Top 13 # Vẻ Đẹp Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Vẻ Đẹp Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng / 2023

Vẻ đẹp hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

Gợi ý làm bài 1. Khái quát

Đôi nét về tác giả, tác phẩm.

Giới thiệu vẻ đẹp của người lính Tây Tiến trong bài thơ.

2. Chi tiết a. Một biểu tượng thương nhớ

Người lính hiện về trong hồi ức như một biểu tượng xa vời trong không gian và thời gian (“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi”… “Tây Tiến người đi không hẹn ước” – “Đường lên thăm thẳm một chia phôi” – “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”) nhưng vẫn là những hoài niệm không dứt, một nỗi thương nhớ mênh mang (“nhớ về”, “nhớ chơi vơi”).

b. Vẻ đẹp trong đời sống tâm hồn

Người lính được miêu tả rất thực trong những sinh hoạt cụ thể, với những bước đi nặng nhọc trên đường hành quân cùng với những đói rét về bệnh tật, vẻ tiều tụy trong hình hài song rất phong phú trong đời sống tâm hồn, với những khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ (“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”…).

Họ nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng, với những cảnh sắc độc đáo rất tinh tế (“hồn lau nẻo bến bờ”, “dáng người trên độc mộc”, “dòng nước lũ”, “hoa đong đưa”).

Tâm hồn người lính cháy bỏng những khát vọng chiến thắng, đồng thời cũng ôm ấp những giấc mơ đẹp về tình yêu tuổi trẻ (“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” – “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”). Trong cái nhìn của người lính trẻ, vẻ đẹp của người con gái núi rừng có nét hoang sơ, kiều diễm đến sững sờ (“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”).

c. Sự hi sinh đầy bi tráng

Người lính hiện lên chân thực, thơ mộng, lãng mạn, đa tình, đa cảm đồng thời cũng rất hào hùng. Với nhiều từ ngữ mang sắc thái cổ điển, trang trọng (“Áo bào thay chiếu anh về đất” – “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”), tác giả tạo được không khí thiêng liêng, làm cho cái chết bi tráng của người lính vang động cả thiên nhiên. Âm hưởng bốn câu thơ cuối bài ngân dài không dứt, hòa cùng với bước đường của người chiến sĩ tình nguyện lên đường vì đất nước :

Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về sầm nứa chẳng về xuôi.

Mùa xuân Tây Tiến ngày ấy đã mang tuổi xuân của người lính trong cuồn cuộn lãng du, nhưng cái hồn bi tráng, sự hi sinh cao cả ấy dù chia phôi thể xác nhưng tinh thần là bất tử. Đó là tinh thần của một thế hệ kiêu hùng – nồng nàn tình yêu nước. Vẻ đẹp ấy, mãi mãi là khúc vọng thanh âm vang trong tâm hồn người Việt.

Nhận xét

Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến / 2023

[Văn mẫu học sinh] Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến

1.

Mở bài:

_giới thiệu được tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.

_Nêu vấn đề nghị luận: vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến.

2. Thân bài: 2.1. Luận điểm 1: Khái quát về tác giả, tác phẩm.

_nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp.

_đa tài: vẽ tranh, viết nhạc, làm thơ…

_tập thơ tiêu biểu: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng.

_giọng thơ hồn hậu, giản dị, linh hoạt, phóng khoáng.

_ viết vào mùa xuân năm 1948 tại Phù Lưu Chanh.

_cảm hứng và nội dung chủ đạo: nỗi nhớ của tác giả dành cho thiên nhiên, con người Tây Tiến.

_Tên ban đầu của bài thơ là ” Nhớ Tây Tiến”, sau đó đã được Quang Dũng chỉnh sửa lại thành “Tây Tiến”.

_Tây Tiến là tên một đoàn binh được thành lập từ năm 1947, với cách chiến sĩ là học sinh, sinh viên trí thức Hà Nội, có nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới Việt Lào. Nhà thơ Quang Dũng là đại đội trưởng của binh đoàn Tây Tiến.

2.2. Luận điểm 2: Vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến.

Vẻ đẹp bi tráng: vẻ đẹp hào hùng, anh dũng, tràn đầy chí khí, mạnh mẽ và lạc quan của người lính cụ Hồ vượt lên trên mọi chết chóc, hi sinh gian khó.

Chân dung bi tráng của người lính Tây Tiến được tái hiện qua khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, đầy thử thách.

_ thiên nhiên khắc nghiệt với núi cao, vực sâu:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

+ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm: con đường hành quân quanh co, ghập ghềnh, hiểm trở, thăm thằm và gợi độ sâu hun hút của đáy vực.

+ Heo hút cồn mây súng ngửi trời: câu thơ gợi tả độ cao. “heo hút” gợi không gian hoang lạnh đến rợn người.

+ Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống: điệp từ “ngàn thước”- một ước lệ chỉ độ cao. Nhịp thơ 4/3 nêu bật tính chất hiểm trở, dữ dội của thiên nhiên.

+ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi: câu thơ sử dụng toàn bộ thanh bằng tạo cảm giác thư thái, xua tan đi mệt mỏi, căng thẳng trong những câu thơ trước.

_đối mặt với gian nan, hiểm nguy thậm chí là hi sinh.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

+ “dãi dầu, gục”: những động từ mạnh gợi lên gian khổ, hi sinh.

+ “không biết nữa, bỏ quên đời”: cách nói giảm, nói tránh làm giảm bi thương trước cái chết oanh liệt của người chiến binh Tây Tiến.

Người lính Tây Tiến bi tráng qua kỉ niệm về cuộc vượt thác trên dòng sông nước miền Tây. Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người bên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

+ những câu thơ mang đậm phong vị cổ kính.

+ “hồn lau”: nghệ thuật nhân hóa đã làm hình ảnh cây lau có hồn, có hình, có ảnh.

+ điệp từ “có thấy, có nhớ”: gợi nhắc về một miền kỉ niệm sâu sắ.

+ con thuyền vượt thác dưới đôi tay chèo lái khéo léo được gợi ra từ tâm tưởng. Trên dòng “nước lũ”, vẫn miệt mài hăng say lao động.

Bức tượng đài ngôn từ về người chiến binh Tây Tiến.

_Chân dung người lính Tây Tiến được gợi ra từ ngoại hình, tâm hồn và lí tưởng.

+ Ngoại hình: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc. Quân xanh màu lá dữ oai hùm: mái đầu trọc là hậu quả của chiến tranh khắc nghiệt; màu lá xanh màu của lá ngụy trang, màu xanh của áo bộ đội, màu của nước da xanh xao; dữ oai hùm là ẩn dụ của sức mạnh, khí thế của một đoàn quân.[ Hình ảnh của đoàn quân mang vẻ đẹp khác lạ, oai dũng, kiêu hùng.

+ Tâm hồn Mắt trừng gửi mộng qua biên giới. Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. “mắt trừng” là đôi mắt mở to, căng thẳng giận dữ lòng căm thù, “gửi mộng” là phút giây xao xuyến, bịn rịn trong tâm trí.

_Hiện thực cuộc sống chiến đấu nơi chiến trường.

+ Rải rác biên cương mồ viễn xứ: ” rải rác” chỉ số lượng ít ỏi, từ Hán Việt ” biên cương, viễn xứ” chỉ vùng đất xa xôi của Tổ quốc mà ít người qua lại.

+ Áo bào thay chiếu anh về đất /Sông Mã gầm lên khúc độc hành: “anh về đất” sự hi sinh, còn “áo bào” là áo của những chiến tướng thời xưa.

“sông Mã” là biểu tượng của quê hương đất nước trong biện pháp nhân hóa “gầm” vang khúc ca tiễn biệt người lính về với đất mẹ.

Lời thề nguyện mãi gắn bó với mảnh đất miền Tây gian khó. Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

_thái độ lên đường dứt khoát “không hẹn ước, chẳng về xuôi”. Người chiến binh Tây Tiến hiến dâng cả máu xương và linh hồn cho quê hương.

Luận điểm 3: Khái quát nghệ thuật, nội dung.

Vẽ lên bức tượng đài người lính bi tráng là tiếng thơ tài hoa của Quang Dũng trong việc sử dụng thành công biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, liệt kê…[ tái hiện thành công hình ảnh bi tráng của chiến binh Tây Tiến, của lớp lớp thế hệ thanh niên chống Pháp lúc bấy giờ.

3. Kết bài:

Khẳng định vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến: họ là chân dung tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của một thời oanh liệt.

Quang Dũng không phải cái tên xa lạ với bạn đọc yêu thơ. Trên thi đàn văn học kháng chiến chống Pháp, ông như một tiếng thơ độc đáo. Thơ ông là sự kết hợp hài hòa của nhạc, của họa. Có gì lạ để phải ồ lên kinh ngạc đâu bởi Quang Dũng là con người đa tài lắm: vẽ tranh, làm thơ, sáng tác nhạc. Nhưng phải chăng, ông yêu thơ hơn cả? Tiếng thơ ông đằm thắm, nhẹ nhàng, tinh tế và chọn thơ làm con đường gửi gắm, điểm xuyết cho những nốt nhạc, cho những nét vẽ? Tập thơ Mây đầu ô cùng Thơ văn Quang Dũng chính là minh chứng cho tài năng của người thi sĩ tài hoa này.

Tây Tiến là đoàn binh được thành lập vào năm 1947 với nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới Việt Lào. Những chiến binh Tây Tiến đa phần là những học sinh, sinh viên trí thức Hà Nội. Nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ xếp lại bút nghiên, bỏ lại ghế đá, giảng đường và ra đi vì lý tưởng bảo vệ Tổ quốc. Quang Dũng cũng là người thanh niên trí thức đã ra đi với ý chí quyết tâmn và là người đại đội trưởng của binh đoàn Tây Tiến. Vì vậy sau khi rời đơn vị, vào năm 1948, nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng trong lòng nhà thơ và là mạch nguồn để tại Phù Lưu Tranh, Tây Tiến- đứa con tinh thần của nhà thơ ra đời.

Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến được khắc họa qua gian khổ, khó khăn. Trong cái bi, cái chết và khắc nghiệt của cuộc sống kháng chiến, người đọc không cảm nhận được thái độ buồn bã, ảm đạm mà phảng phất âm hưởng tráng lệ, hào hùng. Họ mang khí thế, lòng quyết tâm của tuổi trẻ với tinh thần: “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.

Trước hết, vẻ đẹp bi tráng đã được tái hiện qua khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, đầy thử thách của thiên nhiên Tây Tiến:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút còn mây súng gửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Nhà thơ làm nổi bật địa hình hiểm trở của Tây Tiến với những núi cao và vực sâu.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút còn mây súng ngùi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Diễn tả độ cao muôn trùng của núi cùng với sự chênh vênh, hiểm nguy, nhà thơ đã dùng hai từ láy rất tạo hình đó là “khúc khuỷu” và “thăm thẳm” cùng điệp từ “dốc”. Hình dung trước mắt người đọc là con đường hành quân gian khó và càng thêm khắc nghiệt bởi “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Nhịp thơ 4/3 đã ngắt câu thơ làm hai nhịp tạo cảm giác câu thơ bị bẻ đôi một cách đột ngột. Dốc vút lên thẳng đứng rồi đổ xuống thành vực sâu thẳm. Người chiến binh phải trải qua bao thách thức, trở ngại của thiên nhiên, họ vẫn giữ vững mãi ý chí và niềm tin bước tiếp cùng tinh thần trẻ trung “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Địa hình hiểm trở, không gian “sương lớp” bủa vây, cái hoang lạnh bao phủ cả núi rừng nhưng lại không khiến tinh thần người lính trùng xuống. Họ đang đứng trên ngọn núi cao nhất nên ngỡ súng đã chạm đến đỉnh trời. Thanh súng chiến đấu luôn được giữ chắc bên mình họ để cùng làm nhiệm vụ, trở thành người bảo vệ giúp người lính tiêu diệt kẻ thù. Lúc này đây, khi người lính đứng trên đỉnh cao thì ngọn súng còn lên cao hơn để “ngửi” trời. Bút pháp nhân hóa được sử dụng rất tinh tế bởi đó là cách diễn đạt tự nhiên và đậm chất lính: tinh nghịch và đi dỏm. Người lính mang trong mình khí phách lớn lao vượt qua bao gian nan, nguy hiểm. Họ như mang hào quang của những chiến sĩ thời Trần với hào khí Đông A. Câu thơ là những nét vẽ gân guốc thể hiện ý chí của anh bộ đội Cụ Hồ trong gian khó. Và rồi khí phách của các anh lại được Quang Dũng khắc họa trong một câu thơ dịu nhẹ hơn với toàn thanh bằng “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ tạo cảm giác bâng khuâng. Người chiến binh sau chặng đường hành quân gian khó đã nghỉ chân nơi lưng chừng núi, nơi chân đèo. Họ hướng tầm mắt ra xa để cảm nhận vẻ đẹp của núi rừng trong làn mưa đang giăng mắc. Hình ảnh “nhà ai” gợi lại bao thương nhớ trong lòng người đọc. “nhà ai” phải chăng là nhà của những người dân núi, phải chăng là mái nhà cũ xưa của họ. Nét vẽ của nhà thơ thật tinh tế và mềm mại. Khí phách của người lính giờ đây không phải sự uy nghi sừng sững mà là ý chí, là trái tim là tinh thần hướng đến mái ấm. “nhà ai” cũng là nguồn sức mạnh cổ vũ tinh thần họ bước tiếp chiến đấu vì Tổ quốc.

Quang Dũng đã ghi lại rất hiện thực những gian nan, hiểm nguy người lính Tây Tiến ngày ngày đối mặt thậm chí là hi sinh.

Anh bạn đãi giàu không bước nữa Gục lên xuống mũ bỏ quên đời.

Những hiểm nguy, vất vả, nhọc nhằn đã trực tiếp thể hiện qua từ “dãi dầu, gục”. Cùng với đối rét, ốm đau, nhiều người lính đã ngã xuống trên con đường hành quân khi chưa kịp tới chiến trường. Nhưng Quang Dũng đã diễn tả cái bị ấy bằng cảm hứng lãng mạn qua cụm từ “không biết nữa, bỏ quên đời” khiến sự ra đi của các anh sẽ trở nên thanh thản, nhẹ nhàng. Dường như họ chỉ đang nghỉ chân, ngủ quên một cách vô tư sau khi hành quân mệt mỏi. Sự nhẹ hóa cái chết của những chiến binh Tây Tiến càng tô đậm tinh thần hào hùng, bất khuất của đoàn binh. Trong mọi hoàn cảnh, người lính vẫn luôn trong đội hình chiến đấu. Không khi nào họ quên đi nhiệm vụ trên vai. Cảnh sắc thiên nhiên Tây Bắc tiếp tục được mở ra cả về không gian, thời gian. Tất cả đều hoang vu, bí hiểm như một thử thách:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Âm thanh “thác gầm, cọp trêu người” được diễn tả bằng nghệ thuật nhân hóa và thanh trắc nặng, gắt đã tô đậm âm hưởng dữ dằn và ghê rợn của núi rừng hoang vu luôn lặp đi lặp lại mỗi “chiều chiều” và “đêm đêm”. Những âm thanh đó đe dọa tính mạng, tinh thần người lính Tây Tiến trong mọi không gian, thời gian. Con đường hành quân gian khó mà còn chứa đựng hiểm nguy rình rập. Hành quân trong nơi rừng thiêng nước độc giúp chúng ta càng hiểu hơn về những gian lao, thử thách người lính Tây Tiến phải đối mặt cùng khí phách hiên ngang, tinh thần vượt lên gian khó của họ.

Bi tráng không chỉ được khắc họa qua con đường hành quân gian khó. Nó còn được nhớ qua kỷ niệm về cuộc vượt thác trên dòng sông nước miền Tây:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đung đưa.

Trong khung cảnh chia ly đượm buồn của buổi chiều sương huyền ao hay cũng là khói sương của hoài niệm gợi lên tâm trạng bâng khuâng của người đi- các chiến binh Tây Tiến. Hình ảnh hồn lau qua cảm nhận của tâm hồn nhạy cảm đã trở thành sinh thể có hồn. Phải chăng đó là linh hồn của những người lính đã ngã xuống và ẩn khuất nơi ngàn lau để có thể tiếp tục đồng hành cùng đồng chí đồng đội. Nhưng có lẽ hình ảnh bi tráng nhất chính là con thuyền vượt thác dưới đôi tay chèo khéo léo. Hình ảnh người vượt thác không được miêu tả cụ thể mà chỉ được gợi qua hai nét vẽ đó là “trôi dòng nước lũ”- tư thế hào hùng, hiên ngang, sự chủ động và nét vẽ mềm mại “hoa đong đưa”- sự uyển chuyển, khéo léo, tài hoa của con người chống chọi và làm chủ thiên nhiên. Khẳng định vẻ đẹp của con người với tinh thần ý chí và dạy ta cách sống kiên trì để vượt qua tất cả khó khăn thách thức.

Người lính Tây Tiến cùng vẻ đẹp bi tráng được xây dựng rất chân thực qua bức tượng đài ngôn từ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Xuất thân là những chàng trai Hà thành thanh lịch nhưng người lính khi ra đi đã mang nhiệm vụ trong mình sẽ không ngại mưa bom bão đạn của kẻ thù. Hhiện lên với vẻ đẹp độc đáo và đặc biệt:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Bút pháp lãng mạn và hiện thực đã được nhà thơ sử dụng để làm nổi bật ngoại hình dị thường, lạ lẫm của người lính. “Không mọc tóc, quân xanh màu lá” đó là hệ quả của cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, khó khăn. Người lính bị thương, sốt rét rừng hành hạ làm tóc rụng, da xanh xao. Nhưng cũng có người lính tự cạo trọc đầu để thuận tiện hơn trong sinh hoạt và chiến đấu. Hiện thực khắc nghiệt được Quang Dũng đặc tả rõ nét và chúng ta cũng từng bắt gặp hình ảnh người chiến sĩ kham khổ vì căn bệnh sốt rét rừng:

Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ.

Với cảm hứng lãng mạn, bằng biện pháp đảo ngữ và phủ định từ “không” dứt khoát. Từ bị động, người lính chủ động đón nhận gian khổ: không cần có tóc. Cả một đoàn binh không tóc, lạ lẫm mà ngạo nghễ, ngang tàn. “Quân xanh màu lá” là màu xanh của rừng đại ngàn, của cành lá ngụy trang, là màu áo của anh bộ đội. Cùng với so sánh, ẩn dụ “dữ oai hùm”, người đọc cảm nhận được tư thế thế oai phong lẫm liệt của người lính như những mãnh hổ làm chủ chốn rừng thiêng. Họ hiện lên ốm mà không yếu bởi tinh thần, khí phách của họ làm kẻ thù khiếp sợ. Ẩn chứa bên trong đoàn quân xanh màu lá là một dũng khí bừng bừng, một phong cách mạnh mẽ, một tinh thần thép bất khuất, hiên ngang.

Nhưng bên trong nét ngoại hình dị thường, mạnh mẽ dữ dội ấy là cả một thế giới tâm hồn đa cảm, đa tình và giàu mộng mơ:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Tâm hồn người lính hướng đến giấc mộng lập chiến công. Bi tráng của họ là vẻ đẹp tâm hồn. “Mắt trừng gửi mộng” để mài sắc tinh thần cảnh giác, nêu cao quyết tâm chiến đấu. Các anh “gửi mộng” là gửi giấc mộng lập công, hòa bình và tự do. Giấc mộng đó hoà nhập cùng tình yêu lứa đôi để làm nên giấc mơ lãng mạn “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Các anh mơ về Hà nội- quê hương xứ sở. Ra đi từ thủ đô, mang trong mình nét hào hoa, thanh lịch:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

“Dáng kiều thơm” là người thiếu nữ Hà Thành duyên dáng, yêu kiều. Là một nét mộng mơ trong tâm hồn người lính. Họ ra đi với nỗi nhớ về cảnh cũ, người xưa, những kỉ niệm in dấu để tiếp sức cho họ trên chặng hành trình gian lao phía trước. Nếu người lính nông dân trong thơ Chính Hữu nhớ về “Quê hương anh nước mặn đồng chua” thì người lính Hà Thành- người học sinh, sinh viên thắp sáng tâm hồn mình bằng những mộng, những mơ rất lãng mạn.

Hình ảnh bi tráng của người lính còn được gợi tả qua tư thế lên đường vì lí tưởng, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Nhà thơ không hề né tránh bi thương mất mát. Bi thương được gợi lên từ hình ảnh những nấm mồ hoang nơi rừng sâu biên giới. Và một lần nữa, cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ cái bi thương qua cách diễn đạt rất linh hoạt của nhà thơ. Một loạt từ Hán Việt mang màu sắc cổ kính, sang trọng: biên cương, mồ viễn xứ làm cái bi giảm nhẹ và trở nên hào hùng. Những nấm mồ hoang nơi rừng sâu trở thành mộ chí tôn nghiêm của người chiến sĩ. Bi thương bị ắt hẳn đi bởi tư thế lên đường:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Hai chữ “chẳng tiếc” đặt giữa câu là cách nói ngang tàn, đầy khí phách. Một sự tự nguyện hiến dâng và tâm trạng ra đi rất thanh thản. Đang trong ” đời xanh”- tuổi trẻ với bao hi vọng và hoài bão nhưng họ sẵn sàng dâng hiến cho Tổ quốc. Bởi vậy, cái chết không làm các anh bận lòng, nhụt chí. Tinh thần của anh bộ đội cụ Hồ là lòng quyết tâm, là khí phách ngang tàn.

Vẻ đẹp hào hùng của anh vệ quốc quân còn được minh chứng qua sự hi sinh cao đẹp:

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Hai câu thơ đã trực tiếp các họa những thiếu thốn, khó khăn, gian khổ. Quang Dũng không né tránh cái bi mà dường như mỗi khi đau thương khắc nghiệt thì hồn thơ Quang Dũng lại được nâng lên bởi đôi cánh của lý tưởng. Các anh ngã xuống không “áo bào” sang trọng,cũng chẳng có manh chiếu nghiệm thân. “áo bào” là cách nhìn lãng mạn hóa về bộ quân phục của anh vệ quốc quân, bạc vì mưa nắng, rách vì bom đạn cùng tiễn đưa “anh về đất”. Cách nói giảm để vơi bớt bi thương đồng thời vĩnh viễn hóa sự hi sinh cao đẹp của người lính. Với họ, chết chỉ là cuộc hành trình về với đất mẹ thân yêu sau khi hoàn thành nhiệm vụ với tổ quốc. Linh hồn các anh hòa mãi cùng núi sông:

Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.

Người lính ra đi trong âm thầm: không có tiếng khóc của người thân, không có quân nhạc cử hành. Nhưng đã có tiếng gầm vang của dòng sông Mã thay lời tất cả. Dòng sông là thiên nhiên, cũng là biểu trưng cho quê hương, đất nước và những tình cảm gắn bó thân thuộc. Người lính ra đi dường như đất trời, quê hương đang nghiêng mình tiễn biệt các anh về nơi yên nghỉ trong âm hưởng hào hùng của dòng sông Mã. Khúc ca bi tráng đó đã át đi mọi đau thương của hiện thực và những hi sinh của các anh thật lẫm liệt hào hùng.

Bức tượng đài người lính tiếp tục được xây dựng bằng những lý tưởng cùng thề nguyện mãi gắn bó với:

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Thái độ của người lính lên đường rất dứt khoát “không hẹn ước, một chia phôi”. Đó là khí phách cùng tinh thần quả cảm của người lính. Họ tự nguyện từ biệt người thân, gia đình để dấn thân trên con đường núi rừng thăm thẳm của miền Tây hùng vĩ hiểm trở với lý tưởng:

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

Đó là tinh thần chung của dân, của thời đại. Bởi người lính hướng đến mùa xuân ấy là mùa xuân của đất nước, của cách mạng, mùa xuân thành lập binh đoàn Tây Tiến, mùa xuân của đời người. Người lính gắn bó cùng Tây Tiến vầ linh hồn họ hòa vào núi sông, đất trời miền Tây: Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Đó là tình cảm gắn bó giữa người chiến sĩ với đoàn binh Tây Tiến, với những kỉ niệm bên đồng đội, đồng chí và dù nay có xa cách thì tâm hồn họ vẫn vẹn nguyên với một thời Tây Tiến, một vùng Tây Tiến. Bài thơ mở đầu với nỗi nhớ “chơi vơi” và kết thúc bằng nghĩa tình sâu nặng.

Tây Tiến và đặc biệt là vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến là nét vẽ ấn tượng trong toàn bài thơ. Ngòi bút tài hoa, linh hoạt của Quang Dũng đã viết nên những vần thơ nhịp nhàng, vận dụng khéo léo những từ láy, đan xen câu thơ bằng trắc, những từ Hán Việt giàu sắc thái biểu cảm cùng những hình ảnh ẩn dụ đặc sắc. Bức chân dung bi tráng về anh vệ quốc quân được nhà thơ dựng lên với tất cả tin yêu và tự hào. Sự bi tráng của người lính cũng là của một lớp thanh niên ngày ấy mang trong mình một bầu máu nóng, một tinh thần thép “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Trên bàn cờ trận mạc, họ là những chủ thể đầy ý thức, sống trọn vẹn từng phút giây. Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính cũng là nét hào hùng bi tráng của cả một thời đại.

Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến đã đi vào thơ ca như một lời reo vui đầy tự hào và trân trọng. Anh vệ quốc quân với tinh thần, với khí phách hiên ngang, bất khuất sẽ sống mãi cùng không gian, thời gian. Tinh thần, khí phách người lính đã làm đẹp cho bức chân dung người anh hùng thời kháng chiến. Tất cả được Quang Dũng tái hiện và khẳng định trong Tây Tiến- bức tượng đài người lính vô danh.

Phân Tích Vẻ Đẹp Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng / 2023

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích vẻ đẹp của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Nêu vấn đề cần nghị luận

– Khái quát chung

2. Thân bài: * Khái quát:

– Bài thơ gợi nhớ trong lòng bạn đọc về hình ảnh của đoàn binh Tây Tiến – đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và vùng hậu cứ kháng chiến, đánh tiêu hao sinh lực địch.

* Phân tích:

-“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

+ Hai tiếng “anh bạn” nghe sao mà thân quen đậm chất người lính đến thế!

+ Người lính đang nằm trong giấc ngủ nghỉ giải lao hiếm hoi hay là các anh đã dấn bước hi sinh trên con đường vạn lí trường chinh.

-” Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

+ Bức tượng đài chân dung người lính lên đường bảo vệ biên cương, mang tầm vóc lớn lao.

+ Người lính đều đồng nhất trong dáng hình tóc rụng hết vì những trận sốt rét rừng hoành hành.

+ Biện pháp đảo ngữ khiến cho ba chữ “không mọc tóc” vang lên trong âm điệu hào hùng, rắn rỏi.

+ Nước ra xanh rớt đi của người lính vì bị những trận sốt rét rừng hoành hành.

+ “quân xanh màu lá” đã làm lu mờ đi cái tiều tụy của người lính, hình ảnh của họ hiện lên trong màu áo xanh bát ngát trập trùng như hòa cùng với núi rừng miền Tây.

+ Ba chữ “dữ oai hùm” mở ra vẻ đẹp dữ dằn như hùm thiêng sông núi, sự dữ tợn để chống lại kẻ thù, chung tay bảo vệ biên giới đem lại hòa bình cho cả nước bạn – Lào.

-“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

+ Đó là giấc mộng qua biên giới nơi còn nhiều bóng giặc, giấc mộng dẹp tan bè lũ cướp nước

+ Các anh mơ về “Hà Nội dáng kiều thơm” là nỗi nhớ về Hà Nội, về rồi những cô gái Hà thành yêu kiều và duyên dáng

-“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

+ Cái chết và sự hiểm nguy vẫn luôn bủa vây xung quanh các anh.

+ Hình ảnh đoàn những nấm mồ rải rác khắp cả một miền biên cương đã phô ra hết cái khốc liệt của trận chiến.

+ Các anh ra đi trong tâm thế “chẳng tiếc đời xanh”..

+ Trong giây phút hi sinh thiếu đi tất cả những nghi thức thông thường.

+ Trong giây phút hạ huyệt cũng không có điệu hồn tử sĩ nhưng thay vào đó là tiếng gầm lên của con sông Mã – người bạn đường tri kỉ theo sát bước quân hành của người lính Tây Tiến, nay nó gầm lên trong đau đớn, quặn thắt tiễn đưa vong linh người lính về với đất mẹ.

* Liên hệ mở rộng:

Hình tượng người lính trong thơ Tố Hữu, Chính Hữu.

3. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề nghị luận

– Cảm nhận cá nhân

Quang Dũng viết lên hình ảnh người lính Tây Tiến trong sự ra đi hi sinh nhưng vô cùng nhẹ nhàng:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Tác giả viết hai tiếng “anh bạn” nghe sao mà tha thiết, thân thương, đậm chất người lính đến thế! Dường như các anh đang gục lên súng mũ trong giây phút nghỉ giải lao hiếm hoi để vơi đi cái nhọc nhằn của cuộc chiến. Hay là các anh đã dấn bước hi sinh trên bước đường hành quân cũng trong tư thế hành quân. Thế nhưng dù hiểu theo cách nào đi nữa thì câu thơ vẫn là để tôn vinh, làm bật lên vẻ đẹp của người lính Tây Tiến trên bước đường vạn lí trường chinh. Hình ảnh của các anh hiện lên ngời sáng giữa núi rừng Tây Bắc.

Trong những nét vẽ tiếp theo, ngòi bút của Quang Dũng tiếp tục vẽ lên bức tranh về ngoại hình của người lính Tây Tiến:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

Hai câu thơ là những nét vẽ hết sức chân thực về hình dạng của người lính Tây Tiến dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù, trong cái điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên. Đoàn quân Tây Tiến tiều tụy trong dáng hình tóc rụng hết và nước da xanh xao vì những trận sốt rét rừng hoành hành. Thế nhưng cái tiều tụy ấy nhanh chóng được xóa nhòa đi qua ngòi bút tài hoa của Quang Dũng. Tác giả viết ba chữ “không mọc tóc” mang âm điệu rắn rỏi, hào hùng cùng bốn chữ “quân xanh màu lá” lại càng làm bật lên vẻ đẹp ngang tàng của các anh. Đặc biệt ba chữ “dữ oai hùm” mang theo sức mạnh lớn lao đã che lấp hoàn toàn đi hiện thực đầy khốc liệt và dữ dội ấy. Có thể thấy, ngòi bút của Quang Dũng chưa bao giờ là ngần ngại khi trực tiếp viết lên những hiện thực khốc liệt và dữ dội đến như vậy. Nét thơ ấy ta đã từng bắt gặp trong những vần thơ của Chính Hữu:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”

Hay Tố Hữu cũng đã viết:

“Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ”

Bi tráng là như vậy nhưng ở người lính Tây Tiến cũng không thiếu đi vẻ đẹp lãng mạn đáng nhớ:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Qua những nhọc nhằn, khó khăn của năm tháng chiến đấu các anh vẫn có những giấc mộng thật đẹp. Các anh mơ về “Hà Nội dáng kiều thơm” là mơ về những cô gái Hà Thành yêu kiều, thướt tha và đầy duyên dáng. Người con gái ấy như mang theo tất cả những gì thơm tho và đẹp đẽ nhất của Hà Nội nên thơ.

Hình ảnh ấy hiện lên còn đẹp hơn nữa qua khúc hùng ca:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Trên suốt chặng đường hành quân sự nguy hiểm, chết chóc như bủa vây theo bước chân của người lính Tây Tiến. Bởi thế mà những nấm mồ rải khắp một miền biên cương đã không còn là xa lạ, nó làm nên một phần đời của người lính Tây Tiến. Không chỉ vậy mà nó còn phô ra được hết cái hiện thực khốc liệt và dữ dội nơi trận mạc xông pha. Trước cái chết, hình ảnh của các anh hiện lên vẫn thật đẹp:

“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Người lính Hà Thành bước vào chiến trường đầy ngạo nghễ, họ dứt khoát ra đi chẳng tiếc đời xanh tuổi trẻ. Họ để lại phía sau lưng biết bao nhiêu mộng ước, đam mê, dấn thân vào chiến trường vì màu cờ sắc áo.

Người lính đã ra đi, trong giây phút hạ huyệt thiếu đi cả những nghi lễ thông thường nhất:

“Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Trong giây phút hạ huyệt không có nổi manh chiếu để khâm niệm thi hài liệt sĩ, thiếu đi cả những nghi thức cơ bản, thông thường nhất. Các anh trở về với lòng đất mẹ trong chiếc áo vải đơn sơ thấm biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu. Vậy mà tấm áo ấy lại trở nên đẹp hơn bao giờ hết trong hình ảnh “áo bào” đẹp như tấm áo choàng của các vị trang nam nhi thời loạn cháy bỏng dẹp tan kẻ thù. Ngay đến cả điệu hồn tử sĩ tiễn đưa vong linh người lính cũng không có, thay vào đó đã có tiếng gầm réo của con sông Mã – con sông đã gắn liền với cuộc đời hành quân của người lính. Giờ đây con sông gầm lên trong sự đau đớn tiễn đưa vong linh người lính về nơi an nghỉ cuối cùng.

Như vậy, hình ảnh của người lính Tây Tiến hiện lên mang theo vẻ đẹp vừa bi tráng lại vừa lãng mạn vô cùng. Hình ảnh của các anh hiện lên ngời sáng như những viên ngọc lung linh giữa đất trời Tây Bắc. Hình ảnh ấy ghi tạc vào lòng người về những năm tháng chiến đấu gian lao nhưng tâm hồn các anh vẫn lãng mạn vô cùng.

Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng / 2023

Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Với hồn thơ hào hoa và lãng mạn, nhà thơ đã khắc họa nên hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến, trong bài thơ cùng tên, không chỉ mang đậm chất hào hoa, lãng mạn mà hơn hết đó là vẻ đẹp bi tráng của những tượng đài bất tử.

Bi tráng chính là nỗi buồn, là hiện thực khốc liệt của chiến tranh, là những hy sinh, mất mát, đau thương. Nhưng bi chứ không lụy, nỗi buồn ấy không làm lụi tàn ý chí và niềm tin mà ngược lại, nỗi buồn ấy đã hóa thành sức mạnh, thành ý chiến đấu kiên cường. Đây cũng chính là giọng điệu chủ đạo mà Quan Dũng sử dụng trong bài thơ Tây Tiến.

Nhớ về Tây Tiến là nhớ về rừng, về núi. Quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc vừa thơ mộng trữ tình, lại vừa hoang sơ hùng vĩ. Đó là những địa danh xa lạ, những cung đường “khúc khuỷu”, quanh co, những vực cao sâu “nghìn thước”, tất cả như muốn thách thức, cản trở bước chân chinh phục của những chàng trai Hà thành:

” Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Không chỉ vậy, núi rừng Tây Bắc ngày ấy là nơi ngự trị của biết bao hiểm nguy rình rập người lính:

” Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Đối diện với những khó khăn, vất vả, người lính chỉ biết trân mình chịu đựng để bước tiếp cuộc hành trình. Cách ngắt nhịp dồn dập, những từ láy toàn phần, những âm điệu trúc trắc như càng khắc sâu hơn những chặng đường nguy hiểm. Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình tượng con người hiện ra với dáng vẻ hiên ngang cùng với ý chí kiên cường mà không trở ngại nào có thể làm cho tàn lụi. Thế nhưng, hình ảnh đầu tiên về người chiến sĩ trong bài thơ này cũng chính là hình ảnh xót xa, đầy cảm động:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Có lẽ những khó khăn và vất vả trên chặng đường đã vắt kiệt sức lực của chàng trai trẻ. Tác giả rất tinh tế khi sử dụng từ láy “dãi dầu” để nói về những khó khăn, chịu đừng mà người lính Tây Tiến phải trải qua, để đến lúc mỏi mệt, họ mỏi gối, chùn chân. “không bước nữa”, khép lại hành trình thực hiện nghĩa vụ lớn lao của cuộc đời. Nói về sự hy sinh, nhưng tác giả không hề dùng bất cứ từ ngữ nào để nói về mất mát, chia lìa, chỉ với cụm từ “bỏ quên đời” để gợi nhớ với một niềm tự hào to lớn. Người lính hy sinh nhưng đầu vẫn đội mũ, vẫn giữ chặt cây súng trong tay. Họ ra đi, nhưng vẫn không quên nhiệm vụ, không quên lý tưởng của mình.

Nhưng sự hy sinh của người chiến sĩ ấy chỉ là một trong những sự hy sinh của những đồng chí, đồng đội nơi chiến tuyến. Đi dọc suốt bài thơ, sự hy sinh và chia lìa dù không trực tiếp nhưng cũng thể hiện ở khắp mọi nơi, đặc biệt là ở khổ thơ thứ ba, với câu thơ:

” Rải rác biên cương mồ viễn xứ”

“Rải rác” là từ láy, để nói lên mức độ bao phủ của một thứ gì đó mà trong câu thơ này đã định danh đó là “mồ viễn xứ”. Trong câu thơ này, “rải rác” không hề chỉ sự thưa thớt, xa vắng mà nó lại gợi lên mật độ nhiều và không thể nào định lượng được những nắm mồ gửi lại giữa chặng đường của kẻ lữ hành dang dở. Những từ ngữ Hán – Việt như “biên cương”, “viễn xứ” làm câu thơ thở nên trang trọng và linh thiêng như chính tâm hồn và ý chí của những chàng trai trẻ bởi tất cả họ cùng cất lên một ý chí chiến đấu kiên cường:

” Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh “

Họ “chẳng tiếc đời xanh” vì một lẽ hiển nhiên mà bất cứ người trai nào trong thời kỳ này đều phải thực hiện: “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Họ đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, của non sông, đi theo lời kêu gọi toàn dân kháng chiến của Bác Hồ và đi theo tiếng gọi của chính trái tim mình:

“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ, như cha, như vợ như chồng

Ôi Tổ quốc nếu cần ta sẽ chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”

Họ sẵn sàng bỏ lại ước mơ, bỏ lại mái trường, bỏ lại những tình cảm thân thương, lên đường bảo vệ quê hương được trọn vẹn:

“Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hương rượu say”

Vì vậy, họ chẳng tiếc đời xanh, chẳng tiếc tuổi trẻ bởi họ đã sống đúng với lý tưởng và hoài bão ước mơ. Đây chính là một biểu hiện hùng hồn cho tinh thần bi tráng của bài thơ. Con người ta vượt lên tất cả những tình cảm tủn mủn, nhỏ nhặt đế sống vì cái lớn lao, sống vì lý tưởng cao đẹp.

Bài thơ đã nhiều lần nói về cái chết, nhưng cái chết nào cũng đẹp, cái chết nào cũng hiên ngang, cái chết nào cũng tạc nên “dáng đứng Việt Nam” bất diệt, dẫu tiễn đưa họ không phải là cờ hoa, biểu ngữ, cũng không phải là những tiếng đại bác đưa tiễn vong linh hay những bài điếu văn ca ngợi chiến công lừng lẫy, họ ra đi rất âm thầm trong vòng tay đồng đội, với chiếc áo nâu sòng của người bạn gửi vội thay cho manh chiếu không thể tìm được giữa rừng, cùng với đó là sự xót xa của thiên nhiên tiễn biệt người bạn đồng hành suốt chặng đường ngược dòng sông Mã:

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành “

Ở đây, chất bi tráng được thể hiện rõ ràng nhất, với sự trang trọng bao hàm nỗi xót xa. Cả thiên nhiên, núi rừng cùng cất lên khúc hát tiễn đưa, như giai điệu trầm hùng của khúc ca “Hồn tử sĩ”. Vẻ đẹp bi tráng hiển hiện trong từng câu thơ, trong từng hình ảnh nhưng chỉ khi dừng lại ở bức chân dung người lính, tinh thần ấy, vẻ đẹp ấy mới được bộc lộ một cách rõ ràng và cụ thể.

Bằng tài năng nghệ thuật của mình, Quang Dũng đã phác họa Tây Tiến với những đường nét, hình khối, màu sắc trong tâm tưởng, đó là những ký ức không bao giờ phai nhạt, đôi khi, những ký ức ấy lại còn được đệm thanh âm, giai điệu để trở nên xót xa như chính tâm hồn của tác giả khi nhớ lại thời kỳ chiến đấu kiêu hùng trên mặt trận phía Tây. Có thể nói, Quang Dũng đã tạc nên một tượng đài bất tử về hình ảnh người lính trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đó là tượng đài tập thể gân guốc, oai phong, nghiêm trang và đẹp một cái kiêu hùng.

Chiến tranh là có mất mát, hy sinh. Đã có biết bao tác phẩm nói lên điều đó. Nhưng nét riêng của Quang Dũng chính là thể hiện sự hy sinh ấy một cách hào hùng. Cả bài thơ nói về cái chết, nói về sự hy sinh, nhưng không hề xuất hiện hai từ ngữ ấy trực tiếp. Đó chính là cái hay, là cái mạnh mẽ và kiên cường. Để rồi một tượng đài liệt sĩ được dựng lên trên thực tại khắc nghiệt bằng cái mạnh mẽ và kiên cường ấy, tạo nên vẻ đẹp bi tráng bất tử trong văn học Việt Nam.