Top 5 # Vẻ Đẹp Thiên Nhiên Trong Bài Thơ Tây Tiến Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Phân Tích Và So Sánh Vẻ Đẹp Thiên Nhiên Trong Bài Thơ Tây Tiến

Thân bài: 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm. Quang Dũng (1921-1988) là nghệ sĩ đa tài, có hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa, đặc biệt khi ông viết về những người lính Tây Tiến và xứ Đoài quê mình. Tây Tiến là bài thơ xuất sắc nhất, tiêu biểu cho đời thơ, phong cách sáng tác của ông. Bài thơ bằng bút pháp lãng mạn, sự sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu đã bộc lộ một nỗi nhớ sâu sắc da diết của tác giả về những người lính Tây Tiến anh dũng hào hoa và núi rừng miền Tây hùng vĩ, Mỹ lệ. Đường thơ, đường cách mạng của Tố Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam. Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác trong bối cảnh chia tay với Việt Bắc đầy lưu luyến. Cảnh và người Việt Bắc đã để lại nỗi nhớ không thể nào quên trong tâm hồn người cán bộ về xuôi. Không nỗi nhớ nào về thiên nhiên Việt Bắc lại thiếu hình ảnh về người Việt Bắc và không một nỗi nhớ nào về con người Việt Bắc lại theiéu nỗi nhớ về vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc. Bởi lẽ đơn giản con người Việt Bắc gắn bó với thiên nhiên, đến lượt mình người chiến sĩ cách mạng sống chan hòa với người Việt Bắc được che chở giữa đại ngàn núi rừng.

2.2. Thiên nhiên Việt Bắc 2.2.1. Thiên nhiên Việt Bắc hùng vĩ Với Tố Hữu rừng núi Tây Bắc là nơi chôn bao lớp xác quân thù và cũng là người bạn đồng hành, chở che cho những anh lính trên đoạn đường hành quân đầy gian khổ: Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù (Việt Bắc – Tố Hữu) Trong những ngày đầu kháng chiến gian khổ của giai đoạn cầm cự, phòng ngự, bộ đội phải dựa vào dân, dựa vào núi rừng Việt Bắc hiểm trở để đánh địch. Trước giờ khắc quyết định của lịch sử, không chỉ nhân dân mà cả núi rừng cùng đều vùng lên, chung sức đánh Tây. Với cuộc kháng chiến đầy gian lao của quân và dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có chí, có tình người, đã trở thành những người bạn, những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của toàn quân. Chỉ với bốn câu thơ, chữ rừng và núi được lặp đi lặp lại đến năm lần, nó rải kín câu thơ, rải kín đất Việt Bắc tạo lên thế hiểm của trường thành của lũy thép vây bọc quân thù. Nhớ về lúc kháng chiến, khi giặc đánh giặc lùng, cũng là khi quân ta đang khó khăn xoay sở tình thế, ta biết địch mạnh hơn ta rất nhiều, nhưng trên trận địa quen thuộc nói là thua địch cũng không phải là dễ. Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây, bằng phép nhân hóa, rừng bạt ngàn cây, với núi bao la đá để rồi trên dưới một lòng cùng con người đánh đuổi quân xâm lược. Đồng thời thể hiện tình cảm giữa con người kháng chiến và thiên nhiên núi rừng Việt Bắc rất tha thiết, bao la. Ở cặp lục bát thứ hai ta sẽ thấy rõ hơn công việc của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc. Núi thì giăng thành lũy, rừng thì đảm nhận hai công việc. Như một người mẹ che chở cho con mình, rừng bao bọc cho bộ đội trước mặt kẻ thù cướp nước. Rừng trở nên kiên quyết đến dữ dằn cùng với việc vây quân thù để tiêu diệt, cái trùng trùng điệp điệp của rừng, cái khí thế hiên nagng kiêu hùng của những vách núi đã làm cho biết bao kẻ thù khiếp sợ và bất lực. Quả thật Việt Bắc đã trở thành địa linh nhân kiệt kể từ đó. Qua đó càng làm sáng tỏ thêm nhận định: Việt Bắc là cái nôi của cách mạng dân tộc ta.

Vẻ Đẹp Thiên Nhiên Tây Tiến Trong Bài Thơ Cùng Tên Của Quang Dũng

1 Tìm hiểu tác giả Quang Dũng và tác phẩm Tây Tiến

1.1 Những thông tin về nhà thơ Quang Dũng

1.2 Hoàn cảnh ra đời của bài thơ Tây Tiến

2 Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến trong bài thơ của Quang Dũng

2.1 Thiên nhiên núi rừng hoang sơ và hùng vĩ

2.2 Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến thơ mộng và trữ tình

2.3 Hành trình của người lính với vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến

3 Nhận xét khi phân tích vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến

4 Dàn ý phân tích vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến của Quang Dũng

4.1 Mở bài phân tích vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến

4.2 Thân bài phân tích vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến

4.3 Kết bài phân tích vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến

Tìm hiểu tác giả Quang Dũng và tác phẩm Tây Tiến

Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến hiện lên trong bài thơ được thể hiện trên nhiều khía cạnh. Trước tiên, người đọc cần nắm được những thông tin cơ bản về nhà thơ cũng như hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.

Nhà thơ Quang Dũng sinh năm 1922 và mất năm 1988, quê ở Đan Phượng thuộc tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Ngay từ khi còn là một chàng trai Hà thành, Quang Dũng đã nguyện một lòng theo đuổi lí tưởng cách mạng. Chính vì vậy, ông đã xung phong vào chiến trường trong tâm thế của một người chiến sĩ sẵn sàng đối mặt với những thử thách, gian nguy.

Chính trong quá trình làm nhiệm vụ của một anh bộ đội, Quang Dũng đã có những trải nghiệm quý báu để có được những năng khiếu khác của mình như vẽ tranh, soạn nhạc… Từ một người trai trẻ say sưa với bút nghiên, sách vở, Quang Dũng bước vào hàng ngũ của người chiến sĩ với tinh thần hăm hở và đồng thời cũng trở thành một nhà thơ rất đỗi hào hoa, lịch thiệp.

Tinh thần phơi phới và những trăn trở của mình trong những năm tháng dài chiến đấu, nhà thơ – chiến sĩ ấy sẽ gửi hết vào trong một số tác phẩm nổi tiếng của ông như: “Rừng biển quê hương” (1957), “Đường lên Châu Thuận” (1964), “Rừng về xuôi” (1968), (1986). Về sau, những sáng tác mà Quang Dũng đóng góp vào sự nghiệp văn học nước nhà đã giúp ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt và gắn với với những kỉ niệm rất sâu đậm của Quang Dũng với đoàn binh có tên gọi Tây Tiến. Đoàn binh của Quang Dũng được thành lập vào năm 1947 và được giao nhiệm vụ cùng với bộ đội nước bạn Lào bảo vệ biên giới Việt Lào trong thời điểm thực dân Pháp mở đợt tấn công mạnh mẽ ở vùng Tây Bắc Bộ Việt Nam và vùng Thượng Lào.

Đồng đội của Quang Dũng phần lớn cũng là những học sinh, sinh viên Hà Nội như ông. Do vậy, trong họ luôn có sự sôi nổi, tinh thần nhiệt thành của sức trẻ. Khi trở thành những anh bộ đội, và nhất là trong hoàn cảnh phải đóng quân ở một nơi có địa hình vô cùng hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt và điều kiện sinh hoạt thiếu thốn ở Tây Bắc, những người trai ấy vẫn không tỏ ra nản lòng, ái ngại mà ngược lại vẫn luôn yêu đời, lạc quan trong cuộc sống và anh dũng, kiên cường trong chiến đấu.

Đồng hành cùng những người đồng chí trong một khoảng thời gian và cùng nhau hành quân trên địa bàn rộng lớn của các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, Thanh Hóa và cả Sầm Nưa (Lào), Quang Dũng đã có rất nhiều những kỉ niệm bên đồng đội của mình. Chính những kỉ niệm đó là nguồn cảm hứng dạt dào để nhà thơ có thể viết nên những dòng thơ để bày tỏ nỗi nhớ về đơn vị cũ khi ông đã chuyển công tác. Bài thơ ban đầu có tên là “Nhớ Tây Tiến” và được in trong tập (năm 1986).

Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến trong bài thơ của Quang Dũng

Khi cảm nhận về tác phẩm, ta thấy vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến hiện lên với hình ảnh với những núi rừng hùng vĩ và hoang sơ, thơ mộng và trữ tình…

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Bằng những cái tên cụ thể của từng địa danh, Quang Dũng không chỉ gợi nhắc những nơi đã để lại trong ông nhiều ấn tượng sâu sắc mà trước hết có lẽ là những ấn tượng về một vùng thiên nhiên núi rừng hoang sơ, hùng vĩ. Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến ấy đã bao lần làm xao xuyến tâm hồn những người chiến sĩ trên bước đường hành quân:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

Làn sương dày đặc, màn đêm hơi lạnh giá nơi núi rừng Sài Khao, Mường Lát đã gây ra rất nhiều những trở ngại, khó khăn đối với những người lính. Trên chặng đường hành quân vạn lí, đoàn quân đã hay sự bất lợi của điều kiện thiên nhiên càng làm cho sự mỏi mệt ấy thêm trĩu nặng. Tuy nhiên, sương phủ, đêm lạnh chưa phải là tất cả những khó khăn mà người lính Tây Tiến phải vượt qua mà họ còn phải đối diện với địa hình trắc trở, gập ghềnh của núi rừng Tây Bắc:

Những câu thơ đã tạo nên vẻ trùng điệp đầy hiểm trở của núi rừng. Bên trên làn sương giăng kín là sự tiếp nối của “dốc thăm thẳm” , bủa vây người lính không chỉ là màn đêm đầy hơi lạnh mà còn là sự hiểm nguy của vực sâu. Trải qua hành trình “ngàn thước lên cao” , tưởng chừng đã có lúc mũi súng của người lính như chạm tới cả độ cao của vùng núi non bốn mùa mây phủ qua hình ảnh “súng ngửi trời” rất đặc sắc của nhà thơ.

Lên đến đỉnh cao vời vợi thì cũng là lúc bên dưới chân họ hiện ra sự thăm thẳm của vực sâu. Khi phân tích vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến, ta thấy câu thơ “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” với nhịp thơ 4/3 đã tạo nên cảm giác như con đường hành quân của người lính bị ngắt đôi giữa một bên là núi rừng ngút ngàn và một bên là vực sâu hun hút. Chính điều đó càng diễn tả sự chênh vênh, cheo leo của nơi có địa hình không chỉ vừa “khúc khuỷu” , “thăm thẳm” , mà còn và – gập ghềnh.

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Nhưng thách thức với người lính cũng không dừng lại ở đây, phía trước họ còn có cả sự rợn ngợp của núi rừng và hiểm nguy của thú dữ:

Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ đã khiến cho người lính phải đương đầu với biết bao th ách thức, gian nguy nhưng với họ sự hoang sơ, hùng vĩ thậm chí là dữ dội, rợn ngợp ấy của thiên nhiên đất trời đôi khi lại tạo cho cơ hội rèn luyện ý chí và lòng quyết tâm của bản thân.

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Tuy hùng vĩ, dữ dội là những đặc tính đặc trưng của miền Tây Bắc nhưng đã có lúc vùng đất này lại xuất hiện trên dòng viết của Quang Dũng với những nét vẽ hết sức thơ mộng, trữ tình:

Khi phân tích vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến, ta thấy cảnh mưa xa xa nơi Pha Luông mà người lính có dịp dừng chân lại phóng tầm mắt để cảm nhận lại là giây phút họ có thể lắng lòng mình lại sau những mỏi mệt của đèo cao, thác dữ. Chính lúc này, họ có thể nhẹ nhõm đắm mình để tìm về cảm giác thân thương nhờ những mái nhà xa xa, biết đâu những lúc như vậy, hình ảnh quê nhà lại tìm về để rồi họ có thêm động lực để tiếp bước hành quân.

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Cảm giác về vùng đất Tây Bắc thơ mộng còn gợi nên qua hình ảnh: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” . Đóa hoa trong đêm hơi có thể gợi rất nhiều những liên tưởng. Đó có thể là đóa hoa thật đang hé mở trong đêm sương, có khi là hoa đuốc soi sáng con đường hành quân nhưng cũng không ngoại trừ trường hợp là hình ảnh của nàng thơ nào đó trong tâm trí người lính trẻ. Dù thể hiện ý nghĩa nào thì có lẽ hình ảnh tươi đẹp ấy cũng là một cách xoa dịu đi những mỏi mệt, vất vả, thể hiện chút bay bổng, lãng mạn của những người chiến sĩ trên đường hành quân.

Chỉ với bốn câu thơ nhưng khung cảnh của một miền sông nước huyền ảo, nhẹ nhàng đã làm dâng lên trong lòng người đọc cảm giác mênh mang, xao xuyến… Không gian hiện hữu trong sự hài hòa của cảnh vật và con người. Nếu như con người xuất hiện với sự duyên dáng trên chiếc thuyền xinh xinh là điểm nhấn của bức tranh thì ngọn lau trên bãi bờ và cánh hoa dưới dòng nước lại điểm tô thêm cho bức tranh sự sinh động bởi những sự vật ấy như cũng có linh hồn riêng của nó. Cái hồn của cảnh ấy và người ấy chính là một trong những yếu tố quan trọng góp vào bức tranh thiên nhiên Tây Bắc nét vẽ trữ tình, thơ mộng.

Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến cá tính là thế nhưng luôn đồng hành cũng mọi nẻo đường hành quân của họ. Ngay đến khi họ trở về với đất mẹ yêu thương, thiên nhiên nơi đây cũng tiễn các anh đi bằng tiếng gầm vang vọng cả đất trời:

“Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Khúc độc hành vang lên như một lời chào tưởng niệm. Từng ngọn núi, con dốc của vùng đất này dường như đã in dấu lại bước chân người lính. Có thể khoảng thời gian họ sống và công tác tại nơi đây chưa phải là dài nhưng cũng đủ để gọi là kỉ niệm. Đó là kỉ niệm về một xứ sở có núi rừng hùng vĩ, có mây sương giăng kín, có thú dữ và cả thác cao. Và sự hùng vĩ, hoang sơ ấy không chỉ hiện lên trong những hình ảnh của sự vật mà còn thể hiện qua âm thanh vang dội của núi sông hùng thiêng trong giây phút tạ từ người chiến sĩ.

Núi rừng Tây Bắc in hằn bước chân những người lính, ngày ra đi họ đã có những dự cảm về mất mát, hi sinh nhưng có biết đâu mối duyên với vùng đất này giúp họ gắn bó với nó trong phút chia phôi:

“Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

Tây Tiến là nơi những người trai trẻ Hà thành bắt đầu cuộc hành trình chinh phục lí tưởng cao đẹp nhưng đồng thời cũng là nơi họ nằm lại. Câu thơ “hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” như thể hiện sự gắn bó đến phút cuối như để trọn vẹn nghĩa tình với vùng đất này.

Tuy nhiên việc về với đất không phải là dấu chấm kết thúc cho con đường chiến đấu mà sự hi sinh của người lính ấy sẽ tạo động lực cho những người đồng đội của anh có thể tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ dang dở của cả đoàn binh. Và khi phân tích vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến, ta thấy có một sự thật là dù cho họ hi sinh nhưng tâm hồn và lí tưởng cao đẹp của họ vẫn còn mãi với núi sông đất trời và trong lòng những người ở lại…

Nhận xét khi phân tích vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến

Thiên nhiên Tây Tiến trong bài thơ đã được hiện hữu thông qua những từ ngữ đặc tả độc đáo, cách ngắt nhịp đặc sắc và cả những hình ảnh giàu sức gợi. Nhờ việc sử dụng những phương diện nghệ thuật ấy mà Quang Dũng đã giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp đầy ấn tượng của thiên nhiên Tây Bắc. Đó không chỉ là vẻ đẹp của sự hùng vĩ, hoang sơ, mĩ lệ, trữ tình mà còn là vẻ đẹp mang tính gắn kết giữa cảnh vật và người lính trên bước đường hành quân.

Tóm lại, thông qua việc khắc họa một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ, mĩ lệ nhưng lại vô cùng thơ mộng, tác giả đã làm nổi bật lên vẻ đẹp hình tượng người lính Tây Tiến. Vẻ đẹp của những người chiến sĩ gốc Hà thành ấy là sự kết tinh của ý chí, lòng quyết tâm và cả tinh thần lạc quan, tâm hồn lãng mạn, hào hoa.

Dàn ý phân tích vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến của Quang Dũng

Giới thiệu những nét chính về tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.

Có thể đi từ đề tài thiên nhiên trong thi ca nghệ thuật xưa nay, tiếp tục dẫn vào phân tích vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng.

Hùng vĩ và hoang sơ là nét đẹp đầu tiên của núi rừng miền Tây.

Trữ tình và thơ mộng cũng là điểm nổi bật trong vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến.

Hành trình của người lính gắn bó với vẻ đẹp của thiên nhiên miền Tây.

Khái quát lại những nét chính trong bài viết khi tìm hiểu vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến.

Bày tỏ suy nghĩ của bản thân khi cảm nhận và phân tích vẻ đẹp thiên nhiên miền Tây trong tác phẩm của Quang Dũng.

Như vậy bài thơ tây tiến của tác giả Quang Dũng đã khắc họa thành công một thiên nhiên miền Tây hoang sơ hùng vĩ nhưng cũng không kém phần lãng mạn và mĩ lệ. Nhà thơ Quang Dũng như đã tạc vào tâm hồn độc giả bao thế hệ về vẻ đẹp thiên nhiên Tây Tiến trong tình cảm yêu mến thiết tha.

Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên Tây Tiến của Quang Dũng

Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến của Quang Dũng

Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng – Ngữ Văn lớp 12

Please follow and like us:

So Sánh Vẻ Đẹp Thiên Nhiên Trong Bài Thơ “Tây Tiến” (Quang Dũng) Và “Việt Bắc” (Tố Hữu)

So sánh vẻ đẹp thiên nhiên trong bài thơ “Tây Tiến” (Quang Dũng) và “Việt Bắc” (Tố Hữu)

“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây, súng ngửi trờiNgàn thước lên cao, ngàn thước xuốngNhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Và:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùngRừng cây núi đá ta cùng đánhTây Núi giăng thành luỹ sắt dàyRừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”

(Việt Bắc- Tố Hữu)

Tây Tiến (Quang Dũng) và Việt Bắc (Tố Hữu) là hai tác phẩm nổi bậc củ nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Ở hai bài thơ, vẻ đẹp thiên nhiên rừng núi được khắc họa đậm nét bằng bút pháp vừa lãnh mạn, vừa hiện thực. Mỗi cảnh vật mang sắc thái riêng, hết sức độc đáo.

Quang Dũng là nhà thơ của xứ Đoài mây trắng. Thơ ông là tiếng nói của một hồn thơ hào hoa lãng mạng, nhất là những vần thơ viết về lính. Các sáng tác tiêu biểu của Quang Dũng bao gồm: Mây đầu Ô, Mùa hoa gạo, Đôi mắt người Sơn Tây… Bài thơ Tây Tiến ra đời năm 1948, trích trong tập “Mây đầu Ô” là một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp.

Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, lá cờ đầu của thi ca cách mạng Việt Nam. Ông là người viết sử bằng thơ vì mỗi giai đoạn lịch sử đi qua, Tố Hữu đều lại một tập thơ giá trị: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và Hoa… Bài thơ Việt Bắc ra đời vào tháng 10-1954 khi trung ương Đảng rời chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội.

Cảm nhận hai đoạn thơ: Đoạn thơ trong bài thơ Tây Tiến là hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ dữ dội, thơ mộng trữ tình.

Thiên nhiên hùng vĩ dữ dội ở con đường hành quân nhiều gian khổ. Nhiều từ láy được huy động để diễn tả sự hiểm nguy: Khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút. Phép nhân hóa “sung ngửi trời” diễn tả tinh tế độ cao. Phép tương phản đối lập diễn tả cảnh đèo cao, dốc thẳm, rừng dày “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”.

Thiên nhiên trữ tình, thơ mộng “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt nên bởi những thanh bằng gợi cảm giác êm ả, tươi mới. Hình ảnh thơ gợi vẻ đẹp nên thơ.

Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn cân đối hài hòa giữa các thanh bằng trắc; phép nhân hóa, tương phản, cách sử dụng từ láy tượng hình…

Đoạn thơ trong bài Việt Bắc.

Thiên nhiên gắn bó hài hòa với con người cùng chung mất mát đau thương, cùng chung lưng đấu cật chống kẻ thù chung “Nhớ khi giặc đến giặc lùng/Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây”.

Con người và thiên nhiên tạo thành một thế trận trùng điệp dồn kẻ thù vào “lũy sắt dày”, vào “mênh mông bốn mặt sương mù”. Thiên nhiên là hậu phương vững chắc và cũng là người bạn chiến đấu của con người.

Nghệ thuật: Thể thơ lục bát truyền thống, phép tu từ nhân hóa, hình ảnh thơ ngôn ngữ thơ giàu tính tạo hình.

So sánh:

Giống nhau: đều là những bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp của núi rừng trong thời kỳ chống Pháp. Đều được viết bằng bút pháp lãng mạn cách mạng.

Khác nhau:

+ Thiên nhiên trong Tây Tiến thiên về diễn tả sự khắc nghiệt, dữ dội. Là gian khổ thiếu thốn mà người lính phải vượt qua. Thiên nhiên trong Việt Bắc thiên về miêu tả sự gần gũi và đồng lòng với con người.

+ Thiên nhiên trong Tây Tiến mang hai vẻ đẹp hài hòa: hùng vĩ và lãng mạn. Thể thơ thất ngôn cũng góp phần làm cho bức tranh thơ thể hiện được những nét trên. Trong Việt Bắc, thiên nhiên có chiều hướng gắn với hiện thực cuộc kháng chiến khi ta dựa thế rừng núi để đáp trả lại kẻ thù. Thể thơ lục bát biến hóa linh hoạt mang lại một thiên nhiên hùng vĩ nhưng cũng thật gần gũi.

Kết thúc vấn đề, tổng kết lại vấn đề nghị luận.

Cảm Nhận Vẻ Đẹp Bức Tranh Thiên Nhiên Trong Bài Thơ Cảnh Ngày Hè

Mở bài 2: Thiên nhiên bốn mùa luôn là bức tranh tươi đẹp. Mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng. Mùa xuân là lúc đất trời nở hoa còn mùa thu là bước chuyển giao từ sự sinh sôi rực rỡ đến sự héo tàn, mùa đông thì cảnh vật chìm vào giá băng. Tuy trong ba mùa, mùa hè ít được xuất hiện nhất trong thơ văn. Nhưng khung cảnh thiên nhiên mùa hè ấy lại được hiện lên một cách đầy sinh động trong những vần thơ của Nguyễn Trãi.

Đôi nét chính về Nguyễn Trãi và bài thơ Cảnh ngày hè

Để hiểu hơn về nội dung và tư tưởng của tác phẩm, trước khi phân tích và cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè, bạn cần nắm được sơ nét về tác giả cùng tác phẩm.

Giới thiệu về tác giả Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi là một nhà thơ một nhà quân sự chính trị lỗi lạc của đất nước. Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, quê ở tỉnh Hải Dương. Ông đã từng cùng cha là Nguyễn Phi Khanh thi đỗ và ra làm quan dưới triều nhà Hồ. Nhưng khi giặc Minh xâm lược, nhà Minh thất thủ, cha ông bị bắt giải sang Trung Quốc.

Nhớ lời cha dặn ông quyết tâm đi tìm minh chủ phò tá để phục hưng nước nhà. Cuối cùng ông đã tìm gặp được người có cùng chí hướng đó là Lê Lợi. Kể từ ngày gặp Lê Lợi ông đã dốc hết tâm sức cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và trở thành khai quốc công thần cho triều Hậu Lê.

Nhưng nhắc đến Nguyễn Trãi không chỉ nhắc đến sự nghiệp chính trị vĩ đại mà còn phải nhắc đến sự nghiệp văn học đồ sộ. Từ những tác phẩm mang đậm sức chiến đấu như Quân trung từ mệnh tập đến những tác phẩm trữ tình nhẹ nhàng đậm chất thơ văn, Nguyễn Trãi đều để lại dấu ấn cho người đọc.

Với ông, thiên nhiên là người bạn thân cố tri cùng ông san sẻ mọi nỗi buồn. Trong quan hệ với thiên nhiên, ông không phải là một vị quan với chiến công vang dội mà ông chỉ là một người bình thường, một khách thơ.

Tìm hiểu tác phẩm Cảnh ngày hè

Cảnh ngày hè được trích từ Quốc âm thi tập. Quốc âm thi tập gồm 254 bài thơ được viết hoàn toàn bằng chữ Nôm được chia làm bốn phần là vô đề, môn thì lệnh, môn hoa mộc, môn cầm thú. Đây là một nỗ lực rất đáng ghi nhận của Nguyễn Trãi.

Nhờ có ông và nhờ có tập thơ này đã tạo nền móng cho việc sử dụng chữ Nôm để sáng tác thơ văn – vốn chỉ dùng chữ Hán. Tập thơ đã đánh dấu được vai trò của chữ Nôm đối với nền văn học. Bởi đọc thơ Nôm của Nguyễn Trãi tuy giản dị mộc mạc nhưng lại uyển chuyển tinh tế nhẹ nhàng gieo lại nhiều cảm xúc thẩm mĩ cho người đọc. Và bài thơ Cảnh ngày hè cũng là một bài thơ như thế.

Bài thơ được đánh số là bài 43 trong mục Bảo kính cảnh giới – Gương báu răn mình (bao gồm tổng 61 bài). Tác phẩm đã khắc họa một khung cảnh thiên nhiên bình dị nhưng tràn đầy sức sống nơi thôn quê yên bình.

Cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

Khung cảnh thiên nhiên cùng tâm thế người thi nhân, bức tranh cảnh vật cũng như cuộc sống là những nét chính cần tìm hiểu khi cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè.

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

Tâm thế ngắm cảnh thiên nhiên của người thi nhân

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trãi đã nói về một hoàn cảnh nhàn rỗi đặc biệt:

Nhịp thơ 1-2-3 với ngắt nhịp tự do cùng cách kể tự nhiên và thoải mái như lời nói hằng ngày đã cho thấy tâm thế ngắm cảnh của thi nhân. Khi cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè, ta thấy “rồi” ở đây thể hiện sự rảnh rỗi, nhàn hạ. “Hóng mát thuở ngày trường” thể hiện một hoạt động thư thái, nhàn tản và cũng không kém phần tao nhã. Tâm thế của người thi nhân hiện lên một cách thư thái, an nhàn, thảnh thơi. Với tâm thế ấy thì bức tranh thiên nhiên nơi làng quê cũng hiện lên hòa hợp với tâm hồn của con người.

Trạng thái nhàn rỗi không vướng bận này là một trạng thái bình thường với mọi người như với một người luôn nặng lòng với đất nước như Nguyễn Trãi, con người mà ” tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc “, thì đây là một trạng thái bất thường. Gắn với hoàn cảnh lịch sử đây là lúc Nguyễn Trãi không được triều đình trọng dụng nên cáo lão lui về ở ẩn để giữ khí tiết. Đây là một nét buồn trong sự nghiệp của ông, vì ông còn mong muốn đóng góp nhiều hơn cho đất nước…

Nhưng nghĩ ở một góc độ khác đây lại là một cơ hội hiếm hoi cho ông sống cho bản thân mình. Nên đây là lúc để ông gạt bỏ hết mọi bộn bề lo toan mà tận hưởng những phút thanh nhàn hiếm hoi trong suốt cuộc đời của ông. Chính vì vậy, trong hoàn cảnh đó ông không buồn mà lại tận dụng nó dùng nó để “hóng mát”, chiêm ngưỡng bức tranh thiên nhiên.

Cách kết hợp ngày trường khiến cho ta có cảm giác thời gian đang kéo dài ra đến bất lực chán chường. Nhưng trong khoảng thời gian ngày dài đằng đẵng ấy ông đã có thiên nhiên cùng bầu bạn, cùng chia sẻ nhau khoảng thời gian ấy. Cách ngắt nhịp 1/2/3 là một sự phá luật của Nguyễn Trãi trước cách ngắt nhịp cổ điển chẵn trước lẻ sau của thơ ca trung đại. Từ đó gợi ta cho liên tưởng về hình ảnh một ông già râu tóc bạc phơ từng bước từng bước đi dạo ngoài hiên làm bạn với cây cỏ thiên nhiên.

Khi phân tích vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè, ta thấy đó được xem là một phong thái ung dung tự tại, thoát tục dường như không có gì có thể trói buộc hay làm vẩn đục tâm hồn thanh cao này.

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương”

Bức tranh cảnh vật trong bài Cảnh ngày hè của tác giả

“Mộng lành nảy nảy bởi hòe trồng Một phát xuân qua một phát trông Có thuở ngày hè trương tán lục Đùn đùn bóng rợp cửa tam công”

Thiên nhiên với nét phác thảo xanh đầu tiên

“Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Mỗi miền quê lại đặc trưng bởi những phong cảnh thiên nhiên riêng biệt. Đó có thể là hình ảnh của quán nước, là nét đẹp của gốc đa, sân đình, là cánh diều, là triền đê…. Nhưng khi cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè, ta thấy cây hòe hiện ra gợi cho ta ấn tượng về giấc mộng công danh như điển tích giấc mộng về cây hòe. Tuy vậy, cây hòe trong thơ của Nguyễn Trãi lại là một hình ảnh biểu trưng của mùa hè. Nguyễn Trãi đã từng sử dụng hình ảnh cây hòe để gợi tả sức sống mùa hè trong những ý thơ:

“Long lay đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”

Hiện lên trước mắt người đọc là hình ảnh hòe buông sắc lục đang bao trùm lên không gian và cảnh vật xung quanh. Đó là một màu xanh đặc trưng vốn có, và cũng chính màu xanh đó đã mở rộng không gian, tạo cảm giác thư thái giữa những ngày hè oi nồng. Nét phác họa đầu tiên của bức tranh mùa hè đó là màu xanh của cây hòe. Thiên nhiên trong thơ trung đại thường mang tính ước lệ như khi tả mùa xuân, Nguyễn Du chỉ phác họa bằng:

“Mặt đất mây đùn cửa ải xa” “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”

Hay khi tả mùa thu:

Nhưng ở Nguyễn Trãi ông lại thiên về tả thực, tả sức sống được gợi ra từ cảnh vật. Chính vì vậy mà cây hòe của ông không mềm yếu mong manh cũng không phải là một ẩn ý biểu trưng cho đời người ngắn ngủi mông công danh. Sức sống của cây hòe dường như dồn lại ở từ láy “đùn đùn”. “Đùn đùn” là từ láy diễn tả sự dồn nén chực chờ để bung tỏa. Như Đỗ Phủ cũng từng dùng từ “đùn đùn” để gợi ra sự hùng vĩ của cảnh vật.

Và sau này, ta còn có Huy Cận với câu thơ:

“Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ”

Cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè sẽ thấy “tán rợp giương” gợi tả hình ảnh về cây hòe xòe tán lá dường như bao phủ cả đất trời. Một màu xanh mát che phủ khắp cả không gian. Mùa hè thường oi bức nhưng với cái nền xanh tươi mát này ta lại không cảm thấy một chút oi bức nào.

“Cuối trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”

Cây thạch lựu đang trổ dáng ngày hè

Trên khung nền xanh ấy, Nguyễn Trãi còn chấm phá thêm bởi những chấm đỏ như đang nở bung của cây thạch lựu. Đan xen giữa vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè chính là hình ảnh thạch lựu tô điểm thêm sắc đỏ trước hiên nhà.

Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè, ta thấy “thạch lựu hiên” nghĩa là cây thạch lựu bên hiên nhà. “Còn” chỉ trạng thái tiếp diễn. Sức sống ấy đã diễn ra vẫn đang diễn ra và sẽ còn tiếp tục diễn ra. Động từ “phun” được Nguyễn Trãi sử dụng thật đắc. Bởi phun đã diễn tả được sức mạnh mẽ tràn đầy bên trong cảnh vật, trào dâng không sao kìm nén được. Cũng nói về cây thạch lựu nhưng trong những dòng thơ của Nguyễn Du cây thạch lựu ấy không rực rỡ như của Nguyễn Trãi:

“Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”

Bởi ở bức tranh mùa hè của Nguyễn Du dường như đó là một mùa hè mới chớm. Và còn vì một lẽ là Nguyễn Du thiên về khắc bước đi của thời gian không chú trọng tả cảnh. Còn Nguyễn Trải thì chú trọng tả cảnh hơn và mùa hè trong sáng tác thơ của Nguyễn Trãi khi mọi vật đã rực rỡ rõ nét nhất, đặc trưng nhất của mùa hè.

Sen hồng nở rộ và ngát thơm bên hiên nhà

Khi cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè, ta thấy không chỉ cảm nhận bức tranh thiên nhiên bằng đường nét và màu sắc mà Nguyễn Trãi còn cảm nhận bức tranh ấy bằng cả khứu giác.

“Hồng liên trì” chính là ao sen hồng. Điểm thêm vào bức tranh mùa hè ấy còn là màu hồng của sen. Ao sen nở rộ khiến cho mặt hồ dường chỉ có màu hồng của hoa sen mà thôi. Đây là một ấn tượng mạnh về thị giác.

“Ao cạn vớt bèo cấy muống Đìa thanh phát cỏ ươm sen”

Ở đây, Nguyễn Trãi đã sử dụng tài tình phép đối. Đối với từ “còn” trong câu thơ “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ” chính là từ “đã”. Đã mang ý nghĩa hoàn tất chỉn chu, quá trình ấy đã hoàn thành. “Tiễn” ở đây là từ cổ mang ý nghĩa hương sen đã ngát đã đầy. Mùi hương hoa sen thơm ngát phảng phất khắp nơi tràn ngập không gian một hương thơm nhẹ nhàng thanh khiết.

“Tả lòng thanh mùi núc nác Vun đất ải lãnh mồng tơi”

Những gam màu nóng được kết hợp lại trên nền xanh tạo ra một hiệu ứng về thị giác đặc biệt, một bức tranh mùa hè dần hoàn chỉnh với những đường nét, màu sắc, hương thơm. Và điều đặc biệt đây chỉ là những hình ảnh dân dã quen thuộc trong cuộc sống bình thường, không mang tính ước lệ. Thế nhưng từ chính sự vật bình dị ấy đã bật lên một sức sống bất ngờ.

Phải tinh tế lắm phải yêu thiên nhiên lắm nhà thơ mới có thể cảm nhận và phát hiện vẻ đẹp ẩn khuất đằng sau những sự vật bé nhỏ bình dị kia. Bình giảng vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè, ta thấy hình ảnh thiên nhiên bình dị đã tạo nên một nét rất riêng trong thơ của Nguyễn Trãi. Đó là những:

Hay những ý thơ:

Bức tranh cuộc sống với nhiều âm thanh trong Cảnh ngày hè

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

Những âm thanh sinh động của cuộc sống làng quê

Cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè, ta thấy sau tâm thế ngắm phong cảnh chính là bức tranh cảnh vật và bức tranh về cuộc sống con người. Những câu thơ của Ức Trai khiến ta liên tưởng đến những miền quê nghèo với những khu chợ đông vui tấp nập. Nơi đó có những đứa trẻ líu ríu theo mẹ đi chợ, là hình ảnh những mẹ già lưng còng ngồi bên những mớ rau…

Không chỉ cảm nhận bức tranh thiên nhiên bằng thị giác, khứu giác mà tác giả còn cảm nhận nó bằng thính giác.

“Lao xao” gợi lên âm thanh về sự hạnh phúc ấm no. Từ láy “dắng dỏi” là từ tượng thanh chỉ âm thanh rền rĩ, xôn xao của tiếng ve. Tiếng ve là một dấu hiệu quen thuộc của mùa hè. Nhưng ở tiếng ve này, ta bắt gặp điều gì đó rất giản đơn, rất mộc mạc. Dường như chính tiếng ve ấy khiến cho bầu trời cũng thay đổi. Tiếng ve cất ra để gọi buổi chiều “lầu tịch dương” – đây là một hình ảnh đẹp.

Cảnh chiều tà tường gợi những cảm xúc bâng khuâng khó tả, đôi khi là sự tiếc nuối của con người trước cảnh ngày tàn, của những kiếp người nhỏ bé. Nhưng cảnh chiều tàn trong bài thơ của Nguyễn Trãi lại không mang màu sắc u ám bởi nó đã được tô điểm bởi âm thanh của tiếng ve. Cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè sẽ thấy tiếng ve xao động ấy đã đánh thức mọi vật tạo một một nét đọng trong bức tranh tĩnh chiều tàn. Sau này, Tố Hữu cũng dùng âm thanh để diễn tả nhưng đó là âm thanh của tiếng tu hú…

Dân giàu đủ, khắp đòi phương”

Mong ước về hạnh phúc an yên cho nhân dân của tác giả

Hình ảnh một miền quê an yên thanh bình như hiện lên đầy sinh động và có hồn qua những nét phác họa của Nguyễn Trãi. Nơi ấy không có loạn lạc chiến tranh, chỉ có những âm thanh chân thực từ cuộc sống ấm no, chỉ có những tiếng nói cười xen lẫn những tiếng ve khi chiều tà buông xuống. Vẻ đẹp ấy thật bình dị, mộc mạc mà đẹp hơn hết thảy. Chính những phút giây hòa mình với cuộc sống làng quê ấy mà tác giả có một khát khao không phải cho bản thân ông, mà cho chính nhân dân, cho đất nước và cũng là cho những con người nơi đây…

” Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng

Khi phân tích bài thơ Cảnh ngày hè cũng như cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè, ta thấy Nguyễn Trãi đã mong ước có khúc đàn Nam Phong của vua Thuấn để nhân dân mãi có những giây phút yên bình của một sống an lành hạnh phúc. Trong truyền thuyết, dưới thời vua Thuấn thái bình thịnh trị, nhân dân hưởng lạc an yên, luôn cất cao những cung đàn Nam Phong. Và cũng chính lúc này đây, Nguyễn Trãi mong cho nhân dân được hưởng hạnh phúc như thế. Đó cũng là mong muốn cả đời của ông, điều mà ông luôn nghĩ suy canh cánh trong lòng.

Đánh giá tác phẩm khi cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè

Chỉ với vài nét chấm phá, Nguyễn Trãi đã hoàn thiện bức tranh mùa hè với đầy đủ thanh, sắc, hương. Đó là một mùa hè rực rỡ tràn đầy nhựa sống. Dù trong hoàn cảnh nào thi tấm lòng của ông hướng về thiên nhiên luôn là sự trân quý. Nên thiên nhiên tươi vui mà không bị nhuốm màu tâm trạng sầu bi của một kẻ sĩ sa cơ lỡ vận.

Thành công của bài thơ không chỉ đến từ sự quan sát tinh tế của nhà thơ mà còn đến từ việc sử dụng thể thơ độc đáo thất ngôn xen lục ngôn. Chính việc sử dụng thể thơ cùng cách ngắt nhịp độc đáo như là một cách thức để ông Việt hóa thể thơ của Trung Hoa. Không sử dụng những hình ảnh khuôn sáo ước lệ mà thay vào đó những hình ảnh bình dị của cuộc sống. Thổi hồn vào từng sự vật khiến cho ta thấy tuy chỉ là những vật nhỏ bé nhưng vẫn tràn đầy nhựa sống, vẫn có thể truyền tải hết không khí của mùa hè của thiên nhiên đất trời.

Kết bài: Bài thơ đã một lần nữa chứng minh tài năng của Nguyễn Trãi. Bài thơ đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên mùa hè bình dị. Tuy nói về khung cảnh thiên nhiên nhưng qua đó ta vẫn thấy hiện lên một con người thanh cao tự do tự tại chiêm ngưỡng bức tranh mùa hè tuyệt đẹp của tạo hóa. Qua việc cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè, ta còn thấy một tâm hồn yêu thiên nhiên, khát khao gắn bó với quê hương đất nước, một tâm hồn yêu đời, một tấm lòng luôn lo nghĩ cho nhân dân, luôn hướng về nhân dân. Đó chính là tấm lòng nhân đạo sâu sắc luôn đặt đất nước, nhân dân lên đầu dù đã ở tuổi xế chiều…

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên trong Cảnh ngày hè

Mở bài cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè

Sơ nét chính về tác giả Nguyễn Trãi và bài thơ Cảnh ngày hè.

Tóm tắt nội dung cùng giá trị của tác phẩm.

Dẫn dắt vấn đề: cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi.

Thân bài cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè

Khung cảnh thiên nhiên và tâm thế của người thi nhân.

Bức tranh cảnh vật và vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè.

Nét phác họa xanh xanh của những bông hòe.

Màu đỏ rực lửa của những cây thạch lựu.

Sắc hồng thanh mát và ngát thơm của những bông sen.

Bức tranh cuộc sống và vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè.

Những âm thanh chân thực đầy sinh động nơi cuộc sống làng quê yên bình.

Khát khao về cuộc sống bình yên, ấm no và hạnh phúc của Nguyễn Trãi với nhân dân.

Khái quát về nghệ thuật của tác phẩm, nhận xét về cách sử dụng từ của nhà thơ.

Khẳng định tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi, khát khao giao hòa với thiên nhiên cảnh vật.

Bày tỏ những suy nghĩ khi cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè.

Có thể thấy, bằng tài năng cùng trái tim và nhiệt huyết của mình với nhân dân, với quê hương đất nước, Nguyễn Trãi đã thể hiện thành công mong ước về hạnh phúc ấm no và bình yên cho nhân dân qua những vần thơ tả cảnh ngày hè sinh động. Cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài Cảnh ngày hè còn cho ta thấy tư tưởng của ông chính là bài học gửi gắm cho thế hệ trẻ về lòng yêu quê hương đất nước cùng với ước mong cống hiến cho tổ quốc.