Top 4 # Vẻ Đẹp Ngôn Từ Trong Bài Thơ Tây Tiến Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Thơ Ca Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Trong bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng đã sử dụng rất nhiều câu từ tạo nên 1 bức tranh tuyệt đẹp về thiên nhiên, về con người​

Trong bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng đã sử dụng rất nhiều câu từ tạo nên 1 bức tranh tuyệt đẹp về thiên nhiên, về con người​

Thơ ngân lên từ điệu hồn cảm xúc. Nhưng để thơ có thể cất cánh và đậu khẽ vào lòng bạn đọc, đòi hỏi người nghệ sĩ phải dụng công trong việc sáng tạo ra “một miligam quặng chữ”. Ngôn ngữ thơ không phải lời ăn tiếng nói hằng ngày, càng không phải thứ ngôn ngữ khô khan, thiếu sức sống. Nó vừa phải có hình, có tiếng, vừa phải có xúc cảm và sự tinh tế để vừa vặn trong tâm trạng nhân vật trữ tình. Cho nên với mỗi áng thơ, ngôn ngữ là một vẻ đẹp, là nghệ thuật đòi hỏi người nghệ sĩ phải vất vả, phải tâm huyết để làm ra những vần thơ hay. Thấu hiểu điều đó, Quang Dũng – một nhà thơ chiến sĩ trẻ tuổi đã dùng ngòi bút của mình viết nên những dòng thơ độc đáo, với cách sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh tinh tế để tạo nên bức tranh muôn màu trong thi phẩm “Tây Tiến”. Bài thơ là sự kết tinh của tài năng trong cách sử dụng ngôn ngữ của ông. Bài viết sau đây là sự cảm nhận về những vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ ca trong “Tây Tiến”, để khẳng định và ngợi ca những giá trị đẹp đẽ mà bài thơ đã để lại cho đời sau.

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 VẺ ĐẸP NGÔN NGỮ THƠ CA TRONG BÀI THƠ “TÂY TIẾN” Trong “Nghĩ về nghề viết”, Chế Lan Viên nói:

“Hình thức cũng là vũ khí

Sắp đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lí”

Chính vì vậy mà khi viết nên một tác phẩm, tác giả vẫn thường để tâm đến hình thức thơ để làm cho bài ca của mình thêm đẹp và đặc sắc. Thấu hiểu điều đó, nhà thơ Quang Dũng đã dùng tài năng của mình để mài giũa từng câu chữ trong “Tây Tiến”, để vẻ đẹp ngôn ngữ thơ góp phần làm nên sự thành công trong tác phẩm và để lại trong lòng người đọc bao ấn tượng.

Có người từng ví hình thức của một tác phẩm như sắc đẹp của người con gái, không phải là yếu tố quyết định nhưng là yếu tố đầu tiên gây thiện cảm, gợi chú ý, làm quen để làm thân, gợi mối trăm năm bền chặt. Hình thức thơ, điển hình là ngôn ngữ thơ có tính thẩm mĩ thể hiện tài năng của tác giả, là yếu tố tạo nên phong cách. Cho nên với bài thơ “Tây Tiến”, ngôn ngữ thơ ấn tượng đã làm nên sức hút cho bài thơ, khiến người đọc muốn trông nhìn và thưởng thức, đồng thời làm nổi bật tài năng của nhà thơ chiến sĩ. Có lẽ nét nổi bật nhất trong nghệ thuật ngôn từ ở đây là cách sử dụng từ láy – một thủ pháp nghệ thuật đậm đà tính dân tộc:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Hai câu thơ là lời biểu đạt của nỗi nhớ, nhưng nếu nỗi nhớ ấy chỉ được thể hiện bằng từ “nhớ nhung” thì thật tầm thường và chưa đủ. Chỉ bằng từ láy “chơi vơi” với vần “ơi” có độ mở lớn khiến nỗi nhớ bị kéo dài ra vô hạn.Trạng thái lơ lửng, bồng bềnh của nỗi nhớ cộng hưởng với cảm xúc nồng nàn trong tâm trí đã tạo nên một nỗi nhớ “chơi vơi” có một không hai trên thi đàn. Đó là nỗi nhớ ăm ắp, mơ hồ, khỏa lấp cả không gian và thời gian, khiến tâm hồn người chiến sĩ cũng bồng bềnh và nương theo nỗi nhớ. Có lẽ cung bậc ấy trong nỗi nhớ của Quang Dũng đã gặp gỡ với nỗi tương tư của Xuân Diệu:

“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”

(Tương tư chiều)

Như vậy là chỉ với từ láy “chơi vơi”, nỗi nhớ của Quang Dũng đã ngân lên với cung bậc thật khác lạ, không giống nỗi nhớ của người con gái trong “Khăn thương nhớ ai”, cũng không giống với nỗi nhớ tha thiết của Tố Hữu trong “Việt Bắc”. Đó là một nỗi nhớ vừa man mác, mơ hồ vừa xuyến xao, bao trùm cả núi rừng Việt Bắc, xuyên qua bức mây mù Pha Luông, đọng lại trong tâm trí người lính.

Nỗi nhớ đó mang người chiến sĩ kí ức về một thời hành quân gian khổ:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

Từ láy “khúc khuỷu, thăm thẳm” đã khắc tạc con đường cheo leo, hiểm trở, đầy thử thách của cuộc hành quân. Các từ láy khiến giọng thơ trở nên gân guốc, điệu thơ mệt nhọc rất hợp với việc diễn tả sự hùng vĩ của thiên nhiên cũng như sự khắc nghiệt của những cung đường Tây Bắc. Nhờ chúng mà nỗi khó khăn, gian nan của người lính được ngụ ý một cách sâu sắc, làm nổi bật ý chí chiến đấu anh hùng cả người lính. Không gian núi rừng miền Tây còn được đặc tả qua từ láy “heo hút”, gợi một không gian xa xôi, vắng vẻ, quạnh hiu và lạnh lẽo. Nếu như con dốc đi lên cực kì hiểm trở và gập ghềnh, thì không khí ở đó lại mang dáng vẻ âm u, hẻo lánh của địa đầu tổ quốc. Mây không còn là áng phiêu du mộng mơ mà càng làm cho không gian trở nên mờ mịt, nổi bật nét đặc trưng của vùng cửa ải xa xôi: “Mặt đất mây đùn cửa ải xa.” Chỉ với vài từ láy giàu sức gợi hình và gợi cảm, Quang Dũng đã đặc tả không gian thiên nhiên nơi núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ, ảo huyền vừa gian nan, đầy thử thách. Chúng như thách thức tinh thần những người lính trẻ trong cuộc trường chinh vạn dặm. Thế nhưng thiên nhiên dẫu có dữ dội vẫn biết cách làm duyên theo vẻ đẹp nên thơ nơi núi sâu rừng thẳm: “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Phải là “đong đưa” chứ không phải “đung đưa” – bởi “đung đưa” chỉ gợi hình còn “đong đưa” còn gợi cảm. Những bông hoa rừng la đà theo gió, làm duyên cùng nước, những đóa hoa đã sống trọn kiếp mình làm duyên làm dáng với dòng nước hay chính là sự tình tứ, đa tình của những người trẻ? Từ láy giàu chất gợi cảm đó như khơi sâu vào vẻ đẹp tâm hồn của người lính: hành trình hành quân ra trận không chỉ có gian nan, đó còn là nơi người lính bày tỏ nét đa tình và hào hoa của mình qua từng điệu nhạc, từng lời ca tiếng hát, từng nhành hoa nhỏ mà duyên dáng và phong tình. Những từ láy khiến giọng thơ trở nên uyển chuyển, giàu chất thơ, khiến bài thơ như một khúc hát, khúc ca của tuổi trẻ, khúc hát của người lính năm xưa.

Ngôn ngữ thơ Quang Dũng không chỉ giàu chất tạo hình, không chỉ gợi cảm mà còn là sự sáng tạo độc đáo của riêng nhà văn. Đó là khi ta phát hiện trong bài thơ có sử dụng những cụm từ rất mới lạ: “súng ngửi trời” – một góc nhìn rất lính, rất lạc quan của họ mà ta đã từng bắt gặp trong thơ Hồng Nguyên: “Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau”. Bằng cảm nhận rất thơ của một người trẻ, người lính thấy đầu mũi súng như chạm đến trời cao, họ như đang được đứng trên đỉnh đầu tổ quốc để bảo vệ và canh giữ đất trời. Ngay khi nói đến sự hi sinh, Quang Dũng cũng sử dụng những cụm từ rất mới lạ: “không mọc tóc”, “bỏ quên đời”, “quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Nét đẹp trong tâm hồn người lính trẻ không chỉ có vẻ hào hoa phong tình của những cậu thanh niên mới lớn, đó còn là phong thái và cốt cách của một anh bộ đội cụ Hồ không màng gian khó, không ngại hi sinh để xông pha ra chiến trường. Cho nên dẫu có phải hứng chịu những trận sốt rét rừng đến vàng da rụng tóc, phải đắp cho mình một manh chiếu để đi về với đất, họ vẫn ngang tàng và ngạo nghễ trước sự hi sinh. Cách nói độc đáo biến họ trở thành những dũng sĩ, anh hùng trong thời chiến, sánh ngang với Đăm Săn, Xinh Nhã trong sử thi cổ đại, để họ viết nên một áng thiên hùng ca anh hùng.

Để tạo vẻ trang trọng cho sự hi sinh của những người con bước ra từ trận chiến, nhà thơ đã vô cùng tinh tế khi sử dụng một loạt các từ Hán Việt: “biên cương, viễn xứ, chiến trường, áo bào”:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Những từ Hán Việt được sử dụng trong đoạn thơ không biến đoạn thơ trẻ nên khó hiểu mà ngược lại, làm tăng thêm không khí trang trọng, vẻ đẹp thiêng liêng, giọng trầm hùng bi tráng cho sự hi sinh của người lính, biến những nấm mộ vô danh thành mộ chí vĩnh hằng. Cách nói mĩ lệ đó đã biến sự hi sinh trở thành một khúc ca bi tráng, thành ra đằng sau người lính lại thấp thoáng những chiến tướng “Ra đi không vương thê nhi”, chẳng hẹn ngày về. Họ là những con người đẹp nhất của thế kỉ XX, là người đã viết nên lịch sử cho cả một thời đại hào hùng.

Như vậy, người ta thường nói thành công của thơ ca phụ thuộc phần nhiều vào khả năng biểu đạt ngôn ngữ. Với cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo và rất đặc sắc, nhà thơ Quang Dũng đã thổi hồn vào từng câu chữ, biến bài thơ thành nghệ thuật ngôn từ. Đằng sau những lời thơ đó là tài năng nghệ thuật của nhà thơ cũng như sự dụng công trong hành trình sáng tạo nghệ thuật. Xét cho cùng, thơ hay phải là thơ giàu tình cảm, nhưng để biểu đạt tình cảm thì cần đến ngôn ngữ thơ đặc sắc. Quang Dũng đã làm tròn trách nhiệm của thơ ca, biến bài thơ trở thành một khúc tráng ca về binh đoàn Tây Tiến.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng những âm vang của thời đại vẫn hiện lên trong những lời thơ đặc sắc. Bằng nghệ thuật ngôn từ độc đáo, thi sĩ Quang Dũng đã in dấu ấn vào thời gian, vào lòng người một áng thơ bất hủ, làm nên thiên anh hùng ca của một thời đại anh hùng. -Minh Anh-

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 PHÂN TÍCH VẺ ĐẸP NGÔN NGỮ TRONG BÀI THƠ “TÂY TIẾN”

Giả Đảo thời Đường đã từng chiêm nghiệm:

“Nhị cú tam niên đắc

Nhất ngâm song lệ lưu”

(Hai câu làm mất ba năm

Một ngâm, lã chã hai hàng lệ rơi)

Làm được những câu thơ vừa ý mình chưa bao giờ là đơn giản với một nhà thơ, vừa ý người đọc lại càng là chuyện khó khăn. Ấy thế mà, vẫn có những bài thơ tuyệt bút có thể khiến “kinh nhân”, xao xuyến mãi không thôi. Với vẻ đẹp ngôn ngữ, “Tây Tiến” là một bài thơ như thế.

Người ta thường nói: Thơ ca bắt rễ nơi lòng người nhưng nở hoa nơi từ ngữ. “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” (M.Gorki) để người đọc có thể tiếp cận và sống cùng với tác phẩm. Bởi thế, việc sáng tạo ngôn từ để làm nên một tác phẩm hay, chưa bao giờ là chuyện đơn giản cả. “Nhà thơ là người phu chữ” (Lê Đạt) để cần cù học tập ngôn ngữ của “người trồng dâu, trồng khoai”, để cần cù gạn lọc, “chế tạo và sáng tạo” ra ngôn ngữ của mình. Những chữ ấy là đẹp cho tác phẩm, hấp dẫn người đọc và là cách để nhà thơ khẳng định tài năng của mình. Vẻ đẹp ngôn ngữ của “Tây Tiến” đã làm được những điều ấy.

Đối với Quang Dũng, Tây Tiến vừa là một miền nhớ, vừa là một miền thương. Ra đời khi tác giả đã trở về làng Phù Lưu Chanh, “Tây Tiến” là câu từ của nỗi nhớ, là kỉ niệm cùng anh em chiến sĩ nơi núi rừng miền Tây, chất chứa bao tình cảm của tác giả với những tháng ngày dài cùng nhau chiến đấu. Cho nên bài thơ viết năm 1947 chính là sản phẩm của nỗi nhớ, thấm đẫm cảm xúc của nhà thơ chiến sĩ, là lời ca ngợi vẻ đẹp vừa hào hùng vừa hào hoa của người lính, cái chất lãng mạn của những thanh niên trai trẻ vừa rời khỏi ghế nhà trường đã anh dung xung phong đi chiến đấu. Đối với hình tượng trữ tính ấy, ngôn ngữ bài thơ cũng mang hào hùng, độc đáo và nét hào hoa, cổ điển riêng.

“Tây Tiến” là bài thơ nằm trong văn học thời kì kháng chiến – của những “vần thơ lửa chảy” nên ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ của sự hào hùng, thanh âm của sự hùng tráng và mang đậm cảm hứng sử thi. Nhưng, ngay cả trong nét sử thi ấy cũng là sự hào hùng, hùng tráng rất độc đáo. Hãy lắng nghe khúc tráng ca đầy dũng mãnh của thiên nhiên núi rừng Tây Tiến:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”.

“Thác gầm thét, cọp trêu người” là những hình ảnh nhân hóa làm tăng thêm sự hoang sơ, dữ dội, bí hiểm của núi rừng Tây Bắc. “Chiều chiều, đêm đêm” là những trạng ngữ chỉ thời gian lặp lại miên viễn, vĩnh hằng càng làm cho câu thơ trùng xuống, tạo không khí trầm hùng. Sức mạnh của thiên nhiên ngự trị nơi đây không phải chỉ có một chiều, một đêm mà đã là “chiều chiều, đêm đêm”.

Đứng trước ngàn gian khó, gian nan, những câu thơ vẫn rắn rỏi và tếu táo, đậm chất lính:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới…”

Hai câu thơ đầu của Quang Dũng vang lên với cách nói khẩu khí quen thuộc. Sự thật hiện lên một cách thẳng băng như nó vốn có bằng “ngôn ngữ lính” nên hóa bất ngờ, và vì bất ngỡ nên vẻ trần trụi của hiện thực được cảm nhận khác đi. Câu thơ không gợi ý nghĩ bi đát, mặc dù ai cũng hiểu sự “không mọc tóc” và làn da “xanh màu lá” chính là hậu quả của sốt rét. Bởi câu thơ của Quang Dũng mỗi khi vừa chạm tới địa hạt của hiện thực lại được nâng lên bằng đôi cánh lãng mạn. Cụm từ “không mọc tóc” làm cho câu thơ rắn rỏi, gân guốc; câu thơ ngang tàng; con người hiện lên với tâm thế chủ động, tư thể hiên ngang ngạo nghễ. Biện pháp ẩn dụ kết hợp phóng đại “dữ oai hùm” khiến chủ thể hiện lên uy nghi, đường bệ như chúa sơn lâm, khiến ốm mà không yếu – dáng vóc của những tráng sĩ chinh phu.

Đặc biệt là giọng thơ trầm hùng, bi mà không lụy để tạo nên cái bi tráng:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Câu thơ sử dụng hệ thống những từ Hán Việt: “biên cương” “viễn xứ”, “chiến trường”, “áo bào”, “độc hành” làm cho không khí trở nên trang giọng, lời thơ trầm lắng, giọng thơ trầm hùng, bi tráng. Lại một cách nói chủ động: “chẳng tiếc đời xanh” khẳng định khí thế ngang tàng của những bậc nam nhi coi cái chết nhẹ tựa hồng mao. Hình ảnh “áo bào” gợi về bóng dáng những Kinh Kha bên bờ sông Dịch: “Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn” cùng biện pháp nói giảm nói tránh càng làm cho người lính hiện lên cao đẹp. Cái chết đối với họ, đơn giản chỉ là sự trở về khi mình đã sống và chiến đấu hết mình trong một tâm thế ung dung, nhẹ nhàng. Trước đây, khi nhắc đến những câu thơ này của Quang Dũng, người ta thường thấy ở đó những biểu hiện tiêu cực của “mộng rớt”, “buồn rớt” hay “yêng hùng tư sản”. Cái khẩu khí của nhà thơ, của những anh bộ đội Tây Tiến ấy, thực ra, vô cùng đáng trọng. Nó là biểu hiện quyết tâm của những con người yêu giống nòi, sẵn sàng đổ máu hi sinh vì những lẽ sống lớn lao. Họ không phải nạn nhân, những con tốt đen vô danh vô nghĩa trên bàn cờ trận mạc mà là những “chủ thể đầy ý thức của lịch sử”, biết sống đẹp từng giây phút, biết ước mơ, hi vọng và khi cần thì sẵn sàng hiến dâng. Những câu thơ của Quang Dũng thực sự ngang tầm vóc với các chiến sĩ đã bỏ mình vì nghĩa lớn. Sự ra đi của họ lại được cất lên thành khúc “độc hành” của sông Mã đầy uy nghiêm và trang trọng. Tầm vóc con người đã sánh ngang tầm vũ trụ.

Cùng với vẻ đẹp trầm hùng, tráng ca. “Tây Tiên” còn nổi bật với những câu thơ nhất mực tài hoa, với vẻ đẹp lãng mạn, cổ điện. Hồn thơ Quang Dũng sống trong không khí hiện đại nhưng vẫn được tiếp nhận những phong vị cổ điển. Câu thơ của tác giả mang những phong vị tài hoa rất riêng.

Hãy lắng nghe những câu thơ:

“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Thơ viết về nỗi nhớ từ xa xưa đến nay khó mà kể xiết. Nhưng ít có bài thơ nào mà nỗi nhớ lại được biểu đạt bằng những chữ lạ và ám đến vậy! Người đọc “Tây Tiến” làm sao quên được chữ “nhớ chơi vơi”. “Chơi vơi” là trạng thái của nỗi nhớ hay của cảnh vật được nhớ? Nó là cái chông chênh hụt hẫng của kẻ đang phải lìa xa nơi mình từng gắn bó hay là cái trập trùng xa ngát của núi rừng miền Tây? Thật khó tách bạch! Cả hai chủ thể và đối tượng dường như đã trộn lẫn vào nhau mà đồng hiện trong một chữ “chơi vơi” ấy. Có phải đó là cái trạng thái chập chờn rất riêng của nỗi nhớ chăng?

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Chữ “Nhớ ôi” nghe mới nôn nao, nghèn nghẹn thế nào! Không phải “ôi nhớ” như lối cảm thán cũ mòn ; cũng không phải “nhớ ôi là nhớ” thật thà, khẩu ngữ hay “nhớ ôi” như tiếng gọi hướng ra người mà là “nhớ ôi” như tiếng kêu hướng về mình. Ta nghe rõ trong lời thơ một nỗi nhớ nhung bất chợt cồn lên. Kẻ nhớ không thể cầm lòng đã vỡ òa thành tiếng kêu than nhưng “buột miệng ra mà dư vang súc tích”. Lê Đạt từng nói: “Tôi tôn trọng những nhà văn sinh sự với văn chương để tạo ra sự sinh của ngôn ngữ”. Quang Dũng là một người như thế. Ông đã tạo ra một nét nghĩa táo bạo mà thật đa tình trong tập hợp từ mới mẻ: “mùa em”. “Mùa em” khiến cho Mai Châu không chỉ là một địa danh gắn với những kỉ niệm thơm thảo của xôi nếp đầu mùa, của tình quân dân sâu nặng mà còn gợi nhớ hình ảnh những cô gái duyên dáng miền sơn cước. Rồi đây, Tây Tiến sẽ mờ dần sau những thăng trầm lịch sử nhưng tiếng kêu kia vẫn sẽ còn gieo vào lòng người đọc mai sau những bồi hồi một thuở.

Nếu nói: “Phần chìm dưới câu chữ thường lại là chỗ cất cao, là ánh kim sa của những sáng tạo nghệ thuật” (Nguyễn Thanh Hùng) thì chính là cần đoạn thơ của Quang Dũng để minh chứng:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có thấy dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Một từ “chiều sương” thôi mà gợi được cả thời gian và không gian. Cổ thi mỗi khi nhắc đến chiều, đến sương là một nỗi buồn thiên cổ, là nỗi hoài cổ ngàn năm gợi về: “Dặm liễu sương sa khách bước dồn. (Bà Huyện Thanh Quan). Nhưng câu thơ của Quang Dũng lại cho ta một cảm giác rất nhẹ nhàng, bình yên. Một từ “ấy” vô danh nhưng lại hữu ý. Từ “ấy” vô danh vì nó gợi nhắc đến một thời gian nào đó, đôi khi cả chủ thể cũng không thể xác định được: là “Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn” (Xuân Diệu), là “Từ ấy”, “Mười lăm năm ấy” trong hồi ức của Tố Hữu. Nhưng đó cùng là ngày không thể lẫn vào đâu trong muôn vàn buổi chiều vô danh khác trong đời: buổi chiều mang tên kỉ niệm, mang theo nỗi nhớ. Nhà thơ chỉ mất một ít rõ ràng nhưng nhận lại bao la những ý nghĩa. Không phải là “cây lau”, “ngọn lau” hay “phận lau” như TS Chu Văn Sơn dùng trong bài tùy bút: “Phận hoa bên lề” mà là “hồn lau”. Cái “hồn” xưa mà Bà Huyện Thanh Quan đã viết: “hồn thu thảo” làm cho câu thơ không chủ đích tả mà gợi, không chủ ý vẽ mà khơi. Không thấy được hình dáng của ngọn lau nhưng có thể cảm nhận được linh hồn riêng của đại ngàn Tây Bắc. Cảnh theo lời thơ mà tan ra. Một chút rõ ràng mất đi mà thêm rất nhiều thơ mộng. Câu thơ cuối làm hiện ra bóng dáng duyên dáng, uyển chuyển của người con gái Thái giữa cảnh thiên nhiên mộng mơ, yên bình. Hình ảnh “hoa” không chỉ gợi về hình ảnh xứ sở Tây Bắc ngàn hoa mà còn là hình ảnh của cái đẹp. “Hoa đong đưa” là đang làm duyên với gió, với nước khi đã nở trọn đời hoa để buông mình? Hay đó là hình ảnh ẩn dụ của cái đẹp, của người con gái đang tình tứ mà kín đáo làm duyên. Câu thơ có cái duyên của cảnh, duyên dáng của người và phải chăng còn là đôi mắt tình tứ của người ngắm cảnh nữa?

Nhưng nét độc đáo nhất, đặc biệt nhất của Tây Tiến chính là nét hào hùng và hào hoa, cái chất đời rất lính và phong vị lãng mạn cổ điển không bao giờ tách bạch mà hòa vào nhau trong những câu thơ, đoạn thơ để làm nên một bài thơ tuyệt bút. Đọc thơ Quang Dũng mà như thưởng tranh, thưởng nhạc vậy:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” có 7 chữ mà tới 5 chữ là thanh trắc cùng điệp từ “dốc”, các từ láy “khúc khuỷu, thăm thẳm” đã gợi tả hình ảnh con đường hành quân với những đèo dốc quanh co, gập ghềnh, lên cao mãi. Từ láy “heo hút” gợi về cảm giác xa xôi, hẻo lánh. Đặc biệt, nhà thơ không phải người sao chép cuộc sống vào trang thơ mà mỗi chữ đều là sự sôi sục “đãi quặng tìm vàng” (Maiacopxki), để “lượm lặt” trên luống cày đời sống, ấp ủ và gieo lên thành những đóa hoa thơ tuyệt đẹp. Những chữ lấp lánh ấy vừa khiến người ta bất ngờ lại vừa gây hứng thú: “cồn mây”. Không phải áng mây phiêu du hay chòm mây phiêu lãng mà lại là “cồn mây” mờ mịt nơi cửa ải xa: “mặt đất mây đùn cửa ải xa” (Đỗ Phủ). Hình ảnh nhân hóa “súng ngửi trời” mới độc đáo và thú vị làm sao. Đến câu thơ tiếp theo lại được ngắt đột ngột làm đôi, vẽ ra hai chặng đường hành quân. Điệp ngữ “ngàn thước” cùng nghệ thuật đối lập “lên cao- xuống” đã gợi tả độ sâu của vực đầy dữ dội, hiểm trở. Thì ra đọc thơ Quang Dũng không chỉ như ngậm nhạc trong miệng mà còn như được thưởng tranh. “Thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc” là vì thế. Nếu câu thơ trên trắc trở bao nhiêu thì câu thơ dưới lại mềm mại bất nhiêu, câu thơ trên cheo leo bao nhiêu thì dưới lại nhẹ nhàng bấy nhiêu, cảnh trên hiểm trở bao nhiêu thì cảnh hiện thời lại êm đềm bấy nhiêu: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Tâm hồn thảnh thơi được trải ra theo những âm bằng suốt cả câu thơ rồi.

Hay hai câu thơ về hình ảnh người lính:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Câu thơ trên gân guốc bao nhiêu thì hai câu thơ dưới lại nhẹ nhàng bấy nhiêu! Nếu ở trên tác giả thay “mắt trừng” bằng “bâng khuâng” thì câu thơ dưới sẽ giảm hẳm nét mềm mại và chi tiết được nêu lên mất đi tính tinh lọc và quý hiếm của nó. Câu thơ có cái “mộng” của người anh hùng mang theo lửa rực căm thù và khát khao lập công nhưng vẫn giữ cho mình chút “mơ” của giai nhân. Tác giả không dùng từ “nhớ” : nỗi nhớ của người lính nông dân về “giếng nước gốc đa” (“Đồng chí”), về “người vợ trẻ mòn chân bên cối gạo canh khuya” (“Nhớ”) hay cái nhớ của Nguyễn Đình Thi “Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”, … Vì “nhớ” thiên về tâm trạng – cụ thể còn “mơ” là dấu tích của tâm hồn – mơ hồ . “Dáng kiều thơm” ấy chính là vầng sáng lung linh trong kí ức, “tố cáo” nét đa tình và đời sống tình cảm dạt dào của người lính, vốn thường bị che phủ trong kháng chiến.

Hiệu quả càng được nâng lên khi nhà thơ con thể “Cổ phong trường thiên” (một thể loại hành) để những tình cảm, cảm xúc không bị bó buộc mà có thể trải dài theo đầu ngọn bút, trong những con chữ. Hình ảnh thơ giản dị, quen thuộc nhưng khi được ứng hiện vào nhau trong sự sắp xếp của Quang Dũng lại đem đến hiệu quả không ngờ. Nếu nói “thi trung hữu họa”, “thi trung hữu nhạc” thì “Tây Tiến” là một dẫn chứng tiêu biểu. Với sự tài hoa trong cách sử dụng và sáng tạo từ ngữ, Quang Dũng khiến người đọc như “ngậm nhạc trong miệng”, như thưởng tranh trong chữ. Bút pháp hiện thực đi liền với lãng mạn đã làm nên vẻ đẹp hào hùng, bi tráng cho những câu thơ. Đó chính là phong vị rất riêng của thơ Quang Dũng: vừa dung dị, vừa bay bổng, không đẽo gọt cầu kì mà mới lạ đến đáng ngạc nhiên! Nhưng tài năng sẽ chẳng để làm gì nếu không dụng “chân tâm” để viết. Quang Dũng đã có cả được điều đó. “Tây Tiến” tràn đầy nỗi nhớ, hay nói đúng hơn chính là nỗi nhớ. Đó cũng có thể coi là lời nguyện ước của một thế hệ thanh niên sẵn sàng hiến dâng cả tuổi xanh của mình cho đất nước thân yêu.

Bằng những câu thơ ấy, Quang Dũng đã góp vào dòng chảy văn học những hình tượng cũng như ngôn ngữ tuyệt đẹp. Nhà văn tồn tại trên đời chẳng phải để “làm rõ mình” để rồi lại “xóa mình”, bất tử trong tâm hồn bạn học mọi thế hệ như thế sao…

Phân Tích Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Thơ Ca Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Phân tích vẻ đẹp ngôn ngữ thơ ca trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Trong “Nghĩ về nghề viết”, Chế Lan Viên nói:

“Hình thức cũng là vũ khí

Sắp đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lí”

Chính vì vậy mà khi viết nên một tác phẩm, tác giả vẫn thường để tâm đến hình thức thơ để làm cho bài ca của mình thêm đẹp và đặc sắc. Thấu hiểu điều đó, nhà thơ Quang Dũng đã dùng tài năng của mình để mài giũa từng câu chữ trong “Tây Tiến”, để vẻ đẹp ngôn ngữ thơ góp phần làm nên sự thành công trong tác phẩm và để lại trong lòng người đọc bao ấn tượng. Có người từng ví hình thức của một tác phẩm như sắc đẹp của người con gái, không phải là yếu tố quyết định nhưng là yếu tố đầu tiên gây thiện cảm, gợi chú ý, làm quen để làm thân, gợi mối trăm năm bền chặt. Hình thức thơ, điển hình là ngôn ngữ thơ có tính thẩm mĩ thể hiện tài năng của tác giả, là yếu tố tạo nên phong cách. Cho nên với bài thơ “Tây Tiến”, ngôn ngữ thơ ấn tượng đã làm nên sức hút cho bài thơ, khiến người đọc muốn trông nhìn và thưởng thức, đồng thời làm nổi bật tài năng của nhà thơ chiến sĩ. Có lẽ nét nổi bật nhất trong nghệ thuật ngôn từ ở đây là cách sử dụng từ láy – một thủ pháp nghệ thuật đậm đà tính dân tộc:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Hai câu thơ là lời biểu đạt của nỗi nhớ, nhưng nếu nỗi nhớ ấy chỉ được thể hiện bằng từ “nhớ nhung” thì thật tầm thường và chưa đủ. Chỉ bằng từ láy “chơi vơi” với vần “ơi” có độ mở lớn khiến nỗi nhớ bị kéo dài ra vô hạn.Trạng thái lơ lửng, bồng bềnh của nỗi nhớ cộng hưởng với cảm xúc nồng nàn trong tâm trí đã tạo nên một nỗi nhớ “chơi vơi” có một không hai trên thi đàn. Đó là nỗi nhớ ăm ắp, mơ hồ, khỏa lấp cả không gian và thời gian, khiến tâm hồn người chiến sĩ cũng bồng bềnh và nương theo nỗi nhớ. Có lẽ cung bậc ấy trong nỗi nhớ của Quang Dũng đã gặp gỡ với nỗi tương tư của Xuân Diệu:

“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”

(Tương tư chiều)

Như vậy là chỉ với từ láy “chơi vơi”, nỗi nhớ của Quang Dũng đã ngân lên với cung bậc thật khác lạ, không giống nỗi nhớ của người con gái trong “Khăn thương nhớ ai”, cũng không giống với nỗi nhớ tha thiết của Tố Hữu trong “Việt Bắc”. Đó là một nỗi nhớ vừa man mác, mơ hồ vừa xuyến xao, bao trùm cả núi rừng Việt Bắc, xuyên qua bức mây mù Pha Luông, đọng lại trong tâm trí người lính. Nỗi nhớ đó mang người chiến sĩ kí ức về một thời hành quân gian khổ:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

Từ láy “khúc khuỷu, thăm thẳm” đã khắc tạc con đường cheo leo, hiểm trở, đầy thử thách của cuộc hành quân. Các từ láy khiến giọng thơ trở nên gân guốc, điệu thơ mệt nhọc rất hợp với việc diễn tả sự hùng vĩ của thiên nhiên cũng như sự khắc nghiệt của những cung đường Tây Bắc. Nhờ chúng mà nỗi khó khăn, gian nan của người lính được ngụ ý một cách sâu sắc, làm nổi bật ý chí chiến đấu anh hùng cả người lính. Không gian núi rừng miền Tây còn được đặc tả qua từ láy “heo hút”, gợi một không gian xa xôi, vắng vẻ, quạnh hiu và lạnh lẽo. Nếu như con dốc đi lên cực kì hiểm trở và gập ghềnh, thì không khí ở đó lại mang dáng vẻ âm u, hẻo lánh của địa đầu tổ quốc. Mây không còn là áng phiêu du mộng mơ mà càng làm cho không gian trở nên mờ mịt, nổi bật nét đặc trưng của vùng cửa ải xa xôi: “Mặt đất mây đùn cửa ải xa.” Chỉ với vài từ láy giàu sức gợi hình và gợi cảm, Quang Dũng đã đặc tả không gian thiên nhiên nơi núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ, ảo huyền vừa gian nan, đầy thử thách. Chúng như thách thức tinh thần những người lính trẻ trong cuộc trường chinh vạn dặm. Thế nhưng thiên nhiên dẫu có dữ dội vẫn biết cách làm duyên theo vẻ đẹp nên thơ nơi núi sâu rừng thẳm: “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Phải là “đong đưa” chứ không phải “đung đưa” – bởi “đung đưa” chỉ gợi hình còn “đong đưa” còn gợi cảm. Những bông hoa rừng la đà theo gió, làm duyên cùng nước, những đóa hoa đã sống trọn kiếp mình làm duyên làm dáng với dòng nước hay chính là sự tình tứ, đa tình của những người trẻ? Từ láy giàu chất gợi cảm đó như khơi sâu vào vẻ đẹp tâm hồn của người lính: hành trình hành quân ra trận không chỉ có gian nan, đó còn là nơi người lính bày tỏ nét đa tình và hào hoa của mình qua từng điệu nhạc, từng lời ca tiếng hát, từng nhành hoa nhỏ mà duyên dáng và phong tình. Những từ láy khiến giọng thơ trở nên uyển chuyển, giàu chất thơ, khiến bài thơ như một khúc hát, khúc ca của tuổi trẻ, khúc hát của người lính năm xưa. Ngôn ngữ thơ Quang Dũng không chỉ giàu chất tạo hình, không chỉ gợi cảm mà còn là sự sáng tạo độc đáo của riêng nhà văn. Đó là khi ta phát hiện trong bài thơ có sử dụng những cụm từ rất mới lạ: “súng ngửi trời” – một góc nhìn rất lính, rất lạc quan của họ mà ta đã từng bắt gặp trong thơ Hồng Nguyên: “Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau”. Bằng cảm nhận rất thơ của một người trẻ, người lính thấy đầu mũi súng như chạm đến trời cao, họ như đang được đứng trên đỉnh đầu tổ quốc để bảo vệ và canh giữ đất trời. Ngay khi nói đến sự hi sinh, Quang Dũng cũng sử dụng những cụm từ rất mới lạ: “không mọc tóc”, “bỏ quên đời”, “quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Nét đẹp trong tâm hồn người lính trẻ không chỉ có vẻ hào hoa phong tình của những cậu thanh niên mới lớn, đó còn là phong thái và cốt cách của một anh bộ đội cụ Hồ không màng gian khó, không ngại hi sinh để xông pha ra chiến trường. Cho nên dẫu có phải hứng chịu những trận sốt rét rừng đến vàng da rụng tóc, phải đắp cho mình một manh chiếu để đi về với đất, họ vẫn ngang tàng và ngạo nghễ trước sự hi sinh. Cách nói độc đáo biến họ trở thành những dũng sĩ, anh hùng trong thời chiến, sánh ngang với Đăm Săn, Xinh Nhã trong sử thi cổ đại, để họ viết nên một áng thiên hùng ca anh hùng. Để tạo vẻ trang trọng cho sự hi sinh của những người con bước ra từ trận chiến, nhà thơ đã vô cùng tinh tế khi sử dụng một loạt các từ Hán Việt: “biên cương, viễn xứ, chiến trường, áo bào”:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Những từ Hán Việt được sử dụng trong đoạn thơ không biến đoạn thơ trẻ nên khó hiểu mà ngược lại, làm tăng thêm không khí trang trọng, vẻ đẹp thiêng liêng, giọng trầm hùng bi tráng cho sự hi sinh của người lính, biến những nấm mộ vô danh thành mộ chí vĩnh hằng. Cách nói mĩ lệ đó đã biến sự hi sinh trở thành một khúc ca bi tráng, thành ra đằng sau người lính lại thấp thoáng những chiến tướng “Ra đi không vương thê nhi”, chẳng hẹn ngày về. Họ là những con người đẹp nhất của thế kỉ XX, là người đã viết nên lịch sử cho cả một thời đại hào hùng. Như vậy, người ta thường nói thành công của thơ ca phụ thuộc phần nhiều vào khả năng biểu đạt ngôn ngữ. Với cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo và rất đặc sắc, nhà thơ Quang Dũng đã thổi hồn vào từng câu chữ, biến bài thơ thành nghệ thuật ngôn từ. Đằng sau những lời thơ đó là tài năng nghệ thuật của nhà thơ cũng như sự dụng công trong hành trình sáng tạo nghệ thuật. Xét cho cùng, thơ hay phải là thơ giàu tình cảm, nhưng để biểu đạt tình cảm thì cần đến ngôn ngữ thơ đặc sắc. Quang Dũng đã làm tròn trách nhiệm của thơ ca, biến bài thơ trở thành một khúc tráng ca về binh đoàn Tây Tiến. Chiến tranh đã lùi xa nhưng những âm vang của thời đại vẫn hiện lên trong những lời thơ đặc sắc. Bằng nghệ thuật ngôn từ độc đáo, thi sĩ Quang Dũng đã in dấu ấn vào thời gian, vào lòng người một áng thơ bất hủ, làm nên thiên anh hùng ca của một thời đại anh hùng.

Vẻ Đẹp Ngôn Từ Trong Những Câu Thơ Diễn Tả Cảm Xúc Kim

Nguyễn Du đã đặt chàng Kim vào tình huống tâm lí bất an khi xa cách người yêu. Có lẽ ông rất “thấu hiểu” nỗi niềm Kim Trọng đang tự bấu víu vào sự hoài nghi vô cớ nên đã đẩy dòng cảm xúc lên cao trào, đỉnh điểm Não người cữ gió, tuần mưa. Nếu không buồn trông để rồi sinh ra “tật” đa nghi, liệu chàng Kim có lâm vào tình trạng như vậy không? Tác giả đã mượn hiện tượng thiên nhiên cữ gió, tuần mưa để diễn tả cơn dông bão trỗi dậy trong lòng chàng Kim. Chính cách chuyển nghĩa ấy đã giúp ta thấy được nỗi niềm chàng Kim “sóng gió” đến mức nào. Nhìn chàng Kim, ta thấy có gì đấy rất cảm tính, yêu đến mê muội, nhưng thật đáng trân trọng bởi đó là căn bệnh trầm kha trong tình yêu ít ai tránh khỏi (http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/ve-tu-troi-trong-truyen-kieu). Về câu thơ Não người cữ gió tuần mưa, tác giả Phạm Quang Ái đã lí giải: “Theo các nhà biên khảo, một “cữ” là 7 ngày, một tuần là 10 ngày. Trong tính thành ngữ thì “cữ gió, tuần mưa” có nghĩa là chịu đựng “gió mưa” liên tục, nghĩa là chịu gian khổ, cực nhọc kéo dài. “người cữ gió tuần mưa” ở đây không thể là ai khác ngoài Kim Trọng (tỉnh lược vế của câu: người đang trong lúc cữ gió, tuần mưa, đang chịu đựng gian khổ nơi đất khách quê người). Trên đường đi đến nơi đất khách xa xôi Kim vừa nhớ Kiều vừa lạ cảnh, lạ người nên có tâm trạng cô đơn, buồn miên man; còn Kiều thì “đứng tựa hiên Tây” hình dung chặng đường xa xôi Kim phải liên tục chịu cảnh “cữ gió, tuần mưa” mà lo phiền, ray rứt, khắc khoải “Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ”. Cách hiểu này có lẽ không phù hợp với điều Nguyễn Du muốn thể hiện. Thứ nhất, đây là một trong bốn câu thơ diễn tả mạch cảm xúc của chàng Kim khi đang ở Liêu Dương nhớ về Kiều (tác giả diễn tả dòng mạch tương tư rất mạch lạc, không để diễn ra sự chồng lấn giữa chuyện của đối tượng này với chuyện của đối tượng kia). Đã như thế, ý kiến của Phạm Quang Ái cho rằng Kiều hình dung chặng đường xa xôi Kim phải liên tục chịu cảnh “cữ gió, tuần mưa” mà lo phiền, ray rứt, khắc khoải “Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ”, chỉ là sự suy diễn mơ hồ. Thứ hai, nếu câu thơ không nằm trong dòng cảm xúc chàng Kim khi nhớ về Kiều mà đứng độc lập, thì với cách hiểu của mình, ông Phạm Quang Ái đã vô tình cho rằng Nguyễn Du đang diễn đạt phi logic. Bởi, khi chia tay Kim Trọng, Kiều đã giãi bày: Quản bao tháng đợi, năm chờ,/ Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm. Nếu giờ đây, cữ gió, tuần mưa được hiểu theo cách mà ông Phạm Quang Ái diễn giải, thì ta buộc phải nhận định rằng Nguyễn Du đã rất “vụng” khi dùng hình ảnh trùng lặp. Tại Kim Trọng đa nghi, chứ Kiều đâu phải như chàng tưởng tượng. Đọc bốn câu thơ diễn tả tâm trạng Kiều sau khi chia tay người yêu, ta thấy nàng cũng nao lòng lắm chứ. Không phải vô tình Nguyễn Du để cho nhân vật xuất hiện trong trạng thái Nàng còn đứng tựa hiên tây. Thông thường khi diễn đạt những vấn đề mang tính tương ứng, trong cuộc sống cũng như văn chương, người ta thường dùng theo kiểu: bên kia thế ấy, bên này thì thế kia; nó mà như thế, thì mình cũng chẳng thua kém gì … Nếu theo lẽ thường này, đáng lẽ ra Nguyễn Du sẽ dùng từ “thì” thay từ còn (Kim Trọng nhớ như thế này thì Kiều cũng nhớ như thế kia). Nhưng ở góc nhìn của mình, Nguyễn Du không muốn dừng ở việc vẽ ra hiện tượng mà đang muốn khám phá cái bản chất. Theo mức độ diễn biến thời gian tiếp diễn, việc Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng), tác giả giúp ta nhận thấy người quốc sắc ấy đã vì tình yêu mà sẵn sàng để phó mặc cho sự “bào mòn” thân xác. Thế mới biết, ở thời điểm sau khi chia tay, tình yêu của Kiều đối với Kim Trọng không những không hề “nhẹ” như chàng tưởng tượng, trái lại còn toàn tâm toàn ý dành tình cảm cho người yêu nơi phương xa. Nàng (còn) đứng tựa hiên tây đã diễn tả một sắc thái tình cảm tư lự, sâu nặng của nàng. Khoảng thời gian khi chia tay chàng Kim đến lúc cha mẹ về, nàng sống bằng nỗi niềm canh cánh, thường trực, không rời mắt khỏi bước chân người yêu. Ở vị trí hiên tây, lòng dạ Kiều Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ, lung bung khó lòng tháo gỡ, bởi nàng trong tình trạng ruột chín lần bị đau quặn lại (Nguyễn Du, “Truyện Kiều”, Vũ Ngọc Khánh, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2005, trang 54). Nàng quặn thắt tâm can khi hình dung chặng đường Kim Trọng về Liêu Dương xa xôi cách trở, vất vả hộ tang chú nơi đất khách. Bằng cảm xúc nhớ, thương Trông chừng khói ngất song thưa, Kiều muốn qua áng mây, ngọn khói để gửi gắm tâm tư mình đến nơi Liêu Dương vời vợi. Từ tình thương, nỗi nhớ dành cho Kim Trọng, nàng hình dung một ngày mình sẽ như Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng. Kiều muốn gió sẽ đưa theo ngọn khói đến Liêu Dương để người yêu thấu tỏ tình cảnh của nàng lúc này. Nỗi lòng trĩu nặng lo lắng, một niềm thương nhớ không chút hoài nghi. Xây dựng hình ảnh thơ gợi lên vẻ tiều tụy, suy giảm (Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh à

Phân Tích Và So Sánh Vẻ Đẹp Thiên Nhiên Trong Bài Thơ Tây Tiến

Thân bài: 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm. Quang Dũng (1921-1988) là nghệ sĩ đa tài, có hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa, đặc biệt khi ông viết về những người lính Tây Tiến và xứ Đoài quê mình. Tây Tiến là bài thơ xuất sắc nhất, tiêu biểu cho đời thơ, phong cách sáng tác của ông. Bài thơ bằng bút pháp lãng mạn, sự sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu đã bộc lộ một nỗi nhớ sâu sắc da diết của tác giả về những người lính Tây Tiến anh dũng hào hoa và núi rừng miền Tây hùng vĩ, Mỹ lệ. Đường thơ, đường cách mạng của Tố Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam. Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác trong bối cảnh chia tay với Việt Bắc đầy lưu luyến. Cảnh và người Việt Bắc đã để lại nỗi nhớ không thể nào quên trong tâm hồn người cán bộ về xuôi. Không nỗi nhớ nào về thiên nhiên Việt Bắc lại thiếu hình ảnh về người Việt Bắc và không một nỗi nhớ nào về con người Việt Bắc lại theiéu nỗi nhớ về vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc. Bởi lẽ đơn giản con người Việt Bắc gắn bó với thiên nhiên, đến lượt mình người chiến sĩ cách mạng sống chan hòa với người Việt Bắc được che chở giữa đại ngàn núi rừng.

2.2. Thiên nhiên Việt Bắc 2.2.1. Thiên nhiên Việt Bắc hùng vĩ Với Tố Hữu rừng núi Tây Bắc là nơi chôn bao lớp xác quân thù và cũng là người bạn đồng hành, chở che cho những anh lính trên đoạn đường hành quân đầy gian khổ: Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù (Việt Bắc – Tố Hữu) Trong những ngày đầu kháng chiến gian khổ của giai đoạn cầm cự, phòng ngự, bộ đội phải dựa vào dân, dựa vào núi rừng Việt Bắc hiểm trở để đánh địch. Trước giờ khắc quyết định của lịch sử, không chỉ nhân dân mà cả núi rừng cùng đều vùng lên, chung sức đánh Tây. Với cuộc kháng chiến đầy gian lao của quân và dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có chí, có tình người, đã trở thành những người bạn, những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của toàn quân. Chỉ với bốn câu thơ, chữ rừng và núi được lặp đi lặp lại đến năm lần, nó rải kín câu thơ, rải kín đất Việt Bắc tạo lên thế hiểm của trường thành của lũy thép vây bọc quân thù. Nhớ về lúc kháng chiến, khi giặc đánh giặc lùng, cũng là khi quân ta đang khó khăn xoay sở tình thế, ta biết địch mạnh hơn ta rất nhiều, nhưng trên trận địa quen thuộc nói là thua địch cũng không phải là dễ. Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây, bằng phép nhân hóa, rừng bạt ngàn cây, với núi bao la đá để rồi trên dưới một lòng cùng con người đánh đuổi quân xâm lược. Đồng thời thể hiện tình cảm giữa con người kháng chiến và thiên nhiên núi rừng Việt Bắc rất tha thiết, bao la. Ở cặp lục bát thứ hai ta sẽ thấy rõ hơn công việc của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc. Núi thì giăng thành lũy, rừng thì đảm nhận hai công việc. Như một người mẹ che chở cho con mình, rừng bao bọc cho bộ đội trước mặt kẻ thù cướp nước. Rừng trở nên kiên quyết đến dữ dằn cùng với việc vây quân thù để tiêu diệt, cái trùng trùng điệp điệp của rừng, cái khí thế hiên nagng kiêu hùng của những vách núi đã làm cho biết bao kẻ thù khiếp sợ và bất lực. Quả thật Việt Bắc đã trở thành địa linh nhân kiệt kể từ đó. Qua đó càng làm sáng tỏ thêm nhận định: Việt Bắc là cái nôi của cách mạng dân tộc ta.