Top 14 # Vẻ Đẹp Lãng Mạn Trong Bài Thơ Tây Tiến / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Phân Tích Vẻ Đẹp Lãng Mạn Và Kiêu Hùng Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng / 2023

Tây Tiến trước hết là một bài thơ phong phú từ hình thức đến nội dung, với hai đặc điểm bao trùm là cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng. Những câu đầu bài thơ đã xác định tâm thế:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Tiếng gọi thiết tha về đơn vị cũ vừa cất lên trong tâm tưởng thì dường như trạng thái chơi vơi đã trào dâng choáng ngợp. Được bắt đầu bằng một ngữ cảnh xác định, tất cả những đối tượng của nỗi nhớ đã hội về đầy đủ: Sông Mã (tên địa danh), Tây Tiến (nhiên hiệu đơn vị), rừng núi (địa bàn hoạt động)… để từ đó toàn bộ không gian nhớ được mở ra mạnh mẽ và tự nhiên:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Với bút pháp đặc tả và đối lập mạnh mẽ, bốn câu thơ trên đã mở ra một trường liên tưởng đặc biệt về một không gian núi rừng hoang dã, hiểm trở, đó chính là điều kiện sinh hoạt, cuộc sống của người chiến sĩ. Ngay trong một câu thơ, sự đối lập giữa hoàn cảnh khó khăn và tư thế oai hùng lãng mạn đã song hành:

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Chữ ngửi ở đây rất tài tình! Đặt trong hoàn cảnh của câu thơ: vừa mới dốc lên /khúc khuỷu/dốc /thăm thẳm/heo hút cồn mây đã bất ngờ súng ngửi trời. Có gì như hiên ngang thách thức, bất chấp mọi gian nguy. Không gian của câu thơ biến ảo trong biên độ

và tiết tấu linh hoạt: dốc, thăm thẳm, heo hút, nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống, xa khơi lúc vun vút, lúc khoan thai.

Bốn câu thơ tiếp theo:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

đặc tả về hình ảnh núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ, vừa hiểm trở. Mặc dầu vậy, khi hai câu thơ hạ xuống:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

kết thúc với toàn nhũng thanh bằng thì những khó khăn gian khổ, hiểm trở núi rùng dường như lắng lại, lan tỏa trong nỗi nhớ bây giờ là tình cảm quân dân ấm áp nơi người lính đã dừng chân.

Chính cái điểm dừng của bài thơ là điều kiện cho không gian nỗi nhớ được mở ra theo cung bậc mới mẻ về một Tây Bắc trữ tình, gợi cảm và thấm đậm chất thơ:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Những kỷ niệm gặp gỡ của đoàn quâ

n Tây Tiến với đồng bào Tây Bắc sau những cuộc hành quân vất vả, hiểm nguy hiện về trong nỗi nhớ da diết đến nao lòng. Nếu như ở đoạn thơ trước, Quang Dũng thiên về những hình ảnh gân guốc để diễn tả sự khắc nghiệt của thiên nhiên, địa hình thì ở đoạn này – vẫn là Tây Bắc ấy – được thể hiện qua những nét mềm mại, tinh tế và tài hoa Một Tây Bắc hiện lên mỹ lệ và giàu cảm xúc, với nhũng hội đuốc hoa, xiêm áo, khen.., e ấp, nhạc… hồn thơ, chiều sương, hồn lau, dáng người trên độc mộc, hoa đong đưa., đầy quyến rũ Nỗi nhớ ở đấy mở ra nhiều hướng gắn với nhiều sự kiện, nhưng tất thảy đều bắt nguồn từ cảm xúc mãnh liệt về con người, cảnh vật rất đỗi thân thương.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Trên cái nền hoang sơ và diễm lệ của núi rừng Tây Bắc, hình ảnh người lính Tây Tiến vừa khỏe khoắn, oai hùng vừa trữ tình thơ mộng, ở họ toát lên nét hào hoa lãng mạn, ngay cả sự hy sinh của họ cũng vậy. Vừa đọc đến câu thơ:

Rải rác biên cương mồ viền xứ có cảm giác như thấy lạnh người, nhưng đọc tiếp:

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

câu thơ bỗng lại trở nên gân guốc, xót lắng đau thương. Hình ảnh thơ tả thực, khắc họa sự hy sinh đẹp đẽ và bi tráng của những người lính Tây Tiến. Khó khăn gian khổ, tổn thất là có thực – nhưng qua cách thể hiện của Quang Dũng – những khó khăn gian khổ, tổn thất vô cùng ấy thật lẫm liệt hào hùng – đặc biệt ở phong độ, tư thế của người chiến sĩ.

Bốn câu thơ cuối bài như một sự khái quát nỗi nhớ về Tây Tiến, ở đây, từ về trong Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi đặt sau những Nhạc về Viên Chăn và anh về đất tạo nên âm hưởng và không gian cho nỗi nhớ day dứt khôn nguôi. Bài thơ chuyển động theo một tiết tấu chậm và chắc, dường như mỗi chữ, mỗi hình ảnh đều có sức âm vang. Bút pháp đặc tả kết hợp nhuần nhuyễn với bút pháp so sánh, đối lập và khơi gợi tạo ra một phong cách vừa chắc khỏe vừa trữ tình lãng mạn.

Phân Tích Vẻ Đẹp Lãng Mạn Và Tinh Thần Bi Tráng Của Người Lính Tây Tiến / 2023

– Khái niệm lãng mạn và bi tráng:

+ Lãng mạn: phát huy cao độ trí tưởng tượng phong phú, đưa con người vượt qua mọi khắc nghiệt của hiện thực để đưa tâm hồn con người vươn tới sự lạc quan, tin tưởng vào tương lai phía trước.

+ Bi tráng: là khái niệm chỉ vẻ đẹp vừa đau thương, vừa hào hùng, hào sảng.

2.1. Trước hết, về vẻ đẹp lãng mạn của hình tượng người lính:

a. Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên khắc nghiệt, dữ dội: vực sâu, dốc cao, đèo thẳm…nhưng họ lại thấy thiên nhiên ấy hiện lên thật hùng vĩ nên thơ:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Sài Khao rồi Mường Lát hiện lên trong “sương lấp”, “đêm hơi” vừa như thực như mộng. Đèo cao, đường hành quân quanh co trở thành đối tượng để thưởng lãm, thiên nhiên vừa là đối thủ để vượt qua, vừa là để thưởng thức. Các từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” kết hợp các điệp từ “dốc”, điệp ngữ “ngàn thước”, phép tương phản “lên cao” – “xuống”… càng làm cho bức tranh thiên nhiên Tây Bắc thêm hùng vĩ, tráng lệ. Có thể hình dung địa hình Tây Bắc toàn dốc núi quanh co, điệp trùng, hết lên cao rồi lại xuống thấp, một bên là dốc đá dựng đứng hiểm trở, một bên là vực sâu hun hút, nhìn xuống hay nhìn lên đều rợn ngợp đến chóng mặt.

Qua dốc cao, vực sâu là mưa rừng: ” Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Thiên nhiên nên thơ, trữ tình. Cơn mưa rừng hiếm hoi như trải dài hút tầm mắt tạo nên cảnh tượng “mưa xa khơi” bồng bềnh, ảo mộng. Câu thơ dệt nên bởi những thanh bằng gợi sự yên ả, nhẹ nhàng. Thiên nhiên hoang sơ, nguyên thủy hơn nữa là cảnh một chiều sương:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Ở đây, bằng bút pháp chấm phá tinh tế, cảnh thơ như được phủ lên bằng một màn sương huyền thoại, da diết hồn của ngàn lau…giống như một bức họa cổ. Tây Bắc hiện lên như trong cõi mộng. Bến bờ mênh mang hồn lau. Núi rừng có chút buồn hiu quạnh nhưng lại đẹp đến mơ màng. Thấp thoáng sau bóng lau là “dáng người trên độc mộc” mềm mại, uyển chuyển hòa lẫn trong dáng “hoa đong đưa” tạo nên bức tiểu họa Tây Bắc thơ mộng, giàu chất thơ, chất họa.

b.Tâm hồn người lính hào hoa, lãng mạn

– Vượt qua bao gian khổ, hi sinh, mất mát, tâm hồn người lính thăng hoa, bay bổng trong đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Không khí lễ hội ngập tràn âm thanh và ánh sáng. Đắm mình trong tiếng nhạc điệu khèn, tâm hồn những anh lính trẻ ngất ngây, mê đắm, ngẩn ngơ, sững sờ khi được cùng hòa mình vào dáng son ngọc ngà của những nàng, những em thiếu nữ xinh đẹp của vùng cao Tây Bắc. Mọi mỏi mệt, mọi gian khổ của đoạn đường đã qua dường như tan biến, chỉ còn lại đây là tâm hồn thăng hoa, bay bổng cùng hồn thơ, tiếng nhạc.

– Trong gian khổ, thiếu thốn, mất mát hi sinh, tâm hồn người lính vẫn lạc quan, vẫn mộng mơ về “Hà Nội dáng kiều thơm”:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Giấc mộng lớn của những chàng trai năm ấy ra đi là giấc mộng được trả nợ nước thù nhà, mộng lập công, mộng hòa bình. Còn giấc mơ lãng mạn kia là mơ về những cô bạn gái Hà thành duyên dáng, thanh lịch, những dáng Kiều thơm của một thời tuổi trẻ sôi nổi mà trách nhiệm. Chính mộng mơ là yếu tố lãng mạn, là động lực lớn nhất để người lính vững bước quân hành.

2.2 Cùng với cảm hứng lãng mạn, là tinh thần bi tráng rất Tây Tiến:

a. Trong gian khổ, người chiến sĩ Tây Tiến luôn hiên ngang, bất khuất. Trên nền thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ, người lính xuất hiện với tầm vóc bi tráng, phi thường

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Đoàn quân trông thật kì dị: “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”. Đó là nguyên do của những tháng ngày hành quân vất vả vì đói và khát, là dấu ấn của những trận sốt rét ác tính làm tóc rụng không mọc lại được, da dẻ héo úa như tàu lá. Đối lập với ngoại hình ốm yếu là tâm hồn, tinh thần đầy mạnh mẽ, dũng mãnh. Cách nói “không mọc tóc” là để tả cái ngang tàng của người lính, họ vẫn lạc quan, yêu đời, coi thường gian khổ. Ba từ “dữ oai hùm” gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt, quắc thước hiên ngang. Qua đó ta thấy người lính Tây Tiến vẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp bằng mọi gian khổ.

b. Họ vượt lên trên hoàn cảnh hi sinh, mất mát, gian khổ bằng lý tưởng sống cao đẹp: “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Bốn từ “chẳng tiếc đời xanh” vang lên khảng khái, ngang tàng, pha chút ngạo nghễ của những chàng trai đầu trọc da xanh. Họ nguyện hiến dâng thanh xuân mình cho Tổ quốc, lên đường “không vương thê nhi”, “ra đi đầu không ngoảnh lại”. Họ sẵn sàng chiến đấu vì giấc mộng làm trai thời loạn, xem nợ nước là món nợ lớn của kẻ làm trai. Bởi vậy, hình tượng người lính nổi lên giữa gian khổ, hi sinh càng trở nên lẫm liệt, oai hùng.

c. Sự hi sinh của người lính cũng được bao bọc trong một không khí hoành tráng, trang nghiêm mà thanh thản:

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

– Cách nói “áo bào thay chiếu” là cách nói bi tráng hóa, tráng lệ hóa sự hi sinh của người lính. “Anh về đất” là cách nói giảm, nói tránh đi cái chết làm câu thơ bi mà không lụy. Họ ra đi trong âm thanh của dòng sông như một khúc nhạc chiêu hồn tử sĩ thật dữ dội, bi tráng…Con sông Mã, chứng nhân của lịch sử, bạn đồng hành của Tây Tiến, cũng nhỏ dòng lệ cảm thương lay động cả đất trời, đã gầm lên “khúc độc hành” khúc tráng ca bi hùng rực rỡ nét sử thi “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Tiếng gầm ấy là khúc nhạc bi tráng, khúc nhạc thiêng tiễn đưa người lính về với nơi an nghỉ cuối cùng.

Có lúc sự dữ dội của núi rừng cũng vắt kiệt sức người: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Cái chết đậm chất bi hùng: Chết trong tư thế đẹp ôm chắc cây súng trong tay sẵn sàng chiến đấu không quên nhiệm vụ của người lính. Chết không rời bỏ đội hình đội ngũ, thân xác bỏ lại chiến trường nhưng tinh thần vẫn theo chân đồng đội tiếp tục cuộc chiến đấu. Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hy sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu đổ xuống để xây đài tự do. Vần thơ nói đến cái mất mát hy sinh nhưng không chút bi luỵ thảm thương.

– Chính cảm hứng lãng mạn đã tạo ra ở Quang Dũng cái nhìn mang tính anh hùng ca trước chân dung tinh thần bi tráng của những người chiến sĩ mang một vẻ đẹp tâm hồn, lý tưởng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

– Cảm hứng lãng mạn và sắc thái bi tráng tạo nên chất sử thi đặc biệt của bài thơ. Bức chân dung người lính hào hoa, dũng cảm trên nền hùng vĩ, tráng lệ được tác giả hướng hồn thơ ngưỡng vọng vào một thế hệ anh hùng của thời đại kháng chiến chống Pháp.

Tóm lại, có thể nói hình tượng người lính đã để lại những ấn tượng khó quên cho độc giả bởi hai vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần thái bi tráng. Tất cả làm nên một bức tượng đài về những người chiến sĩ gian khổ, đau thương nhưng hào hoa, hào hùng. Bài thơ gieo vào lòng người đọc những tình cảm yêu thương, ngưỡng vọng về một thời gian khổ, hào hùng của dân tộc.

Đề nghị ghi rõ nguồn khi trích dẫn

Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng. / 2023

Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

– Giới thiệu về Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.

– Giới thiệu về cảm hứng lãng mạn như một nét cảm hứng chủ đạo của bài thơ.

– Giải thích cảm hứng lãng mạn là gì và sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong tác phẩm văn chương:

+ Cảm hứng lãng mạn trong văn học được hiểu là xu thế vươn lên, vượt lên trên thực tại khách quan bằng cảm xúc chủ quan của người nghệ sĩ, thể hiện những khát vọng mạnh mẽ hướng về những vẻ đẹp khác lạ trong thế giới của mơ ước, tưởng tượng, ở tương lai hay quá khứ.

+ Cảm hứng lãng mạn vì thế thường khai thác những đề tài như thiên nhiên, tình yêu, tôn giáo, hồi tưởng, kỉ niệm,… đồng thời đi tìm cái đẹp trong những cái khác lạ, phi thường, độc đáo, vượt lên những cái tầm thường, quen thuộc của đời sống hằng ngày. Nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của tưởng tượng, liên tưởng, cảm hứng lãng mạn cũng thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương, phóng đại, thủ pháp tương phản, ngôn ngữ giàu tính biểu cảm và tạo được ấn tượng mạnh mẽ.

– Sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng: Cần phân tích cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến trên hai phương diện: nội dung cảm hứng (nỗi nhớ về một thời chiến chinh gian khổ, nhiều mất mát hi sinh nhưng cũng thật hào hùng; hình tượng thiên nhiên; hình tượng người lính Tây Tiến); nghệ thuật thể hiện (bút pháp tương phản trong việc thể hiện hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống và chất thơ từ chính cuộc sống đó, tính chất bi tráng của hình tượng người lính, giọng điệu trữ tình và bi tráng của tác phẩm,…).

+ Vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người: địa hình gập ghềnh, hiểm trở với núi cao, vực thẳm, sông sâu; thiên nhiên hoang sơ, bí ẩn nhưng cũng toát lên vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng, trữ tình với tất cả vẻ quyến rũ, làm say lòng người.

+ Vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến: những khó khăn, thử thách không ngăn được bước chân người lính vốn là những chàng trai Hà Thành hào hoa, tinh tế; những nét bi thương “không mọc tóc,”, “mổ viễn xứ”,… là những âm trầm trong bản hùng ca về những con người “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

– Nhận xét, bàn luận về ý nghĩa, giá trị của sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến:

+ Cảm hứng lãng mạn và giá trị của bài thơ Tây Tiến: Cảm hứng lãng mạn giúp tác giả khắc hoạ vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, sự hi sinh bi tráng của người lính Tây Tiến cùng vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên miền Tây, tạo nên một tác phẩm độc đáo trong thơ ca thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.

+ Cảm hứng lãng mạn và sự thể hiện phong cách của tác giả: nét hồn nhiên, tinh tế, vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng.

Cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về vẻ đẹp của cảm hứng lãng mạn trong bài thơ (có thể so sánh với một số bài thơ ra đợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp).

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Cảm Hứng Lãng Mạn Và Tinh Thần Bi Tráng Trong Bài Thơ Tây Tiến / 2023

Nhà thơ Trần Lê Vân, người bạn thân, đã từng sống nhiều năm, từng in thơ chung với Quang Dũng viết về hoàn cảnh Quang Dũng sáng tác bài thơ như sau:

” Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về thành lập trung đoàn 52. Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà đông cũ _ T.Đ.X) anh biết bài thơ “Tây Tiến”

Muốn hiểu được bài thơ Tây Tiến, trước hết cần phải có những hiểu biết về đoàn quân Tây Tiến cùng với điạ bàn hoạt động cuả nó.

Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đó là một đơn vị thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào_Việt, đánh tiêu hao địch ở Thượng lào để hỗ trợ cho cuộc kháng chiến ở những vùng khác trên đất Lào. Điạ bàn hoạt động cuả đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Thượng Lào: từ Châu Mai, Châu Mộc sang tận Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hoá. những nơi này lúc đó còn rất hoang vu và hiểm trở, nuí cao, sông sâu, rừng dầy, nhiều thú dữ.

Những người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả những học sinh, sinh viên (Quang Dũng thuộc số này). Sinh hoạt cuả những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, ốm đau không có thuốc men, tử vong vì sốt rét nhiều hơn là vì đánh trận. Tuy vậy, họ vẫn sống rất lạc quan và chiến đấu dũng cảm. Vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt cuả chiến tranh và hoàn cảnh sống cực kì gian khổ, họ vẫn giữ được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, rất yêu đời và cũng rất lãng mạn.

Bài thơ “Tây Tiến” có 2 đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở “cái tôi” đầy tình cảm, cảm xúc cuả nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng rộng rãi những yêú tố cường điệu và phóng đại, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và cái tuyệt mĩ.

Thiên nhiên Tây Bắc qua ngòi bút lãng mạn cuả Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vưà đa dạng vưà độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Hình ảnh những cô gái, những con người Tây Bắc càng tô đậm thêm chất huyền bí, thơ mộng cuả núi rừng. Chất lãng mạn được thể hiện chủ yếu ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẵn sàng xả thân, hi sinh tất cả cho lí tưởng chung cuả cộng đồng, cuả toàn dân tộc.

“Tây Tiến” không hề che giấu cái bi. Nhưng bi mà không bi lụy. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng. Chất lãng mạn hoà hợp với chất bi tráng, tạo nên vẻ đẹp độc đáo cuả bài thơ. Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian:

Nỗi nhớ đơn vĩ cũ trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể cuả nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, sông sâu, vực thẳm, rừng dầy v.v… liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau:

Khổ thơ này là một bằng chứng “thi trung hữ hoạ” ( trong thơ có hoạ). Chỉ bằng 4 câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút cuả núi rừng Tây Bắc, điạ bàn hoạt động cuả đoàn quân Tây Tiến. Hai câu thơ đầu, những từ đầy giá trị tạo hình “khúc khủyu”, “thăm thẳm”, “cồn mây”, “súng ngửi trời” đã diễn tả thật đắc điạ sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời cuả núi đèo Tây Bắc. Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vưà ngộ nghĩnh, vưà có chất tinh nghịch cuả người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn “heo hút”.Người lính trèo lên những ngọn nuí cao dường như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thứ 3 như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm.

Nếu như câu thứ ba nhìn lên và nhìn xuống thì câu thứ tư là nhìn ngang. Có thể hình dung cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng mưa núi thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giưã biển khơi. Bốn câu thơ này phối hợp với nhau, tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét vẽ rất mềm mại (câu thứ tư toàn thanh bằng). Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội hoạ: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu lại, như xoa mát cả khổ thơ.

Cái vẻ hoang dại dữ dội, chưá đầy bí mật ghê gớm cuả nuí rừng Tây Bắc được nhà thơ tiếp tục khai thác. Nó không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cả chiều thời gian, luôn luôn là mối đe doạ khủng khiếp đối với con người.

Vậy là cảnh núi rừng Tây Bắc hoang sơ và hiểm trở, qua ngòi bút Quang Dũng, hiện lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ v.v… những tên đất lạ Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, những hình ảnh đầy giá trị tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả và nhọc nhằn được xoa dịu bằng những câu thơ có nhiều vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình lên thế giới khác thường vưà đa dạng, vưà độc đáo cuả núi rừng Tây Bắc. Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:

Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt suối, lội đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm luá nếp ngày muà xua tan vẻ mệt mỏi trên gương mặt những người lính, khiến họ tươi tỉnh hẳn lên. Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áo, chuẩn bị tâm thế cho người đọc bước sang đoạn thơ thứ hai.

Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác cuả Tây Bắc. Cảnh núi rừng hoang vu, hiểm trở, dữ dội lùi dần rồi khuất hẳn để bất ngờ hiện ra vẻ mĩ lệ, thơ mộng, duyên dáng cuả miền đất này. Những nét vẽ táo bạo, khoẻ, gân guốc ở đoạn thơ đầu, đến đoạn thơ này được thay bằng những nét mềm mại, uyển chuyển, tinh tế. Và ngòi bút tài hoa của Quang Dũng cũng được bộc lộ rõ nhất trong đoạn thơ này. Hồn thơ lãng mạn cuả Quang Dũng bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn cuả con người và cảnh vật nơi xứ lạ, phương xa.

Cảnh ấy, người ấy được thể hiện lên trong một thời gian làm nổi rõ nhất vẻ lung linh, huyền ảo cuả nó: cảnh một đêm liên hoan lưả đuốc bập bùng và cảnh một buổi chiều sương phủ trên sông nước mênh mang. Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ cuả những người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi tiết rất thực mà cũng rất mộng, rất ảo:

Cả doanh trại “bừng sáng”, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu. Trong ánh sáng lung linh cuả ngọn lưả đuốc trong âm thanh réo rắt cuả tiếng khèn, cả cảnh vật, cả con người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực. Hai chữ “kìa em” thể hiện một cái nhìn vưà ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vưà mê say, vui sướng. Nhân vật trung tâm, linh hồn cuả đêm văn nghệ là những cô gái nơi núi rừng tây bắc bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy vừa e thẹn, vưà tình tứ trong một vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ đã thu hút cả hồn viá những chàng trai Tây Tiến. Nếu cảnh một đêm liên hoan đem đến cho người đọc không khí mê say, ngây ngất thì cảnh sông nước Tây Bắc lại gợi lên được cái cảm giác mêng mang, mờ ảo:

Không gian dòng sông trong một buổi chiều giăng mắc một màu sương. Sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử. Trên dòng sông đậm màu sắc cổ tích, huyền thoại ấy, nổi bật lên dáng hình mềm mại, uyển chuyển cuả một cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc. Và như hoà hợp với con người, những bông hoa rừng cũng “đong đưa” làm duyên trên dòng nước lũ. Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi, vậy mà cảnh vật thiên nhiên xứ sở qua ngoài bút cuả ông như có hồn phảng phất trong gió, trong cây. Ông không chỉ làm hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp cuả thiên nhiên mà còn gợi lên cái phần thiêng liêng cuả cảnh vật. Đọc đến đoạn thơ này ta như lạc vào thế giới cuả cái đẹp, thế giới cuả cõi mơ, cuả âm nhạc. Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên tự tâm hồn ngây ngất, say mê cuả những người lính Tây Tiến. Hơn ở đâu hết, trong đoạn thơ này, chất thơ và chất nhạc hoà quyện với nhau đến mức khó mà tách biệt. Trên cái nền hùng vĩ, hiểm trở cuả núi rừng và duyên dáng, thơ mộng, mĩ lệ cuả Tây Bắc, đến đoạn thơ thứ ba, hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến xuât hiện với một vẻ đẹp đầy tính chất bi tráng:

Quang Dũng đã chọn lọc, đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất cuả những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể đặng khái quát được cái gương mặt chung cuả cả đoàn quân. Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yêú cuả bức tượng đài, chúng hoà quyện, xâm nhập vào nhau, nương tựa, nâng đỡ nhau, tạo nên vẻ đẹp bi tráng – cái thần thái chung cuả cả bức tượng đài. Thơ ca thời kháng chiến chỉ viết về người lính thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo. Chính Hữu trong bài “Đồng chí” đã trực tiếp miêu tả căn bệnh ấy:

Còn Tố Hữu, khi vẽ chân dung anh vệ quốc quân trong bài “Cá nước” với những hình ảnh thật cụ thể:

Cũng không quên ảnh hưởng cuả thứ bệnh quái ác đó. Quang Dũng trong Tây Tiến không hề che giấu gian khổ, khó khăn, những căn bệnh hiểm nghèo và sự hi sinh lớn lao cuả người lính. Chỉ có điều, tất cả những cái đó, qua ngoài bút của ông, không được miêu tả một cách trần trụi mà qua một cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn. Những cái đầu không mọc tóc cuả người lính Tây Tiến đâu phải là hình ảnh li kì, giật gân, sảnh phẩm cuả trí tưởng tượng biạ đặt cuả nhà thơ mà chưá đựng một sự thực nghiệt ngã. Những người lính Tây Tiến người thì cạo trọc đầu để thuận lợi tiến khi đánh nhau giáp lá cà với địch, người thì bị sốt rét đến rụng tóc trọc đầu.

Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét cuả những người lính, qua cái nhìn cuả Quang Dũng vẫn toát lên cái oai phong dữ dằn cuả những con hổ nơi rừng thiêng. Cái vẻ oai phong, lẫm liệt ấy còn được thể hiện qua ánh mắt giận dữ “mắt trừng gửi mộng” cuả họ. Những người lính Tây Tiến, qua ngòi bút cuả Quang Dũng, không phải là những người khổng lồ không tim. Cái nhìn nhiều chiều cuả Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng dữ dằn bề ngoài cuả họ, là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khao khát yêu đương (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm).

Như vậy, trong khổ thơ này, Quang Dũng đã tạc nên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc hoạ dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ cuả họ. Ngòi bút cuả Quang Dũng khi dựng lên hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng cuả ông mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh cuả lí tưởng, cuả tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà cái bi thương được gọi lên qua hình ảnh cuả những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi, một mặt đã được giảm nhẹ đi nhiều nhờ những từ Hán Việt cổ kính, trang trọng: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” mặt khác, chính cái bi thương ấy cũng lại bị mờ đi trước lí tưởng quên mình, xả thân vì tổ quốc cuả những người lính Tây Tiến (Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh).

Những người lính tây Tiến tiều tụy, tàn tạ trong hình hài nhưng vẫn chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng dấp cuả những người tráng sĩ thuở xưa, coi nhẹ cái chết tựa lông hồng. Cái sự thật bi thương: những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có cả đến manh chiếu để che thân, qua cái nhìn cuả Quang Dũng, lại được bọc trong những tấm áo bào sang trọng. Cái bi thương ấy vợi đi nhờ cách nói giảm “anh về đất” và rồi bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội cuả dòng sông Mã:

Trong cái âm hưởng vưà dữ dội, vừa hào hùng cuả thiên nhiên ấy, cái chết, sự hi sinh cuả những người lính Tây Tiến không bi lụy mà thấm đẫm tinh thần bi tráng. Giọng điệu chủ đạo cuả đoạn thơ thứ ba này sang trọng, thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn cuả nhà thơ trước sự hi sinh cuả đồng đội. Bài thơ khép lại bằng bốn câu thơ, một lần nữa, tô đậm thêm không khí chung cuả cái thời Tây Tiến, tinh thần chung cuả những người lính Tây Tiến. Nhịp thơ chậm, giọng thơ buồn, nhưng cái linh hồn cuả đoạn thơ thì vẫn toát lên vẻ hào hùng:

Cái tinh thần ” nhất khứ bất phục hoàn” thấm nhuần trong tư tưởng và tình cảm cuả cả đoàn quân Tây Tiến. Tâm hồn, tình cảm cuả những người lính Tây Tiến vẫn gắn bó máu thịt với những ngày Tây Tiến, những nơi mà Tây Tiến đã qua. “Tây Tiến muà xuân ấy” đã thành một thời điểm một đi không trở lại. Lịch sử dân tộc không bao giờ lặp lại cái thời thơ mộng, lãng mạn, hào hùng đến nhường ấy trong một hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt đến như vậy.

Nguồn Edufly