Top 12 # Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Bài Thơ Tỏ Lòng / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Sơ Đồ Tư Duy Bài “Chiều Tối” / 2023

SƠ ĐỒ TƯ DUY BÀI THƠ “CHIỀU TỐI” I, Tác giả, tác phẩm 1. Tác giả Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh (1890-1969) xuất thân trong gia đình nhà nho yêu nước.

Quan điểm sáng tác

Coi văn học là vũ khí chiến đấu phụng sự cho sự nghiệp Cách mạng.

Luôn chú trọng tình chân thực và tính dân tộc của văn học.

Khi cầm bút, Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ mục đích. (Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thế nào?)

Di sản văn học: Hồ Chí Minh có nhiều tác phẩm lớn trên nhiều thể loại như văn chính luận; truyện và kí; thơ ca.

Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh rất độc đáo, đa dạng.

2. Tác phẩm “Chiều tối” (Mộ)

Là bài thơ số 31 trên tổng số 133 bài thơ của tập Nhật kí trong tù.

Bài thơ được sáng tác trên đường chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo.

II, Nội dung 1. Bức tranh thiên nhiên a. Thiên nhiên

Cánh chim đang bay về tổ.

Cảm giác gần gũi, thanh bình.

Mệt mỏi sau một ngày dài kiếm ăn.

Chòm mây cô đơn, lẻ loi, lặng lẽ.

b. Tâm trạng người tù

Mệt mỏi sau quãng đường đày ải.

Cảm giác cô đơn, lẻ loi.

Sự khác biệt với thiên nhiên: Thiên nhiên tự do về tổ ấm

Con người mất tự do.

c. Vẻ đẹp cổ điển

Thể thơ: Đường luật thất ngôn tứ tuyệt.

Đề tài: Chiều tối

Thi liệu: Cánh chim, chòm mây.

Cấu tứ: Sự chuyển biến từ tối đến sáng.

Bút pháp tả cảnh:

Chấm phá

Tả cảnh ngụ tình

Họa vân hiển nguyệt.

Phong thái ung dung, tự tại.

2. Bức tranh đời sống a. Con người

Con người lao động trẻ trung, tràn đầy sức sống.

Xay ngô với niềm vui lao động.

Con người là chủ thể bức tranh thiên nhiên.

Hình ảnh chân thực, gần gũi, giản dị.

Gợi cuộc sống yên bình, êm ả.

Công việc lao động liên tục, nhịp nhàng.

Sự kiên nhẫn, cần cù.

b. Tâm trạng người tù

Quên đi nỗi đau khổ, cảnh ngộ bị đầy ải.

Gắn bó tha thiết với người lao động.

Niềm tin, tinh thần lạc quan.

Tin tưởng vào tương lai tươi sáng của Đất Nước.

3. Chất “thép” trong bài thơ.

Tinh thần tự do, ung dung tự tại.

Mang tâm hồn thi ca.

Bản lĩnh kiên cường chiến sĩ.

Tinh thần lạc quan và niềm tin vào tương lai.

4. Tư duy nghệ thuật

Vẻ đẹp cuộc sống đời thường: cô gái, lò than.

Vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ.

Sơ Đồ Tư Duy Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy / 2023

Gửi bài viết qua email

Lưu bài viết này

Sơ đồ tư duy bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Đăng lúc: Thứ bảy – 30/11/2013 19:56. Đã xem 18063

Chuyên mục :

Ánh Trăng

Một tác phẩm không thể thiếu khi ôn thi vào lớp 10

Tác giả bài viết:

Hội ôn thi vào lớp 10

Chú ý: Việc đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác mà không ghi rõ nguồn http://thivao10.com là vi phạm bản quyền

Từ khóa:

Sơ đồ tư duy bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Đánh giá bài viết

52

14

3.7

/

5

Sơ Đồ Tư Duy Tây Tiến Ngắn Gọn Dễ Hiểu / 2023

XEM SAU: Tuyên Ngôn Độc Lập: Soạn Văn Ngắn Gọn Bằng Sơ Đồ Tư Duy, Khắc Ghi Kiến Thức

1: Thiên Nhiên Tây Tiến dữ dội, hùng vĩ

Thiên nhiên luôn mang vẻ đẹp hùng vĩ và Tây Tiến cũng vậy. Thiên nhiên đầy hùng vĩ nhưng cũng đầy gian khổ, nguy hiểm đối với người lính. Khí hậu khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, thú dữ… tất cả đều chờ đợi người lính vượt qua.(sơ đồ tư duy tây tiến khổ 1).

XEM SAU: Sơ Đồ Tư Duy: Dạng Bài So Sánh Hai Tác Phẩm 12

Gian khổ nào cũng dẫn tới vinh quang và rừng núi cho dù dữ dội đến mấy thì vẫn luôn ẩn chứa vẻ thơ mộng. Thơ mộng của cảnh vật, của cỏ cây hoa lá, thơ mộng còn ở sông nước còn ở vẻ trữ tình nhẹ nhàng và đặc biệt thơ mộng tới từ chính cảm nhận của người lính, từ những liên tưởng táo bạo, tinh nghịch.(sơ đồ tư duy tây tiến khổ 2).

1: Bi tráng

Người lính vượt rừng băng núi, trải qua trăm ngàn khó khăn, tất cả đều vì một lý tưởng chung, một tình yêu chung đó là tình yêu quê hương đất nước. Cho dù vẻ ngoài có kì lạ, đầu có không mọc tóc đi nữa thì trong họ vẫn toát lên khí chất oai hùng tựa cọp vùng tây bắc.(sơ đồ tư duy tây tiến khổ 3).

XEM THÊM: Tuyên Ngôn Độc Lập (Phần 2): Có Ý Kiến Cho Rẳng:” Đây Là Tác Phẩm Nối Tiếp Các Áng Hùng Văn…”

2: Lãng mạng

Những người lính Tây Tiến cho dù vẻ ngoài có khô cằn đi vì sương gió nhưng tâm hồn họ vẫn tràn đầy sức sống, tươi trẻ và đầy lãng mạng. Điều đó chính là sức mạnh để họ có thể vượt lên trên mọi khó khăn, thử thách để sẵn sàng bảo vệ nước nhà.

Kết Luận: Bài thơ Tây Tiến với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa của Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng của người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vũ, dữ dội và mĩ lệ. Hình ảnh người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, là tiếng khóc bi tráng và để lại cho người đọc nhiều xúc cảm về một thời đạn bom của Tổ quốc.

Sơ Đồ Hệ Thống Kiến Thức Bài Việt Bắc / 2023

1.Hình ảnh thiên nhiên được tái hiện trong không gian và thời gian– Không gian : Chiến khu Việt Bắc, căn cứ địa cách mạng

– Thời gian : 15 năm với các chặng đường lịch sử quan trọng : Kháng nhật (1940) , thành lập mặt trận Việt Minh ( 1941) và kết thục kháng chiến chống thực dân Pháp ( 1954 )

2.Thiên nhiên gắn với 1 thời kháng chiến gian khổ nhưng đằm thắm tình ngườiMưa nguồn suối lũ những mây cùng mùHắt hiu lau xám đậm đà lòng sonNguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu3.Thiên nhiên thơ mộng , mang đậm màu sắc dân tộc

– Cảnh thiên nhiên bốn mùa Việt Bắc:

+ Nhắc đến mùa đông ta thường nhớ tới cái lạnh thấu xương, cái ảm đạm của những ngày mưa phùn gió bấc, cái buồn bã của khí trời u uất. Nhưng đến với Việt Bắc trong thơ Tố Hữu thì thật lạ. Mùa đông ấm áp lạ thường:

Gam màu cơ bản của bức tranh này là màu xanh. Đó là màu xanh mênh mông và trầm tĩnh của rừng già. Nó gợi ra một xứ sở êm đềm, lặng lẽ, tĩnh mịch. Nhưng trên cái nền ấy là gam màu ấm nóng và tiềm ẩn một sức sống bên trong dường như để làm vơi đi sự hoang sơ, hiu hắt, lạnh giá vốn có của núi rừng. Từ xa trông tới, bông hoa như những bó đuốc thắp sáng tạo nên một bức tranh với đường nét màu sắc vừa đối lập, vừa hài hòa, vừa cổ điển vừa hiện đại.

Trên trời cao ánh nắng hắt xuống lưng người, chiếu vào con dao làm ánh lên 1 màu sáng kì diệu. Cái nắng hiếm hoi của mùa đông đã tô điểm cho bức tranh thiên nhiên thêm tươi tắn

+ Mùa xuân: đọng lại trong kí ức của người ra đi là sắc trắng của hoa mơ. Màu trắng gợi lên vẻ đẹp tinh khiết trắng ngần. Cả một cánh rừng mênh mang chỉ 1 màu trắng, nền xanh trầm tĩnh đã nhường chỗ cho nền trắng tinh khiết của hoa mơ rừng: Hình ảnh thơ không chỉ đẹp mà còn gợi tả sức sống mãnh liệt của núi rừng Việt Bắc vào xuân. Từ ” trắng” được tác giả sử dụng như một động từ gợi cho người đọc cảm giác bừng sáng cả khu rừng bởi sắc trắng mơ màng, bâng khuâng, dịu mát của hoa mơ

+ Mùa hè với tiếng ve kêu làm nên khúc nhạc rừng, là nhớ màu vàng của rừng phách: Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh ánh sáng, màu sắc và rộn rã âm thanh. Tố Hữu không chỉ có biệt tài trong việc miêu tả vẻ đẹp riêng của từng mùa mà còn có tài trong việc miêu tả sự vận động đổi thay của thời gian và cảnh vật. Tiếng ve kêu là âm thanh nhưng lại được tác giả cảm nhận bằng sắc màu vàng rực, sóng sánh đổ loang cả rừng phách. Từ đổ diễn tả sự thay đổi luân phiên về thời gian, một chữ đổ rất tài tình. Tiếng ve kêu như trút xuống, đổ xuống thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho rừng phách thêm vàng diễn tả sự đổi thay nhanh chóng, bất ngờ đến ngạc nhiên, sửng sốt.

+ Mùa thu lại nhớ trăng ngàn:

Người cán bộ kháng chiến về xuôi nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu, trăng rọi qua tán lá rừng xanh, trăng thanh mát rượi màu hòa bình nên thơ. Câu thơ đã gợi lên sắc màu thanh bình, thơ mộng trong ánh sáng dịu dàng của ánh trăng sáng sau chín năm kháng chiến.

Ánh trăng không chỉ là biểu tượng cho vẻ đẹp trong sáng, lộng lẫy của thiên nhiên mà mang theo khát vọng hòa bình của con người Việt Nam .

à Tác giả đã miêu tả vẻ đẹp tự nhiên của núi rừng Việt Bắc gắn với các mùa cụ thể, mỗi mùa lại có những đặc trưng riêng biệt để tạo nên một bức tranh tứ bình về cảnh sắc thiên nhiên tươi sáng, mơ mộng và gợi cảm của núi rừng Việt Bắc. Bốn hình ảnh thơ gắn với 4 mùa đều rực rỡ sắc màu: xanh, đỏ, trắng, vàng đem đến cho người đọc hình dung về 1 bức tranh đa sắc, đa chiều của núi rừng.

– Bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong thế động. Tất cả như đang đổi thay từ thiên nhiên đến con người đều ở trong trạng thái hoạt động. Xưa nay núi rừng thường gợi cảm giác hoang vu, tĩnh tại nhưng trong thơ Tố Hữu, tất cả đều tràn đầy sức sống và sinh lực

– Cảnh còn gắn bó với những kỉ niệm thương nhớ vơi đầy của nhà thơ: những bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng đêm khuya, những núi rừng sông suối với những cái tên thân thuộc. Tất cả hiện lên lung linh đầy ắp những kỉ niệm của tác giả.

4. – Thiên nhiên hư ảo , gợi nhớ gợi thương: Vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với những vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian khác nhau như sương sớm, nắng chiều, trăng khuya, trong các mùa thay đổi,…

+ Không gian thời gian của tình yêu mở ra và kỷ niệm hiện hình.: “Nhớ gì như nhớ người yêu/Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương”. Không gian thời gian của tình yêu mở ra bằng một bức tranh thơ mộng “Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương”. Không gian mở ra bằng hai khung cảnh đối lập trong hai vế của câu thơ. Một khung cảnh trăng lên đầu núi tạo nên hình ảnh của những cuộc hẹn hò, một khung cảnh nắng chiều lưng nương mở ra không khí lao động. Sự tương tác giữa hai bức tranh thơ đã nảy sinh ra ngữ nghĩa mới trong quan niệm của những người cách mạng: tình yêu nảy sinh từ lao động. Lao động đã tạo nên vẻ đẹp của tình yêu. Thời gian như chảy ngược từ đêm hôm trước trở sang chiều hôm sau. Sự gián cách về mặt thời gian ấy đã làm cho nỗi nhớ tỏa ra bồng bềnh.

+ Nỗi nhớ lan tỏa khắp núi rừng Việt Bắc và neo đậu lại ở một tổ ấm tình thương:“Nhớ từng bản khói cùng sương/Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”. Hình ảnh những bản làng hiện ra trong sương khói vừa mang nghĩa thực vừa tạo độ hư ảo của kỷ niệm. Bản làng Việt Bắc vốn hiu hắt chìm dưới sương khói lạnh lẽo nhưng đó cũng chính là sương khói của hoài niệm, tạo nên độ chơi vơi bồng bềnh trong tâm hồn của những người ra đi. Hồn của những con người như hòa tan trong lớp sương khói bủng lủng ấy. Tuy nhiên sự xuất hiện của hình ảnh bếp lửa giữa làng quê hiu hắt ấy đã thắp lên một thứ ánh sáng nồng ấm của tình đời tình người, sương khói của tự nhiên được thay bằng sương khói của tổ ấm gia đình. Tố Hữu không nói người yêu mà nói người thương thật kín đáo tinh tế, giống như cách nói của Nguyễn Bính “Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau”. Con người Việt Nam vẫn thế, tình cảm thường biểu lộ gián tiếp tế nhị một chút để lắng nghe cho hết nhịp rung của con tim.

+ Nỗi nhớ một lần nữa lại lan tỏa bồng bềnh trong thời gian không gian trùng trùng điệp điệp, những kỷ niệm được khơi ra. “Nhớ từng rừng nứa bờ tre/Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”. Nhà thơ sử dụng biện pháp liệt kê làm cho kỷ niệm hiện ra tầng tầng lớp lớp. Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê là những danh từ riêng nhưng lại là sản phẩm chung của lịch sử, đó là những căn cứ địa cách mạng. Giữa riêng và chung có sự phối hợp nhuần nhuyễn hài hòa, tình yêu cá nhân gắn liền với tình cảm cách mạng.

5. Thiên nhiên cùng người đánh giặc và gi dấu những chiến công :Nhớ khi giặc đến lùngRừng cây núi đá ta cùng đánh tâySông Lô, phố RàngMái đình Hồng Thái , cây đa Tân Trào

Điệp từ núi, rừng kết hợp với thủ pháp nhân hóa Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù như đã tạo nên một bức tường thành vững chắc, sức mạnh đoàn kết giữa con người và thiên nhiên.

6. Thiên nhiên gắn với con người lao động cần cù và thủy chung cách mạng : Những người mẹ nắng cháy lưng” Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô” , những cô gái ” hái măng 1 mình ” ” đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng ” … mà ” bắt cơm sẻ nửa , chăn sùi đắp chung “

-Nhà phê bình Hoài Thanh đã nhận xét: “Những câu thơ của Tố Hữu viết về thiên nhiên trong VB có thể sánh với bất kì đoạn thơ miêu tả thiên nhiên nào trong văn học cổ điển”- đoạn thơ làm ta liên tưởng đến bức tranh tứ bình trong truyện kiều:

Sen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.

– Đầu tiên là bức tranh tả cảnh và khơi gợi cho chúng ta tình cảm mến thương của mùa đông Việt Bắc. Tại sao Lại là mùa đông? Vì đây là hồi ức của tác giả trong giờ phút chia tay. Chúng ta còn nhớ, vào một đém mùa đông 1946, Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân kháng chiến. Đặc biệt ở Hà Nội, những người lính cảm tử sau hai tháng giam chân địch trong thành phố đã bí mật vượt sông Hồng đế lên căn cứ cách mạng Việt Bắc. Sự kiện này, đến tận bây giờ vẫn sống mãi bởi một khúc hát quen thuộc:

Đêm cái đêm rét quá chân cầuAnh, anh đã hẹn ngày mai trở lạiSông, sông Hổng bên bờ hát mãiTỏ niềm tin khúc khải hoàn ca.

Lưu Trọng Lư trong Một mùa đông đã từng viết:

Đôi mắt em lặng buồn,Nhìn tôi mà không nói.Tình đôi ta vời vợi,Có nói cũng vô cùngTrời hết một mùa đôngKhông một lần đã nói…

. Việt Bắc trong nỗi nhớ của Tố Hữu không thể thiếu được sắc hoa này. Trong bài Theo chân Bác – Tố Hữu cũng viết:

Ôi sáng xuân nay, xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về chúng tôi lặng, con chim hót Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ ( – Theo chân Bác – Tố Hữu)

. Chữ “Đổ” là một nhãn tự làm ta nhớ đến câu thơ của Xuân Diệu trong bài Thơ Duyên: “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá – Thu đến nơi noi động tiếng huyền”

Câu thơ như xui khiến ta nhớ đến một câu thơ cũng viết về đêm rừng Việt Bắc của Hồ Chí Minh:

Tiếng suối trong như tiếng hát xaTrăng lồng cổ thụ bóng lồng hoaChế Lan Viên từng viết ” Khi ta ở đất chỉ là nơi ở Việt Bắc đã hóa tâm hồn người cán bộ kháng chiến khi chia xa. Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”.

Tình yêu là thước đo của nỗi nhớ, tất nhiên đây là nỗi nhớ của cán bộ đối với nhân dân. Cái quan hệ chính trị ấy nếu đơn thuần nó chỉ là tình cảm gắn liền với nghĩa vụ. Bổn phận của cán bộ đối với nhân dân là cái có thật, là cái tình yêu vĩnh viễn, nói như Chế Lan Viên “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”, trong ý tưởng ấy Việt Bắc trở thành quê hương cách mạng. Chính nỗi nhớ trong tình yêu đã làm cho thời gian, không gian mở ra vô tận:

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai

à Đoạn thơ mở đầu là “Nhớ gì như nhớ người yêu” tình yêu trở thành thước đo cho quan hệ ân tình thủy chung giữa cán bộ và nhân dân. Nhưng kết thúc đoạn thơ tác giả lại khéo léo chuyển đổi thành tình đồng chí, những tình cảm đơn giản của đời thường được nâng lên thành tình cảm lớn. Tất nhiên mọi thứ quan hệ tình cảm lớn đều có cơ sở từ những quan hệ đời thường.