Top 16 # Ví Dụ Về Truyện Cổ Tích Loài Vật / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Truyện Cổ Tích Về Các Loài Vật / 2023

Các em thân mến, trong chúng ta chắc có lẽ ai cũng đã từng một thời say mê các cuốn truyện cổ tích. Truyện cổ tích đã đem đến cho tuổi thơ chúng mình một thế giới lung linh huyền ảo, thế giới của những con vật biết nói, của những công chúa, hoàng tử, của những ông vua, bà hoàng hậu, những mụ phù thuỷ, thế giới của những điều THIỆN, điều ÁC luôn được phân định rạch ròi. Nhưng với tuổi thơ chúng ta, thế giới loài vật lại luôn gần gũi và dễ hiểu hơn cả. Chúng ta thường tiếp xúc với những chú chim, chú gà, chú chó, chú cóc… trong vườn, nhà, những chú hổ, thỏ, sóc, khỉ, voi, rùa… trong công viên trong những lần dạo chơi cùng bố mẹ, gia đình. Chúng ta luôn tò mò với những con thú đáng yêu này, luôn bận hỏi: tại sao con gà trống lại có mào đỏ, tại sao con khỉ đỏ đít, tại sao con hươu có đuôi cộc… Và thế là những con vật đáng yêu này bước vào những câu truyện cổ tích, trở thành những nhân vật chính để giải thích cho các em về những băn khoăn đáng yêu đó.

– Truyện cổ tích Việt Nam –

Ngày xưa, ở một làng nọ có một người đàn ông có hai vợ. Vợ cả sinh cho ông một người con trai tên là Văn Linh, còn vợ lẽ sinh một người con trai tên là Văn Lang. Hai anh em tuy khác mẹ nhưng rất yêu thương nhau. Chẳng may, người vợ cả đổ bệnh, mất sớm, từ đó hai anh em càng yêu thương nhau hơn, còn người vợ lẽ thì rất thù ghét Văn Linh. Hai anh em lớn lên bên nhau, Văn Linh theo nghiệp đèn sách còn Văn Lang theo nghiệp cấy cầy. Gia đình họ tuy không giàu có lắm nhưng cũng tích góp được một chút của ăn của để.

Thế rồi, đột nhiên người cha ốm nặng qua đời. Từ đấy mụ dì ghẻ càng tỏ ra căm ghét Văn Linh. Mụ thường xuyên tìm cách mắng chửi, xỉa xói Văn Linh. Vốn bản chất là người hiền lành, không hay chấp vặt Văn Linh cố gắng sống và bỏ qua những hành động của mụ dì ghẻ. Còn Văn Lang, hiểu rõ những hành động của mẹ mình chàng càng yêu quí Văn Linh hơn. Nhưng mụ dì ghẻ không những căm ghét Văn Linh, mụ còn loá mắt trước gia sản người chồng để lại, mụ muốn cướp phần của Văn Linh cho mình nên đã nảy dã tâm muốn giết chết Văn Linh.

Một hôm, mụ sai hai anh em vào rừng đốn gỗ. Trước khi đi, mụ gọi con đẻ của mình vào buồng riêng dặn dò:

– Con ơi, vào đến rừng sâu, con hãy giết chết Văn Linh đi, sẽ không ai nghi ngờ con cả. Mẹ con ta sẽ có tất cả cơ ngơi này mà không phải chia sẻ cho bất cứ ai.

Vì không muốn làm phật ý mẹ, Văn Lang giả tảng vâng lời rồi khăn gói cùng Văn Linh đi vào rừng. Thực chất trong bụng Văn Lang không muốn giết Văn Linh vì hai anh em rất yêu thương nhau. Vì thế đến cửa rừng, Văn Lang đưa hết toàn bộ số tiền mua gỗ cho Văn Linh rồi kể cho Văn Linh nghe hết toàn bộ câu chuyện, khuyên Văn Linh trốn đi, đừng bao giờ trở về nữa. Sau này, hai anh em sẽ tìm gặp nhau sau. Hai anh em buồn bã chia tay nhau. Đợi cho Văn Linh đi khuất, Văn Lang giết một con thú rừng rồi lấy máu bôi khắp nơi. Sau đó chàng trở về và nói với mẹ mình rằng đã giết chết Văn Linh trong rừng sâu rồi quẳng cho thú dữ ăn thịt rồi. Mặt khác, chàng nói với mọi người trong làng là Văn Linh bị hổ vồ mất tích. Làng xóm chẳng ai nghi ngờ gì vì từ trước đến giờ họ thấy hai anh em rất yêu thương nhau, sống đầm ấm thuận hoà. Còn mụ dì ghẻ thì rất vui mừng vì cho rằng kế hoạch của mình đã thành công. Mụ không còn phải nhìn thấy cái gai trong mắt mà lại còn được hưởng toàn bộ tài sản của người chồng.

Về phần Văn Linh, sau khi chia tay Văn Lang, chàng chẳng biết sẽ phải đi đâu trong cái thế giới xa lạ này. Từ trước đến giờ chàng chỉ quen với bút nghiên, đèn sách, đã phải sống một mình bao giờ đâu. Trời mỗi ngày mỗi tối, chàng chẳng biết phải đi đâu. Lo lắng và buồn khổ chàng tìm đường về mộ của mẹ mình than khóc, rồi chàng thiếp đi lúc nào không biết. Mẹ chàng dưới mộ thấy tình cảnh của con mình như thế thì thương con khôn xiết. Bà hiện lên, hồn bà biến thành con chim phượng hoàng lớn ấp con mình vào đôi cánh để ủ ấm. Trời tảng sáng, phượng hoàng quắp Văn Linh bay đến một hòn núi cao, đặt chàng xuống một chỗ đất bằng rồi hoá phép ra nhà cửa và mọi đồ ăn thức uống. Một lúc sau, Văn Linh tỉnh dậy, chàng sửng sốt nhìn quanh và không biết mình đang ở đâu, tại sao bên chàng lại có con chim phượng hoàng rất lớn. Đang toan bỏ chạy chợt chàng nghe thấy con chim cất tiếng nói:

– Đừng sợ Văn Linh, ta là mẹ của con đây. Con chớ nên tìm đường về mà nguy hiểm. Mụ dì ghẻ sẽ không tha cho con đâu. Hãy ở lại đây chuyên tâm vào việc học hành, thi cử. Hàng ngày mẹ sẽ đến đây chăm sóc cho con.

Rồi cứ thế, ban ngày phượng hoàng biến đi, cứ đêm đêm nó lại bay trở về chỗ Văn Linh để chăm sóc và bảo vệ chàng. Được gần gũi mẹ như thời gian mẹ còn sống, Văn Linh rất vui và yên tâm học hành. Chàng học càng ngày càng tiến bộ.

Bấy giờ, ở dưới chân núi có một xóm nhỏ thưa thớt, dân cư sống rải rác. Trong xóm có một người con gái đẹp như hoa tên là Ngọc Châu sống cùng với người hầu gái. Cha mẹ Ngọc Châu mất sớm, nàng cùng người hầu gái sống nương tựa vào nhau và lấy nghề dệt vải kiếm tiền nuôi thân. Từ khi Văn Linh đến sống trên núi hai cô gái rất lấy làm lạ bởi vì từ trước đến giờ chẳng có ai sinh sống trên đó. Vậy mà bây giờ ngày nào hai cô cũng nghe thấy tiếng học trò đọc sách suốt ngày.

Một hôm, Ngọc Châu cố tình làm tắt lửa để có cớ sai nàng hầu xin lửa anh học trò. Văn Linh đang ngồi học bỗng nghe thấy tiếng gõ cửa, cửa mở chàng thấy một cô gái đến xin lửa. Sau khi cho lửa, chàng hỏi xin cô gái một ít dầu thắp đèn vì dầu nhà chàng sắp cạn. Cô hầu gái chỉ nhà cho anh xuống lấy, nhờ đó anh quen với Ngọc Châu. Từ chỗ quen biết, hai người đã trở nên thân thiết tới mức không thể sống xa nhau. Họ nên nghĩa vợ chồng và từ đó người chồng lo việc đèn sách còn người vợ chăm lo việc khung cửi. Cuộc sống của hai vợ chồng đầm ấm, hạnh phúc.

Sau bao năm dùi mài kinh sử, đến khoa thi năm đó, Văn Linh lều chõng đi thi và chàng đã đỗ Trạng nguyên để không phụ lòng mong mỏi của người mẹ đã mất và vợ. Hôm vinh quy bái tổ về làng, cờ quạt chiêng trống rầm rộ. Nghe tin Văn Linh vinh hiển trở về, Văn Lang mừng rỡ ra đón còn mụ dì ghẻ thì không tin vào tai mình nữa. Phần vì tức tối, phần vì sợ Văn Linh trả thù, mụ vỡ mật lăn ra chết và hoá thành con dế. Mụ chết đúng vào tháng tám nên hàng năm cứ vào tháng này, người ta lại nghe thấy tiếng dế kêu. Đó là tiếng kêu của mụ dì ghẻ đang tức tối phát ra những âm thanh vô vọng. Đáng đời cho những người có tâm địa độc ác./.

– Truyện cổ tích Việt Nam –

Ngày xửa ngày xưa, không ai nhớ rõ là năm nào, trời làm hạn hán rất lâu, ruộng đồng khô nứt nẻ, cây cỏ trụi lá, chết héo rũ, các loài vật không thể tìm đâu ra nước uống. Cóc thấy nguy quá, quyết lên thiên đình kiện trời. Đi được một quãng, gặp Cua, Cua hỏi đi đâu, Cóc kể rõ sự tình, Cua xin đi theo. Đến một khu rừng, Cóc lại gặp Gấu và Cọp, Gấu và Cọp đang khát khô cuống họng nằm dài chờ chết. Thấy Cóc và Cua dắt nhau đi, Gấu và Cọp hỏi nguyên do. Cóc đáp:

– Chúng ta đang sắp chết khát cả. Phen này phải lên hỏi trời xem sao. Các anh có cùng đi không?

Gấu và Cọp đồng thanh nói:

– Thế thì cho chúng tôi đi với! Anh em chúng ta sống chết có nhau.

Một lúc lại gặp Ong và Cáo, Ong và Cáo cũng năn nỉ xin đi theo. Thế là cả bọn kéo nhau lên thiên đình.

Đến cửa thiên đình, thấy có một cái trống đặt cạnh, Cóc nói:

– Anh Cua, anh vào trong chum nước này! Anh Ong, anh núp sau cánh cửa này! Còn anh Cáo, anh Gấu, anh Cọp thì ra phía sau chờ đấy.

Sắp đặt xong, Cóc một mình bước tới, lấy dùi đánh trống. Ngọc Hoàng rất đỗi ngạc nhiên, sai Thiên Lôi ra xem. Nhìn quanh quất không thấy ai, chỉ nhìn thấy một chú Cóc xù xì, thân hình bé nhỏ. Thiên Lôi trở vào tâu với Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng tức giận truyền lệnh thả gà ra mổ con Cóc hỗn xược. Gà vừa bay đến, Cóc ra hiệu cho Cáo ở đằng sau nhảy tới, cắn vào cổ quắp đi. Ngọc Hoàng càng tức giận sai Chó ra cắn Cáo. Chó vừa xông ra sủa, Cóc làm hiệu cho Gấu tiến lên quật Chó chết tươi.

Tin đến Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng phải sai Thiên Lôi ra trị Gấu. Thiên Lôi hùng hổ cầm lưỡi tầm sét xông ra. Chưa kịp trở tay, Thiên Lôi đã bị Ong bay ra đốt. Thiên Lôi vội cho tay vào chum nước tránh khỏi cho Ong đốt thì bị Cua ở trong chum kẹp, la tru tréo, lại phải nhảy ra. Thiên Lôi đang luống cuống chưa biết tính sao thì Hổ nhảy đến xé xác.

Ngọc Hoàng tù túng thế, bèn hoà giải, mời Cóc vào. Cóc tâu:

– Muôn tâu Thượng Đế, đã ba bốn năm rồi, dưới trần gian không hề có giọt mưa nào. Vạn vật đang chết héo hết cả. Nếu kéo dài mãi, e rằng không còn một sinh vật nào sống sót.

Ngọc Hoàng sợ trần gian nổi loạn, dịu giọng nói:

– Thôi cậu về đi! Ta sẽ ra lệnh cho mưa xuống. Hễ khi nào dưới trần nắng hạn lâu ngày thì cậu cứ nghiến răng báo hiệu nhắc ta.

Dứt lời Ngọc Hoàng sai rồng phun mưa xuống. Cóc về đến trần thì nước đã ngập cả đồng ruộng.

Từ đó, hễ Cóc nghiến răng, một lúc sau, y như rằng trời mưa. Trong nhân gian có câu hát:

Ai mà đánh nó thì trời đánh cho.

Ngày xưa, ở một tỉnh phía của Triều Tiên, có một ông già sinh được hai người con trai, đứa lớn là Nonbu, đứa nhỏ là Hungbu. Hai anh em hoàn toàn khác nhau về tính cách. Người anh Nonbu thì tính tình độc ác, bần tiện và ích kỷ không ai bằng, gã đối xử tàn tệ với xóm giềng, độc ác với tôi tớ và tàn bạo với gia súc. Ngoài ra, gã còn cưới một bà vợ cũng độc ác chẳng kém gì mình. Ngược lại với người anh, người em Hungbu rất tốt, chàng hết lòng giúp đỡ mọi người và không làm hại ai bao giờ. Chàng sống có đạo đức và rất hiếu thảo với cha mẹ.

Khi người cha còn sống thì người anh Nonbu còn tạm được, nhưng đến khi cha mất thì hắn sống đúng với bản chất độc ác của mình. Hắn chiếm hết ruộng vườn, nhà cửa, gia súc và một số tiền lớn mà người cha để lại cho hai anh em mà không chia cho em trai mình bất cứ thứ gì. Ngoài ra hắn sợ người em và gia đình của em mình sống trong cùng nhà với hắn thì sẽ ăn bám vào mình nên ngay lập tức đuổi họ ra khỏi nhà, không hề động lòng trước lời than khóc của Hungbu và vợ con. Vợ của Nonbu còn giả giọng nhân từ khuyên họ cố gắng làm ăn để đạt được vận may nào đấy.

Người em Hungbu khốn khổ không còn sự lựa chọn nào khác là dắt díu vợ con mình ra đi, họ thuê một thửa ruộng nhỏ, cả nhà lao động quần quật để không bị chết đói. Vì không có trâu bò, người anh trai lại không cho mượn nên cả vợ và các con của chàng phải tự kéo cày thay trâu. Họ cũng cố gắng dựng được một túp lều che mưa che nắng nhưng so với trang trại mà cha chàng để lại thì nó chỉ là một cái lều vịt xiêu vẹo.

Một ngày tháng giêng đói kém, khi những hạt thóc cuối cùng đã hết sạch chả còn gì để ăn mà ngày mùa còn lâu mới đến, Hungbu quyết định đến nhà anh trai để mong một sự giúp đỡ. Trái với sự mong mỏi của chàng, người anh trai Nonbu từ chối thẳng thừng và đuổi Hungbu ra khỏi nhà, không hề nghĩ đến tình nghĩa anh em như máu mủ ruột già. Cực chẳng đã, Hungbu thử thuyết phục bà chị dâu nhưng thật rủi ro cho anh, bà chị dâu keo kiệt đang cầm cái muôi trên tay đã đập vào mặt anh. Người anh trai Nonbu thấy vậy mồm thì đuổi Hungbu, tay thì tới tấp dùng gậy quật chàng thật đau. Hungbu đau khổ rời nhà người anh, càng thương vợ và con nhỏ đang kêu khóc vì đói ở nhà.

Mùa xuân đến có một đôi chim én đến lán của Hungbu, chúng kêu ríu rít và làm tổ trên mái nhà. Những con én cần cù chăm chỉ vài hôm đã xây xong tổ, chẳng bao lâu sau chúng đã có được năm con chim non. Những con chim én non không ngừng há mỏ đòi ăn và bố mẹ chúng phải luân phiên thay nhau đi kiếm mồi về đút cho chúng. Một hôm, Hungbu nghe thấy những con chim én kêu nháo nhác, chàng chạy đến chỗ tổ chim thì thấy một con rắn lớn bò sát nóc nhà dọc theo một cái xà. Chàng cầm gậy giết chết con rắn. Nhưng đã quá muộn, con vật đã ăn thịt mất bốn con chim non, còn một con rơi khỏi tổ, giãy dụa trên cỏ, kêu thảm thiết.

– Mày đừng sợ, tao không làm mày đau đâu.

Hungbu nhẹ nhàng cầm con chim lên, thấy con chim bị gãy một chân, chàng đem nó vào nhà. Vợ chàng bôi thuốc băng bó cho chim, các con chàng đi bắt ruồi cho chim non ăn và chăm sóc cho đến lúc nó khỏi hẳn. Mùa thu năm ấy, con chim non đã có thể bay đi gặp đồng loại đang bay về phương . Gặp vua chim én, con chim én đã kể lại tất cả những nỗi không may của nó và gia đình, Hungbu đã cứu sống nó, săn sóc nó như thế nào.

– Lòng tốt của người đàn ông ấy đáng được đền đáp – Vua chim én nói. Và khi mùa xuân đến khi cây cối sau ngôi lán của Hungbu nảy lộc ra hoa thì con chim én bay về. Cả nhà Hungbu vui mừng khi nhìn thấy con chim én bay trở về. Nó lượn tròn một lúc trên nóc nhà rồi xà xuống, đặt một hạt bí ngô gần chân của Hungbu. Hungbu ươm hạt bí, hạt bí ngô nảy mầm, lớn dần, lớn dần. Một thời gian sau các thân cây bò lên mái lán, ba cái hoa lớn nở thành ba quả bí ngô, chúng lớn nhanh như thổi. Hungbu rất vui nghĩ rằng đã có cái ăn cho các con.

Khi những quả bí lớn đã chín, Hungbu gọi vợ con đến và bổ quả bí đầu tiên. Kì lạ thay, quả bí tách làm đôi một nửa quả chứa toàn gạo trắng, còn nửa kia thì chứa đỗ, đậu nành, kê. Họ dùng những thứ đó để ăn, nhưng ăn hết lại đầy. Vợ chồng Hungbu vui sướng vì từ nay không còn lo bị đói nữa. Bổ quả bí thứ hai, Hungbu thấy bao nhiêu vàng bạc, ngọc ngà châu báu tuôn ra. Họ rất vui sướng và thầm cảm ơn chim én. Khi họ bổ quả bí thứ ba thì từ trong quả bí một nàng tiên bước ra mỉm cười và nói với Hungbu rằng:

– Tôi là sứ giả của vua chim én. Ngọc Hoàng đã quyết định thưởng cho anh vì lòng nhân từ và cao thượng của anh. Anh hãy nhân món quà này, từ nay gia đình anh sẽ không còn phải chịu cảnh cơ hàn.

Rồi nàng tiên ra hiệu, một đoàn người lùn từ trong quả bí bước ra mang theo cưa, rìu, gỗ, ngói… Chỉ một lát sau họ đã dựng lên được một căn nhà rộng rãi, khang trang thay cho cái lan tồi tàn của Hungbu trước đây. Hungbu chưa kịp cảm ơn thì nàng tiên và những người lùn biến mất.

Mùa xuân đến, Nonbu xếp đặt dưới mái nhà của gã một lớp gỗ để cho chim én về làm tổ được dễ dàng. Hắn sốt ruột chờ. May mắn cho hắn, không phải đợi lâu, chỉ một thời gian ngắn có một đôi chim én về làm tổ dưới mái nhà của gã. Chim én cũng có một đàn con, chúng luôn ấp ủ và cho con ăn đều đặn nhưng không có một con rắn nào đến tổ của chúng. Không thể chờ đợi thêm được nữa, gã leo lên mái nhà tự mình bóp chết và ném bốn con chim non xuống rồi gã tự tay bẻ gãy chân con còn lại. Gã đem con chim tội nghiệp xuống bôi thuốc và băng bó cẩn thận. Mỗi khi cho chim ăn gã lại nói:

– Tao mong rằng rồi mày phải cám ơn tao về việc chạy chữa cho mày. Mày chỉ cần mang đến cho tao một hạt bí để tao trở nên giàu có.

Cuối cùng, mùa thu đến, con chim én cũng qua khỏi và cùng các bạn bay về phương Nam. Gặp vua chim én, nó kể lại toàn bộ sự rủi ro mà nó gặp. Vua chim én giận giữ:

– Gã sẽ được đền bù xứng đáng về sự độc ác và tham lam của mình.

Mùa xuân đến, Nonbu ngày đêm chầu chực chờ con chim én bay về. Gã mừng rỡ khi thấy con chim bay về lượn quanh trên đầu gã và thả xuống một hạt bí ngô. Nonbu nhanh chóng ươm hạt giống trên bồn hoa, gần nhà, nơi gã làm đất rất kĩ và chăm sóc cẩn thận. Chẳng bao lâu, hạt bí nảy mầm và lớn rất nhanh. Những bông hoa bí cũng nở ra ba quả bí lớn, lớn hơn cả của người em. Bí chín. Gã hí hửng cùng vợ bổ bí ngô. Quả đầu tiên được bổ ra, vàng bạc châu báu chẳng thấy chỉ thấy đầy côn trùng sâu bọ phá hoại toàn bộ lúa mì của gã. Tiếp theo là những con quỷ chui ra tay cầm gậy vụt tới tấp vào Nonbu và vợ gã. Bổ quả bí thứ hai, từ trong quả bí chui ra một con quái vật kinh khủng bắt Nonbu phải đưa hết tiền bạc, của cải. Sợ quá vợ Nonbu khuyên chồng không nên bổ quả còn lại nữa, nhưng do quá tham lam, hắn quyết bổ nốt quả cuối cùng. Từ trong quả bí một người khổng lồ bước ra phá toàn bộ nhà cửa – dinh cơ to đẹp của gã rồi dựng lên một túp lều tồi tàn như túp lều của Hungbu ngày xưa. Rồi tất cả biến mất chỉ còn trơ lại mỗi túp lều rách nát. Từ bây giờ trở đi Nonbu phải trải qua cái đói, cái gian nan vất vả của người lao động chân chính, lương thiện.

Sau này, người em Hungbu biết anh mình đã thực sự trở thành người tốt đã đến đón gia đình Nonbu về sống cùng mình. Từ đấy họ sống với nhau hoà thuận trong tình thương ruột thịt.

Xưa kia, loài vật cũng sống trong làng giống như người. Một ôm nắng hạn ghê gớm, mọi người cùng muôn vật gần như chết khát. Con nhện và bầy con của nó cũng gần chết khát. Nhện bèn quyết định phải làm cái gì đó chứ không thể tiếp tục chờ như thế này mãi. Không phải suy nghĩ lâu, trong rừng sâu có một cái hố đầy nước, trong mát nhưng không ai dám đến vì đấy là chỗ ở của những ma quái. Chúng sẽ xé xác những ai uống nước của chúng.

Nhện tự hỏi: “Nghe nói ở đấy có nước, có đúng không nhỉ? Và nếu có thì ai chối cãi được mình tinh khôn hơn tất cả bọn ma quái?”. Nghĩ thế Nhện lấy hai quả bầu được nối với nhau bằng một sợi dây và đục một lỗ trên mỗi quả bầu rồi đi thẳng đến hồ nước không chậm trễ.

Khi đến, làng ma quái như làng chết, chỉ có hai đứa trẻ ma quái canh gác. Nhện nói với chúng:

– Các cậu xem, tôi bẩn quá. Đề nghị cho tôi tắm rửa một chút.

Hai đứa trẻ không phản đối nhưng cấm nhện không được mang giọt nước nào về.

– Các cậu cứ tin tôi đi.

Và rồi Nhện bơi lội thỏa thích trong hồ, lấy đầy nước vào hai quả bầu, lên bờ ra về lòng đầy thỏa mãn, thích thú. Nó biết từ giờ nó sẽ lấy nước ở đâu.

Trong làng, những loài vật khác biết Nhện có nước kéo đến hỏi xem tìm ở đâu. Nhện chỉ bảo:

– Các bạn phải tự mình tìm lấy sự thật.

Thấy Nhện dấu chỗ có nước, các loài vật rất tức tối. Chó sói định chơi cho Nhện một vố. Nó ngậm một quả trứng cho phồng má lên và đến chỗ Nhện nói:

– Bà hàng xóm thân mến, tôi đau răng kinh khủng. Nhờ bà nhổ hộ tôi chiếc răng đau.

Nhện vốn tính hay giúp đỡ người khác, nghe sói nói vậy liền đưa tay vào miệng Sói. Bất thình lình, Sói cắn chặt răng, dữ tợn bảo:

– Nếu bà không nói lấy nước ở đâu thì tôi sẽ cắn đứt tay bà.

Không còn cách nào khác, Nhện buộc lòng phải nói sự thật và đề nghị sói đi với mình đến làng ma quái.

Khác với Nhện, bản tính của Sói vốn tham lam, thấy Nhện bảo mang đi hai quả bầu để lấy nước về thì không chịu nghe. Sói thấy chỉ có hai quả bầu thì ít quá nên tìm hai quả đất nung lớn để lấy nước. Đến gần hồ, Nhện đề nghị hai đứa trẻ ma quái vẫn đang canh gác cho Nhện và Sói vào tắm. Hai đứa trẻ cũng đồng ý, với điều kiện Nhện và Sói không được mang giọt nước nào về. Chúng mau chóng xuống bơi lội trong hồ. Những quả bầu đầy nước, Nhện thôi tắm và nhanh chân về nhà, còn nhưng quả đất nung đầy nước rất chậm và khi định ra khỏi mặt nước Sói bị vướng chân vào dây không làm sao lên được. Hai đứa trẻ ma quái thấy có chuyện khác thường liền báo với bố mẹ chúng.

Sói ở trong hồ than thở khổ sở và do quá sợ hãi mất khôn, nó thốt ra: “Mình chỉ muốn lấy nước mang về mà bây giờ bị cầm chân ở đây!”. Lũ ma quái nghe được, đùng đùng nổi giận. Chúng cắt dây, đập vỡ những quả đất nung rồi đánh cho sói một trận nhừ tử. Sói chỉ may còn giữ được mạng sống chạy vào rừng rậm. Từ ngày đó, người ta không còn thấy nó xuất hiện ở làng nữa.

Nhện thì rất tự hào vì chỉ mình biết được sự thật. Khi mùa khô chấm dứt, trời bắt đầu chuyển mưa, nó quyết định cùng với sự thật của mình đi ngao du thiên hạ. Nó lấy một trong hai quả bầu, khoét một lỗ to và thét vào đó hai từ “sự thật”. Nó để quả bầu lên đầu như các bà vẫn đội hàng và lên đường. Vừa đi nó vừa tự nhủ: “Mình đội sự thật lên đầu có nghĩa là nó thuộc về mình và không ai lấy đi được”.

Qua con suối đầu tiên, Nhện thấy những quả chuối rất ngon phản chiếu trong nước. Nó lặn ngay xuống suối nhưng chẳng thấy chuối đâu. Nó lội ra khỏi suối lên bờ đứng thì lại nhìn thấy những quả chuối dưới nước. Nó lại lặn xuống và cứ lặn cho đến khi mệt đứt hơi. Kiệt sức, nó nằm dài bên bờ suối, bỏ quả bầu trên đầu xuống. Và nó nhìn thấy những quả chuối, những quả chuối ngay trên đầu nó, treo ở trên cây nhưng nó không nhìn thấy vì có quả bầu trên đầu.

Lúc đó, Nhện giận dữ đập quả bầu ra làm trăm mảnh và tự hỏi: “Phải chăng mình có sự thật trên đầu? Dù đúng thế thì sự thật trên đầu mình có phải là sự thật duy nhất không? Chắc chắn là không!”.

Cuối cùng Nhện hiểu rằng biết rõ sự thật không phải là đơn giản.

Ở làng nọ, có hai người sống hai cảnh đời trái ngược. Một người giàu nứt đố đổ vách, của chìm của nổi không biết bao nhiêu mà kể. Bên cạnh anh nhà giàu này lại có một người nghèo rớt mùng tơi, đã thế lại còn tàn tật, ít khi được miếng cơm nóng, khoai sắn ăn không đủ no.

Lão nhà giàu cạy tiền cạy của, cứ ra khỏi nhà là bắt người khiêng võng, lão ăn chơi trác táng nên dù còn trẻ, tóc còn xanh, răng chưa rụng nhưng người gày đét như con mắm, ốm yếu. Còn anh nhà nghèo do mắc bệnh từ nhỏ, nên lúc nào người cũng dúm dó, đi lại khó khăn, quanh năm suốt tháng chỉ có mỗi mảnh vải che thân.

Một năm kia hạn hán kéo dài, cây cỏ khó mọc, những đám rau dại quanh làng chết hết. Chẳng còn gì để ăn, anh tàn tật cố bò ra cây vả giữa quả đồi trọc nhặt quả ăn thay cơm. Đường từ nhà đến đấy bao ghập ghềnh. Với những người lành lặn thì cũng đủ mệt bở hơi tai, thế nên anh tàn tật phải khổ sở vất vả bò lết suốt từ sáng tinh mơ cho đến tận chiều tà mới tới nơi. Đến gốc cây, anh mệt rã rời không còn đủ sức nhặt quả rụng cho vào mồm. Trời thương, đến chiều tối, khi mặt trời lặn sau quả núi, một cơn gió thổi qua rất mạnh làm cành cây oằn xuống rụng đầy quả xuống mặt đất. Anh nhà nghèo cố lê lết vun quả rụng thành một đống ăn dần. Đêm đó anh ngủ dưới gốc cây.

Sáng hôm sau tỉnh dậy anh thấy một đàn chim từ phía Đông bay đến, chúng ríu rít đậu trên ngọn cây. Đàn chim đi tìm quả chín nhưng quả chín đã rụng hết từ hôm qua. Chúng ngơ ngác rồi bay ào xuống mặt đất. Trông thấy đám quả chín của anh tàn tật chúng không dám lại gần mà chỉ đứng nhìn từ đằng xa. Anh tàn tật nhặt quả vãi ra xung quanh bảo chim:

– Có đói thì vào mà ăn.

Nghe anh nói, một con chim có cái mỏ vàng, lông óng ánh, to như chim đại bàng cất tiếng nói, rành rọt:

– Chim không có công nhặt sao người cho nhiều thế?

– Cây trời sinh, quả trời cho, không tưới thì công nhặt quả có đáng là bao. Chim đói thì cứ vào mà ăn.

Anh nhà nghèo lại bốc quả vãi ra. Lũ chim không sợ nữa xúm vào ăn. Chim đầu đàn bảo anh:

– Anh quả là người tốt, quả ăn trừ cơm mà cho không tiếc. Tôi cho anh một điều ước để trả ơn.

– Làm lính thì bị quan đánh chửi, làm quan thì mặt mũi cau có chẳng ai có thể ưa được.

Anh bỏ ý định làm lính, làm quan.

Một lúc, có mấy người thầy mo đi qua. Người nào người nấy quần áo xanh xanh đỏ đỏ, tay xách rượu thịt, vẻ mặt an nhàn. Anh tàn tật thấy vậy thích lắm, định ước trở thành thầy mo. Bỗng cái cổ quẹo làm anh đau nhói. Cái cổ này trước đây cha mẹ anh cũng đã mời thầy mo về yểm bùa cúng bái cho anh khỏi bệnh mà mãi không khỏi, tiền mất mà tật vẫn mang. Nhớ lại anh tự bảo:

– Thầy mo là người điêu ngoa, hay lừa bịp. Làm thầy mo chỉ tổ để cho mọi người chửi.

Chợt anh nhìn thấy lão nhà giàu đi đâu về, anh tàn tật định ước giống lão nhà giàu ăn sung mặc sướng, an nhàn thảnh thơi. Nhưng khi lão nhà giàu vừa đi khuất anh thấy một đám người tay xách nách mang nào ngô nào thóc còn khuôn mặt thì ủ rũ buồn bã. Anh bèn hỏi:

– Tại sao các bác có nhiều ngô nhiều thóc mà lại buồn thế?

Mấy người kia chỉ lão nhà giàu nói:

– Sắp đến mùa cày thì lão bắt trâu lúc giáp hạt thì lão đòi nợ. Thật khổ quá!

Quá hiểu cảnh nghèo khó như thế nào, anh lắc đầu:

– Làm người giàu sẽ gây khổ cho người nghèo.

Phân vân một lúc, anh tàn tật nhìn lại mình, thấy lưng còng, cổ quẹo, liền ước:

– Thôi, chim cho ta lành lặn khoẻ mạnh để có sức khoẻ trồng nương phát rẫy nuôi thân.

Lời ước vừa dứt, anh tàn tật trở thành một thanh niên to lực lưỡng, cổ hết vẹo, lưng hết còng. Anh ghé vai ôm lấy cây vải nhổ thử. Cây vải bật gốc, anh liền vác về trồng ở đầu làng.

Về làng, tên nhà giàu thấy anh béo tốt, phương phi liền hỏi:

– Mày làm sao mà chóng khỏe, sức lực cường tráng thế?

Anh tàn tật thật thà kể lại toàn bộ câu chuyện về việc cho chim ăn quả vải chín như thế nào và chim trả ơn điều ước ra sao. Chưa kịp để cho anh tàn tật nói gì, lão nhà giàu đã đề nghị đổi cho anh toàn bộ nhà cửa ruộng vườn của lão để lấy số quả vải chín mà anh tàn tật mang về. Lão giật vội mấy quả vải rồi tức tốc chạy thẳng ra đồi, vợ con cùng gia nhân cũng lóc cóc chạy theo lão. Đến bên gốc cây vải đã bật, chúng thu lu chờ chim đến. Và đàn chim cũng đến. Vợ con lão chẳng biết sự tình thế nào nên cứ trố mắt ra nhìn. Còn lão nhà giàu đưa quả ra nhử chim, mồm bảo:

– Cây vải đã bị thằng tàn tật nhổ mất rồi. Bây giờ muốn ăn quả chín chẳng dễ đâu. Ta còn mấy quả chim có ăn không, nhưng chim phải cho ta một trăm điều ước. Còn nếu không thì đừng hòng ăn.

Đàn chim đã đói, nhưng mỗi lần chỉ có một điều ước nên không thể đổi được cho lão nhà giàu. Khi mặt trời sắp lặn, đàn chim sắp sửa bay đi. Biết không thể đổi nắm quả vải lấy hơn một điều ước, lão nhà giàu mới đồng ý đổi. Được điều ước, hắn cười hả hê, giục cả nhà đứng dậy nói lớn:

– Cho ta trẻ lại này, giầu sang này, nhiều vàng bạc trâu bò này, nhiều…

Chưa kịp nói hết câu thì cái mồm của cả nhà chúng nhô ra nhọn hoắt, tay biến thành cánh, móng biến thành vuốt, lông lá mọc khắp người, hôi hám, khét lẹt. Cả nhà chúng biến thành loài chim, vẫn giữ tính cách như lúc còn là người, hễ cứ thấy xác chết là bâu lại. Người ta gọi chúng là chim kên kên.

Lúc nào Hổ cũng vênh váo tự xưng mình là chúa tể sơn lâm. Nó khoe bộ vuốt sắc, bộ nanh nhọn có thể cào rách và cắn thủng bộ da của con voi già hàng trăm tuổi. Nó khoe có bàn tay khỏe có thể tát chết tươi bất cứ con vật nào, và có tiếng gầm rung trời lở đất, làm lở đá rừng, làm bật rễ cây cổ thụ, làm gãy cổ diều hâu, làm gãy cánh chim đại bàng.

Tính tình của Hổ thì lại không tốt lắm, nó hung dữ, xảo quyệt hay gây sự, hay lật lọng và thường rình mò ăn thịt các loài chim thú. Mọi thú vật chim chóc trong rừng thường xa lánh Hổ. Cứ nghe tin Hổ ở đâu là các loài vật vội trốn chạy. Hổ sống lủi thủi một mình thấy rất buồn. Nó muốn kết bạn nhưng chẳng loài nào chịu chơi với Hổ cả.

Một hôm, trong lúc buồn tủi, Hổ thẫn thờ đi trong rừng ngẫm nghĩ về cuộc đời của mình thì gặp Mèo. Xưa nay nghe nói mèo tinh thông pháp thuật, võ nghệ cao cường, Hổ rất mong kết bạn với mèo để học một chút võ nghệ mong dễ bề kiếm ăn. Mèo đi đứng khoan thai, dịu dàng, chân bước êm như ru, nhảy xa không một tiếng động. Mèo vồ mồi nhanh và rất nhạy, nó không bao giờ vồ lung tung mà chỉ bắt những con vật có hại như chuột hoặc chim cắt.

Hổ rất muốn kết bạn với Mèo. Sau khi nghe Hổ giãi bày tâm sự, Mèo cũng vui lòng làm bạn với Hổ. Nhưng khi vừa gần gũi được với Mèo, Hổ đã nảy sinh ý định xấu, thừa lúc Mèo đang vui vẻ trò chuyện không có ý đề phòng, Hổ nhảy đến vồ Mèo định ăn thịt. Nhưng Mèo tinh ý nhanh nhẹn nhảy tránh được. Mèo trợn đôi mắt sáng quắc lên nghiêm nghị:

– Anh quả là một người không tốt. Vừa mới xin kết bạn mà anh đã giở ngay cái thói lật lọng ti tiện đê hèn ra. Nhưng nói trước, anh không thể làm gì được tôi đâu. Tôi nhỏ bé hơn anh nhưng có thể đạp gẫy cổ anh đấy. Liệu mà giữ thân!

Biết mình kém tài Mèo, Hổ hết lời phân trần cho đỡ ngượng:

– Tôi chỉ muốn thử xem võ nghệ của anh có giỏi không, có giống những gì người ta đồn đại không! Thật lòng, anh bạn Mèo thân mến ạ, tôi không có ý định ăn thịt anh đâu, tôi rất muốn kết bạn với anh mà.

– Anh quả thật giỏi võ hơn người. Trong thiên hạ này chẳng ai có thể làm gì được anh. Tôi xin bái phục, bái phục.

Mèo nghiêm nghị vuốt râu nói:

– Xưa nay anh có tiếng là kẻ luôn lật lọng tráo trở. Mồm lúc nào cũng nói những lời ngon ngọt tử tế nhưng trong bụng đầy rẫy những âm mưu. Nếu thật lòng muốn kết bạn với tôi thì anh hãy thề bỏ cái tính nghĩ một đằng làm một nẻo đi.

Thấy Mèo lúc nào cũng ôn tồn, nghiêm nghị, Hổ không dám giỡn mà dịu giọng tha thiết nói:

– Anh Mèo ơi, tôi thật lòng muốn kết bạn lâu dài với anh. Tôi đã nói với anh rằng trên đời này không ai có thể sống trơ trọi một mình, anh bắt tôi phải thế nào cho vừa lòng anh đây.

Mèo thấy Hổ kể ra cũng đáng thương, suốt ngày phải lủi thủi một mình vì không có ai chơi cùng, Mèo dịu dàng bảo:

– Thôi được, tôi đồng ý kết bạn với anh. Nhưng anh phải thề không bao giờ được đùa cợt với mèo và không được vồ mèo ăn thịt. Nếu sai lời thề anh sẽ phải chịu hình phạt nặng nề.

– Tôi xin thề, xin thề mà!

Thấy Hổ thề rối rít Mèo cũng vui lòng kết bạn với Hổ, Mèo hứa sẽ dạy Hổ các món võ nghệ, phép thuật của mình. Hổ mừng lắm.

Mèo nhiệt tình dạy, Hổ hăm hở học. Nhưng vốn ngu đần cộng với trong đầu còn vướng nhiều điều đen tối nên Hổ học rất chậm. Mèo kiên nhẫn chỉ bảo từng miếng võ, từng bước tiến bước lùi. Thế nhưng gần một tháng trôi qua mà Hổ mới thuộc lơ mơ vài đường cơ bản. Mèo thì vẫn kiên trì dạy còn Hổ thấy học lâu thì sốt ruột lắm.

– Tôi học đến nay đã vừa tròn tuần trăng, bạn cũng dạy tôi khá nhiều rồi. Vậy xin hỏi bạn Mèo chẳng hay bằng ấy miếng võ tôi đã đủ vốn để dùng chưa?

Thực ra Mèo mới truyền cho Hổ được một vài món cơ bản nhưng món nào Hổ cũng lơ mơ. Thấy Hổ sốt ruột, Mèo cũng cười ôn tồn;

Hổ mừng lắm, nó hài lòng với những gì đã học. Nhìn thấy Mèo béo mập, múp míp, Hổ không thể từ bỏ ý định đen tối. Giả vờ nhờ Mèo giúp ôn lại những thế võ đã học, lợi dụng thời cơ Mèo đang say sưa chỉ bảo Hổ nhảy bổ đến định vồ lấy Mèo nhưng vồ hụt. Mèo tinh ý nhanh nhẹn tránh được và đạp một cái thật mạnh vào cổ Hổ rồi lao thoăn thoắt lên ngọn cây. Mèo mắng Hổ:

– Mày là hạng xấu bụng. May mà tao chưa truyền hết võ nghệ cho mày. Mày không đáng là bạn của tao.

Bị Mèo đạp một cái vào cổ đau điếng đến mức không thể ngẩng đầu lên được nhưng Hổ vẫn giả vờ làm ra vẻ bình thường, cố lấy giọng tự nhiên đáp:

– Tôi đang ôn lại những món võ mà bạn dạy cho tôi đấy chứ. Tôi đâu có ý xấu như vậy, bạn đừng có vội trách tôi vì tôi giữ đúng lời thề mà. Mà, bạn dạy thêm món võ trèo cây đi.

– Đồ dối trá, lừa thầy phản bạn. Tao không cao tay tỉnh táo thì đã trở thành miếng mồi ngon của mày rồi. Mày hãy cút về rừng sống cô độc với cái bụng dạ xấu xa của mày đi. Cút ngay đi nếu không tao đạp cho cái nữa thì toi mạng.

Hổ cụp đuôi, cúi mặt, lủi thủi bước đi. Từ đó trở đi bao giờ Hổ cũng cúi mặt như thế mà đi. Và cũng chẳng có một loài vật nào chịu kết bạn với Hổ nữa.

Ngày xưa có một nhà sư trẻ rất ngoan đạo. Sau bao năm trời tu hành khổ hạnh mà vẫn chưa tu thành chính quả. Sư thầm nghĩ: “Ta phải đến đất thánh một phen mới hòng tu thành chính quả. Nghĩ là làm, nhà sư quyết chí tìm đường sang Tây Trúc.

Đường sang Tây Phương thật gập ghềnh hiểm trở, núi non trùng điệp, sông sâu, núi cao, rừng rậm bạt ngàn, thú dữ rình rập ngày đêm. Biết là sẽ gặp nhiều nguy hiểm nhưng lòng đã quyết nhà sư vẫn khăn gói lên đường. Cuộc hành trình đã được một mùa trăng, lặn lội, vất vả, đói rét bệnh tật nhưng không có gì ngăn được lòng quyết tâm của nhà sư. Một hôm, đến một khu rừng thì trời vừa tối, nhà sư cố bước thật nhanh mong tìm chỗ trú chân. Đi mãi cuối cùng nhà sư cũng tìm được một ngôi nhà bé nhỏ. Ra mở cửa là một bà cụ. Nhà sư ngỏ lời muốn xin được ngủ trọ qua đêm nhưng bà cụ xua tay rối rít từ chối:

– Nhà ngươi hãy đi đi, con ta mà về nó sẽ ăn thịt nhà ngươi mất.

– Tôi bây giờ đã quá mệt không thể cất bước đi được nữa. Nếu không được vào nhà tôi xin nằm nhờ trước cửa này vậy.

– Con ta vốn là tinh tinh hay ăn thịt người. Nhà ngươi hãy cố gắng mà đi đi. Nó sắp về rồi đấy.

Nhưng nhà sư không còn nghe thấy bà cụ nói gì nữa, hai mắt đã dính chặt vào nhau rồi. Chẳng biết làm thế nào bà cụ đành lôi nhà sư giấu xuống bếp, phủ rơm, lá khô lên trên.

Vừa hay xong thì con tinh tinh về nhà tay xách một con thỏ. Nó khịt khịt mũi và bảo với mẹ rằng:

– Con ngửi thấy có mùi thịt người mẹ ạ!

– Ừ ! Mùi thịt con vừa mang về đấy

– Không phải, rõ ràng con ngửi thấy mùi thịt người mà.

Không chờ bà cụ nói thêm, nó đặt con thỏ xuống đất và chạy thẳng vào bếp. Chẳng bao lâu, nó đã lôi được nhà sư lên. Nhà sư vẫn ngủ mê man. Khi tỉnh dậy, nhà sư nhìn thấy con tinh tinh tay lăm lăm cầm con dao, hất hàm hỏi:

Nhà sư nhìn thấy con tinh tinh cũng giống như người bình thường nên điềm tĩnh đáp:

Nhà sư nói rõ mục đích chuyến đi của mình rồi nhân tiện giảng đạo cho tinh tinh nghe, kể về những ngày tu khổ hạnh của mình những gian nan vất vả trên đường và về mong muốn duy nhất là được nhìn thấy đức Phật để tu thành chính quả. Nghe nhà sư nói, hai mẹ con tinh tinh cảm động lắm, người con tỏ vẻ hối lỗi về hành động thiếu suy nghĩ của mình lúc nãy. Nhà sư khuyên họ sống có đức có tâm, bỏ điều ác, làm điều thiện thì sẽ có được cuộc sống sung sướng.

Sáng hôm sau, nhà sư tiếp tục lên đường, hai mẹ con họ chuẩn bị chu đáo lương thực cho nhà sư ăn đường. Họ tiễn nhà sư qua một cánh rừng. Khi sắp từ biệt tinh tinh hỏi:

– Tôi biết lấy gì dâng Phật đây?

– “Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm”. Chỉ cần dâng tấm lòng của mình là đủ.

Nhà sư vừa dứt lời thì tinh tinh đã cầm ngay lưỡi dao rạch bụng mình và lôi ra cả mớ ruột đưa cho nhà sư và nói:

– Nhờ hoà thượng dâng hộ lên đức Phật.

Nhà sư bối rối quá chẳng biết làm thế nào đành gật đầu nhận lời rồi gói bộ lòng cẩn thận và quảy hành lý lên đường.

Sau mấy ngày vượt rừng vượt suối nhà sư đã ra đến biển. Biển mênh mông bao la trước mặt. Nhà sư chuẩn bị vượt biển để qua bờ bên kia. Lúc này món lễ vật mà con tinh tinh đáng thương kia gửi nhà sư đã bốc mùi nồng nặc. Nhà sư nghĩ: “Nó bốc mùi nồng nặc thế này thì ta còn mang theo làm gì nữa”. Nghĩ vậy nhà sư bèn vứt bộ lòng xuống biển sâu.

Nhà sư đi mãi rồi cũng đến Tây Phương. Nhưng khi phủ phục dưới Phật đài nói lên những thắc mắc của mình vì sao chưa được đắc đạo thì từ trên điện cao có tiếng hỏi vọng xuống:

– Trên đường nhà ngươi đi đến đây, có ai gửi nhà ngươi vật gì để dâng Phật không?

Nhà sư bèn thuật lại câu chuyện gặp hai mẹ con nhà nọ trong rừng và về bộ lòng người con gửi. Trên đường đi đến đây do nó bốc mùi hôi thối nồng nặc nên nhà sư đã quẳng bộ lòng xuống biển.

Đức Phật trách nhà sư và bảo quay về đấy tìm lại bộ lòng vì nó là tấm chân thành của người mộ đạo. Nhà sư thất thểu quay về nơi cũ, biển mênh mông và sâu thẳm, nhà sư cố lặn hụp để mong lấy lại món quà đấy. Hụp lặn suốt ngày này sang ngày khác mà chẳng tìm thấy bộ lòng đâu. Nhà sư biến thành loài cá heo. Có nơi người ta còn gọi là cá ông sư vì loài cá đó con nào cũng có cái đầu trọc như nhà sư và vẫn làm công việc của nhà sư, cứ lặn xuống, nổi lên tìm bộ lòng không chịu nghỉ.

Ngày ấy, ở một làng nọ có một anh nhà giàu sống sung sướng trong lụa là gấm vóc. Cạnh nhà anh ta là túp lều của hai vợ chồng nông dân nghèo. Hai nhà tuy có hoàn cảnh khác nhau nhưng lại xây dựng được tình xóm giềng rất tốt. Họ thường qua lại nói chuyện với nhau.

Một hôm có anh thương gia là bạn của anh nhà giàu sang nhà anh nhà nghèo chơi. Ngồi nói chuyện một lúc thì mọi người ngửi thấy mùi xào nấu từ bếp anh nhà giàu bay sang. Vợ anh nhà nghèo nói

– Vợ chồng nhà tôi ăn cơm đúng vào lúc bếp nhà anh nhà giàu xào rau, rán cá thơm phức. Ngửi mùi xào nấu đó chúng tôi chẳng cần ăn cũng thấy no rồi. Anh thấy đấy, cả hai vợ chồng tôi đều béo tốt thế này cơ mà.

Người đấy nghe xong liền kể lại cho anh nhà giàu nghe. Nghe xong anh nhà giàu mới hiểu là tại sao nhà mình ăn toàn những món ngon mà chẳng bao giờ thấy có mùi vị, cả nhà ăn đều không thấy ngon và ngày càng gầy đi. Thế là anh nhà giàu giận anh nhà nghèo ra mặt. Còn anh nhà nghèo thì không hiểu tại sao ông bạn láng giềng giàu có của mình tự dưng lại ghét mình đến thế.

Anh nhà giàu nghĩ: “Phải làm cho ra nhẽ vụ này” vì thế tức tốc vào kinh thành kính cẩn tâu vua câu chuyện trên. Vua cho gọi anh nhà nghèo đến hỏi:

– Chuyện anh nhà giàu nói thế có đúng không?

– Đúng ạ – Anh nhà nghèo trả lời: Chúng con ngửi mùi thịt, cá nấu nướng ở bếp nhà hàng xóm bay sang và ăn cơm nhà mình ạ.

Nhà vua nghĩ mãi không biết xử trí thế nào bèn nổi trống triệu tập triều đình và dân chúng lại tuyên bố:

– Ai xử được vụ kiện giữa anh nhà giàu và anh nhà nghèo ta sẽ phong cho làm tể tướng.

Cả nước lan truyền lệnh vua nhưng chưa thấy ai nhận xử vụ này. Sứ giả nhà vua đi mãi, cuối cùng gặp được thỏ nâu. Thỏ nâu hỏi:

– Bác sứ giả ơi, có chuyện gì xảy ra vậy?

– Nhà vua đang rất bối rối vì có anh nhà giàu và anh nhà nghèo kiện nhau. Vua sai tìm người tài giỏi xử giúp. Nếu ai xử được sẽ được phong làm tể tướng – Sứ giả trả lời.

– Hãy về thưa với nhà vua rằng tôi sẽ xử được vụ này – Thỏ vừa nhai rau ráu cà rốt vừa trả lời.

– Vậy thì đi ngay thôi.

Thỏ nâu theo sứ giả vào cung. Nghe sứ giả tâu là có một con thỏ muốn nhận xử vụ này, nhà vua rất ngạc nhiên. Nhưng rồi nhà vua cũng đồng ý và ra lệnh cho thỏ:

– Nhà ngươi phải xử cho công bằng để dân chúng được thấy. Nếu xử không công bằng ra sẽ chém đầu nhà ngươi.

– Cái đó tuỳ ngài – Thỏ nâu trả lời.

Thỏ nâu ngồi lên ghế quan toà và bắt đầu xét xử. Thỏ cho gọi anh nhà giàu và vợ chồng anh nhà nghèo đến. Thỏ hỏi anh nhà giàu trước:

– Theo anh mùi vị thức ăn mà anh nhà nghèo ngửi phải trả với giá bao nhiêu?

Anh nhà giàu ngãi tai, mãi mới ấp úng trả lời:

– Tôi nghĩ phải đáng trăm đồng bạc, không kém.

Thỏ quay sang anh nhà nghèo hỏi:

– Có phải vợ chồng anh ăn cơm vào lúc bếp nhà hàng xóm bốc mùi xào rán thức ăn không?

– Đúng đấy ạ – anh nhà nghèo trả lời – Chúng tôi ăn cơm vào lúc đó. Ông biết không mùi thức ăn của họ bay lên ngào ngạt.

– Thế anh có vào nhà hàng xóm khi họ xào nấu thức ăn không?

Thỏ quay ra chất vấn anh nhà giàu:

– Anh nhà nghèo nói không sai chứ.

– Không sai. Anh ta không đến bao giờ – Anh nhà giàu trả lời.

Thỏ nâu quay lại chỗ nhà vua, xin cho mượn trăm đồng bạc và ra lệnh lấy rèm vải ngăn phòng xử ra làm đôi, một bên anh nhà nghèo ngồi, một bên anh nhà giàu ngồi, sau đó Thỏ đưa tiền cho anh nhà nghèo:

– Hãy đếm đi, đếm to vào. Thỏ bảo: Còn anh nhà giàu, hãy chú ý nghe tiếng đếm.

Anh nhà nghèo đếm: “Một, hai, ba,…, một trăm”.

Khi đấy Thỏ nói với anh nhà giàu:

– Thế nào, ông nhận đủ một trăm rồi chứ.

– Anh nhà nghèo chỉ ngửi mùi thức ăn mà không được ăn nên đã trả tiếng đếm tiền cho anh nhà giàu. Như vậy là công bằng. Phiên toà kết thúc.

Lúc chuẩn bị ra về, Thỏ nâu bảo:

– Những chuyện lặt vặt như thế này các ngươi phải tự giải quyết lấy, không phải chuyện gì cũng đưa nhau ra tòa xét xử mất thời gian công sức mà lại mất cả tình hàng xóm láng giềng nữa.

Hai người gật đầu xin hứa sẽ sống tốt hơn để không làm phiền ai và giữ được tình người.

Ngày xưa, có một bác rùa già sống cùng vợ và gia đình trong một cái hồ lớn, bao quanh hồ là một khu rừng rộng lớn, trong rừng có rất nhiều thú hoang. Đặc biệt là loài khỉ, chúng di chuyển thành đàn với số lượng lớn theo bờ hồ.

Vào một ngày nọ, bác rùa ra khỏi hồ nước và đi dạo giữa những tán cây mọc gần mép nước. Chợt bác thấy đói và tìm thấy có một cây dừa sai quả gần đấy. Bằng mọi sự cố gắng một cách vụng về, bác rùa cũng không thể trèo lên trên cây dừa hái quả được. Rất thất vọng, định bỏ cuộc, chợt bác trông thấy có một con khỉ to đang ngồi giữa những đám lá của cây dừa. Con khỉ quan sát sự nỗ lực leo lên cây dừa của bác rùa. Thương tình nó bẻ hai trái dừa ném xuống cho bác rùa. Bác rùa vui vẻ ăn với lòng biết ơn.

Bấy giờ hai con vật bắt chuyện với nhau và chẳng mấy chốc trở nên thân thiết. Khỉ dẫn bác rùa vào sâu trong rừng và chỉ cho bác thấy cái hang ấm áp mà nó vừa tìm được. Bác rùa thích thú với những gì nhìn thấy, bác hài lòng vứi người bạn khỉ đến mức ở lại trong rừng vài ngày, ban ngày đi dạo, tối về ngủ cùng khỉ trong hang.

Ở nhà vợ bác rùa càng ngày càng lo lắng về sự vắng mặt lâu ngày của chồng. Thím rùa sai một đứa con của mình đi tìm xem cha nó đang ở đâu và ông ấy sống ra sao. Thế là chú rùa con bơi vào bờ, sau một hồi tìm kiếm chú thấy cha mình ở gần một cái hang.

– Cha ơi, mẹ sai con đi tìm cha xem cha sống như thế nào – Chú nói.

– Ồ, cha vẫn ổn, con trai ạ – Rùa cha đáp – Nói với mẹ là đừng lo lắng gì cho cha, cha đang sống rất vui vẻ, vài ngày nữa cha sẽ về.

Rùa con quay trở lại hồ nước và kể cho mẹ nghe những gì đang xảy ra. Thím rùa nghe xong cảm thấy không hài lòng trước cách cư xử của chồng mình. Thím rùa muốn chồng mình quay trở về nhà với vợ con ngay lập tức. Vì thế thím rùa lại sai cậu con trai mình quay trở lại chỗ cha cậu với lời nhắn: Mẹ đang bị bệnh nặng và thầy thuốc nói rằng chỉ có trái tim một con khỉ mới có thể chữa khỏi bệnh được. Do đó, bác rùa phải trở về ngay lập tức và mang theo một con khỉ.

Rùa con lại đi tìm cha một lần nữa. Gặp cha chú nhắn lại lời của mẹ. Nghe tin giữ, bác rùa rất lo lắng và tự trách mình bỏ nhà đi lâu quá, không để ý chăm sóc vợ con để bây giờ vợ mình bị bệnh nặng. Bác báo cho người bạn khỉ là mình phải quay về nhà ngay lập tức và mời chú khỉ về nhà chơi vài ngày. Chú khỉ không nghi ngờ gì và vui vẻ nhận lời. Thế nhưng khi biết là mình phải xuống hồ nước thì khỉ ta e ngại, chú rất sợ nước và cũng chả biết bơi.

– Đừng lo về điều ấy – Bác rùa nói – Bạn cứ trèo lên lưng tôi, tôi sẽ trở anh qua hồ.

Thế là khỉ trèo lên lưng rùa và bác rùa bơi về nhà. Trên đường đi bác rùa vui vẻ kể chuyện cho khỉ nghe, kể về bệnh tình của vợ. Trong lúc cao hứng, bác dại dột buột miệng rằng phương thức duy nhất để cứu vợ mình khỏi bệnh đấy chính là một trái tim của một con khỉ. Nghe vậy, chú khỉ rất sợ hãi và nhận thấy rằng mình đang bị dẫn vào một cái bẫy. Nhưng rất nhanh chóng lấy lại được bình tĩnh, chú khỉ nghĩ ra cách giải nguy. Chú khỉ nói với bác rùa:

– Anh rùa thân mến, tôi rất đau lòng nghe tin về bệnh tình của vợ anh, nhưng nếu bệnh tình của chị nhà tệ như thế thì tôi nghĩ rằng một trái tim khỉ sẽ không đủ. Theo tôi phải có thêm hai, ba trái tim khỉ thì việc chạy chữa mới có hiệu quả. Nếu anh muốn, tôi có thể dễ dàng gọi vài chú khỉ nữa trong số bạn bè của tôi để cùng theo về nhà anh.

Bác rùa nghĩ thế thì còn gì bằng nên đồng ý. Cả hai bơi trở lại bờ. Ngay khi lên được bờ khô ráo, chú khỉ nhảy khỏi lưng rùa thật nhanh và trong nháy mắt đã trèo lên ngọn cây cao nhất mà chú có thể tìm thấy. Từ trên cao chú khỉ nói vọng xuống:

– Ông là loại bạn bè tử tế quá nhỉ. Ông mời tôi đến nhà ông chơi để giết tôi và lấy trái tim tôi để chữa bệnh cho mụ vợ độc ác của ông. Ông trả ơn tôi cho tất cả những gì tôi làm cho ông trong khu rừng này như vậy phải không? Nhưng ông đã không thể làm được điều ông muốn bởi vì ông chỉ là một con rùa vô ơn bạc nghĩa và ngu ngốc, đần độn. Đừng có mơ quay về với trái tim của tôi và của những người bạn tôi. Hãy thử xem ông sẽ làm được gì để cứu mụ vợ xấu xa của ông.

Nghe những lời chửi rủa này, bác rùa nổi giận đùng đùng và vài lần cố gắng trèo lên cây để chừng trị chú khỉ, nhưng không thể trèo được. Bác đành bỏ cuộc nhưng trong bụng vẫn quyết tâm bắt được một con khỉ để đem về chữa bệnh cho vợ.

Thế là bác rùa nấp mình dưới hồ nước chờ đến tối, bác bơi nhẹ nhàng và bờ và tiến về phía cái hang nơi mà bác và khỉ đã chung sống. Bác dấu mình trong một góc tối chờ cho chú khỉ vào hang.

Tuy nhiên chú khỉ thừa thông minh để không bị mắc vào cái bẫy đơn giản như thế. Như thường lệ, đến giờ ngủ, chú trở về hang nhìn vào trong kêu lớn:

– Ồ, cái hang thật tuyệt, cái hang thật tuyệt!

Sau vài phút im lặng, chú khỉ lại la lớn một lần nữa:

– Ồ, cái hang thật tuyệt, cái hang thật tuyệt!

Bác rùa vẫn nằm im trong hang, không có biểu hiện gì.

Chú khỉ giả vờ nói với mình nhưng chủ yếu là cho bác rùa nghe thấy:

– Lạ nhỉ, lạ nhỉ! Mọi khi luôn có tiếng vọng lại ở trong hang kia mà, sao tối nay mình lại không nghe thấy một tiếng vọng nhỏ nào nhỉ.Chắc có điều không ổn đây.

Và chú khỉ giả vờ lại la lớn hơn: ồ, cái hang thật tuyệt, cái hang thật tuyệt!

Ở trong hang, bác rùa nghe rõ những điều khỉ nói. Bác xuẩn ngốc nghĩ rằng nếu bác giả vờ làm tiếng vọng lại thì chú khỉ sẽ tin và vào hang như thường lệ. Do vậy từ trong góc hang tối bác nói vọng ra:

– Ồ, cái hang thật tuyệt, cái hang thật tuyệt!

Nghe thấy thế, chú khỉ tủm tỉm cười một mình vì tính ngốc nghếch của bác rùa và đi tìm chỗ ngủ khác ở trong rừng.

Ngày xửa ngày xưa, ở một đất nước xa xôi nọ, có một cặp vợ chồng già có tới bảy người con. Các cô con gái đều xinh đẹp duy chỉ có cô thứ bảy lại là một con ếch. Cha mẹ cho cô út ở một gian phòng nhỏ và chăm sóc như những người con khác. Nàng Ếch cũng nói được tiếng người, và cùng lớn lên với các chị của mình.

Một hôm, trong hoàng cung nhà vua mở hội kén vợ cho hoàng tử. Theo phong tục từ xưa để lại, tất cả những cô gái chưa có chồng tại xứ sở này được mời đến hoàng cung hai ngày để dự tiệc. Cô nào lọt vào mắt xanh của hoàng tử thì sẽ được chọn làm vợ. Trên cả đất nước, các cô gái nô nức chuẩn bị đi dự tiệc tại triều đình. Sáu cô con gái của vợ chồng già nọ cũng sắm sửa bộ hành đi dự hội. Nàng Ếch cũng muốn đi nên thẽ thọt hỏi các chị mình:

– Các chị có thể cho em theo cùng được không?

Nhưng các cô chị đã không đồng ý. Họ nói với nhau:

– Nếu để con ếch đi theo thì thật là xấu mặt! Thiên hạ sẽ cười vào mặt chúng ta mất.

Thế rồi họ diện những bộ quần áo đẹp nhất và lên đường. Nàng Ếch nghe các chị nói vậy cũng không lấy làm buồn phiền. Chờ các chị đi khỏi, Ếch lặng lẽ đi theo. Dọc đường, nàng chui vào một bụi rậm, trút bỏ bộ da ếch, lập tức biến thành một cô gái đẹp tuyệt vời. Rồi nàng vội vã đến hoàng cung.

Hoàng cung được trang hoàng lộng lẫy, mọi người vui vẻ dự tiệc nhưng ai cũng rất chú ý đến vị hoàng tử đẹp trai ngồi phía trên. Còn hoàng tử lại chẳng để ý đến ai. Nhưng khi nhìn thấy nàng Ếch bước vào chàng thấy đây là cô gái xinh đẹp nhất và chàng đem lòng thương nhớ, quyết định coi nàng là vợ mà không cần biết gốc gác của nàng ra sao và từ đâu đến.

Ngày đầu tiên của lễ hội kén vợ qua đi, hoàng tử vẫn chưa công khai tuyên bố sự lựa chọn của mình. Chàng vẫn niềm nở tiếp đón các cô gái và các vị khách quí.

Nàng Ếch, sau bữa tiệc lại bí mật trở về theo con đường rừng. Đến chỗ bụi rậm, nàng lấy bộ da ếch khoác lên người và lại biến thành con ếch. Nàng trở về nhà trước khi sáu cô chị về nhà.

Hôm sau, sáu cô chị lại lên đường, nàng Ếch lại đòi đi theo nhưng các cô chị vẫn từ chối. Chờ cho các chị đi khỏi, nàng Ếch lại đi theo. Nàng lột bộ da ếch dấu trong bụi rậm và biến thành nàng tiên xinh đẹp bước vào hoàng cung.

Lúc này, hoàng tử đã nhìn thấy nàng Ếch xinh đẹp và vẫn quyết định lấy nàng làm vợ. Tuy nhiên, ngày thứ hai của lễ hội kén vợ qua đi mà hoàng tử vẫn chưa công khai lấy ai làm vợ mình. Các cô gái lần lượt ra về và vẫn nuôi niềm hy vọng. Nàng Ếch vội vã theo con đường rừng trở lại chỗ bụi rậm, lấy bộ da ếch khoác lên người và kịp về nhà trước các cô chị của mình. Nàng yên tâm đi ngủ vì nghĩ rằng không ai biết những gì nàng đã làm. Xong có một người đã biết rõ tất cả. Người đó chính là hoàng tử. Chàng đã bí mật đi theo nàng kể từ khi nàng rời khỏi hoàng cung và đã chứng kiến tất cả.

Một thời gian ngắn sau, người ta thấy văn võ bá quan triều đình cùng binh lính rầm rập kéo đến nhà của cặp vợ chồng già nọ. Sáu cô chị vui mừng khấp khởi, ai cũng hy vọng hoàng tử sẽ chọn mình. Nhưng không ai để mắt đến họ. Các quan đến phòng nàng Ếch và mời nàng lên kiệu. Trước sự lựa chọn đấy, ai cũng buồn cười và nhạo báng hoàng tử. Còn nhà vua thì nổi giận đuổi chàng ra khỏi hoàng cung và truất quyền thừa kế ngôi vị của hoàng tử.

Hoàng tử vâng lệnh vua cha rời khỏi hoàng cung và đưa nàng Ếch ra vùng ngoại thành sinh sống, chàng yêu thương nàng Ếch hết mực.

Nàng Ếch kể từ khi lấy hoàng tử thì chưa một lần nào hiện trở lại thành người. Đêm đêm khi hoàng tử ngủ say, nàng lại lột bỏ lớp vỏ ếch trở lại thành người đẹp và đến bên chồng âu yếm.

Thế là hoàng tử và nàng Ếch mỗi người một thế giới nhưng sống với nhau rất hạnh phúc, yêu thương và gắn bó với nhau.

Nhưng cứ phải sống mãi với cảnh người và ếch như thế này, hoàng tử không thể nào chịu nổi. Rồi một hôm, chàng giả vờ ngủ thật say. Nàng Ếch không nghi ngờ gì, trút bỏ bộ da ếch trở thành người đẹp và đến bên chồng. Hoàng tử nhìn thấy tất cả cảnh đó, chợt chàng vùng dậy vồ lấy bộ da ếch và ném vào bếp lò. Vậy là nàng Ếch không làm sao trở lại lốt ếch được nữa. Từ đó hai vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc.

Chuyện lạ đến tai vua cha, người vui mừng khôn xiết cho gọi hai vợ chồng hoàng tử trở về cung và truyền ngôi báu cho chàng.

Ngày xưa, trong khu rừng cổ thụ bạt ngàn, có một con sư tử tự xưng mình là chúa tể sơn lâm. Nó cho mình là to nhất, khoẻ nhất và hàng ngày nó ra lệnh cho các loài thú phải lần lượt đến nộp mạng cho nó. Chẳng có loài vật nào trong rừng đấu lại được với sư tử nên mỗi lần đến lượt con thú nào phải đi nạp mạng cho sư tử thì cả rừng đều rủ nhau đến chia buồn và tìm lời an ủi.

Hôm ấy, Thỏ đến lượt phải đi nạp mạng. Các loài thú trong rừng rủ nhau kéo tới ngôi nhà của thỏ để chia buồn. Trong lúc các loài thú như cọp xám, voi, nai, hươu, cáo, cầy… khóc lóc, than vãn, tiếc thương cho Thỏ thì Thỏ lại ung dung nhai cỏ, lâu lâu nó lại ghé mắt nhìn các bạn mình và cười tủm tỉm một mình. Khỉ già thấy vậy lạ lắm, bèn hỏi Thỏ:

– Này Thỏ ơi, cái chết đang cận kề bạn rồi, sao bạn lại ung dung và thản nhiên vậy? Bạn không xót thương cho mình sao?

Thỏ ngừng nhai cỏ và trả lời:

– Này các bạn thân mến của tôi ơi, tôi rất cảm động trước sự thương tiếc mà các bạn dành cho tôi. Nhưng lần này tôi đi, tôi sẽ kết liễu tên chúa sơn lâm độc ác đó để cho tất cả loài vật trong rừng già này được yên ổn sống. Chỉ hơi tiếc là phiên của tôi đến muộn, nếu đến lượt tôi sớm hơn thì nhiều bạn khác đã không phải uổng mạng rồi. Các bạn đừng buồn khóc, tôi sẽ không sao đâu.

Nghe vậy, các loài thú trong rừng nhao nhao lên:

– Thỏ ơi, Lão sư tử đã làm hại chúng ta rất nhiều rồi, ai cũng căm thù nó và mong có người trừng trị nó. Nhưng chẳng hay chú có làm được điều đó không? Nếu làm được chúng tôi sẽ tôn chú lên làm chúa tể sơn lâm thay nó.

– Các bạn ơi, tôi nhất định sẽ làm được điều đó. Chỉ trong ngày hôm nay thôi, tôi sẽ đem tin mừng đến cho mọi người.

Nói rồi Thỏ chia tay các bạn rồi lên đường đến hang sư tử. Nó đã có kế hoạch sẵn trong đầu nên đi chậm rãi, lúc dừng lại bên gốc cây nhai cỏ, nghe chim hót, lúc dừng bên khe suối soi mình. Thấy bóng mình dưới nước, Thỏ chợt nảy ra ý định mới. Thỏ liền rảo chân đi một mạch đến hang sư tử.

Vì mải chơi dọc đường, Thỏ đến muộn. Vừa nhìn thấy Thỏ ló đầu vào sư tử đã gầm vang lên:

– Này, thằng nhãi! Tại sao mày đến muộn thế hả? Mà ai cắt cử mày đến đây, Mày nhỏ bé thế này ta ăn làm sao đủ. Hãy quay về bảo con khác to lớn hơn đến đây nộp mạng.

– Ông chúa tể sơn lâm ơi! Tôi đến đây không phải để nộp mạng cho ông đâu mà chưa chi ông đã chê bé, chê gầy. Tôi đến đây để dẫn ông đi đến một nơi có con thú to gấp đôi, gấp ba lần ông đấy. Nếu ông bằng lòng thì phải đi ngay nếu không con thú ấy đi mất.

Lâu nay, sư tử coi mình là to nhất rừng già, vậy mà giờ đây lại có con thú to gấp đôi, gấp ba lần nó thì vô cùng tức giận.

– Này, cái thằng lẻo mép kia, mày đừng có nói láo. Tao được trời phong làm chúa tể sơn lâm, to khoẻ nhất khu rừng già này thì làm gì có con vật nào to hơn được nữa. Nếu quả đúng có con vật to như lời mày nói thì hãy dẫn tao tới ngay chỗ đó để tao thử sức với nó xem sao.

Thỏ cười thầm trong bụng, lẩm bẩm:

– Cái con sư tử già khọm tham lam mà ngu dốt kia, hôm nay là ngày tận thế của mày rồi đấy.

Thế rồi nhanh thoăn thoắt Thỏ dẫn đường cho sư tử đến bờ suối nước trong leo lẻo lúc nãy Thỏ đứng soi mình. Đến nơi Thỏ bảo:

– Kia kìa, con thú mà tôi nói lúc nãy đang bơi lội dưới vực sâu. Nó vừa to, vừa béo, nếu ông tóm cổ được nó thì ông sẽ được một bữa no nê đấy.

Sư tử vừa già vừa yếu, lại phải cố chạy cho kịp Thỏ nên đã mệt nhoài, mồm thở hồng hộc, mắt hoa. Nghe Thỏ nói vậy liền ra đứng cạnh Thỏ nhìn xuống suối. Quả thật, sư tử nhìn thấy bóng một con vật lồng lộn dưới suối sâu, nó vừa to, vừa béo. Sư tử gầm vang một tiếng định doạ con thú dưới suối sâu kia thì lại nghe con thú gầm trở lại to hơn. Tức mình, nó lao xuống nước định tóm cổ cho bằng được con thú dám to gan doạ lại nó.

Sư tử già yếu lại không biết bơi nên bị dòng suối chảy xiết cuốn đi. Nó cố ngoi lên, ngụp xuống vài lần rồi mất hút trong dòng nước.

Thấy sư tử trôi theo dòng nước, Thỏ rất mừng vui, nó nhanh chân chạy về báo tin cho bạn bè của mình biết. Được tin vui, muôn thú hân hoan nhảy múa chúc mừng chiến công của Thỏ. Thỏ thông minh nhanh trí được các loài thú suy tôn là chúa tể rừng xanh. Từ đó muôn loài được sống bình yên trong khu rừng già đó.

Truyện xưa kể rằng, ở xứ Thanh có một lão nhà giàu có nhưng rất keo kiệt, bủn xỉn. Lão nuôi trong nhà một anh cố nông nghèo hèn nhưng hiền lành, khoẻ mạnh. Cha mẹ anh mất sớm chẳng để lại cho anh cái gì ngoài một túp lều rách và một cái chõng tre.

Vào một ngày cuối năm, anh xin lão nhà giàu về nhà đẻ hương khói cho cha mẹ cho vong linh họ đỡ tủi. Lão nhà giàu đong cho anh năm bát gạo rồi để anh về. Về đến nhà ngoài năm bát gạo ra anh chẳng có gì để nấu. Anh phải sang nhà hàng xóm xin ít củi. Rồi anh thấy thắp hương cho cha mẹ mà chỉ có mỗi bát cơm cúng không thôi thì hẳn cha mẹ anh buồn tủi lắm. Anh liền cầm cái gầu sòng ra suối tát cá.

Lúc bấy giờ cũng đã gần nửa đêm ba mươi Tết, các quan trên trời được Ngọc Hoàng sai xuống trần gian xem xét mọi việc. Gặp anh cố nông đang tát cá, các quan hạ mây xuống đất, và hỏi:

– Này anh kia, năm hết tết đến rồi, sao giờ này anh vẫn ở đây tát cá. Về nhà mà ăn tết với gia đình đi thôi chứ.

Thấy có người, hỏi anh dừng tay:

– Thế các người là ai?

– Ta là các quan trên trời được Ngọc Hoàng sai xuống xem dưới hạ giới ăn tết ra sao.

Nghe nói đến các quan trên trời, anh vô cùng giận giữ. Sẵn có cái gàu sòng tát cá anh nện túi bụi vào các quan, vừa đánh vừa nói:

– Trời bảo “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Vậy mà nhà tôi khổ suốt bốn, năm đời rồi mà vẫn chưa hết khổ.

Các quan bị đánh đau quá vội quay về tâu với Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng vội vàng mở sổ Nam Tào ra tra xét thì thấy có điều bất công đấy thật. Anh chàng kia đã khổ quá ba đời, còn lão hà tiện thì sống sung sướng quá ba đời rồi. Thật là một sai sót cần phải sửa ngay.

Anh cố nông sau khi tát được ít cá thì trở về nhà. Lúc này sang năm mới. Vừa về đến nhà một lát thì có một cô gái đi qua nói là lỡ độ đường xin được ngủ nhờ một đêm. Lúc đầu anh không chịu, xong nhìn thấy cô mệt mỏi, lại đã sang năm mới rồi nên anh thương tình cho ngủ nhờ. Anh nhường chiếc chõng tre cho cô còn anh ôm bó rơm ra nằm xó lều.

Sáng hôm sau, tỉnh dậy, anh không thể tin vào mắt mình. Túp lều của anh đã biến thành một toà lâu đài nguy nga, rực rỡ, đầy người hầu kẻ hạ. Chợt cô gái đêm qua xin ngủ nhờ nói:

– Anh hãy sang mời phú ông đến ăn tết đi.

Nghe lời cô, anh sang nhà phú ông mời lão sang. Lúc đầu nghe anh nói xong, lão phì ra cười nhưng sau thấy anh nài nỉ quá lão đành trả lời cộc lốc:

– Mày có thể trải chiếu hoa suốt từ ngõ nhà mày đến đây không? Nếu được tao sẽ sang.

Anh thất vọng về nói với cô gái. Cô gái an ủi anh rồi đoạn cô ra nhà sau mang đến không biết bao nhiêu chiếu hoa rực rỡ. Anh cố nông chỉ việc đem trải từ ngõ đến nhà lão hà tiện.

Về phần lão hà tiện, sau khi làm anh cố nông bẽ mặt thì lấy làm hả hê lắm. Một lúc sau, thấy người nhà bảo anh cố nông đã trải chiếu hoa từ ngõ nhà anh đến nhà lão thì lão ngạc nhiên lắm. Lão hối hả đi ngay. Sang đến nơi, lão bị choáng ngợp trước tòa lâu đài nguy nga rực rỡ, to gấp mấy trăm lần dinh cơ của lão.

Bữa cơm ở nhà anh cố nông thật ngon. Về nhà rồi lão vẫn thòm thèm và dạ đầy luyến tiếc. Máu tham đùng đùng trỗi dậy. Lão bàn với vợ:

– Hay là ta đổi nhà mình cho nó đi.

– Ông có bị làm sao không đấy, nhà nó to đẹp như vậy đời nào nó chịu đổi lấy nhà mình – Vợ lão nói.

– Ta phải có cách chứ – Lão trầm tư suy nghĩ – à, phải rồi, con gái, ta có đứa con gái. Gả con gái cho nó, đã là con rể mình rồi, thì bảo gì mà nó chẳng nghe.

Mụ vợ cũng cho là phải. Hai vợ chồng lão hý hửng gọi anh cố nông đến bàn về việc gả con gái cho anh rồi sau đó đổi nhà. Anh đồng ý. Hai bên làm giấy tờ thoả thuận với nhau.

Sau đám cưới linh đình, đôi vợ chồng trẻ về ở nhà lão hà tiện, còn vợ chồng lão thì về toà lâu đài của anh cố nông. Vợ chồng lão hý hửng ra mặt. Đêm hôm đấy hai vợ chồng lão ngủ trong sự sung sướng tột đỉnh.

Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, ôi thôi, toà lâu đài nguy nga tráng lệ cùng với những gia nhân đông vui tấp nập biến đâu mất. Chỉ còn lại mỗi túp lều tranh rách nát cùng với cái gàu sòng và rổ xúc tép của anh cố nông. Còn hai vợ chồng lão thì đang nằm ôm nhau ngủ trên chiếc chõng tre tồi tàn. Quá đau đớn xót xa, hai vợ chồng lão quay ra cãi nhau. Chồng bảo “chuộc” lại, vợ giận chồng khăng khăng cãi “chả chuộc”. Cứ thế cãi nhau một hồi lâu, “chuộc – chả chuộc” tức quá lão hà tiện túm lấy vợ đánh cho một trận, vợ lão cũng không vừa, túm chồng đánh lại miệng luôn luôn nói “chuộc – chả chuộc”. Quá mải mê đánh nhau, cả hai rơi tòm xuống giếng trước cửa nhà. Sau khi chết chúng hoá thành hai con chẫu chuộc cứ suốt ngày ôm nhau “chuộc – chả chuộc”. Đáng đời kẻ tham lam.

Ngày xửa ngày xưa, cách đây lâu lắm rồi, khi trời đất vừa hình thành, thay vì có một mặt trời toả ánh nắng ấm áp xuống trần gian như bây giờ thì có sáu mặt trời chiếu sáng trên bầu trời. Vào một ngày mùa xuân nọ, khi những người nông dân mất bao nhiêu thời gian vất vả cho việc gieo hạt giống cho vụ mùa thì trời không có lấy một giọt mưa. Sáu mặt trời cùng nhau chiếu những ánh sáng chói chang xuống mặt đất làm cho cây cối khô héo, đất đi nứt nẻ.

Lúc bấy giờ, hoàng đế Trung Hoa nhìn thấy cảnh tượng đó thì vô cùng đau lòng. Ông nói với các triều thần:

– Nếu mặt trời cứ tiếp tục chiếu sáng như thế này thì thần dân của ta sẽ chết hết thôi.

Nhà vua cho mời mười vị thông thái nhất đất nước đến hoàng cung cùng bàn bạc phương thức giải quyết cứu lấy vụ mùa của họ. Bàn bạc rất lâu mà không ai đưa ra được một phương án khả thi nào. Bỗng một vị trưởng lão nói:

– Cách duy nhất là bắn mặt trời.

Những nhà thông thái khác đều đồng ý. Nhà vua rất mừng vì sau cùng đã có cách cứu mùa màng. Người cho các cận thần đi khắp nơi để tìm kiếm những tay cung thiện xạ và triệu họ về cung. Những người bắn cung thiện xạ đều rất khoẻ mạnh, mỗi người đều mang theo cây cung thật lớn trên vai, hãnh diện đến phụng sự đức vua vĩ đại.

Thế nhưng dù những tay cung này có khỏe đến mấy, giỏi đến mấy thì những mũi tên bắn ra chỉ đi được nửa đoạn đường đén chỗ mặt trời chiếu sáng. Những mặt trời tiếp tục chiếu xuống mặt đất nóng bỏng.

Sau đó, có những người ở phương xa đến mách rằng:

– Hoàng tử Hậu Nghệ ở vương quốc láng giềng là một tay cung thiện xạ. Hãy mời anh ta đến.

Nhà vua sai các sứ giả sang nước láng giềng mời hoàng tử Hậu Nghệ đến hoàng cung. Hậu Nghệ vui vẻ nhận lời.

Dân chúng tụ họp thật đông dưới bầu trời để xem những mũi tên của Hậu Nghệ có bay đến mặt trời được không. Khi mọi người tụ họp lại vua ra lệnh:

– Hãy bắn rơi sáu mặt trời và cứu lấy thần dân của ta.

Hậu Nghệ nhìn sáu mặt trời rồi nâng cung lên, nhưng chàng buồn bã lắc đầu, hạ cung xuống, tâu với nhà vua:

– Sáu mặt trời ở xa quá, những mũi tên yếu ớt của thần không thể bay đến được.

Thế rồi Hậu Nghệ nhìn thấy sáu mặt trời chói chang phản chiến trong hồ nước và chàng nghĩ: “Bắn chúng ở đó thì cũng vậy thôi”.

Chàng giương cung lên và mũi tên của chàng xuyên thủng mặt trời thứ nhất, nó biến mất trong đáy hồ. Chàng bắn tiếp mặt trời thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư, thứ năm.

Mặt trời thứ sáu nhìn thấy những gì đang xảy ra, nó hoảng sợ đến nỗi biến mất sau quả đồi. Mười vị trưởng lão rất hài lòng vì cả sáu mặt trời đều đã bị tống khứ đi.

Ngày hôm sau, khi mọi người thức dậy sau giấc ngủ dài thì không thấy ngày mới nữa, vị mặt trời thứ sáu không chịu ra khỏi chỗ nấp để chiếu sáng trở lại. Tất cả đều chìm trong bóng tối. Mười vị trưởng lão lại họp với nhau trong bóng tối, bàn bạc xem có thể làm gì. Họ quyết định tìm một người nào đó gọi mặt trời thứ sáu ra để có ngày mới.

Đầu tiên họ mang đến một con cọp, nó gầm rống để cho mặt trời thứ sáu ra ngoài nhưng mặt trời thứ sáu chỉ thêm sợ hãi vì tiếng gầm của nó và nói:

– Ta sẽ không ra đâu.

Sau đó họ mang đến một con bò, nghĩ rằng với tiếng rống êm ái của bò chắc sẽ dụ được mặt trời thứ sáu ra. Nhưng mặt trời vẫn còn giận lắm, nó hờn dỗi nói:

– Ta sẽ không ra đâu, thế đó!

Cuối cùng họ mang đến một con gà trống to khỏe đến gáy thì mặt trời thứ sáu lắng nghe và nói:

– Âm thanh này mới hay làm sao.

Nó lén nhìn qua chân trời để xem cái gì tạo ra âm thanh đó. Khi nó nhìn xuống thì mọi người hô vang những tiếng reo mừng, chào đón. Mặt trời thứ sáu thấy vui quá, nó bước hẳn ra ngoài và rồi tạo một cái mào màu đỏ, nhỏ nhỏ trên đầu chú gà trống to khỏe.

Từ đó trở đi vào mỗi buổi sáng, chú gà trống đều mang cái mào đỏ của mình khi gáy gọi mặt trời thức dậy.

Ngày xưa, có hai chị em hổ đói bụng dẫn nhau đi kiếm ăn. Lúc này đang là mùa đông gió rét, sương gió lạnh cắt da, cắt thịt. Rét đến mức chẳng có con thú nào chịu ra khỏi tổ nên hai chị em hổ không thể kiếm được thức ăn. Phải chịu đói nhiều ngày hai chị em hổ mệt lử, chân tay run lẩy bẩy.

Một đêm mưa gió, rét mướt, hai chị em hổ cùng vượt rừng đi kiếm cái ăn. Từ xa hai chị em trông thấy một ngôi nhà sàn gần đấy đang bập bùng ánh lửa. Một bà cụ già đang đun nấu gì đó, lửa than cháy hồng rực. Hai chị em cảm thấy ấm áp hẳn lên. Nằm sát bên nhau Hổ em thủ thỉ:

– Chị ơi, ước gì hai chị em mình có được ít lửa đỏ để sưởi ấm như cậu bé kia thì thích nhỉ.

Hổ chị chăm chú nhìn bà cụ bóc bánh nóng cho cháu ăn. Nghe hổ em nói hợp với ý mình liền bàn với em:

– Em nói phải đấy, người ra đang đun nấu gì đó, có nhiều lửa lắm, em vào xin đi.

Nhìn thấy cái thang bắc lên nhà quá cao, hổ em e ngại nói:

– Chị ơi, chị khỏe mạnh cứng cáp, hay chị đi xin lửa đi. Em yếu thế này chắc không trèo lên được cái thang kia đâu. Chị vào xin lửa, nếu xin được chút bánh ăn thì tuyệt quá.

Hai chị em cứ bàn đi, bàn lại, đùn đẩy nhau. Mãi tới canh khuya, khi lũ chó canh nhà đã ngủ, cả nhà im lặng chỉ còn ánh lửa bập bùng, Hổ em quyết định xuống xin lửa. Trời khuya, sương lạnh, Hổ em dò dẫm từ trên núi đá xuống, mò được lên đến nhà thì đã ướt sũng, lông bết vào nhau, thân hình nhỏ xín, tiều tuỵ. Bà cụ chợt tỉnh giấc, nhìn thấy con thú con tội nghiệp lạc vào nhà lấy làm lạ. Bà bế nó đến bên bếp lửa sưởi ấm, lấy ít bánh cho nó ăn. Nghỉ ngơi hong khô mình, Hổ con ra dáng là một chú Hổ xinh đẹp. Chú xin bà cụ một ít lửa mang về cho chị.

Lúc đó, chợt thấy tiếng chó sủa vang, các con chó thi nhau sủa, Hổ chị sợ quá vội vàng ba chân bốn cẳng phóng một mạch vào rừng. Một lúc sau, tiếng chó sủa đã im, Hổ em xin được lửa quay trở lại thì không thấy chị mình đâu nữa. Chờ mãi chẳng thấy chị mình trở lại, nó đành đem lửa trả bà cụ. Hổ em xin ở lại nhà bà cụ sưởi ấm chờ hôm sau đem lửa về cho chị.

Từ ngày sống ở nhà bà cụ, Hổ em luôn tỏ ra ngoan ngoãn hiền lành, suốt ngày nó nằm bên bếp lửa để tránh bị những con chó bắt nạt. Trông thấy con vật nhỏ bé lông vàng, xinh đẹp, ngoan ngoãn, những đứa cháu bà cụ yêu thích lắm. Chúng luôn cho chú Hổ con ăn lúc thì mẩu thịt, lúc thì khúc cá, Hổ con lúc nào cũng được no nê, khò khè nằm cạnh bếp. Có đôi lúc nó nhớ chị, nhớ rừng nó cất tiếng kêu “meo meo” nho nhỏ khiến cho lũ cháu bà cụ càng yêu nó hơn. Vì thế chẳng bao giờ Hổ em được tự do để trở về rừng tìm chị. Nhiều đêm Hổ chị qua làng tìm em nhưng những con chó quanh nhà cắn dữ quá, nó sợ không dám vào.

Một hôm, thấy nhà bà cụ yên ắng quá, Hổ chị mạnh dạn mò vào thì thấy Hổ em đang ngủ ngon lành bên bếp lửa hồng. Hổ chị khe khàng cất tiếng gọi em:” Miao, miao”. Hổ em tỉnh giấc, chưa kịp đáp lại thì lũ chó đã ngửi thấy mùi của Hổ chị sủa ầm lên và định vồ hổ chị. Sợ quá Hổ chị co chân chạy thẳng một mạch về rừng.

Từ đó hai chị em Hổ không còn có dịp nào gặp nhau nữa. Hổ chị sống hẳn ở trong rừng không còn về làng nữa vì nó yên tâm em mình đã có được một nơi ấm áp tử tế. Còn nó sống trong rừng ngày đêm đi săn mồi, ngủ hang, sống thui thủi một mình. Hổ em dù được no bụng nhưng suốt ngày ăn cơm gạo, không có thịt sống nên không thể lớn được. Nó trở thành mèo nhà chỉ còn bắt chuột và suốt ngày nằm khò khè bên bếp lửa. Người ta bảo, ngày nay, Hổ không bao giờ vồ Mèo vì Mèo là em út của Hổ.

Ngày xưa, ở một làng nọ, có một nhà mẹ goá con côi. Bà mẹ quần quật suốt ngày, làm lụng vất vả tần tảo sớm hôm để nuôi con. Bà chỉ có mỗi một cô con gái nên cưng chiều lắm. Có của ngon, vật lạ, đồ đẹp bà đều dành cho con. Người con càng lớn càng xinh đẹp nhưng tính tình càng ngày càng ích kỉ xấu xa. Cô ta chỉ quen với việc được mẹ quan tâm, chăm sóc và cho đó là điều tất nhiên cô phải được hưởng. Còn việc giúp đỡ mẹ, động viên an ủi mẹ thì cô chẳng nghĩ đến bao giờ. Cô ta trở nên hư hỏng lúc nào không biết, luôn luôn chỉ nghĩ đến bản thân mình.

Đến tuổi lấy chồng, nhờ khá xinh đẹp nên cô ta có khá nhiều người để ý. Bà mẹ thương con gả cô cho một anh khỏe mạnh, đứng đắn, hay làm, biết yêu thương vợ con. Rồi bà có cháu, cuộc sống vui vẻ hẳn lên. Bà càng thương con quí cháu hơn.

Ngày tháng trôi qua, bà mẹ ngày một già đi, sống thui thủi một mình. Anh con rể thương mẹ bèn bàn với vợ đón mẹ về ở chung để mẹ được sống cùng con cháu. Chị vợ không chịu. Chị ta sợ tốn thêm cơm, thêm gạo để nuôi mẹ. Anh con rể ngạc nhiên lắm nhưng chiều vợ nên thôi.

Chị vợ nhận ruộng của mẹ về để cày cấy, cứ hết mùa lại đem cho mẹ mấy thúng thóc, còn đâu giữ cả cho mình. Bà mẹ ở một mình, ăn chẳng mấy nên cũng không thắc mắc gì vì bà nghĩ của bà nhưng cũng để cho con cháu chứ giữ làm gì. Tuy nhiên bà mỗi ngày một còm cõi thêm.

Thế rồi, năm ấy mất mùa, thu hoạch được ít thóc quá mà lại toàn thóc lép. Phải đong cho mẹ lúa, chị vợ xót lắm. Nghĩ mẹ mắt kém, chị xúc thóc lép đổ xuống dưới còn đổ một ít thóc chắc lên trên. Chị ta cho rằng mẹ già yếu, ăn là mấy mà mang sang nhiều, như vậy chắc bà đủ sống rồi.

Bà mẹ thấy con gái đội thúng thóc sang thì mừng lắm, muốn con ở lại một lúc để trò chuyện nhưng cô con gái vừa đặt thúng thóc xuống đã tất tưởi đi ngay. Bà mẹ buồn lắm. Khi xục tay xuống thúng thóc thấy toàn thóc lép bà tủi thân và khóc, thương cho cái phận goá bụa của mình, trách đứa con sống không có tình có nghĩa.

Chàng rể sang thăm mẹ, biết rõ sự tình thì giận vợ lắm. Anh giảng giải hết lẽ với vợ nhưng không những không nghe, chị ta còn cãi cố:

– Tôi giữ lại có phải để ăn một mình đâu. Chẳng nhẽ bố con anh không ăn chắc?

– Thế còn mẹ, sao cô nỡ đối xử với mẹ đẻ mình như vậy?

– Mẹ ăn thế là đủ rồi – Chị ta sẵng giọng.

Anh chồng giận quá, đánh cho vợ một trận, vừa đánh anh ta vừa mắng:”Xúc thóc lép cho bà, này! Xúc thóc lép cho bà, này”

Chị vợ đau quá, bỏ chạy ra ngoài. Vừa ra đến giữa sân, trời bỗng nổi sấm sét đùng đùng đánh thẳng vào đầu chị vợ – đứa con bất hiếu. Sau khi chết chị ta biến thành loài chim, con chim tự kêu lên tội lỗi truyền kiếp của mình “Xúc thóc lép cho bà”. Người ta gọi loài chim đó là chim đa đa.

Ngày xưa, có một năm trời làm hạn hán nặng, đất đai khô nứt nẻ, suối khô kiệt nước, cây cối héo rũ ra vì thiếu nước. Con người và muông thú có nguy cơ chết đói, đâu đâu cũng nhìn thấy cảnh muôn loài nháo nhác đi kiếm cái ăn. Đàn khỉ trong rừng già phải chia nhau đi thật xa mới tìm được mấy hạt ngô. Chúng chí choé, giằng co mấy hạt ngô. Thấy vậy, người liền bảo:

– Có mấy hạt ngô, các ngươi ăn bây giờ chẳng đủ no, mùa sau lại vẫn đói. Chi bằng hãy cho chúng tôi vay để giống mùa sau, cứ một hạt chúng tôi sẽ trả một bắp.

Đàn khỉ nghe thấy rất có lý, bèn đưa số hạt ngô ít ỏi cho người rồi chúng bảo nhau đi tìm cái ăn khác.

Có được hạt giống trong tay, con người bắt đầu công việc gieo trồng. Họ đốt nương làm rẫy, chọc lỗ bỏ hạt, rồi vun gốc. Con người vất vả cõng nước từ dưới vực sâu lên tưới cho cây, bao công chăm bón gìn giữ để khỏi bị các loài khác phá. Đến mùa thu hoạch, chẳng phụ công người, mỗi cây ngô đều cho hai, ba bắp to tướng, hạt chắc mẩy, đều đặn. Bẻ ngô về nhà, người gọi khỉ đến để trả nợ. Khỉ chọn những bắp to nhất, mảy nhất và lấy đúng số bắp bằng số hạt ngày trước khỉ cho vay.

Số bắp lấy được, khỉ giằng co nhau ăn ngấu nghiến và hết ngay lập tức. Còn người, phần thì để ăn dè dặt, phần thì để làm giống cho vụ sau. Thế là từ một hạt, con người có một bắp, từ một bắp con người có cả một nương ngô. Mùa sau, mùa sau nữa, người lại thu hoạch ngô, lũ khỉ quen hơi lại đến đòi ngô nữa. Nhưng người không trả mà nói:

– Chúng tôi đã trả đủ cho khỉ từ mùa ngô trước còn gì. Một hạt đổi cả một bắp đấy thôi. Sao khỉ lại muốn đòi nhiều thế?

Nhưng khỉ không chịu, chúng đòi năm nào cũng được đếm cây lấy bắp như mùa trước. Con người thấy khỉ vô lý quá bèn đuổi khỉ đi.

Từ ngày người trồng được ngô trên nương rẫy, đàn khỉ bỗng trở nên lười biếng chẳng chịu đi kiếm ăn xa như ngày xưa. Chúng cứ rình rập ở bìa rừng chờ con người sơ hở thì rủ nhau voà bẻ trộm ngô ăn, bất kể non hay già. Con người rất bực mình vì phải bao công lao động vất vả nặng nhọc, phải mất bao nhiêu thời gian ngô mới cho con người bắp vậy mà khỉ không những bẻ trộm bắp mà còn phá hoại cây ngô làm cho con người không có gì để ăn. Thế là họ quyết tâm bảo vệ nương ngô của mình. Con người đặt cạm bẫy, tên, nỏ, hố chông quanh nương ngô. Khỉ ngu ngốc không biết cách tránh nên mắc bẫy chết rất nhiều, gần như tuyệt giống nòi.

Ngày xưa, trong làng nọ, có một bà cụ già nuôi một đàn chó con, con nào con nấy bụ bẫm, xinh xắn và rất đáng yêu. Bà cụ rất yêu bầy chó của mình. Nhìn chúng đùa nghịch trong sân trông thật vui mắt. Trong đàn, có con cún vàng là nghịch ngợm hơn cả. Nó trêu bất cứ con vật nào mà nó gặp trong sân, trong vườn. Một hôm, chú cún vàng đang chọc ghẹo một con cóc thì cóc lủi vào bụi cỏ biến mất. Nháo nhác nhìn quanh, cún nhìn thấy có hai con khỉ đang mon men lại gần. Trong đầu thoáng nghĩ ra một trò nghịch mới, cún con giả vờ nhìn mãi lên cái tổ ong vò vẽ đang treo lơ lửng trên ngọn cây cao.

Tò mò, hai con khỉ cũng nhìn lên và hỏi cún:

– Anh cún ơi, trên cây có gì mà anh nhìn chăm chú thế?

Cún con chỉ tổ ong và nói:

– Các anh nhìn kìa, đấy là cái trống của ông nội tôi đấy. Cái trống đấy mà đánh thì nó kêu to lắm.

Nghe cún vàng nói, hai con khỉ tỏ ý tò mò muốn đánh thử xem nó kêu to cỡ nào. Cún vàng giả vờ giật mình và chối đây đẩy:

– Chết, không được đâu. Bây giờ các anh mà gõ trống, ông nội tôi biết tôi sẽ bị nhừ đòn đấy.

Cún con càng từ chối, khỉ càng tò mò. Thấy khỉ bị mắc lừa, cún giả vờ dần dần xiêu lòng đồng ý.

Khi không nhìn thấy cún vàng đâu nữa, hai con khỉ trèo lên cây cao, cầm gậy nhằm thẳng tổ ong mà đánh. Tổ ong rơi bịch xuống đất. Lũ ong vò vẽ bay vụt ra tìm kẻ phá hoại. Chúng nhằm hai chú khỉ còn đang ngơ ngác trên cây đốt túi bụi. Đau quá, hai chú khỉ vội vã tụt xuống đất, cắm đầu cắm cổ chạy. Bầy ong bay vù vù đuổi theo thi nhau đốt vào mặt, vào lưng, vào chân tay con khỉ. Cùng đường, nó nhảy tùm xuống suối, lặn một hồi lâu. Chờ bầy ong bay đi xa chúng mới dám ngoi lên.

Bị cún vàng lừa một vố hú hồn, khỉ bực tức rủ nhau quay trở lại tìm cún trả thù. Tìm mãi, chúng mới thấy cún con đang loay hoay bên cạnh một bụi cây đầy quả chín đỏ rực. Tính tò mò nổi lên, quên hết cơn giận, chúng muốn biết Cún đang làm gì.

– Các anh không thấy sao, tôi đang canh vườn cho ông kẻo có con thú nào đi qua nó lại vặt hết những quả ngọt chín đỏ này.

Nghe đến quả ngọt chín đỏ, hai con khỉ thèm rỏ rãi. Bụng đói cồn cào, chúng gạ gẫm

– Anh cún ơi, hay là anh cho chúng tôi nếm mỗi người một quả đi. Ông anh sẽ không biết được đâu.

– Đồng ý – Hai con khỉ đồng thanh trả lời.

– Đồng ý – Hai con khỉ mừng rơn.

Đợi cún vàng đi khuất, hai con khỉ tranh nhau hái một nắm quả chín đỏ rồi cho tất cả vào miệng nhai ngấu nghiến. Chúng hoảng hốt nhè ra, khạc nhổ nhưng đã muộn. Những quả chín đỏ đó là những quả ớt chín, chúng làm cho mồm miệng khỉ bỏng rát, nước mắt nước mũi giàn dụa, bụng dạ nóng như có ai cào. Mặt khỉ nhăn lại vì cay, và chúng vẫn cứ nhăn mặt đến tận bây giờ. Vì thế các cụ thường có câu rằng “Nhăn như khỉ” là vì thế.

Ngày xửa ngày xưa, trên một đỉnh núi cao có hai nhà sư là Năng Nhẫn và Bất Nhẫn cùng tu hành từ nhỏ. Sau một thời gian rất dài tu hành khổ hạnh, một hôm Năng Nhẫn tu thành chính quả thành Phật bay về trời.

Bất Nhẫn ở lại, thấy mình tu hành khổ hạnh không kém gì bạn nhưng chưa thành chính quả thì lấy làm buồn. Bất Nhẫn bèn đến gặp Phật Tổ bày tỏ nỗi lòng của mình. Nghe xong, Phật bảo:

– Nhà ngươi chuyên tâm cầu đạo, tâm hồn trong sạch, rất đáng khen. Nhưng tính tình nhà ngươi chưa thuần nên chưa thể đắc đạo được. Hãy cố gắng tu hành rồi theo bạn vẫn chưa muộn.

– Chúng bay là đồ khốn! Chỉ có mỗi việc vặt ấy mà các ngươi làm tao điếc óc suốt từ hôm qua đến giờ.

Thế là bao công tu luyện của Bất Nhẫn sắp đến ngày thành chính quả đã thành công cốc. Không nản chí, Bất Nhẫn hứa tìm cách tỏ rõ sự hối lỗi của mình.

Chàng đến một khúc sông vắng vẻ, nước chảy xiết tình nguyện làm người lái đò không công chở khách qua sông. Chàng quyết chở đủ một trăm người mới thôi. Lần này chàng tỏ ra rất chịu khó. Bến rất vắng khách nên hơn hai năm trời qua chàng trở được chín mươi tám người qua sông mà không vấn đề gì xảy ra.

Vào một hôm cuối hè, nước sông chảy xiết, mưa to, gió lớn, sấm chớp ầm ầm. Có một người phụ nữ dắt tay một em bé đòi qua sông. Chưa bước xuống thuyền bà ta đã hống hách doạ:

– Nhà ngươi phải chèo cho cẩn thận, che mui cho kín. Nếu ta mà bị ướt thì nhà ngươi nhừ đòn.

Tuy rất giận nhưng Bất Nhẫn đã kìm lại được, ôn tồn cười và đáp:

– Xin bà cứ yên tâm.

Rồi Bất Nhẫn trổ hết tài khéo léo của mình đưa con thuyền sang bờ bên kia an toàn mà hai mẹ con bà kia không bị mảy may ướt. Lúc sang đến bờ bên kia, chợt người đàn bà kêu:

– Thôi chết, ta quên gói hành lý bên kia rồi. Ngươi quay lại lấy rồi mang sang bên này cho ta.

Dùng hết sức bình tĩnh để kìm cơn giận, Bất Nhẫn quay thuyền sang bờ bên kia, chật vật lắm mới đem được gói hành lý sang cho người đàn bà kia. Soạn lại hành lý, bà ta lại kêu lên:

– Ta lại quên đôi dép của đứa bé ở bên bờ bên kia rồi. Ngươi phải sang lấy cho ta lần nữa. Nhanh lên!

Đến nước này thì không thể chịu được nữa. Không đợi cho người đàn bà kia nói thêm, Bất Nhẫn quẳng mái chèo chỉ thẳng vào mặt:

– Cút đi, đồ súc sinh. Tao sinh ra đâu phải để hầu hạ mãi hai mẹ con mày.

Ngay lúc đấy người đàn bà đứng trước mặt Bất Nhẫn hiện nguyên hình là Phật Bà Quan Âm xuống thử tâm tính người đệ tử khổ tu đó. Ngài cất tiếng:

– Nhà ngươi vẫn chưa thực tâm nhẫn nhục, như thế tu gì mà tu, tu hú thì có.

Ngày xửa, ngày xưa, có hai anh em mồ côi, tính tình trái ngược hoàn toàn. Người em chăm chỉ, hiền lành, thật thà còn người anh gian ngoan lại tham lam độc ác. Anh ta vơ vét hết tất cả những gì bố mẹ để lại, chẳng cho người em bất cứ thứ gì. Hàng ngày, người em cứ phải vào rừng dùng que để đào củ mài, củ nâu, xuống khe bắt tôm, bắt tép để ăn. Đêm , anh lại trở về nhà người anh ngủ cùng với trâu với lợn.

Một hôm, người anh rủ người em ra sông tát cá. Người anh bắt người em be bờ, đắp đập, tát nước, còn mình thì bắt hết cá, chẳng để xót lại một con nào. Người em vừa mệt, vừa buồn. Bỗng có một con cá bống nhỏ, bơi dưới chân nười em và cất tiếng nói:

– Anh hãy bắt tôi đem về nuôi đi.

Người em mừng rỡ vớt con cá bống lên, đem về nhà bỏ vào bát nuôi, nâng niu như trẻ nhỏ. Cá bống lớn rất nhanh. Qua ngày đầu tiên nó đã to chật cả cái bát, người em phải thả nó và chậu. Ngày hôm sau nó đã lớn chật chậu. Người em phải đắp cái vũng to bằng nửa cái sân nhà cho cá vùng vẫy. Hai ngày sau cá lớn chật vũng. Người em đắp luôn một đoạn khe ở chỗ khuất và thả cá xuống. Chỉ vài ngày sau, cá lớn chật khe, to như một con trâu đực. Lúc này nó nói:

– Tôi đã lớn rồi, tôi với anh hãy kết tình anh em đi. Chúng ta đi xuôi dòng kênh này một chuyến cho vui.

Người em bằng lòng, thịt gà, thổi cơm trắng mang đi. Cứ đến bữa ăn, người em xé thịt và cơm trắng cho cá ăn, còn mình thì chỉ ăn xương gà với cơm cháy.

Trời nổi mây to gió lớn, người em vô cùng lo sợ. Cá nói:

– Không sao đâu, trời sẽ không mưa. Anh hãy leo lên cây cao. Nếu thấy mây kéo ùn phía dưới, anh quay mặt về phía đó giả buồn rầu. Nếu mây ùn về phía trên nước, anh cười thật to là được.

Người em nghe theo, trèo mãi lên ngọn cây cao. Khi mây ùn ùn phía dưới ngọn nước người em mặt ủ rũ buồn rầu. Lúc sau, thấy mây ùn ùn phía trên, anh cười vang. Tiếng cười dội vào vách núi vang như sấm. Bỗng anh nghe thấy tiếng gầm rú dưới khe. Quay lại anh nhìn thấy cá bống đã giết chết con thuồng luồng khổng lồ. Cá gọi:

– Người anh em ơi, hãy xuống mổ bụng con thuồng luồng mà lấy của cải đem về.

Người em làm theo và lấy được rất nhiều vàng bạc của cải. Cá bống và người em trở về. Về đến nhà người em kể lại câu chuyện cho anh nghe và chia đôi số của cải lấy được cho anh.

Lòng tham nổi lên, người anh không chịu nhận số của cải mà người em cho, hắn đòi đi một chuyến cùng với cá. Người em miễn cưỡng cho anh mượn cá và dặn không được để cho cá chết.

Thế là người anh tham lam ra đi. Anh ta cũng được cá bống cho đi dọc khe chơi. Nhưng anh ta tham lam quá, anh ta ăn hết thịt gà và cho cá ăn xương, ăn lòng.

Đến một khúc khe, trời cũng nổi cơn giông. Anh tham lam mừng quá, hỏi cá nên làm gì. Cá dặn anh ta như dặn người em. Nhưng vì mừng quá nghe vội nghe vàng nên anh ta không nhớ rõ lời cá dặn. Đáng lẽ hắn phải buồn ủ rũ thì hắn lại cười to, khi cần cười to thì hắn lại buồn ủ rũ. Con thuồng luồng vùng lên mà cá chưa kịp chuẩn bị. Thế là nó cắn chết cá bống. Người anh vô cùng tức giận đập vào đầu cá, trở về nhà.

Về đến nhà, người em mừng rỡ chạy ra hỏi anh có lấy được nhiều của cải không, người anh cau mặt quát:

– Mày nói láo. Cá của mày chết ngoài khe kia kìa.

Người em nghe tin cá chết vội chạy một mạch ra ngoài khe. Đến nơi thấy xác cá cứng đờ, người em than khóc mãi. Hồn cá bống hiện về nói thoảng qua tai anh:

– Người anh em đừng khóc nữa. Hãy chặt đầu tôi mang về chôn giữa sân, tôi sẽ có cách giúp được anh.

Người em liền chặt đầu cá đem về chôn ở sân như lời cá dặn. Mấy ngày sau ở chỗ đó mọc lên cây tre rất cao. Người em ra gốc tre nói:

– Tre định giúp ta cái gì thì nói đi.

– Khi nào nghe gió trên về, hãy nói: “áo sống ta đâu”, sẽ có áo đẹp. Khi nào thấy gió dưới thì kêu: “Bạc nén, nồi đồng của ta đâu”. Lúc đó sẽ có nhiều bạc nén, nồi đồng.

Người em làm theo lời cá dặn nên được rất nhiều vàng bạc, áo quần. Người anh nổi máu tham chạy ra gốc tre. Thấy gió trên thổi hắn nói:

– Áo sống của ta đâu?

Tức thì bao nhiêu rẻ rách trên trời rơi xuống. Thấy gió dưới nổi lên hắn thét:

– Bạc nén, nồi đồng của ta đâu?

Trên ngọn tre bao nhiêu sọ người, xương bò rơi xuống đầu anh tham lam, làm anh ta đau điếng. Tức giận, anh ta chặt luôn cây tre và về nhà mắng người em:

– Mày nói láo. Cây tre của mày là ma quỷ, tao chặt rồi.

Người em chạy ra chỗ cây tre than khóc. Gốc tre nói với anh:

– Anh hãy đốt tôi đi lấy tro vào rừng. Thấy vết chân con thú nào anh hãy rải tro lên và đi theo, con thú sẽ chết, anh tha hồ có thịt ăn.

Người em làm theo và mang về rất nhiều thịt thú rừng. Người anh tham lam nghe tin, giật số tro còn lại của người em đem ra rẫy. Hắn rải tro khắp nơi, thấy dấu chân chuột hắn cũng rải. Thấy dấu chân người hắn cũng rải vì nghi có kẻ trộm vào rẫy. Rải xong hắn hý hửng về nhà toan quét dọn nhà cửa để đi nhặt cọp, heo về.

Về đến nhà, hắn thấy vợ và đàn con lăn ra chết giữa nhà. Hoảng hốt, hắn chạy ra rẫy. Té ra, những dấu chân hắn nghi là trộm lại chính là dấu chân của vợ con hắn. Hắn như điên như dại lấy nốt số tro còn lại rải lung tung, rải lên cả dấu chân của mình. Thế là chưa kịp về đến nhà hắn đã lăn ra chết.

Người em nghe tin anh chết, vẫn lo lắng ma chay cho anh cho trọn tình trọn nghĩa. Từ đó người em sống yên ổn làm ăn cùng bà con xóm giềng.

Một ngày đẹp trời nọ, trong lúc đi tìm mồi, Cọp ta phát hiện ra một con Cáo mập mạp ngon lành. Nhìn thấy Cọp, Cáo hơi hoảng hốt một chút rồi bình tĩnh lại ngay. Nó cất giọng:

– Lại đây đi, chẳng phải ngươi đang định ăn thịt ta sao?

– Tại sao không, hãy cầu nguyện đi – Cọp vừa trả lời vừa tiến đến.

– Ồ, có lý do đó – Cáo trả lời một cách tự mãn.

– Lý do gì nhỉ, ta có nên biết không?

– À, rõ ràng là ngươi không biết Thiên Đình đã chỉ định ta là người cai quản vùng này. Chắc ngươi sẽ không dám ăn thịt một quan chức của Thiên Đình đâu, ta nghĩ thế.

– Dù gì đi nữa ta cũng cần phải có bằng chứng về vấn đề này!

Con Cáo ranh mãnh đồng ý:

Cả hai bắt đầu đi xuống lối mòn, con Cáo nhỏ đi trước, đôi mắt tinh ranh của nó loé sáng, còn Cọp thì bám sát ngay phía sau.

Khi chúng đi xuyên qua rừng, nhưng con thú không để ý gì đến Cáo vì chúng không nhìn ra, chúng chỉ nhìn thấy Cọp đi sau. Chúng bỏ chạy toán loạn vào trong rừng thật nhanh.

Con Cáo nhỏ tinh ranh quay về phía Cọp: “Bây giờ tì ngươi đã thấy chuyện gì xảy ra rồi chứ. Thấy ta đi tuần qua đây, muôn thú sợ hãi quá đã bỏ chạy hết rồi.

– Ừ, Cọp trả lời – Dường như muôn thú đều sợ người, đúng như ngươi nói. Ngươi đúng là quan chức của Triều Đình, và ta sẽ không ăn thịt một người quan trọng như thế.

Thế rồi Cọp quay lưng, tự lui vào rừng. Bỗng quay trở lại, cúi đầu một cách cung kính và nói: “Tạm biệt”.

Ngày xửa ngày xưa, có một chú dế nhỏ được gọi là Dế Chiến. Chú sống cùng với các anh trai sau những tảng đá trên cánh đồng. Cái tên Dế Chiến của chú không phải do cha mẹ đặt ra, mà nó có sau khi chú trở thành một chú dế đá nổi tiếng, khi chú đánh bại gã Đầu Hói Vàng.

Từ hồi chú dế còn bé, chú đã được ông nội của mình kể về thời ngày xưa, cái ngày ông mới bắt đầu ra trận và cho đến khi ông chiến thắng, trở thành con dế đại tài, được mọi người tung hô. Trong đầu chú dế con ấp ủ: “Một ngày nào đó, mình mong được tài giỏi như ông mình”. Chú lập kế hoạch để thực hiện giấc mơ của mình.

Chú biết rằng, dế nào gáy to nhất sẽ được chọn khi con người săn tìm những chú dế vô địch. Vì thế hàng ngày chú cố luyện gáy thật to, chú luyện chăm chỉ đến mức chú nghĩ rằng đến một ngày nào đó tiếng gáy của chú sẽ lấn át được tiếng ộp oạp của bác ếch già khó tính.

Dế chiến cũng cười nhạo những anh em, họ hàng ngu ngốc của chú – những chú dế gáy – vì chú nghe rằng những học giả Trung Quốc già thường nuôi họ hàng anh em của chú như những con thú cưng, họ mang chúng đi đây đó, trong những nếp áo choàng có lót của họ hoặc giữ trên bàn viết. Cuộc sống đó mới vô vị làm sao!

Nhưng bây giờ không phải là thời gian chế nhạo họ vì đã là tuần trăng thứ chín – thời điểm các trận đá dế bắt đầu. Một ngày kia, sau khi chén một bữa sáng ngon lành là một con ấu trùng to béo, Dế Chiến nghe thấy những bước chân thình thịch của một người khổng lồ. “Đã đến lúc rồi đây” Chú nghĩ thế vì chú biết họ đến đây để tìm những chiến binh dũng cảm. Thế là chú cất tiếng gáy, tiếng gáy to nhất từ trước tới giờ. Rất nhanh, một cái lưới chụp lên đầu chú và chú bị ném vào một cái giỏ. Mới đầu Dế Chiến thấy rất bực mình vì lối xử xự thô bạo đó của con người. Nhưng nghe con người nói chuyện sẽ có hàng trăm người đến xem trận đấu dế và họ sẽ trả rất nhiều tiền thì chú quên hết mọi bực tức. Chú cần phải luyện tập kỹ càng để chuẩn bị cho trận đấu quan trọng đó.

Con người đặt Dế Chiến vào trong một chậu nhỏ bằng đất nung có trải một lớp đất mềm, sau đó họ cho Dế Chiến ăn những thứ ngon nhất như cá, những con ấu trùng to mập, những hạt dẻ luộc và cơm với mật ong để làm cho chú khỏe mạnh hơn.

Ngày giao đấu đã đến, Dế Chiến thấy dường như mọi người trên thế giới đều tụ về quanh cái chậu mà họ gọi là “hố dế”. Hôm đó, Dế Chiến đã có một trận đấu tuyệt vời. Dế Chiến và đối thủ là Hói Đầu Vàng nhìn nhau đầy giận dữ cho đến khi con người cù vào lưng hai đối thủ bằng một cái lông heo. Tức thì, hai con dế trở nên phấn kích xông vào nhau rồi Dế Chiến lùi lại. Mọi người hò hét cổ vũ xung quanh:

– Cố lên nào, Dế Chiến! Cố lên!

Dế Chiến quá phấn khích, hăng tiết đến mức không thể ở yên được. Thật là một cuộc gay go, Hói Đầu Vàng cũng là một tay không vừa, nó cũng quyết liệt xông vào trả đòn. Nhưng cuối cùng, Hói Đầu Vàng đã phải nằm lại dưới đáy chậu cũ kỹ, mất một, hai chân. Dế Chiến đã thắng một cách xứng đáng. Dế Chiến vô cùng hạnh phúc, chú cảm thấy mình như một chiến binh vĩ đại – giống ông chú ngày xưa.

Kể từ đó, Dế Chiến không còn được gặp lại anh em họ hàng nữa, chú được giữ lại để đấu tiếp các trận khác. chú say mê đi hết trận thắng này đến trận thắng khác. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chú nghe những tiếng dế gáy văng vẳng từ cánh đồng lại, chú tự hỏi: “xét cho cùng là một chiến binh dũng cảm có tốt hơn là chú dế gáy mua vui cho các học giả Trung Quốc già, hoặc đã được bọc một cách ấm áp trong những cái nếp gấp của chiếc áo choàng lót bông của họ”. Chú cũng không biết nữa.

Vào một ngày mùa xuân ấm áp, trên cuộc hành trình của mình lợn lòi nhìn thấy có một con gấu nâu đang mệt mỏi nằm nghỉ trên một tảng đá rêu phủ lên êm ái.

– Chào bác gấu! Bác từ đâu đến – lợn hỏi.

– Chào anh lợn lòi. Ta là gấu của miền Bắc xa xôi . Suốt đời, ta đã sống trên núi Bạc Đầu. Gần đây ta quyết định làm một chuyến đi xa, ta muốn khám phá những điều kỳ diệu trên xứ sở của chúng ta. Thế còn chú mày – gấu hất hàm hỏi: đi đâu thế?

– Thế thì tuyệt, ý kiến của bác rất hay. Chúng ta sẽ cùng nhau đi khám phá thế giới – lợn ủn ỉn reo lên.

Thế rồi gấu và lợn lòi cùng đi. Chúng vượt qua bao núi non, thung lũng, tai nghe tiếng ve ca hát, mắt ngắm những đỉnh núi răng cưa lởm chởm và những thác nước từ trên đổ xuống, ngắm những bông hoa dại, những lạch nước trong veo.

Một hôm, chúng thấy dưới thung lũng có một xóm người. Lợn rừng rụt rè đề nghị:

– Bác có muốn xuống đấy thăm quan một vòng không? Tôi rất muốn xem con người sống ra sao đấy.

– Tôi cũng rất muốn nhưng không biết xuống đó có an toàn không? Tôi nghe nói con người thường rất tàn bạo với thú vật.

Nhưng cuối cùng chúng bàn với nhau, nếu thái độ của chúng ôn hoà thì chắc không ai làm gì nó. Thế rồi chúng thong thả đi vào làng. Thế nhưng những con chó ngửi thấy mùi của Gấu và Lợn thì xông ra sủa nhặng xị, chúng cứ đuổi theo Gấu và Lợn sủa nhặng lên làm Gấu và Lợn rất bối rối. Còn con người, nhìn thấy một con Gấu to và một con Lợn lòi có răng nanh sắc nhọn đang tiến gần làng thì họ rất sợ hãi. Họ cầm liềm, gậy gộc chuẩn bị tấn công con thú.

Gấu và Lợn lòi sợ quá, vội rút ngay lên núi. Chúng than vãn:

– Con người thật là kỳ lạ, họ không hiểu được điều: chúng ta không muốn làm điều gì có hại cho họ.

Chợt Lợn lòi nghĩ ra một cách, nó bàn với Gấu:

– Này bác Gấu, bác đã sống lâu năm trên núi Bạc Đầu, chắc bác biết được nguyên tắc biến hóa. Hãy hóa chúng ta trở thành người. Còn tôi, tôi sống lâu năm nơi núi phía Nam – nơi có một thầy già đã dạy tôi rất nhiều về tập quán con người. Tôi sẽ bảo bác. Chúng ta hoá thành người, xử xự như người thì sẽ không ai nhận ra đâu.

Gấu đồng ý và đọc thần chú. Ngay lập tức Gấu biến thành một người đàn ông đứng tuổi, ăn mặc xuềnh xoàng. Còn Lợn lòi biến thành một thanh niên đẹp trai, đội mũ vành rơm để cho mọi người biết anh ta đã đến tuổi lấy vợ. Chúng vượt qua vài chỏm núi xuống thung lũng.

Đến đầu làng, Gấu rất khát nước, bản chất thú vật nổi lên, nó vục đầu xuống giếng uống cho đỡ khát.

– Bác không được làm thế, loài người không uống nước như thế bao giờ – Lợn nhắc nhở – Hãy chờ có ai đến gánh nước thì nhờ người đó múc cho.

Ngay lúc đó có một cô gái xinh đẹp quẩy đôi thùng đến giếng gánh nước. Chúng xin cô gái một ít nước để uống. Cô gái vui vẻ đồng ý múc nước cho uống. Cô không mảy may nghi ngờ hai người đứng trước mặt cô lại là con thú. Vì thế chúng yên tâm bước vào làng. Buổi tối chúng xin vào ngủ nhờ một nhà nào đấy, sáng ra lại lên đường.

Một buổi tối khi ngồi nói chuyện với một bác chủ nhà, họ nghe thấy tiếng của cô gái hàng xóm khóc. Hỏi ra mới biết: Sau xóm có một con cua khổng lồ, nó quấy rối dân làng bao năm. Muốn được sống yên ổn hàng năm cứ phải hy sinh một cô gái trẻ cho nó. Năm nay đến lượt cô con gái út nhà hàng xóm.

– Một con cua à? Nếu đúng thế thì đừng sợ, chúng tôi sẽ đến làm việc với nó – Hai người khách lạ nói.

Suốt đêm hôm đó, dân làng tụ tập cùng hai chàng trai lạ mặt bàn cách triệt hạ con cua độc ác đó để cứu cô gái khốn khổ và họ đã tìm ra một cách.

Sáng hôm sau, họ mang đến một cái kiệu, ở trong có một người đầu phủ mảnh vải trắng ngồi bất động đặt trước cửa hang của con cua cùng với những đồ tế lễ rồi chia tay người ngồi trong kiệu. Một lát sau con cua bò ra. Nó rất to với hai cái càng hùng dũng, lông cứng, vỏ dầy. Nó bò tiến lại chỗ cái kiệu. Ngay lúc đấy, người ngồi trong cái kiệu chính là một trong hai chàng trai kia dũng cảm vung kiếm lên, chàng nhảy lên mai cua và chém liên tục vào hai cái càng của nó. Cua chống trả quyết liệt, nhưng nó không đánh lại được với chàng trai nên bị trọng thương phải bỏ trốn về hang. Nó trốn vào một khe kẹt nên chàng trai không thể vào được. Không giết được con cua nhưng ít ra cô con gái út kia đã được cứu thoát chết. Dân làng tổ chức một bữa tiệc linh đình để cám ơn và chia tay hai chàng trai.

Chúng chia tay dân làng và đi tiếp. Đến một dòng sông, không có chỗ nào nước cạn để qua, chúng bèn bàn nhau biến thành ruà để bơi qua. Bơi ngang sông hai con rùa giả gặp một con rùa thật. Chúng đon đả chào nhau và hỏi thăm nhau đi đâu:

– Tôi đến thăm ông bạn Cua già của tôi vừa bị loài người độc ác đánh trọng thương. Rùa thật trả lời

– Cho chúng tôi đi cùng với – Rùa giả đề nghị.

Rùa thật dẫn hai con rùa giả theo lối hang ngầm, nơi con cua đang nằm rên la đau đớn. Ngay khi nhìn thấy con Cua, hai con rùa giả trở về nguyên hình là Gấu và Lợn lòi rồi xông vào. Gấu dùng tay đập nát mai cua, lợn lòi dùng nanh kết thúc nhanh chóng cuộc đời của con Cua ác độc.

Gấu và Lợn lòi biến lại thành hình người quay về báo tin vui cho dân làng biết. Họ mang theo cái càng cua to đùng về làm chứng. Để cảm ơn cho tấm lòng dũng cảm của hai chàng trai, người nông dân nghèo quyết định gả con gái út của mình cho một trong hai người. Điều này thì không thể nào thành hiện thực được. Chúng liền từ chối:

– Xin bà con hãy nghe chúng tôi nói và hãy tin những gì chúng tôi sắp nói ra đây. Thực ra chúng tôi không phải là người mà tôi là một con Gấu đến từ đỉnh núi Bạc Đầu nơi phương Bắc, còn anh kia là một con Lợn lòi đến từ phương Nam. Chỉ vì muốn biết được cuộc sống của con người ra sao nên chúng tôi đã hoá thân thành người. Chúng tôi không thể sống mãi với hình người nên không thể lấy cô út làm vợ được.

– Đây quả là một điều ngạc nhiên tuyệt diệu – Những người nông dân thốt lên.

– Nếu muốn trả ơn chúng tôi thì hãy làm thịt một con bê rồi chuẩn bị một bữa tiệc để thiết đãi cho một con gấu và một con lợn lòi. Khi đấy chúng tôi sẽ cho bà con biết chúng tôi là ai.

Những người nông dân vui vẻ thực hiện. Hai người khách từ biệt rồi lầm rầm đọc câu thần chú. Trước sự chứng kiến của bao nhiêu người, họ biến thành một con gấu màu nâu và một con lợn lòi có cặp nanh nhọn hoắt. Hai con vật ăn ngon lành bữa tiệc được bày ra rồi cúi đầu chào nhưng người nông dân để trở về với núi rừng.

Từ đó về sau người ta con kể mãi về con gấu và lợn lòi tốt bụng đã giúp con người giết chết con cua độc ác, đem lại cuộc sống bình an cho con người.

Ngày xưa, ở một làng ven biển nọ, có một đôi vợ chồng đánh cá nghèo nhưng hết mực yêu thương nhau. Một hôm theo như lệ thường người chồng cùng trai tráng trong làng ra khơi đánh bắt. Chị vợ cùng những người phụ nữ trong làng ra bãi biển chờ chồng đem cá về. Không may cho những người đánh cá, họ vừa thả lưới xuống biển thì một trận bão lớn nổi lên. Không một ai sống sót trở về nữa.

Những người phụ nữ, người già và trẻ con hay tin dữ chạy hết ra ngoài bãi biển, họ hy vọng chồng, con họ sẽ may mắn sống sót trở về. Càng chờ càng không thấy, cả làng than khóc suốt mấy ngày đêm.

Người vợ hay tin chồng chết rất mực đau khổ, nhưng chị vẫn có một niềm tin mạnh mẽ là chồng mình còn sống. Thế là chị bỏ làng đi tìm chồng. Chị đi theo dọc bờ biển, đi mãi, đi mãi mà chẳng biết là sẽ đi đến đâu. Tưởng như vô vọng, chị kiệt sức, trước mặt chị là một ngọn núi. Dồn hết sức lực, chị trèo lên đỉnh núi, phóng tầm mắt ra xa hy vọng sẽ tìm thấy dấu hiệu của chồng mình. Cuối cùng, mệt quá, chị ngủ thiếp đi dưới một gốc cây. Trong giấc mơ chị gặp thần cây. Sau khi nghe chị kể rõ đầu đuôi chuyện, thần cây rất xúc động và đưa cho chị một viên ngọc:

– Ta thấy chồng ngươi hãy còn sống và đang ở ngoài đảo. Nay ta cho ngươi một viên ngọc, ngậm nó vào miệng và nhắm mắt lại. Viên ngọc sẽ giúp nhà ngươi bay qua biển để đón chồng về. Nhưng tuyệt đối không được há miệng ra, rơi ngọc là nguy đấy.

Chị choànng tỉnh dậy và thấy viên ngọc sáng lấp lánh trong tay mình. Biết giấc mơ kia là hiện thực, chị ngậm viên ngọc vào miệng và nhắm mắt lại như lời thần cây dặn. Chị thấy gió thổi bên tai ù ù, người chị nhẹ bỗng. Một lúc sau chân chị chạm đất. Mở mắt ra, chị thấy mình đang đứng trên một hòn đảo hoang vắng lạ lùng.

Tìm kiếm một hồi lâu chị mới thấy chồng mình. Hai vợ chồng gặp nhau mừng mừng, tủi tủi, trò chuyện không dứt. Họ muốn quay về làng cũ nhưng chị vợ chỉ có một viên ngọc. Suy nghĩ một hồi lâu, hai vợ chồng quyết định, chị vợ sẽ ngậm viên ngọc còn người chồng sẽ ôm ngang lưng vợ để cùng bay qua biển.

Người vợ do lâu ngày không được gặp chồng, lại phải chịu bao vất vả mệt nhọc đi tìm nên gặp lại chồng chị vui mừng lắm nên quên mất lời thần cây dặn. Đang đi đến giữa biển, chị mở mồm hỏi chuyện chồng. Viên ngọc văng ra giữa không trung rồi rơi tõm xuống biển. Chị vợ chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi cả hai vợ chồng rơi tõm xuống biển. Họ chết, hoá thành con sam. Ngày nay người ta thấy những con sam thường đi cặp đôi dưới nước với nhau, lúc nào con sam đực cũng ôm con sam cái như ngày xưa người chồng ôm vợ bay qua biển.

Một lần, do mải mê kiếm ăn nên châu chấu bị lạc lối, không về nhà được. Trời tối, mưa rét làm cho châu chấu ta lạnh run ướt át không thể cất cánh bay được. Nó quyết định phải tìm một chỗ ấm áp để qua đêm cho lại sức, chứ tối thế này có cố gằng thì cũng không thể nào tìm được đường về. Châu chấu cứ lồm cồm bò mãi trên một cành cây, cuối cùng nó lọt vào được tổ của chim ri. Châu chấu thấy ấm áp và vô cùng dễ chịu. Toan định nằm xuống ngủ thì bỗng có tiếng nói cất lên:

– Ai đấy, đêm hôm khuya khoắt, vào nhà tôi làm gì? Cẩn thận không thì lại đạp vào mấy đứa con của tôi.

– Tôi là châu chấu đây. Đêm tối lại mưa lạnh tôi không thể tìm đường về nhà. Làm ơn cho tôi ngủ nhờ một đêm, sáng mai tôi sẽ đi ngay.

– Nhà tôi chật chội, mấy mẹ con nằm còn chẳng đủ. Chú hãy đi tìm chỗ nào rộng rãi hơn mà nghỉ!

– Chị ơi, cho tôi ghé lưng nằm một tý ở ngoài này cũng được. Tôi đã lạnh cóng rồi, làm sao có thể đi đâu được nữa.

Chim ri mẹ thương tình đành cho châu chấu ngủ nhờ và dặn:

– Thôi được, cho chú nằm ghé bên kia, nhưng cẩn thận không đạp vào mấy đứa con của tôi đấy.

Thế là châu chấu xếp hai cái càng vào bụng, đặt lưng nằm xuống cạnh mấy chú chim ri con đang ngủ say. Chỉ một lát, tất cả chìm vào trong giấc ngủ.

Đang ngủ say sưa bỗng nghe thấy tiếng nai kêu “tác” bên cạnh nhà, tiếng kêu to quá làm châu chấu ta giật nảy mình giơ cánh lên và đạp thẳng đôi chân dài thượt của nó vào lũ chim non. Chúng bị dạt sang một phía làm cái tổ chao nghiêng và rơi bịch xuống đất. Một con chim non ngủ say lăn nghiêng theo cái tổ và rơi tõm xuống dòng sông. Nước cuốn nó đi mất hút.

Quá tức giận vì tự dưng có một kẻ xa lạ đem đến tai hoạ cho gia đình mình, chim ri bèn lên kiện Ngọc Hoàng. Nghe chim ri trình bày đầu đuôi, Ngọc Hoàng cho người đến tận nơi xem xét rồi Ngài gọi châu chấu đến hỏi:

– Tại sao nhà ngươi đêm tối lại đến hại nhà người ta.

Châu chấu cúi đầu nhận lỗi đã vô tình gây tai hoạ cho gia đình chim ri, nhưng nó cũng nói rõ nó chẳng hề có ác ý:

– Tôi không phải là kẻ vô ơn bạc nghĩa. Chỉ vì có con nai kêu thét ngay cạnh nhà làm tôi giật mình nên đạp chân mới gây ra nông nỗi này.

Thấy châu chấu thực tình khai báo, Ngọc Hoàng thương tình tha cho và cho gọi nai đến, kể đầu đuôi sự tình cho nai nghe và trách:

– Tất cả là tại nhà ngươi, tại sao đêm hôm khuya khoắt nhà ngươi lại cất tiếng kêu làm gì?

– Oan cho tôi quá – Nai vội thanh minh – tôi cũng đang lim dim ngủ, tự dưng có một quả sung xanh rơi trúng mặt tôi làm cho tôi giật mình phát hoảng và kêu lên đấy chứ. Tại quả sung xanh, không phải tại tôi.

Nghe vậy, Ngọc Hoàng quay ra hỏi sung:

– Tại sao nhà người để quả rụng vào mặt nai làm cho nó hét tướng lên gây tai vạ cho nhà người ta.

Sung đợi Ngọc Hoàng nói dứt câu lập tức trả lời:

– Bẩm ngài! Tôi đâu muốn quả xanh của tôi rơi, chỉ vì con kiến nó cắn cuống quả xanh nên quả mới rụng đấy chứ.

– Bẩm Ngọc Hoàng – Kiến thưa – Tôi đang sống yên ổn trong đám lá khô ở dưới gốc sung, tự dưng mấy hôm nay có con gà ở đâu đến xục xạo giết họ hàng nhà tôi, tôi cuống cuồng chạy trốn lên cây nên bị va vào cành sung đau điếng. Bực mình tôi mới cắn quàng, cắn xiên như thế đấy ạ.

Ngọc Hoàng gọi gà lên đối chất. Gà vốn không phải là dân bản địa của khu rừng, nó có một đàn con và gà mẹ thường hay dẫn đàn con đi kiếm ăn. Dạo này thức ăn ngày càng hiếm nên một hôm nó nhờ hàng xóm là vịt chở qua sông và hứa sẽ ấp trứng hộ. Vì thế mẹ con gà được no bụng. Nghe tin Ngọc Hoàng buộc tội, gà đớ người ra không biết chống chế thế nào vì nó thấy nó chẳng có tội gì. Không thấy gà nói gì, Ngọc Hoàng tưởng gà nhận tội bèn ra lệnh nhốt gà vào nhà lao.

Đám gà con mất mẹ nháo nhác đi tìm. Chúng khẩn khoản nhờ vịt chở qua sông thăm mẹ. Nghe mẹ kể rõ sự tình, một con gà trống con – anh cả của đàn bèn đi tìm Ngọc Hoàng kêu oan thay mẹ. Nghe gà con nói, Ngọc Hoàng chau mày:

– Oan cái nỗi gì? Nếu mẹ mày cứ kiếm ăn ở bên kia sông đừng qua bên này thì làm gì có chuyện kiến cắn đứt cuống quả sung xanh, để rơi vào mặt nai làm nó kêu thét lên khiến châu chấu giật mình đạp rơi tổ nhà chim ri xuống đất, khiến chim ri mất con. Thủ phạm chẳng là mẹ mày thì là ai.

– Bẩm ngài, chính vì thế mà con phải kêu oan cho mẹ con. Ngài thấy đấy tất cả muôn loài Ngài đều ban tặng chúng dòng sữa để nuôi con. Riêng loài gà chúng tôi thì không có lấy một giọt. Vì vậy gà mẹ phải tần tảo nuôi con, mẹ con phải cùng nhau vất vả đi kiếm thức ăn là vì thế. Bên kia người khôn của khó, mẹ tôi phải sang bên này, tình cảnh bắt buộc thế nên đâu phải lỗi của mẹ tôi.

Ngọc Hoàng thấy gà con cãi có lý bèn ra lệnh thả cho gà mẹ về. Mọi người khen ngợi gà trống bé mà khôn ngoan. Từ đấy ai có việc kiện tụng gì thường mang gà trống theo, hy vọng sẽ thắng kiện. Còn gà mái sau này phải ấp trứng hộ vịt để trả ơn.

Ngày xưa, có một người đàn bà đanh đá, kiêu căng. Hễ cứ gặp việc gì không vừa lòng là bà ta nhiếc móc, chửi bới loạn cả lên. Vì thế hàng xóm láng giềng xa lánh, chẳng ai muốn tiếp xúc với bà ta cả.

Khi chết, bị đày xuống địa ngục, Diêm Vương cho bà ta thử thách một thời gian rất dài hòng sửa đổi tính cách điêu ngoa của mụ. Hết thời gian thử thách, mụ được đầu thai thành một con rùa nhỏ. Diêm Vương cũng có chủ ý, cố tình sắp đặt cho con rùa ấy sống một mình ở ao sen. Thế là dù có muốn gây sự, chửi bới, rùa ta cũng đành bó tay. Hy vọng sẽ dần dần sửa đổi được tính chua ngoa, đanh đá của nó.

Một năm kia, trời làm hạn hán to lắm. Nước trong ao sen cứ cạn dần đi cho đến khi chỉ còn lại vài vũng bùn sắp cạn. Nếu trời cứ tiếp tục làm đại hạn thế này thì đến lúc sẽ chẳng còn kiếm đâu ra thức ăn. Rùa ta lo lắm.

Một hôm, có hai con cò ở đâu bay tới ao sen của rùa kiếm ăn. Chúng đang lội bì bõm để tìm tôm tép thì gặp rùa. Đang lo hết thức ăn, lại gặp kẻ đến ăn trộm, rùa tức lắm, đứng ở cửa hang chửi ầm lên:

– Đứa nào đấy! Tại sao dám vào kiếm ăn ở chỗ của bà thế hả? Có xéo ngay đi không, bà ra vặt lông bây giờ.

Lâu rồi mới có người để chửi, rùa ta lấy làm sảng khoái lắm. Tưởng chừng có thể chửi một thôi dài không cần lấy hơi ấy chứ.

Hai chú cò thấy rùa chửi bới trong hang lòng không vui nhưng vì không muốn gây sự lôi thôi nên dịu giọng bảo:

– Tưởng ai, hoá ra chị rùa. Chị đừng lo, chúng tôi không đến tranh ăn của chị đâu. Chúng tôi chỉ muốn kết bạn với chị để cùng nhau qua giai đoạn khó khăn này thôi.

– Thôi thôi, khỏi bạn bè. Tôi đây vẫn sống một thân một mình suốt từ nhỏ đến lớn mà cũng có sao đâu.

– Thôi được, nếu chị không muốn làm bạn với chúng tôi thì cũng được. Nhưng tôi xin báo cho chị biết là ao này có thể khô cạn không có gì để mà ăn đâu.

Rùa tỏ ra lo lắng, song vẫn không có dấu hiệu làm hòa với cò. Hai con cò nhũn nhặn:

– Chúng tôi bay từ xa đến đây, đã qua bao nhiêu vùng đất, thiếu gì những nơi đầy ắp nước và vô khối thức ăn. Hà tất gì phải lặn lội ở nơi khô hạn này. Chẳng qua, ngang qua đây, thấy chị chúng tôi bay xuống báo tin cho chị biết. Trời còn khô hạn lâu lắm đấy. Chị liệu mà lo đi.

Nghe đến đây thì rùa ra lo lắng thực sự:

– Thế theo hai anh tôi phải làm thế nào để qua giai đoạn khó khăn này.

– Nếu chị muốn, chúng tôi sẽ dẫn chị đến một nơi nước trong xanh, cây cối um tùm, thức ăn đầy đủ, không bao giờ lo hết. Nơi đấy cũng gần đây thôi.

– Nhưng tôi chậm chạp thế này, lại không biết bay như các anh. Biết đến bao giờ mới đến được nơi đấy.

– Việc đấy có gì khó. Chúng tôi mỗi người sẽ cắn vào một đầu gậy. Chị chỉ cần cắn chặt vào giữa. Như thế chúng tôi có thể đưa chị đến nơi chị muốn. Nhưng phải nhớ là dọc đường không được không được phép mở miệng ra. Nếu không chị sẽ bị rơi xuống đất, chết oan uổng.

Nghe bùi tai, rùa ta đồng ý và làm theo. Quả nhiên, rùa bay được lên trời cao. Vốn chậm chạp, nay được bay lượn, rùa ta thích chí lắm.

Lúc bay qua một cánh đồng, những người làm đồng nhìn thấy cảnh tượng lạ mắt, vội bảo nhau:

– Xem kìa, hai con cò kia đang tha một cục cứt trâu.

Rùa ta giận tím cả mặt, nhưng nhớ lời cò dặn, rùa phải làm thinh, không hé răng câu gì.

Một lát sau, cò bay ngang qua chợ. Những người đi chợ thấy cảnh thượng lạ lùng thì reo ầm lên:

– Trông kìa, lạ chưa, hai con cò đang tha một con chó chết.

Lần này, máu nóng bốc lên mặt, rùa không thể bình tĩnh được nữa. Phải chửi cho bọn ngu ngốc kia một câu thật đau mới được. Nhưng ai ngờ, vừa hé miệng ra, rùa ta rơi bịch xuống đất. Người đi chợ bắt về làm thịt.

Hai con có thấy rùa chết bảo nhau:

– Tội nghiệp chị ta. Chỉ vì không nghe lời nên ra nông nỗi ấy. Đúng là cái miệng làm hại cái thân, ngoa ngoắt lắm vào. Thôi bây giờ chúng ta có thể quay lại ao sen kiếm ăn mà không sợ bị ai chửi bới nữa rồi.

Ngày xưa, có một cô gái xinh đẹp, nết na, mồ côi mẹ lúc chưa đầy tháng. Người cha lấy vợ kế được một thời gian, không hiểu sao ông sinh bệnh chết, để lại cô con gái bé bỏng. Cô bé phải sống với mẹ kế và con riêng của bà ta. Con riêng của dì ghẻ suốt ngày ngắm vuốt, chẳng làm được việc gì, mà có làm thì cũng hỏng. Thế nhưng cô ta lại được mẹ yêu chiều nên lúc nào cũng vênh váo, kênh kiệu, tự coi mình là lá ngọc cành vàng.

Mọi việc trong nhà dồn hết vào cô gái mồ côi. Biết phận mình, lại bản tính hiền lành nên cô chịu đựng hết thảy, nín lặng làm hết mọi việc mà bà dì ghẻ giao cho. Vậy mà cô vẫn bị mắng chửi, đánh đập một cách thậm tệ. Ai biết chuyện cũng đều thương cho cô bé mồ côi tội nghiệp.

Một hôm, thấy cô gái mặc chiếc váy hoa rực rỡ, mụ dì ghẻ nổi cơn tam bành. Cô vốn đã xinh đẹp, nay mặc áo đẹp vào trông cô lại càng xinh hơn. Con gái mụ dù có đắp ngọc ngà, châu báu vào thì cũng chỉ như quỷ sa tăng mà t hôi. Chẳng ma nào ngó đến, các chàng trai chỉ muốn được gặp và kết hôn với cô gái mồ côi. Mụ dì ghẻ sôi máu, xấn xổ vào cô gái đáng thương:

– Con ranh kia, sao mày cứ luẩn quẩn trước mắt tao, biết kiếm việc gì cho mày làm bây giờ, đồ lười biếng kia. á à, chiếc váy đẹp này mày ăn trộm của ai, nói mau!

Vừa la hét mắng chửi, mụ vừa lao vào đánh cô gái tới tấp.

– Con xin mẹ – Cô gái mếu máo van xin – Con chẳng ăn cắp của ai cả. Có một bà già cho con đấy.

– Một mụ già ? Làm gì có mụ già nào tốt bụng đến thế. Nói sự thật đi, tao tha!

– Thưa mẹ, con nói thật đấy. Con chẳng biết bà ấy là ai. Hôm nọ, con ra sông giặt quần áo, có một bà già đi qua, trông bà ấy rất rách rưới. Bà ấy xin con nước uống. Con đã lấy bình nước đem theo đưa cho bà cụ. Uống xong, bà ấy đưa cho con một cái bọc nói rằng thưởng cho lòng tốt của con. Mở ra con thấy cái váy này, quay lại định trả lại cho bà cụ thì bà đã đi mất.

– Có lẽ con bé này nói thật – Mụ dì ghẻ thầm nghĩ. Thảo nào gần đây làng xóm cứ đồn là có một bà tiên nào đó. Vậy ta phải để con gái ta ra sông để xin bà tiên cho nó xinh đẹp mới được.

Thế là từ ngày ấy, cô gái mồ côi không phải ra sông giặt nữa mà thay vào đó là con riêng của mụ dì ghẻ. Vì cũng mong muốn được bà tiên để được xinh hơn nên mặc dù rất lười và không muốn giặt quần áo, con riêng của mụ ngày nào cũng ra sông đem theo mấy cái khăn tay nhỏ để giặt.

Một buổi sáng đẹp trời, cô gái đỏng đảnh õng ẹo ra sông. Cô thấy một bà cụ lạ xuất hiện. Nhìn thấy bà cụ, cô gái kiêu kì định lấy bầu nước của mình đưa ra thì bà cụ cất tiếng:

– Này cô gái! Vạt váy của tôi lấm bùn. Cô có thể lấy nước gột sạch hộ tôi được không?

Cô gái đỏng đảnh cong môi đáp:

– Cái mụ già bẩn thỉu này. Tại sao tôi phải làm cái việc ghê tởm ấy. Bà hãy tự làm đi.

– Chà cái con bé hỗn xược này, mày thật không giống cô gái kia chút nào. Một con người độc ác thì không thể trở thành người con gái xinh đẹp được. Nhà ngươi phải bị trừng phạt.

Bà cụ nói xong thì biến mất như chưa từng xuất hiện Cô gái đỏng đảnh kia chưa kịp mở lời xin lỗi bà cụ và xin bà cụ cho xinh đẹp thì cũng vội biến mất. ở chỗ cô ta xuất hiện một con vật nho nhỏ, người xám sịt, chân cẳng tua tủa. Hễ cứ thấy người là con vật đó lủi xuống sông. Người ta gọi đó là con cua.

Ở một cánh rừng già, có chú hươu sao tinh nghịch nhưng lại rất thông minh. Một hôm, khi nó đang say sưa gậm cỏ thì bỗng nghe thấy tiếng hổ gầm rung chuyển cả núi rừng. Hươu định tháo thân chạy nhưng không kịp nữa rồi, hổ đã xuất hiện trước mặt chú. Hổ ta chắc mẩn phen này được bữa no rồi đây nên cứ ung dung tiến lại chỗ Hươu đứng. Sau mấy giây suy nghĩ, Hươu vội bẻ một cành cây nhỏ, xua xua đám ruồi muỗi đang bâu trên đống phân trâu gần đó. Hươu giả vờ làm việc rất chăm chỉ và chuyên tâm đến mức không nhận thấy hổ đang đến gần. Thấy lạ, Hổ bèn hỏi:

– Này con hươu kia, mày đang làm gì thế?

Hươu giả vờ không nghe thấy, vẫn huơ huơ cành cây trên đống phân trâu. Hổ tức quá gầm lên:

– Mày điếc à, sao tao hỏi không trả lời?

Lúc này Hươu đã lấy lại được sự bình tĩnh nên đáp trơn tru:

– Anh không thấy à, tôi đang đứng canh giữ chiếc bánh ngọt của vị thần Su – ma tối cao.

– Nói láo, ta đây là chúa tể của rừng xanh, sao thần không sai bảo mà lại nhờ mày.

– Vì thần sợ anh hôi hám, làm hỏng chiếc bánh vừa thơm, vừa bùi, vừa béo này nên cắt cử tôi trông.

Nghe Hươu nói vậy, Hổ thèm rỏ rãi, mon men lại gần và năn nỉ:

Biết Hổ háu ăn, Hươu làm già:

– Không được! Anh chớ động vào. Tôi canh giữ suốt từ sáng đến giờ mà còn chưa dám ngửi nữa là. Anh động vào thần Su – ma trị tội thì đừng có trách tôi.

– Mày dọa tao à, mày không cho tao ăn thử, tao sẽ xé xác mày ra – Hổ gầm lên.

Hổ đồng ý. Chỉ chờ có thế Hươu ba chân, bốn cẳng chạy một mạch vào rừng thoát thân. Còn lại một mình, Hổ nhảy bổ đến bãi phân trâu ngoạm ngay một miếng thật to nuốt mà không kịp nhai. Bánh gì mà hôi thối thế này. Hổ cố sức nôn oẹ ra mà không được, rất tức giận, tìm Hươu trả thù. Nhưng Hươu đã lẩn xa mất rồi.

Đánh lừa được con Hổ ngu ngốc, Hươu nhởn nhơ trong rừng. Bỗng ngửi thấy mùi khét lẹt của Hổ ở gần đấy, Hươu biết bây giờ có chạy cũng chẳng kịp nữa rồi. Nó bèn nghĩ ra kế thoát thân. Nó thấy ở gần đấy có một con rắn hổ man đang cuộn tròn mình ngủ say như chết. Hươu chạy vội đến ngồi bên rắn. Lúc đó Hổ từ trong bụi cây nhảy ra:

– Con Hươu kia, mày đừng có hòng chạy thoát.

– Này anh Hổ, lần trước anh cứ nằng nặc đòi ăn bánh của thần Su – ma nên thần trừng trị anh, bắt anh phải ăn bãi phân trâu. Tôi có ép anh đâu. Giờ tôi đang canh giữ cho cái khăn của thần Su – ma tôn kính đấy. Anh hãy tránh xa ra, đừng để thần nổi giận.

Hổ vốn tính tham lam, cái gì cũng muốn vơ vào mình nên muốn đội thử cái khăn đẹp đẽ đó. Nó nài nỉ Hươu cho đội. Hươu không đồng ý. Nó ngọt nhạt dụ dỗ:

– Thần Su – ma ở xa thế chẳng nhìn thấy đâu. Ta chỉ đội một lát rồi trả ngay mà.

Hươu nói rồi vội lỉnh mất. Hổ gỡ con rắn hổ mang ra và cuốn lên đầu. Con rắn bị đánh thức bất ngờ, nó thít chặt lấy đầu Hổ rồi mổ liên tiếp vào mặt Hổ làm nó rất đau đớn. Mãi sau con rắn mới chịu buông tha nó. Vừa đau vừa mệt, con Hổ nằm vật ra, thở hồng hộc, máu dính tèm lem khắp mặt.

Một hôm, Hươu mê mải kiếm ăn nên trời tối không kịp về. Hươu đành tìm chỗ ngủ qua đêm. Nó tìm thấy cây cổ thụ đổ nghiêng đè lên một bụi nứa có nhiều cây gãy dập. Thế là nó tìm được một chỗ ngủ vừa kín đáo vừa ấm áp.

Lúc ấy, Hổ đi qua hốc cây đổ và tìm thấy Hươu ở đó, nó chắc mẩm phen này thì Hươu có chạy đằng trời. Hươu ngửi thấy mùi hôi của Hổ tỉnh dậy ngay và nghĩ kế đối phó:

– Thế nào Hổ, anh vẫn khỏe chứ? Lần nào gặp anh tôi cũng đang phải làm nhiệm vụ mà thần Su – ma giao phó. Lần này tôi đang trông cây sáo thần của thần Su – ma đấy. Anh mà nghe thấy tiếng sáo này thì thích phải biết.

Nghe Hươu tán tỉnh, Hổ quên hết giận, nổi máu tò mò:

– Anh cho ta thổi sáo đi, ta thích thổi sáo lắm.

Con Hươu ranh mãnh xui Hổ lách cái lưỡi vào thân nứa bị dập rồi nói:

Hươu vừa đi khỏi thì gió nổi lên, lúc đầu hiu hiu, sau mạnh lên như bão. Thân cây lắc lư, vặn vẹo. Mỗi lần như thế mảnh nứa sắc dập lại nhiến vào lưỡi Hổ. Nó đau quá rống lên mà khôn làm sao rút lưỡi ra được. Nó giãy dụa. Mảnh nứa sắc như dao đã cắt đứt đôi cái lưỡi Hổ. Nó chết ngay lập tức. Đúng là to đầu mà dại.

Ngày xửa, ngày xưa, trong khu rừng nọ có ba loài chim sống với nhau và yêu thương nhau hết mực. Đó là con cò, con công và con vẹt.

Một hôm, có ba anh chàng rủ nhau vào rừng săn thú. Họ đi suốt cả ngày mà chẳng bắt được con nào, mãi đến chiều mới gặp được ba con chim nhỏ. Mỗi người bắt một con về nuôi, yêu thương chăm chút cho chúng được khoẻ mạnh. Cả ba thầm nghĩ: “Ta cố gắng nuôi và dạy nó múa hát rồi đem vào dâng vua lĩnh thưởng”.

Người nuôi công thì dạy công tập múa, tập chào theo hiệu lệnh. Con công vốn kém thông minh nên người bảo sao nó làm theo vậy.

Người nuôi vẹt dạy vẹt học nói tiếng người. Con vẹt vốn dễ bảo, thông minh lại hay bắt chước nên nó học nói rất nhanh.

Người nuôi cò định dạy cò theo ý mình. Nhưng cò vốn là con chim thông minh, khôn ngoan. Nó nghĩ:

– Ta không nên làm như Công, như Vẹt. Vì nếu ta biết múa, biết hát thì suốt đời ta phải sống trong lồng. Mà ta yêu cuộc sống tự do ngoài cánh đồng kia hơn.

Thế là nó ỳ ra, không chịu học gì cả, khi người dạy nó hát, múa, nó chỉ la lên duy nhất một câu

Được một thời gian, hai người bạn rủ anh chàng nuôi cò vào cung vua. Anh chàng nuôi cò ngần ngại nhưng lại sợ bạn bè chê kém cỏi nên cũng đành ôm cò đi theo.

Đến hoàng cung, họ ra mắt nhà vua và khoe rằng họ có những con chim biết ca hát nhảy múa. Nhà vua hỏi:

– Nó biết cúi chào vua và múa theo điệu nhạc.

Nhà vua khen hay và quay sang hỏi người nuôi vẹt. Người này thưa:

– Tâu bệ hạ! Con vẹt của hạ thần biết nói tiếng người. Nhà vua có thể hỏi và con vẹt có thể trả lời từng câu.

Vua rất hài lòng để con vẹt sang bên cạnh và hỏi tiếp:

– Thế con cò của nhà ngươi biết làm gì?

– Tâu bệ hạ, thần đã tốn bao nhiêu công chăm sóc, dạy dỗ nó mà nó không chịu hiểu gì hết. Nó chỉ biết kêu mỗi câu: Krâ, Krâ mà thôi.

Con cò nghe chủ nói vậy liền kêu lên:

Nhà vua bật cười và ra lệnh cho lính hầu:

– Hãy thả nó ra đi, nó ngu quá, không biết làm gì hết!

Con cò bay lên điện của nhà vua và cất tiếng nói:

– Tâu bệ hạ, tôi không hề ngu ngốc đâu. Con công, con vẹt làm theo lời chủ dạy học hát múa nên bị nhốt trong lồng, còn tôi không nghe theo nên bây giờ tôi đã được tự do bay đến nơi nào tôi muốn.

Nhà vua nghe cò nói gật gù:

– Đúng lắm, hay lắm! Quả là một con cò thông minh.

Xưa có một con dê cái trưởng thành sinh được bảy dê con. Bảy đứa, đứa nào cũng mũm mĩm xinh xắn. Dê mẹ yêu dê con lắm. Một hôm dê mẹ vào rừng kiếm ăn. Trước khi đi, Dê mẹ gọi các con lại căn dặn:

Dê con đồng thanh: Vâng ạ, xin mẹ cứ yên tâm.

Dê mẹ yên tâm lên đường. Mẹ vừa đi được một lúc, những chú dê con đã nghe thấy tiếng đập cửa gọi to:

– Các con yêu dấu, mẹ đã trở về đây. Hãy mở cửa cho mẹ vào. Mẹ đem về rất nhiều thức ăn cho các con đấy.

Sói biết dê mẹ đã vào rừng nên đến định đánh lừa lũ dê con. Nhưng những chú dê con đã nhận ra tiếng kêu ồ ồ của sói nên đã đồng thanh trả lời:

– Chúng tao không mở cửa. Mày không phải là mẹ của chúng tao. Mày là chó sói. Mẹ tao có giọng nói thanh thanh chứ không ồ ồ như giọng của mày. Hãy cút đi.

Sói nghe lũ dê con bảo mình giọng ồ ồ bèn chạy đi hái lá chua ăn để có giọng được thanh. Sói lại quay trở lại nhà dê cất giọng nhẹ nhàng gọi:

– Các con yêu dấu, mở cửa cho mẹ vào. Mẹ mang nhiều thức ăn về cho các con đây.

Dê con nghe giọng thanh hơn nhưng chúng vẫn cảnh giác đến bên cửa ghé nhìn ra ngoài. Và chúng thấy cái đuôi dài ngoẵng, đen xì đang ngoe ngoảy. Chúng biết ngay là sói bèn nói:

– Chúng tao không mở cửa cho mày đâu. Đuôi của mẹ tao không đen như đuôi mày. Mày đúng là chó sói rồi.

Sói vội chạy đến cửa hàng xén nhảy thẳng vào thùng bột mỳ của bác hàng xén. Cả người và đuôi của nó trắng toát. Nó chạy lại nhà dê và ôn tồn gõ cửa lần thứ ba:

– Các con yêu quí, mở cửa cho mẹ nào. Mẹ yêu dấu của các con đã về và đem rất nhiều thức ăn cho con đây.

– Hãy chìa đuôi ra xem có phải là mẹ dấu yêu không nào.

Sói chìa đuôi ra. Dê con thấy đuôi trắng, yên trí là mẹ thật liền mở cửa ra. Sói hiện ra trước cửa, dê con sợ quá cuống cuồng chạy trốn. Con thì nấp xó cửa, con nấp gầm giường, con rúc xó bếp… Sói đã tìm ra cả, không con nào thoát được. Nó nuốt chửng hết con nọ đến con kia. Chỉ trừ chú dê út núp trong vại nước là nó không tìm ra được. Sói ăn no nê rồi đi ra ven suối nằm dưới gốc cây râm mát thiu thiu ngủ.

Dê mẹ trở về nhìn thấy cảnh bàn ghế đổ ngổn ngang, đồ đạc vất lung tung. Dê mẹ biết có chuyện nên đi tìm con, gọi con khản cả cổ. Chẳng có đứa nào. Gọi mãi mới thấy dê út từ trong vại nước chui ra khe khẽ kêu:

– Mẹ ơi con ở đây này!

Dê mẹ bế dê con ra, mặt nó tái mét run lẩy bẩy. Nó lắp bắp kể lại toàn bộ sự tình. Dê mẹ khóc thương con hết nước mắt. Nó quyết đi tìm Sói, dê con lẽo đẽo chạy theo mẹ.

Ra đến bờ suối, hai mẹ con dê thấy Sói đang nằm ngủ mê man. Và trong bụng nó có gì cựa quậy. Hình như con mình còn sống, phải cứu chúng ra ngay. Nghĩ thế, dê mẹ sai dê con chạy vội về nhà cầm dao ra, rạch bụng con Sói. Lần lượt sáu chú dê con nhảy ra còn sống nguyên vẹn. Mấy mẹ con sung sướng ôm nhau nhảy múa. Chợt dê mẹ bảo các con:

Sói sau giấc ngủ no nê thì tỉnh dậy. Nó thấy cổ khát cháy. Nó liền tìm đường xuống suối uống nước. Nó thấy bụng kêu lạo xạo:

– Mình ăn thịt sáu con dê con chứ có ăn đá đâu mà bụng lại lạo xạo thế này?

Nó quỳ xuống bên mép nước định uống thì đá nặng trong bụng nó đã kéo nó rơi tùm xuống suối. Đáng đời con sói độc ác.

Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ có đôi bạn chí thân tên là Quắc và Nhân. Cả hai cha mẹ mất sớm, gia cảnh đều nghèo nên họ hiểu nhau và thông cảm lẫn nhau.

Quắc được học hành hơn Nhân nên làm thầy đồ dạy trẻ. Tuy bổng lộc chẳng được nhiều nhưng Quắc vẫn luôn giúp đỡ Nhân lúc một ít gạo, một ít tiền, hay thỉnh thoảng lại có manh áo mới cho bạn. Nhân tuy không giàu tiền giàu bạc nhưng lại sống với Quắc hết mình. Nhiều lần Quắc ốm nặng, nếu không nhờ có Nhân tận tình chăm sóc thì chưa chắc Quắc đã qua khỏi. Tình bạn của hai người gắn bó keo sơn, nếu không vì kế sinh nhai mà phải chia tay mỗi người mỗi ngả thì họ vẫn sống gần nhau yên ổn.

Trong khi Quắc yên ổn ở nhà với nghề dạy trẻ thì Nhân lang thang nay đây mai đó, làm thuê, làm mướn. Qua nhiều phen thăng trầm, phiêu bạt chân trời góc bể, một ngày kia anh đến làm công cho một phú thương. Thấy Nhân chăm chỉ, thật thà, chịu thương chịu khó phú ông bèn gả con gái cho. Ông ta chỉ có mỗi cô con gái nên mọi của cải trong nhà đều cho vợ chồng Nhân hết. Nhân bỗng nhiên trở thành người giàu có.

Tuy giàu có nhưng Nhân vẫn không quên tình bạn cũ, quên cảnh ngày xưa bữa cháo, bữa rau hai người bạn đùm bọc nhau. Thế rồi Nhân trở về tìm bạn. Thấy Quắc vẫn sống mạnh khỏe thì mừng lắm. Nhân mời bạn đến ở cùng mình để hai người tối lửa, tắt đèn có nhau. Mới đầu Quắc từ chối vì còn đang dở năm học, không thể đi được. Về sau Nhân giúp Quắc chuyển đám học trò sang học trường khác, cho thầy đồ khác dạy thì Quắc yên tâm vui vẻ nhận lời đến ở nhà Nhân.

Nhân đưa bạn về nhà, chàng dặn mọi người trong nhà đối xử với Quắc chu đáo như đối xử với mình.

Vợ Nhân thì lại không được như chồng. Xưa nay chị chỉ sống trong cảnh nhung lụa giàu sang nên không hiểu được cảnh cơ hàn khốn khổ mà chồng nàng và bạn đã trải qua. Chị ta cảm thấy khó chịu trước cách chồng đối xử với bạn như thượng khách. Chị không hiểu được tình nghĩa của hai người sâu nặng như thế nào. Lúc đầu chị ta chẳng dám nói gì. Nhân cũng luôn động viên vợ:

– Đây là người bạn thân nhất trong đời tôi. Nếu không có bạn thì giờ này tôi không còn sống để gặp được mình.

Vợ Nhân không phản đối ra mặt mà chỉ lẩm bẩm:

– Khéo vẽ, bạn với chả bè, chỉ toàn ăn hại.

Thế rồi ngày lại ngày, chị ta cảm thấy rất khó chịu với cái ông khách lạ suốt ngày ngồi lù lù trong nhà chẳng chịu làm gì, cứ đều đều xơi hai bữa cơm rượu ngon lành. Lúc đầu chị ta còn đá thúng đụng nia, sau thì đánh chó chửi mèo, rồi đay nghiến cả chồng lẫn khách. Nhân thấy thái độ như vậy, một mặt tự tay mình chăm sóc Quắc, một mặt khuyên bảo vợ. Còn Quắc thì hiểu thái độ của vợ Nhân, chàng xin phép ra đi nhưng Nhân cố níu lại. Đến một ngày, không thể chịu được cảnh chị vợ Nhân xúc phạm mình, Quắc quyết chí ra đi cho dù Nhân đã đối xử quá chí nghĩa chí tình. Quắc hy vọng một ngày Nhân sẽ hiểu vì sao chàng ra đi.

Một sáng tinh mơ, Quắc lẻn ra đi. Để cho bạn khỏi mất công tìm kiếm, chàng cởi bỏ áo mũ treo lên cây giả như mình đã chết rồi lần đường tìm đến một làng xin dạy học.

Còn Nhân tỉnh dậy, thấy bạn bỏ đi thì cuống cuồng đi tìm. Mấy ngày sau, nghe tin người ta tìm thấy áo sống của Quắc treo trên cây trong rừng, Nhân vội đến thì thấy đúng là áo của bạn mình nên ngỡ bạn đã chết. Nhân vô cùng đau khổ, chạy bổ vào rừng hy vọng rằng có thể tìm thấy bạn. Nhân vạch lối, ngó hết bụi nọ đến bụi kia, miệng không ngớt gọi tên bạn:

– Quắc ơi, anh Quắc ơi!

Nhân tìm mãi, gọi hết ngày nọ sang ngày kia, cứ quanh quẩn trong khu rừng bạt ngàn đó. Cho đến một hôm, không còn đủ sức Nhân ngã xuống. Đến hơi thở cuối cùng, Nhân vẫn còn gọi tên bạn:

– Anh Quắc ơi! Anh Quắc ơi.

Nhân chết đi hoá thành chim Quốc. Người ta còn gọi là chim Đỗ Quyên.

Vợ Nhân đợi mãi không thấy chồng về, chị ta thấy ăn năn hối hận vì những việc mình làm nên bỏ nhà ra đi tìm chồng. Cuối cùng nàng đến được khu rừng mà chồng nàng đã chết ở đó. Nghe thấy chim kêu “Quắc ,Quắc ” chị ngỡ tiếng chồng chị mừng quá cất tiếng gọi:

Ngày xửa ngày xưa, trời và đất ở gần nhau lắm. Người trên trời, người dưới đất nói chuyện với nhau nghe rõ mồn một vì thế người trên trời và người dưới đất hay nói chuyện với nhau, chuyện vui, chuyện buồn đều kể cho nhau.

Người trần gian ngày đấy đông đúc lắm, con cháu lại sinh sôi nảy nở đàn đàn, lũ lũ. Mọi người hàng ngày phải giã gạo để ăn. Người càng ngày càng đông nên gạo ăn hết ngày càng nhiều, nên từ mờ sáng tinh mơ người đã phải giã gạo để ăn. Họ thi nhau giã, có khi đâm cả chày vào bụng trời lúc trời còn đang ngủ.

Vào những ngày lễ, ngày Tết, người giã gạo ăn cả đêm. Trời buồn ngủ lắm nhưng không làm sao ngủ được vì chày đập cả vào bụng mình đau điếng. Nhà trời bực lắm mà không biết làm thế nào. Nghĩ mãi chỉ còn cách là bắt người trần gian phải ăn ít đi may ra thì có thể yên tĩnh một chút được. Nghĩ là làm, nhà trời suy tính xem có thể gọi ai đến để giao phó nhiệm vụ này. Cân nhắc mãi nhà trời giao nhiệm vụ cho Bọ Hung đảm trách công việc này.

Nhà trời gọi Bọ Hung đến truyền lệnh đưa xuống trần gian:

– Nhà ngươi truyền lệnh của ta cho người trần gian rằng: bắt đầu từ ngày hôm nay, người trần gian ba ngày mới được ăn một bữa, mỗi bữa chỉ được ăn ba lưng.

Bọ Hung nhận lệnh của Ngọc Hoàng vâng dạ lên đường. Song Bọ Hung vốn là hay đãng trí, đã bao lần truyền lệnh sai bị nhà trời quở phạt. Nhưng được cái là ngoan ngoãn, biết nghe lời, hễ trời giao việc là làm ngay.

Lần này Bọ Hung tâm niệm nhất quyết không truyền lệnh sai nữa nên ra khỏi cổng nó đã lẩm bẩm cho khỏi quên:

– Ba ngày ăn một bữa, mỗi bữa chỉ ba lưng…

Nó cứ vừa đi vừa lải nhải như thế từ trên trời xuống trần gian. Một chàng trai đi cùng Bọ Hung thấy nó cứ lẩm bẩm như vậy liền nấp vào bụi cây, chờ Bọ Hung đi qua hét lên một tiếng thật to. Bọ Hung bị bất ngờ giật nảy mình. Thế là nó quên khuấy mất những gì đang nói. Bọ Hung nghĩ mãi mà không ra nó đang nói câu gì, anh kia liền nhắc:

– Mày đang nói câu: mỗi ngày ăn ba bữa, mỗi bữa ăn tuỳ thích còn ăn vặt không kể.

Bọ Hung rối rít cảm ơn mồm lại lẩm bẩm:

– Ngày ăn ba bữa, ăn vặt không kể.

Vua dưới trần gian nghe tin Bọ Hung mang lệnh nhà trời xuống thì tụ họp đầy đủ quan quân lại để nhận chiếu chỉ. Nhưng khi nghe Bọ Hung truyền lệnh:

– Mỗi ngày ăn ba bữa, ăn vặt không kể.

Vua tôi dưới trần ngạc nhiên lắm ăn nhiều như vậy thì làm sao mà đủ thóc gạo. Trước kia ngày ăn hai bữa mà đã phải giã rất nhiều gạo khiến nhà trời mất ngủ rồi, nay lại ăn ba bữa một ngày là cớ làm sao.

Bọ Hung truyền lệnh xong thong thả về. Nhà trời rất lấy làm lạ là tại sao ra lệnh cho trần gian ăn ít đi mà người dưới trần lại giã gạo nhiều hơn trước. Nhà trời bèn triệu tập vua trần lên để hỏi. Vua trần lên kể lại khi nhận lệnh, các quan triều đình đều đến đông đủ để nghe chiếu của nhà trời là mỗi ngày ăn ba bữa, ăn vặt không kể. Lúc đó nhà trời mới ngã ngửa ra là Bọ Hung truyền lệnh sai.

Nhà trời rất tức giận gọi Bọ Hung đến đánh cho một trận nhừ tử. Sau đó sai lính cắm xẻng vào đầu đẩy đi làm nghề xúc phân. Từ đó Bọ Hung phải đi hót phân không kể ngày đêm.

Lệnh đã ban ra không thể thu hồi. Dân chúng dưới trần ngày đêm giã gạo không ngơi tay. Nhà trời mất ăn mất ngủ đành phải chuyển lên thật cao để con người không thể chạm vào được.

Một ngày kia, trên thung lũng Tây Tạng, có một con sói đói đang lảng vảng trên cánh đồng để tìm thức ăn. Đúng lúc đó, nó bắt gặp một chú lừa đang nhởn nhơ gặm cỏ. Ngay lập tức nó mon men lại gần chú lừa, nghĩ rằng mình đã có một bưa ăn ngon lành.

Phát hiện thấy sự có mặt của sói, lừa vô cùng lo sợ, nó nói với sói rằng:

– Bác sói ơi, bác ăn thịt tôi vào lúc này thì chẳng ngon lành gì đâu, tôi gầy và ốm thế này anh ăn chẳng bõ. Bác hãy đợi tôi vài tháng nữa, hết mùa hè tôi sẽ béo lên, lúc ấy bác ăn thịt tôi có phải là tốt hơn không?

Sói nghe lừa nói thấy hợp lý quá liền đồng ý, hẹn lừa hết mùa hè nó sẽ đến ăn thịt lừa ở tại chỗ này. Rồi sói phóng đi tìm con mồi khác.

Chẳng mấy chốc đã đến ngày hẹn, sói ta lên đường, lòng nôn nao mong được gặp lừa để chén một bữa ra trò. Lâu lắm rồi nó chưa có bữa nào được no bụng. Đang đi, bất chợt nó gặp cáo. Cáo cất tiếng hỏi:

– Chào anh sói, anh đi đâu mà trông có vẻ vội vàng thế?

– Tôi đang trên đường đến thung lũng nơi tôi có một cuộc hẹn với lừa. Tôi định ăn thịt nó vào ngày hôm nay.

– Anh cho tôi theo cùng được không, một mình anh sẽ không ăn hết được cả con lừa đâu.

– Được thôi! Tôi rất sẵn lòng. Sói trả lời với vẻ hiếu khách.

Thế là sói và cáo cùng nhau lên đường. Đi được một đoạn chúng gặp một chú thỏ rừng đang nhởn nhơ gặm cỏ.

– Xin chào anh cáo, anh sói! Hai anh đang đi đâu mà trông vui vẻ thế – Thỏ cất tiếng hỏi.

– Chào anh Thỏ! Chúng tôi đang trên đường đến thung lũng đằng kia, nơi chúng tôi có một cuộc hẹn với lừa. Chúng tôi định ăn thịt lừa vào buổi trưa hôm nay – Sói đáp.

– Ồ, thật là tuyệt, một chú lừa to béo à? Tôi rất muốn được các anh cho đi cùng. Hai anh chắc không ăn hết con lừa to béo đấy đâu. Các anh có sẵn lòng chia sẻ với tôi một phần nhỏ chiến lợi phẩm của các anh không?

Sói đáp bằng giọng ngọt ngào:

– Tại sao lại không nhỉ? Anh thỏ, chúng tôi sẽ rất vui nếu có anh cùng tham gia.

Cả ba con thú vui vẻ cùng nhau lên đường đến chỗ hẹn. Đến nơi, chúng thấy có một con lừa đang đợi chúng. Quả thật trong suốt thời gian mùa hè, cỏ cây xanh tốt, chú lừa đã ăn rất nhiều cỏ non, uống nước trong mát nên trở lên béo tốt, mơn mởn, khác xa với chú cách đây mấy tháng. Khi nhìn thấy lừa, sói không dấu được sự vui sướng và bắt đầu liếm mép chờ chực.

– Chà, anh lừa, anh thật là đúng hẹn. Theo thoả thuận giữa hai chúng ta, hôm nay tôi có mặt ở đây để ăn thịt anh. Cáo và thỏ là hai người bạn của tôi, đến đây theo lời mời của tôi để cùng ăn thịt anh. Anh đã sẵn sàng chưa? – Sói hỏi.

Nói đoạn nó thu mình định nhảy bổ vào chú lừa. Lừa run rẩy, đứng im và sợ chết khiếp. Bất chợt thỏ kêu lên:

– Khoan đã anh sói. Tôi có một đề nghị. Anh mà nhảy bổ vào con lừa, cắn vào cổ để cho nó chết thì máu sẽ chảy ra hết, phí lắm. Tôi có cách làm cho anh có thể tận hưởng hết toàn bộ con lừa này mà không phải phí đi giọt máu nào.

– Cách nào, cách nào? Anh nói mau đi! – Cả sói và cáo sốt ruột lắng nghe.

– Anh sói ạ, đằng kia có một trang trại của người nông dân, anh hãy đến đấy mượn một sợi dây thừng, ta sẽ thắt một nút thòng lòng vào cổ lừa xiết chặt cổ nó, thế là nó chết. Nhưng vì con lừa này quá to béo nên cả ba chúng ta phải cùng nhau xiết cổ thì nó mới chết được. Hai anh hãy thắt hai cái thòng lọng ở hai đầu dây thừng rồi chui đầu qua đó. Khi nào tôi ra hiệu lệnh các anh hãy kéo thật mạnh thì mới được.

Cáo và sói nghe thỏ nói vậy thì đồng ý ngay lập tức. Thế là chúng đi mượn dây thừng rồi ném cái thòng lọng vào cổ chú lừa, còn chúng thì chui đầu vào hai cái thòng lọng nhỏ hơn. Khi bọn chúng đã sẵn sàng, thỏ nhảy vào vị trí của mình ở cuối dây thừng và giữ dây bằng những chiếc răng nhỏ của chú.

– Sẵn sàng chưa? Thỏ hỏi.

– Tốt, thế thì kéo – Thỏ nói.

Thế là chúng bắt đầu kéo, bằng tất cả sức lực của mình. Chú lừa thấy sợi dây đã được kéo thì chú tiến về phía trước vài bước, sói và cáo thấy rất ngạc nhiên vì chúng cảm thấy như chính mình đang bị lôi đi trên mặt đất.

– Ngươi không kéo à, kéo đi chứ – Sói và cáo nhắc nhau, chúng bắt đầu cảm thấy khó thở và máu nóng dồn lên mặt.

Còn chú thỏ ở ngoài hô to: “Kéo đi, kéo đi, hai anh”, đồng thời nó thả dây ra, chú lừa phóng đi kéo theo cả sói và cáo. Chỉ một lúc sau, sói và cáo bị siết cổ đến chết. Chú lừa rũ dây thừng ra khỏi người, hý lên một hồi dài như để cám ơn thỏ rồi tiếp tục nhởn nhơ gặm cỏ trên cánh đồng quen thuộc của mình.

Còn thỏ rừng, nó cảm thấy rất khoái trá vì đã làm được một việc tốt trong ngày. Nó thấy cần phải chạy ngay về nhà khoe mọi người biết việc này mới được.

Ngày xưa, có một gia đình chó rừng gồm chó mẹ, chó cha và năm chú chó con đang sống yên ổn tại một ngôi làng nhỏ. Sau một thời gian dài sống thoải mái, chó rừng cha thấy cần phải chuyển chỗ ở khác cho an toàn vì dạo này những con chó trong làng luôn luôn làm phiền chúng.

Một ngày đẹp trời nọ, gia đình nhà chó rừng quyết định rời nhà tìm nơi ở mới. Đi một lát, chúng đến được bìa rừng, tiếp tục đi một quãng nữa chúng bắt gặp một cái hang cọp. Cọp đi đâu vắng và trong hang của nó có một số lượng thịt hươu nai rất lớn mà hình như Cọp mới bắt được, chưa kịp ăn. Chó rừng mẹ và lũ con biết đây là hang Cọp thì rất sợ, Muốn đi tìm chỗ khác. Chó rừng cha liền trấn an rằng nó hiểu rất rõ loài cọp và hiểu phải đối phó như thế nào.

Cả nhà chó rừng tiến vào hang Cọp, ăn một bữa no nê và nghỉ ngơi thoải mái. Chó rừng cha bảo vợ

Nói rồi, chó rừng cha ra ngoài hang nằm canh chừng. Một lúc sau, nó ngửi thấy mùi khét lẹt của Cọp, nó biết cọp đã về, liền gõ nhẹ vào cửa hang. Ngay lập tức, chó rừng mẹ đánh thức các con đậy và làm cho chúng khóc toáng cả lên:

– Tại sao chúng lại khóc thế? Chó rừng cha cất tiếng hỏi.

– Chúng đói và đang đòi ăn tối – ở trong hang chó rừng mẹ nói vọng ra thật to để cho cọp nghe thấy.

– Hãy bảo các con chờ một lát nữa, Cọp sắp về rồi, chẳng bao lâu nữa cả nhà ta sẽ có một bữa thịt Cọp nóng hổi.

Cọp nghe thấy thế rất sợ hãi. Nó nghĩ thầm: “Con thú lạ nào có thể vào trong hang của ta và đang chờ để nấu thịt của ta thế nhỉ? Chắc nó phải là con thú to lớn và dữ tợn lắm”. Vì thế không cần tìm hiểu thêm nó quay đầu, cắm cổ chạy thật nhanh vào rừng.

Sau khi chạy được một lát, nó gặp một con khỉ. Khỉ hỏi:

– Bác Cọp, sao bác chạy vội thế, có việc gì à?

– Có một gia đình con thú gì đó, thật to và khủng khiếp, tự xưng là chó rừng đang chờ tôi ở trong hang, chúng muốn bắt sống tôi và nấu lên cho lũ con đang đói của chúng. Sợ quá tôi phải bỏ chạy hòng giữ được mạng sống cho mình.

Nghe vậy, con khỉ ôm bụng cười nghiêng ngả:

– Tại sao bác Cọp là chúa tể rừng xanh mà lại ngốc nghếch thế. Bác không biết chó rừng là loại như thế nào à? Chính bác là người ăn thịt chó rừng chứ không phải là chó rừng đâu. Đừng sợ, hãy quay lại nơi đó cùng với tôi, tôi sẽ chỉ cho bác cách đối phó với nó.

Để cho Cọp cảm thấy vững tin vào khả năng của mình, khỉ buộc đuôi của mình vào đuôi Cọp rồi cả hai cùng quay lại hang cũ. Khi gần đến hang Cọp, chợt cả hai nghe thấy tiếng chó rừng:

Nghe thấy thế, Cọp nghi ngờ rằng chính con Khỉ này là tay sai của chó rừng và nó đang bị lừa đưa vào bẫy. Không một chút do dự, nó quay đầu bỏ chạy thật nhanh vào rừng sâu. Con Khỉ bất hạnh bị xoắn đuôi vào đuôi Cọp không thể gỡ ra được vì thế đã bị Cọp lôi đi, bị va đập vào hết bụi cây này, gốc cây kia. Đến khi Cọp dừng lại để thở thì chỉ còn nhìn thấy cái đuôi khỉ còn lại. Từ đó gia đình nhà chó rừng yên ổn sống trong hang Cọp mà không có con thú nào đến quấy phá.

Ngày xưa, có một vị vua cai quản một vùng đất rộng lớn, ở đấy có rất nhiều chuột sinh sống. Những con chuột này có nguồn thực phẩm dồi dào và sống rất kỉ luật. Chúng không bao giờ phá hoại cuộc sống của con người nên chuột và người sống bình yên bên nhau.

Một năm kia, trời làm mất mùa, lũ chuột chỉ sống được bằng số lúa ít ỏi thu được từ vụ thu hoạch. Kho luá dự trữ của chuột đã gần cạn, vì thế vua chuột quyết định nhờ sự giúp đỡ của con người. Nó diện một bộ cánh đẹp đẽ và khởi hành đến cung vua của loài người. Thị vệ bẩm báo có một con chuột đến xin yết kiến, nhà vua lạ lắm liền cho gọi vào.

Vua chuột tiến vào. Nhà vua nói một cách nhã nhặn sau khi nhận được điệu chào hết sức cung kính của vua chuột:

– Xin chào người anh em, tôi có thể giúp gì được đây.

– Kính thưa đức vua – vua chuột đáp – Năm nay mất mùa đói kém, loài chuột chúng tôi sẽ bị đe dọa chết đói vì lương thực dự trữ của chúng tôi đã sắp cạn. Xin ngài hãy cho tôi mượn đủ thóc lúa để qua được mùa đông này. Chúng tôi sẽ hoàn trả cả vốn và lời vào vụ sau.

– À ra vậy! Thế người anh em cần bao nhiêu thóc lúa?

– Chúng tôi cần một trong những kho đầy lúa của ngài.

– Vậy nhà ngươi sẽ mang nó đi bằng cách nào?

– Chúng tôi sẽ có cách ngài yên tâm!

Thế là nhà vua hạ lệnh cho mở một kho thóc lớn của mình. Đêm đó vua chuột cho triệu tập tất cả thần dân lại, mấy ngàn con chuột tràn vào kho thóc. Mỗi con nhặt thật nhiều thóc mang đi bằng tất cả những cách mà chúng có thể như: gậm vào miệng, mang trên lưng hoặc cuộn trong đuôi của chúng.

Sáng hôm sau, nhà vua đến thăm kho thóc và kinh ngạc khi thấy kho thóc sạch trơn, không còn lấy một hạt. Ông đánh giá rất cao khả năng của chuột. Đến vụ sang năm, vua chuột giữ đúng lời hứa, hoàn trả cả vốn lẫn lãi, nhà vua lúc này đã sẵn sàng thừa nhận rằng loài chuột rất đáng tin cậy và thông minh.

Không bao lâu sau đất nước của nhà vua đứng trước nạn bị xâm lược. Quốc gia láng giềng chỉ cách nước ông một con sông là một quốc gia hùng mạnh. Họ nhanh chóng tập hợp một đội quân thiện chiến, hùng hậu đến sát bờ sông chuẩn bị một cuộc tấn công xâm lược. Loài chuột nghe tin, chúng rất buồn vì sợ phải sống với một kẻ trị vì xa lạ và không đồng cảm. Vì thế một lần nữa, vua loài chuột lại đến hoàng cung để đưa ra lời đề nghị giúp đỡ của loài chuột. Dù rất lo lắng nhưng nhà vua cũng cảm thấy thú vị và hỏi làm cách nào mà loài chuột có thể giúp được khi ngay cả ông cũng không thể có đội quân hùng mạnh để xua tan kẻ thù. Vua chuột bảo: “Hãy cứ để việc đó cho tôi”.

Chiều hôm sau, lúc chạng vạng tối, vua chuột dẫn hàng vạn thần dân đến bên bờ sông, ở đấy chúng tìm thấy hàng trăm ngàn chiếc que được xếp thành hàng mà theo lời đề nghị của vua chuột, vua loài người đã đặt ở đó. Loài chuột sử dụng những cái que này như một cái bè để giúp chúng qua sông đến trang trại của quân thù. Toàn bộ doanh trại đang ngủ say. Theo lệnh vua, lũ chuột phân tán khắp doanh trại và bắt đầu hành động. Chúng ra sức cắn phá, gặm nhấm mọi thứ. Chúng cắn những sợi dây cung, phá những dây đeo súng hoa mai của bọn lính, một số khác gặm mòn ngòi nổ, gặm nhấm quần áo tư trang cùng lương thực… Sau vài tiếng đồng hồ, toàn bộ doanh trại của bọn lính bị cắn phá hoang tàn. Theo lệnh vua lũ chuột tập hợp lại và lên những cái que gỗ để trở về bên kia sông một cách an toàn và lặng lẽ.

Sáng hôm sau, bọn lính tỉnh dậy và phát hiện ra tình trạng thảm cảnh của chúng. Tên lính nào cũng bị cắn rách đến tơi tả quần áo, cung không còn dây, súng không có dây đeo và không có một chút nào thức ăn dự trữ cho bữa sáng. Cả doanh trại rơi vào tình trạng náo loạn, ầm ĩ, ai cũng mất bình tĩnh. Bỗng họ nghe thấy tiếng tù và và những tiếng hò reo ở phía bên kia sông. Nghĩ rằng mình sắp bị tấn công nên tất cả binh lính trong doanh trại vắt chân lên cổ mà chạy. Đất nước sạch bóng quân thù!

Vị vua của đất nước những chú chuột rất vui mừng vì chiến thắng đó. Ông đã không phải mất một hòn tên mũi đạn nào, không phải hy sinh một tính mạng nào mà đất nước vẫn giữ được sự bình yên. Nhà vua lập tức cho hiệu triệu vua chuột đến để cảm ơn vì sự giúp đỡ đó. Và theo thỏa thuận lúc trước, nhà vua giúp vua chuột trừ khử hai mối nguy hiểm của loài chuột là lũ lụt và những con mèo. Vua ra lệnh xây dựng một hệ thống đê điều để bảo vệ cho tổ của chuột không bị ngập nước vào mùa mưa. Ngoài ra loài mèo bị trục xuất ra khỏi vương quốc không một ai được phép nuôi mèo. Kể từ đó loài chuột được sống bình yên dưới sự che trở của con người.

Vào một ngày đẹp trời nọ, có một con cáo, một con thỏ và một con cóc đang ngồi nghỉ dưới gốc cây trong rừng. Chúng nói chuyện rất lâu, tranh luận về rất nhiều vấn đề. Cuối cùng chúng tranh luận về đề tài tổ tiên của ai có mặt sớm nhất trên trái đất này.

– Tổ tiên của tôi mới là loài có mặt sớm nhất trên trái đất này, bởi vì tổ tiên của tôi đã sống qua suốt triều đại Hán xa xưa, các bạn có thể nhận thấy điều này qua các điển tích xa xưa. Vì vậy các bạn cần phải thừa nhận dòng họ của tôi trội hơn hẳn bất cứ dòng họ nào trong số các bạn.

Thỏ ngồi xổm và vuốt ve những sợi râu của nó. Ngay khi cáo vừa dứt lời Thỏ đã phá lên cười và nói:

– Bạn kiêu căng quá đấy, giống y như đồng loại của bạn vậy. Các bạn cần phải thừa nhận với tôi rằng trước khi có các triều đại nhà Hán xa xưa thì mặt trăng đã xuất hiện rồi đúng không nào? Nếu các bạn nhìn lên mặt trăng vào một đêm quang đãng nào đấy các bạn sẽ thấy dưới gốc cây quế có một chú thỏ đang giã thuốc trong một cái cối. Đó là tổ tiên lỗi lạc của tôi. Các bạn phải chấp nhận với tôi rằng dòng họ nhà tôi lâu đời và đáng nhớ nhất.

Cáo ngồi im lặng còn Cóc cười đến chảy cả nước mắt, một lúc sau mới đủ điềm tĩnh để kể câu chuyện của mình:

– Từ lâu, trước khi mặt trăng xuất hiện, bầu trời còn đang ở trong cảnh hỗn mang thì đã có ba anh em nhà ếch sống ở đó. Một trong số họ chết vì bị đè nát dưới một trong những cây cột chống trời, một chết khi Pandora làm tan chảy năm hòn đá lớn mà bà dùng để vá kẽ hở của trời, còn người cuối cùng bị giết khi hoàng đế nhà Chu xây dựng cung điện nguy nga của ông ta. Vì thế dòng họ của tôi mới tồn tại lâu nhất. Thật nực cười khi các bạn không biết đến sự tích đó mà vỗ ngực tự hào về dòng họ của mình.

Trong lúc Cóc đang ba hoa, bốc phét về dòng họ tổ tiên của mình thì một con cọp xám âm thầm len vào nhóm. Khi Cóc dứt lời thì Cọp nhẹ nhàng duỗi chân, hất Cóc sang một bên kèm theo cái khịt mũi khinh miệt.

– Ồ, ông Cọp – Cóc nói – chúng tôi không bàn về những chiến công của sức mạnh thưa đức ngài đáng kính. Chúng tôi đang bàn về sự tôn kính.

– Thế thì được rồi, Cọp đáp – Vì ngươi coi thường sức mạnh như thế nên có lẽ ngươi hãy cho ta biết chuyện gì sẽ xảy ra cho nhà ngươi nếu ta đặt chân của ta lên chân của nhà ngươi và giữ trong đó vài giây?

Cóc suy nghĩ một lát rồi trả lời:

– Tôi có thể sống dễ dàng bằng cách nuốt nước bọt vì loài ếch của chúng tôi hiếm khi ăn uống thứ gì khác. Nhưng thưa ngài đáng kính, tôi có thể hỏi lại ngài rằng trong khi ngài giữ chân tôi trong chân ngài thì chuyện gì sẽ sảy ra vì loài cọp khác loài cóc ở chỗ cần nhiều thức ăn hơn là nước bọt. Tôi thực sự lo là ngài sẽ bị chết đói.

Cọp không thể đáp lại lý lẽ này nên nó đành bỏ đi.

Cáo, Thỏ và Cóc chờ cho đến khi Cọp đi khuất hẳn rồi chúng cười phá lên, chúng cười vì đắc ý với câu đối đáp thông minh của Cóc. Khi đã bình tâm lại, tất cả bọn chúng đều đồng ý rằng tốt nhất bây giờ là chúng cần biến nhanh vào rừng trước khi Cọp có thời gian suy nghĩ lại toàn bộ sự việc và quay trở lại để thưởng thức bữa tối tuyệt vời của nó.

Một con Cọp trong rừng đi ra, thấy một anh nông dân cùng con trâu đang cày dưới ruộng. Trâu cặm cụi đi từng bước, lâu lâu lại bị người quất một cái vào mông. Nó thắc mắc tại sao trâu to khoẻ kia lại sợ con người bé nhỏ đến thế. Đến buổi trưa, người cho trâu nghỉ cày nằm dưới gốc cây râm mát. Cọp liền lại gần trâu và hỏi:

– Này anh Trâu, anh to khỏe như vậy, sao lại để cho người đánh đập khổ sở thế?

Trâu khẽ khàng trả lời vào tai Cọp:

– Con người tuy nhỏ bé song họ có trí khôn nên họ có thể điều khiển được tất cả muôn loài.

Cọp không hiểu, tò mò hỏi lại:

– Trí khôn là cái gì? Trông nó ra làm sao?

Trâu không biết giải thích làm sao đành trả lời qua quýt:

– Trí khôn là trí khôn chứ là cái gì nữa! Anh muốn biết rõ thì ra hỏi con người ấy.

Cọp thong thả lại gần chỗ anh nông dân, ôn tồn hỏi:

– Trí khôn của anh đâu, cho tôi xem một tý có được không?

Người nông dân suy nghĩ một lát rồi trả lời:

Người nông dân toan đứng dậy định ra về nhưng làm như sực nhớ ra vấn đề gì đó bèn nói:

– Nhưng nhỡ tôi đi khỏi anh lại ăn thịt mất trâu của tôi thì sao? Hay là anh để tôi buộc tạm anh vào gốc cây này thì tôi mới yên tâm về lấy được.

Cọp ưng thuận, anh nông dân bèn lấy thừng trói cọp vào gốc cây thật chặt. Xong anh nông dân quất roi túi bụi vào đầu và lưng cọp, vừa quất vừa quát:

– Trí khôn của tao đây! Trí khôn của tao đây!

Chưa hả, anh chất rơm chung quanh châm lửa đốt và quát

– Đã thấy trí khôn của tao chưa? Đã thấy trí khôn của tao chưa?

Trâu thấy vậy thích quá, bò lăn ra cười, không may hàm trên va vào đá, răng gãy không còn chiếc nào. Mãi sau lửa cháy làm dây thừng đứt, cọp mới vùng dậy ba chân bốn cẳng chạy thẳng vào rừng không dám ngoảnh đầu nhìn lại.

Từ đó trên mình Cọp con nào cũng có vằn đen, dài vốn là dấu tích của những vết cháy, còn trâu con nào cũng không có răng ở hàm trên do ngày xưa cười va vào đá gãy hết.

Ngày xưa trong khu rừng già nọ, có một con diều hâu luôn luôn huênh hoang, hợm hĩnh. Nó tự coi mình là chúa tể của muôn loài chim, tự hào về sức khoẻ vô địch của nó.

Một hôm diều hâu tập hợp tất cả các loài chim lại và lên giọng thách thức:

– Hỡi các loài chim, trong các ngươi có kẻ nào dám đọ sức kêu to, ăn nhiều bay cao cùng ta không?

Cả bầy chim sợ hãi nhìn nhau, không con nào dám ho he lấy một tiếng. Thấy thế diều hâu càng được thể. Lúc bấy giờ một chú chích chòe nhã nhặn lên tiếng:

– Bác diều hâu ơi! Thi ăn nhiều, kêu to với bác thì chúng em không dám. Nhưng thi bay cao với bác thì em cũng xin thử một lần xem sao.

Cả loài chim sửng sốt quay lại nhìn chích choè. Diều hâu cũng ngạc nhiên không kém vì lại có một con chim nhỏ dám so tài cùng với mình. Chích choè không hề nao núng. Cuộc thi bắt đầu trước sự chứng kiến của các loài chim.

Diều hâu vỗ cánh bay cao. Khi bay cao hơn cả các ngọn cây cao nhất, diều hâu cất tiếng gọi:

– Ê này Chích choè, chú mày đang ở đâu rồi, có bay kịp ta không?

– Em đây, bác cứ yên tâm, em không bỏ cuộc đâu!

Diều hâu lại cố sức bay cao hơn, khi bay cao hơn cả những đỉnh núi quanh năm mấy phủ, diều hâu lại cất tiếng gọi:

– Thế nào, Chích choè, vẫn theo kịp ta đấy chứ.

Chích choè lại bay lên cao:

– Vâng, em vẫn theo kịp bác đây. Bác mệt mỏi rồi hay sao mà bay chậm thế?

Diều hâu nói hổn hển rồi tiếp tục bay ngược lên cao, cao mãi. Lần này diều hâu ở trên cả những đám mây trắng xoá. Nó tin là chích choè chẳng thể nào bay lên tầng cao này được. Đôi cánh mỏi rã rời, bải hoải, cổ và đầu nặng chĩu, mắt hoa lên, diều hâu nói chẳng ra hơi:

– Chích choè chịu thua ta rồi đấy!

– Chưa đâu em vẫn ở trên đầu bác đấy thôi.

Diều hâu lại cố sức bay lên, chẳng nhẽ mang tiếng là chúa tể của loài chim lại thua con chim bé tẹo kia sao. Diều hâu cố rướn những sức tàn còn lại của nó nhưng không được nữa rồi, nó tắt thở và rơi bịch xuống đất. Khi đấy chích choè chỉ còn mỗi việc xoè cánh ra từ từ hạ xuống trước sự ngạc nhiên của cả bầy chim. Chúng không thể hiểu được tại sao chích choè lại có thể thắng được diều hâu vốn bay cao là thế.

Duy chỉ có mỗi con sẻ non là nhìn thấy lúc bắt đầu cuộc thi chích chòe đã đậu lên lưng diều hâu, diều hâu mất công chở chích choè mà không biết. Mỗi lần diều hâu cất tiếng hỏi thì chích choè chỉ việc bay lên trả lời, thành ra nó chẳng mất tí sức nào.

Bằng trí thông minh, lòng dũng cảm, chích choè đã thắng được diều hâu kiêu ngạo to lớn hơn gấp nó trăm lần.

Ngày xửa ngày xưa, trong khu rừng rậm của dãy núi cao kia có con voi trắng. Nó sống đã rất nhiều năm và có một đôi ngà dài cong vút. Hơn nữa voi trắng lại rất thông minh và tốt bụng. Nó nghĩ rằng điều xấu sẽ nảy sinh điều xấu thế nên nó đối xử rất tốt với tất cả muôn thú. Vì thế cho nên tất cả muôn thú đều yêu quý tin tưởng voi, có chuyện gì xảy ra chúng đều hỏi ý kiến voi, nhờ voi dàn xếp. Nhũng lúc như thế, voi trắng vừa là vị quan toà công minh chính trực, vừa là người bạn, người anh tâm tình. Nó giúp đỡ những ai cần đến nó một cách nhiệt tình nên trong rừng muông thú trìu mến gọi nó bằng cái tên “Vị vua tốt bụng của loài voi”.

Một hôm, có một người đàn ông bị lạc trong khu rừng rậm. Giữa những cây cổ thụ bạt ngàn, giữa những dây leo chằng chịt, ông ta không thể xác định được phương hướng nên ông ta rất sợ hãi và hoảng loạn. Ông ta gào thét đến điên cuồng, tuyệt vọng đến cùng cực. Chẳng ai nghe thấy tiếng gọi của ông ta. Duy chỉ có con voi trắng đang đứng gần đấy nghe được, nó bước lại gần chỗ người đàn ông. Người đàn ông nhìn thấy con voi trắng to lừng lững thì vô cùng hoảng sợ định bỏ chạy. Chợt con voi cất tiếng nói:

– Tại sao ông lại kêu khóc?

Thấy con voi hiền lành chỉ đứng nhìn mình mà không tiến lại gần, người đàn ông bình tĩnh, một lát trả lời:

– Tôi bị lạc trong rừng, không thể nào tìm đường ra được. Tôi không muốn phải chết ở đây.

– Đừng sợ, tôi sẽ đưa ông ra khỏi rừng, ông sẽ về được nhà.

Nói rồi voi thận trọng cuốn lấy người đàn ông đặt ngồi ngay ngắn trên lưng mình rồi cất bước ra khỏi rừng. Người đàn ông vững dạ yên tâm ngồi trên lưng voi và biết rằng mình sẽ về nhà. Trong đầu ông ta nảy sinh ý định xấu xa: “Ta sẽ kể chuyện này cho mọi người nghe”.

Thế rồi hắn quan sát rất kỹ đường đi, cố gắng để nhớ lối trở lại. Ra đến đường lớn, voi đặt người đàn ông xuống đất và nói:

– Đến đây thì ông có thể tự về một mình được rồi. Băng qua hết cánh đồng này sẽ đến làng của ông. Ông hãy đi đi và xin hãy giữ kín chuyện này cho.

Đặt chân xuống đất, người đàn ông chạy thẳng một mạch trở về không một lời cảm ơn. Ông ta đến nhà người thợ gia công nhà voi và hỏi:

– Các anh sẽ trả tôi bao nhiêu tiền nếu tôi đem đến cho các anh bộ ngà voi của con voi sống không?

– Lấy đâu được ngà của con voi trắng bây giờ? Nếu có, ông hãy đem đến đây, chúng tôi sẽ không để cho ông thiệt đâu. Một bộ ngà voi sống đắt gấp mấy lần ngà voi chết đấy!

Nghe vậy, người đàn ông quay bước đi. Ông ta về nhà lấy cái cưa và lần theo dấu vết tìm đến khu rừng nơi có con voi trắng sinh sống. Thấy hắn, voi ngạc nhiên hỏi:

– Sao ông quay lại nơi này làm gì? Có chuyện gì xảy ra chăng? Voi trắng hỏi.

– Đúng thế, hỡi voi yêu quý! Tôi rất nghèo đói, chẳng có gì để ăn cả. Voi hãy cho tôi một chiếc ngà, tôi sẽ bán nó lấy tiền sinh sống.

Sững sờ trước lời đề nghị thô thiển ấy, voi không thể nói được gì. Một lát, voi bảo:

– Thôi được tôi sẽ cho ông một chiếc ngà.

Voi quỳ uống cho người đàn ông cưa một bên ngà của mình. Vẫn chưa thoả mãn với chiếc ngà có được, hắn muốn lấy nốt bên kia:

– Voi yêu quý! Một chiếc ngà đi còn một chiếc ngà ở lại, hẳn nó sẽ không vui. Hay cho ta nốt chiếc ngà kia đi để ta không phải trở lại lần thứ hai để xin chiếc ngà con lại.

Lòng tham vô đáy của người đàn ông làm cho con voi vô cùng ngạc nhiên. Nhưng bản tính tốt bụng, lại không muốn gặp lại con người tham lam này lần nữa, voi đồng ý và nói với người đàn ông với một giọng nghiêm trang:

– Tôi rất quý bộ ngà của mình. Nhưng nếu ông cần để ông thoát khỏi cuộc sống đói nghèo thì ông hãy nhận lấy. Hãy sống xứng đáng với những gì ông đã được nhận.

Chẳng buồn nói một lời cảm ơn, người đàn ông cầm đôi ngà vội vã bỏ đi. Hắn bán được một số tiền khá lớn. Tuy nhiên tiền không do sức lao động bỏ ra mà có được nên hắn không biết quý giá trị của đồng tiền, ăn tiêu phung phí, rồi chẳng mấy chốc mà hết. Hắn lại tìm đến voi trắng tốt bụng.

– Voi yêu quý, ta bán ngà được một số tiền ít ỏi, chẳng đủ dùng, nay đã hết rồi. Ta sắp chết đói. Voi hãy cho ta đôi chân ngà để ta có tiền sinh sống.

Voi cũng bằng lòng mặc dù trong bụng không vui. Thôi thì đã giúp thì giúp cho trọn. Lấy được đôi chân ngà, con người đê tiện đấy ấy vui mừng trở về, trong lòng nhẩm tính số tiền sẽ bán được.

Voi trắng rất buồn lòng vì sự thiếu tôn trọng của người đàn ông kia. “Ta đã hết lòng giúp đỡ người đàn ông kia vậy mà một lời cảm ơn hắn cũng không nói được. Không sao. Ông ta sẽ phải gánh chịu hậu quả của những việc làm bất nghia đó”.

Và đất mẹ của chúng ta, người chịu được những trận cuồng phong, đại hồng thuỷ, những trận động đất núi lửa lại không thể chịu được sự tham lam, độc ác, đê tiện của người đàn ông kia. Đất mẹ đã nứt ra vùi tên đê tiện đó vào sâu trong lòng dất. Đáng đời con người tham lam, trơ trẽn!

Ngày xưa, trong ngôi nhà nọ, có một con mèo sống một mình. Nó cảm thấy rất buồn, muốn kết bạn với một ai đó. Gần đấy có một chú chuột, thế là nó gạ gẫm chuột chơi với nó. Nghe meo kể lể, tâm tình, chuột đồng ý ăn ở chung với mèo.

– Mùa đông giá lạnh, ta khó có thể đi kiếm được thức ăn. Chi bằng bây giờ, hai chúng ta tích trữ một ít lương thực, phòng cho những lúc đói kém đó.

Chuột nghe mèo nói vậy thì đồng ý. Chúng bàn nhau mua một niêu mỡ thật to nhưng lại không biết giấu ở đâu. Cuối cùng chúng quyết định đem đến nhà thờ, giấu ở đó vì không ai dám lấy đồ ở nhà thờ. Chúng hứa với nhau, nếu chưa thật cần mỡ thì không rờ đến.

Chẳng bao lâu, mèo ta thèm mỡ, nói với chuột:

– Chú chuột này, ta có một người chị họ mới sinh một chú mèo con rất xinh. Họ mời ta đến dự lễ thánh và đặt tên cho cháu. Chú hãy ở nhà cẩn thận trông nhà, tối ta sẽ về.

Nhũng lời mèo nói là hoàn toàn dối trá. Nó đi thẳng một mạch đến nhà thờ, lén lấy niêu mỡ chén no nê rồi chùi mép thật sạch. Ăn xong nó dạo chơi trên các nóc nhà, nhìn ngó lung tung rồi nằm ườn ra sưởi nắng. Mãi đến chiều tối nó mới trở về nhà.

– Thế nào anh đã về rồi đấy à? Chuột đon đả chào đón. Thế anh đặt tên cháu là gì? Anh có quà cho em không?

– Ôi làm gì cho quà gì, chỉ là một buổi lễ đơn giản thôi.

– Thế anh đặt tên cháu là gì?

– Sao cái tên lại lạ thế?

– À, đối với họ mèo chúng ta, tên đấy rất hay. Chẳng có gì lạ cả.

Một thời gian sau, mèo lại nổi cơn thèm mỡ và nói với chuột rằng:

Chuột tốt bụng nhận lời. Mèo ta lại tiến thẳng đến nhà thờ, ăn hết một nửa niêu mỡ rồi chùi mép thật sạch. Nó nghĩ: “Không gì ngon bằng ăn một mình”. Nó lấy làm khoái trá đi dạo mát khắt nơi, mãi đến chiều nó mới quay về nhà. Thấy mèo, chuột hỏi:

– Anh đặt tên cho cháu là gì?

– “Hết một nửa” – Mèo đáp.

– Sao lại là “Hết một nửa”. Từ bé đến giờ em chưa thấy ai có cái tên buồn cười đến thế!

– Chú mày thật ngóc nghếch. Cái tên đó rất đẹp, hiểu chưa? Mèo vùng vằng đáp.

Ít lâu sau, cơn thèm mỡ lại nổi lên, nó lại thẽ thọt bảo chuột:

Chuột lại ngoan ngoãn nghe lời, trong lòng nó chẳng chút nghi ngờ. Mèo đi vắng, nó ở nhà dọn dẹp nhà cửa, trông nom cẩn thận và chờ mèo đi dự lễ về.

Mèo chẳng đi dự lễ thánh nào cả. Ra khỏi nhà nó lại thẳng tiến đến nhà thờ. Lần này nó chén bằng sạch niêu mỡ, nó ăn no nê, và mãi nửa đêm mới mò về.

– Anh đặt tên cháu là gì? Chuột lại hỏi

– “Hết sạch” – Mèo đáp.

– “Hết sạch” à? Một cái tên quá lạ lùng. Em không hiểu tại sao họ mèo nhà anh lại đặt những cái tên buồn cười đến thế.

– Đấy là cái tên đẹp – Mèo cãi – Tại chú chỉ suốt ngày ru rú trong xó nhà nên không hiểu biết đấy thôi.

Chuột không thắc mắc gì nữa. Từ đó trở đi chẳng thấy ai đến mời mèo đi dự lễ thánh và đặt tên cho mèo con nữa. Mùa đông đến, tuyết rơi trắng xoá, không thể kiếm ăn được nữa, chuột mới nghi đến thức ăn để dành.

– Anh mèo ơi, ta đi lấy niêu mỡ để dành đi, chắc ngon lắm.

– Được, hẳn chú mày sẽ thấy ngon như thể lưỡi liếm không khí ấy mà – Mèo đáp đủng đỉnh.

Thế rồi cả hai đến nhà thờ, niêu mỡ vẫn còn đó nhưng ở trong thì rỗng tuếch, chẳng còn lấy một giọt. Chuột chợt hiểu ra:

– Thì ra là thế. Bây giờ tôi đã hiểu. Anh đã đánh chén hết. Anh làm cha đỡ đầu thế đấy, lần đầu là “liếm sạch lông”, lần thứ hai là “hết một nửa”, rồi…

– Câm mồm ngay nếu không tao sẽ ăn thịt mày đấy!

Chuột không kịp kìm hai tiếng “hết sạch”. Vừa nói xong mèo đã nhảy vào vồ nó, nuốt chửng. Tình bạn giữa mèo và chuột là thế đấy.

Ngày xửa, ngày xưa có hai ông bà lão sống với nhau trong căn nhà tranh nhỏ cu kỹ ở ven một rừng già, rộng lớn. Hàng ngày, họ cùng nhau dạo chơi trong vườn, buổi tối ngồi bên bếp lửa chuyện trò. Họ sống cuộc sống thanh bình, yên ả. Mỗi khi nói chuyện phiếm với nhau, bà lão thường nói:

– Chúng ta có căn nhà, chúng ta có khu vườn, chúng ta thấy hạnh phúc. Nhưng chúng ta có một nỗi sợ hãi. Chúng ta không sợ tiếng sấm, không sợ chớp, thậm chí không sợ ma quỉ. Nhưng chúng ta sợ Leo biết bao. Leo là mối lo sợ nhất của chúng ta.

Bà lão vừa nói, vừa lắc lư thân người. Còn ông lão thì không bao giờ biết Leo mà bà lão nói đến là cái gì.

Bên ngoài, bóng đêm bao phủ toàn bộ ngôi nhà. Muông thú đang đi kiếm ăn trong rừng. Hai vợ chồng già không hề biết rằng trong khi họ đang nói chuyện có một con cọp đang ẩn nấp bên ngoài nhà của họ, cũng như không biết có một tên trộm cũng đang ẩn nấp gần đó.

Cọp lắng nghe những gì hai vợ chồng già nói với nhau. Khi nghe bà lão nói đến nỗi sợ lớn nhất là con Leo khủng khiếp thì nó rất ngạc nhiên. Nó vốn xưa nay là chúa sơn lâm, chẳng biết sợ hãi là gì. Nhưng nó chẳng hề biết con Leo như thế nào mà bà cụ lại sợ đến thế, chắc là nó kinh khủng lắm. Cọp bắt đầu thấy sợ.

Lúc bấy giờ tên trộm đang rình mò trong bóng tồi chờ thời cơ để ăn cắp con bò của ông lão. Hắn tiến lại gần nhà hơn. Bất thình lình tên trôm thấy có con gì đang bò trong bóng tối ( đó là lúc con cọp tiến lại gần ngôi nhà để nghe vợ chồng ông lão nói chuyện rõ hơn). Tên trộm tưởng là con bò của ông lão thế nên tiến lại gần, đưa tay ra bắt nó. Thay vì một con bò, tên trộm lại chạm tay phải con cọp. Quá sợ hãi, tên trộm cố leo thật nhanh lên mái nhà trong màn đêm để trốn cọp.

Tất cả những chuyện như vậy xảy ra khi cọp đang lắng nghe và tự hỏi: nếu bây giờ gặp con leo nó sẽ làm gì. Rồi bỗng thình lình nó nhìn thấy một hình dáng lạ đang leo mái nhà và nó nghĩ: “Chắc là con leo mà ông bà lão rất sợ. Ta phải chuồn ngay thôi”. Nó vội bỏ đi để tránh con leo.

Cọp vừa đi vừa khiếp sợ, ra tới bìa rừng nó gặp một con Hươu. Cọp nói với con Hươu về Leo và rằng nó đã nhìn thấy Leo trèo lên mái nhà như thế nào. Con Hươu lấy làm ngạc nhiên và run sợ khi nghe nói đến con Leo. Trong cơn hoảng hốt, nó nói:

– Trời ơi, ai có thể giúp tôi thoát khỏi con Leo khủng khiếp bây giờ?

Khi đó cọp tỏ ra rất khôn ngoan và dũng cảm:

– Hãy đến với ta, chú hươu nhỏ bé, ta sẽ bảo vệ chú. Hãy cột đuôi của chú vào đuôi ta, chúng ta sẽ yên tâm hơn khi gặp con leo.

Thế rồi chúng buộc đuôi vào nhau, yên tâm quay lại nấp sau căn nhà. Ngay khi đó một nhành cây bị gãy rơi rầm xuống. Tên trộm đang nấp trên mái nhà sợ quá đến nỗi gần như hắn nhảy từ trên mái nhà xuống, rơi gần con Hươu. Con Hươu sợ hãi cố chạy thoát thân, gắng hết sức kéo cái đuôi của nó trong khi Cọp cũng ra sức kéo theo hướng ngược lại.

Phịch – Đuôi của Hươu bất ngờ bị đứt ra. Tên trộm chạy một mạch trở về nhà, Hươu cố chạy vào rừng, Cọp cũng chạy vào rừng theo những hướng khác nhau. Cái đuôi bị đứt của Hươu bị cuốn và đuôi Cọp và theo Cọp biến mất vào khu rừng tối.

Hai ông bà lão vẫn ngồi nói chuyện với nhau về con leo mà không hề biết chuyện gì đã xảy ra ở bên ngoài. Và cho đến tận bây giờ, chẳng ai biết con leo khủng khiếp đấy là con gì.

Ngày xửa ngày xưa ở vương quốc nọ có một ông vua nổi tiếng là tài giỏi, không iệc gì là vua không biết. Nhà vua có một thói quen kỳ lạ là cứ sau bữa ăn trưa, không còn ai nữa thì một người hầu tin cẩn bưng lên cho ngài một cái bát nhỏ. Ngay đến cả người hầu cũng không biết trong bát có cái gì. Và cũng chẳng ai biết vì nhà vua đợi đến khi mọi người đi hết mới mở ra ăn.

Một hôm, do tò mò quá, không kìm chế được, người hầu bê cái bát về phòng mình, chốt cửa thật chặt và mở ra xem. Trong bát có một con lươn màu trắng. Anh cắt một miếng ăn thử, chưa kịp nuốt xuống bụng đã nghe thấy ở bên ngoài có tiếng nói rì rào là lạ. Lắng tai nghe anh người hầu nhận thấy lũ chim sâu đang nói chuyện với nhau. Thì ra vì ăn miếng thịt lươn mà anh người hầu hiểu được tiếng nói của muôn loài vật.

Đúng ngày hôm đó, công chúa bị mất chiếc nhẫn rất quý. Nàng khóc lóc ầm ĩ và nghi cho anh người hầu lấy mất. Nhà vua gọi anh đến mắng cho một trận và ra hẹn đến ngày hôm sau phải tìm ra chiếc nhẫn nếu không anh người hầu sẽ bị chém đầu. Buồn bã anh người hầu ra sân ngồi nghĩ xem có cách nào không. Bỗng anh nghe thấy đàn ngỗng nói chuyện với nhau. Một con trong đàn nói:

– Từ sáng đến giờ bụng tao ấm ách khó chịu quá. Sáng nay trong lúc vội vã tao đã nuốt phải cái nhẫn rơi ở dưới cửa sổ của công chúa.

Nghe vậy, anh nười hầu mừng quá, tóm ngay cổ con ngỗng vừa nói mang vào nhà bếp bảo:

Người đầu bếp thịt con ngỗng, còn anh người hầu thì tìm được cái nhẫn trong mề ngỗng và minh oan cho mình. Chán ngán không muốn ở lại hoàng cung toàn điều rắc rối, anh người hầu xin vua một con ngựa và một ít tiền lên đường chu du thiên hạ.

Một hôm anh đi qua một cái hồ nước, thấy con cá chép mắc lưới, đang thoi thóp thở. Vốn từ tâm, anh xuống ngựa gỡ cá ra khỏi lưới thả xuống nước. Cá vui mừng quẫy đuôi, thò đầu lên tạ ơn:

– Cám ơn ân nhân, thế nào tôi cũng sẽ trả ơn này.

Anh lại tiếp tục dong duổi ra đi, đến một bãi cỏ ven đường, anh nghe thấy kiến chúa than vãn:

– Giá con người đừng để những con vật thô lỗ này đụng đến mình thì tốt quá. Cái con ngựa này sắp sửa dẫm nát chúng ta mất rồi.

Anh bèn cho ngựa tránh sang bên đường. Kiến chúa bảo:

– Cám ơn ân nhân, có dịp chúng tôi sẽ trả ơn này.

Đi ngang qua một khu rừng, anh thấy bố mẹ diều hâu đang vứt lũ diều hâu con xuống đất:

– Hãy cút đi, bay đi mà tự kiếm ăn, chúng tao không thể nuôi báo cô bọn mày được nữa.

Tội nghiệp lũ chim non vẫn chưa đủ lông đủ cánh mà bay lên được, chúng nằm xõng xoài dưới đất chờ chết. Anh người hầu xuống ngựa, rút gươm chém chết ngựa, lấy thịt cho lũ diều hâu con ăn. Chim con ăn no nê rồi gọi:

– Cám ơn ân nhân, chúng tôi sẽ trả cái ơn này.

Mất ngựa, anh đi bộ mãi, đi mãi đến một thị trấn lớn, người ngựa đông đúc. Nhân dân trong thị trấn đổ xô ra nghe lính trong cung đến báo tin công chúa kén chồng, ai muốn lấy công chúa thì phải làm những việc rất khó, không làm được sẽ bị chém đầu. Đã có nhiều người thử sức nhưng đều bị toi mạng.

Anh người hầu thấy công chúa xinh đẹp như tiên giáng trần thì mê mẩn cả người, quên hết hiểm nguy xin vào thử sức. Người ta đưa anh ra bể, vứt một chiếc nhẫn kim cương xuống nước. Nhà vua phán rằng:

– Ngươi phải xuống bể, mò lên cho ta chiếc nhẫn kim cương. Nếu lên tay không thì sẽ bị ném xuống bể cho cá mập ăn thịt.

Mọi người đều tiếc cho chàng thanh niên đẹp trai. Còn chàng trai thì ngồi thừ bên bờ biển nghĩ xem có cách nào mò được chiếc nhẫn kia lên không. Bỗng anh nhìn thấy con cá chép mà mình đã từng cứu sống bơi lại, nhả ra chiếc nhẫn kim cương. Anh vui mừng đến dâng vua, tưởng nhà vua sẽ gả công chúa cho mình. Nào ngờ công chúa không đồng ý, bắt anh phải làm việc khó thứ hai. Nàng sai gia nhân rắc ba bịch kê ra khắp cánh đồng và bảo:

– Từ giờ đến sáng mai, trước khi mặt rời mọc anh phải nhặt cho hết chỗ kê này mà không được thiếu một hạt.

Anh người hầu ngồi nghĩ nát óc xem có cách nào nhặt hết được số hạt kê đó không và buồn rầu nghĩ chắc là mình phải chết rồi. Làm sao có thể nhặt được kê trên cánh đồng rộng lớn thế cơ chứ. Bình minh ló rạng, anh người hầu ngạc nhiên thấy ba bịch kê đầy ắp xếp cạnh nhau. Thì ra đêm ấy, kiến chúa huy động hàng vạn quân đến, chúng cần mẫn nhặt hết kê để trả ơn anh người hầu.

Công chúa đích thân xuống kiểm tra và rất ngạc nhiên thấy anh thanh niên đã làm xong công việc được giao. Nhưng nàng vẫn chưa thôi đỏng đảnh, nói:

– Ta chỉ lấy anh nếu anh đem về cho ta quả táo trường sinh.

Chẳng biết cây táo trường sinh nó mọc ở đâu nhưng anh người hầu cũng phải nhắm mắt ra đi. Anh lang thang đến một khu rừng, mệt mỏi, buồn chán, anh ngồi nghỉ bên một gốc cây than vãn. Bỗng trên cây có tiếng lá lao xao, và một rái táo chín đỏ rơi vào t ay anh. Cùng lúc đó, ba con chim diều hâu bay đến đậu vào vai anh nói:

– Ba anh em tôi là ba con chim non mà ân nhân đã cứu khỏi chết đói. Nay chúng tôi đã lớn. Nghe tin ân nhân cần quả táo trường sinh, ba anh em tôi đã vượt bể đến tận cùng thế giới để mang về. Mong ân nhân hãy nhận lấy trái táo này.

Anh chàng vui lắm, mang táo về dâng công chúa xinh đẹp. Nàng công chúa xinh đẹp không còn lý do gì để từ chối chàng người hầu nữa, nàngđem cắt đôi quả táo để hai người cùng ăn. Lòng nàng bỗng tràn ngập tình yêu với anh người hầu. Họ cưới nhau sống cuộc sống hạnh phúc. Về sau nhà vua truyền ngôi lại cho vợ chồng công chúa và từ đó anh người hầu trở thành một vị vua nổi tiếng là tài giỏi và nhân từ.

Trong một khu rừng rậm, có một con cọp con đang nhảy tung tăng, nó vui sướng đùa nghịch vì mẹ nó đang ngủ nên không cấm nó được. Thế rồi bỗng dưng trời tối xầm lại, sấm chớp ầm ầm, mưa như trút nước. Cọp con hoảng sợ núp sau một tảng đá, gọi mẹ thảm thiết. Nhưng nó đã ở cách xa mẹ quá rồi nên mẹ nó không thể nào nghe được. Dần dần, nó quen với bóng tối và lần mò đi tìm một cái hang để ngủ. Nó tìm thấy một cái hang của heo rừng, heo mẹ đang cho heo con bú.

Ngửi thấy mùi cọp, heo mẹ định xông tới giết chết cọp con để bảo vệ con mình. Nhưng khi nhìn thấy con vật bé nhỏ ướt át tội nghiệp đang run lên vì lạnh và đói thì nó thương tình bỏ qua. Heo mẹ liếm lông cho cọp, cho cọp bú sữa mình, coi như con đẻ của mình vậy.

Thời gian cứ trôi đi cọp con sống và cùng lớn lên với heo con. Chúng coi nhau như anh em ruột, yêu thương nhau hết lòng. Nhưng than ôi, điều bất hạnh nhất đã xảy ra. Con cọp cái đã vồ được heo mẹ và ăn thịt mất. Cọp con và heo con bằng hết sức bình sinh xông vào giết chết cọp cái. Chúng lấy làm buồn rầu không hiểu tại sao tạo hoá lại cứ bắt các con vật phải ghét bỏ nhau và giết hại lẫn nhau. Cảm thông trước tình cảm chân thành của hai con vật, một vị thần đá biến chúng thành hai chàng trai đẹp đẽ khỏe mạnh tên là Hali và Comvi. Vị thần ban cho hai chàng một thanh gươm và một đoá sen. Thần phán:

– Các con yêu quý của ta! Ta ban cho các con phép lạ vì ta thấy quý tấm lòng chân thành của các con. Nếu các con ngay thẳng thì không ai có thể đánh bại được bởi vì ta đã đặt linh hồn các con vào thanh gươm này. Còn đóa sen kia, nếu nó héo đi thì có nghĩa là một trong hai con đã gặp tai họa. Hãy lên đường và nhớ bảo trọng.

Hai chàng trai cảm tạ vị thần cao cả rồi lên đường. Họ đi mãi, đi mãi cho đến khi đến một thành phố ven hồ, họ vốc nước rửa mặt thì xuất hiện một con ác quỷ. Hai chàng đánh nhau với ác quỷ ba ngày ba đêm thì ác quỷ bị giết. Comvi dùng gươm thần giết chết quỷ nên được nhà vua hết sức khen ngợi và gả công chúa cho.

Còn Hali tiếp tục lên đường. Chàng đến một thành phố có rất nhiều của cải nhưng hoang vắng, lạnh lẽo. Hali rất ngạc nhiên. Chàng vào hoàng cung thấy có một cái trống to, gõ mà không lên tiếng. Chàng bèn đâm thủng cái trống và từ trong bước ra một cô gái xinh đẹp. Cô chính là công chúa của đất nước này. Một bầy ác điểu đã bay đến đập phá thành phố này. Đức vua và hoàng hậu chỉ kịp dấu nàng vào cái trống này trước khi chạy trốn. Khi công chúa kể chuyện thì bọn ác điểu đã bay ngay trên đầu. Hali rút gươm ra chém chết lũ chim độc ác đó.

Chàng cùng công chúa đi tìm đức vua, hoàng hậu và đám quần thần mà mãi không thấy. Mệt quá họ ngồi nghỉ bên một gốc cây thì có một bà cụ già thất thểu đến xin nước uống. Họ cho bà cụ nước uống, đồ ăn mà không hề biết rằng bà cụ chính là mụ phù thuỷ mà vua nước láng giềng sai sang đây để tìm cách bắt công chúa. Thế là đêm đến, khi mọi người ngủ say, mụ phù thuỷ lén lấy thanh gươm của Hali cho vào lửa rồi bắt cóc nàng công chúa đưa về nước mình. Hali bị mụ phù thuỷ cho uống thuốc mê nên nằm ngủ mê mệt bên cạnh đống lửa không biết gì.

Vị thần tốt bụng ở trên cao biết hết mọi việc bèn hóa đám mưa làm tắt bếp lửa bảo vệ gươm thần. Cùng hôm đó đóa sen của Com-vi héo úa, chàng biết rằng bạn mình đang gặp nạn và chàng lập tức lên đường đi giải cứu cho bạn.

Đến thành phố hoang vắng, Com-vi thấy bạn mình đang nằm bên bếp lửa còn thanh gươm thì đen kịt. Chàng giúp Hali hồi tỉnh, rồi cả hai lên đường sang quốc gia láng giềng tìm công chúa.

Com-vi đóng giả làm thầy tu còn Hali tàng hình không ai thấy, Đến hoàng cung của tên vua bất lương, Com-vi dâng nhà vua chén rượu anh đào thật ngon. Uống xong nhà vua rất thích thú hẹn thầy tu sáng mai trở lại giúp nhà vua làm lễ tế thần linh. Đúng hẹn, Com-vi quay trở lại và nhằm lúc nhà vua sơ hở chàng đã dùng gươm thần đâm chết tên vua độc ác đó. Hali trở lại nguyên hình mặc y phục của nhà vua đến nhà lao giải cứu công chúa. Họ gặp nhau hết sức vui sướng và cùng nhau tổ chức một đám cưới linh đình.

Những người già trong làng kể chuyện rằng; ngày xưa có một con quỷ chuyên môn đi hút máu người. Chúng thường nấp ở những bụi cây ven rừng, chờ có người đi qua liền nhảy ra cắn vào cổ người ta hút máu. Ai cũng kinh sợ con quỷ này.

Ở làng kia có một người đàn bà góa sống cùng với ba đứa con xin xắn. Con quỷ rất thèm hút máu ba đứa trẻ này nhưng không biết làm thế nào vì ba đứa trẻ rất ngoan, chúng chỉ chơi ở trong nhà thôi. Thế là quỷ bèn nghĩ kế.

Một đêm nó giả dạng một người đàn ông lần đến nhà bà góa. Nói rằng:

Nói đoạn anh ta đưa cá, muối, gạo ra cho người đàn bà. Cả nhà chẳng một ai nghi ngờ. Vài này sau con quỷ đến nhà. Lần này hắn đem đến những chuỗi hạt cườm, vàng bạc xin lấy người đàn bà góa làm vợ.

Từ đó có thêm một người đàn ông trong nhà, ông ta giúp người đàn bà kia được rất nhiều việc nhưng chẳng hiểu sao không bao giờ người đàn ông mở miệng ra nói một lời nào với ba đứa trẻ.

Một hôm con quỷ nói với vợ rằng nó muốn đem đứa lớn vào rừng để dạy nó cách đan bồ, thằng bé cũng đã lớn rồi cần phải học cách làm việc. Bà mẹ đồng ý. Thế là con quỷ dẫn thằng bé vào rừng, chặt nứa đan bồ. Đến trưa con quỷ bảo thằng bé chui thử vào bồ xem có vừa không. Thế là nó chụp cái bồ lên đầu thằng bé và nhốt trong đó. Quỷ cắn cổ thằng bé hút máu no nê.

Buổi chiều thấy chồng trở về có một mình, chị vợ hỏi con đâu, ông chồng giả bộ mệt mỏi, đau khổ nói:

– Nó mải chơi nên bị lạc trong rừng. Tôi tìm nó suốt từ sáng đến giờ mà không thấy. Chắc nó bị thú rừng ăn thịt rồi.

Chị vợ nghe xong khóc lóc thảm thiết vì thương con.

Mấy ngày sau, quỷ lại dẫn đứa thứ hai vào rừng và ăn thịt nó như đứa thứ nhất rồi trở về nhà một mình. Nghe vợ hỏi quỷ lại tìm cách nói dối:

– Thằng bé đi đường gặp dòng suối mát, nó nhảy xuống tắm rồi bị nước cuốn trôi đi mất rồi.

Người đàn bà thương con khóc ngất mấy hôm liền.

Mấy hôm sau, quỷ lại dẫn đứa thứ ba vào rừng. Chị vợ sinh nghi liền nhẹ nhàng đi theo đằng sau. Vào đến rừng chị núp sau một lùm cây nhìn chồng và con đan bồ. Đến trưa thì chị nhìn thấy chồng chụp bồ lên đầu đứa con và hút máu nó như các anh của nó. Chị rụng rời chân tay sợ quá mà không dám khóc sợ quỷ nghe thấy. Thế rồi chị hoảng hốt chạy về nhà, vừa đi vừa khóc.

Dọc đường về qua gốc cây đa cổ thụ, chị nhìn thấy một ông cụ râu tóc bạc phơ đang ngồi nghỉ. Thấy chị vừa đi vừa khóc ông cụ hỏi:

– Tại sao con lại khóc, đừng sợ hãy kể ta nghe xem ta có giúp được gì cho con không? Ta là thần cây đa Pọ Đàr đây.

Người đàn bà nức nở kể lại toàn bộ câu chuyện cho thần nghe. Thần cây đa nghe xong nói:

– Đây là con quỷ chuyên ăn thịt người, muốn giết nó phải dùng mẹo mới được.

Thế rồi thần bày mưu kế cho người đàn bà. Người đàn bà về nhà cố giữ gương mặt bình tĩnh. Đến tối, con quỷ về nhà một mình, chưa đợi vợ hỏi nó đã huyên thuyên:

– Thằng bé mải chơi, bị lạc trong rừng.

Người vợ nhìn chồng thốt lên:

– Kìa mặt anh có vết máu, anh đi rửa mặt đi, em xối nước cho.

Con quỷ nghe nói mặt mình có vết máu thì giật mình lo sợ, để cho người vợ xối nước rửa mặt cho. Chị vợ trút một bầu nước ớt vào mặt quỷ. Quỷ bị nước ớt chảy vào mắt cay xè, không làm sao mở mắt ra được. Ngay lúc đấy, người vợ cầm xà gạc sắc chém vào cổ con quỷ. Nó rú lên đau đớn và ngã vật ra chết.

Ngày xửa ngày xưa, có một cô gái mồ côi nghèo khổ phải đi ở cho tên nhà giàu trong làng. Một hôm nhà giàu có giỗ, giết mổ lợn gà, ăn uống linh đình. Bỗng có một ông cụ già râu tóc bạc phơ không biết từ đâu đến, chống gậy đứng ở cửa xin ăn. Lão nhà giàu hách dịch, đuổi ông cụ đi, hắn vừa chống tay vừa chửi:

– Thằng già kia, ta làm gì có cơm cho mày! Hãy cút đi!

Thấy ông già vẫn đứng ở cửa hắn tức giận đứng dậy khỏi mâm cơm và vác gậy đuổi đánh. Cụ già bị đánh đau lắm, tập tễnh men theo bờ suối đi vào rừng.

Cô gái mồ côi nghèo thấy thế thương ông cụ lắm. Cô bèn giấu gói cơm cháy là phần của mình đi theo và đưa cho ông cụ già. Cụ già ăn xong chỗ cơm cháy đó rồi nói với cô gái:

– Con thật người tốt bụng, có lòng nhân từ biết giúp đỡ người khác. Bây giờ con muốn gì, ta sẽ giúp con.

Cô gái nghe cụ già nói vậy thì ngạc nhiên lắm, xong cô cũng mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình:

– Thưa cụ, cháu chẳng muôn gì cao sang, chỉ mong được khoẻ mạnh để làm việc mà có cơm ăn hàng này thôi.

Cụ già nghe cô gái nói xong bèn chỉ vào cái hồ nước trước mặt mà bảo:

– Ở trong hồ có hai khóm hoa: một khóm hoa trắng, một khóm hoa đỏ. Con hãy hái khóm hoa trắng mà ngửi, con sẽ được đủ ăn, đủ mặc.

Nói xong cụ già biến mất. Cô gái làm theo lời cụ già. Khi cô ngắt khóm hoa trắng đưa lên mũi ngửi thì cô bỗng biến thành một cô gái khoẻ mạnh, xinh đẹp, trắng trẻo, còn bộ quần áo rách rưới mà cô đang mặc thì biến thành bộ quần áo đẹp sặc sỡ.

Cô gái trở về nhà tên nhà giàu, cả nhà hắn không nhận ra cô gái, lại cứ tưởng có tiểu thư nhà ai đến chơi nên cả nhà hắn khúm núm ra đón tiếp.

– Tôi đây cơ mà, ông không nhận ra tôi à?

Tên nhà giàu lấy làm ngạc nhiên lắm:

– Mày đấy à? Tại sao mày lại có thể xinh đẹp, sang trọng như thế?

Cô gái thật thà thuật lại đầu đuôi chuyện cho tên nhà giàu nghe. Hắn tiếc hùi hụi vì đã bỏ lỡ cơ hội được trẻ trung khoẻ mạnh. Hắn rất mong được gặp lại ông cụ lần nữa.

Ba hôm sau, có một bà già rách rưới đến nhà lão xin ăn. Nhìn thấy bà già hôi hám, bẩn thỉu lão không những không cho ăn mà còn vác gậy đuổi đi như lần trước. Bà già chạy vào rừng và lại men theo bờ suối như ông già lần trước. Tên nhà giàu chợt nghĩ “Hay bà già này là ông lão hôm trước biến thành?”. Nghĩ vậy hắn gọi lũ con vào và bảo:

– Này, chúng mày ơi! Lấy rượu thịt đem vào rừng cho bà ăn xin ăn đi. Chúng mày sẽ được bà ấy cho xinh đẹp và sung sướng đấy. Nhưng hãy tỏ ra quý mến bà ấy mới được.

Bọn chúng làm theo lời cha, mang rượu thịt vào rừng cho bà lão ăn. Ăn xong, bà lão bảo:

– Các con có tấm lòng thương người nghèo khó. Vậy là rất tốt. Bây giờ các con muôn gì, ta sẽ giúp cho.

Lũ con nhà giàu tranh nhau đáp:

– Chúng con chẳng muốn gì, chỉ muốn được ăn ngon, mặc đẹp mà thôi.

Bà cụ chỉ vào cái hồ nước trước mặt bảo chúng hãy ngắt khóm hoa đỏ mang về ngửi sẽ được ăn ngon, mặc đẹp. Lũ con mừng rỡ, chạy về báo cho bố biết. Lão nhà giàu gọi tất cả gia đình đến cái hồ có khóm hoa đỏ lạ thay chúng ngửi hoa đỏ xong thì biến thành một lũ khỉ.

Cô gái nghèo ở nhà trông nhà, chờ mãi không thấy vợ chồng, con cái lão nhà giàu về. Về sau nghe tin cả gia đình ấy đã biến thành khỉ và sống trong rừng thì cô đem tất cả tài sản, lợn gà, trâu bò, thóc lúa của nhà ấy chia cho người nghèo. Cô chỉ giữ lại một chút cho mình.

Mấy hôm sau tiếc của, lũ khỉ mò về nhà la hét dập phá. Cô gái sợ hãi không biết làm sao, chỉ ngồi khóc. Cụ già hôm trước hiện lên hỏi nguyên do. Cô gái thuật lại toàn bộ câu chuyện. Cụ già bảo:

– Đừng lo, tối nay con hãy lấy lưỡi cày nung thật đỏ để ngoài sân, lũ khỉ ngồi vào và sợ sẽ không dám đến nữa.

Tối hôm đó, lũ khỉ kéo đến đông hơn, chúng la hét ầm ĩ. Thấy có vật gì đỏ đỏ chúng tranh nhau ngồi vào. Vừa đặt đít vào chúng nhảy cẫng lên vì nóng. Con nọ tưởng con kia nhảy nghịch nên thay nhau ngồi vào, cuối cùng cả đàn đều bị xém đỏ loét đít. Chúng bỏ chạy lên rừng và không con dám trở về làng quấy phá nữa.

Từ đó đến nay, loài khỉ con nào cũng đỏ đít và những chỗ cháy xém đều không mọc lông.

Ngày xưa có một bác nông dân già sống cùng với một cô con gái. Vợ bác mất sớm nên mọi tình yêu thương bác đều dành cho con. Một hôm bác quyết định đi thăm họ hàng ở xa và để cô con gái ở nhà một mình.

Bác ra đi, qua bao nhiêu rừng sâu, núi cao, suối dài, rất vất vả nhưng cuối cùng bác cũng đến nơi an toàn. Anh em gặp nhau mừng mừng tủi tủi nói chuyện quên hết mọi thứ xung quanh. ở chơi với họ hàng vài hôm, bác lên đường trở về nhà. Khi băng qua khu rừng rậm, còn chưa tìm được lối ra thì trời sụp tối. Phải tìm một chỗ nghỉ qua đêm là điều cần nhất bây giờ. Bác nghĩ vậy nên đi loanh quanh trong rừng mong tìm được nhà nào đó để xin nghỉ nhờ.

Lát sau bác nhìn thấy có ánh đèn le lói sau đám lá rừng. Bác vội bước tới, nhưng trước mặt bác không phải là một ngôi nhà bình thường mà là tòa lâu đài cổ. Bác gõ cửa và một con gấu to xuất hiện. Gấu hỏi:

– Ông ở đâu đến và ông muốn gì?

– Tôi đi thăm họ hàng nhưng chẳng may lạc đường, trời tối mà vẫn chưa về được. Xin ông cho tôi nghỉ nhờ một đem – Bác nông dân lo sợ trả lời gấu.

– Ông có thể ở lại đây. Chỉ có một mình tôi thôi.

Thấy Gấu nhẹ nhàng, hiền lành, bác nông dân mới thấy yên tâm và bước vào lâu đài cùng với Gấu. Gấu làm việc như người bình thường, dọn cơm mời bác nông dân ăn, dọn giường cho bác nông dân ngủ.

Sáng dậy, bác nông dân cảm ơn Gấu, xin phép ra đi. Nhưng bác không biết lối ra nên nhờ Gấu chỉ đường Gấu bảo:

– Tôi sẽ chỉ đường cho ông nếu ông gả con gái cho tôi.

Bác nông dân nghe vậy thì không đồng ý, bác chỉ có mỗi một người con gái, nếu gả cho Gấu thì bác sẽ mất con. Thế nên bác quyết tâm tự tìm đường về mà không cần sự giúp đỡ của Gấu. Thế nhưng rừng già bạt ngàn âm u, bác lại không thuộc đường nên loay hoay suốt cả ngày trời bác không thể nào ra được. Đêm xuống bác lại quay về tòa lâu đài của Gấu xin ngủ nhờ. Gấu đón tiếp bác ân cần như buổi tối hôm trước, trò chuyện rất vui vẻ. Đến sáng người nông dân lại nói với Gấu:

– Gấu hãy chỉ giúp tôi đường về nhà.

– Tôi sẽ giúp ông nếu ông gả con gái cho tôi.

Người nông dân biết rằng muốn ra khỏi cánh rừng này thì chỉ còn cách duy nhất là nhờ sự giúp đỡ của Gấu. Bác đành hứa gả con gái của mình cho Gấu. Gấu đón tiếp ông nồng hậu đúng như thái độ của cha vợ và con rể và chỉ lối cho bác nông dân trở về. Bác hứa sẽ dẫn con gái mình trở lại.

Bác nông dân ra về mà lòng nặng trĩu. Cô con gái nhận ra ngay nét mặt không vui của cha, cô nghĩ là đã có chuyện gì xảy ra. Còn bác nông dân thấy thật khó có thể nói với con gái về chuyện con Gấu kia, nhưng trước sau gì thì bác cũng phải nói sự thật. Cuối cùng không thể dấu con được nữa bác đành phải kể lại toàn bộ câu chuyện, cả về lời hứa gả cô cho Gấu.

Cô gái chăm chú lắng nghe cha kể, cô không hề thấy lo sợ mà cảm thấy có gì uẩn khúc ở trong đó. Thế là cô gái bằng lòng. Hai cha con cùng nhau đến tòa lâu đài của Gấu đúng như đã hẹn. Gấu đón họ rất long trọng, niềm nở và ân cần. Bác nông dân ở lại chơi vài hôm cùng con gái rồi từ giã trở về nhà. Gấu cùng cô gái sống hoà thuận bên nhau, yêu quý tôn trọng nhau như vợ chồng. Tuy nhiên cô gái để ý thấy ở dưới lớp da Gấu là thân thể của một con người. Nàng quyết định khám phá bằng được điều bí mật ấy.

Một đêm nàng không ngủ mà lén đến phòng của Gấu. Nhìn qua khe cửa nàng thấy Gấu trút bỏ bộ lông và biến thành một chàng trai, chỉ có cái đầu là của Gấu. Thế là chờ Gấu ngủ say, nàng đã lén vào phòng, ném bộ da Gấu vào bếp lửa. Bộ da Gấu biến thành than, nhưng từ hôm đó Gấu lâm bệnh nặng. Biết lý do Gấu ốm, nàng ân hận lắm, dành hết tình cảm của mình để quan tâm chăm sóc Gấu, hy vọng Gấu khỏe lại. Thế nhưng bệnh của Gấu ngày càng nặng hơn, đến hôm thứ hai thì Gấu nằm gần như sắp chết. Cô gái ngồi bên giường Gấu, than thở, khóc lóc nhưng những giọt nước mắt không làm đỡ cơn đau của Gấu. Ngày thứ ba, Gấu nằm khò khè thở những hơi thở nặng nhọc. Cô gái nghĩ thế là hết, ta sẽ chết theo Gấu thôi.

Nhưng đêm thứ ba qua đi, khi cô gái tỉnh dậy thì thấy trên giường bệnh không phải là Gấu ốm yếu nữa mà là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Cô gái vô cùng kinh ngạc. Họ sung sướng ôm lấy nhau khóc vì quá mừng vui. Chàng trai kể hết sự thật cho nàng nghe. Chàng bị một mụ phù thuỷ độc ác biến thành Gấu. Chỉ khi nào có một người con gái yêu thương Gấu thật lòng thì Gấu sẽ trở lại thành người và bộ da Gấu kia phải được đốt thành tro. Chàng rất biết ơn người vợ yêu quý đã dũng cảm cứu chàng để chàng được quay trở lại làm người.

Thế rồi ngay hôm sau, hai người đã tổ chức một lễ cưới linh đình, mời tất cả mọi người tới dự. Bác nông dân được mời đến và bác rất ngạc nhiên không tin vào mắt mình được nữa. Con Gấu đã biến thành một chàng trai tuấn tú. Bác rất mừng cho cô con gái của mình được hạnh phúc. Từ đấy, bác ở lại luôn trong lâu đài, sống vui vẻ cùng con gái và con rể không trở về nhà nữa.

Mời thư giãn với nhạc phẩm BỐNG BỐNG BANG BANG

của Nguyễn Phúc Thạch (Ongly C) qua tiếng hát Nhóm 365:

Cổ Tích Về Loài Vật / 2023

Sự tích hoa Mào gà

– Lượt xem: 17193

Sự tích hoa Mào gà – Câu chuyện cổ tích Việt Nam ý nghĩa kể về sự tích loài hoa Mào gà đồng thời cũng ca ngợi tình bạn đẹp và rất chân thành, sự đồng cảm…

Sự tích chim gò sóng

– Lượt xem: 7383

Ở một ngôi làng nọ, trên miệng hố nơi dẫn nước xuống ruộng mọc lên một quả bầu kỳ lạ vô cùng lớn khiến che lấp mất lỗ thông nước. Điều đó làm cho…

Sự tích con Thạch Sùng

– Lượt xem: 15405

Chàng Thạch Sùng từ một chàng trai nghèo khó trở thành một phú ông. Nhưng vì quá đắc ý tự mãn nên mất hết gia sản và vợ con vào tay người khác. Hắn ngồi tắc…

Sự tích con ve sầu

– Lượt xem: 13820

Người anh hết mực thương em mình còn người em ích kỉ hiểu lầm anh. Đến khi nhận ra đã quá muộn màng, anh đã chết. Người em vì thế mà khóc ròng mấy tháng…

Sự tích con chuồn chuồn

– Lượt xem: 12728

Chuồn Chuồn được giao nhiệm vụ trông coi thời tiết. Dù được Tò Vò nhắc làm tổ để đề phòng mưa bão nhưng Chuồn Chuồn không nghe. Cũng vì quá ham chơi nên…

Sự tích chó mèo ghét nhau

– Lượt xem: 26830

Chó và mèo vốn chơi thân với nhau. Mèo có ơn với chó. Nhưng sau khi về ở với con người thì chó trở nên ghét mèo vì con người bất công….

Sự tích chim khướu bạc đầu

– Lượt xem: 4014

Vợ chồng nhà nọ sinh hẳn mười đứa con. Nhà nghèo nợ nần chồng chất người mẹ chịu không nỗi đâm ra ốm nằm liệt. Sau người mẹ chết đi mười đứa con…

Sự tích thỏ tai dài đuôi ngắn

– Lượt xem: 9786

Các con vật không thể sống yên lành với hai con thú hung ác là cọp và heo rừng. Thỏ đã nghĩ ra cách để giết cả cọp và heo rừng. Do mải mê xem cọp và heo đấu…

Sự tích ve sầu rỗng ruột

– Lượt xem: 3513

Con nòng nọc bị hại mất hết ruột gan lên kiện Ngọc Hoàng. Sau khi Ngọc Hoàng tra khảo tất cả thủ phạm thì người có tội lớn nhất chính là ve sầu….

Sự tích chim Quốc

– Lượt xem: 4221

Quắc và Nhân là đôi bạn thân. Sau vì miếng ăn mà chia tay mỗi người mổ ngã. Về sau Nhân cưới vợ và trở nên giàu có thì không quên bạn bè. Nhưng vì vợ Nhân…

Sự tích thờ thần hổ

– Lượt xem: 7404

Ông lão chèo bè nghèo sống trên sông Lam làm nghề đưa đò kiếm sống. Con hổ xám hay ve vãn bắt con người để ăn thịt. ông lão chèo bè là ân nhân của con hổ nhưng…

Con cóc là cậu ông trời

– Lượt xem: 8874

Ngọc Hoàng giao cho thần Mưa chịu trách nhiệm làm mưa cho tất cả các con vật và cây cỏ có nước uống. Nhưng thần Mưa mải ham chơi mà quên mất nhiệm vụ suốt…

Con chó, con mèo và anh chàng nghèo khổ

– Lượt xem: 6888

Ngày xưa có hai mẹ con một anh chàng nhà nghèo rớt mùng tơi. Vốn khỏe mạnh, lại biết bơi nên chàng được chủ thuyền thuê làm thủy thủ. Được trả trước bốn…

Sự tích con dế

– Lượt xem: 5854

Văn Linh và Văn Lang là hai anh em cùng cha khác mẹ nhưng rất thân thiết với nhau. Mẹ kế là mẹ đẻ của Văn Lang, bà luôn ngầm muốn giết Văn Linh để chiếm gia tài….

Con sáo và phú trưởng giả

– Lượt xem: 2816

Bác đi cày bắt được con sáo bị thương mang về chăm sóc và dạy sáo học đủ thứ rất tận tình. Bác nhận sáo làm con và cho sáo tự do đi đâu thì đi. Một hôm…

Con cú

– Lượt xem: 4507

Một con cú nọ khi đi kiếm ăn vô tình lạc vào kho thóc của gia đình nọ. Việc này đã khiên tất cả mọi người trong làng khiếp sợ vì con quái vật mà không ai…

Sự tích con mối

– Lượt xem: 5285

Một chàng trẻ tuổi nhà giàu, ao ước một người vợ đẹp như tiên. Đến khi cha mẹ hắn lần lượt qua đời hắn vẫn chưa có vợ. Chuyện này đến tai Ngọc Hoàng,…

Sự tích chim năm trâu sáu cột và chim bắt cô trói cột

– Lượt xem: 1993

Ông Ba vốn là một người tá điền giỏi được giao cho việc chăn trâu. Về sau khi phú ông đột ngột mất đi con gái ông ấy đã đến kiểm kê tài sản. Vì đinh…

Con thỏ và con hổ

– Lượt xem: 7020

Hổ bị thỏ chơi một mẻ mất mặt nên hổ luôn muốn tìm thỏ để trừng trị. Lần đầu gặp thỏ, thỏ lừa hổ bị ong chích sưng húp. Lần thứ hai thì bị thỏ…

Sự tích chim cánh cụt

– Lượt xem: 6747

Chim cánh cụt vốn xem ngang là người bạn thân thiết và hết mực yêu thương. Nhưng ngan vì ganh tỵ đã cắp đi đôi cánh của bạn mình. Cánh cụt buồn bã đi về…

Sự tích chim tu hú

– Lượt xem: 2646

Bất Nhẫn khi thấy bạn mình là Năng Nhẫn đã được đắc đạo cũng tỏ ý muốn chứng minh sự kiên nhẫn của mình. Tuy nhiên, trải qua nhiều thử thách mà Bất Nhẫn…

Con gà và con hổ

– Lượt xem: 4985

Hổ, gà và thỏ là 3 loài vật ở chung thay phiên nhau nhiệm vụ làm việc và nấu ăn. Khi đến lượt thỏ nấu ăn, dù nghe theo lời gà dạy nhưng lại bị hổ nổi giận…

Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho

– Lượt xem: 2026

Thạch Sùng vốn nghèo khó nhưng với mánh khóe làm ăn không bao lâu đã trở nên giàu có và có địa vị. Tuy nhiên, trong một lần khoe mẽ tài sản cùng tên họ Vương…

Sự tích con Dã Tràng

– Lượt xem: 3165

Ông Dã Tràng vì công cứu rắn và đôi ngỗng mà đã được hậu tạ bằng 2 viên ngọc quý mà ông luôn mang theo bên mình. Trong một lần vì vội đã để quên ở nhà…

Sự tích con thiêu thân

– Lượt xem: 3230

Chuyện kể về hai vợ chồng chàng trai nọ, khi người chồng giả vờ chết đi vợ đã nhanh chóng có nhân tình mới làm trái lại lời thề trước đó. Chính vì vậy…

Sự Tích Quạ Và Công Truyện Cổ Tích Hay Về Loài Vật / 2023

Sự tích quạ và công Truyện cổ tích hay về loài vật. Ý nghĩa: truyện khuyên ta cần tránh tật xấu tham ăn tục uống và phải kiên trì thì mới đạt kết quả tốt.

Sự tích quạ và công Truyện cổ tích hay về loài vật

Xưa kia, Quạ và Công là đôi bạn chí thân. Hồi đó Công vẫn còn rất xấu xí chứ không đẹp như bây giờ, Quạ và Công con nào con nấy bộ lông cũng đều xám xịt như vừa mới rúc ở bùn lên. Quạ và công vì biết mình xấu nên chỉ chơi với nhau chứ không dám chơi với những loài chim khác.

Riêng Công thì còn xấu hơn cả Quạ, đầu Công thì bé tẹo không hề cân xứng với người, thêm vào nữa là cái cổ Công thì dài ngoằng ngoẵng nên trông rất khó coi. Một hôm Quạ rủ Công:

– Ở đằng kia đang có người thợ vẽ tranh với đủ các màu vẽ, chúng ta hãy ra đó thừa cơ ông ấy không để ý thì trộm màu về để vẽ lên cho nhau, sửa sang lại bộ cánh cho đẹp.

Công gật gù nhận lời. Hôm đó người họa sĩ đang vẽ dở một bộ tứ bình cho người ta, màu vẽ còn bỏ lăn lóc bên cạnh người. Thừa dịp người họa sĩ ngủ say, Quạ và Công lẻn đến mò vào lấy trộm bút lông và màu vẽ rồi mang ra một con gò ở giữa hồ. Lần thứ hai Quạ và Công định lẻn vào lấy trộm tiếp màu vẽ thì người họa sĩ đã ngủ dậy. Chúng đành quay trở ra chiếc gò thì thấy chỉ lấy được mỗi một hộp mực tàu đen xì, một hộp mực xanh và một túi kim nhũ lấp lánh. Quạ bảo Công:

– Thôi như vậy cũng vẽ được rồi, ta bắt đầu vẽ cho nhau đi, để tôi vẽ trước cho anh.

Quạ bảo Công nằm xuống cho mình tô vẽ lên người, Quạ vốn rất khéo tay nên vẽ cho Công rất đẹp. Ban đầu quạ dùng mực xanh tô vào đầu, cổ và mình Công. Quạ tô đến đâu là liền rắc kim tuyến tới đó. Tô đến cái đuôi, Quạ bảo công phải xòe cái đuôi ra như cánh quạt để Quạ tô cho kỹ lưỡng. Ở mỗi chiếc lông đuôi của Công, Quạ vẽ những vòng tròn và tô bằng mực tàu, sau đó rắc kim nhũ rất đẹp.

Sau khi tô màu hoàn thiện cho Công, Quạ bắt Công phơi cái đuôi cho thật khô.

Giờ đến lúc Công tô lại cho Quạ. Công thì vốn rất vụng về, không hề khéo tay như Quạ nên cực kì lúng túng và không may cho Quạ là lúc đó thì mực xanh và kim nhũ cũng đã hết rồi.

Công đang loay hoay không biết là tô cho quạ thế nào thì bông nhiên Quạ khoang bay đến. Thời đó thì Quạ Khoang thuộc họ nhà Quạ và người nó chỉ một màu trắng toát như vôi. Chưa đáp xuống Quạ Khoang đã giục tíu tít:

– Anh Quạ, anh đang làm gì đó, mau mau bay về phương đông thôi

Quạ hỏi:

– Bay về phương đông để làm gì?

Quạ Khoang trả lời:

– Em nghe thấy mọi người nói rằng có tin ở đó có một trận đánh nhau rất to, nhiều xác chết lắm, đây là một dịp hiếm có của anh em nhà ta.

Quạ nghe nói đến thịt người thì rất thèm muốn. Quạ bảo Quạ Khoang:

Quạ khoang nói:

– Không được, anh em ta phải bay đến trước ban đêm…Ngày mai thì họ mang hết xác đi chôn rồi thì anh em ta còn gì để ăn nữa.

Nghe Quạ Khoang nói vậy, Quạ vô cùng sốt ruột giục Công:

– Thế mày tô gấp nhanh cho anh đi Công

Quạ Khoang cũng muốn có một bộ lông đẹp để diện với mọi người. Nó nói xen vào:

– Anh Quạ, em cũng muốn được ăn mặc chỉnh tề đẹp đẽ một chút, anh cho em tô một chút với.

Quạ thấy Quạ Khoang nói vậy nên rất sẵn lòng chia sẻ một chút màu vẽ cho người em họ của mình. Công thì bị quạ giục, luống cuống nên đã trút một nửa số mực tàu lên đầu của Quạ. Mực cứ chảy tới nơi đâu trên mình Quạ là Quạ đen tới đó. Không những thế, Công vì bôi vội nên đã bôi cả mực vào mỏ và chân của Quạ làm cho Quạ từ đầu tới chân chỉ toàn một màu đen nhánh như là cột nhà cháy.

Đến lượt Quạ Khoang tô điểm, công trút hết sạch số mực còn lại lên người Quạ Khoang thành thử Quạ Khoang cũng đen không khác gì người anh họ mình. Duy chỉ mỗi phần cổ của Quạ Khoang là không dính mực do lúc mực chảy xuống, Quạ Khoang vội rụt cổ lại nên phần đó không bị mực thấm vào.

Nhìn thấy Công tô điểm cho Quạ Khoang, lúc đó Quạ mới nhận ra rằng mình đã quá dại dột khi giao phó sắc đẹp của mình cho Công vì Công quá vụng về. Nhưng mực đã tô rồi không thể làm gì được nữa, tức quá Quạ mắng cho Công một trận rồi cùng Quạ Khoang bay đi. Cũng kể từ khi đó, Quạ không bao giờ chơi với Công nữa.

Chính vì lý do trên mà chúng ta thấy ngày nay, loài công với bộ lông rất đẹp và sặc sỡ. Đi đâu họ hàng nhà Công cũng rất hãnh diện với vẻ đẹp của mình. Nhưng ngược lại, dòng dõi nhà Quạ thì lại đen thui như mực từ đầu tới chân, trong đó có Quạ Khoang là còn một chút ngấn trắng ở cổ do không bị mực thấm. Vì cảm thấy mặc cảm cho vẻ ngoài xấu xí của mình nên đi đâu Quạ cũng than thở: “Quạ xấu hổ, Quạ xấu hổ”.

Ý nghĩa sự tích quạ và công – truyện cổ tích hay về loài vật

Qua sự tích quạ và công ta thấy, Quạ khéo tay, tốt bụng sẵn sàng tô điểm cho Công thật đẹp và lại vui lòng chia xẻ thuốc vẽ của mình cho Quạ khoang nhưng Quạ lại có tính xấu là tham ăn. Vì nôn nóng giục công vẽ nhanh để con đi lấy phần thịt, lại gặp Công vụng về, lúng túng, xấu tính mà Quạ phải suốt đời khoác bộ lông cánh đen thui như mực.

– – Truyện cổ tích Việt Nam hay nhất cho bé

– – Truyện cổ tích ca ngợi những con người lao động chân chính

– Truyện cổ tích Ali Baba và 40 tên cướp với cách kể mang tính giáo dục cho trẻ em

Chuyện Cổ Tích Về Loài Người / 2023

“Trời sinh ra trước nhất Chỉ toàn là trẻ con Trên trái đất trụi trần Không dáng cây ngọn cỏ”

Những câu thơ đáng yêu trên được trích từ bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của nhà thơ nổi tiếng Xuân Quỳnh. Hôm nay, Vườn cổ tích sẽ kể cho các bé nghe câu chuyện cổ tích về loài người được chuyển thể từ bài thơ trên với mục đích giúp các bé dễ hiểu và nắm bắt được một cách đầy đủ nhất nội dung cũng như ý nghĩa của bài thơ!

Chuyện là cách kể ngược về sự xuất hiện của loài người trên trái đất một cách rất thú vị. Từ đó khẳng định vai trò quan trọng của trẻ em – những mầm non đáng yêu rất cần được cha mẹ và người lớn bảo vệ.

Ngày xửa ngày xưa, bầu trời và mặt đất đều tối tăm, không có lấy một nhành cây, ngọn cỏ, cũng không có bất kì màu sắc gì. Khắp nơi đều thiếu vắng sự sống. Và rồi trên Trái đất thân yêu của chúng ta, tạo hóa đã ban tặng những em bé rất dễ thương, đáng yêu. Mắt chúng sáng lắm trong veo và hồn nhiên nhưng chúng chưa thấy được gì đâu. Thế rồi, mặt trời nhô lên cao tròn vành vạnh và soi sáng khắp không gian giúp cho những đôi mắt ấy được thấu tỏ.

Màu xanh bắt đầu từ ngọn cỏ cao bằng gang tay và nhỏ như sợi tóc, màu đỏ thì bắt đầu từ bông hoa nhỏ xíu như cái cúc. Những chú chim líu lo cất tiếng hót, làm bầu bạn với trẻ em và đem lại nguồn vui cho vạn vật. Gió nâng tiếng hót bay cao bay xa tới muôn trung mây, muôn trùng dặm.

Muốn trẻ con được tắm, sông suối bắt đầu xuất hiện đem đến dòng nước ngọt mát lành. Biển mênh mông sóng vỗ, đem lại nhiều cá to. Những cánh buồm lớn đưa trẻ em đi xa tới những chân trời mới, tìm tòi và khám phá.

Nhưng trẻ thơ cần lắm vòng tay của mẹ, lời ru ngọt ngào, tình yêu thương lớn lao vô bờ bến nên mẹ sinh ra để nâng niu, chăm sóc, dỗ dành. Những câu ca dao vọng về với cái bống cái bang, cánh cò trắng bay lả bay la, cây đa, mái nước, sân đình là quê hương thân thương hiện lên qua bao câu hát ru của bà, của mẹ. Nào sự tích thánh Gióng, sự tích trầu cau, sự tích Sọ Dừa, chuyện cô Tấm ở hiền, Lý Thông ở ác,… lần lượt hiện ra qua giọng kể ấm áp của bà, đưa trẻ em vào những miền cổ tích cực lạc. Nào ông Bụt, bà tiên, nào hoàng tử, công chúa xuất hiện trong giấc mơ của trẻ em về một cuộc sống tười đẹp, ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác, người tốt nhất định được hưởng hạnh phúc, kẻ ác nhất định bị trừng trị thích đáng.