Top 16 # Vẻ Đẹp Của Tình Yêu Trong Bài Thơ Sóng / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Cảm Nhận Vẻ Đẹp Tình Yêu Của Tuổi Trẻ Trong Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh / 2023

Cảm nhận vẻ đẹp tình yêu của tuổi trẻ trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ nổi bậc nhất trong nền văn học Việt nam thế kỉ 20. Với nét trẻ trung, dí dỏm hồn nhiên và cởi mở trong từng câu thơ, Xuân Quỳnh đã là một hiện tượng trong nền thơ văn hiện đại thời ấy. Tiêu biểu là bài thơ Sóng được sáng tác ngày 12/9/1967, trong một chuyến đi thực tế ở vùng biển Diên Điền (Thái Bình). Đây là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Xuân Quỳnh. Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào được xuất bản năm 1968. Bài thơ bộ lộ một tâm hồn đắm say, tha thiết hồn nhiên, trong sáng, thủy chung trong tình yêu của Xuân Quỳnh.

“Một hồn thơ tươi và trẻ đầy hứa hẹn”, “một nhan sắc riêng của nhà thơ tình Việt Nam”. Đó chính là những lời bình phẩm dành cho Xuân Quỳnh, một nhà thơ suốt đời cống hiến cho nghệ thuật. Xuân Quỳnh từng là một nghệ sĩ múa, là một nhà báo, từng là biên tập viên một tòa soạn lớn… Nhưng những danh phẩm đó không là gì khi người ta biết đến chị nhiều hơn qua hình ảnh một nhà thơ tình đầy lãng mạn.

Sóng là một hình tượng đẹp của thiên nhiên, đã được nhiều thi nhân mượn để “tả cảnh ngụ tình”, để biểu đạt những sắc tháu tình cảm của mình. “Sóng” có khi gợi cho ta vẻ buồn đau bất tận “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”, hay có khi là những xao động tình cảm trong lòng người “Đưa người ta soa không đưa sang sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng”, mà có khi “sóng” lại là tác nhân chia cách đôi đàng cặp tình nhân đang say tình.

“Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm”. Và hình ảnh “sóng” một lần nữa lại được Xuân Quỳnh mượn hình ảnh để thể hiện cái đặc trưng của tình yêu người con gái. Một hình ảnh để thể hiện sự thiết tha, cao vời, dào dạt và nồng ấm, bền bỉ và vĩnh hằng. “Sóng” và “em” trong bài thơ có một mối quan hệ mật thiết với nhau “sóng” hình ảnh tượng trưng cho tình cảm của “em” người con gái đang chìm đắm trong tình yêu.

Cho nên, đầu bài thơ Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh “sóng” để thể hiện những tính chất của tình yêu. Trạng thái của sóng cùng là trạng thái tâm lí của tình yêu:

Ở đây, ta có thể thấy được những hình ảnh cực đối lập mà nhà thơ đã thể hiện: “dữ dội” và “dịu êm”, “ồn ào” và “lặng lẽ”. Nhà thơ đã nói lên tính đối lập của sóng biển và sóng tình. Sóng vừa dữ dội và vừa dịu êm, vừa ồn ào và lặng lẽ. Tình yêu cũng vậy, có lúc nông nổi mãnh liệt, ào ạt, xô bồ, có lúc lai bình êm, lặng lẽ, mơ màng đi vào chiều sâu của nỗi nhớ và lòng mong đợi.

Một điều nữa tinh ý thì ta có thể thấy, tuy là thể hiện sự đối lập nhưng mà đối lập có trật tự có sắp xếp. Tính từ “dữ dội” và “ồn ào” đều được tác giả để lên đầu trong mỗi câu thơ còn những tính từ mềm mòng, nhẹ nhàng hơn thì được tác giả đặt cuối mỗi câu thơ. Điều này cho ta thấy được tác giả muốn nói lên trong chuyện tình cảm của người con gái thì ban đầu, bề ngoài và sự mãnh liệt, cháy bỏng đam mê nhưng bên trong tâm hồn là một khoảng “không” dành cho sự khát khao, sự bình yên, lãng mạn nhẹ nhàng của tình yêu.

Tác giả không dùng từ “mà” thay cho từ “và” bởi vì từ “và” đã làm rõ lên các tính chất đối lập ấy của tình yêu không tách ra làm hai nửa riêng biệt mà cùng hòa chung làm một. Tình yêu lúc nào mà không có sóng gió. Tình yêu không có sóng gió thì còn gì để người ta khao khát, để ngày đêm mong nhớ. Điều này cho ta thấy sự trải nghiệm sâu sắc về tình yêu của Xuân Quỳnh. Chị cảm nhận về tình yêu bằng cả trái tim, bằng cả tâm hồn mình. Và mỗi con sóng nhỏ đó đều mang một khát khao lớn:

Sông không hiểu nỗi mìnhSóng tìm ra tận bể…

“Sóng” không chấp nhận trong môi trường tù đọng và chật hẹp khi “sông” không hiểu được mình “sóng” sẵn sàng từ bỏ sông, tử bỏ đôi bờ chật hẹp để tìm ra biển rộng bao la, để tìm cho mình một tình yêu đích thực. Tâm hồn người phụ nữ đang yêu cũng vậy, khi đang yêu họ luôn trăn trở, thao thức khám phá bản thân, tìm cho mình một tình yêu đích thực không tầm thường, nhỏ hẹp và cam chịu. Tâm hồn người phụ nữ sẵn sàng thoát khỏi nơi nhỏ hẹp, tầm thường để tìm đến một nơi có trái tim đồng điệu với mình. Ta có thể thấy được cái cảm nhận mới mẻ về tình yêu đã được tác giả trình bày trong 4 câu thơ mà mang lại cho ta bao nhiêu cảm xúc và đồng cảm hơn đối với tình cảm của người phụ nữ. Để rồi từ đó mà nói lên nỗi nhớ của người con gái trước hình tượng sóng:

Tình yêu đến muôn đời là một ẩn số. Tác giả đã mượn hình ảnh sóng để cắt nghĩa cho sự bí ẩn của tình yêu. Giọng thơ trầm lắng như lời thì thầm của tác giả, điệp ngữ “em nghĩ…” tràn ngập sự trăn trở, thao thức và khắc khoải của người con gái trong tình yêu. Câu hỏi tu từ “Từ nơi nào?”, “Từ đâu?” đã gợi tả nên tâm trạng của người phụ nữ suy tư. Đứng trước biển lớn người phụ nữ muốn giải thích nguồn gốc của sóng nhưng bất lực. Từ đó người phụ nữ có sự liên tưởng trừu tượng rất hồn nhiên và bất ngờ.

Nguồn gốc của sóng là một sự huyền bí khó lí giải như nguồn gốc của tình yêu. Tình yêu như sóng biển, như gió đầy bí ẩn làm sao hiểu hết được. Tình yêu là phạm trù rung động của con tim mỗi người. Vì thế câu hỏi căn nguyên về tình yêu là một câu hỏi không ai có thể giải đáp. Ông hoàng của thơ tình còn phải thốt lên “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!”. Thế cho nên sự lo lắng và hoảng hốt tìm câu trả lời của nhà thơ ngày càng dâng trào. Nhưng tất cả sự lo lắng hoảng hốt đó đã làm nên một nét rất con gái dễ thương, ngây thơ và trong sáng. “Em cũng không biết nữa…”. Nhà thơ có một con mắt quan sát rất tinh tế, cảm nhận sóng ở nhiều tầng, nhiều lớp và liên hệ đến bản chất của tình yêu,

Tình yêu gắn liền cùng nỗi nhớ xa cách, khổ thơ bỗng được thêm hai câu nữa thể hiện tâm trạng đang nhớ mong khắc khoải người yêu của tác giả, nỗi nhớ đang chực trào, nỗi nhớ mãnh liệt khôn cùng của sóng. Tình yêu có khi lắng sâu vào tâm hồn con người, có khi được thể hiện tất cả ra bề mặt. Chỉ có những người thật nhạy cảm, có chiều sâu tâm hồn mới có thể hiểu được nó. Nghệ thuật nhân hóa đã được nhà thơ khai thác để ta thấy được mặc dù những con sóng chìm hay nổi thì con sóng nào cũng nhớ bờ ngày đêm thao thức không thể tài nào ngủ được.

Nhịp thơ vẫn dạt dào nhưng đã có đôi chút náo nức, mãnh liệt hơn. “Lòng em nhớ đến anh” một sự thú nhận gây bất ngờ và đầy táo bạo nhưng chân thực, thiết tha. Em nhớ anh cũng như sóng nhớ bờ. Nỗi nhớ ấy như trở thành nỗi nhớ trong tiềm thức chứ không còn là ý thức nữa, nó như ngự trị sâu thẳm trong nỗi tâm hồn. Các thi nhân thường mượn hình ảnh ẩn dụ cho nỗi nhớ của mình Xuân Quỳnh lại thẳng thắn nói lên tiếng nói trong tâm hồn của mình:

Lòng em nhớ đến anhCả trong mơ còn thức

Nỗi nhớ không chỉ là ngày đêm dưới lòng sau hay trên mặt nước nữa mà ngay cả trong cơn mơ nỗi nhớ ấy bao trùm, lại tràn về như con sóng tức tưởi tìm kiếm bờ trong đêm tối. Cách diễn đạt rất độc đáo “trong mơ” nhưng mà nỗi nhớ ấy vẫn “còn thức” . Tức là nỗi nhớ vẫn tồn tại, vẫn hiện diện trong tâm hồn. Nó không hề lắng xuống mà vẫn trào dân mãnh liệt và quay quắt không nguôi.

Thế mới biết nỗi nhớ da diết trong thơ của Xuân Quỳnh là như thế nào. Tình yêu luôn gắn liền với niềm hi vọng. Khi yêu thì người ta luôn sợ sệt rằng tình yêu sẽ tan biến, bị chia sẻ cùng ai đó, hay lãng quên. Từ nỗi nhớ da diết trong tình yêu, Xuân Quỳnh đã khẳng định tấm lòng son sắt thủy chung của mình đối với người yêu. Dẫu anh ở phương nao thì lòng em chỉ hướng đến anh thôi:

Vẫn hình tượng song hành của “sóng” và “em” để nói lên lòng thủy chung về niềm son sắt của tình yêu đôi lứa. Hình ảnh đối lập “phương bắc”, “phương nam”, “ngược”, “xuôi” gợi cho ta không gian xa xôi cách trở. Cách nói tượng trưng cho sự xáo trộn bất thường có thể xảy ra. Nhưng có thể khảng định một điều bất biến không thể thay đổi được đso là tình cảm của em dành cho anh không hề thay đổi dù cho ở nơi nào trên trái đất. Em luôn hướng về “phương anh”.

Nhà thơ đã lấy quy luật của tự nhiên là con sóng đại dương trước sự xô dạt của dòng chảy vẫn trở về bờ khẳng định tình cảm của em trong dòng đời. Sức mạnh của tình yêu cũng giống như sức mạnh và quy luật của sóng: sóng khát khao bờ như em khát khao được có anh. Từ quy luật tự nhiên ấy: mọi con sóng đều tới bờ dù có phải qua muôn ngàn cách trở, Xuân Quỳnh đã thể hiện niềm tin vào tình yêu mãnh liệt và chân chính. Khi có tình yêu chân chính thì tình yêu sẽ cập bến bờ dù cho bao nhiêu sóng gió của cuộc đời:

Nỗi khát khao ấy chính là niềm tin mãnh liệt vào tình yêu chân chính, đích thực của Xuân Quỳnh. Cách nói thật mạnh mẽ thiết tha, thật đằm thắm nhưng cũng giàu nữ tính.

Không gian cho tình yêu cũng thật rộng lớn và thênh thang nhưng phương của “vecto” tình yêu thì luôn hướng về anh. Sắc thái tình yêu thì nhiều nhưng sự chung thủy của người phụ nữ thì chỉ có một phương nó không bao giờ chia lìa, bởi vỉ nó là tình yêu vĩnh cửu.

Như nhà thơ Ta-gor muốn đập tan viên ngọc “thành trăm mảnh”:

Sự tan ra thành trăm mảnh trong Bài thơ số 28 của Ta – go cũng có nghĩa là khao khát tăng dần về tần số của tình yêu. Và tình yêu tăng lên, tăng lên của sự tận tụy, thủy chung. Xuân Quỳnh cũng khao khát “thành trăm con sóng nhỏ” để diễn tả muôn trùng trong tình yêu. Tất cả đều nhận thức về tình yêu vô tận, vô biên và sự cống hiên tất cả cảm xúc của con người cho tình yêu. Cũng là sự khao khát hòa hợp tuyệt đỉnh của con người trong thế giới tâm hồn.

Nói tóm lại trong hình ảnh sóng, ta có thể cảm nhận được sức sống mãnh liệt của tâm hồn người phụ nữ. Xuân Quỳnh đã mạnh dạn bày tỏ những khát khao rung động chân thành của con tim mình đang dào dạt và say đắm trong tình yêu.

Sóng là một tác phẩm thành công vang dội của Xuân Quỳnh. Bài thơ bộc lộ tất cả những cung bậc trong tình yêu, thể hiện tình cảm son sắt, tha thiết, thủy chung, cao thượng cùng bao nỗi nhớ, niềm tin yêu vào tình yêu cao cả không chấp nhận một tình yêu tầm thường và nhỏ hẹp. Khát vọng một tình yêu cao cả không chấp nhận một tình yêu tầm thường và nhỏ hẹp. Khát vọng một tình yêu cao đẹp thủy chung. Phải có một tâm hồn chung thủy thì mới có những vần thơ đẹp và lung linh đến như vậy, Xuân Quỳnh đã góp một hơi thở đắm say, một tiếng sóng đẹp đẽ làm tươi thắm lên cho thi đàn hiện đại Việt Nam.

Phân Tích Vẻ Đẹp Tình Yêu Truyền Thống Và Hiện Đại Trong Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh / 2023

Phân tích vẻ đẹp tình yêu truyền thống và hiện đại trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh

Sóng là bài thơ tiểu biểu của Xuân Quỳnh. Qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh diễn tả cụ thể, sinh động khát vọng tình yêu với những cung bậc tình cảm phong phú và vẻ đẹp tâm hồn củ người phụ nữ trong tình yêu, hồn nhiên chân thật, say đắm nống nàn, đôn hậu, thủy chung. Tình yêu trong “Sóng” vừa mang tính chất tế nhị, kín đáo của truyền thống vừa rất sôi nổi, mãnh liệt hết sức hiện đại.

“Tình yêu mang tính chất truyền thống như tình yêu muôn đời” là những giá trị của tình yêu có từ xưa, được bảo tồn trong cuộc sống hiện đại, trở thành nét đặc trưng về tinh thần, văn hóa của cộng đồng, dân tộc…Đó là tình yêu gắn liền với những đặc điểm cảm xúc, tình cảm có tính quy luật. Đó cũng là quy luật tình cảm thường gặp trong tình yêu của lứa đôi như nhớ nhung, giận hờn, khao khát …

Tình yêu “hiện đại” là tình yêu đề cao cái tôi cá nhân, đề cao những cảm xúc, khao khát mãnh liệt vượt qua những giới hạn. Đó là cá tính mạnh mẽ của người phụ nữ thế kỷ hai mươi bứt phá những nhỏ hẹp đời thường để đến với tình yêu rộng lớn bao la. Hiện đại ở đây gắn liền với quan niệm tình yêu tự do chứ không phải là thụ động như tình yêu truyền thống.

1. Tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ vẫn vẹn nguyên những biểu hiện muôn đời của tình yêu truyền thống.

Tình yêu ấy có nhiều trạng thái biểu hiện, khi lặng lẽ dịu êm, hiền hòa, êm dịu. Đó là chất nữ tính – một phẩm chất di truyền từ ngàn đời ở phụ nữ. Khi lại ồn ào, dữ dội với những ghen tuông, giận hờn vô cớ (cung bậc muôn đời khi yêu). Hai trạng thái cảm xúc ấy “Dữ dội – dịu êm/Ồn ào – lặng lẽ” là đối cực của sóng nhưng cũng là những cảm xúc nội tâm đầy phức tạp, mâu thuẫn nhưng cũng rất thống nhất hài hòa trong tâm hồn của người phụ nữ khi yêu:

Hai trạng thái đối lập này cùng tồn tại trong một thể thống nhất là sóng, khiên sóng luôn dạt dào, không bao giờ đứng yên. Phép nhân hóa “Sóng tìm ra tận bể”gợi liên tưởng sóng như có ý thức, có khát vọng tìm đến cái rộng lớn, bao la. Những đặc điểm này của sóng đã có “từ ngày xưa và ngày sau vẫn thế”, cách nói khẳng định, nhấn mạnh, đây là bản chất muôn đời của sóng.

Cách miêu tả những trạng thái bất thường của sóng gợi lên những khát vọng tình yêu trong tâm hồn đầy bí ẩn của người con gái, khi bồng bộn, sôi nổi, khi kín đáo sâu sắc, vừa đắm say vừa tỉnh táo, vừa nồng nàn, vừa âm thầm, vừa mãnh liệt vừa ngàn lần yếu mềm. Điểm gặp gỡ đồng điệu và kì lạ giữa sóng và nhân vật trữ tình “em” cho thấy sóng chính là ẩn dụ của “em”, của khát vọng tình yêu nhịều thao thức nhưng hạnh phúc vô bờ. Sóng tự ngàn năm vẫn từ sông ra bể, từ giới hạn chật hẹp tới không gian rộng lớn.

Tương tự thế, trái tim người con gái khi yêu cũng tự nhận thức được những biến động khác thường của lòng mình, khao khát vượt ra giới hạn chật hẹp cô đơn của cái tôi cá nhân, tìm đến sự rộng lớn bao la của tình yêu thương giống như hành trình của sóng từ sông ra bể. Hình ảnh ẩn dụ này cũng gợi đến những khát khao, suy tư, trăn trở trong trái tim xôn xao, rạo rực tình yêu của người con gái.

Tình yêu truyền thống không thể thiếu nỗi nhớ thương và sự thủy chung. Nếu thủy chung là thước đo của tình yêu thì nỗi nhớ lại là sức sống của tình yêu:

Khổ thơ trùng điệp hình ảnh những con sóng, gợi nỗi nhớ nồng nàn với nhiều cung bậc. Có khi, mặt biển lớn lao như biển cả, có lúc lại da diết, triền miên với thời gian, ngày đêm không ngủ được, lại có lúc trải rộng thiết tha với không gian phương Bắc, phương Nam và lại có lúc cũng không giấu nổi nỗi khắc khoải như con sóng nổi trên mặt nước. Và đôi khi, nỗi nhớ cũng chìm sâu trong trăn trở, nhớ quay quất trong lòng như con sóng ngầm dưới biển sâu.

Không chỉ “nhớ anh, hướng về anh, nghĩ về anh” tình yêu đã lấp đầy con tim, khối óc, trở thành lẽ sống, trở thành khát vọng của cả cuộc đời. Hình ảnh sóng được nhân hóa mang “tình em” và”nỗi nhớ” của em thật thi vị. Từ cảm “ôi” xuất hiện giữa dòng thơ như một tiếng lòng rung rung giữa niềm nhớ nhung da diết. Nỗi nhớ được diễn tả trực tiếp qua ẩn dụ sóng đã da diết, sóng nhờ bờ đêm ngày, sóng ru, sóng vỗ, sóng vẫn thao thức với thời gian. Nỗi nhớ ấy tự nhiên, hồn nhiên, say đắm nhưng dường như vẫn chưa đủ mà còn được thể hiện trực tiếp qua nỗi nhớ của nhân vật trữ tình “em”:

“Lòng em nhớ đến anhCả trong mơ còn thức”

Cấu trúc thơ thay đổi, cả bài là những khổ bốn dòng, nỗi nhớ lại được diễn tả bằng khổ thơ 6 dòng, đã phơi lộ cái tôi riêng của người nữ sĩ – một nỗi nhớ tràn đầy lòng yêu. Nó nồng nàn, đằm thắm hơn cả nỗi nhớ của sóng với bờ vì nó không chỉ tồn tại trong ý thức, mà dường như còn len lõi vào trong tiềm thức, xâm nhập cả vào trong giấc mơ “cả trong mơ còn thức”.

Nỗi nhớ ấy tạo độ bền cho lòng chung thủy:

Điệp từ “dẫu” như khẳng định bao nhiêu thử thách, khó khăn phải vượt qua dù không gian mở rộng đa chiều “phương bắc phương nam” đầy cách xa trắc trở, dù thiên nhiên trời đất đổi thay “xuôi bắc ngược nam” nhưng nơi nào có “anh”, với”em””hướng về anh một phương” bằng tình yêu thủy chung, duy nhất. Nỗi nhớ ở đây cồn cào, da diết, không thể nào yên, không thể nào nguôi. Nó cuồn cuộn dạt dào như những con sóng triền miên dai diết vô hồi vô hạn. Nhịp thơ trong suốt bài gợi đến nhịp của sóng. Nhưng rõ nhất, sôi nổi nhất, mãnh liệt nhất chính là ở đoạn thơ này. ngược cũng là xuôi. Trái tim tình yêu của em luôn

Đã yêu là tin và người phụ nữ trong tình yêu ngàn đời luôn tin điều đó. Niềm tin ấy đặt vào những con sóng biển. Sóng ở mãi tận giữa vô cùng, gặp muôn ngàn bão tố nhưng cuối cùng “Con nào chẳng tới bờ/Dù muôn vời cách trở” thì cuối cùng em tin tình yêu của chúng ta sẽ đến được cùng nhau.

Qua hình tượng sóng và toàn bộ bài thơ, ta cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu. Đó là sự mạnh bạo, chủ động bày tỏ những khát khao yêu đương mãnh liệt và rung động rạo rực trong lòng mình. Ở đây không còn sự thụ động, chờ đợi (như trong truyền thống) nữa. Nếu “Sông không chịu hiểu mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó, “tìm ra tận bể”, đến với cái cao rộng, bao dung:

“Sông không hiểu nổi mìnhSóng tìm ra tận bể “

2. Tình yêu mà Xuân Quỳnh thể hiện trong bài thơ mang tính hiện đại như tình yêu hôm nay.

Tình yêu hiện đại chính là khao khát tự lý giải bản thân và khao khát được dâng hiến và hi sinh. Khi tình yêu đến có một tâm lí rất tự nhiên và thường tình là ng ta luôn có nhu cầu tự tìm hiểu. Con người đã từng có những khám phá vô cùng kì diệu về tự nhiên nhưng tự hiểu về chính mình lại rất khó. Hiểu mình trong tình yêu lại càng khó hơn bởi tình yêu là một trạng thái tâm lí khác thường, đầy bí ẩn và huyền diệu, nó có những lí lẽ riêng của con tim mà lí trí thông thường không thể lí giải được:

Điệp ngữ “Em nghĩ” diễn tả sự thao thức suy tư của người con gái trước câu hỏi cội nguồn của sóng cũng như câu hỏi cội nguồn của tình yêu. Đó là câu hỏi của muôn đời và muôn người nhưng chưa bao giờ có lời đáp trọn vẹn. Thi sĩ Xuân Diệu, ông hoàng của thơ tình đã phải mượn cảm hứng lãng mạn để lý giải tình yêu đó sao:

Hay Hàn Mặc Tử cũng thế, nhà thơ viết rằng:

“Xin hãy làm thinh chớ nói nhiềuĐể nghe dưới đáy nứơc hồ reoĐể nghe tơ liễu run trong gióVà để nghe trời giải nghĩa yêu”Băn khoăn: Tình yêu bắt nguồn từ đâu?”

Bởi tình yêu là một tình cảm đẹp rất thật nhưng khó nói nên lời, cảm thấy rất rõ nhưng không dễ nắm bắt. Câu hỏi “Gió bắt đầu từ đâu?” không phải không giải thích được nhưng “em cũng không biết nữa” lại là cái lắc đầu nhỏ nhẹ, dễ thương, đầy nữ tính trước những cung bậc huyền bí của tình yêu. Xuân Quỳnh đã nắm bắt được một trạng thái tâm hồn rất chân thật, có tính chung cho mọi lứa đôi và biểu hiện nó thật duyên dáng. Tình yêu cũng như gió trời, sóng bể, cũng tự nhiên, hồn nhiên, bất ngờ và khó hiểu như thiên nhiên. Có thể nói, đây là cách phát hiện tình yêu rất nữ tính, trực cảm, kiểu Xuân Quỳnh.

Trước Xuân Quỳnh, có lẽ chưa ng phụ nữ nào nói về tình yêu bằng những lời thiết tha, nồng nàn cháy bóng như thế. Những khát vọng yêu đương của người con gái trong thơ được bộc lộ mãnh liệt nhưng cũng thật giản dị: sóng chỉ khao khát tới bờ, cũng như “em””anh”. Tình yêu của người con gái ở đây trong sáng, mãnh liệt, thiết tha, giản dị, thủy chung, một tình yêu hết mình và quên mình. Đó là điều rất mới mẻ cả trong đời lẫn trong thơ thời ấy. Khát vọng tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không chỉ da diết khi còn trẻ, mà cả sau này, khi đã nếm trải nỗi đau, thất vọng trong tình yêu thì khát vọng tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh vẫn thiết tha, giàu yêu thương. Trong bài Tự hát (1984) tức là gần những năm cuối đời của Xuân Quỳnh, bà viết: chỉ khao khát tới

Sóng với Xuân Quỳnh không chỉ là biểu tượng của khát vọng tình yêu mà còn là phương tiện để bà bộc lộ những suy tư về cuộc sống, tình cảm:

“Sóng vỗ bờ” là một chân lí tất yêu không gì thay đổi. Trên đại dương mênh mông có biết bao nhiêu con sóng và biết bao nhiêu trắc trở nhưng trăm ngàn con sóng vẫn tới bờ. Thế mà:

Cuộc đời tuy dài nhưng không phải vô cùng, như biển lớn mênh mông nhưng không phải vô tận. Xuân Quỳnh rất nhạy cảm với sự trôi chảy của thời gian, ý thức về thời gian gắn với nỗi âu lo, dù vậy, nhân vật trữ tình trong thơ đã có cách ứng xử tích cực: âu lo nhưng không mấy thất vọng, mà chỉ khao khát nắm lấy hạnh phúc trong hiện tại, sống hết mình, mãnh liệt với tình yêu để vượt qua và chiến thắng sự hữu hạn của thời gian và đời người:

Tan ra để hòa vào biển lớn của tình yêu, biển lớn của hạnh phúc vĩnh hằng. Bởi với Xuân Quỳnh, cách để sống mãi là sống với tình yêu của mình. Ước muốn ấy của bà vừa diệu dàng, đôn hậu, vừa nồng nàn thiết tha. Bài thơ khép lại nhưng hai cặp hình tượng “sóng – bờ, em – anh” vẫn đan cài vào nhau, ngời sáng một vẻ đẹp vĩnh hằng của tình yêu.

Với thể thơ năm chữ linh hoạt, bài thơ có khả năng gợi âm điệu dạt dào, vừa là cái nhịp nhàng của sóng biển, vừa là cái khắc khoải của sóng lòng với nhiều cung bậc cảm xúc. Xuân Quỳnh đã rất tài hoa trong việc ngắt nhịp, phối âm bằng trắc như những nhịp sóng khi dịu êm, khoan thai, khi dồn dập, dữ dội và nó cũng gợi đến những sự khắc khoải của sóng lòng. Phương thức tổ chức ngôn từ, hình ảnh sáng tạo hòa trộn thanh âm, nhịp điệu của sóng với những trăn trở, khát khao, nhớ thương, hờn giận đan xen nối tiếp trong cõi lòng của người con gái khi yêu cũng tạo nên một yếu tố nhạc tính của thơ.

Hình tượng ẩn dụ “sóng” là một sáng tạo độc đáo của Xuân Quỳnh. Nếu trước đó, Xuân Diệu, trong bài thơ Biển đã mượn hình tượng sóng để nói về tình yêu với những khát vọng của “anh”, của người con trai thì “Sóng” của Xuân Quỳnh lại là những khát vọng tình yêu của “em” – của người con gái với những cảm xúc tình cảm phong phú, phức tạp. Ở lớp nghĩa tả thực, hình tượng sóng được miêu tả cụ thể, sinh động với những trạng thái mâu thuẫn, trái ngược nhau. Còn ở lớp nghĩa biểu tượng, sóng như có hồn, có tính cách, tâm trạng, gợi đến sự phong phú trong tâm hồn ng con gái khi yêu – vừa say đắm vừa tỉnh táo, vừa nồng nhiệt vừa âm thầm, lúc sôi mãnh liệt, lúc lại kín đáo, sâu sắc vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa hét sức mới mẻ, hiện đại.

Vẻ Đẹp Tâm Hồn Của Người Phụ Nữ Trong Bài Thơ “Sóng” / 2023

Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong bài thơ “SÓNG” của Xuân Quỳnh

********

Sóng của Xuân Quỳnh trở thành một hiện tượng tiêu biểu trong đó tình cảm của người phụ nữ được cất giấu trong đó. Nổi tiếng là nhà thơ của tình yêu, Xuân Quỳnh không ngần ngại đem tài năng của mình đóng góp cho thi ca việt Nam. Đặc biệt, kho bài thơ Sóng ra đời, nó không chỉ giúp bày tỏ về tâm trạng, tình yêu mãnh liệt của người con gái khi yêu mà còn là khát vọng mãnh liệt của họ. Bằng nhạc điệu, bài thơ là âm điệu của một cõi lòng bị sóng khuấy động, đang rung lên đồng điệu đồng nhịp với sóng biển. Dù xuất hiện đã lâu nhưng cho tới nay mỗi khi đọc lên bài thơ vẫn để lại nhiều dấu ấn cho độc giả.

Những con sóng tiếp nỗi không chỉ là những con sóng thiên nhiên mà còn là những con sóng tình dâng lên mạnh mẽ nhưng lại có lúc cũng êm đềm và sâu thẳm. Sóng mềm mại hiền hòa nhưng cũng ồ ạt mạnh mẽ, con sóng đó là con sóng của thiên nhiên, nhưng khi đưa vào tình yêu con sóng đó là một hình ảnh ẩn dụ. Sắc điệu trữ tình của bài thơ “Sóng” được gợi lên từ hình tượng sóng.

Hình tượng này đã khơi gợi một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, sôi nổi và thông qua đó, Xuân Quỳnh đã có một cách nói rất hay để diễn tả tâm trạng của người con gái khi đang yêu hay đang mong chờ tình yêu. Trạng thái của con  sóng cũng là tâm trạng khi yêu, là khát vọng to lớn, mạnh mẽ về một tình yêu chân thành. Hành trình của sóng từ sông ra đại dương, nó cũng dâng trào và cuồn cuộn như chính tình cảm của những cô gái đang yêu cũng nồng nàn với những nỗi nhớ, nhưng cũng có lúc nỗi nhớ nỗi khát khao ấy lại biến thành một con sóng tình, cuộn xô trong lòng họ.

“Dữ dội và dịu êm ồn ào và lặng lẽ”

“Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể”

Sóng thật mạnh mẽ, chủ động, Sóng muốn tìm tới một nơi mênh mông dạt dào, có đến nơi biển rộng trời cao sóng mới được vẫy vùng, mới thực sự tìm thấy mình trong sức sống mạnh mẽ với những khát khao to lớn. Nó sẵn sàng bỏ đi những thứ không thuộc về nó để đến với những nơi mà tiếng gọi của tình yêu ập tới. Sóng -biểu tượng của tình yêu, chính vì vậy miêu tả sóng biến hoá là cũng để nói lên cái phức tạp, đa dạng, khó hiểu của tình yêu. Cũng giống như sóng biển, tình yêu là một hiện tượng kỳ diệu của con người.

“Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ” 

Để tìm đến với tình yêu đích thực, Sóng tìm đến với biển lớn, sóng tìm đến với những nơi thuộc về nó. Con sóng tìm đến biển, đến đại dương là để tự hiểu mình. Em “khát khao” được đến bên anh, đến với một tình yêu đẹp để hiểu rõ hơn về tâm hồn em về con người đích thực của em. Những câu hỏi của “Em” dường như chỉ để nhấn mạnh “khi nào ta yêu nhau” mà thôi.

“Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau”

Đặc biệt, câu thơ “khi nào ta yêu nhau” đã diễn tả đúng nỗi niềm của những con người đang sống trong tình yêu đẹp. Tình yêu chân thành tha thiết, nhớ bồi hồi triền miên và nó không bao giờ mất đi trong những con tim đang thổn thức. Nỗi nhớ ấy day dứt, choán đầy cả không gian, thấm trong chiều sâu, bề rộng, trải trong chiều dài thời gian:

“Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được”

Thật tự nhiên và thơ mộng, con sóng nhớ bờ nên ngày đêm sóng vỗ, sóng thao thức với thời gian và đại dương. Cũng giống như bên đợi thuyền, thuyền nhớ bến, lúc nào lòng người con gái cũng bồi hồi nhớ thương:

“Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức”

Tới đây tác giả không mượn hình tượng sóng nữa mà nói luôn là “lòng em nhớ tới anh. Cả trong mơ còn thức” Tình yêu là thế, sức mạnh tình yêu lại có một ma lực tới vậy.”Còn thức” tức là lúc nào em cũng nhìn thấy rõ hình bóng anh, ánh mắt anh …. Tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được tới bờ, cũng như anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi.

“Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng nhỏ Con nào cũng tới bờ Dù muôn vời cách trở”

Người con gái đã bày tỏ lòng mình một cách chân thành, say đắm, thắm thiết. Chân thật và thuỷ chung là đặc tính của tình yêu:

“Dẫu xuôi về phương Bắc … Hướng về anh một phương”.

Không những thế hình ảnh sóng còn cho ta thấy “lòng hướng về một phương” của người con gái” chỉ hướng về  phương anh. Sự thủy chung son sắt của người con gái, khát vọng được sống hết mình trong một tình yêu đẹp, sắt son thuỷ chung. Con sóng đó cuối cùng lại nói hộ tác giả nỗi khát khao được sống trọn ven trong tình yêu mãi mãi không cách rời. Sóng muốn hòa mình vào biển lớn cũng giống như em muốn hòa vào anh để thành một. Tình yêu lứa đôi đẹp đẽ, nồng nàn như trăm ngàn con sóng nhỏ giữa đại dương mênh mông, muốn được hoà nhịp vào biển lớn của tình yêu cộng đồng:

“Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ” .

Qua hình tượng sóng cùng với những hình ảnh đặc trưng của nó, hình tượng “sóng” Xuân Quỳnh cho ta thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu. Người phụ nữ luôn muốn sống với tình yêu chân thành, thắm thiết, người phụ nữ muốn sống hết mình, sống trọn vẹn trong tình yêu đẹp. Tình yêu ấy thật nồng nàn, cuộn trào.

Qua bài thơ Sóng ta lại càng hiểu rõ hơn tâm lí tình cảm của những người đang yêu đặc biệt là người phụ nữ. Với mong muốn sống trọn ven được tan ra và hòa vào với tình yêu, tình cảm của họ thật mãnh liệt. Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Một lần nữa bài thơ càng chứng tỏ tài năng của nhà thơ Xuân Quỳnh khi miêu tả chính xác những tâm tư tình cảm của những ngươi đang yêu.

**********

 

Với nhiều người, sóng nước chỉ là một hiện tượng tự nhiên của biển mà thôi. Tuy vậy, nhiều người lại cho rằng đây chính là niềm cảm hứng để họ sáng tạo nghệ thuật. Và quả thực, cũng như những vần thơ về sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh, những tác phẩm của nhiếp ảnh gia người Úc cũng hoàn toàn thuyết phục khán giả khó tính nhất..

Sóng

(Xuân Quỳnh)

Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sóng không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể

 Sóng không hiểu nổi mình. Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ

Nỗi khát vọng tình yêu. Bồi hồi trong ngực trẻ

Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu? Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau

Sóng bắt đầu từ gió. Gió bắt đầu từ đâu? Em cũng không biết nữa. Khi nào ta yêu nhau?

Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Những con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh – một phương

Những con sóng nhớ bờ. Ngày đêm không ngủ được. Lòng em nhớ đến anh. Cả trong mơ còn thức

Ở ngoài kia đại dương Trăm nghìn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dẫu muôn vời cách trở Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa

Trăm nghìn con sóng đó. Con nào chẳng tới bờ. Dẫu muôn vời cách trở?

Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Đễ ngàn năm còn vỗ…

Cũng như nhà thơ Xuân Quỳnh khi viết về Sóng, nhiếp ảnh gia người Úc Matt Burgess tìm thấy vẻ đẹp vĩnh cửu trong những con sóng. Anh đã có hơn 6 năm trời chỉ đi chụp ảnh biển, đặc biệt là những con sóng tuyệt đẹp vào buổi hoàng hôn cũng như lúc bình minh.

Sóng không hiểu nổi mình. Sóng tìm ra tận bể

Không gì đẹp hơn hình ảnh những con sóng dưới ánh sáng lấp lánh của mặt trời trong mắt nhiếp ảnh gia này.

Dữ dội và dịu êm. Ồn ào và lặng lẽ

Burgess đã tạo ra những bức ảnh sống động, đầy màu sắc và hoàn toàn chân thực khiến người xem không khỏi ngỡ ngàng.

Làm sao được tan ra. Thành trăm con sóng nhỏ. Giữa biển lớn tình yêu. Đễ ngàn năm còn vỗ

Thời điểm mà Burgess yêu thích nhất chính là lúc bình minh, khi mặt nước và ánh sáng giao hòa để tạo nên những khung cảnh đẹp.

Những con sóng nhớ bờ. Ngày đêm không ngủ được.

Những bức hình về sóng nước của nhiếp ảnh gia người Úc gây ấn tượng mạnh mẽ cho nhiều người.

Như biển kia dẫu rộng. Mây vẫn bay về xa

Một khoảnh khắc đẹp mê đắm về những con sóng dưới ống kính của Matt Burgess:

Trước muôn trùng sóng bể. Em nghĩ về anh, em. Em nghĩ về biển lớn. Từ nơi nào sóng lên?

Burgess chia sẻ rằng, mối quan hệ của nước và ánh sáng chính là thứ khiến anh yêu thích nhất.

Những con sóng nhớ bờ. Ngày đêm không ngủ được

Được chứng kiến mối tương tác tuyệt vời này chính là điều thôi thúc anh làm việc mỗi ngày.

Làm sao được tan ra. Thành trăm con sóng nhỏ. Giữa biển lớn tình yêu. Để ngàn năm còn vỗ…

Quả thực, những tông màu ấn tượng trong các bức ảnh của Burgress đã làm cho người xem phải mê mẩn và tán thưởng anh.

Như biển kia dẫu rộng. Mây vẫn bay về xa

 Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Đễ ngàn năm còn vỗ…

Hà Phương

Kim Phượng st

Cảm Nhận Vẻ Đẹp Của Tình Đồng Chí Đồng Đội Trong Bài Thơ “Đồng Chí” / 2023

BÀI LÀM VĂN SỐ 1 VẺ ĐẸP CỦA TÌNH ĐỒNG CHÍ TRONG “ĐỒNG CHÍ” – CHÍNH HỮU

Chính Hữu là người lính và cũng là nhà thơ của lính. Thơ ông không nhiều song ấn tượng bởi lời thơ hàm súc, ngôn ngữ, hình ảnh chân thực mà giàu ý nghĩa biểu tượng. “Đồng chí” là tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ. Bài thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp của tình đồng chí của những người lính cách mạng trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp.

Bài thơ “Đồng chí” được Chính Hữu viết năm 1948 trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, khó khăn. Sau chiến dịch Việt Bắc năm 1947, Chính Hữu bị ốm nặng phải nằm lại tại một trạm quân y, đơn vị đã cử người ở lại chăm sóc. Cảm động trước tấm lòng tình cảm của người đồng đội, Chính Hữu đã viết lên bài thơ. Bài thơ đã khắc họa hình tượng người lính cách mạng từ đó làm nổi bật vẻ đẹp của tình đồng chí đồng đội keo sơn, gắn bó của họ.

Trước hết vẻ đẹp của tình đồng chí được thể hiện ở cơ sở hình thành lên tình đồng chí. Cơ sở đầu tiên hình thành nên tình đồng chí là cùng chung cảnh ngộ xuất thân – đều là những người nông dân mặc áo lính:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Lời thơ tự nhiên như lời kể của người lính về quê hương: anh đi lên từ vùng đồng bằng chiêm trũng “nước mặn đồng chua”, tôi đi ra từ vùng “đất cày lên sỏi đá”- vùng trung du miền núi. Quê anh, làng tôi – hai vùng quê cách xa nhau nhưng đều chung nhau cái nghèo khó, lam lũ. Việc sử dụng sáng tạo những thành ngữ tục ngữ đã tạo cho lời thơ mộc mạc tự nhiên như tâm hồn người trai cày nói về quê hương mình. Như vậy, những người lính đều ra đi từ những làng quê nghèo khó, họ đều là những người nông dân mặc áo lính. Chính sự đồng cảnh, đồng giai cấp đã tạo cơ sở ban đầu vững chắc để hình thành lên tình đồng chí.

Cơ sở thứ hai hình thành lên tình đồng chí là cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng. Anh với tôi từ bốn phương trời xa lạ chẳng hẹn mà cùng tụ hội về đây trong quân ngũ của lá cờ cách mạng bởi: “Súng bên súng đầu sát bên đầu”. Câu thơ có hình ảnh chân thực mà giàu ý nghĩa biểu tượng: “súng bên súng” là cùng chung nhiệm vụ cầm súng chiến đấu. “Đầu sát bên đầu” là cùng chung chí hướng, lý tưởng ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc. Cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng đã gắn kết anh tôi với nhau.

Tình đồng chí còn được hình thành từ sự chia sẻ gắn bó trong gian khổ khó khăn:

Câu thơ đầy ắp kỷ niệm của một thời gian khổ khó khăn: những đêm đông lạnh giá chăn không đủ đắp, họ phải chung nhau mảnh chăn mỏng. Tấm chăn sui khép lại đêm đông lạnh giá nhưng mở ra sự gắn bó hiểu nhau như tri kỷ. Cấu trúc anh tôi sống đôi khi ở hai câu thơ khi gộp làm một đã diễn tả quá trình từ xa lạ, quen nhau rồi thành tri kỉ và kết thành: “Đồng chí”. Câu thơ thứ bảy chỉ với hai tiếng và dấu chấm than vang lên như một nốt nhấn thể hiện sự phát hiện về một thứ tình cảm bình dị mà thiêng liêng, mới mẻ của những người lính cách mạng: đồng chí. Câu thơ như bản lề của bài thơ vừa khái quát cảm xúc ở sáu câu thơ đầu, vừa mở ra những biểu hiện ở những dòng thơ tiếp theo. Đồng thời làm nổi bật một quy luật tất yếu: cùng chung cảnh ngộ xuất thân, cùng nhiệm vụ lý tưởng, cùng chia sẻ gắn bó thì sẽ trở thành đồng chí của nhau.

Vẻ đẹp của tình đồng chí còn được thể hiện ở những biểu hiện cụ thể của tình đồng chí. Biểu hiện đầu tiên của tình đồng chí là họ thấu hiểu tâm tư, nỗi lòng của nhau:

” Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đã nhờ người ra lính.”

Những người lính ra đi để lại sau lưng tất cả những gì thân thuộc nhất: ruộng nương, gian nhà, giếng nước, gốc đa. Từ “mặc kệ” đã thể hiện thái độ dứt khoát quyết chí ra đi vì nghĩa lớn. Mặc kệ mà không hề dửng dưng vô tình: họ ra đi nhưng từ trong sâu thẳm người lính vẫn nhớ về quê hương, họ vẫn biết nơi quê nhà ruộng nương vẫn chờ tay người cày xới, gian nhà lung lay trong gió chờ người sửa sang, nơi giếng nước gốc đa có ánh mắt người thân trông ngóng. Đặc biệt hình ảnh nhân hóa ẩn dụ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” đã thể hiện quê hương vẫn nhớ người trai cài ra trận hay người ra trận vẫn nhớ về quê hương. Nỗi nhớ hai chiều càng trở nên da diết. Trong đoạn thơ cấu trúc “anh- tôi” sóng đôi giờ chỉ còn lại anh: nỗi nhớ quê hương trong lòng anh được tôi nói hộ. Tôi nói cho anh hay đó cũng chính là nỗi nhớ quê hương của tôi. Những người lính họ thấu hiểu tâm tư nỗi lòng của nhau.

Tình đồng chí còn được thể hiện ở sự chia sẻ gắn bó trong gian khổ khó khăn của cuộc đời người lính. Anh với tôi cũng chịu những cơn sốt rét từng hành hạ:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.”

Cơn sốt rét từng đã trở thành căn bệnh phổ biến với những người lính trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp ăn uống kham khổ, thiếu thốn thuốc men. Chính Hữu đã gợi tả một cách chân thực: “biết ớn lạnh”, “sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”. Anh với tôi cùng chịu cảnh thiếu thốn:

“Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Chân không giày”

Chính Hữu đã đưa vào trong lời thơ những hình ảnh chân thực về cuộc sống chiến đấu của người lính Cách mạng trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp thiếu thốn đủ bề từ lương thực đến tư trang. Để từ đó người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về anh bộ đội. Cấu trúc “anh – tôi” lại sóng đôi như khẳng định trong gian khổ khó khăn đều có anh có tôi cùng chia sẻ gắn bó.

Trong gian khổ khó khăn người lính cách mạng hiện lên vẫn hiên ngang, lạc quan. Trong gian khổ khó khăn họ vẫn nở nụ cười – nụ cười lạc quan ấm áp xua tan cái giá buốt. Đặc biệt là hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” rất tự nhiên, chân thực nhưng đã thể hiện sâu sắc cảm động tình đồng chí của người lính cách mạng. Họ nắm lấy tay nhau như để động viên nhau, như để truyền cho nhau hơi ấm sức mạnh của tình đồng chí để cùng nhau chắc tay súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Phải chăng tình đồng chí vừa là vẻ đẹp vừa là cội nguồn sức mạnh của người lính cách mạng?

Không những thế vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ còn được thể hiện ở biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí. Với bút pháp hiện thực kết hợp với cảm hứng lãng mạn ba câu thơ cuối đã gợi lên bức tranh cảnh đường đêm khuya thật đẹp:

Trên nền hiện thực khắc nghiệt: đêm khuya, nơi “rừng hoang sương muối” giá buốt, người lính hiện lên với tư thế chủ động hiên ngang “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Chính tư thế thành đồng vách sắt ấy đã làm lu mờ đi mọi gian khổ khó khăn. Phải chăng chính tình đồng chí đã làm lên vẻ đẹp ấy của người lính? Hình ảnh người lính được kết đọng lại qua chi tiết bất ngờ, độc đáo:

“Đầu súng trăng treo” được Chính Hữu nhận ra từ chính những đêm hành quân phục kích chờ giặc của mình và đồng đội. Giữa mênh mông bát ngát của rừng khuya, người lính chắc tay súng canh gác, mũi súng hướng lên trời. Trăng lơ lửng giữa không trung, càng về khuya trăng xuống thấp dần, đến một mức độ nào đó nhìn lên trăng như treo trên đầu ngọn súng. Hình ảnh “đầu súng trăng treo” còn gợi bao liên tưởng thú vị cho người đọc: “súng” là biểu tượng của chiến tranh, của hiện thực, của chất chiến sĩ; “trăng” là biểu tượng của hòa bình, của lãng mạn, của chất thi sĩ. Sự kết hợp của hai hình ảnh tưởng chừng như đối lập nhau mà lại hỏi hòa bổ sung cho nhau để cùng nói về các mặt của người lính và tình đồng chí: vừa chiến sĩ mà lại rất thi sĩ, vừa hiện thực mà lại lãng mạn. Hình ảnh “đầu súng trăng treo” còn nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc kháng chiến: người lính cầm súng chiến đấu bảo vệ hòa bình cho quê hương, đất nước. Nhịp thơ 2/2 như gợi nhịp lắc của cái gì lơ lửng chung chiêng giữa bát ngát mênh mông chứ không thể buộc chặt. Giữa hiện thực khắc nghiệt nhưng tâm hồn người lính vẫn lãng mạn, bay bổng bởi trong lòng họ có tình đồng chí ấm áp. Chính vì vậy “Đầu súng trăng treo” đã trở thành biểu tượng của người lính cách mạng trong văn học kháng chiến và được Chính Hữu chọn làm nhan đề cho tập thơ nổi tiếng của ông.

Với bút pháp hiện thực kết hợp với cảm hứng lãng mạn, ngôn ngữ, hình ảnh chân thực giàu sức gợi, bài thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp của tình đồng chí của những người lính cách mạng trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Bài thơ đã đem đến cho người đọc cảm nhận chân thực về người lính cách mạng trong những năm kháng chiến chống Pháp. Chính vì vậy bài thơ có sức sống mãi trong lòng người đọc.

BÀI LÀM VĂN SỐ 2 VẺ ĐẸP CỦA TÌNH ĐỒNG CHÍ TRONG “ĐỒNG CHÍ” – CHÍNH HỮU

Chính Hữu là một nhà thơ quân đội trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc. Thơ của ông có bề dày về thời gian, tầng cao về cảm xúc, giàu chất hiện thực và vẻ đẹp của người lính Cách Mạng trong kháng chiến. Chính Hữu viết không nhiều nhưng những tác phẩm của ông đều mang hơi thở của thời đại, trong đó có bài thơ “Đồng chí” sáng tác năm 1948. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ với những vẻ đẹp giản dị, sơ khai nhưng có một đời sống tâm hồn, mục đích, lý tưởng cao đẹp, đặc biệt là tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, thắm thiết.

Bài thơ được làm theo thể thơ tự do, 20 dòng thơ với ngôn ngữ bình dị, giọng điệu thơ thủ thỉ, tâm tình, cảm xúc dồn nén, hình tượng thơ phát sáng, có nhiều câu thơ để lại ấn tượng trong lòng bạn đọc. Mở đầu bài thơ là hình ảnh hai người lính trẻ chụm đầu vào nhau kể chuyện tâm tình:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Hai câu thơ đầy ấn tượng về những vùng đất cảnh đời đầy nhọc nhằn, vất vả. Cách nói cô đúc, khắc họa rõ nét những vùng quê nghèo của những người lính. Các anh đến từ những miền quê khác nhau nhưng lại chung cái đói, cái nghèo lam lũ. Chữ nghĩa bình thường mà như đang cựa quậy như cuộc sống thực đã ùa vào trong câu chữ đem đến những cảm nhận sâu sắc về hoàn cảnh xuất thân và quê hương của những người lính. Tổ Quốc gọi các anh lên đường, họ không hẹn mà gặp gỡ ở chiến trường. Nơi đây các anh cùng chung lý tưởng, nhiệm vụ chiến đấu để bảo vệ Tổ Quốc:

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

Tình đầu chí nảy nở bền chặt trong sự chan hòa, chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, đó là mối tình tri kỷ của những người bạn chí cốt mà tác giả biểu hiện bằng một hình ảnh thật cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”

Đêm Việt Bắc thì quá rét, chăn lại quá nhỏ, loay hoay mãi không đủ ấm. Đắp được chăn thì hở đầu, đắp được bên nọ lại hở bên kia. Trong những ngày tháng thiếu thốn ấy, từ “xa lạ” họ trở thành “tri kỷ”.

“Tri kỷ” là những người bạn thân thiết, hiểu rõ về nhau. Vất vả, nguy nan đã gắn kết những người lính trở thành bạn tâm giao gắn bó. Chính Hữu đã từng là một người lính, đã trải qua cuộc đời người lính nên câu thơ bình dị mà có sức nặng tình cảm trìu mến yêu thương đồng đội. Hình ảnh giản dị nhưng cảm động biết bao.

Từ trong tâm khản, họ bỗng bật thốt lên hai từ “Đồng chí!”, đặt cả trong một dòng thơ ngắn gọn mà ngân vang, giản dị mà thiêng liêng. “Đồng chí” với dấu chấm cảm như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm khác nhau vừa mới mẻ lại vừa thiêng liêng. Đồng chí là cùng chí hướng, cùng mục đích, là mối tình tri kỷ nhưng được thử thách, tôi rèn trong gian khổ. Như vậy trong tình đồng chí còn có tình giai cấp, tình bè bạn, tình tri kỷ, mối tình dân tộc của những người vì nước, quên thân để tạo nên sự hồi sinh cho quê hương, dân tộc. Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ nhưng chất chứa dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ 6 câu thơ trước và khởi đầu cho những suy nghĩ tiếp theo.

Từ những cơ sở hình thành tình đồng chí, những biểu hiện cao đẹp đầy xúc cảm ở những câu tiếp theo, Chính Hữu cụ thể hơn vẻ đẹp tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng thắm thiết. Đồng chí trước hết là sự thấu hiểu và chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính”

Hai chữ “mặc kệ” đã lột tả được tinh thần mến nghĩa của những người nghĩa binh nông dân trong thơ Nguyễn Đình Chiểu, tinh thần “Ra đi không vương thê nhi” của các đấng trượng phu xưa, và tinh thần “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” của những người tự vệ thủ đô trong ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Nhưng khi đặt cạnh “Gian nhà không” và “Gió lung lay” thì có gì đó cảm động quá. Người lính không hoàn toàn “mặc kệ” như khẩu khí đâu. Đó là đức hy sinh. Hy sinh những thứ gắn bó để bảo vệ quê hương đất nước. Một đức hy sinh giản dị cảm động lòng người.

Trải qua những ngày gian lao kháng chiến đã ngời lên phẩm chất anh hùng ở những người nông dân mặc áo lính. Cái nhìn hiện thực đã giúp nhà thơ ghi lại được những nét chân thực về cuộc đời đi chiến đấu của người lính:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

Chính Hữu còn ghi lại được những hình ảnh người lính can trường vượt lên vững vàng trên vị trí của mình. Bức tượng đài cuối bài thơ:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.”

Ba câu thơ là bức tranh tuyệt đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ. Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt qua tất cả khắc nghiệt của thời tiết. Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh đẹp nhất vì nó vừa là hình ảnh tả thực, vừa là hình ảnh biểu tượng. Bốn chữ có nhịp lắc của cái gì lơ lửng chông chênh trong sự bát ngát. Suốt đêm vầng trăng ở trên cao thấp dần và có lúc treo lơ lửng trên nền mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng như một người bạn thân thiết, gắn bó. “Súng” và “trăng” gợi ra nhiều liên tưởng thú vị. “Súng” biểu tượng cho chiến đấu, “trăng” biểu tượng cho vẻ đẹp thơ mộng, trong sáng, thanh cao, vĩnh hằng. “Súng” và “trăng”, gần và xa, thực tại và mơ mộng, chiến sĩ và thi sĩ, chất chiến đấu và chất trữ tình. Đây là hình ảnh tượng trưng cho tình cảm trong sáng của người chiến sĩ. Mối tình đồng chí đang nảy nở, vươn cao từ cuộc đời chiến đấu.

Tình đồng chí đồng đội như là sự hội tụ, tập trung tất cả những tình cảm, những phẩm chất của nhũng người lính giản dị, cao quý. Gian lao thử thách khiến tình đồng chí đồng đội thêm keo sơn sâu sắc. Ngược lại, tình đồng chí đồng đội giúp người lính có sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn

Nguồn Internet