung, tự cấp. Cuộc sống nơi đây không giàu sang, phú quý, sung sướng nhưng nó lại là một cuộc sống lặng lẽ, không ồn áo với những bữa cơm bình dị và những vật dụng thân quen. “Người khôn” kia là những vị vua đang sống một cuộc sống có kẻ hầu người hạ, quyền quý mà cao sang. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, nó còn là một cuộc sống đầy phiền hà, đầy toan tính. Nơi đây con người phải luồn cúi, bon chen, phải ẩn nấp, quỵ lụy lẫn nhau về công danh, lợi lộc. Chính vì thế mà cụ Trạng đã chọn cách về sống nơi thôn quê để di dưỡng nhân cách, tâm hồn thanh cao của mình.

Qua bốn câu thơ đầu của bài thơ “Nhàn” chúng ta có thể thấu và thấy được vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là một cuộc sống tự do, tự tại, không phải luồn cúi, bon chen một ai.

Loading…

Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm / 2023

Đề bài: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài làm

Phân tích bài thơ Nhàn – Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Ông đã sáng tác nhiều tác phẩm hay cho nền thi ca nước nhà. Trong đó bài thơ “Nhàn” là một bài thơ vô cùng xuất sắc đã nói lên được nội tâm cũng như tình yêu quê hương đất nước của tác giả Nguyễn Bình Khiêm.

Bài thơ “Nhàn” được lấy ra từ tập thơ nổi tiếng “Bạc Vân quốc ngữ thi” là một tập thơ được tác giả viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật khá nổi tiếng thể hiện cuộc sống thanh nhàn, vui vẻ của tác giả khi trở lại làm một ông lão nông dân vui thú điền viên với mảnh vườn nhỏ của mình. Trong toàn bộ bài thơ “Nhàn” chính là một tâm hồn tràn ngập nhiềm vui và sự thanh thản trong bản thân của tác giả đó chính là tinh thần chủ đạo mà tác giả muốn gửi gắm tới người đọc

Bài thơ chỉ có tám câu nhưng đã nói lên cuộc sống vô cùng bình yên của một người nông dân khi vui thú điền viên với cảnh vườn tược của mình. Mở đầu bài thơ “Nhàn” tác giả đã viết lên hai câu thơ vô cùng giản dị về hình ảnh một ông lão nông dân vui vẻ với công việc cày cuốc của mình.

Một mai một cuốc một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Với điệp thư “Một” được tác giả thể hiện công việc của một người nông dân với công việc của mình. Dù chỉ một mình nhưng trong những câu thơ không hề hiện lên sự cô đơn, lẻ loi mà người đọc cảm nhận được sự ung dung tự tại của tác giả trong từng câu thơ. Một con người vui vẻ với cuộc sống hiện tại của mình, không hề cảm thấy cô đơn hay buồn tủi. Một ông lão nông dân thanh nhà, thoát tục, thể hiện được sự thoát tục trong từng câu chữ. Cuộc sống của tác giả khiến người đọc vô cùng ngưỡng mộ sự ung dung tự tại của tác giả. Một con người dám từ bỏ vinh hoa phú quý quyền cao chức trọng để sống như một người nông dân thật sự. Trong hai câu thơ tiếp theo tác giả đã thể hiện được suy nghĩ của mình trước những điều mà người đời thường suy nghĩ và hướng tới trong cuộc sống. Sự khôn dại của mỗi người đều do suy nghĩ của con người mà ra.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người dến chốn lao xao

Thu ăn măng trung đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Mùa nào tác giả cũng được hưởng những món ăn quê hương giản dị, dù không phải những món cao lương mỹ vĩ đắt tiền nhưng nó lại có ý nghĩa riêng khi mang tới cho người nông dân những niềm vui không nhỏ. Những món ăn có sẵn ở quê nhà, khi mùa xuân thì được tắm trong hồ sen thơm ngát, còn mùa hạ thì tắm ao còn gì thú vị hơn. Cuộc sống của một người nông dân vô lo vô nghĩ, được làm việc cống hiến cho quê hương, khi nhàn rỗi thì được ngắm cảnh đẹp của quê hương mình. Mùa nào thức ấy tác giả đều có những món ăn riêng của mình, không còn phải lo đấu đá chốn quan trường nhiều thị phi, phân chia phe cánh.

Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Trong hai câu thơ kết của bài thơ “Nhàn” tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên được những điều mình suy nghĩ với tác giả phú quý chỉ là một giấc chiêm bao tỉnh dậy là tan biến. Con đường công danh sự nghiệp người ta luôn coi trọng tìm mọi cách giành giật suy cho cùng khi ra đi cũng không mang theo được. Hôm qua khi tác giả còn làm quan quyền cao chức trọng thì nhiều kẻ bợ đỡ xu nịnh, nhưng hôm nay khi tác giả chỉ là người nông dân thì chẳng có ai nhớ tới. Cuộc sống của con người quan trọng nhất là sống thật với chính mình chỉ cần mình sống có ích và vui vẻ không uổng phí cuộc sông của mình vậy là được. Mọi sự tiền bạc phú quý chẳng có ý nghĩa gì.

Phân tích bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm ta thấy được một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn trong con người của tác giả. Bài thơ chỉ có tám câu nhưng đã thể hiện rõ được tâm thế cũng như thái độ sống ung dung của tác giả khi cáo lão hồi hương là một người nông dân vui thú với ruộng vườn quê nhà. Bài thơ “Nhàn” bản thân tựa đề của nó đã nói lên toàn bộ nội dung của bài thơ, nói lên tâm thế của tác giả khi sống cảnh vui thú bình yên nơi quê hương của mình.

Mai Hoàng